Burying one’s shadow

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Burying one’s shadow

On Mount Chư Mang, the cicadas were disrupting the old man’s midday nap. Since the end of autumn, the year before the cicadas have been hidden away at the bottom of Kroa spring, finally woke up singing their moanful songs, calling for the wind and rain.  Though the ancient red jacarandas’ foliage was fading in its desire, fresh still were last year’s endearing seed pods, not dampened, not forgotten. Now and then came rushing upon a swarm of butterfly wings whiffing of moisture from the distance, their saunter awakening a new season of sowing. The older man of the mountain has a good nose, and he could detect the moisture upon butterfly wings three to four days’ travel from wherever he may be. And he never stops mumbling, he said to himself, talking to himself was a habit he has become accustomed to. “This year, I will plant a new variety of trees, not the blistering insipid lifeless deceiving kind I planted in the last rain period. Perhaps, the seed pods will be long enough to go the distance.

So now we’re digging up the dirt, turning it over ready for the rain. As for the mead, there will always be this oblivious maddening relentless pounding of the hoe all night long. Tired, we would rest by the head of the water bay, even though it has completely dried up, but we’re hoping for rain in the next period, right? What’s more precious in life than hope, when there’s no hope left, what is the point of living?

A flutter of butterflies calling on us to join them, but we must be vigilant.

The mesmerising smiles of the familiar spirits cast their spell, and we shook our heads in declination. 

We must stay and sow the seeds for the next season”.

The old man announced.

The old man continued with his work, digging up all the love lost from his past, before he proceeded to sow the soil, the obsessive soil of his delusions. But the rain is stuck dilly-dallying elsewhere in some far off place, where the sky was endlessly blue like in the eyes of those who were colourblind. He asked a wandering elephant passing by; we heard that love shouldn’t be so calculating, a measuring of wins and losses, is that right? The elephant’s ears moved up and down as he laughed before he slowly left the old man, cutting through a cloud of blinding red Bazan dust. Huddled within the canopy, as the end of the dry period approached, flocks of exhausted Ktia, pop their heads out cheekily, teased the old man: “Hey, who are you digging the grave for?”.

We’re trying to bury our shadow, how did those nosy Ktia work that out? But his reply was vague: “Yeah, we want to bury something, but sometimes we bury the wrong thing!”

In the middle of all the digging, an abyss appeared beneath his feet. Unable to find his shadow in time for the burial, he wanted to bury himself by noon in Mount Chư Mang.

He said: “Who are we burying? Why does it feel like we’re burying ourselves?”.

“First, we will bury our arms. The arms are tired after so many seasons, they need a rest, they need to stretch, they need to be freed from the doubting clouds of love and loss.

Then we should bury our feet. They’re tired, macerated and bleeding, coated with how many layers of mud, wandering through how many twisted warren worlds. Now, we’re able to lay down. Buried will be both our hands and feet and the rain evaded us still, the swarm of cicadas screaming like rice in a mill, the pơlang blooming a fire ignited from the top of the dried-up streams.

Wait, we might as well bury our heads. Carefully we cleared the space for it, tenderly closed its eyes and quietly said our goodbyes: “Have a good sleep…”. So it came to be, we had farewelled the twisted bundle of roots in our head, let go of the dreams in reds and blues, we’re ready to forget the imaginary far-fetching delusional promises in blood and bloom. Has anyone ever said farewell to their dear head before? Why were there suddenly butterflies everywhere across the horizon, frolicking dancing this very noon like some birth or death rite, the flags and flowers were flying heading for another life!

It’s time we bury the bruised battered heart riddled with scars, throbbing anxiously back so forth across the clutter of our memory. Bury also the red blood cells with not a chance of an adventure as promised once upon a time, bury the ridiculous scars accordingly via the stratagem of bleeding, in time for this afternoon, for tonight. We bury our hearts with the boulders by Kroa spring; then we wait for the return of the rain.

As for this tired half torn broken blistered body, we may as well bury it. The dusty soil covered the horizon at the end of the dry period. A cracked shrivelled up tired body coated in layers of dust from the day mother gave birth to it. Who knows how much longer we could carry this burden on our shoulders. The ready abyss, all we need to do is fill it up, be by the modest grave, waiting for the blanket of sunlight, a blessing of rain”.

The old man continued to work, consoled himself, wiped away the tears that he wanted no one else to see!

On the other side of Mount Chư Mang, a swarm of wild bees excited followed the scent of flowers, the scent of sweet nectar. Staying put, the old man waited for any kind of sprinkling from above, something to feed his hope, quench the thirst of his dreams.

You never know, from this rushed burial, there might be a budding of new love, the budding of leaves as green and pure as in any fairy tale, endearingly bloom in glorious scents withholding from a three to seven days treks away, bursting with faith and love.

You never know, the old man thought, the rain may turn up at the very foot of Mount Chư Mang.

“We’ll sit and wait by the grave on the other side like the first time we had loved” – The old man spoke as though he was singing in his sleep, lifting his chin to look at the sky catching a whiff of moisture in the air. The rain was still very far away, no nearer in its return!

[October 2020]

_____

Chôn cất bóng mình

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Trưa nay, lũ ve lại làm phiền giấc ngủ trưa của lão già trên núi Chư Mang. Chúng trốn biệt dưới lòng suối Kroa từ cuối mùa khô năm ngoái, bây giờ tỉnh giấc, rền rĩ bài ca gọi mưa gọi gió. Cây phượng già vẫn còn đèo bòng lũ quả xù xì của mùa yêu thương năm cũ, chưa thể nguôi quên, nhưng lá thì đã phai bớt màu xanh ao ước. Hơi nước ở đâu xa lắm, thỉnh thoảng lại theo cánh bướm tràn qua, nhấp nha nhấp nhổm đánh thức mùa gieo hạt mới. Lão già ở núi mũi rất thính, có thể ngửi thấy mùi hơi nước trong mùi bướm thơm quãng ba bốn ngày đường. Và lão không thôi lẩm bẩm một mình, lão nói với lão, lão tự nói cho mình nghe, quen rồi.
“Năm nay, ta sẽ gieo một loài cây mới, không phải cây rộp rộp lắt léo dối gian của mùa mưa năm trước. Có lẽ, quả sẽ rất dài và sẽ rất xa.

Ta hì hục cuốc cày phơi đất đợi mưa. Trong câu chuyện kể về thảo nguyên, vẫn còn nghe tiếng cuốc đào như điên dại suốt đêm dài. Mỗi khi mệt, ta thường ngồi nghỉ nơi đầu bến nước, dù bến nước đã cạn rồi, thì vẫn còn hi vọng mùa sau, chứ sao nữa? Có gì đáng quý trong cuộc đời này hơn niềm hi vọng, nếu không còn hi vọng, bạn sống để làm gì?

Lũ bướm ghé qua rủ rê mời mọc, ta lắc đầu cả quyết không đi.

Lũ linh miêu cười mê hoặc bỏ bùa lôi kéo, ta lắc đầu từ chối không đi.

Ta ở đây, chờ gieo hạt mùa sau”.

Lão nói thế.

Lão già lại tiếp tục công việc của mình, bằng cách đào xới những yêu thương năm cũ, rồi lúi húi gieo trồng, lòng đầy ảo tưởng si mê. Nhưng mà cơn mưa đang nấn ná ở đâu xa lắm, nhưng mà trời vẫn xanh như mắt bọn mù màu. Lão hỏi gã voi đủng đỉnh đi qua, này, nghe bảo tình yêu không cần tính toán hơn thua phải không? Gã voi đực cười rung rung đôi tai rồi chậm rãi bước đi giữa bụi đỏ bazan mờ mịt.
Càng cuối mùa khô, lũ chim ktia mệt mỏi trốn trong vòm lá, thỉnh thoảng ló đầu ra chảnh chọe với lão già: “Này, lão già kia, đào mộ chôn ai đó?”.

Đèo mẹ, ta đang chôn một bóng hình ảo ảnh, thế mà sao bọn ktia lắm chuyện lại biết được nhỉ? Nghĩ thế, nhưng lão trả lời theo kiểu bâng quơ ất ơ: “Ờ, ta chôn, nhưng đôi lúc chôn nhầm!”.

Trong khi miệt mài cuốc xới, thì hiển nhiên hố thẳm hiện ra, ngay dưới chân. Không tìm được bóng hình nào để an táng, trưa nay, lão già ở núi Chư Mang phải chôn chính mình. 

Lão nói, “Ta chôn ai mà như thể chôn mình?”.

“Đầu tiên, ta chôn hai cánh tay. Những cánh tay mệt mỏi mấy mùa rồi, nay muốn yên nghỉ, muốn duỗi ra, buông hết thảy mây trời, buông hết thảy tin yêu.

Rồi tiếp đến, ta chôn chân mình. Những bàn chân mệt mỏi, gai cào tứa máu, từng bao nhiêu sình lầy, bao nhiêu mê lộ trần ai. Bây giờ, nằm xuống ở đây. Chôn hết chân tay mà mưa vẫn chưa về, lũ ve kêu như giã gạo, hoa pơlang thắp lửa đầu ngọn suối khô.

Đợi đấy, ta chôn luôn đầu mình nốt thể. Ta nâng niu thủ cấp trước khi chôn, có vuốt mắt hẳn hoi và thầm thì lời vĩnh biệt: “Ngủ ngon nhé…”. Thôi thì đành giã biệt những cơn đau rễ chùm rễ cọc mọc trong đầu, thôi thì đành nguôi quên những giấc mơ màu xanh màu đỏ, quên luôn những hứa hẹn hão huyền xa xôi ảo tưởng máu và hoa. Đã có ai tiễn biệt chính cái đầu thân thuộc của mình chưa? Sao mà trưa nay bướm lượn đầy trời, vẫn vũ như ngày sinh biệt tử ly cờ phướn hoa cài đi về cõi khác!

Bây giờ ta mới chôn trái tim tím bầm đầy sẹo, còn phập phồng ngổn ngang ký ức ngược xuôi. Chôn luôn cả những hồng cầu chưa kịp chuyển đi như đã hẹn thuở nào, chôn nốt vết thương nham nhở đúng quy trình rỉ máu, cho kịp chiều nay, cho kịp đêm nay. Ta chôn tim ta cùng với những tảng đá bên suối Kroa, rồi thản nhiên đứng đợi mưa về.

Còn tấm thân này mỏi mệt dọc ngang vết nứt dở dang đứt đoạn, thôi thì chôn luôn một thể. Cuối mùa khô rồi, đất bụi mù trời. Tấm thân này lầm bụi từ lúc mẹ sinh ra, rồi nứt nẻ rồi cong vênh rồi thất tha thất thểu. Ai biết được, mình còn đủ sức cõng thân mình đi cho đến lúc nào. Sẵn có hố sâu, chi bằng lấp đất, rồi ngồi đây, bên ngôi mộ đơn sơ, mà đợi nắng phủ mưa chan”.

Lão vừa làm vừa nói một mình vừa len lén chùi nước mắt!

Phía bên kia núi Chư Mang, bọn ong rừng đã rủ nhau di chuyển theo mùi phấn hoa, mùi mật ngọt. Lão vẫn ngồi đấy, chờ nước mát từ trời cao tưới xuống, để mà hy vọng, để mà ước ao.

Biết đâu đấy, từ nấm mồ đơn sơ chôn vội chôn vàng, lại mọc lên một niềm yêu thương mới, lá xanh như cổ tích nguyên sơ, rồi trổ hoa thắm thiết thơm ngát hương quãng ba đến bảy ngày đường. Biết đâu đấy, rồi quả ngọt trĩu cành, căng mọng tin yêu.

Biết đâu đấy, lão già dưới chân núi Chư Mang, mùa mưa rồi sẽ đến.

“Ta ngồi bên ngôi mộ không bia, và đợi chờ, như thuở bắt đầu yêu” – Lão nói như người mộng du đang hát, rồi ngửa cổ nhìn lên trời cao ngửi thử mùi hơi nước. Cơn mưa đang còn ở đâu xa lắm, chưa về!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

By Nguyễn Thị Phương Trâm

There's magic in translating a body of work from one language to another.

Leave a comment

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: