những vì sao vần ồn

A conversation with Mr. Tran.

I had addressed the elephant in the room: “những vì sao vần ồn”;“all the stars that rhythm with ồn”, my translation faux pas this past week. Since perhaps in learning you will teach, and in teaching you will learn. “Ồn” here rhymes with a misogynistic crude description of the female genitalia I’m mortified to even spell out in English. Hence, the ongoing joke in Vietnam that you should never write a poem rhyming with “ồn”. I’ve learned all these interesting facts on Google, thank you Google. But what was never apparent to me was the idea of asking my husband, and he of course is the only man I could possibly ask to explain such a demeaning word. Ironically he learnt of the term a few years back from older Vietnamese golfers, as the term was casually passed around while they swung their skinny sticks at tiny tiny balls. My husband, being a shy man, never asks, he puts the pieces together on his own, oh so  “L” and “ồn” means c…, the word has little meaning to him. Lots of Vietnamese words have little meaning to him, since disgust is expressed in his first language which is English. We giggled, he and I, repeating the word over and over again “L.., l.., l..” in the car during our drive to work. 

I’m disappointed in my lack of knowledge, but I’m more disappointed in the way a young Vietnamese female teacher was implicated in such a derogative and misogynistic manner. She in her naivety wrote a poem on pride and love of country, in a moment inspired. I’m guilty of condoning such vicious online bullying the past week. Because of the men, they are strong. The men, they are brave. The men, wise and full of wisdom and intelligence. Congratulations to these wonderful men with their shiny long sticks and hard round little balls. This young woman, she shouldered it all. Alone. On her own.

January 2021


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Shani, my best friend

Tôi là một người may mắn vì đã hiểu và cảm nhận được cả hai khía cạnh, một là chưa từng và hai là người đã từng nuôi chó. Mất Shani đã ảnh hưởng tôi một cách sâu sắc vượt luôn cả sự tưởng tượng của tôi, nhưng tôi sẽ hiểu là khi bạn chưa từng có một chú chó bên cạnh, bạn sẽ không bao giờ hiểu được ý tưởng tình bạn đẹp này của tôi.

Shani, loại chú chó chăn cừu của Đức, luôn luôn yêu tôi vô điều kiện cùng luôn luôn phản hồi liên tục một cách tích cực, nàng là nhân vật đã dạy tôi cách đá bóng – ồ, tốt đó, thử lại nào, bạn thất bại không phải là một vấn đề, tôi vẫn yêu bạn, chúng ta có thể thử lại một lần nữa, hôm nay hay ngày mai cũng được. Tôi sẽ đợi bạn.

Ở tuổi 50, cuối cùng tôi đã học được cách đá bóng nhờ tình thương vô điều kiện của Shani. Tôi biết bạn không hiểu, tôi biết bạn không hiểu tại sao tôi nghĩ chó tốt hơn người, tôi biết bạn không hiểu tại sao tôi không thích khi bạn so sánh con người với chó một cách không hay, nhưng không sao, tôi tin rằng một ngày nào đó bạn sẽ nắm được bản chất thực sự của một con chó.

Một con chó hung dữ luôn luôn là vì ảnh hưởng bản chất của những người đã nuôi chúng, giết chúng, làm thịt chúng. Một chú chó vĩnh viễn là một đứa trẻ hai tuổi, nó luôn luôn muốn ở bên cạnh bạn, để yêu thương bạn. 

Tôi biết bạn không hiểu, nhưng cũng không sao, ở bạn tôi luôn lưu lại những hy vọng và niềm tin.

Viết đây để thương nhớ đến Shani, bạn thân nhất của tôi.

I’m blessed to have been on both sides of the coin when it comes to having a dog in my life. Losing Shani has profoundly affected me more than I could ever imagine, and I understand if you have never had a canine as a companion you will never be able to grasp the idea of this beautiful friendship.

Shani, my German Shepherd has loved me unconditionally with constant positive feedback, she was the one who had taught me how to kick a soccer ball – oh, that’s okay you can try again, I love you and it doesn’t matter if you fail, we can try again if not today, then later. I can wait.

Into my fifties and I’ve finally learned how to kick a ball thanks to the unconditional love from my dog. I know you don’t understand, I know you don’t understand why I believe dogs are better than people, I know you don’t understand why I’m so defensive when you compare people to dogs in a derogatory way and that’s okay, I have faith that one day you will grasp the true nature of a dog.

A violent dog is always the nature of the human who has been such an example, a dog a perpetual two-year-old child who always wants to be with you, to love you.

I know you don’t understand, and that is okay, because within you is my faith and hope.

In loving memory of my best friend, Shani.

Trâm

May 30th, 2021


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Humanised

In Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương trâm

Once humanised, the soul will glide across the surface of the water, liberally, full speed ahead. The body moves aside, like soil and water, like ashes and nothingness.

If the soul is a storm, then the body is the rain from those clouds? Ego is formed from curiosity, the beginning of the acknowledgement of the unconsciousness. And intuition, ever present, but not always acknowledged. In general we are thoughtful creatures but when it comes to making decisions we act solely on impulse. We have no idea how these emotions  have led us to react in such a way.

Human beings call upon their intuition so they may fly, since the past holds its weight, once they can fly, humanity will have time to think of their future. The future is not an echo of intuition, since intuition is not the present.

I’ve intuitively accepted you before I met you. It felt as though we’d already wandered together through the roads of a tiny town. The roads in a mountainous town with constant warning signs of dangerous slippery turns ahead, drive carefully since there are so many blindspots. Carelessness means you will needlessly lose your life. 

I can not wait for you. I will find someone to grow old, and when there’s a knock on my intuition, I will not argue, I will listen to the tiny flame.

___

September 2022

_

TRỞ THÀNH CON NGƯỜI

khi trở thành con người, linh hồn sẽ bay lượn trên mặt nước, ào ạt và phóng khoáng. Thân xác tách ra, như đất và nước, như cát bụi và hư vô.

nếu linh hồn là một cơn bão, thì thân xác là cơn mưa của những đám mây? Cái tôi được tạo ra từ sự tò mò, bắt đầu nhận thức về vô thức. Và trực giác, luôn tồn tại, nhưng không phải lúc nào cũng được thừa nhận. Chúng ta từng suy nghĩ rất kỹ lưỡng nhưng khi đưa ra quyết định chỉ vì chúng ta cảm thấy. Chúng ta không biết tại sao cái cảm giác ấy lại khiến chúng ta hành động theo nó.

con người kêu gọi trực giác để bay, vì quá khứ là trọng lượng, và một khi đã bay được, con người sẽ nghĩ về tương lai. Trực giác không nói về tương lai, dù nó không phải là hiện tại.

bạn đã xuất hiện trong trực giác của tôi trước khi bạn xuất hiện trước mặt tôi. Tôi cảm nhận chúng ta đã lang thang hết những con đường của một thị trấn nhỏ. Những con đường trong thị trấn vùng núi luôn cảnh báo về những đoạn uốn cong nguy hiểm, lái xe cần cẩn thận điểm mù và trơn trượt. Bạn đừng liều mà mất mạng oan.

tôi không thể chờ đợi. Tôi tìm một ai đó để già đi, và khi trực giác của tôi lên tiếng, tôi sẽ không tranh luận, tôi sẽ lắng nghe một tia lửa.


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The aim denied by poetry

A critical editorial in Vietnamese on the subject of reading poetry, specifically Lê Vĩnh Tài’s poetry by Đinh Thanh Huyền
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Thanh Huyền

Biển mùa đông

THE AIM DENIED BY POETRY

Reading poetry in present time, the common question imposed: “What is it? What does it mean?” without asking “How did I feel? What did I get from reading it?”. The aspiration of knowledge is held in high esteem. But most fail to acknowledge in science, the aspiration of knowledge is the scientist’s drive in new discoveries, even for the inventions to the detriment of humanity. The debate of what is ethical in science is ongoing. At the bottom of the pit of the aspiration of knowledge, one discovers the ego’s desire for the limitless. An ego wanting to paint a portrait through the search of boundless knowledge beyond it; It wants to prove its greatness facing the creator even when it is not ready to accept the whole picture. Hence, it is somewhat understandable. But the aspiration of knowledge in the art is rather ridiculous. What does one need to understand about the poem? Does one need clarity in a poem? Does the poet’s artistic portrayal differ from one’s current understanding? If it is different, could it lift or dampen one’s mood with flavour or distaste? All that in the end is meaningless. Within the “relationship” of the reader and THE POEM, there is no room for an over inflated ego. The need to understand a poem is the manipulation of consciousness. It’s more of a definition than a benefit. So when it comes to poetry, COMPREHENSION should always come after, PERCEPTION should infinitely come first. In the end, what truly belongs to poetry is the onslaught of emotion in every line and verse that is poetry.

Reading the set of four poems entitled ABODE by Lê Vĩnh Tài, I had the opportunity of admiring and discerning four aspects of one unique subject. The four aspects beyond that continue to shift, they twist and turn forming the treads of a screw, a spiral, and the higher it gets it stretches and expands. It would in the end turns into a twister flying over the surface of the earth, gliding across grass meadows, sweeping the surface of the water and sandy deserts, sucking up all my emotions, my emotions spinning, wraps around the twister, becoming the air at the centre of this funnel of water and element. At the centre of this funnel, the initial flurry of emotions settles down to a sudden calmness, left suspended is a soft tranquillity within the curtain of the night, dense and thick, the sweetness of absolute silence. I believed then, I like these poems!

Those who have seen any Hollywood fantasy will never forget the unreal images conjured up by modern cinematography. Digital technology used to aid people in the realisation of their wildest and most fanciful fantasies. As our whole being relaxes to relish and completely immerse ourselves in all the surreal continuously changing images as they expand to then settle, embodying to then regress to nothing, it opens within us a universe of infinite surprise. The art have gone through myriad ways of creating images, from the seamless description of reality, Classical logic to the new, unbiased view of Impressionism, from cutting the meaningful relationships within Cubism, pushing through the visual barriers of an Abstract world, existence is no longer an object of perception, placing more emphasis on emotions, highlighting the importance of the “overtones” of the rendered emotion and desired end game and destination. Therefore, the way an artist creates a work of art is more alluring than the temporal concerns within the piece of art.

Lê Vĩnh Tài have created such a rich and ever changing visual world with ABODE. A fast changing world incomparable to any possible portrayal, the changing images bursting with inspiration, each translating images shifting as though each kind element is in a state of waiting ready to rise above everything, into the light, bursting with light, displaying an opulence tick-tock in seconds to then treat into a shadow as green and fresh as the moment the verses are ready for the next metamorphosis.

The spider spitting web
Clouds multiplying faster than spit
Two rose petals thinner than paper
Made the veins giggle
Soft and squishy like wet rubber

The creases of the white coral sea, a swan
My member and our eyes
WitnessED the depths
An ocean over us
Destruction of the waves

Strands of hair like darkness
I am a captive of your lips
Your slender legs drawing upon my recollection
A shark hunting on the verge of its prey
From the mysterious deep
The God of tidal waves

The shark’s shameful error
Left the playful dolphin with its balls
Swollen abode

In varied encounters throughout the four poems, the images constantly change, morphing like a dream.

The images arouse the senses, and connect the reader’s consciousness like a live feed continuously with the poem, building a torrent of emotion and breaking the barriers of what is familiar at the utmost heightened magnitude. At this point, discussing the symbolistic meaning makes more sense.

Abode is shaped by its earthly concerns and experience. It is a fragile rose petal, wet rubber, and a dolphin playing with its ball. Relatable images, playful, sensual, heartwarming beauty. But at the point when the lines framing the Abode become less defined when it has become “black and white” “brimming with splendour”, especially at a point when it’s no longer of substance, no longer the material of this world, it is “the dissolving nine gates of the eternal”, it is when the visual part of poetry is no longer the embodiment of nature. The world of the Abode is abstract. But only in mere moments, it is sourced from the vast expanse of the abstract, Abode returns immediately to the rich bode existence of the present:

Don’t laugh
The whispers of your laughter run the length of my life
And I will lose my way
Nothing but illusions
After the multiple times we will love
In our sleep
The stars will find their way in quietly
The engorgement of my body shall fill your curves
Two horizons
Or will they be two mirrors at the bottom of the sea?
Your stomach shifting like the earth’s plates
Shatter my mirror
Into grains of
Aching sand…

Just like that, Abode is the sum of what is conscious and unconscious, it is not just something that is suddenly foreign and new in our hands, but it has also left us for a far off land. Abode is a symbol that is both intangible and perceivable. In such a way that, ABODE is tethered to at least 3 available possibilities.

ABODE 1: celebrates a woman in love, her fervent intimacy. A celebration of boundless sensuality, totally absorbed in a single moment all possible naked, raw and divine sensation. An intimacy consummated from the very beginning of the odyssey “circumvents the world” building into the frenzy of “storm”, “tidal waves”, “tides”, “shark”, “earthquake”, “breathless”, the disarray of “Night shall be day, and day shall be night” and “Far beyond the sea will be the bird wings”,  the easy breathing of bird wings drifting into a deep slumber.

ABODE is the result of the metamorphosis of all that is love. ABODE is ‘the woman”, Abode stands for an immersion of sound intimacy: 

The glorious pieces of white paper never allow us to taint them
Fine like petals
Easily torn by clumsy fingers
The kindness of a pounding heart
Where dreams are woven together
Yearning for light
The stare of the dark, of the blackness of holes
The divinity of the womb
Transforming us into sea birds.

An un-resting constant transformation of bitterness and sweet nothing. Reveal within her eyes the fear and flame ignite. ABODE is the home for all the plight of love a flight through the poem. ABODE is FIRE.

ABODE 2: A celebration of motherhood. It celebrates how a woman’s body is different to a man’s body, a woman’s body could be turned into a living “home”. This “home” is both wholly and ultimately ready for the new life of a child. The life taking shape inside a mother, the mystery of a new soul residing within the faculty of motherhood. When a young woman is a mother, her body is the Creator. At such a time her ABODE becomes unreachable to her man. 

What or where is the vulva, can you show me? A child asked
How do I answer the child? Since I know little more

No different to ABODE 1, Abode is not a definite proclamation. It is a boundless transformation in its second form of godliness:

Or was it mother’s uncut long hair
Or a frond in the night
Gently collecting dew
The dark beneath its lips is red and misty on the mouths of babies craving for milk.

No longer a fascination, infatuation, no longer a heated dangerous chase to the point of exhaustion, ABODE 2 encapsulates the warmest, sweetest, and most peaceful of moments. Every man is born from his mother’s womb. Hence the unconscious reverence reserved for ABODE.

I dream of an eloquent expression of the suggestiveness of the vulva
The suggestiveness of life from our elders
The children from their mother’s womb
The vastness…

ABODE is WATER

To be continued…

THƠ CHỐI TỪ MỤC ĐÍCH

bài của Thanh Huyền 

Bây giờ đọc thơ, người ta thường chỉ đặt câu hỏi: “Đó là cái gì? nó có nghĩa gì?’ mà ít khi đặt câu hỏi “tôi được nếm trải như thế nào?”.Tham vọng hiểu biết vốn được xem là phẩm chất. Nhưng mấy ai để ý rằng trong khoa học, tham vọng hiểu biết khiến các nhà nghiên cứu lao vào khám phá, phát minh cả những thứ chống lại loài người. Cuộc tranh luận về tính đạo đức trong khoa học chưa có hồi kết. Nhìn tận đáy sâu của tham vọng hiểu biết, khám phá khách thể chính là khao khát của bản ngã muốn thử thách các giới hạn. Nó muốn vẽ chân dung mình qua việc kiếm tìm những tri thức vô tận bên ngoài nó; Muốn chứng tỏ sự vĩ đại của con người trước đấng sáng tạo trong khi chưa đủ tư cách để đón nhận trường thông tin toàn thể. Như thế, dù sao vẫn có thể hiểu. Nhưng tham vọng hiểu biết trong thưởng thức nghệ thuật thì khá lố bịch. Ta muốn hiểu gì ở bài thơ? ta có cần cái nghĩa của nó không? hình tượng nghệ thuật mà nhà thơ đem đến, nó có khác gì với hiểu biết sẵn có của ta không? nếu khác, nó có khiến cho ta thích thú hơn hay ghét bỏ hơn không? xét cho cùng, điều đó là vô nghĩa. Trong “cuộc tình” của người đọc và BÀI THƠ, không có chỗ cho cái bản ngã hỗn hào lên tiếng. Nhu cầu hiểu bài thơ là một thao tác của ý thức. Nó mang tính định nghĩa nhiều hơn là thụ hưởng. Vậy thì  với thơ, HIỂU nên là cái đến sau, CẢM mới là cái thứ nhất và vĩnh viễn. Chỉ có xung lực mạnh mẽ của cảm xúc mà những dòng thơ khơi lên mới là cái cuối cùng thuộc về thơ. 

Đọc bốn bài ÂM HỘ của Lê Vĩnh Tài, cảm tưởng của tôi là đang nhìn ngắm bốn hình đồng dạng phối cảnh. Rồi bốn hình đó bỗng chuyển động và tạo thành một đường xoáy trôn ốc, càng lên cao càng giãn nở. Cuối cùng nó trở thành chiếc vòi rồng lướt như bay trên mặt đất, đồng cỏ, tán cây, quét qua mặt nước và những sa mạc cát, hút lấy cảm xúc của tôi cuốn vào lòng phễu không khí. Trong lòng phễu ấy, những xúc cảm bồng bột ban đầu bỗng dịu lại, chỉ còn lửng lơ một cái gì êm ái trong màn đêm mịn màng, dày đặc, ngọt ngào và tuyệt đối im lặng. Tôi nghĩ, tôi thích những bài thơ này! 

Ai từng xem phim giả tưởng Hollywood ắt sẽ không quên những hình ảnh kì lạ được tạo nên bởi kỹ xảo điện ảnh hiện đại. Công nghệ số giúp cho con người hiện thực hóa những tưởng tượng bay bổng, hoang đường nhất của mình. Khi ta đờ người ra chiêm ngưỡng những hình ảnh siêu thực biến hóa liên tục tan ra rồi tụ lại, hóa thân rồi hồi quy, trong ta mở ra một vũ trụ vô hạn những ngạc nhiên. Nghệ thuật đã đi qua nhiều cách thức tạo hình ảnh, từ sự mô tả hiện thực liền lạc, logic Cổ điển đến cái nhìn mới mẻ không định kiến của Ấn tượng, từ việc cắt đứt các liên hệ nghĩa trong Lập thể, đẩy qua thế giới thị giác trong Trừu tượng, hiện hữu không còn là đối tượng nhận thức nữa, cảm xúc về nó mới là quan trọng, thậm chí những “bội âm” của cảm xúc đó mới là điểm đến. Bởi thế, cách người nghệ sĩ làm nên tác phẩm nghệ thuật cám dỗ hơn là thế giới ý nghĩa bên trong tác phẩm. 

Lê Vĩnh Tài đã tạo ra một thế giới hình ảnh biến ảo như vậy trong ÂM HỘ. Một thế giới chuyển động nhanh hơn bất kì sự hình dung nào, những biến hình ảo diệu đầy cảm hứng, những chuyển dịch uyển chuyển như thể mỗi phần tử tế vi của nó luôn trong trạng thái chờ đợi được trỗi dậy, vươn ra ánh sáng, phô bày sự lộng lẫy trong tích tắc rồi lại chìm vào bóng tối xanh thẳm đợi đến lần biến hóa tiếp theo. 

Khi tơ nhện mở miệng ra/Một đám mây lướt nhanh hơn nước bọt/Hai cánh của bông hoa hồng mỏng như tờ giấy/Làm buồn cười các mạch máu/Đang mịn như cao su ướt… 

… Những rặng san hô của biển trắng như thiên nga/Vòi nước của anh và đôi mắt chúng ta/Nhìn vào vực thẳm/Biển cưỡi lên chúng ta/Và thuỷ triều đã phá vỡ tất cả/Những sợi tóc và những thứ màu đen/Loà xoà quanh miệng em/Đôi chân dài của em rút ra khỏi những suy nghĩ của anh/Một con cá mập lớn lao lên khỏi mặt nước/Tạo thành cơn bão của sóng/Sau đó rơi vào một độ sâu không ai biết/Con cá mập xấu hổ và tội lỗi/Chỉ còn con cá heo đang đùa chơi với quả bóng/Phồng căng như âm hộ…

Trải suốt bốn bài thơ là các chiều không gian đa dạng, trong đó các hình ảnh liên tục thay hình đổi dạng như trong một giấc mơ. 

Những hình ảnh kích thích giác quan, kết nối tâm thức người đọc với bài thơ một cách trực tiếp, tạo nên cơn bão xúc cảm vượt lên trên trải nghiệm thân quen ở một cấp độ dữ dội nhất có thể. Đến lúc này, nói về nội hàm của hình tượng mới thật sự có lý. 

Âm hộ được gợi tả bằng thế giới ý nghĩa mà nó đi qua. Nó là cánh hồng mong manh, cao su ướt, là con cá heo đùa chơi cùng trái bóng. Những hình ảnh được liên tưởng với hiện thực, bóng bẩy, gợi cảm, quen thuộc và mỹ lệ. Nhưng đến khi Âm hộ mất đi đường nét, trở thành “hai màu trắng và đen” “tràn ngập sự huy hoàng”, nhất là lúc Âm hộ không còn hữu hình, nó là “thế giới chín cửa cửu trùng đang nứt mở” thì hình ảnh thơ đã không còn được tham chiếu với thực thể tự nhiên. Thế giới của Âm hộ đã là trừu tượng. Nhưng cũng chỉ trong khoảnh khắc, từ cõi mênh mang của trừu tượng, Âm hộ vụt trở lại với cái tồn tại đậm tính phồn thực: Em đừng cười/Tiếng cười của em thì thầm dọc theo cột sống của anh/Làm anh mất định hướng/Chỉ còn một ảo giác/Khi chúng ta muốn làm tình theo cấp số nhân/Trong giấc ngủ/Những ngôi sao đã chui vào trong/Đã dùng cơ thể của anh để điền vào cơ thể của em/Hai bầu trời/Hay là hai chiếc gương đã chìm sâu dưới đáy biển?/Bụng của em là một trận động đất/Làm vỡ chiếc gương của anh/Thành những hạt cát/Xót đau…

Cứ thế, Âm hộ là toàn bộ cái hữu thức và vô thức, vừa là nó đã trở nên xa lạ, mới trong tay thoắt đã đi vào phương nào xa xôi lắm. Âm hộ-là một biểu tượng vừa có thể nhận biết được vừa phi vật thể. Bằng cách đó, ÂM HỘ kết nối ít nhất 3 khả dụng. 

ÂM HỘ 1: biểu tượng của người nữ trong cuộc tình, cuộc ân ái đắm say. Dục lạc hân hoan, vô biên, tuyệt đích hấp thụ vào nó mọi cảm giác nhục thể trần trụi và thần thánh. Một cuộc ái ân trọn vẹn từ phút giây ban đầu dịu dàng thám hiểm “vòng quanh thế giới”  đến cơn cuồng nhiệt của “bão”, “sóng”, “thủy triều”, ‘cá mập”, “động đất”, “ngộp thở”, hỗn độn “Đêm là ngày, ngày là đêm” và giấc ngủ nhẹ nhàng của “những cánh chim đã bay qua biển”.

Tình yêu biến tất cả thành Âm hộ. Âm hộ là “Em”, Âm hộ là toàn bộ những gì có thể giúp hình dung về một tình yêu lắng sâu: Các tờ giấy trắng dường như quá đẹp để chúng ta có thể làm ô uế/Nó mỏng như cánh hoa/Nó dễ rách với những ngón tay lật vụng về/Sự dịu dàng của trái tim âm ỉ/Nơi giấc mơ đan quyện vào nhau/Mơ ước của ánh sáng/Tầm nhìn của bóng tối, của các lỗ đen/Cái tử cung kỳ diệu đã hóa hai chúng ta/Thành loài chim biển. Trong cuộc biến hình không ngừng nghỉ đó là bao nhiêu hạnh phúc và đau khổ. Ngọn lửa yêu đương bùng cháy và sự sợ hãi nuốt vào trong đôi mắt. Âm hộ là những tinh thể tình yêu bay suốt bài thơ. ÂM HỘ là LỬA.

ÂM HỘ 2: Biểu tượng của người mẹ. Thân thể người nữ khác người nam ở chỗ nó biến mình thành cái “tổ” của sự sống. Toàn bộ quá trình chuẩn bị cho một sinh linh ra đời diễn ra trong cái “tổ” đó. Sự sống sinh học tượng hình trong thân thể mẹ, linh hồn bí ẩn non nớt trú ngụ trong năng lượng mẹ. Khi người con gái làm mẹ, thân thể nữ trở thành Thượng đế. Âm hộ khi ấy trở nên xa lạ với người đàn ông của nàng. Một đứa trẻ đã hỏi, âm hộ là gì? Mang nó lại cho con/Tôi có thể trả lời với nó như thế nào? Tôi cũng không biết gì hơn nó. Cũng như ở ÂM HỘ 1, không có biểu đạt nào nhất định cho Âm hộ. Nó biến hóa khôn lường trong bản thể thứ hai thiêng liêng: Nó có thể là mái tóc dài thật đẹp chưa cắt của mẹ/Hay là chiếc lá trong đêm/Dịu dàng hứng giọt sương/Bóng tối đến dưới bờ môi như màu đỏ mờ mờ trên miệng con còn đang thèm sữa. Không còn sự mê dụ, đắm đuối, bất an và cuồng nhiệt đến kiệt sức, ÂM HỘ 2 được biểu đạt bằng những hình dung dịu ngọt, bình yên, ấm áp nhất. Người đàn ông nào cũng thoát thai từ lòng mẹ. Nên lòng tôn kính đối với Âm hộ dường như là vô thức. Tôi ước mình có thể diễn ngôn các gợi ý về âm hộ/Và các gợi ý về cuộc sống từ những người già/Và những đứa con được sinh ra từ lòng mẹ/Bao la…. ÂM HỘ  là NƯỚC.

ÂM HỘ 3: biểu tượng của quyền năng sáng tạo. Các nhà thơ đừng ngạc nhiên, bởi âm hộ sẽ làm những việc sáng tạo nhân danh Thiên Chúa/Đó là sinh ra nhà thơ. Thật tuyệt khi đọc những câu thơ này: Làm sao ai có thể học được bài Hình Học này của Chúa/Cái tam giác ba chiều như biển như sông/Nơi mà cỏ hai bên bờ rạp xuống/Nơi giấc mơ phủ kín cánh đồng/Nơi cơn mưa ngâm tẩm suốt đêm bằng mười đầu ngón tay bơ phờ nhảy múa/Cái tam giác thiên thần của Chúa/Cái vầng trăng khi rằm thường khóc và khuyết đi một nửa/Một nửa để sinh ra đời tất cả những linh thiêng. Cái cách mà Lê Vĩnh Tài thiết lập Hình học của Chúa trong thơ vừa hiển nhiên vừa bất ngờ. Đôi khi, người ta không thể mượn bất cứ cách ngôn nào để biểu thị một thực thể tự nhiên, một vật chất ròng nguyên thủy. Chỉ có thể nói đến nó bằng những ngôn từ đã triệt tiêu mọi trang sức. Cái tam giác thần thánh, tam giác u sầu vạn thủa hiện ra trong một cảm giác vừa toàn vẹn vừa trống vắng. Nó gửi đi giai điệu của tự do bất tận, của sự thật thuần khiết. Được trao ủy nhiệm thiêng từ Âm hộ, Thơ đã có quyền năng: Sự hiến dâng của nhà thơ làm ngôn ngữ luôn luôn mở ra, như âm hộ/Làm Thơ/Vỡ bờ/Cỏ rạp…   ÂM HỘ  là ÁNH SÁNG.

ÂM HỘ 4: biểu tượng của Tổ quốc. Âm hộ bao phủ chúng ta/Mịn màng như đất mẹ khi chúng ta nằm xuống. Trong sự bao dung tuyệt đối, Âm hộ che chở con người từ sinh đến tử, chịu đựng sự tàn bạo của kẻ thù mà vẫn mênh mang tình yêu thiên thần. ÂM HỘ  là ĐẤT. 

Lửa, Nước, Ánh sáng, Đất, Con người- năm yếu tố làm nên sự sống hội tụ ở ÂM HỘ. Có lẽ không cần nói gì thêm. Diễn dịch, trong trường hợp này sẽ xúc phạm người đọc và thơ ca. Những ý nghĩa đã nhắc đến trên kia có phải khám phá mới của Lê Vĩnh Tài không? tuyệt đối không. Ngay cả việc dùng ÂM HỘ như một biểu tượng cũng không có gì đặc biệt. Nhà thơ dường như không muốn tạo ra một tác phẩm đa nghĩa thách đố trí nghĩ của độc giả. Những triết lý nhân sinh sâu xa không phải là cứu cánh của chùm thơ. Thế mà những bài thơ này có thể cuốn-hút như vòi rồng hút nước. Không thể cưỡng lại hấp lực của nó, những câu thơ vang lên rồi tan biến vào thời gian nhưng ma lực của nó ở lại. Ma lực ấy không được tạo tác bởi ý nghĩa mà bởi cách nhà thơ viết nên nó. Hãy trở lại với ÂM HỘ 4. Bài thơ đã bám sang chính trị, sự mở rộng đó khiến cho thơ lập tức trở thành đại tự sự. Tính sử thi xuất hiện, giọng điệu khoa trương xuất hiện, hình ảnh phúng dụ sử thi xuất hiện. Mạch liên tưởng của bài thơ mở đến vùng nghĩa này thật sự độc đáo. Nhưng xét từ góc độ ý nghĩa, bài thơ không đi xa hơn được bản thân nó. Chính trị có thể tạo ra nhiệt huyết và một thái độ lương tri, một chủ nghĩa nhân văn thiết yếu. Nhưng chính trị dễ đẩy thơ ca vào trạng thái tự phá hủy. Vậy điều gì khiến bài thơ trụ vững ở phần tươi tắn nhất trong cuộc “hôn phối” nhiều bất trắc giữa thi ca và chính trị? 

Đọc Lê Vĩnh Tài phải chuẩn bị tinh thần trước những liên tưởng kiểu “bẻ lái, vào cua” rất “gắt”: Vào chu kỳ mỗi khi tỉnh dậy/Âm hộ đầy máu như vừa qua một cuộc chiến tranh/Như một cảnh báo/Mẹ Tổ Quốc nằm kề bên tên khổng lồ dâm đãng/Với hai mắt mù và chiếc gậy dò đường/Chỉ biết đâm và chọc/Y không thể biết được sự dịu dàng/Thiên thần/Mênh mang/Của âm hộ. Những liên tưởng tít tắp của ngôn từ đã giúp cho hàm nghĩa chính trị không lạm phát thành tiếng nói của sự nhân danh lớn lao và căng thẳng.

Trên con đường sáng tạo của mình, Lê Vĩnh Tài đã đi qua điểm mốc của tư duy thẩm mỹ truyền thống: Một hối tiếc một long lanh/sớm ngày đã rối tung thành đêm đen/một người rách áo rồi em/một người lại giấu cuộn len đâu rồi…(Bài thơ về cuộn len). Ở ÂM HỘ, sắc thái thẩm mỹ ấy không còn chút gì. Lê Vĩnh Tài cắt đứt toàn bộ khả năng  chuyển động của lời thơ tìm đến nhau theo cách của nước tan vào nước. Ngôn từ thơ lúc này không phải một nghi thức. Nó không mang vẻ đẹp hoàn hảo đầy tính chức năng như thơ cổ điển, không phải một chuỗi liên tục các yếu tố ngôn ngữ có giá trị ngang nhau trong nhiệm vụ biểu đạt một ý đồ có trước như thơ hiện đại. Ở thơ cổ điển hoặc thơ hiện đại, sự sắp xếp là cực kì quan trọng. Trong chuỗi sắp xếp đó, các từ buộc phải liên kết với nhau và không từ nào đủ tư cách để tồn tại như một vật thể độc lập. Ở ÂM HỘ, chữ không có khả năng tìm đến nhau. Chúng chỉ “tình cờ” nằm cạnh nhau do một bí ẩn nào đó. Khi em cởi áo. Mái tóc dài màu đen. Một khuôn mặt nhợt nhạt/Đôi mắt em chợt xanh hơn biển/Ngực cao, chân dài. Một cơ thể bước ra từ cổ tích/Em trượt xuống nước và bắt đầu sải vòng tay bơi đến với anh/Mỗi sải bơi như em đang vặn/Vòi nước của anh từ bên trong/Mọi thứ không ai có thể biết/Nó trống rỗng và nhẹ như hơn không khí/Phủ lên một cái hồ/Mà chúng ta đang chờ đợi/Khi em chớp mắt. Không thể tìm thấy dù chỉ là một thủ pháp quen: không từ láy-chất tạo nhạc tính, không vần-chất kết dính, không ẩn dụ /hoán dụ từ vựng-chất lạ hóa. Lời thơ rời rã với những khoảng trống không thể lấp đầy. Mối liên kết lỏng lẻo khiến mọi suy đoán phải ngập ngừng. Chất văn xuôi tràn trên mặt câu chữ, tải lượng của lời nói lớn đến mức thách thức cả trí năng và cảm xúc của người đọc. Thơ Lê Vĩnh Tài là một điển hình cho lối viết tự trị cực đoan, nghĩa là lối viết kém “niềm nở” với bạn đọc. Lạ ở chỗ nhà thơ làm cho ngôn từ của mình đơn giản nhất có thể. Sự đơn giản đặt người đọc vào thế phải buông hết những tri thức đã có về vẻ đẹp thi ca, chấp nhận cái “thế giới này” của thi sĩ. Nhưng trong cái đơn giản ấy đã ẩn tàng những kĩ xảo thi ca mà Lê Vĩnh Tài dùng đến độ tinh tế.

Như đã nhắc ở trên, ngôn từ trong ÂM HỘ không được dẫn dắt bởi các quan hệ. Nó độc lập xuất hiện, tự mình gánh vác toàn bộ trữ lượng thông tin sự vật. Hãy xem xét mấy câu thơ này: Một chiếc vỏ ốc/Như âm hộ/Và bóng tối cùng với những người làm rách nó/Giờ lặn sâu dưới đáy biển. Rất khó phát hiện quan hệ nào dẫn đường cho từ ngữ. Phép so sánh đặt “vỏ ốc” và “âm hộ” vào một liên tưởng về sự xé rách tỏ ra rất bấp bênh. Các con chữ hiện ra cạnh nhau, trống trải. Trước nó không có gì báo hiệu, sau nó không có gì tiếp nối. Xung quanh nó không có một môi sinh tổng quát. Nó đứng đó, chứa hết những nghĩa có thể xuất hiện. Từ rách trong câu thơ trên có thể là làm rách vỏ ốc, làm rách âm hộ, làm rách bóng tối…Những nghĩa đó không nhất thiết phải là mục đích của thơ. Chúng chỉ chợt hiện ra để gợi nên  ấn tượng miên man về một cái gì đó đầy tiếc nuối. Một cái gì đó đã vĩnh viễn chìm sâu vào số phận của chính nó. Ở một đoạn thơ khác Sự hiến dâng của nhà thơ làm ngôn ngữ luôn luôn mở ra, như âm hộ/Làm Thơ/Vỡ bờ/Cỏ rạp…chính âm điệu mới là điều làm lên ngân vang kì lạ của thơ. Người đọc có thể không hiểu hoặc hiểu sai ý nghĩa, nhưng nghe được tiết tấu và âm giai của chữ là đủ. Ngôn từ thơ Lê Vĩnh Tài chính là ngôn ngữ “vật thể” (Jean-Paul Sartre). Kiểu ngôn từ đó chỉ cho NGHE tiếng của bài thơ vang lên trong tâm chứ không thể tìm cách yên lòng với các chủ đề.Thơ là cách để thoát khỏi sự hung hãn của lý trí, cớ sao cứ phải trở lại cái ách nặng nề đó mỗi khi đọc thơ! 

Hà Nội, tháng 5/2020

Giáng Sinh tím

https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/mot-nguoi-trong-cuoc-choi-tho?fbclid=IwAR3Ne1Tx6i2zHli57WPl7FtAj5uvYZftHx8sKjTL0jPkkM5VrYVbf58WluY


Đinh Thanh Huyền, the poet, artist and critic is currently living in Saigon, Vietnam.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Stop bleeding: old age, new wife.


Editorial by Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

Con cừu: trong chảo, một mình.

Trăng lên: máu ứa tình ta.

Môi em: thu vàng, mấy mùa.


The legend of Ernest Hemingway, winning a bet on writing a flash fiction with six letters; daily reminds me of how powerful language could be:

“For sale: baby shoes, never worn”

The portrayal of complexity through the simplicity of language.

I believe this is why Quinn is so adamantly fervent about Trịnh Công Sơn lyrics and Lê ̀Vĩnh Tài’s poetry.

Here is an example of a flash fiction I wrote a while back:

Stop bleeding: old age, new wife.


Một chuyện huyền thoại về nhà văn Ernest Hemingway là anh ta đã thắng một cá độ, là ảnh có thể viết một câu truyện đủ ý nghĩa trong vài chữ; nhắc tôi luôn về năng lực của ngôn ngữ:

“Cần bán: giày em bé, chưa từng mang”

Ngôn ngữ đơn giản đầy ý nghĩa.

Tôi nghĩ đây là những ý nàng Quinn muốn nhấn mạnh qua những lời hát của TCS và thơ của LVT.

Đây là ví dụ một bài tôi đã viết cũng đã khá lâu:

Không còn chảy máu: già nua, vợ mới.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Acceptance

There is satisfaction in acceptance, it is a state of mind beyond happiness. 

There are many misconceptions regarding my translation of NVT and LVT work besides the most obvious. But in truth it is not I who understands them but the reverse. 

Coincidentally both of them have a profound understanding of the human condition. Via the translation of their work, both writer and poet understood me more than I do about myself. My emotions, thought process, actions, consequences are all clearer in review. I find myself in the very heart of their work a better human being. 

Compassion though intangible is an invaluable commodity, the random acts of kindness must be dished out with more care and thought. Because no one wants your pity. The best act of charity is the one you do for yourself. 

_____

Tâm trí của ta sẽ vượt cao hơn cả sự hạnh phúc khi đã đạt được sự thỏa mãn qua chấp nhận.

Bên cạnh những điều hiển nhiên tôi thấy quá nhiều quan niệm sai lầm về những lý do tại sao tôi đã dịch rất nhiều những tác phẩm của NVT và LVT. Sự thật là không vì tôi hiểu họ mà là ngược lại họ lại hiểu tôi hơn là chính bản thân tôi.

Cả hai tác giả đều có một tầm hiểu sâu sắc về thân phận con người “profound understanding of the human condition”. Qua những tác phẩm của nhà văn và nhà thơ, tôi đã được nhiều cơ hội để chấp nhận và nhận ra nhiều điều về chính bản thân mình. Cảm xúc, cách suy nghĩ quá trình, hành động và hậu quả mỗi khi tôi “self audit”. Giữa tâm khảm chữ nghĩa của họ, tôi thấy mình có thể là một con người tốt hơn.

Lòng nhân ái là một điều vô hình nhưng vô giá, nhưng những hành động ngẫu nhiên nhân ái cần thêm nhiều suy nghĩ hơn. Bởi vì không ai muốn sự thương hại của bạn. Hành động từ thiện tốt nhất là khi bạn làm cho chính mình.

January 2021

[More new cases in the West,  I’m missing my housebound parents…]


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

songngutaitram

Today marks the end of the journey for songngutaitram.org . Thank you anh Lê Vĩnh Tài , for holding my hand for the entire two years throughout this journey. It is because of you I am able to stand on my own, two extremely sensitive feet alone on nguyenthiphuongtram.com.

Christmas is always a sad time, as I watch my parents miss their home in a land they will never return, I find myself thankful for you. Those who have quietly helped me on my journey of trying to find my vernacular. My vernacular is the words spoken in the half-light of dawn, between my mother’s tongue and that of a country that had nurtured me into a good citizen of use to society, and I have loved you always from the moment I had set foot on your land.

I accidentally bumped into you, and ever since you have been my light.

Nguyễn Văn Thiện Chư Mang Kể Chuyện, you have given me the spirit of your writing, and your enduring patience, you are my teacher and my friend. Đinh Trường Chinh, you have given me a lifetime of art and unquestionable friendship. Anh Phan Nhiên Hạo, thank you for your fair dinkum straightforward advice, you should have been an Australian not American, I am always appreciative of your blunt honesty, thank you for taking me on when my work was below par. Thank you anh DQ Do, for bringing my journey to light, thank you for your piece of critique of my translation, I will never forget such an honour though it pained me. Thank you anh Vũ Hoàng Thư for seeing me for who I am, thank you for seeing myself in you. Thank you Phan Quỳnh Trâm  for being there from the beginning of my journey into your world, thank you for your subtle way of telling me how much you love me through your messages of songs on the days all I want to do is cry, and of course for officially introducing me to anh Nguyễn Hưng Quốc. Thank you anh Nguyễn Hưng Quốc for entrusting me with your first books of poetry, it is an honour, your resounding acknowledgement has always been my dream, your lifetime of literary work is unmatched by any author, but it is your poetry in the most frustrating of times saved me from killing those who want to hurt those I care about, my intention has never been to finish the translation of those 909 poems. But, all journeys must end.

I’m most thankful for my family, my beautiful parents who are my daily inspiration, they have given birth to a troubled and sensitive child they didn’t know what to do with(they should have just fed me wine from birth), I could never forget my siblings, without their rivalry, I am not the person I am today. Last, but not least, I must thank my beautiful husband and children, I would never have been able to survive anything at all without you, I love you, and I am so proud of you, you are what makes me whole.

Merry Christmas,

Trâm

December 20, 2022


Hôm nay đánh dấu sự kết thúc của hành trình songngutaitram.org . Cảm ơn anh Lê Vĩnh Tài đã nắm tay em suốt 2 năm đi hết chặng đường này. Nhờ anh mà em có thể đứng một mình, một mình bằng hai bàn chân vô cùng nhạy cảm trên nguyenthiphuongtram.com.

Giáng sinh luôn là khoảng thời gian buồn, khi tôi được bên cạnh bố mẹ tôi, chứng kiến nỗi nhớ của hai ngài dành cho một quê hương mà hai ngài sẽ không bao giờ trở lại, tự nhiên tôi thấy mình rất muốn tri ân các ân nhân của mình. Những người đã âm thầm giúp tôi trong hành trình tìm kiếm ngôn ngữ của mình. Ngôn ngữ của tôi là một ngôn ngữ thốt ra trong ánh sáng mờ ảo giữa sự bình minh, giữa tiếng mẹ đẻ của tôi và tiếng nói của một đất nước đã nuôi dưỡng tôi thành một công dân tốt cho xã hội, và tôi đã luôn yêu mến mảnh đất này từ ngày đầu tiên tôi đặt chân lên miền đất lạ. 

Tôi tình cờ gặp bạn, và kể từ đó bạn đã là ánh sáng của tôi.

Nguyễn Văn Thiện, anh đã mang lại cho tôi một tinh thần bền bỉ kiên nhẫn trong sáng trong sự sáng tác, anh là một người thầy và là một người bạn tôi vô cùng quý mến. Đinh Trường Chinh, anh đã đem lại cho tôi cả một cuộc đời nghệ thuật và tình bạn không thể nghi ngờ. Anh Phan Nhiên Hạo, tôi luôn tri ân những lời khuyên thẳng thắn công bằng của anh, đáng lẽ anh phải là người Úc chứ không phải là người Mỹ, tôi luôn đánh giá cao sự trung thực thẳng thắn của anh, cảm ơn anh đã tiếp nhận tôi khi công việc của tôi làm còn dưới mức trung bình. Cảm ơn anh DQ Do đã đưa hành trình của tôi ra ánh sáng, cảm ơn anh đã phê bình bản dịch của tôi, dù nó làm tôi đau lòng đến mức nào đi nữa, tôi sẽ không bao giờ quên niềm vinh dự đó. Cảm ơn anh Vũ Hoàng Thư đã cảm nhận được con người thật của tôi, cảm ơn lòng đồng cảm của anh. Cảm ơn Phan Quỳnh Trâm đã là người luôn bên tôi từ bước đầu tiên của cuộc hành trình của tôi vào thế giới của em, cám ơn những bài hát đầy tình yêu của em trong những ngày tôi chỉ muốn ngồi một chỗ ôm đầu và khóc, và thêm đó nữa, em đã là một người chính thức giới thiệu tôi với anh Nguyễn Hưng Quốc. Cảm ơn anh Nguyễn Hưng Quốc đã giao lại cho tôi những tập thơ đầu tay của anh, đó là một điều thật vinh dự đối với tôi, sự ghi nhận vang dội của anh đã là một mong ước của tôi, văn chương để đời của anh tôi nghĩ, không tác giả nào sánh kịp, nhưng thơ của anh là sự cứu rỗi của tôi trong lúc uất ức nhất, trong những giây phút tôi muốn giết những kẻ đã làm tổn thương những người thân của tôi, ý định của tôi chưa bao giờ là dịch cho xong 909 bài thơ của anh, tôi chỉ muốn kéo dài càng lâu càng tốt. Nhưng, cuộc hành trình nào rồi cũng phải có sự kết thúc.

Tôi muốn cám ơn cha mẹ tuyệt vời của tôi, hai ngài là nguồn cảm hứng hàng ngày của tôi, hai ngài đã sinh ra một đứa trẻ rắc rối và nhạy cảm mà hai ngài nhiều lúc không biết sử thế nào và phải làm gì với nó(lẽ ra hai ngày nên thay rượu với sữa cho tôi từ ngày đầu lọt lòng mẹ chăng), tôi không bao giờ có thể quên mấy chị em của tôi, nếu không có sự cạnh tranh chiến đấu của họ, thì tôi làm gì có một ngày như hôm nay. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, em cảm ơn chồng và hai con, mẹ không cách nào tồn tại nếu không có hai con và ba, I love you, and you are what makes me whole. 

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

In today’s time, should poetry be “hard” to read or hard to post?

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm


IN TODAY’S TIME, SHOULD POETRY BE “HARD” TO READ OR “HARD” TO POST?

1. I have never made a conscious decision to write a poem.

The random story or dream grabs a hold of me and “makes” me write them down. Perhaps this is why I usually jot everything down at such a rapid rate. I always feel rather wishy-washy when I’m confined to “structure” in a poem. The idea of how to write a poem is rather an odd concept to me, not any kind of meaningful experience. It is nothing but a reaction to a current event, with what has just happened, to thereafter no longer be affected by it, and that is all. This is the reason why I thoroughly enjoy the absurdity of the creative process. Such absurdity I believe should also be passed on to the reader. It’s exhausting how he puts everyone through trials and tribulations to then in the end mean nothing. The poet could never truly hide. Not just wisdom alone but the poet’s view of the world. If he alone can not express his thoughts then who can? Faced with the corrosion of this life, as the inspirations dry up, fall back on regrets, in an attempt to clumsily add colour…

Since there is the need for the integration of inspiration with the idea of obscurity, the poet must instil within his work adoration and hate. I like the poets who via their beliefs and ideals attract the reader, not via useless constructs and murky waffling. 

As for me, I believe the poet’s subtlety is the cause of what is “hard” in poetry today (as for any other times, I don’t know), if possible, it should be hard to post, not hard to read. On top of it, no one dares to place poetry in a category of frivolity, but life is consistently hard and exhausting, reading poetry is a way to “exonerate/neutralise” the hardship of making a living. Hence, the reader must be able to extrapolate what they call love and bitterness (certainly within the poet’s “ tussling” vernacular). The useless murky waffling of a poet only makes the reader lose interest not because it’s “hard” but because he failed to deliver what the reader actually wants. Exclusively, used to be the thrills of writers, but it’s probably about time the poet takes up the responsibility. It’s not illogical that people are not simply sick and tired of such melodic arbitrary meaningless verses, they are in fact (more so) resentful. What is “hard” in poetry should deliver a life changing parable within the constraints of editorial censorship. People are still able to wander through the poems filled with open doors, what’s “hard” in poetry will never turn it into a product of mass consumption. The poet who manages what is “hard” to do in poetry may be able to instil life into fiction, be it delicately or with the utmost cruelty, life is still worth living and within one’s grasp. The reader wants the poet to leave aside the distant hopes and fear of religion with its fairness of heaven and hell for the next life.

2. I can not find any kind of barriers between any reader and the current “new generation of poetry”. Nor are there in fact any kind of barrier in general. Perhaps there may be a few barriers, but it’s not something he has directed at poetry itself, but these are barriers outside of its involvement. No one wants to listen anymore. The advancement in society has rendered the horse blinkers on the reader obsolete and the poet is no longer confined to any kind of technique or tenet. Happiness is when the reader walks away from a poem with the lingering meaning in their head, even when such joy is threatened by the murkiness of incomprehension because of all the hidden meanings in the poem, which the poet had heedlessly instilled.

I have always believed poetry is the sighting signature of sadness. It’s the reason for the poet’s continual dream, continual writing, continual reasoning of the human fate that had in the past to now continued to be corroded and chipped away by cruelty, time… and in the end death.

The aim of the fancy meaningless wordplay in poetry makes all of us doze off as though we’re high on opium, it is a despicable act the reader finds difficult to forgive. Someone born to be a poet always has the ability to pull the reader along with them through an onslaught of the senses and endearing chaos to the very endpoint of clarity.

Perhaps that is the true power of poetry and true poets.

May, 2021

_

THƠ HÔM NAY NÊN “KHÓ” ĐỌC HAY “KHÓ” ĐĂNG?

1. Tôi chưa bao giờ quyết định rằng mình sẽ làm một bài thơ.

Những câu chuyện vẩn vơ đâu đâu hay những giấc mơ bất ngờ bám lấy tôi và “bắt” tôi phải viết. Có lẽ vậy mà tôi thường viết rất nhanh. Tôi luôn luôn thấy lỏng lẻo khi mình phải “cấu trúc” một bài thơ. Khi tôi phải nhớ lại mình đã làm một bài thơ như thế nào thì chỉ còn một cảm giác mơ hồ, chứ không phải là một kinh nghiệm. Nó chỉ là một phản ứng ngôn ngữ của tôi ngay lúc ấy, với câu chuyện ấy, và bây giờ thì không còn ám ảnh mình nữa, vậy thôi. Đó là lý do tại sao tôi rất thích sự phi lý trong quá trình sáng tạo. Nhưng tôi cũng tin rằng, sự phi lý này phải được chuyển tải đến người đọc. Thật mệt mỏi khi anh đánh đố mọi người mà cuối cùng câu trả lời của anh lại chẳng có vấn đề gì trầm trọng. Mà thơ thì không thể giấu. Đó không chỉ là trí tuệ mà còn là thế giới quan của thi sĩ. Anh không nói hết những ý nghĩ của chính mình thì còn ai có thể nói thay anh? Rồi khi tuổi đời đã mòn, cảm xúc đã cạn lại đành hồi ức tiếc nuối làm màu khệnh khạng đâu đâu…

Hòa tan cảm xúc của mình vào sự bí ẩn, nhưng nhà thơ cần phải gửi gắm vào đó những yêu thương và căm ghét. Tôi thích những nhà thơ quyến rũ bạn đọc bằng tư tưởng của mình, không phải những phiêu lưu tối mò và kỹ thuật vô ích.

Về phần tôi, tôi tin rằng sự tinh tế của nhà thơ làm nên sự “khó” của thơ hôm nay (những giai đoạn khác thì tôi không biết), nếu có thể, thì chỉ nên khó đăng chứ không nên khó đọc. Đã đành không ai dám xếp thơ vào một nhu cầu không quan trọng, nhưng trong cuộc sống còn khó khăn mệt mỏi, đọc thơ là một nhu cầu có thể “miễn trừ” đối với nhu cầu kiếm đủ áo cơm. Vì thế, người đọc cần đọc ngay vào những cái mà họ thấy yêu thương hay cay đắng (dĩ nhiên bằng một ngôn ngữ “vật lộn” chỉ có ở nhà thơ). Sự vòng vèo vô ích của nhà thơ tối tăm đôi khi làm người đọc chán không phải vì “khó” mà vì cuối cùng anh cũng không mang lại cho người đọc được những gì mà họ mong mỏi. Những kịch tính ấy xưa nay là đặc quyền của các nhà văn xuôi, nhưng có lẽ đã đến lúc nhà thơ cần chia sẻ trách nhiệm này. Không phải không có lý khi người ta không chỉ chán ngán mà còn đang oán trách các nhà thơ thời nay viết quá nhiều những bài thơ tùy tiện du dương và vô nghĩa. Sự “khó” của thơ nên mang lại cho người đọc một ngụ ngôn về cuộc đời dù với những biên tập kiểm duyệt mà con người ta vẫn có thể lang thang trên những bài thơ đầy khai mở, chứ sự “khó” không bao giờ làm thơ thành một thứ hàng hóa xa xỉ. Nhà thơ sáng chế ra sự “khó” làm thành những hư cấu về cuộc sống, dù dịu dàng hay tàn ác thế nào đi nữa, vẫn đáng sống và vẫn gần gũi trong tầm tay mọi người. Bạn đọc muốn nhà thơ hãy nhường phần hy vọng xa xôi tận đâu cho tôn giáo với những công bằng của thiên đàng địa ngục ở kiếp sau.

2.Tôi không thấy một rào cản nào của “thơ trẻ” hiện nay với bạn đọc cả. Cũng không có rào cản của thơ nói chung. Có thể có vài ba rào cản nào đó, nhưng đó không phải rào cản anh đang ám chỉ mà là những chuyện ngoài thơ. Chẳng còn ai muốn nghe nữa. Sự phát triển của xã hội làm người đọc thơ hôm nay không còn tấm màng che hai bên mắt ngựa và các nhà thơ cũng không còn trói buộc vào một chủ nghĩa hay phương pháp sáng tác nào. Điều vui sướng của người đọc bây giờ là đọc xong một bài thơ mà vẫn lưu giữ những ý nghĩa lẩn quất trong đầu, dù niềm vui ấy có bị đe dọa về sự không sáng rõ do những bí ẩn của bài thơ mà nhà thơ vô tình mang lại.

Tôi vẫn nghĩ thơ luôn luôn là tên gọi của một nỗi buồn. Đó là lý do các nhà thơ tiếp tục mộng mơ, tiếp tục viết, tiếp tục lý giải về những phận người đã và đang bị ruỗng mòn bởi sự tàn ác, thời gian… và cuối cùng là cái chết.

Sự múa may và vô nghĩa trong thơ nhằm làm cho mọi người lim dim ngủ như ngấm thuốc phiện là một tội ác mà bạn đọc sau này khó lòng tha thứ. Một nhà thơ bẩm sinh luôn luôn có khả năng mang bạn đọc đi theo tới cùng nhằm nhận được sự sáng rõ của mình sau những rối loạn đáng yêu của tất cả các giác quan.

Hình như đó mới là quyền lực của thơ và những nhà thơ thực sự.


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: