The moonflower

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

NB. Hoa Yên Cơ or the Moonflower comes from the imagination of the poet.

I became a little girl when father gave mother his seeds, as natural as a farmer sowing in his field.

When I turned eight, I was acquainted with being an orphan, the loneliness of orphans. Mother was lost when the seedlings first appeared, the grass barely green… Mother must have thought an eight year old child like me was ready to face her loneliness, mother wanted me to be independent. My strength was a drop of tear on the pillow each night. Father knew no other way, besides saying that memories can evaporate like a mist, like fading clouds in the deepest of blue sky. Father hoped my longing would ease for mother, but after saying so, he would also cry.

Father planted flowers on a  plot behind our house, it was also where I grew up. The garden together with me flourished, I grew into a woman. The plot was overflowing with flowers because father’s garden was the source of flowers for the entire town. The smell of the leaves, the flowers permeating each and every night, their scents soothed me. I continued to live in the denial that my mother was still alive. I found a seedling for myself. It popped up from the soil looking always weary of the wind and as it bloomed, I came up with a name for it, I called it Moonflower. Moonflower was my companion on lonely nights. I imagined its flowers smelt like mother’s breasts, holding me as I fell asleep each night. Moonflower also wanted me to stop crying so father wouldn’t have to worry about such a wishy washy daughter like me. Like twin sisters Moonflower and I. I knew when she was thirsty, when she needed to be drenched in tears. One night, Moonflower was shaken with anxiety, I had to gently cradle her trunk, smoothing out her leaves until she had calmed down. As it turned out, she wanted to share a secret: she was in love. It’s the lad, father, called “chú bé”. Father hired him as a caretaker, he was the one who gathered and picked the flowers each morning for the market. He lived in a cabin next to the rows and rows of flowers. 

As it turned out, we were both in love with this man.

I avoided his eyes from then on. His odour was that of a civet and the sturdiness of a stallion. My heart misses a beat each time I get a glimpse of him. I dreamed of him every night, we would talk, kiss, make love. I know it’s not real, but dreams do come true.

He would arrive each morning to cut flowers. Moonflower would timidly stare at him. She gathered herself, hovering just above the ground, at the lowest possible level so that he is not able to recognise her, so that he will not pick her for the market. He was fully aware of this, so he would cut other flowers in her place to sell at the market. In summer afternoons, after my tutoring classes, I would catch him napping beneath the shade of the Moonflower tree. She would stir just enough so there was a breeze, she would gently shake her foliage to keep him cool. Often I had thought of giving up on his love, since I believed he belonged to Moonflower. I didn’t want to beat Moonflower in this fight. I knew then in love, winning meant more pain.

Then one night, father woke me up, the blanket went flying from my bed, I could hear people running and screaming with fear. His cabin was on fire, “chú bé” cabin was on fire. With all my might and strength I could muster, I too ran, screaming in agony as though I was also engulfed in flames. My father held me in his arms, as I  screamed. Father tried to comfort me the way I had comforted Moonflower to stop her from crying, but he failed. I passed out eventually exhausted.

The next morning was cold, a kind of cold which was chilling to the bone. Father came to my room, and announced that Moonflower was gone. No one could save her from the fire. There was a sudden tightness in my chest, I was overwhelmed by worries for “chú bé”. Father read my mind and said: “Chú bé is fine.” And I added, if he could stay with us until his cabin could be rebuilt? Father rebuffed with: “No”. I hoped Moonflower would be able to shelter him, but father had said she’s dead. I don’t know who shall keep him warm this winter?

The winter cold to me was unimaginable, the cold was beyond our thermometer. While I’m snuggly asleep inside he was in the garden, amongst the flowers. Father has been mistaken, Moonflower didn’t die. Perhaps because he’s never seen her real face hence the error. Moonflower stretched out as far as she could, wrapped “chú bé” in her leaves. “Chú bé” quivering, shaking in the freezing temperatures. The cold was unbearable. Moonflower refused to give up, in her last act, she shed all her blooms and foliage as a blanket for him, she was completely naked in the end. Her naked trunk and limbs shook in the cold, wailing as she no longer possessed more warmth for her beloved.

The Sun rose, our nightmares seemingly ceased after that cold rainy night. I ran to the garden. The wind eased and Moonflower was entirely naked and sheepish in front of me. I could not believe my eyes, father came running as I howled. The leaves, blooms and his body have been covered, raised in a fresh mound of soil, startled father. Father ordered everyone to dig it up. Beneath the mound was the body of a stallion, its face was blue, only I knew it was him, only I knew it was “chú bé”.

His heart has stopped, surrendered to the cold. His body has turned into a livid blue, and Moonflower’s purple roots engulfed his whole body, beholding her beloved. What more could I speak of about those intertwined bodies? I stopped talking from that point. Moonflower continued to live in the pain of her nakedness. Everyone tried to take him from her, but couldn’t because of the bundling roots, so tightly entwined around “chú bé” body. They were afraid he would bleed. Hence they burned everything. Father said – so that they can both be set free. I screamed in protest but father was silent, probably because he believed there was no other choice. My body was on fire as the bodies were ignited, I was in agony, the pain unbearable. As though Moonflower and I came into the world together, to then burn together. I was powerless standing there watching, like when my father held me as “chú bé” cabin burned to the ground. I witnessed the two naked bodies in the flames, the billowing smoke like clouds, flew from the ashes of Moonflower’s flesh. I could no longer cry, I could no longer speak, as Moonflower was now forever silent. As father’s garden, as someone’s village, as a dream, as warm vapours spilled from the talks…

I stood dead in the garden, the exact spot where Moonflower once came to being. Father thought Moonflower was a wildflower. Father didn’t know when two people felt the same, they do not know they’re mad, since nothing like this had ever happened before. Father invited physicians to help bring back my voice, but how could an ears noses and throat specialist nor psychiatrist fix a tree waiting to bloom? How could they understand her yearning for winter, her readiness to covet her beloved with shed leaves. Even when spring had forgotten her, never to return, the tree continued to wait, the flowers remaining dormant and silent. When young men and women love but can’t be together they would plant a flowering tree, when the tree blooms with flowers, it is when their love could then be set free, their vows be forgotten, without tears. My Moonflower has never bloomed, hence it has to forever hold. Moonflower feared I didn’t understand, it continued to remind me of the times it bloomed. How could I not understand Moonflower? But is the grass forever green like tears forever flow like the chill of rain and wind…

[December 2019]


Tôi thành một cô bé khi cha chuyển giao hạt giống cho mẹ, hồn nhiên như một anh chàng khuyến nông đi trồng cây xanh.

Khi lên tám, tôi đã biết sự cô đơn của đứa trẻ mồ côi. Mẹ mất khi hạt giống vừa mới chập chững có ngọn, cỏ chỉ mới hơi xanh… Chắc mẹ nghĩ một đứa bé lên tám như tôi đã có thể tự chiến đấu với nỗi cô đơn của mình, nên mẹ để tôi tự lập. Tôi nhận ra sức mạnh của mình chỉ là những giọt nước mắt trên áo gối mỗi đêm. Cha không biết làm cách nào, ngoài việc nói với tôi là ký ức cũng có thể bay hơi và biến mất, giống như sự mờ nhạt từ từ của đám mây trên bầu trời xanh thẳm. Cha hy vọng tôi sẽ nguôi nhớ mẹ, nhưng nói xong, cha cũng khóc.

Vườn sau nhà là nơi cha trồng hoa, cũng là nơi tôi nuông chiều bản thân mình. Khu vườn đã cùng tôi lớn lên, trở thành thiếu nữ. Khu vườn ngập hoa vì cha là người cung cấp hoa cho cả phố huyện. Mùi của lá, của hoa rụt rè mỗi đêm làm tôi dịu lại. Tôi cứ ngơ ngác, không tin là mẹ đã mất. Tôi tìm được một hạt giống, trồng riêng cho mình một cây non. Nó nhú lên, bơ phờ trong gió và khi nó nở hoa, tôi đặt tên cho nó là hoa Yên Cơ. Yên Cơ là bạn của tôi vào những đêm cô đơn. Tôi tưởng tượng hoa có mùi thơm của ngực mẹ, vẫn ôm tôi mỗi đêm trước khi tôi ngủ. Yên Cơ cũng muốn tôi đừng khóc nữa vì sợ cha sẽ lo lắng về đứa con gái có tâm lý lệch lạc như tôi. Yên Cơ với tôi như hai chị em sinh đôi. Tôi có thể cảm nhận khi nào nó khát nước và cần phải tưới nó bằng nước mắt. Có một đêm, tự dưng Yên Cơ run lên vì lo lắng, tôi phải vỗ nhẹ vào thân cây và âu yếm xoa lên lá một lúc cho Yên Cơ bình an trở lại. Thì ra nó muốn nói với tôi một bí mật, nó đã yêu. Đó là anh, người mà cha vẫn gọi là chú bé. Cha thuê anh chăm sóc, hái hoa trong vườn để cha mang bán vào mỗi phiên chợ. Anh ở trong túp lều nhỏ cạnh khu vườn.

Hóa ra hai chúng tôi yêu cùng một người.

Từ đó tôi luôn lảng tránh ánh mắt của anh. Anh có cơ thể của một con ngựa và mùi của một con chồn hương. Tim tôi loạn nhịp mỗi khi thấy anh. Tôi mơ thấy anh mỗi đêm, cùng tôi nói chuyện, hôn nhau và làm tình thật sinh động. Tôi biết chỉ là giấc mơ, nhưng nhiều khi mơ sẽ thành sự thật.

Anh đến mỗi sáng, ra vườn hái những bông hoa. Yên Cơ nhìn anh có vẻ ngượng ngùng. Nó cố cúi thấp xuống để anh không nhận ra, và hái nó vào mỗi phiên chợ. Anh biết điều đó, và anh đã hái các bông hoa khác thay vào để cha mang bán. Những chiều mùa hạ, sau buổi học thêm, tôi thấy anh nằm ngủ dưới bóng của Yên Cơ. Nó quạt mát cho anh với những chiếc lá dịu dàng của mình. Có lúc tôi nghĩ đến việc từ bỏ hy vọng của tôi về tình yêu của anh, tôi nghĩ anh là của Yên Cơ. Tôi không muốn chiến thắng Yên Cơ trong cuộc đua này. Tôi biết trong tình yêu, chiến thắng chỉ thêm đau đớn.

Một đêm, cha đánh thức và khi tôi tung chăn ra khỏi giường, tôi nghe tiếng của nhiều người đang bỏ chạy vì sợ hãi. Túp lều của anh đang bốc cháy. Theo bản năng, tôi cũng chạy, la hét đau đớn như thể mình cũng bị cuốn vào lửa. Cả khi cha ôm lấy tôi, tôi vẫn tiếp tục la hét. Cha vỗ về tôi như tôi vẫn vỗ về Yên Cơ để ngăn nước mắt, nhưng vô ích. Sau đó tôi kiệt sức và bất tỉnh.

Sáng hôm sau trong cái lạnh như cắn vào da thịt, cha vào phòng tôi nói rằng Yên Cơ đã chết. Mọi người không thể cứu nó khỏi đám cháy. Những ý nghĩ lo lắng cho anh xuất hiện ngay trong tâm trí của tôi. Cha đọc được ý nghĩ của tôi và nói: “Chú bé không sao.” Và khi tôi hỏi cha, liệu anh có thể ở trong nhà chúng tôi cho đến khi anh dựng lại túp lều cũ của mình? Cha nghiêm mặt: “Không”. Tôi hy vọng Yên Cơ sẽ che chở cho anh, nhưng như cha nói, nó đã chết. Tôi không biết ai sẽ ủ ấm cho anh vào mùa đông này?

Mùa đông, tôi ngỡ cái lạnh trên nhiệt kế chỉ là tưởng tượng. Trong khi tôi được ủ trong chăn ấm áp thì anh ngủ ngoài vườn, dưới hoa. Hóa ra cha đã nhầm, Yên Cơ không chết. Có lẽ do cha cũng không biết mặt Yên Cơ nên nhận dạng bị nhầm. Nó đang uốn mình về phía trước để những chiếc lá của nó che chở cho anh. Gió bắt đầu gào thét. Tôi thấy ông trời thật quá tàn nhẫn vì cứ thông đồng với gió, thông thốc. Và khi trời bắt đầu mưa, Yên Cơ khóc vì nó lo không đủ sức để ủ ấm cho anh. Anh bắt đầu run rẩy. Cái lạnh đã trở nên không thể chịu nổi. Yên Cơ không chịu bỏ cuộc, với nỗ lực cuối cùng, nó dùng tất cả lá và hoa còn lại của mình để kết thành tấm chăn cho anh, nên sau đó nó hoàn toàn khỏa thân. Cơ thể trần truồng của nó run lên vì lạnh, nó khóc vì không thể ủ ấm thêm được nữa cho người yêu.

Sau cái đêm lạnh và mưa ấy, mặt trời lên và chúng tôi chấm dứt cơn ác mộng. Tôi chạy ra vườn. Gió đã ngớt và Yên Cơ ngượng nghịu vì hoàn toàn khỏa thân trước mặt tôi. Tôi không thể tin vào mắt mình, tôi hét lên làm cha xuất hiện ngay lập tức. Những chiếc lá, hoa và cơ thể anh bị vùi lấp, vun lên thành một gò đất mới, làm cha ngạc nhiên. Cha ra lệnh cho mọi người đào lên. Bên dưới gò đất là xác một con ngựa, có gương mặt màu xanh, chỉ có tôi biết đó là anh.

Trái tim anh đã ngừng đập, anh đã đầu hàng giá lạnh. Cơ thể của anh biến thành màu xanh nhạt, và rễ của Yên Cơ màu tím đã bao phủ lấy anh để ôm chặt người yêu của mình. Tôi còn có thể nói gì về hai cơ thể quấn lấy nhau dưới gò đất ấy? Tôi hóa câm. Yên Cơ vẫn còn sống, mặc dù nó đau đớn vì bị trần truồng. Mọi người cố gắng gỡ nó ra khỏi anh, nhưng không thể vì đám rễ Yên Cơ bao trùm, bám chặt lên anh. Họ sợ anh chảy máu. Vì thế mọi người đã đốt cháy, tất cả. Cha nói để cả hai được giải thoát. Tôi hét lên phản đối nhưng cha im lặng, chắc cha nghĩ cũng không còn cách nào. Và khi lửa bùng lên tôi thấy cơ thể tôi cũng bốc cháy theo, đau đớn. Như thể tôi và Yên Cơ được sinh ra cùng với anh, để cùng nhau cháy. Tôi bất lực đứng nhìn, như khi cha ôm chặt tôi vào đêm túp lều của anh bốc cháy. Tôi thấy hai cơ thể trần truồng trong ngọn lửa và những đám khói như mây, bay ra từ giàn thiêu da thịt của Yên Cơ. Tôi không còn khóc nữa, tôi đã mất tiếng nói, như Yên Cơ mãi mãi vẫn im lặng. Như khu vườn của cha, như ngôi làng của ai đó, như giấc mơ, như khói tuôn ra như hơi thở sau những lần giao hoan…

Tôi chết đứng trong vườn, đúng ngay vị trí của Yên Cơ. Cha cứ ngỡ Yên Cơ chỉ là một bông hoa dại. Cha không biết khi hai con người có cùng một ảo giác, họ không bao giờ biết mình điên, vì không còn hệ quy chiếu để so sánh. Cha mời bác sĩ đến để chữa bệnh và tìm lại giọng nói cho tôi, nhưng làm sao các bác sĩ tai mũi họng hay kể cả bác sĩ tâm thần, có thể chữa bệnh cho một cái cây đang chờ nở hoa? Nó chỉ chờ mùa đông đến để rụng lá ủ ấm cho người tình. Ngay cả khi mùa xuân lãng quên nó, không bao giờ quay lại nữa, cái cây vẫn cứ đứng chờ, và bông hoa câm lặng. Khi con trai con gái yêu nhau không lấy được nhau thì cùng nhau trồng một cây hoa, đến khi nào hoa nở ra thì người ta quên được lời thề, không còn nước mắt. Cây hoa Yên Cơ của tôi đã không nở được một bông hoa nào, vì thế nó phải ôm cầm mãi mãi. Yên Cơ cứ sợ tôi không hiểu, vì thế nó cứ nhắc mãi về những lần nở hoa của nó. Sao lại không hiểu, Yên Cơ? Nhưng có phải bao giờ cỏ cũng xanh như nước mắt lăn mãi như mưa lạnh mãi như gió được đâu…



Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

How could you be so oblivious to their strength?

A collection of short prose 
       in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

Because daily they would walk the walk on the verge of tears, they know something is stirring in your mind, even before you realised it was already there in your head.

And you have no evidence that they’re not in their right mind. You start to suspect yourself, even though you knew it didn’t make any sense.

Don’t worry.


You can say whatever you like, it doesn’t mean that you are right. What we remember is very different, since we all have different points of view.

What you said was harsh to listen to even to deaf ears. Making a mountain out of a molehill. History can not be blown up because someone was puffed up croaking like a frog.

The words which escaped your lips yesterday sounded as though, without blinking, you were announcing your imminent death, even though you prefer the idea of immortality. 

You’re hurt by what you said, because you believed in what you said. I know you have faith in what comes out of your mouth. But I’m afraid while I waved at death, it felt as though you’ve been had. The chronic pain returning from your every thought, as people tried to comfort you: it’s okay, it will be fine. You couldn’t hear them, because you were still afraid.

Flower petals often drift out to sea, like those in vogue: let them get carried away by the wind. But they were brought back to me in the forms of sea shells, cracked and twisted. I pieced them together like a riddle, at the tip of my tongue. All that I ever wanted had been created, destroyed and rebuilt.

What have you got left to offer me?


It numbs all of our senses, it tricks us into believing everything is fine. Then it would bombard us over and over again until it’s unbearable. The overwhelming pain comes at us twice, tricking us into thinking we’re no longer in pain, it is the physical visceral response to shock.

What’s more painful than someone staring at you? It is when that someone leaves. You think they’re ghosts, but I’m not haunted by ghosts, I will never forget the details of the last time I saw you. 

There are those we’ve been waiting for but will never see again. Like all our verses of poetry. But, if you’re concerned about the metaphors, please press follow or leave your number in the comment section below, so I can answer all your questions. Other than that, if you have any other advice, I will note it in the note section. Suspended.

I will hang myself up like a portrait, oil on canvas, blood on skin. Even when no one understands me.

In order for people to feel how soft I am, I will pin myself on the bed linen, a thousand thread count. Since, she too has to sleep.

I will roll myself up into a blanket, because she needs to hear my heart beat. 

I will run like water in the bathroom, I’m not strong, I’m in the form of a dream, I’m unconscious, loaded with guilt. I’m changing, she’s a mess. I’m changing, she’s upon destruction. I’m softer again.

I’m bursting, filled to the max by a river. I’m awake, I’m alive, I’m exploding with love.

I’m changing, because you are in a lot of pain.

September 2022


bởi vì họ vẫn đi lại mỗi ngày trên bờ vực của nước mắt, họ biết mọi người hiểu được điều gì đang xảy ra trong đầu bạn, cả khi chính bạn cũng không hiểu mình.

và bạn cũng không có một chút manh mối nào để nói là họ không ổn. Chỉ còn cách bạn tập nghi ngờ chính mình, mặc dù điều đó chính bạn thấy rất không ổn.

Đừng lo.


bạn có thể nói bất cứ điều gì bạn muốn, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn đúng. Trí nhớ của chúng ta khác nhau, cũng như không có hai quan điểm nào giống nhau.

những gì bạn nói còn nặng hơn tai người điếc. Những người cố nặn ra núi non chỉ là hòn non bộ. Như lịch sử không hề bị thổi phồng dù ai đó đã phồng to hơn con ếch.

có cảm giác như mới hôm qua những lời nói đã rời khỏi môi bạn, bạn thậm chí không nói lắp hay chớp mắt khi bạn nói là bạn sắp chết, dù bạn hơi bị thích sự bất tử.

những tuyên bố hơi mạnh của bạn lại làm chính bạn đau lòng, vì bạn nghĩ là mình trung thực. Tôi biết bạn chỉ nói những điều bạn tin tưởng. Nhưng khi tôi vẫy tay chào cái chết, có thể bạn đã bị lừa. Đau đớn lặp đi lặp lại từ suy nghĩ của bạn, mọi người cùng vỗ về bạn: không sao đâu, mọi thứ sẽ ổn thôi. Có thể bạn không nghe thấy vì bạn đang sợ hãi.

những cánh hoa nhiều khi vẫn có thể trôi ra biển, như mọi người đang thời thượng: để gió cuốn đi. Nhưng chúng được mang về cho tôi dưới dạng mấy mảnh vỏ sò, nứt và cong. Tôi ghép chúng lại với nhau như một câu đố, trên lưỡi của tôi. Tất cả những gì tôi muốn là tạo ra, phá hủy và xây dựng lại.

bạn còn gì nữa để cho tôi?


nó sẽ chặn bất kỳ cảm giác nào, chặn mọi thứ để làm cho bạn có vẻ ổn. Sau đó, nó đánh bạn rất đau. Cơn đau che phủ bạn hai lần chỉ là cách làm cho bạn nghĩ rằng mình đã khỏi đau.

bạn biết điều gì buồn hơn một ai đó cứ nhìn vào bạn không? Đó là họ bỏ đi. Bạn nghĩ họ là những bóng ma, nhưng tôi không bị ám ảnh bởi bóng ma, tôi giữ những ký ức về lần cuối cùng gặp bạn.

có những người chúng ta đã mong chờ nhưng rồi không bao giờ gặp một lần nữa. Như những bài thơ của chúng ta. Nhưng, nếu bạn quan tâm đến phép ẩn dụ, xin vui lòng bấm theo dõi tôi hoặc chỉ cần để lại số điện thoại dưới phần bình luận, tôi sẽ liên lạc lại. Ngoài ra, nếu bạn có bất kỳ lời khuyên nào, tôi sẽ chép vào phần ghi chú. Lơ lửng.

tôi treo tôi lên như một bức tranh, sơn dầu nằm trên vải, máu ở trên da. Cả khi không ai hiểu tôi.

tôi treo tôi lên như tấm vải trải giường, để mọi người cảm thấy sự mềm mại của tôi. Dù sao nàng cũng cần ngủ.

tôi cuộn tôi lại như chiếc chăn, vì nàng cần lắng nghe nhịp tim của tôi.

tôi chảy như nước trong phòng tắm, tôi không khỏe, tôi trong trạng thái mơ, tôi vô thức, tôi nặng trĩu với cảm giác tội lỗi. Tôi đang thay đổi, nàng đang hỗn loạn. Tôi đang thay đổi, nàng là sự hủy diệt. Tôi mềm mại trở lại.

Có một dòng sông lấp đầy tôi. Tôi tỉnh táo và sống động, tôi tràn đầy và bùng nổ với tình yêu.

tôi đang thay đổi, vì bạn rất đau.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.


A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh


Separated by a small path, a park suddenly popped up next to a Necropolis of zombies. The best architects were hired to take care of the new development. Innumerable exotic flora and fruit trees were bought. Including ancient trees from various forests and jungles, and precious rock boulders from exotic places. The flowers bloomed with rippling streams and birds singing. The playground was glorious, it was a beautiful poem!

On the other side of the path, a few steps away were the quivering writhing zombies living in decay. The existing dead followed each other in ankle-deep mud. Fully covered, they exchange words through shemaghs. Their bony arms flapped in the eerie cold wind. A stark contrast to the playground full of joy. An orchestra complete with all kinds of instruments played unending symphonies. The smell of incense danced with the fragrance of jasmine and ripe fruits, effusing sweetly throughout the day and night.

A playground was for the dead, and Necropolis was for zombies.

All along the dividing path were guards patrolling year-round — guns aimed at the dead zone. From the cemetery, now and then a few zombies might catch smells of incense, and the seeping fragrance would overwhelm them with madness, the zombies ram themselves into the line of guards. Of course, no zombie could ever escape the scum! Gleaming knives welcomed them; they only needed to advance a bit for the blade to cut through barely any flesh, before they hit bone. Their bodies were immediately cleared, and thrown back into the cemetery as though it was nothing. It was just another day to the guard.

There were daily funeral processions at the park of the dead. Just yesterday, a burial went ahead. The deceased was a butcher, he was slaughtered by another butcher. So people say, the body was no longer whole, severed in pieces due to profoundly ingrained resentment. Along the whole funeral procession, they were throwing flowers and white confetti like a snowstorm. The burial of the butcher was a result of another butcher’s slaughter, indeed beside his friends and family, both sides were in attendance. They lowered their eyes or turned away; they didn’t meet each other’s gaze. Hands on their belts were carving knives ready for a fight. Incense infused the length of the road. The hoard of zombies over in the graveyard relished excitedly, the renewed inhalations of the smoke and perfume, filling their starved lungs. Their deep hollow dark eyes were dazed with fresh dreams of a paper-thin cover of spring.

All at once, a total of four burials took place that particular day — four people in the same family, from an unknown cause. Despite how good we are to each other, death is inevitable. Four graves amalgamate into one, four times the opulence. Flags were flying like butterflies in the middle of spring, and people lend their voices to anthems as they sent the dead to their final resting place. The zombies came out to ogle, drooled, sniff, soaked up the smoke and incense: famine and the cold desiccated their bodies, they were the definition of savagery. Day after day the road widened; the guards also grew in power, their artillery cold, their shiny blades glaring.  There was no way to pass the divide, the zombies wallowed and wept taking turns spitting.

As you already know, spit is the last weapon of defense when there was nothing left. When the sky was overwhelmed with more doom and darkness, the zombies viciously rose; hence, the volume of the split overflowed, like a river! No matter how much brutality was shown by the guards; slaughter didn’t stop the spitting. A million pools of spit propelled skyward, no different from any torrential downpour. The spitting storms continued to overwhelm the park.

So much money was vested in erecting opulence, now facing risks of bankruptcy. The shimmering coffins covered in blooms were now drenched in excrement. So they built a tall brick wall to separate the playground from the graveyard. They also commissioned a vast army of professional cleaners to clean the tombs and gardens. The workers were covered from head to toe in protective gear, vigilantly working into the night. They were scrubbing in the sun, in the rain, in the prolonged cold nights. The Park of the dead was the epitome of a graveyard. Its original poetic beauty was now in a layer of noxious zombie saliva was devastating. The saliva formed dripping trails, oozed, the tombstones rotted, and the green grass and the white flowers fell into decay. The rats from the necropolis drawn to the smell scrambled over the top of each other, scratched, and gnawed at the freshly buried flesh, and bones, and the stench had spread to tens of thousands of miles outside the boundary of the once opulent cemetery.

[January 2019]


Trong thành phố vừa mọc lên một Công viên người chết bên cạnh Nghĩa trang xác sống. Nghĩa trang và công viên ngăn cách nhau bằng một con đường nhỏ. Những kiến trúc sư giỏi nhất trong thiên hạ được triệu về xây dựng công viên. Vô vàn cây xanh hoa lạ trái quý trong thiên hạ được đem về trồng tỉa, đắp điếm. Cả những cổ thụ rừng sâu, cả những tảng đá quý nơi núi xa đều được chuyển tới. Hoa nở và chim hót và nước chảy róc rách. Công viên đẹp như một bài thơ!

Bên kia con đường là nghĩa trang. Nơi những xác sống vật vờ tựa bóng ma hời xuôi ngược. Chỉ vài bước chân mà cảnh vật trái ngược, điêu tàn, bụi bặm. Lũ xác sống dắt díu nhau đi trên những con đường bùn ngập ống chân. Họ chào hỏi nhau bằng lời nói phát ra sau tầm màn khẩu trang che kín hết mặt. Bàn tay gầy vẫy nhau trong gió rét điêu linh…

Phía bên nghĩa trang thê lương bao nhiêu thì ngược lại, phía bên công viên lại nhộn nhịp trù phú bấy nhiêu. Những dàn nhạc với đủ các loại nhạc cụ và nhạc công diêm dúa ngày đêm hòa tấu không ngừng nghỉ. Mùi hương trầm lẫn với mùi hoa ngọc lan và mùi trái chín, lan tỏa ngọt ngào suốt ngày đêm…

Xin được nhắc lại lần nữa: Công viên dành cho người chết, còn Nghĩa trang dành cho xác sống!

Suốt dọc con đường ngăn cách hai bên, đội canh gác túc trực bốn mùa không nghỉ. Họ đứng quay lưng về phía Công viên và chĩa súng tuốt lưỡi lê về phía bãi tha ma. Từ bên nghĩa địa, thỉnh thoảng có những xác sống bị tà ma hiển nhập, ngửi thấy mùi nhang trầm và hương hoa thơm ngát phía bên kia đường, bèn nổi cơn khùng điên lao qua giới tuyến hòng thoát thân khỏi bầu khí quyển bụi bặm, đến với thế giới minh hồ lồng lộng. Dĩ nhiên là không bóng ma nào thoát được! Lưỡi lê sáng quắc đang chờ, chỉ cần họ lao tới là cắm phập vào xương cốt, xuyên thấu tận lưng, giãy đành đạch bên đường. Xác sau đó được dọn sạch, đổ về bên phía nghĩa địa, như chưa hề có cuộc tẩu thoát nào vừa mới xảy ra.

Công viên người chết hầu như ngày nào cũng diễn ra tang lễ rình rang. Mới hôm qua, một đám ma to vừa được cử hành. Người chết là một gã đồ tể bị một gã đồ tể khác làm thịt. Nghe người đời kể lại, xác không còn nguyên vẹn, thậm chí bị băm ra nhiều khúc vì ân oán quá thâm sâu. Suốt con đường di quan, hoa và giấy bạc vứt trắng trời như mưa tuyết. Đám tang của một gã đồ tể bị một gã đồ tể phanh thây, dĩ nhiên là ngoài người thân thích họ hàng, sẽ còn rất nhiều tay chân của cả hai phe tham dự. Họ cúi mặt hoặc ngẩng mặt đi trong đoàn người đưa đám, tay vẫn lăm lăm giữ lấy thắt lưng, nơi có con dao mổ cất sẵn. Hương trầm thơm ngát suốt quãng đường dài. Lũ xác sống bên phía bãi tha ma hít hà khói hương đầy những lồng ngực lép. Những hố mắt sâu đen thăm thẳm ngẩn ngơ trông vời mơ áo giấy mùa xuân…

Ngày hôm nay cùng một lúc đưa đám bốn người. Bốn người trong một gia đình, chết chưa rõ nguyên nhân. Dù sao, nghĩa tử là nghĩa tận. Bốn đám tang nhập lại thành một đám tang to gấp bốn lần. Cờ phướn rợp trời như bướm lượn sang xuân, nhạc véo von tiễn các vong về nơi an nghỉ. Bọn xác sống ở phía bên kia đường lại ra đứng hóng, hít hà khói nhang, thổn thức thèm thuồng. Đói và rét làm cho những bộ hài cốt gầy xọm đi, trông thảm hại vô cùng. Con đường ngăn cách ngày càng được mở rộng ra, đội canh gác cũng được tăng cường nhiều hơn, súng ống lạnh lùng, lưỡi lê sáng quắc. Không còn cách nào để bước qua ranh giới ấy, lũ xác sống đứng bên này than khóc và thi nhau nhổ nước bọt qua phía bên kia. Bạn biết rồi đấy, nước bọt là vũ khí cuối cùng của những ai không còn vũ khí. Khi bị bầu khí quyển u ám tối đen vây bủa, lũ xác sống trở nên hung dữ, vậy nên, lượng nước bọt nhỏ về phía bên kia ngày càng nhiều, tương đương một dòng sông! Bọn lính canh dù hung hãn và tàn ác đến đâu cũng không thể giết hết bầy xác sống đông đúc bầy đàn ô hợp, càng không thể ngăn hàng triệu bãi nước bọt bắn lên trời, không khác những trận mưa. Dòng sông nước bọt vẫn mỗi đêm mỗi ngày chảy qua phía công viên…

Bao nhiêu tiền của được bỏ ra để xây đắp nên Công viên lộng lẫy, bây giờ, đang đứng trước nguy cơ phá sản. Những cỗ quan tài bằng pha lê nằm giữa những khóm hoa khoe sắc bây giờ được tẩm ướp thêm một lớp nước bọt nhầy nhụa. Người ta dựng thêm một bức tường cao dày dọc con đường để ngăn cách Công iên với bãi tha ma. Nhưng làm sao mà ngăn được nước bọt nhổ ra từ mồm của những bóng ma? Người ta cử nguyên một đội quân đông đảo đến hàng vạn người, chuyên làm công việc dọn dẹp lau chùi mộ địa. Họ mặc đồ bảo hộ bịt kín, cặm cụi làm việc bất kể ngày đêm. Và rồi, nhìn từ xa, Công viên bây giờ lại tràn ngập những hình nhân cắm cúi đi lại lau chùi trong nắng, trong mưa, trong cả những đêm dài giá lạnh. Bây giờ thì, Công Viên Người Chết ấy lại nhìn hao hao giống bãi tha ma, thậm chí, tệ hơn, vì những bài trí đẹp đẽ nên thơ ấy lại bị phủ một lớp dày nước bọt tanh tưởi. Nước bọt chảy thành dòng, phá lở những nấm mồ cỏ xanh hoa trắng, làm lở loét những cỗ quan tài, để rồi bầy chuột từ bên phía bãi tha ma tràn qua đục khoét, moi thịt, gặm xương, mùi hôi tanh lan rộng ra hàng vạn dặm…

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.


A short story in Vietnamese by Tạ Xuân Hải
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Sòng bridge was a place completely devoid of people. If there was an emergency where someone had to cross the river, people would walk two kilometres downstream and use a different bridge. Or they would use a boat to cross. On a good day when the water was calm enough they would wade and swim. But they would never set foot on that bridge. Not sure since when, but the villagers have been afraid of it for so long, they would avoid it as though there was some kind of demon. Out of respect and fear, to appease whatever was there they erected an altar at the foot of the bridge, and called it their Lord. Their Lord’s curse had been passed on from generation to generation to the present date:

“A heel on Sòng bridge and it’s

Death to women at dawn

and death to men at dusk”

Sòng bridge lay there, asleep in the past, like someone who had suffered unbearable hardship, resting their head on their arms, legs sprayed out on the floor, not waiting or hoping for the want of anything any more, nor do they care to share their burden or need anyone to understand them.

But then one day, from a distant land came to the village across the bridge was a rather small framed elderly man. Instantaneously the excitement spread through the village, he’s going to die some afternoon soon. A number of people turned up at the old man’s rental home to warn him about the frightful curse. They had also added that he won’t die immediately, because our Lord needs time to wake up properly before delivering his most fitting punishment, a death more horrible than ever before. “Our Lord dislikes incessant repetition.” They said, “Our Lord is always prepared to cast the most horrific punishment of all.” They did all the worrying on the old man’s behalf, while he sat there puffing away on his cigarette, politely smiling as his wrinkly eyes fell wistfully always in the direction of the river. They pressed on and on about how it was not a laughing matter. They counsel that he should think about possible offerings at the altar at the foot of the bridge as an apology to their Lord, offerings might save his life, even though they weren’t sure that it would work. “But you have to try, rather than just wait here and die.”

Seeing how the old man would only smile, they figured it’s best to tell him about the ghastly deaths of those who had set foot on the bridge. “So, you’ve seen these deaths with your own eyes?” the old man asked. They panicked, but recovered almost immediately. They claimed that the village elders have witnessed such deaths and have passed on such knowledge to them. They recited a list of names. “You have to believe us, it’s all true.” But after seeing that he was still unaffected by it, it angered them. “He must think we’re children.” They mumbled under their breath. They left aggravated and angry. “Let him die!” they said. They believe it will happen, not only do they believe it will happen, but they hope that he would actually diel. They cursed him. “Then he’ll see!” They waved goodbye to each other before heading back to their homes.

The next day the entire village gathered in front of the old man’s house, anxiously they waited for the stupid and obstinately old guy to drop dead. They stood around in groups, out in the streets and would now and then look into the old man’s home. The old man sat at a wooden table out by the verandah, his eyes always staring at something on the table. Now and then he would lift his right hand to his mouth and inhale deeply on his cigarette. Sometimes he would smile to himself, and occasionally buried his face in both of his hands. Totally unaware of the people outside in the street, waiting for him to die. Then, thoughtless and careless, he dropped his glass on the tiles. The hollowed sound echoed through the crowd, startling them. “It’s happening.” The whispered. They were on their toes trying to get a better look. Some pushed their way towards the gate. They mumbled this and that into each other’s ears. The elderly women in the village burst out in prayers. Some closed their eyes, dare not look. The old man got up slowly from his chair, got a broom and swept the shattered glass together. Then he chucked the pile of broken glass into a bin nearby. Only then was he suddenly aware of the people standing outside, watching him. He smiled and nodded, greeted them, but no one responded. He placed the broom against the wall and returned to his table, lit another cigarette before again looking down at whatever it was as though nothing had happened at all.

The crowd grew more anxious as the sun began to fall. Some of the women were a bit disappointed because they had to leave to sort out their evening meal. “Give us a shout when it happens, yeah.” They nudged, urging anyone who stayed back. The kids were dragged home as well even though some of them refused to budge. Chucking a fit on the ground crying and screaming until the adults threatened them with – if they won’t leave our Lord will also come after them. A couple of dozen people remained, amongst them were a few village elders. They sat in a circle at the foot of a huge nacre. 

“The old guy will die right?” A baby-faced guy asked.

“He will die alright, it’s a matter of time. There’s no way of knowing when it will happen exactly, but it will happen. Maybe our Lord has not yet decided on what should be a fitting horrible death, since it has been so long.” An elder added. 

“What if our Lord has forgotten about his curse?” Cheekily another guy added.

“Blasphemy! Our Lord will never age!” An elder spoke up as he tapped his tobacco pipe on the ground. “Doesn’t matter how it will happen, but it will take place this afternoon.

A couple of them got to their feet to get a better look inside the old man’s house. But he was still staring at something in his hand on the table. They shook their heads and sat down again with the others. 

The horizon was smeared with darkness. The crowd had shrunk to about a dozen people. And nothing happened. The old man got up and started the preparation for his evening meal. The fire lit up his wrinkly tranquil peaceful face. The crowd by now was rather bored. They sat there passing around the tobacco bong, taking turns yawning. Some were slapping their legs trying to chase away the mosquitoes. A number of them took a last look into the old man’s house, wiped the dirt off their bum and left. By seven o’clock they were all gone. But throughout the night they were alert and anxious for any sound coming from the old man’s rental home. They were still hopeful that the strange old man from some far away place would succumb to the devastating horrible death, better late than never, they thought. They were as excited for the old man’s misfortune as they would have been for the spring festival. As they fell into a slumber filled with  indescribable anxiousness, filled with terrifying but satisfying dreams. 

The next day, then the day after that, the old man was as unaffected as the day he sat foot across the bridge. But to the villagers it was not good news. And of course there were a number of people who were unaffected by the whole thing. A number of people, especially the young, didn’t give the entire thing a thought. They had plenty of other interests which drew their attention. As for the little children, they had pretty much forgotten about the whole thing. But to some it wasn’t so simple. To them it was an unforgivable mistake. How could a stranger from an unheard of place be so disrespectful, dare step on the village’s age-old curse? And had not suffered from any repercussions? He had brought all this chaos upon the community. He had shaken not only the villagers faith but also that of the village elders. What happens when the young ones no longer listen to their elders? Curses will become obsolete, threatening the order of society itself. A man must pay for his crime. So, an emergency meeting was necessary. The man in question had to leave. He’s not human, he must be some kind of demon in human form. Why? Because even our Lord dare not punish him. He’s an abomination. He had managed to overcome our curse. He had managed to overcome our Lord. As for the villagers? What will happen to them when our Lord finally wakes up and takes it out on the innocent villagers like us instead? Our Lord will destroy the village if we continue to harbour his sworn enemy.

That afternoon, a number of them turned up at the old man’s home to announce the villagers’ decision. “It’s a fair decision.” They carefully observed his reaction. The elderly man sat there quietly staring out at the river, with a distant look in his eyes. “You must leave this afternoon, it has been decided, this very afternoon, remember that.” They repeated it a couple of times to make sure he had heard it, before they left him alone. The elderly man continued to look into the distance. Before he pulled out a small photograph from his pocket, smoothing it out carefully with both hands, lifting it up for a better look in a different light. He thought about his daughter, his wife. They died in an accident, leaving him alone in this life. He had often wanted to follow them, but was unsuccessful after the few times he tried to end his life. He no longer thinks about death. He left the city for the country, as far away as he could so he didn’t have to see any kind of auto vehicle, or car ever again. His feet had brought him to this beautiful idyllic village. He thought this is where he will live out the rest of his life, amongst the trees, rivers, and simple farmers. He had prepared himself spiritually and mentally to retire under this clean and generous horizon. But now it was no longer possible. He’s a sinner, or rather, they’ve insisted that he’s a sinner. He had dared to step on their curse, and disrupted the tranquillity of other people. He had wished often that the curse would come to fruition. Because for a long time now, death was not something to be feared any more, it was something he had accepted. It was something he desperately desired. Now he had to leave. He can not bear people’s hate, their fear. Even if he tries to stay, they will never leave him alone. His feet shook thinking about the road ahead. Exhausted, he went inside. Shoved his clothes into a beaten cloth bag, grabbed the faded bucket hat and put it on his head. For no reason at all, he suddenly had the urge to cross Sòng bridge one more time.

He followed the worned grass strewn path. The worn path long forgotten by people, lay there bearing the innumerable number of piercing needles upon its fresh. He is it, like the bridge, still wondering why it had been abandoned. They are there endlessly remembering the happy feet of the long gone days, waiting to be discovered by fresh new footsteps.

A few days later, they found the old man’s body washed up on a dry grass bank on the other side of the river. The villagers were quick to unanimously agree: The curse was finally fulfilled.

May 2022



Cầu Sòng là một nơi hoàn toàn vắng vẻ. Nếu có công chuyện thật sự cấp bách phải qua sông, người ta đi vòng xuống phía hạ nguồn khoảng hai cây số, ở đó có một chiếc cầu khác. Hoặc người ta chèo thuyền. Cũng có thể người ta bơi khi con nước hiền lành. Nhưng nhất định người ta không đặt chân lên cây cầu ấy. Không biết từ bao giờ, người ta kinh khiếp nó như kinh khiếp một con ác quỷ. Mà quả thật dân làng được kể lại rằng ở đó có một con ác quỷ trú thân. Để vỗ về và để tỏ ra kính sợ, người ta đã lập một cái am thờ ngay chỗ chân cầu, và tôn xưng nó là Ngài. Lời nguyền của Ngài vẫn còn được truyền lại đến tận hôm nay:

“Nửa bàn chân chạm cầu Sòng

Đàn bà chết sáng, đàn ông chết chiều”

Cầu Sòng nằm đó, ngủ trong quên lãng, như một con người đã đi đến tận cùng đau khổ, gối tay lên đầu và duỗi thẳng hai chân, thôi không đợi chờ, thôi không hy vọng, thôi không cần sự sẻ chia hay thấu hiểu của người đời.

Nhưng một ngày nọ, có một ông lão nhỏ thó từ phương xa vừa chuyển đến ngôi làng đã đi qua cây cầu ấy. Ngay lập tức những lời bàn tán nổi lên, rằng ông ta sẽ phải trả giá cho cái hành động liều lĩnh ngu ngốc của mình; rằng ông ta sẽ chết, ngay chiều mai. Một số người đã đến tận ngôi nhà mà ông lão thuê ở và cho ông biết về lời nguyền đáng sợ. Họ giải thích thêm rằng ông không bị chết ngay lập tức, vì Ngài cần có thời gian để tỉnh ngủ và nghĩ ra một hình phạt ghê rợn nhất chưa từng có trước đây. “Ngài không thích sự lặp lại.” Họ nói. “Ngài luôn có những kế hoạch hoàn hảo ghê rợn.” Họ lo lắng thay cho ông lão, trong khi ông cứ bình thản ngồi hút thuốc, cười lịch sự và hướng đôi mắt nhăn nheo ra phía dòng sông. Họ nhấn mạnh với ông rằng đó không phải chuyện để đùa. Họ khuyên ông nên đem lễ vật đến am để cúng và tạ lỗi với Ngài, hoặc đi tìm một thầy pháp đủ mạnh để có thể thông tri với Ngài, nhằm cứu lấy tính mạng, dù họ không dám chắc là những điều có mang lại kết quả hay không. “Dù sao cũng nên thử mọi cách, còn hơn ngồi yên chờ chết.”

Khi thấy ông lão vẫn chỉ mỉm cười, họ kể cho ông nghe về những người trước đây dám đặt chân lên cây cầu đã phải nhận một cái chết đau đớn khủng khiếp như thế nào. “Các bạn đã thực sự chứng kiến những cái chết đó?” ông lão hỏi. Họ hơi bối rối, nhưng hầu như ngay lập tức, họ lấy lại được bình tĩnh. Họ nói với ông rằng có nhiều người già trong làng đã tận mắt chứng kiến và kể lại cho họ. Họ liệt kê ra một loạt những cái tên. “Ông phải tin mới được, vì đó là sự thật mười mươi.” Rồi khi thấy ông vẫn không có vẻ gì sợ sệt, họ tức giận vô cùng. “Lão xem chúng mình như đám trẻ con.” Họ thì thầm với nhau. Họ kéo nhau ra về, lòng đầy tức tối. “Cứ để lão chết đi!” họ nói. Họ tin điều đó sẽ xảy ra, rồi không chỉ tin, họ cầu mong cho điều đó xảy ra. Họ nguyền rủa ông lão. “Rồi lão sẽ trắng mắt!” Họ chào nhau rồi ai về nhà nấy.

Chiều hôm sau, cả đám dân làng đều thấp thỏm chờ đợi lời nguyền sẽ ra tay với lão già lì lợm ngu xuẩn. Họ tụ tập thành từng nhóm, đứng ngoài đường và chốc chốc lại nhìn vào trong nhà của ông lão. Ông lão ngồi ở chiếc bàn gỗ nhỏ ngoài hiên, đôi mắt chăm chú nhìn vào một vật gì đó. Tay phải của ông thỉnh thoảng lại đưa điếu thuốc lên môi và rít một hơi dài. Có lúc ông mỉm cười một mình, có lúc ông đưa hai tay lên bưng mặt. Dường như ông không biết đến đám người đang tụ tập ngoài kia và chờ đợi cái chết của ông. Trong một lần sơ ý, ông làm rơi chiếc ly thuỷ tinh xuống nền gạch. Một tiếng choang khô khốc vang lên làm cả đám đông giật mình kinh hãi. “Bắt đầu rồi đấy.” Họ xì xào. Họ cố nhướng cổ thật cao. Có một số người còn chạy vào tận cổng. Một số kẻ thì thầm gì đó vào tai kẻ khác. Mấy bà già lầm rầm khấn vái. Một số kẻ nhắm mắt không dám nhìn. Ông lão chậm chạp bước ra khỏi ghế, đi lấy một cái chổi và gom những mảnh vỡ thuỷ tinh vào một chỗ. Sau đó ông hất chúng vào thùng đựng rác. Ngay lúc đó ông mới phát hiện ra ở ngoài đường có bao nhiêu là người đang đứng đó, nhìn mình. Ông mỉm cười chào họ, nhưng không ai mỉm cười đáp lại. Ông dựa cái chổi vào tường và trở lại bàn, châm một điếu thuốc mới rồi cúi xuống chăm chú như chưa có điều gì xảy ra.

Đám đông bắt đầu sốt ruột khi mặt trời sắp lặn. Một số phụ nữ đành luyến tiếc trở về nhà để chuẩn bị bữa ăn tối. “Hét lên thật to khi chuyện đó xảy ra nhé.” Họ dặn những kẻ ở lại. Lũ trẻ con cũng bị kéo về, dù một số đứa cứ nằng nặc không chịu. Chúng nằm ra giữa đất và khóc rống lên cho đến khi người lớn dọa chúng rằng nếu không về thì Ngài cũng sẽ đến tìm cả chúng nữa. Còn lại một đám khoảng vài chục người, trong đó có ba bốn cụ già. Họ ngồi thành một vòng tròn trên đám cỏ dưới một gốc cây xà cừ lớn.

“Nó chắc chắn sẽ xảy ra với lão già chứ?” Một gã mặt non choẹt hỏi.

“Chắc chắn nó sẽ xảy ra. Chỉ là không biết đích xác lúc nào thôi. Có thể Ngài đang gắng nghĩ ra một hình phạt thật khủng khiếp, bởi lâu rồi ngài chưa được ra tay.” Một cụ già nói.

“Có khi nào Ngài đã quên lời nguyền của mình không?” Một gã mặt đầy tàn nhang xen vào.

“Quên thế nào được! Chỉ là Ngài suy nghĩ hơi lâu một chút. Hẳn Ngài đã già rồi, không còn minh mẫn và khỏe mạnh như xưa.” Một gã trẻ tuổi khác nói với vẻ tinh nghịch.

“Báng bổ! Ngài không bao giờ già!” Một cụ già vỗ cái điếu thuốc lào xuống đất. “chờ mà xem, kiểu gì cũng trong chiều nay.”

Một vài kẻ đứng dậy và nhìn vào trong nhà của ông lão. Nhưng ông vẫn cúi xuống bàn. Họ lắc đầu với mấy người khác và lại ngồi xuống.

Trời đã nhá nhem tối. Đám đông chỉ còn lại khoảng mươi người. Vẫn không có chuyện gì xảy đến. Ông lão đã đứng dậy, vào bếp nhóm lửa chuẩn bị bữa ăn tối. Ngọn lửa rực lên soi chiếu khuôn mặt nhăn nheo và bình thản. Đám người bắt đầu chán nản. Họ truyền tay nhau điếu thuốc lào và ngáp dài liên tục. Một số kẻ đánh ben bét vào chân để xua muỗi. Một số kẻ ngó vào ngôi nhà lần cuối rồi phủi đít đi về. Đến bảy giờ tối thì không còn một ai ở lại nữa. Tuy vậy, trong đêm, người ta vẫn dỏng tai lên nghe ngóng. Họ vẫn hy vọng tai hoạ sẽ xảy đến với ông lão xa lạ kỳ quặc kia, muộn còn hơn không. Họ ngóng chờ nó như ngóng chờ lễ hội mùa xuân. Rồi họ chìm vào giấc ngủ đầy những băn khoăn khó tả, đầy những mộng mị kinh khiếp thỏa thuê.

Ngày hôm sau, rồi hôm sau nữa, ông già vẫn bình an vô sự. Nhưng đó không phải là tin mừng đối với dân làng. Tất nhiên cũng có một số người nhìn nhận nó một cách bình thản. Một số khác, nhất là những người trẻ tuổi thì hầu như chẳng còn bận tâm. Họ có nhiều thú vui khác để theo đuổi. Trẻ con thì hoàn toàn quên béng. Nhưng đối với một số người thì sự việc không đơn giản như vậy. Đó là một sự xúc phạm không thể tha thứ. Làm sao mà một con người lạ mặt, vừa đến từ một nơi xa xôi nào đó lại dám giẫm lên lời nguyền mà cả dân làng đã phải kiêng sợ từ bấy lâu nay? Và giẫm lên mà không hề bị trừng phạt? Ông ta đã làm cho tập tục bị xáo trộn. Ông ta đã làm cho niềm tin của dân làng vào các vị bô lão bị lung lay. Rồi mọi chuyện sẽ đi đến đâu, khi mà lời nói của các vị không còn được cháu con tuân phục? Thế nghĩa là đâu chỉ lời nguyền bị vô hiệu hoá, mà ngay cả nề nếp kỷ cương cũng bị đe doạ. Người đàn ông kia hiển nhiên phải bị trừng phạt. Và một cuộc họp được triệu tập ngay lập tức. Người đàn ông bị buộc phải dời đi. Ông ta không phải là người, ông ta là một con quỷ dữ đội lốt người. Vì sao ư? Vì đến cả Ngài cũng không dám ra tay trừng phạt hắn. Hắn quá ghê gớm. Hắn chế ngự được cả lời nguyền. Hắn chế ngự được Ngài. Nhưng còn dân làng? Sẽ phải làm sao khi Ngài tức giận và trút tất cả nỗi tức giận đó lên đám người vô tội? Ngài sẽ huỷ hoại cả cái làng này nếu như họ còn tiếp tục chứa chấp kẻ thù không đội trời chung của Ngài.

Chiều hôm đó, một số người đã đến ngôi nhà của ông lão và báo cho ông lão biết quyết định của dân làng. “Thế đã là quá tử tế với lão rồi đấy nhé.” Họ quan sát thái độ của ông. Ông lão ngồi yên lặng, mắt nhìn ra phía bờ sông, một cái nhìn xa xăm vời vợi. “Lão phải dời đi ngay chiều nay, nhớ nhé, ngay chiều nay đấy.” Họ nhắc lại lần nữa để chắc chắn là ông lão đã nghe thủng lỗ tai, rồi họ ra về. Ông lão vẫn ngồi nhìn vào xa xăm. Rồi ông lôi bức ảnh nhỏ từ trong túi áo ra, vuốt phẳng nó và giơ lên ngắm nghía. Ông nghĩ đến vợ và đứa con gái của mình. Họ đã chết trong một tai nạn, bỏ lại ông một mình trên cõi đời này. Ông đã từng muốn đi theo họ, nhưng cả ba lần tự tử đều không thành. Ông không còn nghĩ đến cái chết nữa. Ông rời bỏ thành phố và đi thật xa về những miền quê để không phải nhìn thấy những con đường lớn và những chiếc ô-tô. Rồi đôi chân đưa ông đến ngôi làng tươi đẹp này. Ông nghĩ ông sẽ sống nốt quãng đời còn lại của mình ở nơi đây, giữa cỏ cây và dòng sông tươi mát, giữa những người nông dân bình dị. Ông đã chuẩn bị tâm thế để nằm xuống nghỉ ngơi dưới bầu trời rộng rãi trong lành. Nhưng điều đó giờ đây là không thể. Ông là kẻ có tội, hay đúng hơn, người ta bắt ông phải là kẻ có tội. Một kẻ dám chà đạp lên lời nguyền, chà đạp lên sự bình yên của những người khác. Ước gì lời nguyền trở thành hiện thực, ông đã từng nghĩ vậy. Bởi đối với ông, cái chết từ lâu đã không có gì đáng sợ. Ngược lại, ông còn thèm muốn nó. Giờ thì ông sẽ lại phải ra đi. Ông không thể sống trên nỗi lo sợ và căm ghét của người đời. Mà họ cũng chẳng đời nào để ông yên, nếu ông cứ cố tình ở lại. Chân ông run lên khi nghĩ đến con đường phía trước. Ông uể oải đứng dậy, vào nhà. Ông nhét mấy bộ quần áo vào chiếc túi vải cũ nát, chụp chiếc mũ nồi bạc phếch lên đầu. Không hiểu tại sao, ông lại muốn leo lên cây cầu Sòng một lần nữa.

Ông men theo lối mòn cỏ dại mọc đầy. Lối mòn lâu ngày bị con người quên lãng, nằm đó chịu đựng muôn vàn mũi kim đâm vào da thịt. Hẳn là nó, cũng như cây cầu, vẫn băn khoăn chẳng hiểu vì sao bỗng chốc mình bị bỏ rơi. Chúng ở đó, nhớ lại những bước chân nhộn nhịp một thời xưa cũ, và ngóng đợi những bàn chân mới.

Mấy ngày sau, họ tìm thấy xác ông lão dạt vào bãi ngô non ở bờ sông phía bên kia. Tất cả dân làng đều nhanh chóng đồng ý với nhau rằng: cuối cùng thì lời nguyền đã ra tay.

(Tạ Xuân Hải)

Tạ Xuân Hải, the poet and  YouTuber is a native of Ma Thanh commune, Yen Thanh district, Nghe An province.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

All the little children

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Photography: Nguyễn Thị phương Trâm

Beyond the sunny days, rainy days, beyond the days without the sun without the rain, we would appear whole again to all the little children. We have danced, we have destroyed, sang and swore and screamed raucously like lost children. But do you know who we are? Please let us know as well? As for us, we won’t and will never know. Hence, we can be anybody, someone of importance?

The adults usually are much wiser than us. They eat, they speak, they make love, and their empty laughter runs past us. In the depth of the night, they would quietly plot the coming days. As for us, at the age of eating and sleeping, we don’t know how to be deceitful.

How could anyone know that every night, we dream, those gentle dreams so calm, so sweet? If in our dreams, our forehead sweaty, we would see the fairy godfather fanning us, his beard white like the foot of spring. If in our dreams, our stomachs were empty, there would be the fairy godmother bringing bread breaking off pieces to feed us, her hair long like the spring breeze. If in our dreams, we were sad, immediately the fairies would appear to sing cheerful melodies, their pale skin as white as the spring clouds.

We live depending on those precious dreams. Without such notions, perhaps, we may have perished long ago!

Don’t give us those twisted grand excuses; we don’t want to hear it. Life is complicated; adults are a thousand times more complicated. Our only wish is to be full, to be nurtured, even though it’s in our dreams.

There are those long days, we asked each other: “Hey, how come the night comes so slowly?” We pine for the night, we pine for those dreams, the sooner they come the better. No different from those little boys and girls yearning for their birthdays to eat cake with their friends and to get presents from their parents. Daylight is too glaring, too bright; our eyes are never unaccustomed to the light. Hence, we walk holding onto each other’s shirt sleeves, holding tightly to each other’s hands when we dance and play. Otherwise, we will lose each other, we will be altogether lost.

“Dragons slithering on a cloud through the rows of cabbages, asking if the owner were home?”. That’s how we play; you can see right, how fun it is? The crowd splits up into two sides so we can capture the goat blindfold. My friend couldn’t remember the rhyme, chanting rubbish, but who cares, as long as it’s fun right?

In the crowd at the side of the road, there were grey hair elders, not like the fairy godfather or mother in our dreams. These elders’ faces were all wrinkled, skin rough and scaly, mandibles caved in with no teeth, pathetic! My friend kicked a basket of cabbages from under the arms of an old woman. Oh, the old woman wept! Funny yeah? Open your eyes and look at us, we’ve never shed a tear!

All the little children have never shed a tear! Very strange right? A child should be allowed to cry, but we were not placed into this world to weep but to sing the glorious anthems of scorching heated dreams. Though, we will never be able to “grow up” in the meaning of the word literally and figuratively. But in truth, does anyone actually wants us to grow up? No! Reason being? Truly, is there even a need for an explanation? Those children will die, those pure, innocent souls will die, right inside those dreams, right in the middle of putting their clothes on, while they’re eating, playing with their fairy godfather and mother, they are happy, what more could they want? Such blessings are unattainable by adults, no matter how great they are at scheming.

Now, as always, invariably, we dream; all the innocent little children are dreaming. Dreams the makeup of nightmares: Fairies changing suddenly, eyes protruding baring fangs no different from witches. Their tongue was slimy on our necks as they cackled. In the dream, we shook with fear. We were wrapped in a red blanket soaked in black magic. We were all red like the harrowing blood of winter! The veins in our eyes popping out, bloodshot, glowing! 

Now the days are like the nights, we dance we cream, till we’re exhausted, till we are dead on the side of the road, in the field, in those hot, cramped rooms. Our one wish: When we are dead, each one of us will have a small pretty burial plot, not thrown somewhere like a public bathroom or between the rows of cabbages. We’re afraid of the dogs getting a scent of our corpses.

And on our tombstone, please engrave on our tombstone – all the little children who should never have been born…!

[Edited July 2022]

Những hài nhi bé bỏng

Sau những ngày nắng, sau những ngày mưa, sau những ngày không nắng không mưa, chúng tôi lại hiện lại nguyên hình là những hài nhi bé bỏng. Chúng tôi từng nhảy múa, từng đập phá, hát hò và chửi thề và hô vang nhiệt liệt như những đứa con hoang. Bạn biết chúng tôi là ai không? Nói cho nghe với? Còn chúng tôi, không và sẽ không bao giờ biết mình là ai. Vậy thì, là ai cũng được, là ai thì có quan trọng gì đâu?

Những người lớn thường khôn hơn chúng tôi nhiều. Họ ăn, họ nói, họ làm tình và cười trơ trẽn phóng xe qua mặt chúng tôi. Rồi trong những đêm sâu, họ âm thầm bàn bạc âm mưu cho những ngày kế tiếp. Còn chúng tôi, tuổi ăn tuổi ngủ, nào đã biết lọc lừa…

Bạn không biết được đâu, hàng đêm, chúng tôi vẫn thường nằm mơ, những giấc mơ rất đỗi êm đềm, dịu ngọt. Nếu trong giấc mơ, trán chúng tôi đẫm mồ hôi, thì sẽ thấy một ông tiên cầm quạt ngồi bên quạt mát, râu ông tiên trắng như cước mùa xuân. Nếu trong giấc mơ, bụng chúng tôi đói cồn cào, thì sẽ có một bà tiên mang bánh đến bóc cho ăn, tóc bà tiên dài như gió mùa xuân. Nếu trong mơ, chúng tôi buồn bã, thì có ngay những nàng tiên da trắng như mây mùa xuân đến hát múa tưng bừng.

Chúng tôi sống nhờ vào những giấc mơ giàu có ấy. Nếu thiếu giấc mơ, có lẽ, chúng tôi chết lâu rồi!

Đừng nói với chúng tôi những lí luận dài dòng rối rắm, chúng tôi không muốn nghe. Đời phức tạp, bọn người lớn lại ngàn lần phức tạp hơn. Chúng tôi chỉ mong được ăn no, được vỗ về, dù chỉ trong mơ.

Có những ngày dài, chúng tôi hỏi nhau: “Này, sao hôm nay đêm đến chậm thế nhỉ?” Chúng tôi mong đêm, chúng tôi mong giấc mơ đến càng nhanh càng tốt. Không khác gì những bé trai bé gái mong nhanh đến ngày sinh nhật để được ăn bánh cùng bạn và nhận quà tặng từ bố mẹ. Ban ngày, nói thế thôi chứ chói lóa quá, rực rỡ quá, mắt chúng tôi không quen. Vì vậy, chúng tôi phải bám áo nhau mà đi, níu tay nhau mà nhảy nhót, nếu không, dễ bị lạc…

“Rồng rắn lên mây có cây cứt chó, hỏi ông chủ có nhà hay không?”. Chúng tôi đang chơi đấy, bạn thấy không, cũng vui chứ nhỉ? Khán giả dạt ra hai bên để chúng tôi chơi bịt mắt bắt dê. Bạn tôi không nhớ lời, hát tầm bậy, kệ, miễn vui là được chứ gì?

Trong đám khán giả lôi thôi bên vệ đường, có những cụ già tóc bạc, nhưng không phải là ông bụt bà tiên trong giấc mơ đâu. Những cụ già này, mặt nhăn, da dẻ sần sùi, mồm lại móm vì rụng hết răng, chán lắm! Bạn tôi co chân đá bay rổ rau bà lão đang cắp nách. Ô, bà lão khóc! Buồn cười chưa? Mở to mắt nhìn chúng tôi này, chưa bao giờ biết khóc!

Những hài nhi chưa bao giờ biết khóc! Lạ lắm phải không? Khóc thì đứa trẻ nào mà chẳng làm được, nhưng chúng tôi có mặt trên đời này không phải để khóc than mà là để hát hò ngợi ca những giấc mơ cháy bỏng. Có điều, chúng tôi không bao giờ “lớn lên” được, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. Có ai muốn chúng tôi lớn lên không? Chắc chắn là không! Lí do ư? Không cần phải nói nhiều. Những đứa trẻ sẽ chết, những linh hồn trong trắng sẽ chết, ngay trong lúc ngủ mơ, ngay trong khi đang chơi đùa ăn no mặc đẹp với những ông bụt bà tiên, còn gì hạnh phúc hơn nữa? Người lớn làm sao có diễm phúc đó, mặc dù họ có đủ âm mưu, có đủ lọc lừa lươn lẹo để đối đáp với nhau.

Bây giờ thì như thường lệ, chúng tôi vẫn đang mơ, những hài nhi bé bỏng vô tội đang mơ. Những giấc mơ thực sự kinh hoàng: Những ông bụt bà tiên bỗng dưng thay hình đổi dạng, trợn mắt nhe nanh không khác gì phù thủy. Họ cầm lưỡi hái kề vào cổ mỗi chúng tôi và cười khành khạch. Trong mơ, chúng tôi giãy giụa. Người chúng tôi bị trùm lên một tấm khăn choàng màu đỏ đã nhúng bùa phép. Cả bọn chúng tôi đỏ như máu mùa đông, ghê lắm! Mắt đứa nào cũng vằn lên dễ sợ, long lanh!

Bây giờ thì như thường lệ, khi mặt trời lên, chúng tôi lại rồng rắn lên mây, hò hét cười đùa và văng tục chốn đông người, đạp tung rổ rau của mụ già chậm chạp, nhổ nước bọt vào mặt những lão già lừ đừ đáng ghét trong công viên. Chúng tôi không mong đêm đến nữa. Đêm bây giờ là nỗi ám ảnh kinh hoàng với những giấc mơ màu máu.

Bây giờ thì ngày cũng như đêm, chúng tôi nhảy nhót thét gào, cho đến lúc kiệt sức, rũ xuống và chết dọc đường, chết trong công viên, chết trong những căn phòng chật hẹp và nóng bức.

Chúng tôi chỉ ước có một điều này: Sau khi chết đi, mỗi đứa đều được có một ngôi mộ xinh xinh, chứ không bị vứt đâu đó trong nhà vệ sinh hoặc trong vườn rau cải. Chúng tôi sợ bọn chó ngày sẽ đánh hơi thấy ngay…

Và trên bia mộ, xin hãy ghi: Mộ của những hài nhi bé bỏng sinh nhầm…!

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Just like that, I had managed to chase away the cloud

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Just like that, I had managed to chase away the cloud

The cloud came, not sure from where it turned up one lovely sunny day. The garden was full of freshly bloomed flowers and locks of dreamy soft vines. I was busy digging up the weeds around them, watching the sunlight dance on the blades of grass and out of nowhere came this looming presence, it hovered in the middle of the sky, right over my patch of garden. Naturally, I looked up, a grey cloud from the North was just there,right over my head, obscuring half of the lovely autumn sunlight. 

Popped straight into my head was the question: How am I going to get rid of this cloud, so the garden can be lovely and sunny again?

The answer was: There was no way!

As for my garden. It was the best thing my father had left me when he passed away, he said: I had to work very hard all my life just to finally get it. I’ve lived here for forty years, tending to every tree and blade of grass. Now it’s yours, don’t lose it my son! The tears came, as I pondered the lifetime my father had spent working on the land to give me this life. Happiness is not so easily attained, harder for a man orphaned without any roots like my father. When he was a labourer at the rice mill, he stole a fist full of rice here and there, hiding it at the bottom of the yoke baskets covered with hay, and he was caught. They locked him up for a whole day and night before they allowed him to go home. And of course they made an example of my father, he was humiliated in front of everyone. 

The chairman of the cooperative enthusiastically announced loudly:

“Cooperative rice belongs to the common people. The compatriots are hungry, the soldiers at the front are hungry, so we shouldn’t take what isn’t ours to take, remember that?”

“But for more than a day now, my son has not even had a meal of watery rice!” – Dumbly, my father uttered.

I sat pant-less in the yard in front of the mill, watching my father cry. I grew up still, the kind of upbringing paid with the sweat and tears of others, salty and bitter. The garden is attached to all the memories of my childhood. My brother and sisters and I would play all day in the garden when our mother was at the district market. We play hide and seek amongst the bamboo shrubs and banana trees. I would play but always watched for the first sign of our mother. My little brother, too busy playing sometimes, ends up falling asleep amongst the clumps of banana trees. My father after ploughing in the fields would tie the ox to the base of the star fruit tree, before gathering my sleeping brother into his arms and putting him to bed on the wooden platform in our house, he would wake up screaming: mummy, I’m hungry! From this very garden, I saw the girl next door left for school and both of us would walk to school together. The days when the bombings did not stop, in the middle of the war, I joined the army. Returning after the war, without a job, this very same garden fed me. I grew a lot of vegetables, before dawn we would take the vegetables to the market to sell. As he fumbled his way to the market, my father’s form was more and more bent over, curled up like a question mark in the hazy first light.

The cloud was just there like a challenge throughout the heartbreaking memories of my father. I was a little stunned, I sat down in a bundle at the foot of the star fruit tree in the middle of the garden looking over, guarding the entire garden. In truth, the cloud was not very big, but it was enough to hide my garden and a few other homes nearby from the sun. It was just there, not moving, a grey cloud. I looked at it, and it was looking down at me with seemingly watery eyes, pungent and salty. I forced myself into imagining what it might be, but it was too hard. I’m terrible when it comes to things like that, you have to be intelligent to have an imagination, but I’m not anywhere near that level.

It, the cloud was irregular, not round, not oval, more like a deteriorating haystack left outside for too long, it was uneven, thick here, and thin there. Yes, It was very much like a haystack, but it was not a haystack. It strained my eyes as I studied it, the more I looked at it the more it looked like it had the face of a mastiff, yep, a huge growling mastiff. Its fur was knotted, ruffled and angry. I was more and more worried about my little garden. The cloud was hovering just there, covering up the sunlight, the flowers would not survive, they would wither and die, and it was a fact. I said: hey you, clump of hay, go away! It didn’t move. I said: Hey you, mastiff, go away! It was silent. 

It refused to budge! I felt small and powerless. The endearing little garden was clearly mine but I didn’t know how to protect it, there was nothing more humiliating! My poor garden, the sad purple flowers were droopy with sadness, unsmiling. Even the ground beneath them was silent, an indescribable sadness. For them, I needed to act quickly. I sat down next to a patch of lapis lazuri, I tried to lift their fragile petals, soothing them, consoled them as best I could: “it’s going to be okay, the cloud will eventually leave, the sky will be blue and brilliant with sunlight again!”. The clump of flowers remained silent, they looked as though they didn’t believe me. Flowers usually never listen to such frivolous words, my father had taught me that. Helplessly I sat there on the ground, the ground just as silent. Beneath the leaves, something stirred, it was a tiny speck of a caterpillar! After some careful inspection, I discovered an entire army of caterpillars beneath the cockscomb leaves, grey grey, brownish. They were busy diligently chomping on the leaves. The leaves were spindly and rough, the stem of the leaves swelling up, burning. The sudden anger took over my every thought, I said: You little critters, who gave you permission to gnaw and eat away my garden? They were too busy to grace me with their reply. Hey, I’m the boss. They remained silent. I was on all fours, picking out each and every tiny tiny caterpillar, but there were too many of them and it was impossible to catch all of them. I gave up after a while. 

The cloud looked as though it had no intention of moving on. There was hardly a breeze at the beginning of autumn, and for reasons unbeknownst to me. There were changes in the formation of the cloud. The mastiff’s face expanded, elongated, it was more squiggly. Ey, just go away, there’s no point changing what you look like. It ignored me, its body stretched out longer and longer, curling in sections. Wow, it’s a dragon now! Fine, whatever you want to look like it doesn’t matter, what matters more is that your respect for others, you need to move on along, you need to disappear. It refused to leave, instead it descended, now closer, it was just above my head, right above the garden. There were raindrops. I thought. It was definitely raining. I held out my hands to collect the newly fallen raindrops.

“Where did you come from?”.

“Don’t know really, close your eyes and relax, then you will find yourself flying”.

“I want to fly to where you were before, above the clouds, could I do that?”.

Well, you could try.

Relaxing my shoulders, breathing in and then out deeply, I closed my eyes. My body became lighter and lighter. I was floating. What will I do when I get there? I had no idea. But I knew it was something I had to do. And I could feel myself slowly rising from the ground. After ten breaths, I slowly opened my eyes. Looking down at my feet, on the ground my neighbours were outside, they were talking all at once, pointing at the sky. The commotion echoed across the horizon, reaching me.

“What’s that?”.

“He’s flying!”.

“How could he be flying?”.

“No idea!”.

“Maybe he’s possessed by a god?”.

“Come down, you’ll break your neck, idiot!”.

I laughed, shouting:

“I’m fine, I just need to get rid of this cloud, then I’ll come straight down”.

The crowd on the ground was growing bigger and bigger by the moment, bobbing up and down on top of each other like ants. The ants were screaming and shouting over each other, some excitedly jumping up and down, some picking up clumps of soil from the ground and throwing them in my direction. I ignored them. I had to climb higher. And I did finally arrive at where I wanted to be. I climbed onto the back of the ash grey dragon, and shouted:

“Why do you want to attack my garden?”.

“What garden?” – it asked me in return.

“The one right there at your feet”.

“I don’t know what you’re talking about, I don’t even know you, I’m not trying to harm anyone. The land at my feet, the water at my feet, belongs to no one”.

“But all this time I thought. But what are you supposed to be anyway, a haystack, a mastiff, or a dragon?”.


“But I don’t want you to hang around my garden”.

It did not dignify me with an answer, it seemed like it was shaking, trying to throw me from its back. It was very strong. I didn’t know what to do, I have never gone this far, this high in the sky, even in my dreams. I was shaking, I couldn’t control my bladder. I peed right there in my pants. It was a bad habit I couldn’t shake. Suddenly from somewhere within the watery misty dragon came echoing, a deep voice:

“Son, how did you end up here?”.

It was a very familiar voice, it was my father’s voice, there was no mistaking it.

I shouted:


My father answered:

“Don’t be afraid son, if you’re afraid you’ll end up in hell!’.

“Why are you here father, on this stupid dragon?”.

“It’s not a dragon son, it’s just a cloud of water vapours, and blood, the blood of a thousand years that will not disappear. There are many eyes here. When you die you’ll be able to see them. Here, it’s neither heaven nor hell. It’s the last resting place for the birds before they fly to their final destination”. 

“I want to get rid of the cloud hovering over your garden father” – I shrieked in the middle of the blinding cloud.

“It won’t be easy, you can’t do it alone son. Take this home son, and place it at the foot of the star fruit tree, so when the cloud sees it, it will try and avoid it”. 

“But I can’t see you father?”

“Close your eyes and you’ll see”.

I closed my eyes. My father slowly emerged from the salty watery mist. Dear God, he was nothing but a white skeleton! Only his eyes looked familiar, like when he was alive, they never changed. He said: Don’t be afraid son, I’m like everyone around me, we’re all the same, white is bone, black is blood! Only the eyes see the truth. I studied everything carefully, dear god, so many eyes. The sorry eyes stared at me unblinking. There were eyes so old they were all wrinkly on the edges. There were innocent eyes of children who could have brought you to tears, and all you wanted to do was to kiss them. There were the sad thoughtful eyes of women. There were eyes which were quite familiar, as though I’ve seen them somewhere, sometime ago. The eyes were like stars, like drifting leaves all around me. Where were Ngọc’s eyes, the little girl who died right by the ferry during the bombing those years ago? Where were the eyes of my little brother who had lost his life at the border in seventy-nine? I looked and looked for them but I was unable to pinpoint them. There were too many eyes, too many stars, and too many leaves, and they would move around dancing continuously, ceaselessly. How long have they been here, what happened to them? It was impossible for me to know for sure. My father gave me something smooth and round:

“Place it in the garden, and maybe when they see it they’ll stay far away”.

I held the object in my hands, but couldn’t work out exactly what it was supposed to be, I thought, what does this have to do with the cloud? Does father know what he’s talking about? Was he trying to trick me? But I didn’t have the time to muck around. The watery mist was now all soggy and soft. Father disappeared, dissolving completely into the dense foggy mist. There was never a chance for another question. I slipped slowly off the dragon’s back and felt the squishy water seeping through my trousers.

And from there began my return to the ground. The army of ants gradually grew larger, and larger. By the time I had worked out who was whom, thud, I was already a pile on the ground, in my hands was the round smooth object. The children in the village cheered excitedly. Shouted enthusiastically:

“Brilliant, genius!”.

“Awesome, cool!”.

“It’s superman!”.

My neighbours crowding around me were very curious about the object in my hand:

“Gold, or maybe it’s black Corinthian bronze?”.

I said I didn’t know what it was and placed it right in the middle of the garden, at the foot of the star fruit tree, and sat down heaving, exhaling short breaths. I was really tired. More tired than that business with the wife. The one-eye guy next door stared at the odd object and asked:

“Sell it to me”.


He approached the object, touched it, feeling it for a while. He announced confidently in the middle of the crowd, as an expert on antiques:

“It’s a bullet, the tip of a black Corinthian bronze bullet to be exact, at least three hundred years old! You better take good care of it”. 

After that, many came to check it out, each with their own conclusion, some said it was a piece of meteorite, lately, the planets seemed to be all over the place, slamming into each other, breaking, bits and pieces flung left right and centre. Some wriggled their nose and pulled faces, saying it was just a rock, so many con artists tried to trick people with black Corinthian bronze. I couldn’t be bothered with all that commotion, what’s the point of trying to define this round object. What’s important was that, ever since it was placed at the foot of the star fruit tree, no grey cloud had ever bothered my garden again. The sunlight was even more mellifluous than before. The dahlias, cockscomb thrived showing off their full blooming brilliant colours. The army of caterpillars seemed to have disappeared. Each time I stepped into the garden the lapis lazuri would laugh and giggle. The discerning golden chrysanthemums weaved together with rays of sunlight earnestly and lovingly eyed me. I would sit with my back leaning on the trunk of the star fruit tree, legs stretched out, relaxed, blowing into the tobacco bong. The white smoke would glide across the patches of chrysanthemums morphing into a gorgeous fragrant blue. I can’t remember the last time I was able to admire such beautiful blue smoke. The first time I believe it was the smoke from our kitchen when I turned sixteen. My mother was cooking dinner, and I was standing in the shade of a tree saying goodbye to Ngọc on my way to the front line. The second time was from the barrel of a submachine gun when I had used up an entire magazine of bullets aimed at Đắk Xút jungle after burying the last person in my unit.

I had succeeded in chasing away the cloud and got rid of the overwhelming sadness over the garden. But from that point on I developed a strange habit. Now and then on the road, I would have this aching desire to fly, but never once succeed, in the end, it would always look as though I was jumping around like a kangaroo, rather funny looking! The kids who followed me snaking through the village shouted: One two three fly! Fly, baby fly… No matter how often I tried, I had never succeeded in flying again.

The cloud in the shape of the haystack, the mastiff, and the dragon was no more. Now and then, like a dream in a painting, there might be a layer of thin mist like a veil of silk over the garden. Always to my surprise, I would find in them my father’s eyes and so many others watching me from within the refreshing clean mist. 

[April 2022]

Bằng cách đó tôi đã đuổi được đám mây

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Đám mây, không biết từ đâu bay đến, vào một ngày nắng đẹp. Khu vườn đầy hoa tươi và những lọn tóc tiên xanh mượt. Tôi đang loay hoay nhổ cỏ gốc cho chúng và nhìn những tia nắng nhảy nhót trên các lá cỏ thì chợt cảm thấy có một nỗi ám ảnh mơ hồ nào đó chụp xuống từ phía bầu trời. Theo phản xạ tự nhiên, tôi ngẩng đầu lên và phát hiện ra ngay đám mây màu xám từ phương bắc trôi xuống đột nhiên đứng lại, che mất phần ánh nắng nhẹ của một ngày đầu thu. 

Ngay lập tức xuất hiện một câu hỏi: Làm sao để đám mây này bay đi, trả lại nắng đẹp cho khu vườn?

Câu trả lời là: Không có cách gì cả!

Trở lại với mảnh vườn của tôi. Đó là thứ tài sản vô giá và duy nhất mà cha để lại cho tôi với lời dặn dò trước lúc lâm chung: Cha cặm cụi một đời cày cấy mới tậu được nó. Bốn mươi năm cha sống ở đây, giữ gìn từng gốc cây ngọn cỏ. Bây giờ để lại cho con, đừng để mất đi con nhé! Tôi giàn giụa nước mắt, nghĩ đến quãng đời cay cực cha cuốc cày nuôi tôi lớn. Hạnh phúc không hề đơn giản mà có được, càng không thể dễ dàng với một gã đàn ông mồ côi lưu lạc quê người như cha. Cha đi trục lúa ở sân kho hợp tác, ra về còn cố giấu một ít thóc dưới gánh rơm, người ta bắt được. Người ta nhốt cha vào gian kho hết một ngày một đêm mới thả. Tất nhiên sau đó sẽ “được nêu gương” trước bà con tập thể. Chủ nhiệm hợp tác xã hăng hái truy vấn:

“Thóc hợp tác xã là của chung nhân dân. Đồng bào đang đói, chiến sỹ ngoài mặt trận đang đói, thế mà ông nỡ ăn cắp là sao?”.

“Nhưng từ chiều hôm kia tới rày con tui mới được có một bữa cháo loãng!” – Cha lí nhí.

Tôi cởi truồng ngồi bệt dưới sân kho nhìn lên thấy cha ròng ròng nước mắt. Thế mà rồi tôi cũng lớn khôn, thứ lớn khôn được đổi bằng mồ hôi nước mắt của người khác, mặn chát. Mảnh vườn ấy gắn liền với bao kỷ niệm ấu thơ. Những ngày mẹ đi chợ huyện, anh em tôi chơi tha thẩn trong vườn. Chúng tôi chơi trốn tìm sau bụi chuối, khóm tre. Tôi vừa chơi vừa hóng ra ngõ ngóng mẹ về. Thằng em trai mải miết chơi trốn sau bụi chuối rồi ngủ luôn lúc nào không hay. Cha đi cày về buộc trâu vào gốc khế rồi bế nó vào nhà đặt lên phản, nó choàng dậy gào: mẹ ơi, con đói! Cũng từ trong mảnh vườn này bước ra, tôi gặp cô bé hàng xóm trên đường đến lớp và cả hai cùng sánh bước. Những ngày chiến tranh bom đạn mịt mù, tôi vào bộ đội. Hết chiến tranh quay về, không nghề ngỗng, lại mảnh vườn này nuôi tôi. Tôi trồng thật nhiều rau, sáng sớm tinh mơ hai cha con đạp xe chở rau xuống chợ bán. Dáng cha già lọm khọm cong cong hình dấu hỏi nhạt nhòa trong sương sớm. 

Trong khi tôi đang thổn thức nghĩ về người cha thân yêu thì đám mây vẫn đứng đó như một lời thách thức. Tôi hơi hoang mang, ngồi thụp xuống cạnh gốc khế giữa vườn quan sát. Đám mây này không lớn lắm, thực tế thế, nhưng nó đủ che mất quầng sáng mặt trời trên khu vườn của tôi và một ít diện tích mấy nhà bên cạnh. Nó đứng đó, màu xám. Tôi nhìn nó, hình như nó cũng nhìn lại tôi bằng con ngươi mọng nước, thứ nước mặn mặn, tanh tanh. Tôi cố vắt trí tưởng tượng của mình để thử hình dung xem nó giống cái gì, nhưng thật là khó khăn, tôi vốn rất dốt món này, giàu trí tưởng tượng phải là những người thông minh, mà tôi lại không ở trong số đó. 

Nó, đám mây ấy, là một đám lổn nhổn, không tròn, không phải bầu dục, gần giống đụn rơm để lâu ngày ngoài vườn bị mục ra, vương vãi, chỗ dày, chỗ mỏng. Đúng rồi, nó hao hao giống đụn rơm, nhưng nó không phải là đụn rơm. Tôi căng mắt quan sát, lại thấy nó gần giống mặt một con chó ngao, ừ, con chó ngao thật lớn đang nhăn mặt gầm gừ. Những đám lông xù lên dữ tợn. Tôi thấy lo cho mảnh vườn của mình quá. Đám mây sẽ đứng lại ở đây, che mất ánh mặt trời, thì những bông hoa, chúng sẽ héo mất, nhất định thế. Tôi nói: Đụn rơm kia, mày đi chỗ khác chơi! Nó vẫn không nhúc nhích. Tôi nói: Con chó ngao kia, mày đi chỗ khác chơi! Nó vẫn im lặng. 

Không có cách nào khác! Tôi thấy mình nhỏ bé và bất lực quá. Mảnh vườn thân yêu rõ ràng là của mình mà không bảo vệ được nó, còn gì bất lực và nhục nhã bằng! Chỉ tội nghiệp cho mảnh vườn của tôi, những cánh hoa tim tím buồn cúi mặt xuống, không cười. Đất dưới chân chúng cũng im lặng, một nỗi u ám không tên. Tôi thấy mình cần có một hành động gì đó với chúng. Tôi ngồi xuống bên khóm lưu ly, đỡ những cành hoa mảnh khảnh lên, an ủi, vỗ về: “Không sao đâu, rồi đám mây sẽ trôi qua, bầu trời sẽ xanh và nắng sẽ đẹp thôi mà!”. Khóm hoa vẫn im lặng, hình như chúng không tin tôi thì phải. Những bông hoa thường không tin vào những lời nói suông kiểu cách, cha từng dạy thế. Tôi ngồi bệt xuống đất, đất vẫn lặng im. Chợt có một đốm trắng bạc ngọ nguậy dưới lá cây, à, là một con sâu! Chăm chú quan sát mới phát hiện ra dưới tán lá mào gà kia có cả một đám sâu, nâu nâu, xám xám. Chúng tất bật làm công việc gặm nhấm của mình. Những chiếc lá sần sùi, cuống lá nổi u, đau xót. Tự dưng có cảm giác bực tức chen lấn vào, tôi nói: Lũ sâu kia, ai cho chúng mày gặm nhấm vườn tao? Chúng không thèm trả lời. Tôi nói, tao là chủ ở đây. Chúng nó vẫn im lặng. Tôi gò lưng lật từng tấm lá để bắt sâu nhưng sâu nhiều quá, bắt không xuể. Bắt được một lúc, nản quá lại thôi.

Đám mây hình như vẫn chưa có ý định bay đi. Trời đầu thu ít gió, hoặc có một nguyên nhân nào khác nữa mà tôi không thể biết. Đám mây đang bắt đầu có sự thay đổi. Cái mặt con chó ngao từ từ duỗi ra, dài ra, ngoằn ngoèo. Ừm, mày biến đi, thay hình đổi dạng mà làm gì. Nó vẫn không nghe và tiếp tục dài ra, uốn khúc. Ô hay, bây giờ nó lại giống con rồng! Được, con gì cũng thế, nhưng mày nên biết điều mà biến đi. Nó không biến mà sà thấp xuống, ngay trên đầu tôi, trên mảnh vườn. Hình như có vài hạt mưa đã bắt đầu rơi xuống, đúng mưa thật rồi. Tôi đưa tay ra đỡ lấy hạt mưa vừa rơi xuống.

“Bằng cách nào mày xuống được đây?”.

“Không biết, thả lỏng cơ thể và nhắm mắt lại, thế là bay”.

“Tao muốn bay lên chỗ mày vừa ở, trên đám mây, được không?”.

“Không biết, thử xem sao”. 

Ờ, thì cứ thử xem sao.

Tôi vận khí, giữ nhịp thở thật bình thản, rồi nhắm mắt lại. Thấy cơ thể mình nhẹ bẫng. Thế là có thể bay lên được rồi. Lên đến nơi rồi sẽ làm gì? Chưa biết. Nhưng phải lên bằng được. Và tôi thấy mình đang từ từ bay lên. Được khoảng mười nhịp thở thì tôi từ từ mở mắt ra. Nhìn xuống dưới chân, hàng xóm đã đứng chen chúc dưới đất, họ nhìn lên, chỉ trỏ, bàn tán. Tiếng ồn ào vọng lên cao. 

“Cái gì thế?”.

“Nó bay!”.

“Làm sao mà bay được?”.

“Không biết!”.

“Hay thánh nào về nhập?”.

“Xuống đi, ngã gãy cổ, thằng tâm thần!”.

Tôi cười, nói vọng xuống:

“Không sao, tôi đi đuổi đám mây, đuổi xong xuống liền”.

Đám đông dưới đất mỗi lúc lại càng đông, lổn nhổn như một lũ kiến. Lũ kiến la hét ỏm tỏi, có con nhảy choi choi lên thích chí, có con nhặt đất ném theo. Tôi mặc kệ chúng. Tôi phải lên cao. Và tôi đã lên đến nơi mình muốn đến. Ngồi lên lưng con rồng nước màu xám tro, tôi hét to:

“Tại sao mày muốn làm hại khu vườn?”.

“Nhưng khu vườn nào?” – Nó hỏi lại

“Dưới chân mày đó”.

“Không biết nó, cũng không quen mày, không làm hại ai cả. Đất dưới chân, nước cũng dưới chân, đều không của riêng ai”.

“Thế mà tao cứ tưởng. Nhưng mày là đụn rơm hay con chó ngao hay là con rồng?”.


“Nhưng tao không muốn mày lượn lờ trên khu vườn”.

Nó không thèm trả lời tôi, hình như nó đang rùng mình, đang muốn hất tung tôi xuống. Nó có sức mạnh ghê gớm. Tôi hoang mang, chưa bao giờ tôi lên đến độ cao này, kể cả trong mơ. Tôi run, mót tiểu. Tôi tè luôn ra quần. Tôi có cái tật xấu ấy không sao bỏ được. Bỗng có tiếng nói trầm đục vang lên đâu đó từ trong đám hơi nước trên mình con rồng:

“Con của ta, mày lên đây bằng cách nào?”.

Giọng nói rất quen, đúng là giọng của cha, không thể nhầm được. 

Tôi gọi to: 

“Cha ơi!”.

 Cha nói: 

“Đừng sợ, nếu sợ hãi con sẽ rơi xuống địa ngục!”.

“Làm sao mà cha ở đây, trên lưng con rồng chết tiệt này?”.

“Không phải rồng đâu, nó là đám mây bằng hơi nước, bằng máu nữa, máu của hàng nghìn năm chưa tan hết. Có rất nhiều con mắt trên này. Chết rồi con sẽ biết. Đây không phải là địa ngục, cũng không là thiên đường. Đây là nơi trú ngụ cuối cùng của đàn chim trước khi bay về đến đích”. 

“Con muốn đuổi đám mây ra khỏi khu vườn của cha” – Tôi hét giữa mây mù.

“Khó đấy, một mình con thì không đủ sức. Con hãy cầm cái này về đặt cạnh gốc khế, nó thấy sẽ tránh”.

“Nhưng con không nhìn thấy cha?”

“Hãy nhắm mắt lại con sẽ thấy”.

Tôi nhắm mắt. Cha từ từ bước ra trong đám hơi nước tanh tanh. Trời ơi, chỉ là một bộ xương trắng hếu! Chỉ thấy đôi mắt là rất quen, như ngày cha còn sống, không hề thay đổi. Cha nói: Con đừng sợ, xung quanh cha, ai cũng như nhau, trắng là xương, đen là máu! Chỉ có con mắt nhìn là sự thật. Tôi quan sát kỹ, trời ơi, bao nhiêu là mắt. Những đôi mắt trân trối nhìn tôi không chớp. Có những đôi mắt già nua với những nếp nhăn tua tủa xung quanh. Có những đôi mắt trẻ thơ nhìn muốn khóc, muốn hôn. Có những đôi mắt phụ nữ đắm đuối trầm tư. Có những đôi mắt nhìn quen quen, ngờ ngợ như đã gặp một lần nào đâu đó. Những cặp mắt như sao, như lá trôi quanh tôi. Đâu là đôi mắt của Ngọc, cô bé láng giềng chết vì bị bom trên bến phà năm ấy? Đâu là đôi mắt của em trai tôi hy sinh trên trận địa biên giới năm bảy chín? Tôi cuống cuồng tìm kiếm nhưng không thể xác định được. Nhiều mắt quá, nhiều sao và lá quá, chúng lại chuyển động vần vũ không thôi. Họ lên đây từ khi nào, trong những hoàn cảnh nào? Tôi làm sao biết được. Cha đưa cho tôi một vật tròn tròn, nhẵn nhẵn:

“Hãy đặt nó trong vườn, có thể chúng nó sẽ sợ mà tránh xa”.

Tôi cầm lấy, không xác định được nó là cái gì, trong bụng nghi hoặc, cái này thì liên quan gì đến đám mây kia? Liệu cha có nói thật không nhỉ? Nhưng tôi không có đủ thời gian để thắc mắc thêm nữa. Hơi nước đã mềm nhũn. Cha tan biến vào đám hơi rối rắm ấy. Đôi mắt tan biến như lá mùa thu vừa bay liệng vừa chìm nghỉm trong sương mờ. Không kịp nói thêm lời nào nữa. Tôi tuột dần khỏi lưng con rồng, nghe nước thấm vào đít quần rin rít.  

Và bắt đầu trở lại mặt đất. Đàn kiến to dần, to dần. Đến khi phân biệt được từng người thì cũng là lúc tôi ngã oạch xuống đất, trong tay vẫn khư khư giữ lấy vật tròn nhẵn. Lũ trẻ trong xóm hoan hô cực lực. Có bao nhiêu sức chúng hét thành tiếng hết:

“Thiên tài, thiên tài!”.

“Trên cả tuyệt vời!”.

“Siêu nhân!”.

Mấy bà hàng xóm chăm chăm nhìn vào tay tôi, hỏi dồn:

“Cái gì đó? Vàng hay đồng đen phải không?”. 

Tôi trả lời không biết và đem cái vật lạ ấy đặt giữa khu vườn, bên cạnh gốc khế rồi ngồi thở dốc. Quả là rất mệt. Mệt hơn cả làm chuyện ấy với vợ. Gã hàng xóm mắt chột nhìn trân trối vào vật lạ, hỏi: 

“Bán cho tôi nhé!”.


Hắn ta lại gần và sờ nắn rất lâu. Hắn nói với mọi người, giọng tự tin của một tay chuyên gia buôn đồ cổ:

“Đó là một viên đạn, chính xác là một đầu đạn làm bằng đồng ít nhất là từ ba thế kỷ trước! Ông giữ cẩn thận nếu không là mất đấy”.

Sau đó có rất nhiều người đến xem, mỗi người kết luận một kiểu, người bảo nó là mảnh thiên thạch, dạo này các hành tinh trong vũ trụ hay chạy lung tung, va vào nhau vỡ ra rơi vãi tung tóe khắp nơi. Cũng có người bĩu môi nhăn mũi bảo, đó là cục đá, bọn lừa đảo dạo này rất thích dùng chiêu lừa đồng đen. Tôi không cần biết đó là cái gì, biết làm gì cho mệt. Chỉ biết, từ khi đặt nó dưới gốc khế thì những đám mây u ám không còn lởn vởn trên khu vườn nữa. Nắng chan hòa hơn cả nắng ngày xưa. Lũ thược dược, mào gà tự tin vươn cành khoe sắc. Bọn sâu cũng lủi đâu mất. Mỗi lần bước chân ra vườn, lưu ly cười hớn hở, hoa cúc vàng lẫn vào ánh nắng thiết tha, trìu mến nhìn tôi. Tôi ngồi dựa vào gốc khế, xoãi chân kéo điếu thuốc lào. Làn khói trắng vương vào khóm cúc chuyển sang màu xanh thơm ngời ngợi. Lâu lắm rồi tôi mới được thấy lại một làn khói xanh đẹp đến thế. Lần đầu tiên là làn khói trên chái bếp nhà tôi năm mười sáu tuổi. Mẹ nấu cơm khi tôi đang đứng dưới gốc cây bên nhà chia tay Ngọc lên đường ra trận. Lần thứ hai là làn khói trên nòng khẩu tiểu liên khi tôi vừa kéo hết một băng đạn vào phía cửa rừng Đắk Xút sau khi chôn xong đồng đội cuối cùng. 

Thế là tôi đã đuổi được đám mây, xua đi nỗi u ám bủa vây khu vườn. Nhưng kể từ đó, tôi mắc phải một hội chứng lạ. Thỉnh thoảng đang đi trên đường tôi lại muốn bay lên, nhưng không bay được, thành ra vừa đi vừa nhảy choi choi kiểu kangaroo, đến là khổ! Lũ trẻ trong xóm đi theo rồng rắn đồng thanh hét vang: Một hai ba bay lên! Bay lên nào, em bay lên nào… Thế mà tôi vẫn không tài nào bay được. 

Đám mây hình đụn rơm hình con chó ngao và con rồng không còn nữa. Thỉnh thoảng chỉ thấy một dải hơi sương mỏng như làn khăn voan lượn qua khu vườn, đẹp như trong một bức tranh. Tôi chợt sững người khi nhìn thấy trong làn sương tinh khiết ấy đôi mắt quen thuộc của cha và nhiều đôi mắt khác nhìn đăm đắm.

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Mưa sa

It’s an amazing feeling, to be able to do what you love. You’re on top of the world.

You’re the conqueror, just before your execution.

Em, với cặp mắt tự tin, buồn như mưa sa vào mùa lạnh. – Em thích nói chuyện với chị, được chứ? – Cậu bao nhiêu tuổi? Tôi thích chuyện gì cũng phải đâu vào đó, trên dưới vân vân. Cậu phải gọi tôi là cô, đúng không. 

Viết gì bây giờ, làm sao nghi dấu hết từng ký tự cuộc tình này của chúng tôi. Tình yêu của chúng tôi là “an act of nature”, là một sự bùng nổ của tạo hóa. Cảm hứng của tôi trong cuộc sống là những cơn cảm hứng bất ngờ, như những con sóng thần không cách nào ngăn trở. Ào ạt và ào ạt những cơn mưa. Tôi vừa nứng vừa khóc đúng hơn là vừa khóc vừa cười. 

Tôi nghĩ đến người tình của tôi đang hùng hục giữa hai chân dài của người con gái nửa tuổi tôi, tôi vừa nứng vừa muốn phát điên với cơn thịnh nộ, tôi muốn bóp cổ nàng cho đến khi nàng tắt hơi, màu của nàng lợt đi, da của nàng chỉ là một màu xám xịt của sự chết.

Buồn là những ngày tôi sẽ không bao giờ được yêu em. Nhe nhẹ buồn như tiếng gõ đều đều của những ngón tay lướt qua lại trên bàn phím.

Lách tách, lách tách những nốt nhạc của mưa trên mái tôn nhà ông bà cụ đã theo nhau đi trong vài tháng. Bên kia hàng rào nâu nhôm gần hai thước, họ đã yêu nhau bằng cách nào nhỉ? Bằng những bông hoa màu vàng vươn lên ngóng mặt trời trên giàn mướp, hay bằng những múi gai đỏ thẫm hoa hồng rướm máu. Những nốt nhạc tanh mùi máu, hoa loãng ánh sáng mặt trời. 

Năm mươi tuổi là một con số quá lớn đối với tôi, khi nhắc đến đề tài yêu đương. Hồi xuân là một thứ cliché sến sẩm. Em là một nhiệm mầu tôi thường hay phá phác nhắc đến, nhưng tôi không bao giờ nghĩ có thể xảy ra trong cuộc đời tôi. Vì tôi luôn dựa vào bản chất thực dụng của mình. Những lần vấp ngã, tôi đã vừa lết vừa bò dậy, một mình đứng vững, một mình xoay sở. 

Tôi nghĩ đến những người đàn bà như tôi, tôi là một người đã thích ngồi thầm cười họ. Tôi đã nở ra những nụ cười hạnh phúc tuyệt vời, tại sao? Tại vì tôi hơn họ nhiều? Tôi đã là một người vợ hoàn hảo? Hai mươi bảy năm sống song song với một người đàn ông hiền và đẹp. Những cơn thịnh nộ đã được hòa giải với những phép màu của Thượng Đế. Những lời khôn ngoan tôi không biết từ đâu ra, đã được thốt ra từ môi tôi. Chúng tôi đã hứa với nhau từ những năm đầu là không bao giờ đem những cơn thịnh nộ vào chăn. 

Gió lạnh từ biển Tasman giội qua cửa sổ từng cơn, bất chợt đem theo những cơn mưa sa. Tôi nhớ em.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.


A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I fell asleep on the patio dreaming of people on white horses riding through the trees, atop the canopy. They hovered for a bit before they quietly left, the jittery horses stayed behind, cantering, and dug their hooves into the top of the trees. The horses also never wanted to stay for longer than a moment, since staying, meant they had to put up with the unbearable coolness of the spring breeze. In the morning their hoofprints would stay as fresh as those footprints left behind in the alleyway at the back of the house. But once the horses were gone, in the canopy, where the horses used to be was a grumpy gecko, mumbling, oh for heaven’s sake. Grinding teeth, just a tad upset: “Why didn’t you wake me? Which direction did the horses go?”. The gecko continued grumpily, mumbling, “It’s your fault for sleeping faced down!”. I wanted to throw a rock at it but I stopped myself. I slept with my face in the pillow; I was annoyed, but I must admit I can’t blame anyone else but myself!

I picked out seven seed-bearing fruits and conscientiously planted them in each human and hoof print, covering the holes with dirt and dust, then I waited.

I thought once the seedlings began to show, I would then go home. Those seven seeds, couldn’t all be duds, couldn’t possibly, my life, can’t be that unlucky! I chased the gecko away: “Go! I don’t want to listen to your pathetic whining”. Determined, I grabbed the tail of a silver cloud and begged: “Hey, please rain for me, right over here!”. The cloud left leaving behind its disdain. Recklessly, I took a hold of an amber ray of sunlight: “Hey, bless us with your light over here, please!”. The vain, lazy beam of light just shrugged itself from my grasp, got up, and left.

It didn’t stop me. Alone, I will make it rain, and alone I will make my light. My sweat will be the rain, my eyes the source of light, my breath the wind. The seedlings will germinate.

It felt as though the laden tiresome dreams came nearly every night, it would begin with the sound of footsteps and then the clatter of beating hoofs. And then unexpectedly, I can’t remember exactly when the green leaves broke through, they popped their heads through the earthy soil cap, and they were greener than hope. I fell back, right onto my backside, laughing out loud, I proceeded to sing a glorious melody of love.

But, the taller the tree grew, the more gangly it became, and towards the end, it was more like a bunch of knotted vines stretching for the sky.

I persisted. Even when the tree began to show no promise, alone I toiled to make it rain and light. When it comes to love and devotion I would wait another year, I could wait till next January!

The very first petals finally bloomed, they were white with hints of pink, and they were in the shape of a horse’s shoe, like the shape of perfumed lips, remnants of laughter.

I was wandering around the house, idled, dying for a drink, but I was too afraid to leave the house, I get to be a happy drunk but I might miss the people and their horses — the hoofs were like stilettos dancing on the tin roof.

Waking up day after day as though I was sleepwalking, I would automatically look for those hoofed petals. The flowers were always there, perched like they have just fallen from the sky, delicate new blooms full of anxiety.

As spring passed us by, the wind rolled across the meadow, chafing our lips. One morning after the Sun was finally awake, I stepped outside, as usual looking for my flowers, to find them gone. I suspect the wind had whisked them away like an accidental appropriation or collusion flipped over, deliberately abandoned me. 

It was evident! But there was nothing I could do, the flowers were gone. I was again left alone to make rain and light, but this time, I refused to stay and wait alone. This time I wanted another person to keep me company, another person to wait with me.

But there was no one, it made sense since I am a loner, I am unsociable! Solus, me, myself, and I was playing a dangerous game of hiding and seeking. Through the passing comments – I laughed, insults – I smiled, what kind of flower is a hoofed-shaped flower, you’re a fool – as though in a state of incapacitated childishness I laughed. I will never disclose my secrets to anyone. As the hoofprints and footprints of those visitors, they were still fresh, in my foggy web of memory.

In the middle of the night, night after night I found myself waiting for the neighing of those horses in the trees, I waited for some shadowy mirage to attend to my grave, buried dreams, anxiously I pondered if there was anyone out there like me? Carefully, I packed my bag and waited for spring, then I will head for the road, I will leave. The gecko was outside in the alley, as though he was waiting for me the whole time, its eyes followed my every step. I said, stop, stop with your cranky mumbling, especially in the middle of such lonely nights, it’s done, the horses are gone, and they will never come back. The gecko was motionless, but its eyes followed me as though it was trying to tell me something. Then there it was, the strangest thing, on the mouldy skin of the reptile, there were these white petals with hints of pink, they looked exactly like those hoofed flowers, evidence of some kind of celebration!

But what of it, the world is a big place, the sky is high, and the horizon is wide, so forget it I must, I must move on. There was something odd in the air, the wind was pungent with the scent of new grass. Hello, spring!

Ngựa, người, mây trắng

Chiều qua ngủ quên mơ thấy có người cưỡi ngựa trắng về đậu trên tán cây rộp rộp ngoài hiên rồi lại lặng lẽ đi. Người đi rồi, còn ngựa trắng thì ở lại bồn chồn gõ móng. Rồi ngựa cũng không chịu đợi lâu, vì đợi lâu, chắc là không chịu nổi gió xuân mơn mởn nên đã đủng đỉnh đi rồi. Sáng ra thấy vết chân còn mới như in ngoài ngõ. Trên vòm cây rộp rộp, chỗ đêm qua người ngựa đứng chờ, bây giờ đã có một con thằn lằn nằm im chép miệng, trời ơi…

Tôi đay nghiến: “Sao không đánh thức tao? Ngựa đi về phương nào?”. Thằn lằn chép chép chẹp chẹp mãi không thôi: “Ai bảo mày ngủ sấp!”. Tôi nhặt một hòn đá toan ném nhưng rồi lại thôi. Thì tại tôi ngủ úp mặt vào gối, đúng rồi, còn trách ai được nữa! Nhưng mà ấm ức, nhưng mà xót xa.

Tần ngần, tôi nhặt bảy hạt quả rộp rộp bỏ vào dấu chân người, dấu chân ngựa rồi lấy đất bụi lấp lại, ngồi chờ…

Tôi nghĩ, khi nào hạt nở xanh cây thì về. Những bảy hạt, không lẽ toàn là hạt lép, không lẽ, đời mình, chỉ toàn xui xẻo không thôi! Tôi đuổi thằn lằn: “Thôi mày đi chỗ khác dùm!”. Tại vì tôi không thích thở than ẽo uột. Tôi cả quyết quờ tay bắt một đám mây màu bạc: “Này, làm ơn mưa dùm vào chỗ này với!”. Đám mây khinh khỉnh bỏ đi. Tôi liều lĩnh quờ tay bắt một tia nắng mặt trời màu đỏ: “Này, làm ơn rọi dùm vào chỗ này với!”. Tia nắng kiêu kỳ lúng liếng bỏ đi…

Đã vậy, tôi cũng không cần. Tôi một mình làm mưa làm nắng, kệ tôi. Thì mồ hôi sẽ là mưa này, thì mắt nhìn sẽ là nắng này, thì hơi thở sẽ là gió này… Nào, hãy nảy mầm đi, đâm cành xanh lá đi…

Hình như đêm nào, trong những giấc mơ nặng nhọc, tôi cũng nghe thấy tiếng bước chân và tiếng gõ móng bồp bộp bên thềm. Sáng ra, thấy hạt đã nảy mầm, lòng hân hoan rạng rỡ. Rồi một ngày, không còn nhớ rõ ngày nào, những chiếc lá xanh đội đất nhú lên, xanh hơn cả niềm hi vọng. Tôi ngồi bệt xuống, vừa cười vừa hát, một bài hát yêu thương.

Nhưng không hiểu làm sao, cây càng lớn thì càng khẳng khiu, và cuối cùng thì hoá thành chùm dây leo rối rắm vươn thẳng lên trời…

Không dễ gì tôi bỏ cuộc đâu, tôi bướng lắm mà kiên trì lắm lắm. Nếu đã tin yêu rồi sẽ chờ cho đến ra giêng! Dù cây khẳng khiu, dù một mình phải làm mưa làm nắng.

Thế rồi những cánh hoa đầu tiên cũng nở, trắng phơn phớt hồng, nhưng hình móng ngựa, như hình môi thơm, như dấu vết của tiếng cười…

Những ngày qua, tôi thơ thẩn trước nhà, dù rất thèm rượu nhưng không dám đi, sợ khi mình say rồi thì người ngựa lại về đứng đợi bên hiên vắng. Đến cả trong mơ cũng còn nghe tiếng móng gõ như tiếng guốc khua giòn, náo động.

Mỗi lần tỉnh giấc, tôi lại một mình mở cửa ra nhìn những cánh hoa rộp rộp, như người mộng du. Hoa vẫn đó, như từ trời cao đậu xuống, mong manh như vừa mới lột, đầy lo âu…

Thế rồi sắp sửa sang xuân, gió cuộn mình lăn tròn qua trảng cỏ, rát mặt. Buổi sáng khi mặt trời thức giấc, tôi bước ra nhìn thì hoa không còn nữa. Tôi nghi, gió đã cuốn đi rồi, như một sự tình cờ chiếm đoạt hoặc thông đồng lật lọng bỏ tôi đi.

Dấu vết còn rành rành ra đấy! Mà thôi, dù sao cũng đã đi rồi. Giờ thì vẫn còn lại một tôi, tiếp tục làm mưa làm nắng, nhưng tôi sẽ không ngồi chờ nữa. Tôi sẽ kéo theo một ai đó, cùng chờ…

Nhưng không hề có ai cả, phải rồi, xưa nay tôi có chơi với ai đâu! Tôi một mình một cõi, tôi một mình với một trò chơi trốn tìm mạo hiểm. Ai đó đi qua, khen, tôi cười cười, ai đó đi qua, chê, tôi cũng chỉ cười, ai đó hét vào mặt, hoa rộp rộp là hoa gì, đồ ngớ ngẩn, tôi cũng chỉ biết cười, như bọn trẻ thiểu năng. Tôi không nói ra đâu, bí mật của đời tôi đó, dấu chân ngựa và người đến thăm tôi bữa nọ, vẫn còn mới nguyên trong kí ức mịt mùng…

Chỉ một tiếng ngựa hí trong đêm thôi mà chờ đợi, chỉ một bóng hình về thăm thẳm trong mơ thôi, mà nôn nao thương nhớ, có ai như mình không nhỉ? Chắc là không, vậy thì mình giống ai? Chắc chắn cũng không. Tôi xếp hành lí xong rồi, chỉ chờ gió xuân cất cánh, là đi. Vừa ra khỏi ngõ thì thấy thằn lằn nằm đợi, nhìn theo. Tôi nói, thôi, mày đừng chép miệng trong đêm vắng, dù sao thì ngựa cũng không về. Thằn lằn vẫn nhìn theo. Mà lạ chưa, trên da thịt mốc meo của loài bò sát, thấy còn in rõ ràng sắc trắng phơn phớt hồng của cánh hoa rộp rộp hôm nào, như dấu vết một cuộc giao hoan! Không lẽ là…?

Nhưng mà thôi, trời cao lồng lộng, mà thôi, gió lạ thơm mùi cỏ đã nôn nao. Chào nhé, mùa xuân!

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: