909 TERCET

A BOOK OF POEMS in Vietnamese by Nguyễn Hưng Quốc
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm and other translators


Congratulations (I know it sounds ostentatious, but bear with me, I am unapologetic) to anh Nguyễn Hưng Quốc and Pháp Hoan ( Mai Cong Lap ). Your books of poems will be the very first two books of poems published in English on nguyenthiphuongtram.com.

It will be a constantly evolving piece of living text. A piece of living art I’m very excited and proud to announce and share with my readers.

You have given me an unexpected goal in completing the translation of your books of poetry.

I am momentarily on cloud nine.

Quý mến,

Nguyễn Thị Phương Trâm

September 19, 2022


909

BÀI THƠ

BA DÒNG

1.
A leg in Vietnam, a leg in Australia
Between the legs
The drifting clouds

Một chân ở Việt Nam, một chân ở Úc
Dưới háng là
Mây bay

2.
Poetry is born
From the exile imperial chamber
Of every (forbidden) rose

Thơ ra đời
Từ lãnh cung
Của những đóa hoa hồng

3.
When the two abdomens collide
The mountains part to avoid
One falling leaf

Khi hai phần hạ thể đụng vào nhau
Ngọn núi nghiêng mình tránh
Một chiếc lá rơi

4.
For every person who passes away
Flying is heaven and earth offering
A grain of dust

Mỗi người ra đi
Trời đất phúng điếu bằng
Một hạt bụi bay

5.
Each flower
A translation of Eve’s beauty
In the garden of Eden

Mỗi đóa hoa là một bản dịch
Nhan sắc của Eva
Lúc còn ở vườn địa đàng

6.
Love is
An altered form
Of fire

Tình yêu là
Một biến tấu
Của lửa

7.
One hundred of *Thị Nở’s children
Each and everyone of them
Have their own colour flag

Trăm đứa con Thị Nở
Mỗi đứa
Một màu cờ

*Thị Nở is a character representing
humanity’s compassion
in Van Cao short story

8.
The falling leaves
Left not a single
Testament

Những chiếc lá rơi
Không để lại
Di chúc

9.
Utmost apologies to the moonlight: The curtains must be drawn
The lady does not want anyone to witness
The married couple putting each other to sleep

Xin lỗi ánh trăng: Phải kéo màn cửa lại
Nàng không muốn ai nhìn thấy
Chuyện vợ chồng ầu ơ

10.
The poet
Drops his pen
Upon the embodiment of Buddha

Nhà thơ
Buông ngòi bút xuống
Thành Phật

11.
I adore the chins held high
Unyielding against
The drops of evening dew

Tôi yêu những cái đầu ngẩng cao
Bất khuất trước
Những giọt sương khuya

12.
The quivering red leaves beneath the sunlight
Chilled by the wind
An Autumn ignited by the residing young woman

Những chiếc lá đỏ run rẩy dưới nắng
Gió thốc lạnh
Người thiếu phụ ngồi cháy cả mùa thu

13.
I’ve been chasing my entire life
The clouds
Without a country

Cả đời tôi cứ rượt theo hoài
Những làn mây
Vô tổ cuốc

14.
The greenest of lawns
Agreed upon signing
The rain’s manifesto

Những bãi cỏ xanh ngắt
Đồng ký tên vào
Bản tuyên ngôn của mưa

15.
The treetops reaching for the blue sky
To note the charter
For the ground

Những ngọn cây rướn cao lên trời xanh
Để viết hiến chương
Cho mặt đất

16.
The leaves as pretty as flowers
A reminder:
Nothing last forever

Những chiếc lá đẹp như hoa
Nhắc nhở:
Đừng tin vào vĩnh cửu

17.
All those faraway stars cast their eyes
Upon the earth night after night
Looking for a misplaced poet

Các vì tinh tú xa xăm
Đêm đêm dõi mắt nhìn địa cầu
Tìm một nhà thơ thất lạc

18.
The moon green with morning sickness
Dreams of having a child
With a poet

Vầng trăng xanh ốm nghén
Mơ có con
Với một nhà thơ

19.
He wanted to tide the knot with a dream
The dream assassinated
He lived on as a widow

Hắn muốn kết hôn với một giấc mộng
Giấc mộng bị ám sát
Hắn ở goá

20.
In the middle of heaven is hell
I chose what is in the middle:
Earth

Giữa thiên đàng là địa ngục
Tôi chọn cái ở giữa:
Trần gian

21.
Religious leaders loves humanity to the point
When they are ready
For deceit

Các giáo chủ yêu loài người đến độ
Họ sẵn sàng
Nói dối

22.
A woman’s charm depends on her laughter
But in terms of depth
She needs her tears

Người phụ nữ có duyên nhờ tiếng cười
Nhưng sâu sắc
Nhờ nước mắt

23.
Poets are the kind of people
Who likes to fight with
Nothingness

Nhà thơ là những kẻ thích
Gây sự với
Hư không

24.
Not just anyone could
Grasp the idea of loneliness
Endured by those rivers widowed

Không phải ai cũng hiểu được
Nỗi cô đơn của
Những dòng sông góa chồng

25.
The lake lay naked upon dawn
Baring its chest waiting for
A blanket of fog

Sáng sớm hồ nước ở trần
Phơi ngực cho đám sương mù
ấp ủ

26.
So many poems dying young
Because the letters have
Given up

Nhiều bài thơ chết yểu
Vì các chữ
Quyên sinh

27.
The sea composes thousands and thousands of verses of poetry a day
To then
Self destruct

Mỗi ngày biển viết hàng ngàn bài thơ
Rồi
Tự xoá hết

28.
The spring, a startling moment for poetry
Discerning
The budding bounty

Mùa xuân, ngày thơ giật mình
Nghe tiếng cành cây
Nẩy lộc

29.
The autumn could through music and poetry discern
From the branches, the leaves letting go
Falling so so

Mùa thu, nghe thơ nhạc nhắc
Lá buông cành
Rơi

30.
You left me
With your scent
Hanging me by the neck from the ceiling

Em đi rồi
Mùi hương
Treo cổ anh


31.
He’s been looking for a poem that has been disbanded
It’s hidden somewhere
In the moonlight

Hắn ngơ ngác đi tìm một bài thơ thất tán
Nó trốn đâu đó
Dưới ánh trăng

32.
The poems about love
Mere fog
He appeared to have made a note of it
(Lê Vĩnh Tài)

Những bài thơ viết về tình yêu
Là khói sương
Hắn chỉ chấp bút

33.
Without you, the poems I wrote
Miscarried black and blue
Void of oxygen

Thiếu em, những bài thơ anh viết
Bị truỵ thai
Xanh mét

34.
All the blooms dearest to them
one by one
kill themselves
(Đoàn Duy)
All the flowers he cherish most
would eventually one at a time
commit suicide
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Những đóa hoa hắn yêu thích nhất
Đều lần lượt
Tự tử

35.
He Gospel of Maiden read
With sparking words
Putting maidenhood in flames
(Đoàn Duy)
Reading her scripture
Each word is a flame
The inevitable incineration of first love
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Hắn đọc phúc âm nàng
Chữ nào cũng có lửa
Đốt cháy cả màng trinh

36.
O mortals, whelmed with awe at the intangible,
Yearn to lean on things,
Even on an incense stick.
(Đoàn Duy)
Humanity is overwhelmed by the invisible
Need to lean on
Even just one incense stick
(Lê Vĩnh Tài)
People are overwhelmed by what they can not see
They need always something to lean on
Even something as humble as an incense stick
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Loài người rợn ngợp̃ trước cái Vô Hình
Cần chỗ vịn
Dù chỉ một cây nhang

37.
The moonlight is the witness
To all infidelity
But the night dew is its only confidant

Ánh trăng chứng kiến mọi cuộc ngoại tình
Nó chỉ kể với
Những giọt sương khuya

38.
Oh a tender kiss have they,
With the spacing of tongues
Echoing the breadth of sighs
(Đoàn Duy)
They kissed, the gap between their tongues
The width
Of a long sigh
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Họ hôn nhau, khoảng cách giữa hai cái lưỡi
Bằng chiều ngang
Một tiếng thở dài

39.

Hope not: There’s no scream
Loud enough to reach the high heaven
Including the Holocaust

Đừng hy vọng: Không có tiếng gào nào
Vang tới được trời xanh
Kể cả Holocaust


40.
Facing the allure of an orchard full of apples
He will without fail surrender
No different to his ancestors

Trước sự quyến rũ của những trái táo
Bao giờ hắn cũng đầu hàng
Như tổ phụ ngày xưa


41.
The grape leaves
In the hand of Eve
The sleeplessness in the other half of the human race

Những chiếc lá nho trên tay Eva
Làm một nửa nhân loại
Trằn trọc

42.
Sunlight fell across the lawn
Under the canopy
She is lost in the afternoon light

Nằm trên bãi cỏ
Dưới tàn cây
Nàng thất thân với những sợi nắng chiều

43.
The virtuous path towards happiness
Lies between
The thighs

Con đường chánh đạo dẫn đến hạnh phúc
Nằm ở giữa
Hai đùi

44.
A bird flew away
Left behind its birdsong
Painting yellow the sunset

Một cánh chim bay đi
Để lại tiếng hót
Làm vàng hoàng hôn

45.
The scent of cigarette smoke carried via the wind
Penetrated the window
Broke her hymen

Ngọn gió mang theo mùi thuốc lá
Lọt qua cửa sổ
Phá trinh nàng

46.
Poets are baptised
By
Poetry

Các thi sĩ được rửa tội
Bằng
Thơ

47.
Life is way too short
To write
A really good poem

Cuộc sống quá ngắn ngủi
Để làm được
Một câu thơ thật hay

48.
A good poem is the armpit
Hair
Of the Creator

Một bài thơ hay là một
Sợi lông nách
Của Chúa

49.
The moonlight soft and dreamy so much so
The uncountable widows
Now with child

Ánh trăng dịu dàng và thơ mộng đến nỗi
Làm bao nhiêu góa phụ
Mang thai

50.
The poem knows the secret to love
But it knows not the secret of the word
The vengeance of the word: The premature death of a poem

Bài thơ biết bí mật của tình yêu
Nhưng nó lại không biết bí mật của chữ
Chữ trả thù: Bài thơ chết non

51.
Writing abroad is a painful sexual experience
For impotent
Men

Viết văn ở hải ngoại là cuộc hành lạc đau đớn của những
Gã đàn ông
Bất lực

52.
Most poets lack good fortune
Fidgeting with words
That has been castrated

Phần lớn những nhà thơ kém may mắn
Chỉ mân mê những chữ
Bị thiến

53.
Looking at the stars far away
He could hear
The sigh of an aging virgin

Nhìn những vì sao xa xăm
Hắn nghe tiếng thở dài của một
Trinh nữ già

54.
A poem is nothing other than words
making love
and give birth to the poet
(Lê Hồng Vân)
A poem is merely words spilling out,
Words breed, from their union
Begetting a poet.
(Đoàn Duy)
A poem has nothing but words
When words bed words
A poet is conceived …
(Viet Pham)
Poems are words
Word pair word
and a poet is born
(Nguyễn Vân Hà)

A poem has nothing but words
The copulation of words
Gives birth to a poet

A poem is just a bunch of words
Words fucking words
And the poet is their fucking child

Bài thơ không có gì ngoài chữ
Chữ giao cấu với chữ
Đẻ ra nhà thơ

55.
Beyond a poem
Wading through a dream
Everything is a misconception
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Save for poetry
Anything outside of your dreams
Is unreal …
(Viet Pham)

Bài thơ lội trong mơ
Tất cả những gì ở ngoài giấc mơ đều
Hư ảo

56.
They shall never be able to see the moon there
Wholly stolen is their
Horizon

Ở đó, người ta không bao giờ thấy mặt trăng
Cả bầu trời bị
Đánh cắp

57.
The kiss was barely there and she was gone
He stood there pressing his tongue into nothingness
His tongue was like ice

Nụ hôn chưa dứt, nàng đã ra đi
Hắn đứng nút lưỡi giữ hư không
Cái lưỡi lạnh ngắt

58.
Humanity is constantly being chased by time
By the tick tock tick tock of a clock
Without the hand to count the second, minute or hour

Loài người bị thời gian rượt đuổi
Bằng một chiếc đồng hồ
Không có kim

59.
We have too many words
We have used and abused them
Even in the assassination of those we love

Chúng ta có quá nhiều chữ
Chữ bị lạm dụng
Kể cả để giết người

60.
One day two days three days and then so on
The shadow beneath his feet fades away
Losing all of its bite and credibility

Từng ngày từng ngày từng ngày
Cái bóng dưới chân hắn mòn đi và
Mất hết gai góc

Phu Quoc, Vietnam

61.
The horizon suffers from chronic rhinitis
The sunlight suffers from influenza
January is late with period cramps

Bầu trời lúc nào cũng sổ mũi
Nắng bị cúm
Tháng giêng bế kinh

62.
O the moon casts its cruel light
On lovers’ betrayals
Bosomed within their souls.
(Đoàn Duy)
Cruel is the moonlight
Illuminating even the betrayal
In the heart of lovers
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Ánh trăng tàn nhẫn rọi sáng
Cả những sự phản bội
Trong lòng các cặp tình nhân

63.
When it comes to poetry
What turns him on the most is to drive
Down the wrong side of the road

Trong thơ, hắn thích đi nhất
Trên những con đường
Ngược chiều

64.
A fish waiting for its last breath in a shallow stream
Dreams
Of the ocean

Một con cá chờ chết trong dòng suối cạn
Nằm mơ về
Đại dương

65.
Neither God or Buddha compose poetry
Only in facing death
Poetry speaks up

Chúa không làm thơ, Phật cũng không
Chỉ khi đối diện với cái chết
Thơ mới lên tiếng

66.
Fog. The collapsed sky
Barely missed
The tip of an ancient tree

Sương mù. Bầu trời sụp xuống
Suýt đụng
Ngọn cây cổ thụ

67.
Morning discerning just a hint
The scent of coffee
Giving the poem a long sigh

Sáng tự dưng thấy hiu hắt
Mùi cà phê
Làm bài thơ thở dài

68.
Without flowers, he nurtures the leaves
All minds yearns for
What is evergreen

Không có hoa, hắn nâng niu những chiếc lá
Tâm hồn nào cũng cần nhiều
Màu xanh

69.
All letters have equal birthrights
The poet safeguard
Their virginity

Tất cả các chữ đều là nạ dòng
Nhà thơ mang lại
Trinh tiết

70.
Poetry refreshes the vernacular
The vernacular refreshing the point of view
The point of view refresh anew the human race

Thơ làm mới ngôn ngữ
Ngôn ngữ làm mới cái nhìn
Cái nhìn làm mới con người

71.
She likes the verses that rhyme
On the days
Her eggs drops

Nàng thích những bài thơ có vần
Trong những ngày
Rụng trứng

72.
Every maiden has the same smile and laughter,
Only when their tears flow
Their selves emerge.
(Đoàn Duy)
The laughter of women is much the same
They are only different
When they cry
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Mọi phụ nữ đều cười giống nhau
Họ chỉ khác ở
Tiếng khóc

73.
In heaven
All the walls are drenched
In ejaculation

Trên thiên đường, bức tường nào cũng
Ướt đẫm
Tinh dịch

74.
You walk away, and even the wind misses you
Breathing in and out the scent of your armpit
In the air

Em đi, gió cũng nhớ
Nó thở khắp nơi
Mùi hương trong nách em

75.
Forget about the storms
Love is nothing but a light shower
Just enough to wet her underwear

Quên đi những trận dông bão
Tình yêu chỉ là cơn mưa phùn
Đủ để quần lót em ướt

76.
Came morning, a ray of light
Kissed and wrapped itself
Around a speck of dust

Sáng, một tia nắng cong
Ôm hôn
Những hạt bụi

77.
One after the other the waves violently
Violated and destroyed the reflection of the moon
The blood spattered everywhere

Những ngọn sóng hung hãm đập nát
Bóng trăng
Máu phun tung toé

78.
He was caught
Red handed in a trap
Of a rose

Hắn bị sập bẫy
Một đoá
Hoa hồng

79.
He deliberately dug and dug at her flesh
Trying to find
The missing kisses

Hắn đào bới thịt da nàng
Cố tìm
Những nụ hôn mất tích

80.
The fornicators are the only ones aware
Of the pain hidden deeply
At the very heart of the sea

Chỉ những kẻ ngoại tình mới hiểu
Những nỗi niềm giấu kín
Trong trái tim của biển

81.
He searched the entire page
To find her barely there
At the end of a poem

Hắn lục tìm trên trang giấy
Thấy nàng thấp thoáng
Ở cuối dòng thơ

82.
We are all
Prisoners
Poetry is our last hope

Tất cả mọi người đều là những tù nhân
Thơ là sự cứu rỗi
Cuối cùng

83.
The guillotine should be a cherished commodity
A good reminder of how one should
Try to keep one’s head

Máy chém là một di sản cần gìn giữ
Để mọi người biết quý
Cái đầu của mình

84.
She dropped to ground mid-step: laden was her sadness
Her crying stood firm and erect
A barrier to all courses of the wind

Đang đi, nàng gục xuống: nỗi buồn quá nặng
Tiếng khóc thẳng đứng
chận ngang những cơn gió

85.
An amniotic sac resides in each poem
In each amniotic sac
A dream

Trong bụng mỗi bài thơ là một bào thai
Trong mỗi bào thai là
Một giấc mộng

86.
The moonlight is always generally rather slack
So much so that those who are lonely
Could never meditate

Ánh trăng bao giờ cũng có vẻ lả lơi
Khiến những người cô đơn
Không thể thiền định được

87.
You cheat me out of my dreams
With a single
Tear

Em đánh tráo giấc mơ của anh
Bằng một giọt
Nước mắt

88.
Spring is a festival for flowers
Autumn is a festival for leaves
In the last holy matrimony of leaves

Mùa xuân là lễ hội của hoa
Mùa thu là lễ hội của lá
Lúc lá cưới nhau lần cuối

89.
All kisses
Require not
The afterword

Mọi nụ hôn
Đều không cần
Lời bạt

90.
The leaves stamping their mark
On the birth certificate
Of the wind

Lá đóng những con dấu
Trên giấy khai sinh
Của gió

91.
During his return to Vietnam, he was an outsider
The rays of sunlight glared
In vengeance

Về Việt Nam, hắn là̀ người ngoài cuộc
Nhữnh tia nắng nhìn hắn
Hằn học

92.
Humanity shouting. Like howling dogs
All is silent
Dead are both God and Buddha

Con người gào to. Như tiếng chó tru
Tất cả im lìm
Chúa và Phật đều đã chết

93.
He feels the quivering of every word by its tonality,
Even its uncertainty
He still feels out. As he the poet is.
(Đoàn Duy)
He sees the quiver of each tone
The hesitation of every word
He sees. For he’s a poet.
(Nguyễn Vân Hà)
He could discern the quiver of each flat and sharp
The semi and quarter pause after every word
He could discern it. Because he is a poet
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Hắn thấy sự run rẩy của từng thanh bằng thanh trắc
Sự ngập ngừng của từng con chữ
Hắn thấy. Bởi hắn là nhà thơ

94.
She buried her face in the bosom of the wind
Clumsily the teardrops
Found their rhyme and rhythm

Nàng gục mặt vào bụng gió và khóc
Những giọt nước mắt lẩy bẩy
Tìm vần

95.
As mortals peer into their own reflections,

The history’s tide

Stirs in tumult.
(Đoàn Duy)
As soon as humanity begins to study their shadow
It is the beginning of the chaos
In History
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Khi con người bắt đầu ngắm cái bóng của mình
Lịch sử bắt đầu
Náo loạn

96.
Eyes closed to the pain of humanity
Ears blocked from the sound of prayers
The Creator is also a liar

Nhắm mắt trước những nỗi thống khổ của nhân loại
Bịt tai trước những tiếng kinh cầu
Thượng Đế cũng nói láo

97.
Standing on the bridge looking down he saw is body
Floating in the river
The river bloomed with clouds

Đứng trên cầu hắn thấy xác hắn
Trôi bập bềnh dưới sông
Sông mọc đầy mây

98.
Poetry is the whisper of the heart
Poetry is a game for words
Poetry is the ring finger of God

Thơ là lời thì thầm của trái tim
Thơ là trò chơi của chữ
Thơ là ngón tay đeo nhẫn của Chúa

99.
I’m worried for those upon their wake at dawn
Pick up their dreams from the floor to then proceed to
Put them in their mouth

Tôi ái ngại cho những kẻ sáng sáng thức dậy
Nhặt các giấc mơ và
Bỏ vào miệng

100.
I took the fish for a walk
It wanted to fly
But the sky was full of water

Tôi dắt con cá đi bộ
Nó đòi bay
Mà trời thì đầy nước

101.
The highlights of the trips to Vietnam are the laughter
The lows are the death stares
From those without pupils

Về Việt Nam, thích nhất là những tiếng cười
Nhưng sợ nhất là những cái nhìn
Từ những cặp mắt không có con ngươi

102.
In the name of poetry, she wears no underwear
Her pubic hair
Flying like a flag in the wind

Nhân danh thơ, nàng ở truồng
Những sợi lông bay phấp phới
Như những lá cờ

103.
Only in poetry could one find
The tears
That weeps

Chỉ trong thơ mới có
Những giọt nước mắt
Biết khóc

104.
As she falls for him, she hid
a smile
In her womb

Đến với hắn, nàng giấu
Nụ cười
Trong tử cung

105.
Face buried between her thighs
Discerned is the wind from within
The calling of paradise

Úp mặt vào giữa hai đùi nàng
Nghe gió lùa từ trong
Cõi thiên đường gọi

106.
I have travelled the world
Consistently I have witnessed
The rivers’ return journey to the origin

Tôi đi khắp thế giới
Đều thấy
Những dòng sông chảy về nguồn

107.
Children of God
We are all born with the power
To dream

Trời sinh ra
Ai cũng có quyền
Mơ mộng

108.
It’s late, out in the garden, and she’s out of breath from
Fucking
The moonlight

Khuya, ngoài vườn, nàng hổn hển
Làm tình với
Ánh trăng

109.
Poetry will be the last point of salvation
After The Creator has been
Deposed

Thơ trở thành nguồn cứu rỗi duy nhất
Sau khi Thượng Đế bị
Truất phế

110.
Biting her poisonous lips
He disappears
Like a bad poem

Cắn vào đôi môi đầy chất độc của nàng
Hắn biến mất
Như một bài thơ dở

111.
One should leave this life like sunlight
Glorious to the last
Breath

Nên từ giã cõi đời như nắng
Đẹp nhất là lúc
Hấp hối

112.
In light of all the same sex couples kissing in the street
Eve was all choked up
She couldn’t finish her apple

Thấy những người đồng tính hôn nhau ngoài đường
Eva mắc nghẹn
Ăn không hết trái táo

113.
When a great poet passes away
The dictionaries are then
Orphaned

Khi một nhà thơ lớn qua đời
Các cuốn từ điển trở thành
Mồ côi

114.
Solitary
Sadness
The legacy left behind by poets

Di sản của các nhà thơ là
Những nỗi buồn
Đìu hiu

115.
You departed, leaving upon that eve
A rippling mournful sheen,
The sky willed not to be blue.
(Đoàn Duy)

She walked away and the afternoon was overwhelmed with tears
In waves of sadness
How could the sky possibly be so blatantly blue
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Em đi, chiều rưng rưng
Buồn dựng sóng
Trời không nỡ xanh

116.
When the abode speaks
The wind will be stunted into silence
And the river would turn around and look

Khi cái hĩm lên tiếng
Mọi cơn gió đều im bặt
Dòng sông quay đầu lại nhìn

117.
I especially like the flowers
That bloom
Beyond the seasons

Tôi đặc biệt thích những đoá hoa
Nở
Trái mùa

118.
Life after death is humanity’s best
Work
Of fiction

Đời sống sau cái chết là tác phẩm hư cấu
Vĩ đại nhất
Của nhân loại

119.
Uh-oh, Nguyễn Du took The Tale of Kiều with him
And it was too heavy for his soul
To bear

Chết, Nguyễn Du cầm theo Truyện Kiều
Nó quá nặng
Linh hồn ông mang không nổi

120.
I hope that our love for each other
May stay fresh
In all the annals of the wind

Anh ước chuyện tình giữa anh và em
Thơm hoài
Trong biên niên sử của gió

Light by Trần Hoài Phương

121.
In literature, victory
Belongs to
The side of the minority

Trong văn học, chiến thắng
Thuộc về
Phe thiểu số

122.
The poem was sentenced to be shot to death
It survived
But dead is the poet

Bài thơ bị xử bắn
Nó sống
Còn nhà thơ thì chết

123.
Poetry is where I bury all the emotions
That could never be revealed
To anyone

Thơ là nơi tôi chôn giấu những nỗi
Không thể nói được
Với bất cứ ai

124.
When I’m searching for the words for a poem
I would look up towards the sky
The dictionaries are the clouds

Khi cần tìm chữ cho một bài thơ
Tôi nhìn lên cao
Từ điển là những làn mây

125.
He opened his arms to embrace her
But he tripped and fell
Out of his dream

Hắn giang tay định ôm choàng lấy nàng
Bỗng hụt chân
Té nhào ra ngoài giấc mộng

126.
The moon’s vernacular is always a whisper
In the heart of those
Who can not sleep

Ngôn ngữ của trăng bao giờ cũng thì thầm
Dành cho những trái tim
Mất ngủ

127.
Leaning into the moonlight
Poets are suspended
Flying on a pair of words

Nương theo ánh trăng
Cạc nhà thơ bay lơ lửng
Trên đôi cánh chữ

128.
Only one fish is needed
To destroy
The reflection of the moon

Chỉ cần một con cá quẫy
Đủ làm tan
Bóng trăng

129.
A white butterfly shaking
In front of pantless
Flowers

Con bướm trắng run rẩy trước
Những bông hoa
Ở truồng

130.
In the name of love, they
Assassinated
Poetry

Nhân danh tình yêu, người ta
Ám sát
Thơ

131.
The moon bestowed a kiss on his face
The moon’s tongue was as sweet
As someone’s on their first menstrual cycle

Ánh trăng hôn lên mặt hắn
Lưỡi trăng có vị ngọt
Của một người vừa dậy thì

132.
A river swallowing another
Taking them out to sea
A watery interment

Dòng sông này nuốt dòng sông kia
Rồi mang ra biển
Thuỷ táng

133.
Humanity’s fall from grace
Left poetry
Breathless

Sự say mê của con người
Làm cho thơ
Nghẹt thở

134.
The ancient tree by the river
Shivers
Each time it remembers the person who hung themselves

Cây cổ thụ bên bờ sông
Luôn luôn run rẩy khi nhớ lại
Một người đến treo cổ

135.
When humanity started to compose poetry
The Creator announced
His abdication

Khi loài người bắt đầu làm thơ
Thượng Đế tuyên bố
Thoái vị

136.
Humanity is rather generous
Even after the wrath of The Creator
They are still ready to forgive

Loài người vốn rộng lượng
Dẫu bị Thượng Đế đày đoạ
Vẫn tha thứ

137.
A mountain is an accent
And the river connects
While I’m the accented connection to you

Ngọn núi là vần trắc
Vá dòng sông vần bằng
Còn anh bằng trắc em

138.
You were heartless, when you left
Stealing all
My dreams

Ra đi, em nhẫn tâm
Đánh cắp
Cả các giấc mơ của anh

139.
The poet is not the maker of the word
The word is what makes
The poet

Nhà thơ không làm ra chữ
Chính chữ làm nên
Nhà thơ

140.
Reading the poems, people see time and again
The spattered first blood of a shredded
Hymen

Đọc những bài thơ, người ta đều thấy
Vết máu loang của
Trinh tiết

141.
I’m hovering over you
And between us is an endless
Separation

Anh nằm trơi vơi trên em
Chính giữa là khoảng trống
Vô tận

142.
In the end, all the love intrigue shall pass by
Left behind
Are the anecdotes

Cuối cùng, mọi mối tình đều đi qua
Cái còn lại là
Những giai thoại

143.
The kind and generous breeze
Picked up the scent of women
As a gift for the mendicant

Những ngọn gió độ lượng
Nhặt mùi hương đàn bà
Tặng cho người hành khất

144.
When you bend over darling
The spirits altogether
Disappear

Khi em chổng mông lên
Mọi thần linh đều
Biến mất

145.
That amazing feeling when
Silence
Kisses your lips

Có cảm giác thật ngây ngất khi được
Sự im lặng
Hôn vào môi

146.
The first snow is always
As pretty as those
Hymen

Những bông tuyết đầu mùa
Đẹp như những
Màng trinh

147.
Each time I miss you, implore I would of the wind
The wind would then collect
The scent of you

Mỗi lần nhớ em, anh hỏi gió
Gió sưu tập
Mọi mùi hương của em

148.
Upon the exhibition of the sunlight
The lost thread of light
Settled in your hair

Trong cuộc triển lãm nắng
Có một sợi đi lạc
Đậu trên tóc em

149.
The gust of wind through her hair
Set free a strand
Plastered across the sky

Ngọn gió thổi tung mái tóc em
Một sợi rơi
Dính trên nền trời

150.
According to writers
Life is nothing but
A rough copy

Đối với các nhà văn
Cuộc đời chỉ là
Một bản nháp

151.
His name was listed in obituary
In the Sunday paper
The first time anyone had even heard of the poet

Lần đầu tiên người ta biết tên nhà thơ
Qua bản cáo phó
Đăng trên báo

152.
There’s no such thing as a timekeeper in heaven
God had to look down upon humanity
To collect the moments

Trên thiên đường không có đồng hồ
Chúa phải nhìn xuống trần thế
Để biết thời gian

153.
The horizon
Curled up through the green branches
Laden with leaves

Cành cây trĩu lá xanh
Làm cong
Bầu trời

154.
Hither and yon resounds
Raindrops
Beyond any nation.
(Đoàn Duy)
rain is the same
everywhere
it is stateless.
(Viet Pham)
Pitter-patter
Raining everywhere
But country nowhere
(Nguyễn Vân Hà)
The sound of falling rain found
In all corners of the world sound
Without citizenship
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Ở đâu cũng một tiếng
Mưa rơi
Không quốc tịch

155.
People are forever
Beyond
Their portrait

Con người luôn luôn ở ngoài
Bức tranh
Chân dung mình

156.
Your laughter
Is forever
Imprinted in the memoir of the wind

Tiếng cười em
Còn lại mãi
Trong hồi ký của gió

157.
The sprinkling rain
Fills up
The mere of poetry

Mưa rơi lắc rắc
Làm đầy
Ao nước thơ

158.
He lay on the grass
The grass wraps him up in its tentacles
Turns him into a green tumulus

Hắn nằm trên cỏ
Cỏ quấn lấy hắn
Thành một nấm mộ xanh

159.
The clitoris
Has no
Memory

Cái mồng đóc
Không có
Trí nhớ

160.
Your smile dear
The awakening scent
An entire meadow of roses

Nụ cười em
Làm dậy hương
Cả cánh đồng hoa hồng

161.
She steps on poetry
And she’s impregnated
With a dream

Nàng dẫm lên thơ
Mang thai
Một cơn mộng

162.
The head of the reeds leans
Into the naked torso
Of the wind

Những ngọn cỏ nghiêng mình
Ngả đầu vào
Tấm ngực trần của gió

163.
Time
Forgot
Her smile

Thời gian
Bỏ sót
Nụ cười của nàng

164.
People are so quick to fall in love
Yet are rather too late in grasping
The idea of love

Người ta biết yêu quá sớm
Nhưng hiểu tình yêu
Quá muộn

165.
Endless is not just heaven and earth
Try and look into the heart of a woman:
There is no end

Không chỉ trời đất mới vô tận
Thử nhìn vào lòng phụ nữ:
Nó cũng không cùng

166.
Within all things marvellous, the epitome is language
Within language
The epitome is poetry

Trong những điều kỳ diệu, ngôn ngữ đứng đầu
Trong ngôn ngữ
Thơ đứng đầu

167.
A poem barking like a dog at the moon
Wakes people up
In time to absorb the moonlight

Một bài thơ như tiếng chó sủa vu vơ dưới trăng
Nó khiến người ta giật mình
Thấy ánh trăng đẹp

168.
There’s no such thing as suicide
Despair is what
Kills them

Không có ai tự tử cả
Chính sự tuyệt vọng
Giết họ

169.
They kiss not each other: They swallow each other instead
One into another
And vice versa

Họ không hôn nhau: Họ nuốt nhau
Người này lọt vào cơ thể người kia
Và ngược lại

170.
Each poem quietly do their job
Like a scar
Unannounced

Bài thơ nào cũng lặng lẽ
Như một vết sẹo
Không tuyên ngôn

171.
The wind resents the leaf: It’s set on throwing the leaf on the ground
The leaf unafraid of death
Continues to idly fly

Gió thù lá: Nó quyết ném những chiếc lá xuống đất
Lá vẫn nhởn nhơ bay
Không sợ chết

172.
In poetry, there’s no warning sign
Nothing is forbidden
As long as it’s not lousy

Trong thơ, không có bảng cấm
Mọi sự đều được phép
Miễn đừng dở

173.
With eyes closed love
The heart does not need to be right
Spelt out correctly

Hãy nhắm mắt lại khi yêu
Trái tim không cần đúng
Chính tả

174.
Now and then
We would have peace
When the cannibals are on a hunger strike

Thỉnh thoảng những kẻ ăn thịt người tuyệt thực
Chúng ta có
Hoà bình

175.
A poet is the interpreter of the dark
So light may understand
The heart of night

Nhà thơ là kẻ phiên dịch bóng tối
Để ánh sáng hiểu được
Trái tim đêm

176.
History no matter where
Is full of
Postscripts

Lịch sử nào
Cũng đầy
Tái bút

177.
In the East Sea, a fish was executed
For illegally swimming
In someone else’s water

Trên Biển Đông, một con cá bị xử tử
Vì bơi lạc
Vào hải phận một nước khác

178.
They’re piled on top of each other
The fibre of the night was shredded
By their moaning

Họ chồng lên người nhau
Màn đêm bị những tiếng rên
Xé rách

179.
Most pitiful are bunches of flowers on the graves
Always withered
Before it’s time

Thương nhất là những bó hoa trên các nấm mộ
Bao giờ cũng
Già trước tuổi

180.
I like the poems stripped bare
So the readers may see
The veins

Tôi thích những bài thơ ở trần
Để người đọc thấy được
Gân guốc

181.
Composing poetry is a wrestle with words
When the words wins
The author wins

Làm thơ là đánh vật với chữ
Khi chữ thắng
Tác giả cũng thắng

182.
The songs of the nightingale from his childhood
Chased him
Like sleep and poetry

Tiếng sơn ca từ ngày thơ ấu
Đuổi theo hắn
Như bài thơ giấc ngủ

1́83.
She stuck a smile on her lips
In order to show off
One beautiful dream

Nàng dán nụ cười trên môi
Đẻ khoe
Một giấc mộng đẹp

184.
Spring past by, she lost
The password to
Her heart

Mùa xuân đi qua, nàng đánh mất
Mật khẩu
Trái tim mình

1́85.
The flowers
They know the incantation to open up poetry
But they prefer to keep it a secret

Hoa biết thần chú mở cánh cửa thơ
Nhưng chúng giữ
Bí mật

186.
Love is the ruins
In
The garden of Eden

Tình yêu là phế tích
Của
Vườn địa đàng

1́87.
Poetry is nothing but an old whore
Admiring the moon
While she waits for her next client

Thơ chỉ là cô điếm già
Đứng ngắm trăng
Trong lúc chờ khách

188.
Without an interpretation
He could still discern
The confiding admissions of the wind

Không cần phiên dịch
Hắn cũng hiểu
Những tâm sự của gió

189.
Listen. Listen. Listen
Just listen quietly to each sound
Each sound shall in turn, turns into music

Lắng nghe. Lắng nghe. Lắng nghe
Chỉ cần im lặng lắng nghe
Mọi tiếng động đều thành âm nhạc

1́90.
Kissing her for the first time
He could discern a familiar scent
Of an earlier life(an old soul)
(Lê Vĩnh Tài)

Lần đầu tiên hôn nàng
Hắn nhận ra mùi hương quen thuộc
Từ tiền kiếp

191.
There are full of people in heaven
Sitting around reminiscing
On the past

Trên thiên đường đầy những người
Ngồi luyến tiếc
Quá khứ

1́92.
Humans are free
In the Creator’s
Blind spot

Tự do của con người là
Những điểm mù của
Thượng Đế

193.
Half of her shadow falls over
The flowers
In menopause

Nửa cái bóng nàng ngả trên
Những đóa hoa
Mãn kinh

1́94.
Each human life is a sketch by the Creator
Pity
The majority of them are so clumsy

Mỗi đời người là phác thảo của Thượng Đế
Tiếc
Phần lớn đều vụng về

195.
He’s been composing poetry
Since the day u Cơ* hit puberty
For thousands of years still
—*Legendary Mother of Vietnam
Hắn làm thơ từ thời u Cơ mới dậy thì
Suốt mấy ngàn năm
Vẫn

1́96.
When it comes to singing, people need lots of listeners
While poetry need
Just a set of ears

Khi hát, người ta cần nhiều người nghe
Còn thơ
Chỉ cần một người

197.
Each author is a mother
A poem
Has no father

Mỗi tác giả là một người mẹ
Bài thơ
Không có cha

198.
There are thorny sharp jagged words
Keen in
The larynx of all those love poems

Có những chữ lởm chởm gai sắc
Làm buốt
Thanh quản những bài thơ tình

199.
Some nights I do not sleep
The words do not sleep
Both hopelessly watching poetry sleep

Có những đêm tôi không ngủ
Chữ cũng không ngủ
Cả hai tuyệt vọng nhìn thơ ngủ

200.
The day he married his wife, he was given
Ten dreams
Free of charge

Cưới vợ, hắn được tặng
Mười giấc mơ
Miễn Phí

201.
Within the foundation of the revolution of poetry
The flowers bloom
From the piles of rubble

Trong nền thơ cách mạng
Hoa nở
Từ những đống xà bần

202.
Many poets have passed away leaving behind a portrait
Carefully framed
The frame is prettier than the picture

Nhiều nhà thơ qua đời để lại bức chân dung
Đóng khung thật kỹ
Cái khung đẹp hơn bức họa

203.
The waves rise higher and higher
Swallowing whole
The full moon

Những ngọn sóng chồm lên chồm lên
Nuốt chửng
Ánh trăng rằm

204.
Composing poetry, he tried to interpret
The sutras
Of the wind

Làm thơ, hắn tìm cách phiên dịch
Những bài kinh nhật tụng
Của gió

205.
The verses came suddenly
When the sunlight touches the heart
Of a flower

Bài thơ nào cũng đến bất ngờ
Khi tia nắng chạm vào ngay giữa
Trái tim hoa

206.
My spirit is always ajar
Ready for the pouring moonlight
That nurtures my dreams

Tâm hồn tôi lúc nào cũng để ngỏ
Cho ánh trăng tràn vào
Nuôi những giấc mơ

207.
He finds himself unrecognisable on his trips to Vietnam
The hibiscus reminded him:
This was where he belonged

Về Việt Nam hắn không biết hắn là ai
Một cây dâm bụt nhắc:
Hắn thuộc về nơi này

208.
He’s missing inside his poetry
There’s no point in
Looking for him

Hắn mất tích trong các bài thơ của hắn
Mọi tìm kiếm đều
Vô vọng

209.
Each blade of grass embracing a dewdrop
Husband and wife
Until the dewdrop is consumed by sunlight

Mỗi ngọn cỏ ôm một giọt sương
Làm vợ chồng
Cho đến khi giọt sương bị nắng ăn mất

210.
Vietnam is with him where ever he’s at
Even when
He’s making love

Đi đâu hắn cũng mang Việt Nam theo
Kể cả lúc
Làm tình

211.
Xuân Diệu and Hàn Mặc Tử describe the moon beautifully
Both are gone. But I know
They turned into moonlight: Immortals

Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử tả trăng tuyệt hay
Cả hai đều đã mất. Nhưng tôi biết
Họ hóa thành ánh trăng: Bất tử

212.
The woman struggling in a flood
She is crying as she wades through the alleyway
The rain is salty with her tears

Một phụ nữ lội bì bõm trên con đường ngập nước
Vừa đi vừa khóc
Nước mắt làm mặn cơn mưa

213.
Each poem is a marriage of words
Mostly without much
Complication

Mỗi bài thơ là một đám cưới của chữ
Phần lớn đều
Tuyệt tự

214.
Within the contract of poetry
Honesty is just
For show

Trong khế ước của thơ
Sự thành thực chỉ là điều
Phù phiếm

215.
The girl with the abandoning smile
Left his soul
Starved of oxygen

Cô gái với nụ cười lửng lơ
Làm linh hồn hắn
Đột quỵ

216.
If there’s the pain of yearning and hopelessness
Then there still is poetry
Poetry is the acclaimed imperfection

Hễ còn nỗi buồn nhớ nhung còn tuyệt vọng
Là còn có thơ
Thơ là tiếng kêu của sự bất toàn

217.
Over there, they build all these magnificent monuments
Then they line up
And masturbate

Ở đó, người ta xây dựng nhiều tượng đài thật nguy nga
Rồi đứng xếp hàng
Thủ dâm

218.
In literature, the most perilous path
The path with the most promise
A highway full of death traps

Trong văn học, con đường khúc khuỷu nhất
Là còn đường nhiều hứa hẹn nhất
Xa lộ là tử lộ

219.
I was condemned
To living
My life

Tôi bị kết án
Phải sống
Cuộc đời mình

220.
The page lay face up
Looking for the words
For the insemination of poetry

Trang giấy trắng nằm ngửa
Tìm chữ
Thụ tinh thơ

221.
The green leaves lookup
Signing a marriage certificate
With the sunlight

Những chiếc lá xanh ngửa mặt
Ký hôn thú
Với nắng

222.
The eyes hid
An unsent
Love letter

Bức thư tình chưa gửi
Vẫn còn giấu
Trong mắt

223.
I like the last few leaves
Trying their best to hold on
To the spindly branches

Tôi thích những chiếc lá
Cuối cùng
Trên cành cây khẳng khiu

224.
Finger pointing to the moon
Of Zen Master
is curved
[Lê Vĩnh Tài]
Barely straight is the Zen Master’s finger
Pointing at
The Moon
[Nguyễn Thị Phương Trâm]

Ngón tay chỉ mặt trăng
Của thiền sư
Cong queo

225.
On the deserted beach
I heard the splashing of the Sun
Set

Trên bờ biển vắng
Tôi nghe tiếng mặt trời
Lặn

226.
She goes
The wind follows
A whirlwind of boundless leafy yellows
(Lê Vĩnh Tài)

Nàng đi
Ngọn gió theo sau
Cuốn theo bao nhiêu là lá vàng

227.
A white butterfly
Carried The Zhuangzi on its back
As it continued to fly for a thousand years without rest

Con bướm trắng
Cõng Trang Tử trên lưng
Bay suốt mấy nghìn năm không nghỉ

228.
Thank you to the thick canopy
A shade away from all the light
There for the privacy of our kiss

Cám ơn tàn lá rậm
Che làn sáng
Để chúng mình hôn nhau

229.
The cloud halted mid-flight
Upon the discovery of its shadow
Standing still at the bottom of the lake

Làn mây ngừng bay
Khi thấy bóng mình
Đứng yên dưới nước

230.
The kingfisher
Plunged into the lake
Happened upon its shadow

Con chim bói cá
Lao đầu xuống nước
Đụng phải bóng mình

231.
Poetry, the kisses
Discreet
Surpassing geography

Thơ là những nụ hôn
Kín đáo
Xuyên địa lý

232.
A butterfly fell asleep
On the belly of a flower
Entered a meditative state in its dream

Một con bướm ngủ quên
Trên bụng hoa
Giấc mơ đầy thiền vị

233.
In a display of affection
He composes poetry
As she loses her virginity

Để bày tỏ tình yêu
Hắn làm thơ
Còn nàng thì mất trinh

234.
An ant
Died in the palm
Of Buddha

Con kiến
Chết khô
Trên bàn tay Đức Phật

235.
After love making
She left
Behind a few hair

Làm tình xong
Nàng ra đi
Để lại mấy sợi tóc

236.
You walked away out of sight
In the sunlight
Glorious like a verse by Du Fu and Li Bai

Em đi
Dưới nắng
Đẹp như một bài thơ Đường

237.
Winter, your sigh
Caused the fall
Of a red leaf

Mùa đông, tiếng thở dài của em
Làm rơi
Một chiếc lá đỏ

238.
A nation like Buddha’s palm
When the Monkey God left, he walked and he walked
But, he could never escape

Đất nước như bàn tay Đức Phật
Những Tề Thiên Đại Thánh ra đi, đi mãi
Vẫn không thoát

239.
As the curtain drops
The boundary between drama and comedy
Disappears

Khi bức màn sân khấu hạ xuống
Ranh giới giữa bi kịch và hài kịch
Biến mất

240.
The apostles goes to church
He goes to the meadows
The house of God

Các tín đồ vào nhà thờ
Hắn đến những cánh đồng hoa
Đó là địa chỉ của Chúa

241.
After write a poem
The butterflies escapes
To frolic at the end of the garden

Vừa viết xong bài thơ
Những con bướm thoát xác
Cuối vườn bay nhởn nhơ

242.
He picked a flower
And widowed
The branch

Hắn ngắt một đóa hoa
Làm cành cây
Goá bụa

243.
As soon as he jotted the poem on the page
He regretted it
The page has lost its value

Viết xong bài thơ xuống trang giấy
Hắn bỗng ân hận
Trang giấy vừa tái giá

244.
The monk begged for alms
Accepting by mistake a scent
That had made him sleepless all night

Nhà sư đi khất thực
Xin nhầm một làn hương
Về, mất ngủ

245.
Short is a human’s life
Each morning
The flowers bloom still

Đời một người thật ngắn ngủi
Mỗi sáng
Hoa vẫn nở

246.
He wanted to sincerely a romantic verse
No. No. No
The letters denied him

Hắn thèm viết một bài thơ tình chân thực
Không được. Không được
Chữ bẽn lẽn từ chối

247.
Reaching out to touch the sunlight
The sunlight turns into a poem
The innocence of a poem through one’s hands

Đưa tay hứng tia nắng
Tia nắng thành bài thơ
Bài thơ bay vu vơ

248.
We’re like a tiger
In an ancient jungle in the dark
Always lonely and alone

Ta như con cọp độc
Trong rừng gìa U Minh
Lúc nào cũng một mình

249.
The sky coughing out
Rays of light
Setting the spring adrift

Tiếng ho của bầu trời
Làm rụng những tia nắng
Mùa xuân lênh đênh

250.
Sunlight: free; moon: free. Everything is free
A gift of nature
Void of royalty

Nắng: miễn phí; trăng: miễn phí. Tất cả đều miễn phí
Trời đất tặng
Không tính nhuận bút

251.
A black crow
Picking at the sunlight
In the middle of a quiet afternoon

Con quạ đen
Mổ nắng
Giữa chiều quạnh hiu

252.
A white butterfly lost its virginity
Inebriated in through the air of a garden
Blooming with love

Con bướm trắng mất trinh
Bay lảo đảo
Trong vườn hoa đa tình

253.
The scattered rain drops
The baptism of sadness
Upon the hair of the young woman

Những giọt mưa lất phất
Rửa tội những nỗi buồn
Trên tóc người con gái

255.
Tapping on the keyboard
The poet was lost
In the flow of shimmering words

Gõ xuống bàn phím chữ
Nhà thơ quên mất mình
Chữ ùa bay lung linh

256.
He has gone beyond the border
Settling on a life
Forever adrift

Hắn vượt biên đã tới bến
Vẫn suốt đời
Lênh đênh

257.
God created the world
But the snake was the instigator
Of history

Đức Chúa Trời tạo nên thế giới
Nhưng chính con rắn
Mới làm ra lịch sử

258.
The red of those leaves
On the branches are as pretty
As the colour of blood shed on the first consummation

Những chiếc lá màu đỏ
Trên cành
Đẹp như màu tiết trinh

259.
The words never bow down to anything
But those who hold the pen
May

Chữ không bao giờ biết cúi đầu
Nhưng người cầm bút thì
Có thể

260.
I love the leaves that are beautiful
To the very moment
They fall from the branches

Tôi yêu những chiếc lá
Đẹp đến giờ phút cuối
Khi lìa cành bay nghiêng

261.
Poets are generally weak
Affront the temptation
Of nothing at all

Tất cả các nhà thơ đều nhẹ dạ
Trước sự cám dỗ của
Những nỗi vu vơ

262.
Politicians like Mã Giám Sinh are like pimps
Turning all that is beautiful in the vernacular
Into prostitutes

Các nhà chính trị như Mã Giám Sinh
Biến mọi chữ đẹp
Thành đĩ

263.
He’s staring at his garden in the middle of the night
The moonlight is dead in its tracks
In the middle a blinding mist sky

Nửa đêm hắn đứng nhìn ra vườn
Ánh trăng chết cóng
Giữa trời mù sương

264.
Time can not be stopped by anyone
But poetry could in a moment
Immortalise

Không ai ngăn được thời gian
Nhưng thơ có thể vĩnh cửu hoá
Một khoảnh khắc

265.
The origin of tears
The cries of a poet
Through someone else’s eyes

Nhà thơ khóc
Bằng mắt người khác
Nước mắt thụ thai

266.
Eggs are drop in so many
As the poem
Ejaculate

Bài thơ
Xuất tinh
Bao nhiêu người rụng trứng

267.
Green and fresh is a poet
In all the small intestine
Of a woman

Trong dạ con mỗi người đàn bà
Xanh mướt
Một nhà thơ

268.
Mended is the hymen
Upon the birth
Of a poet

Khi nhà thơ ra đời
Màng trinh phụ nữ
Được vá lại

269.
The poem inadvertently
Gave birth
To its author

Bài thơ thất tiết
Đẻ ra
Tác giả của nó

270.
Facing the dawn upon the sea
He sees himself as the waves
Endlessly crashing into nothingness

Buổi sáng hắn đứng ngắm biển
Thấy mình là sóng xô
Vỗ hoài vào hư vô

271.
Each leaf is holding onto a secret word
A key
Within the heart

Mỗi chiếc lá ôm một ẩn ngữ
Chìa khoá
Nằm trong trái tim

272.
A city covered in monuments
To the point
There’s nowhere left to stand

Thành phố đầy tượng đài
Đến không còn
Lối đi

273.
Lying there, in the dark of night, he heard
Longing
Turned

Nằm, trong khuya khoắt, hắn nghe
Tiếng nỗi nhớ
Trở mình

274.
Before he had even put pen to paper
The pages were full of poetry
Without a home

Trước khi hắn viết, trang giấy đã đầy chữ
Những câu thơ
Không có địa chỉ

275.
The poet is speechless facing Buddha
Resounding was the sound of a sermon
Of silence

Nhà thơ vô ngôn trước tượng Phật
Chỉ nghe vang lời thuyết pháp
Của im lặng

276.
Splashing all over a statue of Mother Mary
The immaculate
Raindrops

Rơi tung toé trên tượng Đức Mẹ
Những hạt mưa
Vô nhiễm

277.
You were already far away in a blink of an eye
Miscarried
A love

Chớp mắt em đã mất hút
Sẩy thai
Một cuộc tình

278.
I looked through my memories
For all that has been forgotten
Easter is my poetry

Tôi lục tìm ký ức
Những gì quên hết rồi
Phục sinh thành thơ tôi

279.
The greatest misfortune of any artist or writer
Dying after
Their body of work

Bất hạnh lớn nhất của các văn nghệ sĩ
Là chết sau
Các tác phẩm của họ

280.
The cricket cries
Gnawing away pieces
Of the night

Tiếng dế khóc
Ăn khuyết dần
Bóng đêm

281.
Lạc Long Quân at the bottom of the ocean
Felt  u Cơ turned
At the top of the mountain
--
Lạc Long Quân dưới biển
Nghe  u Cơ trở mình
Trên đỉnh núi

282.
Poetry limping in the dying light
Like dying leaves
The words fell one after the other, exhausted
--
Trên con đường thơ khấp khểnh
Chiều, như những chiếc lá chết
Chữ rụng lả tả

283.
Sperm is all
Poetry needs
Tears are unnecessary 
—
Thơ không cần nước mắt
Thơ chỉ cần
Tinh trùng 

291.

301.
309.
Waves are the signature of the sea
On a lonely
Page of scripture

Sóng là chữ ký của biển
Trên tờ kinh
Quạnh hiu

311.

321.

324.
Poetry
The sacrament of marriage
In between the words

Thơ
Bí tích hôn phối
Giữa các chữ

325.
You are the fevered words
On the crumbling lustful page
A poem swollen with testosterone

The poem is very male (direct translation)
A poem pumped with Viagra

Em làm các con chữ phát sốt
Trên trang giấy nhàu nát dục tính
Bài thơ rất đực

326.
All books are unfinished
They wait for the rays of sunshine
To shed light

Mọi cuốn sách đều dang dở
Chúng chờ những giọt nắng
Viết tiếp

327.
The bottom of my soul is you
Surrounds you
The sediment of the memory of us

Dưới đáy hồn anh là em
Chung quanh em
Là trầm tích của kỷ niệm

331.
Poetry: Stolen letters
Fallen from the holey pocket
Of a dream

Thơ: Những chữ bị đánh cắp
Bởi một giấc mơ
Thủng đáy

332.
Poetry is the whisper
Of the first morning dew
Not once screwed

Thơ là tiếng thì thầm
Của những giọt sương mai
Chưa mất trinh

341.

351.

361.

371.

381.

391.

401.

411.

421.

424.
He hanged himself
Not by nailing himself to the cross
But with love poems
(Viet Pham)

Hắn tự treo mình trên thánh giá
Không có đinh
Chỉ có những bài thơ tình

426.
The poet listens and interprets
The conversations between
The grass and the dew

Nhà thơ lắng nghe và phiên dịch
Các cuộc chuyện trò giữa
Cỏ và sương

429.
Your seductive scent
The like of an apple
With the bite of Adam

Mùi hương của em quyến rũ
Giống mùi trái táo
Adam từng cắn

431.

441.

444.
She left
The snake follow suit
Spitting venom into every dream

Nàng ra đi
Con rắn theo sau
Phun nọc độc vào mọi giấc mơ

St. Joseph Cathedral, Hanoi, Vietnam

451.

461.

464.
Eva left her breasts in the apple tree
After a few thousands years
Adam managed to get them back

Eva bỏ quên cặp vú trên cành táo
Mấy ngàn năm sau
Adam mới lấy lại được

471.

481.

491.

501.

510.
After consuming the forbidden fruit
Adam was finally
Truly free

Sau khi ăn trái cấm, Adam mới
Thực sự
Tự đó

511.

521.

524.
The poem masturbating
A ritual
Of the word

Bài thơ thủ dâm
Trong nghi lễ
Của chữ
526.
Your disappearance(em)
Widowed
The afternoon

Em đi mất
Buổi chiều trở thành
Góa phụ
529.
The poet likes to perform his monologue
Only in front of the confessional
Of nothingness

Nhà thơ chỉ thích độc thoại
Trước tòa giải tội
Của hư vô

531.

534.
Oblivion is something
He has learned
From the river

Hắn học được
Từ dòng sông
Sự quên lãng

540.
In living, people waste so much
Time
Trying to exist

Sống, người ta mất quá nhiều
Thì giờ
Để tồn tại

541.

551.

554.
There are the poems
Consumed
By words

Có những bài thơ
Bị chữ
Thủ tiêu

561.

564.
Vast forest fires
Everyone’s afraid
Only the wind applauds the flames

Cháy những cánh rừng bạt ngàn
Mọi người đều sợ
Chỉ có gió là hoan hô lửa

565.
The poem was caught making love with
A perforated
Condom

Bài thơ bị bắt quả tang đang làm tình với
Một cái condom bị
Thủng

571.
You teased me in a dream
It woke me
While you were still dreaming
(Lê Vĩnh Tài)

Trong mơ, em khều anh dậy
Anh dậy
Em vẫn còn mơ

581.

588.
Each poet
Is
A cemetery

Mỗi nhà thơ
Là một
Nghĩa trang

591.
598.
She’s impressionable. Hers tears fell into
Her ovaries
Hatched into poetry

Nàng mẫn cảm. Nước mắt nàng chảy vào
Buồng trứng
Nở ra thơ

599.
The sweet wind blew in memory
Reliving warm kisses
A long time ago

Gió ngọt ngào thổi vào trí nhớ
Sống lại những nụ hôn ấm
Một thời xa lắc

600.
The gentle sea waves
Wrote on the sand for water
A love letter

Sóng biển êm ái
Viết lên cát
Bức thư tình của nước

Dã Quỳ by Như Hoài

601.
Holding her, leaning in for a kiss
Half a century later
His lips barely touched hers

Ôm nàng, hắn cúi xuống
Nửa thế kỷ sau
Môi hắn vẫn chưa đụng tới môi nàng

602.
Humanity can not escape the vernacular
Since even silence
Is a comma

Con người không thể thoát khỏi ngôn ngữ
Ngay cả sự im lặng
Cũng là một dấu phẩy

603.
I like the poems composed after midnight
Each word is loaded with
Hesitation

Tôi thích những bài thơ viết sau 12 giờ đêm
Mỗi chữ nặng trĩu một nỗi
Trăn trở

604.
Each living soul
A tomb
Of oblivion

Mỗi người sống
Một nấm mộ
Lãng quên

605.
The earth is an abandoned chapel
God and Buddha
Evacuated

Trái đất là một nhà nguyện bỏ hoang
Chúa và Phật
Đã được di tản

606.
Fired up by the beauty
He composes poetry
The pen’s a force of nature

Rạo rực trước cái đẹp
Hắm làm thơ
Ngòi bút là sinh thực khí

607.
It seems everyone in Eden is a poet
All regretting
What is ephemeral

Trên thiên đường hẳn ai cũng là thi sĩ
Tất cả đều nuối tiếc những sự
Phù du

608.
Each river is a sanctuary for water
A place for the preservation of unexplained
Sadness

Mỗi dòng sông là một thánh đường của nước
Nơi cất giấu
Những nỗi buồn bâng quơ

611.
Flowers lower their heads
To avoid the forward kisses
Of sunlight

Những đóa hoa cúi mặt
Tránh những nụ hôn sàm sỡ
Của nắng

614.
In his dream he was lost
Inside the sleep
Of a rose

Hắn nằm mơ thấy mình đi lạc
Trong giấc ngủ
Một đóa hoa hồng

615.
The statue of Buddha looks down
On the bed where two people are making love
The room bubbling to the boiling point of breathlessness

Trên chiếc giường hai người làm tình
Tượng Phật ngó xuống
Căn phòng sôi tiếng thở

620.
Your sadness(em)
Shimmering within
The teardrops of sunlight

Nỗi buồn em
Long lanh trong
Những giọt nước mắt của nắng

621.

624.
At the heart of the wind
The adulterous
Woman

Trong trái tim của gió
Có một người đàn bà
Ngoại tình

631.

641.

644.
Her vagina
A store
Full of memories

Cửa mình nàng
Đựng đầy
Kỷ niệm

651.

661.

671.

674.
Poetry, need most
The air
Since even poetry needs to breathe

Trong thơ, cần nhất là
Dưỡng khí
Thơ cũng cần thở

678.
The leaf is as red as
The lure of painted
Red lips

Chiếc lá đỏ như
Đôi môi son
Khiêu khích

680.
Like the pauses in a sentence
The teardrop is a full stop on
A love affair

Giọt nước mắt như dấu câu
Chấm hết
Một chuyện tình

681.

685.
The crying
Greying
Even the light of the full moon

Tiếng khóc
Làm bạc tóc
Cả ánh trăng rằm

691.

701.

705.
Night leaned in to kiss him
He looked up
Saw the moon weeping

Đêm cúi xuống hôn hắn
Hắn ngước mặt lên
Thấy trăng ứa nước mắt

711.

721.
Thank the Lord: All women
Are
Beautiful

Tạ ơn Chúa: Người đàn bà nào
Cũng
Đẹp

722.
Desire
The abrasion upon
Sleep

Nỗi nhớ
Làm trầy trụa
Giấc ngủ

731.

741.

744.
Her vagina is wet: A sign
His penis is erect: Another sign
There’s nothing to be bashful about

Nàng âm hộ ướt: Một ký hiệu
Hắn dương vật ngỏng: Một ký hiệu khác
Đâu có gì thẹn thùng



749.
Regardless of how often jealous is the wind
The tulip consistently, chin high
Faces the sunlight

Bất kể những cơn ghen của gió
Hoa tuy-líp lúc nào cũng
Ngửa mặt nhìn nắng


751.

761.

771.

781.

791.

801.

811.

821.

831.

841.

851.

861.

871.

881.
He wanted to write down
What the oriental magpie-robin said
But the words betrayed him

Hắn muốn viết lại câu chuyện
Con chích choè kể
Nhưng chữ phản bội hắn

882.
Writing poetry is searching through the ruins
For burning kisses
In a dream

Làm thơ là tìm kiếm tàn tích
Những nụ hôn cháy
Trong giấc mơ

883.
A poem needs drama
The eruption
Of a volcano

Bài thơ cần kịch tính
Của ngọn núi lửa
Nổ bùng

884.
Between life and death
I found a compromise:
Writing

Giữa sống và chết
Tôi chọn cái ở giữa:
Viết

885.
Time
never says
i’m sorry
[Lê Vân]
Time is forever
Never
Sorry
[Nguyễn Thị Phương Trâm]

Thời gian không bao giờ
Biết nói
Xin lỗi

886.
The mountain is the conductor
The forest the orchestra
Playing the serenades of the wind

Núi huy động cả rừng cây
Để diễn ngâm
Những bài thơ tình của gió

887.
All that petting
Made the mountain
Explode

Sự tịch mịch
Làm ngọn núi
Nổ tung

888.
He showed his love to a flower
The flower showed its love to a butterfly
The butterfly turned its back to fly into a dream

Hắn tỏ tình với một đoá hoa
Đoá hoa tỏ tình với một con bướm
Con bướm quay lưng bay vào giấc mộng

889.
Poetry goes hand in hand with the concept of dying
Within an eternity
Without a poet

Thơ gắn liền với ý niệm phôi pha
Trong cõi vĩnh hằng
Không có thi sĩ

890.
The poem will always be taller than its author
At least
By a head

Bài thơ bao giờ cũng cao hơn tác giả của nó
Ít nhất
Một cái đầu

891.
I despise all lies
Include those
From the Gods

Tôi khinh bỉ mọi nói dối
Kể cả
Của thần linh

892.
Each human life lies inside two brackets
Within the proclamation
Of the soil

Mỗi đời người nằm giữa hai dấu ngoặc
Trong diễn ngôn
Của đất

893.
Boulevards
The footprints
Of great poets

Dấu chân của những nhà thơ lớn
Là những
Đại lộ

894.
Facing the autumn
Behind me is the memory of you
Desolation in both

Trước mặt là mùa thu
Sau lưng là nỗi em
Cả hai đều quạnh quẽ

895.
They are a piece of work by nature,
A poem
Writ in moonlight grand.
(Đoàn Duy)
He’s a product of heaven and earth
A poem
Written by moonlight
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Hắn là tác phẩm của trời đất
Một bài thơ
Được ánh trăng viết

896.
The saga of history
Is penned divinely
As a fictional story.
(Đoàn Duy)
History is a piece of fiction
By
God
(Nguyễn Hưng Quốc)
History is a piece of creative writing
Written by
The Creator
(Nguyễn Thị Phương Trâm)

Lịch sử là tác phẩm hư cấu
Của
Thượng Đế

897.
To confirm the spirit of a nation
Please turn up
At the cemetery

Để tìm hồn nước
Hãy đến
Các nghĩa trang

898.
In his resume
His origin is noted as
Nothingness

Trong lý lịch trích ngang của hắn
Nguyên quán là
Hư vô

899.
The river runs infinitely
As epic anthem
Beyond memory

Những con sông chảy mãi chảy mãi
Như những bả trường ca
Ngoài ký ức

900.
No religion could
Possibly deliver
God from injustice

Không tôn giáo nào có thể
Giải oan được
Cho Thượng Đế

901.
Unheeding is the biggest nemesis of love
Unheeding is the biggest nemesis of poetry
Unheeding is the destruction of all the beauty in the world

Kẻ thù lớn nhất của tình yêu là sự dửng dưng
Kẻ thù lớn nhất của thơ cũng là sự dửng dưng
Dửng dưng giết chết mọi cái đẹp

902.
Chased by nothingness
He tried and hide
Poetry opened up like the abode to welcome him

Bị hư vô rượt đuổi
Hắn chạy trốn
Thơ mở ra như một tử cung đón hắn

903.
Furrows tearing across the page
The distant howling
Verses burning up grains of afternoon light

Những luống cày làm rách trang giấy
Tiếng tu hú xa xôi
Bài thơ đốt cháy những hạt nắng chiều

904.
Timely is the end of autumn
The period ending of suicidal leaves
Landing for the clouds were the temple eaves

Bây giờ đã cuối thu
Lá không còn tự sát
Mây sà xuống nóc chùa xin quy y

905.
Making poetry, he stole the letters
From the drops of falling
Rain

Làm thơ, hắn ăn cắp chữ
Từ những giọt
Mưa rơi

906.
The Zen master slept with the mountain
The mountain held its breath
An untitled poem

Thiền sư giao hợp với ngọn núi
Ngọn núi nín thở
Bài thơ vô tự

907.
I begged the angels
To look away
So we may make love

Anh năn nỉ các thiên thần
Ngoảnh mặt đi
Để mình ầu ơ

908.
Don’t be such a perfectionist: Nothing is ever perfect
Even God’s work
Is unfinished

Đừng cầu toàn: Không có gì hoàn hảo cả
Ngay chính tác phẫm của Thượng Đế
Cũng dở dang

909.
These tiny tiny tercets
How will they weigh against one dew drop
I don’t know. It’s a question for the grass

Những bài thơ ba dòng nhỏ xíu này
Có nặng bằng một hạt sương không
Tôi không biết. Xin hỏi những ngọn cỏ

Nguyễn Hưng Quốc, born Nguyễn Ngọc Tuấn in 1957, in Quang Nam, Vietnam. The linguist, critic, writer, and poet is currently living in Victoria, Australia.


Translators:

Đoàn Duy, the poet and translator born in the year of the cat, currently lives in Saigon, Vietnam.

Lê Hồng Vân, the translator is currently living in Vietnam.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Nguyễn Vân Hà, the translator is currently living in Saigon, Vietnam.

Viet Pham, the translator from Vietnam is currently living in Canada.

By Nguyễn Thị Phương Trâm

There's magic in translating a body of work from one language to another.

18 comments

  1. Dearest Trâm I can’t tell you how unbelievably happy I am for you and the two poets. This is an amazing accomplishment. I have read many of Nguyên Húng Quôc’s Beautiful words, which you graciously included. Where will the books be for purchase. Blessings to you my friend. This is not only a labor of true love for you but such a wonderful gift for those of us who have been reading both your own work and the many poets you translate. 🌺🌷🦋

    Liked by 4 people

      1. You, a doctor, who has such a busy week, spends her free time translating beautifully poetry. This is such a gift filled with selflessness that my heart has been turned to tears. May God truly blessed you for your kindness. 🦋🤗🌸

        Liked by 2 people

      2. It doesn’t matter what your degree is to me. I know how hard pharmacist work in US and you give your free time to bless others. That is rare these days my friend. Sending out love ❤️ 🦋❤️

        Liked by 1 person

      3. Love you back. Someday all these blessings you have bestowed on others for the love of poetry and for the love of poets will bless you in the biggest way. People like yourself are such a gift in such a world full of people who don’t care. May you be blessed in a way that significantly touches many hearts as God knows your tender heart. Love you Joni 🦋

        Liked by 1 person

Leave a comment

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: