Once a day, the butterflies wander and play.

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

Once a day, the butterflies wander and play.

They fly from one flower to another.

To then sleep, they sleep so they may again tomorrow wander and play.

You and her were once on a small boat. A storm was brewing.

She was on the verge of tears: “Aren’t you afraid? Death means, you and I shall be two boulders. At the bottom of the deep, deep sea.”

You unsheathe the dagger on your hip. It gleamed. Sticking the blade at her throat. You asked: “Aren’t you afraid?” She laughed: “Why should I be afraid? I know you love me.”

You laughed: “Then why should we be afraid? They all love you, and the storm is merely the flutters of butterfly wings.”

_____

March 2019

Mỗi ngày một lần, mấy con bướm rong chơi.

Chúng bay từ cánh hoa này đến bông hoa khác.

Sau đó chúng ngủ, để sáng mai còn rong chơi tiếp.

Một lần, nàng và bạn trên một con thuyền nhỏ. Cơn bão.

Nàng gần như khóc: “Chàng có sợ không? Cái chết, chàng và em sẽ là hai tảng đá. Nằm dưới đáy biển sâu.”

Bạn rút con dao vẫn mang bên hông ra khỏi vỏ. Ánh chớp. Con dao kề ngay cổ nàng. Bạn hỏi: “Nàng có sợ không?” Nàng cười: “Tại sao em phải sợ? Em biết chàng yêu em.”

Bạn cười: “Vậy sao chúng ta lại sợ? Mọi người yêu em, và cơn bão chỉ là cánh vẫy của con bướm.”

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A letter to the rain

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm 

Casual like fate, the unforgettable rainstorms through our life. It passes, beyond, till that moment sunlight breaks, and we would never meet again. In a lifetime, have you ever experienced such a storm? What do you do as you reminisce on the passing light and deluge? Have you ever considered writing to the rain long gone, and why not? When there’s no way of bringing back the past, I would continue to take myself back to this moment in the past, why? Who knows! This morning, the sky was overwhelmed by a swarm of moths greeting the sunlight at the mead, I sat down to write a letter to an old storm, casual like fate stretched out waiting for a way to return, to a day in the past, long gone.

“You’ve arrived, exactly at that time and place, not early, nor late, caught me naked, alone, like an escaped criminal from hell lost in the mead. You’re oblivious, excited, enthusiastic you told tales of far unknown nine spheres of heaven. I lay there listening, engrossed, knowing, that must be the strangest thing, in this fraudulent world the truest tale I have ever heard. Every story involving people carries with it the subjective hue of suspicion. Your words, I believed, and years later, I continued to believe. You roamed amongst the seven hues of the rainbow, leaving behind all of your entanglement and worries. The truth is, it’s stuff made of dreams, a life never tasted nor experienced, not even a little. The raindrops fell then we were gone, reincarnated ablaze in a moment of happiness. In your eyes, life was evergreen, endlessly beautiful, no different to the greenest of grass on a spring morning to a young girl who became a woman, the first time she discovered love…”

“When I sat down to write these words, you were long gone, far away from the mead, roaming somewhere at the end of the horizon. Today the sun blistering in Chư Mang, infinitely the clouds piled on top of the light, the light in layers on top of the clouds. It took us forever to face the facts of those who were long gone, the existence of their value, you’re the aberrant rainfall, who had come and gone, took away with them so much longing. You brought to the mead tales so strange it woke up every blade of grass, leaves in trees, they dreamt of far off places of distant horizons, of vast, vast seas. You whispered into our ears new things, things unimaginable to them. You said, in a far-off place, there were people with a strange habit, they lived like animals, after a time, they forget their human voice. I immediately compared my life with theirs, and I could more than relate. We, as human beings, dwell together, also for a long time, our spoken language now a reverberation of grunts and screams liken to a pack of wild beast, day after day gradually we lose our humanity, lost is the pure original heavenly given nature of goodness, and kindness…”.

“You told me in these far-off places people own their freedom, free to proudly live out their desires. You winked at me mischievously and placed a cold kiss on the top of my head, and left to continue your adventures! It has been a while, there has been no mentioning of any childhood adventures in the mead, yet this morning, dreamy-like that era of lakes long shimmering wild rivers, and wandering adventures with the clouds with eyes as blue as that of a maiden. The clouds chirped on about all sorts of stuff, luculent, without ever knowing pain, ever knowing deceit. Was it an amusing game with the clouds? If I knew the answer, no more than you – the rain – halfway up that familiar slope, would across the sky return. Though our story may have a long way to go, the morning has a long way to go; no more could be said, thoughtlessly you have cut through my life. When clouds casually became the protagonist, when you continue to be present as our casual witness void of misery, mount Chư Mang can only stand and watch, and smile…”

“I have invited you to, hey, why don’t you stay till the end of these long days? Of course, as vain white clouds, eyes narrowing, suspiciously shook your head! I know, youth, playtime, a time of self-discovery, though for a long time I’m left with this numbing aching heart, heartless no, but with little hope. Your tales always provoke our curiosity. I’ve asked: since you journey endlessly, have you ever transpired with a green-eyed maiden cloud? You would then, rushed around, as though busy, as though to dodge that answer…”

In passing as the rain came and went, I returned to my first role – a storyteller on mount Chư Mang. I’ve survived so much sun and rain in the mead, sometimes in lustful desire, delusional sadness, no day the same as the other, nor night like the other. This afternoon, I’ve chased away the hint of desire for a cloud with infinitely blue eyes right above my shoulders, its ready laughter had always led the way. I’ve walked through the afternoon without leaving a footprint or did I merely hover above the grass, laughing like warm rays of sunshine. I’ve tread quietly, my heart beating ever so lightly, for fear of awakening, frightening the clouds, which may fly away. As came the constant shadow of night, I will aimlessly roam these four corners of the trees and grass, with a warm smile safely in my hand.

And when sleep came, came the dreams, came the rain! 

 [edited June 2022]

Thư gửi cơn mưa

Có những cơn mưa đổ ngang đời, tình cờ như số phận, khiến ta không thể nào quên. Khi cơn mưa đã đi xa, xa lắc xa lơ rồi, có hôm nào nó khi nắng về tinh khôi chợt nhớ, mới biết rằng mình không bao giờ gặp lại. Trong đời bạn, đã bao giờ có những cơn mưa như thế chưa? Bạn làm gì khi quay quắt nhớ thương về những nắng mưa mình từng trải? Bạn có bao giờ nghĩ đến việc mình sẽ viết một lá thư gửi về cho cơn mưa quá khứ, tại sao không nhỉ? Khi không còn cách nào bắt quá khứ quay về, thì ta bắt mình ngược về quá khứ, để làm gì ư? Ai mà biết chắc! Sáng nay, mối bay lên rợp trời đón nắng thảo nguyên, ta ngồi viết thư gửi cho cơn mưa cũ, cơn mưa tình cờ như số phận giăng ngang đón đợi đường về, vào một ngày của xa xưa, xa lắm…

“Bạn đã đến, đúng vào thời điểm đó, không sớm, không muộn, để vừa vặn bắt gặp ta trần trụi, cô đơn, như một gã tù vượt ngục bị lạc giữa thảo nguyên. Bạn vô tư, sôi nổi, hào hứng kể cho tôi nghe câu chuyện thiên thu từ chín tầng trời xa lạ. Ta nằm nghe mê mải, biết rằng, đó là câu chuyện lạ lùng nhất, trung thực nhất mà mình được nghe trong chốn trần gian đầy bất trắc lọc lừa. Câu chuyện nào của thế nhân cũng mang một màu sắc chủ quan đáng nghi ngại. Riêng những lời bạn kể, ta tin, cho đến mãi sau này, vẫn còn tin. Cuộc đời của bạn, rong chơi giữa bảy sắc cầu vồng, bỏ hết mọi vướng bận và lo toan. Thú thực, đó là thứ đời sống trong mơ, ta chưa bao giờ được nếm trải, dù ít ỏi. Những giọt mưa đến rồi đi, luân hồi trong niềm vui rạng rỡ. Trong mắt bạn, cuộc đời xanh mướt, đẹp đẽ vô cùng, không khác gì sân trường xanh mướt trong buổi sáng mùa xuân trong mắt cô học trò mới lớn, lần đầu bắt gặp tình yêu…”

“Khi ta ngồi viết những dòng này thì bạn đã rời xa ta, xa thảo nguyên, rong chơi tít tắp cuối chân trời thăm thẳm. Chư Mang hôm nay nắng gắt, mây xếp chồng lên nắng, nắng xếp chồng lên mây, vô tận. Có những người khi họ đi xa rồi, ta mới thấy giá trị hiện hữa của họ, với ta, bạn là một cơn mưa lạ lùng, đến rồi đi, nhưng lấy của ta nhiều lần mong nhớ. Bạn mang đến thảo nguyên những câu chuyện lạ lùng và đánh thức cỏ cây bằng ước vọng xa xôi của bầu trời, của đại dương mênh mông. Bạn thầm thì bên tai ta về những điều ta chưa hề biết, chưa hề nghĩ đến. Bạn nói, ở xứ sở xa xôi, có những con người có sở thích kỳ quái, họ sống cũng muông thú, lâu dần, họ quên mất tiếng người… Ta lập tức liên tưởng, so sánh với cuộc sống của chính mình. Bọn ta, con người sống với nhau, nhưng cũng từ lâu, ngôn ngữ giao tiếp là tiếng gào thét của loài thú hoang, ngày càng mất đi tính người, mất đi thiên lương trong trẻo ban đầu…”.

“Bạn nói với tôi về những miền đất xa xôi con người được tự do, được sống để thỏa mãn niềm khát khao chinh phục tự nhiên. Bạn nháy mắt tinh nghịch rồi vội vã đặt một nụ hôn lạnh giá lên tóc, rồi tiếp tục rong chơi! Lâu lắm rồi, thảo nguyên không còn nhắc đến những hẹn hò tuổi nhỏ, vậy mà buổi sáng nay, tinh mơ như tuổi sông hồ dài rộng, ta lang thang cùng với một đám mây mắt màu xanh con gái. Đám mây líu lo kể đủ chuyện, bằng âm thanh trong trẻo, như chưa từng biết đến lo toan, chưa biết đến dối lừa. Đi chơi cùng với một đám mây thì có vui không? Ta chưa biết trả lời thế nào thì bạn – cơn mưa – lại ngang trời kéo đến, ngay giữa con đèo quen thuộc. Câu chuyện còn dài lắm, buổi sáng còn dài lắm, sẽ còn nhiều điều để kể, nhưng bạn đã vô tình cắt ngang.  Khi đám mây tình cờ trở thành nhân vật chính, khi bạn luôn luôn có mặt một cách tình cờ như nhân chứng không thể thiếu, núi Chư Mang chỉ còn biết đứng nhìn theo, có một nụ cười…”

“Ta rủ rê, thôi, hay ở lại đây cho hết những ngày dài? Dĩ nhiên là đám mây trắng kiêu kỳ lắc đầu nheo nheo mắt! Ta biết rồi, tuổi trẻ mà, còn phải rong chơi, còn phải kiếm tìm, mà ta thì từ lâu chỉ còn một trái tim đau buốt, không phải vô cảm, nhưng cũng không hi vọng gì nhiều. Câu chuyện kể của bạn luôn gợi trí tò mò. Ta hỏi: Bạn lãng du trong vô tận, thế đã bao giờ rong chơi với một đám mây con gái có đôi mắt màu xanh chưa? Lúc đó, bạn ào ạt chạy qua, làm như bận bịu lắm, để né một câu trả lời…”

Trong khi cơn mưa chập chờn đến rồi đi, ta lại trở về với vai diễn ban đầu – người kể chuyện ở núi Chư Mang. Ta đã đi qua bao nhiêu mưa nắng thảo nguyên, khi cuồng nhiệt mê say lúc ảo não u buồn, không có ngày nào giống ngày nào, không có đêm nào giống đêm nào. Chiều nay, ta đuổi theo dấu vết yêu thương với đám mây mắt biếc đậu trên vai và tiếng cười lảnh lót dẫn đường. Ta đi qua buổi chiều mà dường như không để lại dấu chân, hoặc là đang lướt trên mặt cỏ với tiếng cười vỡ ra long lanh như nắng ấm. Ta nhè nhẹ bược chân, tim không dám đập mạnh, sợ đám mây giật mình tỉnh giấc, bay đi. Khi bóng đêm vời vợi kéo về, ta vẫn loay hoay giữa bốn bề cây cỏ, với ánh mắt nụ cười ấm áp giữ chặt trong tay…

Và rồi, khi giấc ngủ kéo về, trong mơ, cũng có một cơn mưa!/


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Chư Mang to the market

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

CHƯ MANG TO THE MARKET

Since it’s a lovely day, he took his letters down Mount Chư mang to sell at the market, like a mother selling their children, like the poor sell their dogs, like lovers selling each other out. Now the dejected letters followed him, mirrors of blue eyes watching the passing strangers stepping on top of each other trying to move ahead. Stay in line, no running, or you’ll get lost! He reminded them before choosing a spot to display them. People came from all directions and flooded the market, their faces covered as though they were at a masquerade ball. The sun glared at the tall, boxy residential buildings, and a breeze shifted the fluffy clouds over our head. The buildings disappeared completely behind clouds of dust; he felt sorry for his soft and weak letters. He’s also hungry, since this morning till now after lunch nothing was in his stomach, his eyes blurred from hunger, the Sun was glaring from all direction.

The letters all bent out of shape after a few days wandering the dirt-covered streets. No one was interested in buying the letters. He announced after a last look around the market, up you go, sing and dance all of you, just this once, then we’ll go home, or die here. The characters grabbing onto each other for support stood up, wobbly and shaking; they enacted a tragedy about the grim reaper reclaiming death. The hectic eyes of the city paused to watch the odd street performance. He felt heartless. He said, stop, enough, let’s go home! A bird call came from the river Năng upstream, from the ninth level of heaven resounding, full of love, urged for  their return home. They quickened their pace, headed for the anxious bird call, the songs of endearment aided them in surpassing the hills and valleys, they were on their way home! Home, to the proud, tall and formidable mountains, to the long resounding rivers, to the ancient hundred-year-old trees, to the thousand-year-old highland.

Half the way up an incline the letters began to shake and broke out in a dance. He was suddenly powerless; stood there and watched them like some talentless director as his performers ran amuck, there was no way to control or direct them. He shouted: “Hey, how do a bunch of crazy blokes dance compared to other dancers, who looks better?”. The randy letters refused the indignation of reply. He shouted again: “Now I know why no one wants to spare a dollar for you guys!”. The letters egged on, began to sing and shimmied up and around the incline. Singing louder and rowdier: “You’re so blind, yesterday at the market some gangster bribed the letter S to go with him, asked L to work in a brothel, as for the letter Đ, it ran away to the market to find money, the letter T has snuck away to the department stores to pick people’s pockets…”.

He was mortified, counting over and over again, it was true the familiar letters S, L, Đ, T… they were gone, lost somewhere in the street far away in the city!

He took the letters to the market to sell, they went feral, breaking the pack, hence it was inevitable that there were such break-ups and goodbyes. He dropped to the ground halfway up the incline, sweaty, stared intently at the city, the busy crowd pushing and shoving each other down some pit of devastating civility. Not sure where he could find S in this chaotic crowd of swords and blades. He called out: “Hey S, shooting sad satire success sure self silver linings, hey springs… come back to the mountain, don’t hang around in the streets learning bad habits bloody stabbings… Hey L, long lanky lovely lively lovable lot… come back to the mountain!”.

There was no answer!

On his butt, he called out to the lost letters, like a mage reciting a mantra calling upon the return of the dead. A fleet of birds flew by shook their heads with disbelief, the wind teased him in passing, the clouds stared… He screamed, leave me alone! At that very moment, in the distance appeared clearer the forms of the damaged letters, they were tripping, falling over each other, crying as they approached him. His heart cracked open, his vision blurred with tears: The letter L was in front, Đ right behind, both naked with flesh wounds seeping blood. Both letters fell into his arms, like daughters diving into their father’s unconditional loving arms. The letter Đ’s eyes were black and blue, lips were swollen, Đ must have received a bashing at the market. The letter L’s lower abdomen was bleeding, the wound still open and weeping, bright red… Both choking on their words reported they witnessed S getting shot, ran as she held onto her chest before collapsing at the intersection outside the market. He hugged both of his naive children, and cried. Mount Chư Mang somberly stood there firmly looking down at them, its green leafy eyes were on the verge of tears.

He grabbed a handful of leaves and started to chew it finely before placing it on L’s wound to stop the bleeding, and applied ointment on Đ’s bruises. The other letters gathered around them, they were like apes, and he was the leader of the troop. He began to lull them beyond his hurtful spirit, his voice was husky: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Those who don’t want to die, those who brutally tried to sow evil, by this sunset let it go via the cool wind, let it go now đờ cờ lờ sờ mờ tờ… The letters relaxed, fell asleep, there was a hiccup here and there now and then in their deep slumber, like children who were falsely punished!

He sat weaving the reeds together, they needed a firm rope to cross the valley. Beyond the canyon was their home. He sang as he worked on the rope, like a poor mother in the mountains carrying her child on her back singing a lullaby as she worked in the cornfield. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

The long shadow of the afternoon fell as he woke up, the letters, they helped each other across the valley. The fragile rope was at breaking point. The mountain mist rolled out just in time to catch them. He guided the letters through the mist at the end of autumn. He sang as he walked as though he was a mage reciting mantras, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… It’s very possible the string was already broken, but it didn’t matter. He announced aloud, let us be on our way, the entire earth swayed, the whole of humanity lopsided, not just us. The letters stopped crying, they held onto each other, and onward they went beneath the moonlight. The shadows of the man and letters falling longer, stretching from where they were to the other side of the valley, like ghosts appearing from the last century. Past midnight the man and letters were at the summit, to disappear completely inside the sound blinding fog.

At the foot of Mount Chư Mang, now and then people could still witness the cries and singing resounded in the mist, the eerie haunting devilish sounds stretching from the market across to the highland to then wrapped around the summit. On clear nights, on both sides of the path up the mountain were stains of dried blood the scent of wild grass.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ let us go back to the mountain yeah… Weepy songs of lullabies, lullabies of lulling mournful sadness.

[Edited July 2022]

Chư Mang xuống chợ

Nhân buổi đẹp trời, hắn dắt díu bồng bế bầy chữ rời núi Chư Mang xuống kẻ chợ bán, như mẹ bán con, như nhà nghèo bán chó, như tình nhân lừa bán tình nhân. Bầy chữ cui cút đi theo, gương những con mắt màu xanh lên nhìn dòng người lạ lẫm đang cố giày xéo dẫm đạp lên nhau để về đích trước. Hắn dặn, đi đúng đường thẳng lối, không được chạy lung tung kẻo lạc! Rồi hắn chọn một khoảng vỉa hè bày chữ ra bán. Người kẻ chợ đi về như thác lũ, mặt mũi ai cũng trùm kín như thể đang tham gia lễ hội hóa trang. Gió thổi mây bay và nắng chứa chan trên những hộp nhà cao vút. Bầu trời thực sự biến mất sau làn khói bụi. Hắn chợt nhói thương những con chữ yếu mềm. Hắn cũng đói, sáng đến chiều chưa có gì vào bụng, mắt hoa lên, nhìn phía nào cũng thấy mặt trời chói gắt. 

Bầy chữ sau mấy ngày lê lết ngoài vỉa hè khói bụi đã trở nên méo mó hình hài. Hắn trừng mắt nhìn ngược nhìn xuôi chờ đợi nhưng tuyệt nhiên không hề có ai mua. Hắn nói, thôi, đứng dậy múa hát đi, một lần này nữa, rồi quay về, hoặc là chết ở đây. Lũ ký tự ngả nghiêng vịn nhau đứng dậy, vừa run cầm cập vừa trình diễn vũ điệu tử thần chết chóc. Những con mắt phố thị sấp ngửa dừng lại đứng nhìn, như nhìn đám hát rong xa lạ. Hắn thấy mình quá nhẫn tâm. Hắn nói, đủ rồi, quay về lại thôi! Tiếng chim gì đó từ thượng nguồn sông Năng chợt từ chín tầng trời vọng lại nghe từa tựa một lời yêu thương mời gọi quay về. Lũ hắn rảo bước, nhằm hướng tiếng chim khắc khoải, nhằm hướng câu hát yêu thương mà băng đèo vượt núi, về thôi! Về thôi, về núi sừng sững, về sông ngân dài, về cổ thụ vạn năm, về thảo nguyên triệu tuổi.

Về đến lưng chừng dốc thì lũ chữ lên cơn co giật và bắt đầu nhảy múa. Hắn bất lực đứng nhìn, như một gã đạo diễn bất tài nhìn dàn diễn viên làm loạn, không cách gì điều khiển nổi. Hắn hét: “Này, những gã điên nhảy múa với những vũ công nhảy múa, bên nào đẹp hơn?”. Lũ chữ bất kham không thèm trả lời. Hắn lại hét: “Hèn gì không có thằng con bố khỉ nào chịu bỏ tiền lẻ ra mua tụi mày!”. Lũ chữ càng hưng phấn, chúng vừa múa vừa hát. Hát to lên rằng: “Nhà ngươi quả thực mù lòa, hôm qua ở kẻ chợ có gã du côn đã rủ rê chữ S đi bụi đời, rủ chữ L vào động đĩ, rủ chữ Đ ra chợ kiếm ăn, chữ T đã trốn khỏi bầy vào siêu thị hành nghề móc túi…”.

Hắn kinh hoàng, đếm đi đếm lại, quả nhiên mấy chữ thân quen S, L, Đ, T… đã trốn đi hoặc lạc lối ngoài phố phường xa lạ!

Hắn dắt chữ ra chợ bán, kết quả lũ chữ bỏ đi hoang, tan đàn xẻ nghé, tử biệt sinh ly. Hắn ngồi giữa dốc quệt mồ hôi, nhìn về phố thị, thấy cả một đám đông đang đuổi nhau xuống hố thẳm văn minh điêu tàn. Chữ S bây giờ không biết ở đâu trong đám đông cuồng loạn gươm dao. Hắn gọi: “Ơ này chữ S, ơ này súng ơ này sân si ơ này sung sướng ơ này soán đoạt sờ soạng sống, ơ này sông… Về lại núi thôi về lại núi, đừng lê la phố chợ học thói lưu manh chém giết máu me… Ơ này L lờ lững lộn làng lành lặn lênh láng lung linh lóng lánh lập lòe… về núi thôi!”. 

Không có tiếng trả lời!

Hắn ngồi gọi chữ, như pháp sư ngồi niệm chú gọi hồn người chết quay về. Bầy chim bay qua nhìn hắn lắc đầu ngao ngán, bầy gió bay qua nhìn hắn cười châm chọc, bầy mây bay qua nhìn… Hắn hét toáng lên, kệ tao! Vừa lúc đó, từ xa thấp thoáng bóng hình vừa chạy vừa vấp ngã, vừa chạy vừa khóc than. Tim hắn đau nhói, mắt hắn mờ đi vì nước: Chữ L chạy trước, chữ Đ chạy sau, cả hai đứa trần truồng, thịt da gai cào tứa máu. Hai con chữ ngã nhào vào lòng hắn, như con gái đâm bổ vào lòng cha già sau cuộc tình thất bát. Chữ Đ mắt thâm tím, môi sưng vù, chắc bị ăn đòn hội chợ. Chữ L chảy máu ngay bụng dưới, vết thương hở ra lở loét, đỏ lòm… Hai đứa nghẹn ngào thông báo rằng, có thấy chữ S bị trúng đạn, vừa chạy vừa ôm ngực rồi ngã sấp mặt dưới chân cột đèn nơi ngã tư phố chợ. Hắn ôm hai đứa con nông nổi dại khờ, ngồi khóc. Núi Chư Mang trầm mặc đứng nhìn, mắt lá cũng rưng rưng.

Hắn thò tay bứt một nắm lá nhai nhuyễn rồi đắp vào vết thương cầm máu cho chữ L, lấy dầu xoa vết bầm tím cho chữ Đ. Lũ chữ phủ phục vây quanh, như bầy khỉ vây quanh gã khỉ đột đầu đàn. Hắn cất tiếng ru bằng giọng khàn khàn thống khổ điêu linh: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Kẻ nào không muốn chết kẻ nào hung bạo lọc lừa gieo mầm ác, nào hãy buông tay trong buổi hoàng hôn gió mát, thôi, thôi nào đờ cờ lờ sờ mờ tờ… Bọn chữ gục xuống ngủ, thỉnh thoảng nấc lên trong mê man, như những đứa trẻ vừa bị đòn oan!

Hắn lặng lẽ bứt cỏ ngồi đan bện lại, cần một sợi dây chắc chắn bắc qua thung lũng. Qua hẻm núi này là về đến quê nhà. Hắn vừa miệt mài đan vừa hát, như một bà mẹ nghèo trên núi vừa địu con hai bên nách vừa trỉa bắp vừa hát ru. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

Bóng chiều đổ xuống, hắn xốc lũ chữ dậy, dắt díu nhau qua thung lũng. Sợi dây cỏ mỏng manh chòng chành như sắp đứt. Sương núi ùn ùn cuồn cuộn lao ra đỡ lấy. Hắn dắt bầy chữ đi trong sương núi cuối thu. Hắn vừa đi vừa hát ru như đạo sĩ niệm chú, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… Hình như sợi dây đã đứt, nhưng có hề gì. Hắn nói to, chúng ta đi thôi, cả trái đất chòng chành, cả nhân loại ngả nghiêng chứ riêng gì chúng ta đâu. Bầy chữ thôi không kêu khóc nữa, chúng vịn tay nhau bước đi dưới trăng. Bóng chữ bóng người gầy guộc đổ dài, kéo từ bên này qua bên kia thung lũng, như những bóng ma hời từ thế kỷ trước hiện về. Quá nửa đêm thì chữ và người lên đỉnh núi rồi mất hút trong thăm thẳm mù sương.

Ở dưới chân núi Chư Mang, lâu lâu người ta vẫn nghe tiếng ai đó ca hát và khóc than trong sương, những âm thanh quỷ quyệt kéo dài từ phía kẻ chợ rồi lướt qua thảo nguyên hoang vắt rủ nhau chạy vòng quanh đỉnh núi. Những buổi trời trong, thấy rõ ràng hai bên lối đi lên núi còn vương vãi những vệt máu khô thơm mùi có dại.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ về thôi về với núi thôi… Khóc mà như ru, ru mà như hát, hát mà như than.

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Alone

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

ALONE

Like everyone else, solo I came into the world. I arrived solo, and eventually, I will leave alone, you too, no one’s an exception. When you’re in a state of chaos, you forget, forget the origin and the infinite, your solitude. You fight loneliness with the value of your worth; splashing around to keep afloat above a billion people. Awake in the middle night, you are alone.

Life’s cruelty leaves one in a state of persistent terror of loneliness. Each day, I emerge inline in suburbia, in cafes or pubs with my friends. But always gruesomely possessed as though thick clouds blinded me, I saw no one, absolutely no one, just the sound of echoing laughter from some far-off fantastic place. I’m alone. 

The day shall come when I’m no longer in my youth; there will be termite in my eyelids. They will silently chew and suck on my flesh. Such issues guarantee complications: I would look at life through random potholes. The sky will always have falling snow, and people face no difference from separate coloured sheets of paper, holey. I have never disclosed this to anyone.

My belief is not that I am alone, but that many put up with these termites in their eyes. They’ll never speak of them, keeping such secrets close to their hearts. If disclosed, you’re medicated with complicated lengthy hospital and specialist visits, and with a promise of no better prognosis. Many lose their eyesight after treatment, and many end up blind; it’s an unfortunate fact!

I laughed out loud one quiet afternoon, as I listened to the district loudspeaker playing some song about unification. I say, apart is beautiful, it’s best to sit alone, you don’t have to entertain any dark intentions, listen alone to the termites squeaking, gnaw at the cells in your eyes.

No matter how lonely, you must be a good citizen to lead an upstanding life within the boundaries of society. Some are bound so tight it’s impossible to breathe. Others were a little looser but are so clumsy they habitually stumble.

I’ve no idea what he’s thinking but a neighbour opposite the other day hung a sign by the front of his gate: “Freedom for rent”. Of course, many turned up, but after the proprietor explained they saw that it was too involved and too complicated, they shook their heads and left. I queried, in frustration, he exclaimed: “They crave freedom but whine that the price is too steep, they all scream freedom, none of the cowards wants to pay!”.

I told another neighbour, a burglar about the “freedom for rent”, and he snorted: “That quack eats people alive, he evades tax, launders money like a pro, now he’s old and he’s still a hustler!”.

The strange story continued to haunt me. I decided to delve further, “freedom for rent” in its entity is to rent what, how much is too expensive. But my neighbour refused to give me a straight answer, he pressed on with if you have the means to pay, stop asking, stop being so nosy, and mind your own business.

Yesterday, my neighbour lost his life, but no one has yet rented his freedom. When they covered up his body, in the house, there was nothing in it but a pile of political books on how to deceive, to gain power, a complete collection from East to West. But on a positive note, he died alone! Leaning in to close his eyes, I whispered: “I’m prepared to rent your freedom at any price”. And of course, he couldn’t reply or nod in acceptance; there was just a twinkle in his eyes before they closed forever. From those eyes, a swarm of white ants in a swarm took to the sky, engulfing the entire city. I stood there, stunned, and watched them fly away, a haze of white flowers, the small cloud of them bloomed and expanded in a rush, covering everything. The world disappeared.

There was no other path, other than to wait, alone.

[August 2018]

Một mình

Bằng cách giống như tất cả mọi người, tôi đến với thế giới này một mình. Tôi đến một mình, và mai kia, tôi cũng đi một mình, bạn cũng thế, không có ai ngoại lệ. Khi bạn hòa vào đám đông hỗn loạn, bạn quên rằng, lúc đầu và mãi mãi, bạn chỉ có một mình thôi. Bạn chống lại trạng thái cô đơn bằng cách khẳng định giá trị của mình, và cố vùng vẫy để mình không bị chìm lút vào nhân loại đông đến hàng tỉ người. Vậy mà khi thức dậy giữa đêm khuya, bạn vẫn chỉ có một mình.

Có vẻ như cuộc sống quá bất công khi để con người trong trạng thái cô đơn tiềm tàng với nỗi sợ hãi thường trực. Mỗi ngày, tôi vẫn hòa vào dòng người tấp nập ngoài phố, trong quán cà phê hoặc quán nhậu với bạn bè. Nhưng với một nỗi ám ảnh ghê gớm như đám mây mờ kéo ngang trong mắt, tôi không thấy ai hết, hoàn toàn không có ai, những tiếng cười nói hò hét như thể vọng về từ cõi xa xăm nào không có thật. Tôi vẫn chỉ một mình.

Một ngày nào đó khi không còn trẻ nữa, tôi phát hiện ra trong mí mắt mình có những con mọt. Chúng lặng lẽ gặm nhấm các tế bào. Chuyện này dĩ nhiên sẽ gây ra một số rắc rối: Tôi nhìn đời bằng ánh mắt bị mọt gặm thủng lỗ chỗ. Bầu trời lúc nào cũng như có tuyết trắng đang rơi, còn mặt người thì không khác gì những tờ giấy đủ màu, thủng lỗ chỗ. Tôi không hề nói cho ai biết bí mật này, chỉ một mình tôi…

Tôi vẫn tin rằng, không chỉ riêng mình,còn có rất nhiều người khác có những con mọt gặm trong mắt. Họ cũng không nói ra mà khăng khăng giữ bí mật ấy cho riêng mình. Bởi nếu nói ra, bạn sẽ phải uống thuốc, sẽ phải điều trị dài ngày trong bệnh viện, mà kết quả thì không có gì hứa hẹn là sẽ tốt hơn. Rất nhiều người bị mù, sau khi điều trị thì chuyển sang đui, thật đấy!

Có những buổi chiều, ngồi bên thềm nghe loa phường cất vang bài hát gì đó về sự đoàn kết, tôi cười thầm một mình. Tôi thấy, một mình cũng hay, nếu không cần phải hiện thực hóa một âm mưu đen tối thì tốt nhất vẫn nên ngồi một mình, nghe tiếng mọt gặm tế bào trong mắt, kẽo kẹt, kẽo kẹt…

Dù cô đơn đến mấy, bạn vẫn phải sống như một con người với đầy đủ ý thức về bổn phận trách nhiệm và mớ dây chằng chịt vân vân ràng buộc xung quanh. Có người bị buộc chặt đến nỗi không thở được, có người bị buộc lỏng hơn một chút nhưng lóng ngóng vụng về nên thường xuyên vấp té.

Ông hàng xóm nhà đối diện không biết nghĩ ngợi thế nào mà ngày nọ treo cái biển to đùng trước cổng: “Cho thuê tự do”. Đương nhiên là rất nhiều người thấy lạ đến coi nhưng sau khi nghe ông chủ giải thích thì thấy rối rắm mù mịt nên lắc đầu bỏ đi hết lượt.

Tôi hỏi cơ sự,ông ta trầm ngâm giải thích: “Họ thèm tự do nhưng chê giá quá đắt đó thôi, ai cũng kêu gào tự do mà không dám trả giá, hèn lắm!”.

Tôi đem chuyện ông hàng xóm “cho thuê tự do” nói với một ông hàng xóm khác làm nghề ăn trộm, ông ấy bĩu môi cười khinh khỉnh rồi nói: “Cái lão ấy lẩn thẩn ăn người, một tay buôn lậu rửa tiền cực giỏi, giờ về già nhưng máu buôn bán phi pháp vẫn còn!”.

Câu chuyện lạ lùng khiến tôi thắc mắc mãi. Tôi lân la hỏi xem, “cho thuê tự do” cụ thể là cho thuê cái gì, giá bao nhiêu mà đắt. Nhưng lão hàng xóm không trả lời, nằng nặc bảo rằng, có nhu cầu thì bỏ tiền ra, không thì đừng hỏi lôi thôi chuyện nhà người khác.

Cho đến ngày hôm qua, ông hàng xóm ấy chết, vẫn chưa có khách hàng nào thuê tự do. Lúc khâm liệm, trong nhà không có gì ngoài một đống sách chính trị nói về các mánh khóe lừa lọc và cai trị, từ phương Đông đến phương Tây đủ cả. Điều đáng nói, lão chết một mình! Khi vuốt mắt cho lão ấy, tôi cúi xuống nói nhỏ: “Tôi sẵn sàng thuê tự do của ông với bất cứ giá nào”. Dĩ nhiên là lão ấy không thể trả lời hoặc gật đầu đồng ý, chỉ có đôi mắt như khẽ chớp sáng trước khi đóng lại vĩnh viễn. Từ trong đó, bầy mọt trắng vỗ cánh bay ra, mịt mờ khắp phố. Tôi đứng ngẩn ngơ trông theo, thấy lờ mờ trước mắt những bông hoa màu trắng, lúc đầu còn nhỏ, sau nở bung xòe, che kín mọi thứ. Thế giới biến mất.

Không hề có con đường nào khác nữa, tôi ngồi xuống chờ đợi, một mình. 

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A game of sinking to the bottom of the sea

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I’ve been trying to remove myself from this world, slowly, a small piece at a time. Attachments can be tiresome, talking, smiling, the acts of socialising — picking away like a bird plucking at its feathers, like a silkworm pulling at every strand of silk, beneath a looming gloomy grey horizon. Chư Mang is entering a season of torrential rain. I’m ready to let myself go, to sink to the bottom of the sea, to officially step into another fragile broken adventure of the heart. Where I may find myself with all its corners, and sharp edges, sorrow, joy, a complete story, not lost or displaced, officially mine alone!

I’ve often thought God was wrong when he created too many people, weak with the need to lean on others via the invisible fragile threads call tradition, and morality. There’s no true faith nor whole enough for all. I rather have myself as company, than a boat full of people. I like the idea of sinking to the bottom of the sea alone, then from there, looking up, watching life in waves roll by. But of course, it would be boring and lonely, and yes, I would ask a pretty fairy to come and play with me!

I know, hiding beneath my yellow skin and those like me are the boundless possible instabilities. Hence, after a short time edged in-game in the middle of the silence, I would rise to the surface to breathe, like a pathetic yellow tail fish. In those times bobbing up and down, I heard the earth stooped over in pain: The broken promises and jealousy, the lies and betrayal, cunning cowardice. I would sit quietly beneath the shade of a tree on the side of the mountain singing a trivialised song about the nation, its people fumbling noiselessly — my throat raw and burning like inside the barrel of a machine gun after a tirade of gunfire.

Everybody prods along, running, crawling, as though they’re afraid that if they were to stop, society would lose its magnificent radiance. I query in passing: “Hey, why don’t you try leaving the world just once by sinking to the bottom of the sea? Hey, why don’t you just lie down on the spine of the mountain and sing some meaningless songs and see?”. No one listens to me. They’re very busy! Some held out their hands to pull me up to join the rest of this happy, lively human race. Stop, I know, the creator is wrong.

Now and then, there had been a few volunteers sporting a game of falling into the sea with me, but only for a few weeks, before the moon was high enough in the sky, they were gone, quietly they would leave me. Some leave-in regret, some unsure if they’re happy or sad. I have always known, so I have no regret, in this game, you need to be persistent, take nothing for granted, not have too much fun, but also can’t just eat and do nothing either. I play alone, like a woodcutter who had lost his way in the jungle, solely in the deep dark leagues of the sea, I’m content and at peace.

But if we sink too deep into the sea, never knowing though, all might be ashes, forgotten, will never – amount – to – anything! Hence, now and then I would rise for a breath of air, laugh with the people I care about and others, and give back to love a kiss the shape of a spiral of Cổ Loa Citadel! This life, you can’t be forever far from it?

In the end, you’re just a small living thing busy juggling the two different worlds, far apart; such contradictions, torturous enough? Often we are like a migrating bird who is displaced from its flock at dusk or early morning fog, a fractured, broken call in the twist of a breeze. You swore to live and die to the full from here to the end of the world, with the will of an iron gut, till the river erodes and the sea dries up, till the rocks are yellow and grounds to dust. Now, all have flown away in a direction unknown without a hint of ever being. A strand of hair is left behind, serendipitously shiny beneath the eerie sunlight, like a flash at the equator splitting a road into two distinct halves.

You ask me, why does it have to be so absurd, why different from everyone else, why is that? One never knows! Life was already like that when I was born. A portrait of tragedy bound for hardship, a tattered map, in it, everyone wanted for themselves the part that makes sense. They all thought they make sense the most, the most useful, hence then who will accept what does not make sense? So okay I will volunteer to receive all that is worthless without meaning, take it all upon myself, so the world is in less disparity of light and load, and see if the world will be that much more balanced. All of humanity, all the celestial beings residing, all the thrones, monuments big and small, I will push them aside, so I can be alone; on the other side, see if the earth would stop rotating, knowing it may implode!

Though honestly there shouldn’t have to be so many words, I’m afraid when I’m gone humanity will misconstrue my ideas; they’ll make up some treacherous fantasy instead; hence I have to repeat it once more, then I’m done. This nation is drowning in a lie, a gold plated crystal-laden illustrious epic tale, why would you bother with falsifying more folklore, it’s only a matter of time, sooner or later (people will work it out). You can either continue to believe or not believe. As for me, I will continue to go on my search for a game of my choice. I shall let myself go, sinking to the bottom of the sea, to step into another fragile broken official adventure of the heart. Where, I may find myself with all its corners, and sharp edges, sorrow, joy, a complete story, not lost nor displaced, officially mine alone!

Hey, is there anyone out there interested in joining me for a while?

[Edited July 2022]

Chơi trò đánh đắm

Ta đang cố gắng gỡ mình ra khỏi thế giới này, từ từ, từng tí một. Tình trạng kết dính nhiều khi làm ta mệt mỏi, tiếng nói nụ cười chỉ là hình thức biểu hiện xã giao. Gỡ như chim gỡ lông, như tằm gỡ tơ, bằng cách ngồi nhìn bầu trời xám xịt. Chư Mang bắt đầu vào mùa mưa dầm dề. Ta lại chuẩn bị đánh chìm mình, để chính thức bước vào cuộc phiêu lưu mới trong thế giới nội tâm mong manh đứt đoạn. Ở đó, ta thực sự tìm thấy mình với đầy đủ góc cạnh, buồn vui, với đầy đủ câu chuyện, không mạch lạc, nhưng chính thức là của riêng mình!

Ta vẫn thường nghĩ rằng, chính thượng đế đã sai khi tạo ra loài người đông đúc yếu mềm và kết nối họ lại với nhau bằng những sợi dây vô hình có tên là tập quán, đạo đức. Không có một đức tin nào là đúng và đủ cho tất cả mọi người. Ta vẫn thích lang thang một mình hơn là phải ngồi chung một chuyến tàu đầy nhóc sinh mạng. Ta thích đánh chìm mình xuống đáy đại dương cô độc, rồi từ dưới đó, ngước cặp mắt nhìn lên, thấy cuộc đời nhốn nháo cuồn cuộn đi qua. Nhưng như thế thì dĩ nhiên buồn chán vì cô đơn quá, phải rồi, ta sẽ rủ một nàng tiên xinh đẹp chơi cùng!

Ta biết, dưới màu da vàng vọt của ta và đồng loại còn ẩn chứa nhiều điều bất ổn. Vậy nên, sau những thời khắc ít ỏi rong chơi giữa chốn lặng câm, ta lại phải ngoi lên thở, như một chú cá da vàng tội nghiệp. Những giờ phút ngoi lên ngụp xuống ấy, ta nghe thấy nỗi đau trần thế vây bủa xung quanh: Những hẹn hò ghen tức, những dối trá quanh co, những thủ đoạn đê hèn… Ta ngồi lặng dưới bóng cây bên sườn núi và hát một bài hát vô nghĩa về quê hương đất nước, về dân tộc đang đổ dốc không phanh phèng la vỡ trận… Nghe miệng mình bỏng rát như nòng súng vừa bắn liên thanh.

Mọi người vẫn nườm nượm đi, chạy, hoặc bò, làm như họ không vận động thì xã hội không thể tươi đẹp hoặc vĩ đại. Ta hỏi bâng quơ: “Này, sao không thử đánh chìm mình đi để rời xa thế giới này một lần? Này, sao không thử nằm xuống sườn núi này mà hát một bài hát vô nghĩa xem sao?”. Không ai nghe lời ta hết. Họ bận lắm! Cũng có người chìa bàn tay ra, hăm hở kéo ta đứng lên nhập cuộc cùng nhân loại đông vui. Không đâu, ta biết rồi, thượng đế đã sai lầm.

Thỉnh thoảng, cũng có người xung phong tham dự chơi trò đánh đắm chìm nổi phong sương với ta, nhưng chỉ được một vài tuần trăng là lại lặng lẽ bỏ đi. Có người bỏ đi trong nuối tiếc, có người ra đi không rõ buồn hay vui. Ta biết trước rồi, nên không hề tiếc nuối, cuộc chơi này, cần phải kiên trì, không vụ lợi, không ham vui ăn xổi ở thì. Ta chơi một mình, như một gã tiều phu lạc lối, một mình với đại ngàn thăm thẳm, mà vui…

Nhưng nếu chìm sâu quá dưới đáy đại dương, biết đâu rồi, tất cả sẽ cát bụi, sẽ lãng quên, sẽ không – là – gì – nữa! Vậy nên, lâu lâu ta lại ngoi lên hít thở khí trời, cười thân thiện với mọi người, và gửi lại cho yêu thương một nụ hôn hình xoắn ốc Loa Thành! Cuộc đời này, làm sao xa mãi được?

Cuối cùng thì ta cũng chỉ là một sinh linh nhỏ bé bận bịu đi về giữa hai thế giới cách xa nhau, khác xa nhau, vậy đã mâu thuẫn chưa, đã đọa đày chưa? Nhiều khi ta ngỡ mình là con vạc lạc bầy bay đi trong ráng chiều hay sương sớm, với tiếng kêu vỡ vụn rơi theo gió nghiêng nghiêng. Người đã thề sống thề chết rằng chân trời góc bể, rằng tạc dạ sắt đồng, rằng sông mòn biển cạn, rằng đá vàng ghi tạc… bây giờ cũng đã vỗ cánh bay đi về hướng nào đó không còn thấy tăm hơi. Một sợi lông còn sót lại, tình cờ lóe sáng lên dưới ánh mặt trời xa lạ, như một tia chớp nhiệt đới rạch đôi con đường thành hai nửa khác xa nhau…

Bạn hỏi ta, sao phải vô lý thế, sao phải khác người thế, sao thế? Ta có biết được đâu! Ta sinh ra đã thấy cuộc sống như vậy rồi. Một bức tranh điêu tàn khổ sở, một tấm bản đồ rách nát, trong đó, ai cũng giành cho được về phía phần có lý. Ai cũng nghĩ mình có lý nhất, hợp lý nhất, vậy ai chấp nhận phi lý đây? Thôi ta xin nhận hết những điều vô nghĩa lý vậy, nhận hết về mình cho thế giới này bớt chông chênh nặng nhẹ, xem cuộc sống có cân bằng hơn chút nào không. Tất cả thế nhân xuôi ngược, tất cả thánh thần ngự trị, tất cả tượng đài lớn nhỏ mưu mô, kéo nhau về hết một bên đi, ta một mình chọn phía bên này, xem trái đất có ngừng quay không, có sụp đổ không!

Lẽ ra thì không nên nhiều lời đến vậy, nhưng ta sợ khi ta đi rồi nhân loại hiểu nhầm ta, rồi bịa ra những huyền thoại ẩm ương giả dối, nên đành nói thêm lần nữa, rồi thôi. Đất nước này ngập chìm trong những câu chuyện vàng mã trang kim giả dối vĩ đại quang vinh, đừng bịa thêm một truyền thuyết nào nữa hết, đừng dựng thêm một tượng đài nào nữa hết. Tất cả những tráng lệ nguy nga xương máu ấy sẽ sụp đổ tan tành vào một ngày nào đó, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Bạn cứ việc tin hoặc không tin. Còn ta, ta còn mải chạy theo cuộc chơi mình lựa chọn. Trưa nay, khi mặt trời đứng bóng, đám mây lơ đãng bay qua, ta lại bắt đầu chơi. Ta lại đánh đắm mình, để chính thức bước vào cuộc phiêu lưu mới trong thế giới nội tâm mong manh đứt đoạn. Ở đó, ta thực sự tìm thấy mình với đầy đủ góc cạnh, buồn vui, với đầy đủ câu chuyện, không mạch lạc, nhưng chính thức là của riêng mình!

Này, có ai chơi cùng ta một lúc không?


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, born 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A hand

A short thriller in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Lately it has been really weird. Each time I logged onto the computer, a hand from under the keyboard pleadingly blocked me from typing: Stop now, don’t, don’t write.

When I tried to type, the hand’s tone was firmer: you’re not listening, stop typing.

I would abandon the desktop computer for my tablet; still, the same hand from inside it pops out: Stop.

But if I stop here, then I will never be able to find out the origin of the hand. Whose hand had the goad to prevent, stop, begging, threatening, before anything was written, as though I was not there!

This morning, like any other morning, after logging on, I noted down a few random thoughts. Immediately, the hand popped out. I proceeded not to acknowledge it, pretending to be absorbed by what I just wrote, but really I was carefully studying it from the corner of my eyes. Gosh, the ghastly hand was hairy, not like any human hand!

As it turned out, there was a monster inside my computer? I turned it off immediately, and I took it to the computer repair shop. I tried my best to explain it as concisely and as straightforwardly as possible, but the computer technician had no idea what I was talking about. He snapped in the end. “So, basically there’s nothing wrong with the computer?”. I pleaded: “I just want  you to remove whatever it is from my computer, please!”. He took off his glasses, got off his chair, he lifted his arms in the air, rotating his shoulders deliberately and slowly in a long stretch sighing: “Tsk tsk, this guy is out of his mind…”. I knew he meant me, not that damn computer. Then he said: “Why don’t you take my computer home instead!”.

A new computer means fresh inspiration. I was excited with the possibility, ah, and of course more writing. But, as soon as the machine was turned on, the same hairy hand popped out, shaking its index finger. Its white hair was like optic fibres, if you look closely, you’ll see that it has a silvery shimmering hue, if you stare until your eyes are out of focus then it’s red like blood. Have you ever seen a hand like that?

I held my hand out to touch the soft fur, the hair was damp and cold as though it has been iced!

I tapped on the keyboard again, now its hand and my hands touched each other, our fingers were intertwined, caressing as though we were lovers. They tenderly spoke to each other, confiding in one another, they cleaned and trimmed each other’s nails, massaging each digit, exploring all of each other’s gaps and crevices, no different from those well renowned masseuses in town.

That resentful hand slips in and out as though it wanted to make love to my hand. As I came to this sudden realisation, the fear which was already there within me grew. Have you ever considered a lustful encounter with another hand? The thought of it makes me sick! Those fingers were openly caressing. They encouraged, made promises, tried to connect with my hands at all intimate levels, on the desk, in front of the computer.

Outside the earth and the sky, they were all in their rightful, peaceful place. The lush green leaves rustling in the gentle breeze. The clouds drifting, birds singing in the treetops. Thousands of things remain unchanged. In this particular ridiculous predicament, I was alone.

It felt as though something awful was about to happen: When all those hairy and or slippery smooth hands pop out to caress and hold onto each other, it means there’s a fall in self-worth as the result of my dark fate. I will never write again!

Out there the wind blew, clouds flew, birds sang and dogs barked, and I was here alone and confused. My pupils dilated, the characters on the screen becoming more and  blurry, they were fading – sea leojkư ặcặc belly button kongà.

Writer’s block was a common problem, and one of the symptoms of such a problem is self denial. These writers would walk around boasting about all the ideas they have but really they weren’t able to spit out a word sitting in front of their computer at home. They’re sure that, one day, their work will create an echo through the writing community, and one day they’ll get their Nobel Prize. My situation is a little different, the desire to write is there, but my hands are always busy doing other things other than writing!

Quiet, I took a sharp knife out of the kitchen drawer, I will chop off the hairy limb, and report it to the authorities; after that, whatever happens, happens. But by the time I arrived at the police station gate, it was gone. Annoyed, I threw away the knife, chucked the computer, and lay down on my back in the garden.

These days, I don’t know if there seem to be dark omens, monsters keep appearing, strange creatures everywhere.

It started with red tail vipers attacking some locals, then a sounder of feral swine goring eating people in another town. Rumours also of the sightings of elephants and cheetahs.

I wanted to write about what had happened, but now I’ve come to terms with these lustful hands each time I sit down and log on to the computer or put pen to paper! I was not sure how many dozens of laps of the backyard I did, not that it’s very big, back and forth as I stumbled over my footprints. Then there it was, an idea; I took a piece of charcoal with me to the middle of the courtyard, I sat down, I began to sketch, I practised how to relay a story without words.

I illustrated a bed of snakes slithering in a circle, in the centre, a wild pig with its jaw wide open, outside, an ambush of cheetahs baring their fangs. I also drew a human, the victim lying in the middle of the yard, all black and blue from the gnawing and poison. The Sun high illuminated all the animals and the human brightly. They moved, climbing atop each other, crawling away, taking steps, the human at the bottom dying, on the ground in a fit, mouth spitting blood and saliva, a hand reaching for the sky in a portrayal of injustice.

I’m an artist, a real potter, dripping in sweat, staring at my work. Where, where’s what I want to say? Not here. Only a nagging laden tale. I’ve accomplished nothing? I thought harder. That’s right, I’ll draw a hand, ah but no, that’s stupid, what if it would. I’m terrified of that hand! I illustrated a face instead, a gentle, happy, reflective, tolerant, generous, affectionate, steeped in love, meaning and bright etc. amidst a portrait of the agony of life, and see if that face will save us from all that pain.

When the human face appeared, immediately the snakes lowered themselves to the ground, quietly crawling away like May 5th. The wild pig lay prostrated as though severely maimed, the ambush of cheetahs’ ears drooped turned away. Aha, that’s how it should be, how life should be, there’s the truth, there’s the wisdom, goodwill shine, to brandish the evil, correct! I reward myself with a glass of cold water, reward a gifted storyteller who could still portray what he wants to say without the need of a keyboard nor pen. I drank the water as I waited for the natural laws of the universe. I waited forever, and the body still did not move. Hang on, wake up my friend, this life is very much worth living, evil won’t continue to torment. Wake up and look at those kind, generous eyes, there’s Buddha, there’s the almighty up high, Allah, stand up and live? But, the laws of the universe that I live and die by was useless. The dead body is still a dead body, laying bane-fully there, ignoring my pleads. I’ve failed as a writer. I hated that evil hairy hand. In the glaring high noon light, with a twinkle in his eye the beautiful face smiled. A sudden hatred overwhelmed me, there’s no point smiling when death is evident?  The more it sank in, the more I was filled with rage, I grabbed a cleaver and I logged on to the desktop. The hand popped out, the knife in one sharp movement, it severed and flopped around like a human hand. Die die!

Like a wife in a fit of jealousy cuts off her husband’s member, with relish, I picked up the severed hand and examined it still oozing blood. Out in the yard, there was a sudden scream like someone was impaled. I headed out (can you see the trouble I’m in!), saw the human face rolled up, in pain. Someone’s voice spoke amid the dry, hot day: “Give me back my hand!”. Who? Snakes and cheetahs can’t talk, there are only two people, one is dead, the other one smiling and screaming.

Alone I laughed under the midday sun, no one else in the house, disturbed by the laughter even clouds disappeared. I took the piece of charcoal, and drew once more a hand, beneath the human’s body, for that kind face, placing the hairy hand in the correct place. The hand belongs to him! Do you recognise it? I took a few steps back, stared. The face of God, Allah and Buddha glorious again, the revived hand-waved.

I abandoned writing altogether, not because I’m hindered by the hand. But because the secrets were exposed from the moment I lifted my cleaver.

Now without absolution believe in those compassionate, kind faces, even more, do not hate or resent those snakes and cheetahs. I’m suspicious now of the usual old tales.

Every day, I’m still in the front courtyard, hand holding a piece of charcoal, drawing redrawing, faces of monsters, faces of people, and the hands.

_____

Bàn tay

Những ngày này, lạ lắm, hễ mỗi lúc mở máy tính ra viết thì y như rằng có một bàn tay nào đó từ dưới bàn phím thò ra chặn, níu tay mình lại: Thôi mà, đừng mà, đừng viết nữa mà… Tôi lì lợm gõ phím thì bàn tay đổi giọng: Nghe không, không viết nữa…

Tôi bỏ máy lấy quyển sổ nhỏ ra ghi, y như rằng, bàn tay ấy từ trong quyển sổ thò ra: Thôi mà, đừng viết nữa mà…

Nếu thật đúng thế thì thôi, tôi sẽ không biết nữa, chỉ giả vờ mở máy ra gõ mấy kí tự ngớ ngẩn thôi, để làm gì, bạn biết không? Tôi sẽ rình xem bàn tay ấy, là của ai! Ai, đứa nào dám ngăn, dám cản, dám năn nỉ, dám dọa dẫm, trong khi, không viết gì, coi như tôi đã chết rồi.

Sáng nay, như thường lệ, tôi mở máy tính ra, xòe mười ngón tay khởi động trên bàn phím. Lập tức, bàn tay ấy thò ra. Tôi giả vờ như còn bận ngó vào màn hình, không để ý, nhưng tập trung quan sát rất kỹ. Trời ơi, bàn tay đầy lông lá, không phải tay người!

Hóa ra, trong máy tính của tôi, có một con quái vật đang làm chuồng làm tổ? Tôi lập tức tắt máy, vác ra tiệm sửa. Cố gắng trình bày ngắn gọn, dễ hiểu nhất, nhưng chàng thợ sửa máy vẫn không tài nào hiểu được. Cậu ta gắt: “Tóm lại là ông muốn gì?”. Tôi khẩn khoản: “Đuổi nó ra ngoài dùm anh với?”. Cậu gỡ hẳn cặp kính cận, đứng dậy vươn vai: “Chà chà, ca này nặng lắm rồi đây…”. Tôi thừa hiểu, câu này nhằm vào tôi, không nhằm vào cái máy tính chết tiệt. Cuối cùng, cậu chủ tiệm nói: “Ông lấy máy tôi về dùng xem sao!”…

Máy mới, ý tưởng mới, tôi hăm hở, tôi hào hứng, à, phải rồi, mình sẽ viết, sẽ viết, viết nữa. Thế nhưng, vừa mở máy, bàn tay lông lá lại thò ra giật giật, lắc lắc. Lông nó màu trắng như cước, nhìn kỹ thì long lanh như bạc, nhìn mãi đến hoa mắt thì đỏ như máu. Bạn đã bao giờ thấy một cách tay như vậy chưa?

Tôi thò tay rờ rẫm vào lớp lông mịn màng, hơi lạnh tỏa ra như ướp đá, kinh!

Tôi không gõ bàn phím nữa, bây giờ tay nó và tay tôi rờ rẫm, xoắn xuýt, vuốt ve nhau như tình nhân mới bén. Chúng chuyện trò thủ thỉ, tâm sự, chúng gãi vào móng, nắn nắn các ngón, miết vão các kẽ hở, không khác gì bàn tay của những cô thợ mát xa nổi tiếng ngoài thành phố…

Cái bàn tay lông lá đáng ghét ấy, nó mơn trớn quá đà như thể muốn làm tình với tay tôi. Khi ý nghĩ này xuất hiện thì tôi bắt đầu thấy hoảng. Bạn đã bao giờ tưởng tượng, cuộc thông dâm của những bàn tay chưa? Nếu có, thì kể ra cũng khủng khiếp nhỉ! Những ngón tay ấy mơn trớn và khiêu khích một cách lộ liễu. Chúng giao hoan, chúng hứa hẹn và thề bồi, cam kết với nhau đủ thứ, trên bàn viết, trước máy tính, sáng nay…

Thế mà, ngoài kia, trời đất vẫn thanh bình. Những hàng cây rì rào trong gió. Mây bay trên trời và chim hót trên cây. Vạn vật vẫn không hề đổi thay. Chỉ có mỗi mình tôi là rơi vào chuyện trớ trêu.

Tôi nghĩ, điều khủng khiếp đang dần lộ diện: Khi những bàn tay lông lá hoặc trơn nhẫy đưa ra nắm lấy nhau và ve vuốt, tức là đã có một cuộc ngã giá trên chính thân phận đen đủi của mình. Như vậy, tôi sẽ không bao giờ còn viết lách gì được nữa!

Ngoài kia gió thổi mây bay chim kêu và chó sủa, còn tôi ngồi, mặt đần ra như đang bị thôi miên. Đồng tử giãn ra, những ký tự nhòe dần, thế là hết, biển leojkư ặcặc rốn kongà…

Tôi vẫn thường nghe nhắc đến triệu chứng mất chữ ở các nhà văn, tức là khi ngồi cà kê thì chém rất ác, rằng sẽ viết nọ viết kia, đang viết nọ viết kia, mà về nhà thì một chữ cũng không rặn nổi. Họ vẫn đinh ninh rằng, một ngày nào đó, tác phẩm của họ sẽ gây ra một tiếng vang, giật giải nọ giải kia, trong khi, hàng ngày, họ không hề viết. Trường hợp tôi hơi khác một chút, muốn viết nhưng tay đang bận!

Tôi lặng lẽ vào bếp, trở ra với con dao thật bén, tôi sẽ cắt phăng bàn tay lông lá, rồi mang lên phường trình báo, sau đó muốn ra sao thì ra. Nhưng lên đến nơi, lại không thấy nó. Bực mình, tôi vứt dao, bỏ máy, ra sân dạo.

Dạo này, không biết có phải là điềm báo đen tối hay không, quái vật xuất hiện, tác quái khắp nơi…

Đầu tiên là rắn lục đuôi đỏ xuất hiện dày đặc ở đâu đó và liên tục cắn người, sau đó là một con hay một bầy heo rừng xuất hiện ở đâu đó húc và cắn người. Nghe đồn là voi rừng và hổ báo ở đâu đó, cũng sắp xuất hiện ở đâu đó …

Tôi muốn viết lại những câu chuyện ấy, theo cách của tôi, nhưng bây giờ thì chịu rồi, mở máy hoặc giấy bút ra là lại phải ngồi chứng kiến tay nọ làm tình với tay kia! Tôi dạo quanh sân không biết mấy chục vòng, như một nhà hiền triết đang nghiền ngẫm. Mà mảnh sân nhà tôi, đâu phải rộng rãi gì, đi tới đi lui lại dẫm vết chân mình. Phải rồi, tìm cách khác. Tôi lấy một hòn than, ngồi vẽ giữa sân, tập kể lại một câu chuyện mà không cần có chữ nghĩa…

Tôi vẽ một bầy rắn bò ngoằn ngoèo giữa sân theo một vòng tròn, ở giữa là một con heo rừng đang há mõm lồng lộn, bên ngoài, một bầy hổ báo nhe nanh. Tôi vẽ thêm một con người, là nạn nhân của bọn ác thú, đang nằm giữa sân, đen thui vì trúng độc, vì bị cắn. 

Nắng lên cao, soi rọi bầy thú và người. Chúng lay động, vờn nhau, trườn đi, cất bước, người nằm dưới chừng như sắp mất mạng, lăn qua, lăn lại, miệng trào máu hay bọt mép, bàn tay chới với muốn níu lấy trời xanh để giãi bày oan khuất.

Tôi, như một nghệ sĩ đích thực, như một bác thợ gốm, nhễ nhại mồ hôi, đứng nhìn tác phẩm của mình. Đâu rồi, điều tôi muốn nói đâu rồi? Chưa thấy. Mới chỉ là một câu chuyện nặng về kể lể, tả thực. Không lẽ xưa nay tôi mới chỉ làm chừng đó thôi sao? Tôi căng óc tính toán. Phải rồi, tôi sẽ vẽ thêm một bàn tay, à mà thôi, ngu quá, lỡ ra nó lại… Tôi sợ tay lắm! Tôi vẽ một gương mặt, hiền từ, phúc hậu, trầm ngâm, bao dung, độ lượng, trìu mến, ánh nhìn thấm đẫm yêu thương, lại nghiêm nghị, sáng láng vân vân vào chính giữa bức tranh đau đớn của cuộc sống, xem thử nó, cái mặt ấy, có cứu rỗi nỗi đau không…

Gương mặt người xuất hiện, lập tức lũ rắn cúi sát người xuống đất, lặng lẽ bò đi như vừa đến mồng Năm. Chú heo rừng nằm phủ phục như bị trọng thương, bầy hổ báo cụp tai ngoảnh mặt không dám nhìn. A ha, phải thế chứ, cuộc sống đấy, chân lý đấy, minh triết đấy, cái thiện sẽ tỏa bóng lên, cảm hóa cái ác, phải không!

Tôi tự thưởng cho mình cốc nước lọc, tự thưởng cho người kể chuyện tài ba không cần bàn phím và cây bút vẫn nói được điều mình muốn nói. 

Tôi vừa uống nước vừa đợi chờ cái quy luật vận hành quen thuộc của vũ trụ. Nhưng đợi mãi, vẫn không thấy cái xác người cựa quậy. Ơ hay, dậy đi mày, cuộc sống này đáng sống lắm, cái ác không hoành hành mãi được đâu. Dậy mà nhìn vào cái ánh mắt đầy trìu mến bao dung kia kìa, Đức Phật đấy, Chúa Trời đấy, Thánh Ala đấy, dậy mà sống đi chứ?

Nhưng, cái quy luật mà tôi cố sống cố chết bám lấy mà tin ấy, lúc này không còn tác dụng nữa. Cái xác chết vẫn là cái xác chết, nằm chình ình ra đó, mặc cho tôi lay gọi, động viên. Có lẽ là tôi thất bại rồi, viết không được, vẽ cũng không xong. Tôi buồn, tôi chán tôi lắm lắm. Đứa bất tài vô dụng! Tôi thù oán cái bàn tay lông lá chết tiệt đã ngăn đã cấm đã vuốt ve tôi. Nếu không có nó, thì tôi vẫn đang điềm nhiên ngồi viết, chứ có đâu ra nông nỗi này. Trong nắng trưa chói lóa, gương mặt người phúc hậu rõ ràng là đang nheo mắt cười với tôi. Tự dưng, tôi ghét lây cái nheo cười giả dối ấy, cười thì làm được gì, khi mà người bị rắn cắn kia không sống lại được, hỡi người?

Càng nghĩ, càng uất, khí giận bừng bừng, tôi nhặt dao lên chạy vào ngồi trước máy tính. Vừa lúc tôi xòe tay thì bàn tay oan nghiệt kia lại thò ra. Tôi mạnh mẽ cắt phăng một nhát. Nó rời ra, lăn lóc, như tay người thật. Cho mày chết! Như một bà vợ cuồng ghen vừa cắt con giống của chồng, tôi hả hê nhặt bàn tay còn dính máu lên nhìn. Ngoài sân, bỗng có tiếng kêu thét như người bị đâm, bị chém. Tôi nhào trở ra (bạn thấy tôi khổ không!), thấy gương mặt người đang nhăn nhó, đau đớn. Tiếng ai nói rõ ràng giữa ngày nắng khô: “Trả tay tao đây!”. Ai? Rắn rết hổ báo không nói được, chỉ có hai người, một đã chết, một đang vừa cười vừa khóc. Hay là… 

À, phải thế chứ, mày nhé, hèn gì. Tôi cười một mình, thật to, giữa trưa nắng, nhà không có ai… Tiếng cười làm đám mây đang điềm tĩnh bay qua trên đầu giật mình bỏ chạy. Tôi lấy hòn than, vẽ thêm một cái tay nữa, vào dưới thân người, cho cái gương mặt ấy, xong rồi đặt cánh tay lông lá vào đúng chỗ của nó. Đến đây, thì bạn đã tưởng tượng được chưa? Bàn tay ấy là của người ấy! Không hình dung được phải không? Tôi lùi lại vài bước, đứng nhìn trân trối. Gương mặt của Chúa Trời và Thánh Ala và Đức Phật tươi trở lại, cái tay đáng ghét giơ lên vẫy chào…

Rồi tôi bỏ viết, bỏ hẳn, không phải vì bàn tay quái ác kia ngăn chặn. Từ lúc tôi vung dao lên, mọi thứ đã thay đổi, đã lộ diện những bí ẩn mà trước đó tôi chưa lường được.

Bây giờ thì tôi không còn đinh ninh tin tưởng những gương mặt nhân từ, càng không căm ghét bọn rắn lục và hổ báo. Tôi hoài nghi luôn câu chuyện mà tôi vẫn thường kể lể trước đây.

Hàng ngày, tôi vẫn quanh quẩn trước sân, tay cầm hòn than, vẽ đi vẽ lại, gương mặt của ác thú, gương mặt của người, và những bàn tay./


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

There were only two people in isolation

A short thriller in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

Published on MasticadoresIndia :

“Short stories are tiny windows with vast, wonderful views. This short story offers an emotional and suspenseful view of an estate and two people in isolation. The reader is immediately drawn into the mysterious setting. Who are these two characters and what are their motives? A simple narrative with intriguing dialogue. The ending is definitely unexpected.” Terveen Gill

https://masticadoresindia.wordpress.com/2021/09/14/there-were-only-two-people-in-isolation/


THERE WERE ONLY TWO PEOPLE IN ISOLATION

I was at her doorstep on a Sunday morning, an estate at the end of a fading colourless dirt road leading into town. Completely dissipated was the mist, leaving the enormous courtyard frozen in an eerie icy chill.

She sat hugging her head. Lifted her head only to greet me as I entered.

“We are more than happy to have you join us in isolation,” she addressed me in her usual fractious manner.

She pulled out a piece of pork belly from the cooler. The piece she has left to rest in the cooler for the last ten hours as instructed. She can no longer recall the owner of the recipe for the marinade. It was written on a scrap piece of paper, the words now smudged and illegible.

“What do you think?” she asked.

“Looks good,” I replied, even though the piece of meat looked like human flesh, all wrinkly.

“It doesn’t smell great, right?”

“It looks fine,” I reassured her.

She grabbed a kitchen knife, and began to slice the meat.

The knife was so blunt it was impossible to make the smallest cut, “shit”, she snapped, “I can’t cut anything with this.”

I  rarely hear her swear. I can but recall her mainly singing từ công phụng, with a smile on her face as she tidied up around the house.

I asked her since I had wondered myself, how many Sundays has it been since the day she had started this meat cutting ritual? How long will she keep this up? How many Sundays have gone by, how many pieces of pork belly? Her children are now all grown up, and her husband’s ashes have been scattered on the estate around the lake.

She said: “Look, I can cut into it now, except the slices are not as fine as I’d normally like them.”

Since her husband’s death, she would regularly make the rounds to shut down the estate herself, collecting the donated cans of cold meats and vegetables by the gate. She said: “This is how I survive.”

She continued with another question: “We didn’t accidentally use the meat in the freezer, did we?”

“No”, knowing exactly what she was referring to as I replied, “someone is trying to harm us you think.”

She got up from her chair, retrieved a cigarette from the carton on the kitchen table, “Are you thinking of taking over the estate?” She asked.

I frowned: “What?”

“This place is like your second home,” she said. “Don’t worry, it’s just a silly thought in my head. I’ve not slept for a week.”

After she was done with the grilled meat, she also wanted a few slices of cucumber. 

“I’m craving bì today.” She is probably thinking of cơm tấm bì sườn(steamed broken rice served with shredded pork skin in roasted ground rice, grilled pork chop, and a slice of pork mince frittata).

I nodded: “I prefer chicken.”

She snapped, “You can still eat chicken if that’s what you want but all I can think about now is the pork mince frittata.”

That was when she sliced her wrist, the knife slipped off the pork belly cutting into her soft wrist as smoothly as it would her pork mince frittata.

The knife ended up on the kitchen tile.

“What happened?” I asked.

The blood spurted from her wrist as though it was coming out of a hose. She looked down, and stared at her numb wrist.

“I think I’ve cut my wrist,” she said quietly.

“It’s okay”, I reassured her, “Let me help you.”

She shook her head. “You just need to find me a bandage.”

Quickly, I left the kitchen to look for a bandage. Her house was scattered with carton boxes full of what only heaven knows. But in her bedroom was an object that really caught my eye. It lay across her bed. A rifle nearly as long as the mattress.

Perhaps it’s her husband. It was well known that he was a hunter. There was a single flashing of a bullet shell in the room. Why did she take the gun out of its box and leave it on her bed? By the time I returned to the kitchen, her wrist had stopped bleeding, no longer needing bandaging. I watched her as she continued to slice the pork belly. Not knowing how much pain she had endured. All these years by her side, I have never truly got to a point where I could fully grasp the extent of her pain. She dropped to the ground onto her knees, still holding onto the knife.

“Come”, she beckoned.

She hugged me as tightly as she thought it was possible.

Within the estate in isolation, there were only two people, but there were three urns of ashes, because after some time, they found the third urn that used to contain her husband’s ashes…

[August 2021]

KHU CÁCH LY CHỈ CÓ HAI NGƯỜI

Vào sáng Chủ nhật, tôi đến chỗ của nàng trong một trang trại đất bạc màu ở cuối con đường đi vào phố huyện. Sương đã tan hết, cả một khoảng sân lớn đang rùng mình.

Nàng đang ngồi với hai tay ôm đầu. Nàng ngước lên khi tôi bước vào.

“Rất vui khi bạn đến tham gia khu cách ly cùng chúng tôi,” nàng nói với vẻ mặt cau có như thường lệ.

Nàng lấy một miếng thịt heo từ ngăn đá. Nàng đã ướp lạnh nó mười giờ theo một công thức để chế biến. Nàng không nhớ người đã nghĩ ra công thức ướp. Nó được viết tay trên mẩu giấy cũ đã bị nhòe và bây giờ khó ai có thể đọc được.

“Bạn thấy nó thế nào?” nàng hỏi.

“Tốt thôi,” tôi nói, mặc dù miếng thịt lúc này giống như một miếng da người, nhăn nheo.

“Nó không thơm, phải không?”

“Không sao đâu,” tôi nói.

Nàng lấy ra một con dao, bắt đầu cắt thịt.

Con dao cùn đến mức nàng không cắt được, “chó thật”, nàng nói, “em hết muốn cắt cái gì nữa.”

Nàng ít khi chửi rủa điều gì. Tôi vẫn nhớ những lần nàng đi quanh phòng với một động tác nào đó, hát từ công phụng và sau đó mỉm cười.

Tôi tự hỏi nàng đã thực hiện nghi lễ cắt thịt này trong bao nhiêu ngày Chủ nhật? Nó sẽ được kéo dài cho đến khi nào. Trong bao nhiêu ngày Chủ nhật đã qua, nàng đã cắt bao nhiêu miếng thịt? Cho đến tận bây giờ, khi những đứa con nàng đã lớn và chồng nàng cũng đã thành một hủ tro được rải quanh bờ hồ trang trại.

Nàng nói: “bạn xem này, bây giờ em đã cắt được, chỉ có điều không được mỏng cho lắm.”

Từ khi chồng nàng chết, nàng thường xuyên đóng cửa trang trại, chấp nhận những mẩu thịt đông và các món rau củ đóng hộp. Nàng nói: “Nó giúp cho em sống sót.”

Câu hỏi tiếp theo của nàng là: “Chúng ta không vô tình sử dụng món thịt đông lạnh, phải không?”

“Không,” tôi nói ra vẻ hiểu biết, “có ai đó ám hại chúng ta.”

Nàng đứng dậy, rút một điếu thuốc, “Bạn nghĩ rằng bạn muốn sở hữu trang trại này a?” Nàng hỏi.

Tôi nhíu mày: “Cái gì?”

“Đây là ngôi nhà thứ hai của bạn rồi,” nàng nói. “Đừng bận tâm, nó chỉ là những suy nghĩ kỳ quặc của em. Cả tuần nay em không ngủ.”

Khi làm xong món thịt nướng, nàng muốn có thêm mấy lát dưa leo.

“Em nghĩ rằng hôm nay em thèm cả bì nữa.” Chắc nàng nhớ món cơm tấm bì sườn.

Tôi gật đầu: “Tôi thích thịt gà hơn.”

Nàng càu nhàu, “Bạn cứ ăn thịt gà nếu bạn muốn nhưng em đang nghĩ đến bì chả.”

Đó là khi nàng tự cắt vào cổ tay mình, con dao trượt ra khỏi miếng thịt và lướt trên cổ tay mềm mại như bì chả của nàng.

Con dao rơi xuống sàn.

“Chuyện gì xảy ra thế?” Tôi hỏi.

Máu phun từ cổ tay nàng như vòi. Nàng cúi xuống, nhìn cánh tay mình đang tê liệt.

“Em nghĩ em đã tự cắt cổ tay mình,” nàng nói nhẹ nhàng.

“Không sao đâu,” tôi nói, “Tôi có thể giúp.”

Nàng lắc đầu. “Bạn chỉ cần lấy cho em một miếng băng keo.”

Tôi lao ra khỏi bếp, đi tìm miếng băng keo. Nhà nàng đầy những chiếc hộp giấy các-tông mà chúng chứa đựng những thứ có trời mới biết. Nhưng có một thứ đập vào mắt tôi khi tôi đi vào phòng ngủ của nàng. Nó nằm trên giường nàng.

Một khẩu súng dài gần bằng tấm nệm.

Có lẽ đó là của chồng nàng. Anh ta nổi tiếng là một thợ săn. Một vỏ đạn lấp lánh trong phòng. Không biết sao nàng lại lấy súng ra khỏi hộp và để nó trên giường.

Khi tôi quay lại bếp, tay nàng đã cầm máu nên không cần băng bó nữa. Tôi nhìn nàng đang cắt thêm thịt. Cũng không biết là nàng đau đến mức nào. Bao nhiêu năm bên cạnh nàng, tôi vẫn chưa bao giờ biết nỗi đau của nàng đến mức nào.

Nàng quỳ xuống, tay vẫn cầm con dao.

“Đến đây,” nàng nói.

“Chuyện gì vậy?” Tôi hỏi.

Nàng ôm lấy tôi, siết chặt lại hết mức có thể.

Vậy là trong khu cách ly dù chỉ có hai người nhưng có ba hủ tro, vì sau này người ta lại tính luôn cả hủ tro của chồng nàng…


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

There’s a star lighting a fire

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Time was detached from absent smiles. Even faded were footprints on their familiar paths. Everything was gone except for the tired laugh, laughing at the world. Gathering all the innards, gut, for a journey inward, to look for a flame that was lost long ago. Ends up with a long adventure up a mountain, scampering for bits of wood for a fire, hot enough to warm the afternoon. The mountain’s strained laughter, pointing at the ageless forest: There’s plenty of wood, but there’s no source for the fire, even if there’s a source, it’s not something you can borrow! Hence, one can only ignite oneself, so be it; it’s late.

How could I relay a good story when absent was a happy melody in my heart? How could I tell a sad story when absent were the tears in my eyes? All words have an impression of the writer’s hand; a poet had said that. The word of the writer is tender and passionate, the word of a journalist is investigative, the words of the fishmonger are fishy and jumpy full of scales, the words of the salesman are full of sweet deceit, word of the monastery is pot luck.

When one lights a fire, our words are the billows of the smoke of ancient crockery, the scent of charred crisp rice and salted fish. I was confident in my flame. The mead was as bright as day, clear through and through. I spoke like a child for the first time: Hey, night sky, will you let me borrow the North to light a fire, so I could continue the rest of this epic journey! Generously the night nodded. Lighting my fire, I chose a star named after a heroine from long ago in folklore. From here, one would step off, barefoot, hands warm, and for sure, the story will be cheerful and lovely.

Let me tell you a story about a guardian angel. In truth, it’s only a wish, a dream on a very long, endless path. I was born in an open meadow, without a peaceful place to rest my spirit. I was constantly searching, constantly begging and borrowing this and that, to light fires that could invite laughter to warm the night, with a blanket of dew for extra warmth, to shorten the road, to ease the heart, so my hands were less cold, feet less restless. When there was a star lighting the way, scattered were the verses to entertain the words. Intertwined were the vowels and consonants, as they danced and laughed.

Tonight, at the end of the meadow, the lonely mountain welcomed me with a brilliant light. But then, so what, I told you about the person who had walked in the rain, who ended up with a scar on his heart, have you forgotten already? That scar is now the past, it has sunk to the bottom of the eye of time. She messaged: “Don’t tell sad stories anymore, my love!”. I’m happy, why would I want to tell a sad story? That star and that sky, those clouds and those storms, in the middle of them was the summer moon shaped like the spine of a leaf, and at the other end was a shiny corona of stars. I stroll easily into the cold night, I try to forget the bitter tears of living, listening to the crickets play their song through the reeds. That pure, bright, familiar sound could brighten an owl’s dull eyes, making the stars forever change their place, and light up the boundless sky.

It’s late, the crickets were now fast asleep their chirping fell lower, amongst the reeds. The amber rays of dusk at the end of the horizon also fell into the cool clouds. Left behind were the stars, playfully calling upon each other, overwhelming the summer sky. Those round brown eyes must now also be fast asleep, mid-giggles, there and then not. A star was startled before it fell to the centre of the mead, its bright tail was like a radiant, youthful smile. The star of that fateful heroine was now lost somewhere at the end of the Milky Way, burning with love but forever far away. I heard the wind, talk of a storm coming from a distant land. But all shall be fine; I will light a fire, I will prepare and be ready for the long road ahead, as long as there was no small angelic star, shimmering in the night.

I called for the night hauling with its verses. When the last flock of birds sank into the serene darkness, I’ll continue on my way, with the help of an imagination brimming with the taste of enchantment. Tiptoeing like a night owl peering at the end of the horizon, I saw the West spine of Mount Chư Mang in flames. One step away was another measure of yearning, let alone the idea of our land and rivers turning fresh a few degrees. I rubbed my eyes and chose a higher place to look. A surge of pure white clouds engulfed the sky like a blank page of a journal, never once with a written word of love or promise. Outside the edge of the grass plain, a thunderstorm was playing a game of chase, racing after each other with their hands soaking wet, freezing. The thought of hands, made one’s hands squeeze harder like those small warm, beautiful hands that had once warmed my heart not so long ago. Within the unconsciousness, one hand-held another, I call out: Hey, are you not a part of me!

Often we were tricked by our senses, and a flame burns across the spine of the mountain, the flame we just saw, in reality, was the sorcerous light of a waxy moon piercing the clouds, trying to wrap a blanket of gold and silver fire around the world. In my life, I’ve often come across deceit, but never by the changeable mood of the moon, out of boredom! Did I ask, why…? But the moon was far now, suddenly or deliberately hidden behind a plumb cloud heavy with water. There were the long anxious days when I initiated a troop of gibbons from the mountain to empty Kroa spring, looking for the moon. A soul lost, sleepwalking, without any cause nor reason busy trying to live. Oh well, already delusional you may as well be delusional to the end, to have loved you may as well love to the very end. Tonight, the guardian angel star was absent in the night sky?

Where I sat, a thunderstorm with the image of the night pulled across the horizon. The parliament of owls was hoarse from calling after each other and hid in the hollows of trees. I poke my hand out the door, asking about the coming rain, as it poured a thousand lakes in passing. The rain immediately ceased in the dark without a scent — the chaotic banging of leaves and branches kept at it right into the night. The thunder rolled around over the reeds, and the clouds chased after the rumble. Hey, was there anyone waiting at the end of the mead, why were you all in such haste? It’s late; I will light a fire now — the part of me on this one path; an epic chase of boundless words, as boundless as destiny. I shall tell you what will happen on the road ahead, the vast meadows, mountains, and rivers I will pass through, with a guardian angel star over my head, and a warm flame dancing in my heart.

[Edited July 2022]

Có một vì sao thắp lửa

Những tháng ngày xa nụ cười đi vắng, dấu chân cũng đã phai mờ trên nẻo đường thân thuộc. Nhiều lúc chỉ còn lại tiếng cười mệt mỏi chế nhạo nhân gian. Vén hết ruột gan không còn thấy ngọn lửa năm nào. Đành tìm đường lên núi xa xăm, mượn một ít củi lửa đem về đốt cho chiều ấm lại. Núi cười ngặt nghẽo, chỉ tay về phía mênh mông nguồn cội: Củi thì nhiều đấy thôi, nhưng lửa thì không có, có cũng không cho mượn được! Vậy thì đành tự đốt cháy mình lên, đến đâu hay đó, chiều rồi.

Làm sao để kể một câu chuyện reo vui nếu trong tim bạn không có những nốt nhạc long lanh? Làm sao để kể một câu chuyện buồn nếu ở khóe mắt mình không có một phần tư giọt nước mắt? Chữ của ai đều có dấu vân tay của người đó, một nhà thơ từng nói thế. Chữ của nhà văn yếu mềm thao thức, chữ của nhà báo xông xáo kiếm tìm, chữ của bà bán cá tanh lừng nhớt vảy, chữ của nhà buôn xiên xẹo lọc lừa, chữ của nhà chùa hên xui ráng chịu…

Khi ta đốt lửa lên rồi, chữ của ta có mùi khói bếp cố hương xa ngái, có mùi thơm của cơm cháy cá kho. Ta tự tin với ngọn lửa của mình. Thảo nguyên sáng như ban ngày trong suốt. Ta nói bằng giọng trẻ thơ nói lần thứ nhất: Này nhé, trời đêm, cho ta mượn vì sao phương bắc, để ta thắp lửa lên, rồi đi nốt cuộc hành trình! Bầu trời rộng rãi gật đầu. Ta chọn vì sao có tên của một thánh nữ trong truyền thuyết xa xôi rồi vung tay đốt lửa. Từ đây, ta bước đi, chân trần, tay nóng, và câu chuyện chắc chắn sẽ reo vui…

Ta đang kể cho bạn nghe về ngôi sao thiên thần hộ mệnh. Thực ra, đó cũng chỉ là ao ước, là giấc mơ giữa con đường thênh thang hun hút. Ta sinh ra giữa trần trụi thảo nguyên, không có một chốn an nhiên cho linh hồn nương tựa. Ta cuống quýt tìm cái nọ mượn cái kia, rồi đốt lửa lên rủ tiếng cười giòn giã bay về sưởi ấm trong đêm, để sương rơi đỡ lạnh, để đoạn đường bớt dài, để tim bớt mỏi, tay bớt lạnh, chân bớt hoang vu. Khi có một vì sao thắp lửa, gieo vần nào thì con chữ cũng reo vui. Những nguyên âm phụ âm quấn quýt lấy nhau, nhảy múa reo cười…

Đêm nay, ở một nơi nào đó phía cuối thảo nguyên, núi lạ đón ta bằng chớp nguồn lóe sáng trong đêm. Nhưng có hề gì, ta từng kể cho bạn nghe về một người đi trong mưa nguồn chớp bể, cuối cùng chỉ để giữ một vết sẹo trong tim, bạn còn nhớ nữa không? Vết sẹo ấy giờ đã là quá khứ, đã chìm sâu đáy mắt thời gian. Bé yêu nhắn gửi: “Đừng kể chuyện buồn nữa!”. Chắc chắn rồi, ta đang vui sao lại kể chuyện buồn? Ngôi sao ấy và bầu trời ấy, đám mây ấy và cơn mưa ấy, đã đủ để cho núi bớt hoang vu. Thảo nguyên mùa này lạ lắm, phía đầu là cơn mưa, ở giữa là trăng hạ huyền như chiếc lá, đầu kia là vùng sáng thiên di của những vì sao. Ta dạo bước giữa đêm đen mát rượi, quên đi những được mất đắng đót hay ngọt ngào của kiếp làm người, để lắng tai nghe lũ dế chơi đàn trong đám cỏ. Những âm thanh trong trẻo quen thuộc ấy cũng có thể làm cho mắt cú sáng lên, làm cho những vì sao liên tục đổi ngôi, cháy sáng ngang trời.

Khuya lắm, bầy dế ngủ quên đánh rơi tiếng đàn véo von vào trong cỏ. Những tia chớp rơi thẳng xuống phía chân trời rồi chìm vào mây lạnh. Còn lại những vì sao sáng quây quần gọi nhau về đứng chật kín trên đỉnh trời mùa hạ. Mắt biếc giờ này chắc đã ngủ say cùng tiếng cười tinh nghịch có có không không. Thỉnh thoảng có một ngôi sao giật mình rơi vút giữa thảo nguyên, vệt sáng kéo theo như dấu vết nụ cười thanh xuân rạng rỡ. Ngôi sao hộ mệnh mang tên một vị thánh xa xôi giờ này chắc cũng đã lạc bước đâu đó cuối sông Ngân, cháy lên ngọn lửa yêu thương nhưng muôn trùng xa cách. Ta nghe từ trong gió ở xa về những bão giông sắp sửa. Nhưng rồi cũng không sao, ta đốt lửa lên rồi, sẵn sàng cho con đường xa ngái, miễn là có một ngôi sao nhỏ thiên thần, lấp lánh trong đêm.

Ta đợi bóng đêm về mang câu chữ về theo. Khi đàn chim cuối cùng chìm vào bóng đêm trên bình nguyên sẫm tối, ta lại tiếp tục hành trình, với sự trợ giúp đắc lực của trí tưởng tượng chứa chan mùi vị liêu trai. Ta kiễng chân cú đêm ngó sang phía cuối trời, thấy sườn tây của núi Chư Mang đang bạt ngàn lửa cháy. Ta xa một bước là nhớ thương một bước, huống chi núi và sông đã hóa thịt xương mấy độ. Ta dụi mắt, chọn một chỗ đứng cao hơn để nhìn về cố quận. Chòm mây trắng vắt ngang trời lặng lẽ như một trang nhật ký bỏ trống, chưa hề viết một yêu thương hay một hứa hẹn nào. Bên ngoài rìa đồng cỏ, những cơn giông đang chơi trò cút bắt, đuổi nhau chạy vòng quanh với bàn tay ướt nhẹp, lạnh buốt. Nhắc đến bàn tay, tự dưng bàn tay bóp mạnh, như cảm giác ngày chưa xa mượn bàn tay ấm áp nhỏ xinh sưởi ấm trái tim mình. Rồi trong vô thức, tay nọ nắm chặt tay kia, ta gọi: Mình ơi!

Có nhiều khi ta bị thị giác đánh lừa, vệt lửa cháy ngang sườn núi ta vừa thấy thực ra là ánh trăng ma quái xiên qua đám mây rải lửa vàng lửa bạc xuống nhân gian. Đời ta, gian dối lọc lừa đã gặp nhiều, nhưng chưa bao giờ bị một vầng trăng tráo hình đổi dạng, chỉ để vui thôi! Ta nói, tại sao lại… Nhưng trăng đã ở xa rồi, lại tình cờ hay cố ý trốn vào đám mây mọng nước. Có những ngày dài nông nổi, ta từng xúi bầy vượn trên núi xuống tát cạn suối Kroa để tìm cho được vầng trăng. Một kẻ mộng du vô tích sự lạc loài giữa nhân gian xớn xác áo cơm. Đành vậy, đã ảo tưởng thì cho đến tận cùng ảo tưởng, đã yêu thương thì đi cho tận cuối yêu thương. Đêm nay, ngôi sao thiên thần hộ mệnh không thấy thắp sáng bên trời?

Có một cơn giông mang gương mặt bóng đêm đang kéo nhau đi qua nơi trọ của mình. Bầy cú đêm khản giọng gọi nhau trốn kỹ vào hốc cây. Ta chìa bàn tay ra ngoài ô cửa, hỏi hạt mưa về muôn dặm hải hồ bạn vừa đi qua. Hạt mưa tan ngay trong bóng đêm không mùi không vị. Tiếng lá cây đập hoảng loạn vào đêm. Sấm cuộn tròn lăn trên cỏ, mây đuổi theo tiếng sấm. Này, có ai đợi ở cuối thảo nguyên không, mà sao đi nhanh thế? Khuya lắm rồi mà… Ta lại đốt lửa lên đây. Một mình một cõi, theo đuổi một cuộc chơi chữ nghĩa vô bờ, như là định mệnh. Rồi ta sẽ còn kể cho bạn nghe đoạn đường phía trước mặt, nơi thảo nguyên núi sông trùng điệp ta sẽ đi qua, với một vì sao hộ mệnh trên đầu, và một ngọn lửa ấm nhảy nhót trong tim.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: