Sydney, Australia, April 28, 2025
Sáng nay thức dậy tự nhiên thấy FB của tôi chia sẻ video clip cảnh cặp trẻ trình diễn bài Tiếng đàn Ta Lư, thoạt nghĩ rằng trang của mình đã bị hack, vì tôi chưa bao giờ thích nổi bài này. Tuy nhiên tôi vẫn xóa bỏ ngay được và sự thể, có lẽ, là một “tai nạn” khi tôi quờ quạng thế nào đó, giữa khuya, sau khi nhấm hơn một ly rượu vang.
Chuyện làm tôi nhớ đến hiện tượng “Tiếng đàn Ta Lư” sau tháng Tư năm 1975, như một thứ dịch, theo chân những đoàn quân từ trên núi tràn xuống. Đó là “dịch” ghẻ ngứa mà có lẽ ai sống qua thời ấy vẫn còn nhớ. Bệnh ghẻ tràn lan, đi đâu cũng thấy người ta gãi soàn soạt và, theo những nhạc khúc cách mạng, họ gọi đó là “tiếng đàn Ta Lư”.
Trong tình trạng thiếu thốn thuốc men ngày ấy thì, chủ yếu, nạn nhân chỉ biết dùng những thứ lá đắng như thầu đâu, lá quỳ để nấu nước tắm. Có người chăm chú dùng kim may mà “lễ”, khều khều mũi nhọn cây kim trên đường rảnh của bàn tay mà khui ra con ghẻ.
Và tôi nghĩ đến những chuyện khác, liên quan chút xíu, mà tôi đã nhắc, rải rác đâu đó.
Tôi nghĩ đến “dịch ghẻ Tàu”, đọc trong truyện của Duyên Anh, cái bệnh ngoài da hoành hành ở miền Bắc vào năm 1945 theo chân những đội quân ô hợp của Lư Hán, đến Việt Nam để giải giới quân Nhật theo Thỏa ước Postdam của Đồng Minh.
Cho tới nay tôi vẫn chưa tìm ra sử liệu khả tín nào để làm sáng tỏ câu chuyện này. Tuy nhiên những sử liệu khác và những gì đang xảy ra cho thấy rằng chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi thành ngữ “Tai họa do miệng nói ra, bệnh tật do miệng đưa vào” với nội dung mới, thời sự hơn.
Không thể chối cãi, thảm họa Covid-19 xuất phát từ Trung Quốc. Những hành vi vụng về của nước này khi cản trở các cuộc điều tra, hung hăng trả thù nước Úc vì đứng kêu gọi mở điều tra quốc tế về gốc các của đại dịch càng cho thấy chính quyền nước này có nhiều điều muốn ém nhẹm. Hành động lấy thúng úp voi của Bắc Kinh hoàn toàn không giấu được sự thể “Thảm họa do Trung Quốc gây ra.”
Còn nhìn từ phối cảnh của chúng ta thì, không kể chuyện “ghẻ Tàu”, chúng ta có thể khẳng định theo chính một sử gia Trung Quốc rằng “Bệnh tật do Trung Quốc đưa vào”.
Đó là bệnh đậu mùa. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã liệt kê đậu mùa như là một trong những bệnh truyền nhiễm kinh hoàng nhất mà nhân loại từng biết đến và nỗi hãi hùng mang tên đậu mùa này đã kéo dào nhiều thế kỷ, lập đi lập lại tại nhiều lục địa, tàn phá dân số và đã góp phần làm thay đổi dòng chảy của lịch sử.
Đến giữa thế kỷ 20 dân ta vẫn hãi hùng xem bệnh này do ma gây ra. Như nhà văn Bùi Hiển đã tả trong truyện ngắn “Ma Đậu” viết năm 1940, để ngăn cản ma đậu tấn công thì nhà giàu thời ấy phải thuê người canh gác, không cho ma đậu vào nhà, người trong nhà đi đâu về là bị buộc phải xông lá mỳ kỵ và bị vụt roi dâu tới tấp để trừ ma. Tính đến lúc này thì căn bệnh do Trung Quốc mang vào này đã hành hạ dân tộc ta suốt 2000 năm.
Sử gia Trương Giáp-Phong (Chia-Feng Chang), hiện là Giáo sư tại Đại học Quốc gia Đài Loan – trong luận án tiến sĩ “Những khía cạnh của bệnh đậu mùa và vai trò của nó trong lịch sử Trung Quốc” (Aspects of Smallpox and Its Significance in Chinese History) trình tại Viện Đại học London năm 1996 – đã kết luận rằng đoàn quân xâm lược của Mã Viện (Ma Yuan) đã gieo rắc bệnh đậu mùa tại vùng Hoa Nam và Việt Nam trong cuộc hành quân trấn áp cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng.
Do thiếu tài liệu, chúng ta không biết dịch này phát tán ra sao khi tên tướng họ Mã tiến vào. Phải đợi đến mười mấy thế kỷ sau, các danh y Việt Nam như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, mới bắt đầu mô tả về bệnh này.
Kể ra, căn bệnh này cũng đã gây những tác động nào đó đến lịch sử cận đại Việt Nam.
Hoàng tử Cảnh, con trưởng của Gia Long, đã mất vì đậu mùa năm 1801, một năm trước khi cha mình chiến thắng Tây Sơn và lên ngôi vua.
Vua Tự Đức (1829 –1883) cũng bị đậu mùa từ nhỏ, dẫn đến thể trạng yếu đuổi và yếu sinh lý, không có con. Ông vua yếu ớt về thể trạng này lại trị vì giữa lúc đất nước bước vào một giai đoạn khó khăn, chưa bị xâm lăng thì phân vân giữa xu hướng cải cách và bảo thủ, bị xâm lược rồi thì lại giằng xé giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa.
Không con, Tự Đức phải tự dựng văn bia tại lăng mộ mình, trong đó đã tự trách mình về việc để mất nước: “Ngu mà mong yên ổn, mờ tối không lo phòng bị từ khi việc chưa phát, tôi hay tướng giỏi cũng đã rơi rụng quá nửa, không ai nhắc nhở lời dạy của vua cha về việc đề phòng mặt biển đến giúp ta tránh khỏi chỗ lỗi lầm”.
Ông còn tự phê về triều đại mình: “Thanh dung thịnh nhi võ bị suy, nghị luận đa nhi thành công thiểu”, nghĩa là “Bề ngoài hào nhoáng nhưng quân sự suy yếu, bàn luận nhiều mà thành công ít.”
Lời tự phê này hẳn là, nói bằng ngôn ngữ thời thượng trên báo chí nước ta, vẫn “còn nguyên tính thời sự”.
Như cuộc diễu binh “hoành tráng” nhân dịp 50 năm ghẻ ngứa tung hoành.
Rầm rầm rộ rộ tướng quân để mà làm gì khi để mặc cho Trung Quốc lẳng lặng mang cờ lên đảo ta tuyên bố chủ quyền?
Nói theo Tự Đức thì đó là “ngu mà mong yên ổn”, là “nói rất nhiều mà công dụng chẳng bao nhiêu ..”
Nguyễn Hoàng Văn, born in 1965, Vietnam. The writer, journalist and essayist currently resides in Western Sydney, Australia.