Mixed up

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I still believe, at the end of an ocean, a horizon someone is waiting for me. I’ve been to many places quietly wishing never knowing when we may meet again. Though in the end, I would return, return to this familiar seat of mine. The day you left, I was despondent. I admit it to myself many times like that, as in dreams. Where you sat next to me, another person now sits. A different face, a different smile, a different voice, a different hand, a great love, yet still I’m in a state of confusion, this is just another person, just another friend?

I have been confused for a length of time in my youth. Confused that this is red and that is yellow, this will be for many years and that forever. In the end, I finally admit, painfully through a pathetic smile, that I accepted it before I left.

Still, I continue to be in this state of confusion. See here, next to me is where you sat, where you usually sit.

You have appeared next to me, as a sweet young student, you sat down timidly, eyes wide peering into the distance in search of an autumn song. I was confident, so I ignored you. Here I’ve sat; first, anyone could be witnessed. I also knew, ever since you came, where we sat became warmer, palms warmer, slowly warmer the conversations.

Still, as sudden, as when you came, you left on a day I no longer remember. The person replacing you has a different smile to you, different colour hair, but still, I couldn’t accept it. I continued to ramble on about myself, about the wild time on that desolate far off place on mount Chư Mang!

The readers are tired and sick of this common repeating confusion in all the dramas, in all the literature. I’m the same. Only those without talent would repeat such old and worn out times. But, now and then, heaven and earth are inspired by a display of awkward confusion, in amusement.

Until that stupefied moment when I discovered the person just arrived is not you. I was confronted with the painful choices: to stand up and step away from the stranger, or to continue to see here, this person, is a friend of mine, a friend of mine?

The light now low, late in the afternoon, to stand, to leave when the reeds are falling asleep, the mountains and rivers tinge in the colour of the meadow. But to see the person sitting next to me as a friend is too painful! Unheard of the eyes, the lips, the voice, not right, not sound.

The eyes just arrived are coloured with strings of clouds laden with moisture, trilling laughter like a mermaid in Năng river!

What could we do?

The new person drew a heart on the blackboard and said, “there, there’s the heart!” I said, “no, that’s not it!”

The new person drew a smile rolling on the grass then said, there, there’s the smile! I shook my head vigorously.

The new person painted a rolling teardrop, sobbing, “there; there’s a tear!”

I stood up to walk away. The new person broke down in tears. I turned to her, firmly said, “that’s enough, stop crying; it’s too late!”

Liken to a high school infatuation; you think that it’s okay?

I’m unsure. Confusion now and then often leads to conflicting views him saying this, and she said that. What I imagine as everyday happenings have long been absent, the images next to me are not of those that I yearn for and love!

There are long days when burdened with the feeling that upon me are the eyes of the whole human race, it’s true! All those close in my family, friends, those beneath, those above, all the levels of management levelly consistently at once eyes wide open followed me. I continue to sit here; back bent like a branch counting each of its leaves, counting every character to draw an ever ending tale. But no one knows, a long time has passed since I left. The person sitting here is no longer me! Is there anyone like me, absent from the very place I sit, exiled right inside the tale I’m conveying? 

I’m not alone, an overcrowded generation out there, unbeknown, also for a long time now exiled, lost their heritage, left their homes forever. Even, an entire nation exiled, and nothing is strange about this? Though I don’t want to say for sure. Every day, I continue to sit here, sure of my position, drafting, writing. You’re far gone long ago, left as well as the laughter. The new person arriving is not you, and I’m not me, but that’s not a problem, everything will eventually depart, always.

In the end, left are the remnants of pale human shadows. Where I sit, the place is mine, the seat next to me is yours, no not so, it belongs to the person who just arrived. You’ve left, I’m also gone, so the person just came, the person just arrived too.

None of this matters any more, let’s be on our way.

[November 2018]

Nhầm lẫn

Tôi vẫn tin rằng có ai đó đang đợi tôi ở cuối chân trời góc bể. Tôi đã đi rất nhiều nơi với mong ước âm thầm biết đâu rồi sẽ gặp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi trở về đây, về với chỗ ngồi quen thuộc của mình. Từ ngày bạn bỏ ra đi, tôi đã rất buồn. Tôi tự thú nhận với mình nhiều lần như thế, cả trong mơ. Chỗ ngồi của bạn, ở bên cạnh tôi, có một người khác đến ngồi. Một gương mặt khác, một nụ cười khác, một giọng nói khác, một bàn tay khác, một tình yêu khác, nhưng sao tôi cứ nhầm lẫn hoài, đó vẫn chỉ là một người, vẫn là bạn mà thôi?

Tôi đã nhầm lẫn trong một thời gian dài tuổi trẻ. Nhầm lẫn cái nọ màu đỏ cái kia màu vàng, thứ nọ muôn năm thứ kia mãi mãi. Cuối cùng, tôi đã dứt khoát nhận ra, đau đớn nhận ra và mỉm cười ngạo nghễ bỏ đi.

Vậy sao bây giờ tôi lại tiếp tục nhầm lần được. Này nhé, chỗ bên cạnh tôi là chỗ ngồi của bạn, bạn vẫn thường ngồi…

 Bạn đã xuất hiện bên cạnh tôi, như một cô bé học trò xinh xắn, rụt rè ngồi xuống, mở to mắt ngước nhìn xa xăm tìm câu hát mùa thu. Tôi tự tin không thèm để ý. Chỗ này tôi ngồi trước, ai cũng xác nhận thế rồi. Vậy nên tôi mải mê với câu chuyện của mình. Tôi cũng biết rằng, từ khi bạn đến, chỗ ngồi của chúng ta ấm lên, bàn tay ấm lên, câu chuyện cũng ấm dần lên…

Thế nhưng, cũng bất ngờ như khi đến, bạn ra đi vào ngày nào đó tôi không còn nhớ. Người thay thế bạn có một nụ cười khác, một màu tóc khác, nhưng tôi không nhận ra. Tôi cứ mãi huyên thuyên câu chuyện của chính mình, về những trò nghịch dại trên núi Chư Mang xa xăm hoang vắng!

Bạn đọc hẳn đã quá nhàm chán với những tình huống nhầm lẫn quen thuộc đến phát ớn trong các vở kịch, trong các tác phẩm văn chương. Tôi cũng thế. Chỉ có những tay viết bất tài mới lặp lại tình huống cũ rích này. Nhưng, đôi khi, đất trời cũng nổi hứng đặt bày oái oăm nhầm lẫn, cho vui…

Đến khi tôi bàng hoàng phát hiện ra người mới đến không phải là bạn thì mọi sự đã rồi. Tôi đứng trước lựa chọn đau đớn: Hoặc đứng dậy bước đi trước một người xa lạ, hoặc tiếp tục coi đây, người này, là bạn của tôi, là bạn của tôi!

Nếu đứng dậy ra về thì nắng đã xế chiều, thì lau lách đã đìu hiu, thì núi sông đã nhuốm màu quan tái. Nếu coi người vừa ngồi cạnh mình đây vẫn là bạn thì, khó khăn lắm! Mắt ấy, môi ấy, tiếng hát ấy, không phải, không đúng, không quen…

Màu mắt mới đến vừa có một đám mây giăng ngang mọng nước, tiếng cười lảnh lót như nàng tiên cá dưới sông Năng!

Biết làm sao được?

Người mới đến vẽ một trái tim lên bảng đen rồi nói, đó, trái tim đó! Tôi nói, không phải đâu!

Người mới đến vẽ một nụ cười lăn trên cỏ rồi nói, đó, nụ cười đó! Tôi lắc đầu quầy quậy. 

Người mới đến quẹt một giọt nước mắt vừa lăn, nức nở nói, đó, nước mắt đó!

Tôi đứng dậy định bước đi. Người mới đến khóc òa lên. Tôi ngoảnh lại, cả quyết nói, thôi được rồi, đừng khóc nữa, chiều rồi!

Như một tình yêu tuổi học trò, bạn nghĩ thế, phải không?

Tôi không dám chắc đâu. Sự nhầm lẫn đôi khi dẫn đến tình trạng ông nói gà bà nói vịt xảy ra thường xuyên. Cái mà tôi tưởng chừng vẫn thường xuyên hiện hữu thì hóa ra lại vắng mặt lâu rồi, hình ảnh tôi đang thấy bên cạnh mình thì lại không phải là điều tôi vẫn yêu thương và tưởng nhớ!

Có những ngày dài, tôi mang cảm giác rằng cả nhân loại đang dõi mắt nhìn tôi, thật đấy! Những người thân trong gia đình, bạn bè, cấp dưới cấp trên, các tầng bậc quản lý trùng trùng lớp lớp đều mở to mắt nhìn theo. Tôi thì vẫn ngồi đây, khom lưng như một cành cây đếm từng chiếc lá, đếm từng ký tự để vẽ ra câu chuyện muôn trùng. Nhưng tất cả đều không biết rằng, từ lâu tôi đã ra đi. Người ngồi đó không còn là tôi nữa! Có ai như tôi không, tha nhân ngay chính chỗ mình ngồi, vong thân ngay trong câu chuyện mình đang kể?

Không chỉ riêng mình tôi đâu, cả một thế hệ đông đúc chen lấn ngoài kia, biết đâu, từ lâu cũng đã vong thân, mất gốc, bỏ xứ ra đi biền biệt.Thậm chí, cả một dân tộc đã vong thân, điều đó có gì lạ không? Tôi không dám chắc đâu. Hàng ngày, tôi vẫn ngồi đây, yên tâm với vị trí cũ, và vẽ, và viết. Bạn đã bỏ đi biền biệt lâu rồi, đến cả tiếng cười cũng bỏ xứ ra đi. Người mới đến không phải là bạn, còn tôi thì đích thực không phải là tôi, nhưng có sao đâu, mọi thứ rồi sẽ cứ ra đi, trùng trùng lớp lớp.

Cuối cùng, chỉ còn lại những bóng dáng nhạt nhòa của hình nhân ở lại. Chỗ tôi ngồi đây, là chỗ của tôi, chỗ bên cạnh là của bạn, không phải, của người mới đến. Bạn đã bỏ đi rồi, tôi cũng đã ra đi, rồi người mới đến, người mới đến cũng đã…

Nào, tiếp tục lên đường…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

a dream in red

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

A Dream In Red

I live under a red sky. The birds perched on red branches, the songs were red, the poems were red. What had dyed us red? No idea! My mother said: It’s blood!

It slipped my mind, it had also slipped your mind, we all thought the trees were green, and the clouds were supposed to be white. Wrong, everything was a blazing red colour. Our sense of sight had tricked us.

My younger brother called me last night, he was screaming: “Bro, it’s after me, I’m scared!”. I said: “Calm down, what does it look like!”. “Not sure if it’s a man or a woman, but it’s red, it’s definitely red!”. O god, my baby brother was having a nightmare! He kept having these dreams where some kind of red entity was chasing after him. There’s no way to stop it, these bizarre dreams? “He told my parents, but no one believed him, they said he was suffering from some kind of mental breakdown!” – He’s always anxious, before falling into an exhausting sleep.

I’m retelling a story about colour, like an artist painting a portrait in red. Don’t just rush into any kind of rash conclusion; it would be deplorable if it’s this or that!

You’re allowed to wear dark glasses and howl: “Mother …, what is this inky darkness!”. Poor people were allowed to line up to receive their portion of rice and at the same time look up at the fireworks to proclaim gleefully like a child: “Wow, life is beautiful!”

Everything unravelled, just like that.

Mother messaged just then: “Your brother just woke up, mumbling blood, blood…”.

I don’t know what I was thinking, but I bought my brother a pair of dark glasses anyway. But my mother rang one day and said, we don’t need them anymore. I’ve sent him to the monastery. Hopefully, learning about Buddhism may help with his delusions. I thought, how comforting! But the next day, my brother called, crying and rattling on and on about all sorts of stuff. He said: “That old man of the cloth, he’s not a monk, he’s not a saint, all day he taps on a gong and meditates. He’s old, he’s ancient, and his body is crusty with sores, and he makes me scratch them all the time, always complaining, don’t scratch there it’s sensitive. I said it’s sensitive everywhere, how should I scratch you? Instead of replying, he punched me right in the mouth…”

My brother won’t be coming home for the new year this new year. He said over the phone; I have to stay back to wash the monk’s clothes. “His clothes were red, not sure what was used to dye them but the water was still red after several washings, it makes me gag every time, but I have to wash them!”. I said, just come back to the farm, we’re a family, brother, together we can figure out anything. If we have veggies we’ll eat veggies if we have congee we’ll eat congee. He didn’t answer, but instead he sang an old song about the colour red.

I called my mother and repeated the entire incident. My mother was quiet for a while, before she said quietly: “Son, what are you talking about, you’re scaring me! Your brother is dead!” Gosh, then who have I been talking to every night on the phone? Who?.

Mother said: “Oh, they call me more than half a dozen times every night, but I never picked up, so I don’t know who they are!”. “When he passed away, why didn’t you tell me, mother?”. “No, well, you’re so far away, that’s why I didn’t call you!”. I dropped the receiver. I was very upset with my mother. Though lately there’s been many strange occurrences. Over the phone, my mother’s voice sizzled like amber coal burning in the middle of winter. It was a long time since I had made the trip home. The red clay path was scattered with red banners, the people in the village were getting ready to welcome the new Lunar year. My childhood was full of time blowing up tiny balloons, and setting them free each new year; they were also red.

Some kind of god was deliberately dyeing all of us red. Living for a long time amongst such bright glaring colours, I adapted! Each new year, I would sit in the middle of the backyard in front of a bucket of red blood, watching the blood spurt freely from a pig’s throat. Father stood in the middle of the house feet wide apart, slurping up the congeal blood, laughing ha-ha: “Eat son, only once a year we get to eat blood, eat son, eat, drink it all up!”. We grew up with these illusions, the contentment, the bright red aspirations.

A dozen calls every night, has that ever happened to you? Scary right! The phone flickered like ghosts in the dark, half of me wanted to listen; the other half did not. But in the end, I would always answer it. It was a familiar voice, not my mother’s, nor was it my brother’s voice on the other end. He sounded grouchy and irritated, “It’s me, the old guy who wears the red robe, every time it’s washed it would be dripping in blood, well?”. Aha, so it’s the monk! He said: “Lucky for your brother, your mother sent him to me so that I can educate him. But, he was a slow student, he detests the colour red and endlessly he complained about how much I smelt! Reverend sir, you smell reverend sir! – How dare he, your brother was a rude brat!”.

It stopped me from answering the phone in the nights after that. I turned my phone off completely, but it would never work out. I missed my mother, I missed my little brother. The new year was almost here. This Lunar New Year will be cold, and my mother will feel the ache in her bones. What was red dancing on the ceiling, like a pair of eyes from spotted fever? What was red running across the wall, like the red flowers that bloom every Lunar New Year? I couldn’t sleep. When did my brother die? Who was this monk, why was he calling all the time in the middle of the night?

I packed my bags for the village. More than half of this country “packs their bags for the village” each coming Lunar New Year, I was not alone! More than half of this country was exiled, I was not alone! My house was in the middle of the slope of a red dirt hill. Father looked at me, his eyes were like red amber coal glowing in the dark, he was quiet, he turned his gaze Westward as soon as our eyes met, he lifted his arm, pointing his index finger toward the setting sun. There was not just one grave but rows and sows of freshly dug graves, rising and falling like freshly scalped heads, a bloody mess. There was a pile of logs, not sure who kindled it, its flames moodily spat smoke. Was I having some kind of nervous breakdown, everything felt unreal! There has never been any monk, there was no phone, no messages or nightly phone calls? Nothing was real, it has all been an illusion, the evil in all that red has tricked me.

That foul evil had tortured my little brother, now it’s torturing me: There was a giant not sure if it’s a man or a woman, but all I know honestly and for sure was this red entity was now always chasing me. I ran into a freshly dug red tunnel, across a red road; it went on and on forever. My family was running away just in front of me, while just behind me was this glaring intoxicated red entity chasing us. As it ran, it screamed angrily: “You’re all very difficult students, you hate red you say I smell, I’m coming for you, you ungrateful brats…”.

I will continue to run away, day in and day out, through every town, every cross road, through every nightmare, every terror, until I all my strength is spent, then I’ll stop! 

May 2019

Giấc mơ màu đỏ

Tôi đang sống trong một bầu trời màu đỏ. Con chim trên cành màu đỏ, con cá dưới sông màu đỏ, bài hát màu đỏ, câu thơ màu đỏ. Cái gì đã nhuộm đỏ chúng tôi? Không biết! Mẹ nói: Máu

Tôi đã quen rồi, bạn cũng quen rồi, lâu nay cứ tưởng cây cối màu xanh, đám mây màu trắng… Sai, toàn màu đỏ loét. Chúng ta đang bị thị giác đánh lừa…

Đêm qua, em gọi điện cho tôi, hét thật lớn: “Anh ơi, nó đang đổi theo em, em sợ lắm!”. Tôi nói: “Bình tĩnh đi, trông nó thế nào!”. “Không rõ là đàn ông hay đàn bà, nhưng nó màu đỏ, chắc chắn!”. Trời đất ơi, giấc mơ kinh khủng của em tôi! Nó luôn mơ thấy màu đỏ săn đuổi. Không còn cách nào ngăn chặn nó ư, cái giấc mơ kì quái ấy? “Em kể với cha và mẹ, nhưng không ai tin, họ bảo em bị loạn não!” – Nó thổn thức, trước khi chìm vào giấc ngủ mỏi mệt…

Tôi đang kể lại câu chuyện về màu sắc, như một họa sĩ đang vẽ một bức tranh màu đỏ. Đừng vội quy kết sang vấn đề quan điểm nọ kia. Tôi khinh!

Bạn có quyền đeo kính màu đen vào và hét toáng lên rằng: “Mẹ kiếp, trời đất gì mà tối đen như mực!”. Những người dân nghèo có quyền xếp hàng nhận gạo cứu đói vừa ngẩng đầu ngó pháo hoa trên trời và reo lên như trẻ nhỏ: “Ồ, đời đẹp quá!”.

Vậy thôi.

Mẹ vừa nhắn tin nói: “Em mày vừa tỉnh lại, miệng đang lảm nhảm, máu, máu”…

Không biết nghĩ ngợi thế nào, tôi mua và gửi cho em chiếc kính đen. Nhưng mẹ gọi điện bảo, không cần nữa đâu, mẹ gửi em vào chùa rồi. Hi vọng Phật pháp sẽ làm cho óc nó bớt hoang tưởng. Tôi nghĩ, thế cũng ổn! Nhưng chỉ hôm sau, đã thấy em gọi điện, khóc và kể đủ thứ chuyện. Em kể: “Cái lão trụ trì ấy, sư không ra sư, thánh không ra thánh, suốt ngày niệm chú gõ mõ. Lão già rồi, già lắm rồi, mình lại đây mụn ghẻ, thường xuyên bắt em gãi, nhưng lại luôn mồm mắng em, rằng, mày đừng gãi vào chỗ nhạy cảm. Em hỏi lão rằng chỗ nào cũng nhạy cảm thì làm sao mà gãi? Lão chẳng nói chẳng rằng đấm thẳng vào miệng em…”.

Thế là tết nay em không về. Em nói qua điện thoại rằng, em phải ở lại giặt áo cho lão ấy. “Áo lão ấy màu đỏ, không biết nhuộm cái gì mà giặt ra đỏ cả mấy thau nước, em vừa giặt vừa nôn!”. Tôi nói, thôi về quê, có anh có em, có rau ăn rau có cháo ăn cháo. Em không trả lời, mà hát câu hát gì đó màu đỏ tận đâu đâu…

Tôi lại gọi cho mẹ, mách chuyện của em. Mẹ lặng đi hồi lâu, rồi mới nói: “Con ơi, đừng làm mẹ sợ! Em con chết rồi mà!”. Trời ơi, thế tôi vẫn thường nói chuyện với ai trong điện thoại mỗi đêm? Ai?”.

Mẹ nói: “Chô cha, chúng nó gọi cho tao hàng chục cuộc mỗi đêm, mà tao không nghe máy nên chả biết là đứa nào!”. “Em mất khi nào, sao không báo cho con?”. “Thôi, tại mày ở xa quá, tao không báo!”. Tôi tắt rụp điện thoại. Giận mẹ vô cùng. Mà dạo này nhiều chuyện kỳ lạ. Qua điện thoại, tôi nghe thấy giọng mẹ màu đỏ, cháy xèo xèo như than củi mùa đông. Từ lâu lắm tôi không về nơi ấy. Con đường đất đỏ đầy băng rôn biểu ngữ màu đỏ mỗi dịp tết về. Tuổi thơ tôi, mỗi dịp tết mới được tận miệng thổi vào một chiếc bóng bay bé xíu, cũng màu đỏ nốt.

Hình như có một vị thánh nhân nào đó đang có âm mưu nhuộm đỏ chúng tôi. Sống lâu trong màu sắc chói lòa, tôi quen rồi! Tết, với tôi là chậu tiết canh màu đỏ, chảy đầm đìa từ cuống họng chú lợn nằm ngửa giữa sân. Cha đứng dạng chân giữa nhà, húp bát tiết canh, cười ha hả: “Ăn đi con, mỗi năm nhà ta mới được ăn tiết canh một lần thôi, ăn đi, uống đi!”. Chúng tôi lớn lên trong những ước mơ, hoan hỉ, hi vọng dạt dào máu đỏ…

Hàng chục cuộc gọi mỗi đêm, đã có có ai bị như vậy chưa? Ghê lắm! Điện thoại lập lòe như ma trơi, nửa muốn nghe, nửa muốn không. Cuối cùng, tôi mở máy. Giọng lạ, không phải của mẹ, cũng không phải của em. Hắn gầm gừ: “Tao đây, lão già mặc áo màu đỏ, mỗi lần giặt là nước đỏ ngầu mà máu đây, mày nhớ chứ?”. À, thì ra là lão thầy chùa! Lão nói: “Phúc cho đứa em mày, mẹ mày gửi nó cho tao, để tao nâng đỡ dìu dắt. Nhưng, đó là một thằng khó bảo, ghét màu đỏ và luôn mồm chê tao hôi! Thầy ơi, thầy hôi quá! – Nó dám bảo tao như vậy đấy, láo không?”.

Tôi không còn dám mở điện thoại mỗi đêm nữa. Tắt nguồn để ngủ, thế mà cũng không được. Tôi nhớ mẹ, nhớ em. Tết sắp đến rồi. Tết năm nay lạnh, mẹ lại hay đau ốm. Cái gì màu đỏ nhảy nhót trên trần nhà, như những cặp mắt sốt phát ban. Cái gì màu đỏ chạy dọc bên vách, như những bông hoa màu đỏ vẫn nở vào mỗi tết. Tôi không ngủ được. Em mất khi nào? Lão thầy chùa ấy là ai mà lại gọi cho tôi vào những giờ khuya khoắt? 

Tôi khăn gói về quê. Hơn nửa nước này “khăn gói về quê” mỗi khi tết đến, chứ riêng gì tôi đâu! Hơn nửa nước này tha hương chứ riêng gì tôi đâu! Nhà tôi, nằm bên vách đồi đất đỏ. Cha nhìn tôi, mắt như than hồng buổi tối, không nói gì, chỉ tay về hướng Tây. Tôi đi theo hướng ấy. Mộ của em tôi ngoài đó. Đất vẫn còn mới, tung tóe như máu. Không phải một nấm mồ mà là hàng dãy, mới tinh, nhấp nhô như những cái đầu vừa lột da tóe máu. Đống củi, không biết ai đốt, đang âm ỉ khói. Hóa ra là bể dâu, thì ra là ảo giác! Làm gì có sư, làm gì có điện thoại, tin nhắn nào hàng đêm? Tất cả mọi thứ đã bị đánh tráo, bị đảo lộn, bị phù phép bởi màu đỏ quái ác.

Giấc mơ quái ác từng hành hạ em, bây giờ hành hạ tôi: Có một gã khổng lồ không rõ là trai hay gái, nhưng đích thực là màu đỏ, thường xuyên đuổi sau lưng tôi. Tôi chạy vào đường hầm đất đỏ mới đào, hun hút. Phía trước, những người thân đang chạy, phía sau,  màu đỏ chói mắt đang hùng hổ đuổi theo. Vừa chạy, vừa chửi rủa: “Chúng mày là một lũ khó bảo, ghét màu đỏ và luôn mồm chê tao hôi, chúng mày liệu đấy…”.

Tôi vẫn chạy, mỗi ngày, mỗi đêm, mỗi tỉnh, mỗi mơ, cho đến khi nào không còn đủ sức nữa, mới thôi!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Once a day, the butterflies wander and play.

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

Once a day, the butterflies wander and play.

They fly from one flower to another.

To then sleep, they sleep so they may again tomorrow wander and play.

You and her were once on a small boat. A storm was brewing.

She was on the verge of tears: “Aren’t you afraid? Death means, you and I shall be two boulders. At the bottom of the deep, deep sea.”

You unsheathe the dagger on your hip. It gleamed. Sticking the blade at her throat. You asked: “Aren’t you afraid?” She laughed: “Why should I be afraid? I know you love me.”

You laughed: “Then why should we be afraid? They all love you, and the storm is merely the flutters of butterfly wings.”

_____

March 2019

Mỗi ngày một lần, mấy con bướm rong chơi.

Chúng bay từ cánh hoa này đến bông hoa khác.

Sau đó chúng ngủ, để sáng mai còn rong chơi tiếp.

Một lần, nàng và bạn trên một con thuyền nhỏ. Cơn bão.

Nàng gần như khóc: “Chàng có sợ không? Cái chết, chàng và em sẽ là hai tảng đá. Nằm dưới đáy biển sâu.”

Bạn rút con dao vẫn mang bên hông ra khỏi vỏ. Ánh chớp. Con dao kề ngay cổ nàng. Bạn hỏi: “Nàng có sợ không?” Nàng cười: “Tại sao em phải sợ? Em biết chàng yêu em.”

Bạn cười: “Vậy sao chúng ta lại sợ? Mọi người yêu em, và cơn bão chỉ là cánh vẫy của con bướm.”

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A letter to the rain

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm 

Casual like fate, the unforgettable rainstorms through our life. It passes, beyond, till that moment sunlight breaks, and we would never meet again. In a lifetime, have you ever experienced such a storm? What do you do as you reminisce on the passing light and deluge? Have you ever considered writing to the rain long gone, and why not? When there’s no way of bringing back the past, I would continue to take myself back to this moment in the past, why? Who knows! This morning, the sky was overwhelmed by a swarm of moths greeting the sunlight at the mead, I sat down to write a letter to an old storm, casual like fate stretched out waiting for a way to return, to a day in the past, long gone.

“You’ve arrived, exactly at that time and place, not early, nor late, caught me naked, alone, like an escaped criminal from hell lost in the mead. You’re oblivious, excited, enthusiastic you told tales of far unknown nine spheres of heaven. I lay there listening, engrossed, knowing, that must be the strangest thing, in this fraudulent world the truest tale I have ever heard. Every story involving people carries with it the subjective hue of suspicion. Your words, I believed, and years later, I continued to believe. You roamed amongst the seven hues of the rainbow, leaving behind all of your entanglement and worries. The truth is, it’s stuff made of dreams, a life never tasted nor experienced, not even a little. The raindrops fell then we were gone, reincarnated ablaze in a moment of happiness. In your eyes, life was evergreen, endlessly beautiful, no different to the greenest of grass on a spring morning to a young girl who became a woman, the first time she discovered love…”

“When I sat down to write these words, you were long gone, far away from the mead, roaming somewhere at the end of the horizon. Today the sun blistering in Chư Mang, infinitely the clouds piled on top of the light, the light in layers on top of the clouds. It took us forever to face the facts of those who were long gone, the existence of their value, you’re the aberrant rainfall, who had come and gone, took away with them so much longing. You brought to the mead tales so strange it woke up every blade of grass, leaves in trees, they dreamt of far off places of distant horizons, of vast, vast seas. You whispered into our ears new things, things unimaginable to them. You said, in a far-off place, there were people with a strange habit, they lived like animals, after a time, they forget their human voice. I immediately compared my life with theirs, and I could more than relate. We, as human beings, dwell together, also for a long time, our spoken language now a reverberation of grunts and screams liken to a pack of wild beast, day after day gradually we lose our humanity, lost is the pure original heavenly given nature of goodness, and kindness…”.

“You told me in these far-off places people own their freedom, free to proudly live out their desires. You winked at me mischievously and placed a cold kiss on the top of my head, and left to continue your adventures! It has been a while, there has been no mentioning of any childhood adventures in the mead, yet this morning, dreamy-like that era of lakes long shimmering wild rivers, and wandering adventures with the clouds with eyes as blue as that of a maiden. The clouds chirped on about all sorts of stuff, luculent, without ever knowing pain, ever knowing deceit. Was it an amusing game with the clouds? If I knew the answer, no more than you – the rain – halfway up that familiar slope, would across the sky return. Though our story may have a long way to go, the morning has a long way to go; no more could be said, thoughtlessly you have cut through my life. When clouds casually became the protagonist, when you continue to be present as our casual witness void of misery, mount Chư Mang can only stand and watch, and smile…”

“I have invited you to, hey, why don’t you stay till the end of these long days? Of course, as vain white clouds, eyes narrowing, suspiciously shook your head! I know, youth, playtime, a time of self-discovery, though for a long time I’m left with this numbing aching heart, heartless no, but with little hope. Your tales always provoke our curiosity. I’ve asked: since you journey endlessly, have you ever transpired with a green-eyed maiden cloud? You would then, rushed around, as though busy, as though to dodge that answer…”

In passing as the rain came and went, I returned to my first role – a storyteller on mount Chư Mang. I’ve survived so much sun and rain in the mead, sometimes in lustful desire, delusional sadness, no day the same as the other, nor night like the other. This afternoon, I’ve chased away the hint of desire for a cloud with infinitely blue eyes right above my shoulders, its ready laughter had always led the way. I’ve walked through the afternoon without leaving a footprint or did I merely hover above the grass, laughing like warm rays of sunshine. I’ve tread quietly, my heart beating ever so lightly, for fear of awakening, frightening the clouds, which may fly away. As came the constant shadow of night, I will aimlessly roam these four corners of the trees and grass, with a warm smile safely in my hand.

And when sleep came, came the dreams, came the rain! 

 [edited June 2022]

Thư gửi cơn mưa

Có những cơn mưa đổ ngang đời, tình cờ như số phận, khiến ta không thể nào quên. Khi cơn mưa đã đi xa, xa lắc xa lơ rồi, có hôm nào nó khi nắng về tinh khôi chợt nhớ, mới biết rằng mình không bao giờ gặp lại. Trong đời bạn, đã bao giờ có những cơn mưa như thế chưa? Bạn làm gì khi quay quắt nhớ thương về những nắng mưa mình từng trải? Bạn có bao giờ nghĩ đến việc mình sẽ viết một lá thư gửi về cho cơn mưa quá khứ, tại sao không nhỉ? Khi không còn cách nào bắt quá khứ quay về, thì ta bắt mình ngược về quá khứ, để làm gì ư? Ai mà biết chắc! Sáng nay, mối bay lên rợp trời đón nắng thảo nguyên, ta ngồi viết thư gửi cho cơn mưa cũ, cơn mưa tình cờ như số phận giăng ngang đón đợi đường về, vào một ngày của xa xưa, xa lắm…

“Bạn đã đến, đúng vào thời điểm đó, không sớm, không muộn, để vừa vặn bắt gặp ta trần trụi, cô đơn, như một gã tù vượt ngục bị lạc giữa thảo nguyên. Bạn vô tư, sôi nổi, hào hứng kể cho tôi nghe câu chuyện thiên thu từ chín tầng trời xa lạ. Ta nằm nghe mê mải, biết rằng, đó là câu chuyện lạ lùng nhất, trung thực nhất mà mình được nghe trong chốn trần gian đầy bất trắc lọc lừa. Câu chuyện nào của thế nhân cũng mang một màu sắc chủ quan đáng nghi ngại. Riêng những lời bạn kể, ta tin, cho đến mãi sau này, vẫn còn tin. Cuộc đời của bạn, rong chơi giữa bảy sắc cầu vồng, bỏ hết mọi vướng bận và lo toan. Thú thực, đó là thứ đời sống trong mơ, ta chưa bao giờ được nếm trải, dù ít ỏi. Những giọt mưa đến rồi đi, luân hồi trong niềm vui rạng rỡ. Trong mắt bạn, cuộc đời xanh mướt, đẹp đẽ vô cùng, không khác gì sân trường xanh mướt trong buổi sáng mùa xuân trong mắt cô học trò mới lớn, lần đầu bắt gặp tình yêu…”

“Khi ta ngồi viết những dòng này thì bạn đã rời xa ta, xa thảo nguyên, rong chơi tít tắp cuối chân trời thăm thẳm. Chư Mang hôm nay nắng gắt, mây xếp chồng lên nắng, nắng xếp chồng lên mây, vô tận. Có những người khi họ đi xa rồi, ta mới thấy giá trị hiện hữa của họ, với ta, bạn là một cơn mưa lạ lùng, đến rồi đi, nhưng lấy của ta nhiều lần mong nhớ. Bạn mang đến thảo nguyên những câu chuyện lạ lùng và đánh thức cỏ cây bằng ước vọng xa xôi của bầu trời, của đại dương mênh mông. Bạn thầm thì bên tai ta về những điều ta chưa hề biết, chưa hề nghĩ đến. Bạn nói, ở xứ sở xa xôi, có những con người có sở thích kỳ quái, họ sống cũng muông thú, lâu dần, họ quên mất tiếng người… Ta lập tức liên tưởng, so sánh với cuộc sống của chính mình. Bọn ta, con người sống với nhau, nhưng cũng từ lâu, ngôn ngữ giao tiếp là tiếng gào thét của loài thú hoang, ngày càng mất đi tính người, mất đi thiên lương trong trẻo ban đầu…”.

“Bạn nói với tôi về những miền đất xa xôi con người được tự do, được sống để thỏa mãn niềm khát khao chinh phục tự nhiên. Bạn nháy mắt tinh nghịch rồi vội vã đặt một nụ hôn lạnh giá lên tóc, rồi tiếp tục rong chơi! Lâu lắm rồi, thảo nguyên không còn nhắc đến những hẹn hò tuổi nhỏ, vậy mà buổi sáng nay, tinh mơ như tuổi sông hồ dài rộng, ta lang thang cùng với một đám mây mắt màu xanh con gái. Đám mây líu lo kể đủ chuyện, bằng âm thanh trong trẻo, như chưa từng biết đến lo toan, chưa biết đến dối lừa. Đi chơi cùng với một đám mây thì có vui không? Ta chưa biết trả lời thế nào thì bạn – cơn mưa – lại ngang trời kéo đến, ngay giữa con đèo quen thuộc. Câu chuyện còn dài lắm, buổi sáng còn dài lắm, sẽ còn nhiều điều để kể, nhưng bạn đã vô tình cắt ngang.  Khi đám mây tình cờ trở thành nhân vật chính, khi bạn luôn luôn có mặt một cách tình cờ như nhân chứng không thể thiếu, núi Chư Mang chỉ còn biết đứng nhìn theo, có một nụ cười…”

“Ta rủ rê, thôi, hay ở lại đây cho hết những ngày dài? Dĩ nhiên là đám mây trắng kiêu kỳ lắc đầu nheo nheo mắt! Ta biết rồi, tuổi trẻ mà, còn phải rong chơi, còn phải kiếm tìm, mà ta thì từ lâu chỉ còn một trái tim đau buốt, không phải vô cảm, nhưng cũng không hi vọng gì nhiều. Câu chuyện kể của bạn luôn gợi trí tò mò. Ta hỏi: Bạn lãng du trong vô tận, thế đã bao giờ rong chơi với một đám mây con gái có đôi mắt màu xanh chưa? Lúc đó, bạn ào ạt chạy qua, làm như bận bịu lắm, để né một câu trả lời…”

Trong khi cơn mưa chập chờn đến rồi đi, ta lại trở về với vai diễn ban đầu – người kể chuyện ở núi Chư Mang. Ta đã đi qua bao nhiêu mưa nắng thảo nguyên, khi cuồng nhiệt mê say lúc ảo não u buồn, không có ngày nào giống ngày nào, không có đêm nào giống đêm nào. Chiều nay, ta đuổi theo dấu vết yêu thương với đám mây mắt biếc đậu trên vai và tiếng cười lảnh lót dẫn đường. Ta đi qua buổi chiều mà dường như không để lại dấu chân, hoặc là đang lướt trên mặt cỏ với tiếng cười vỡ ra long lanh như nắng ấm. Ta nhè nhẹ bược chân, tim không dám đập mạnh, sợ đám mây giật mình tỉnh giấc, bay đi. Khi bóng đêm vời vợi kéo về, ta vẫn loay hoay giữa bốn bề cây cỏ, với ánh mắt nụ cười ấm áp giữ chặt trong tay…

Và rồi, khi giấc ngủ kéo về, trong mơ, cũng có một cơn mưa!/


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Chư Mang to the market

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

CHƯ MANG TO THE MARKET

Since it’s a lovely day, he took his letters down Mount Chư mang to sell at the market, like a mother selling their children, like the poor sell their dogs, like lovers selling each other out. Now the dejected letters followed him, mirrors of blue eyes watching the passing strangers stepping on top of each other trying to move ahead. Stay in line, no running, or you’ll get lost! He reminded them before choosing a spot to display them. People came from all directions and flooded the market, their faces covered as though they were at a masquerade ball. The sun glared at the tall, boxy residential buildings, and a breeze shifted the fluffy clouds over our head. The buildings disappeared completely behind clouds of dust; he felt sorry for his soft and weak letters. He’s also hungry, since this morning till now after lunch nothing was in his stomach, his eyes blurred from hunger, the Sun was glaring from all direction.

The letters all bent out of shape after a few days wandering the dirt-covered streets. No one was interested in buying the letters. He announced after a last look around the market, up you go, sing and dance all of you, just this once, then we’ll go home, or die here. The characters grabbing onto each other for support stood up, wobbly and shaking; they enacted a tragedy about the grim reaper reclaiming death. The hectic eyes of the city paused to watch the odd street performance. He felt heartless. He said, stop, enough, let’s go home! A bird call came from the river Năng upstream, from the ninth level of heaven resounding, full of love, urged for  their return home. They quickened their pace, headed for the anxious bird call, the songs of endearment aided them in surpassing the hills and valleys, they were on their way home! Home, to the proud, tall and formidable mountains, to the long resounding rivers, to the ancient hundred-year-old trees, to the thousand-year-old highland.

Half the way up an incline the letters began to shake and broke out in a dance. He was suddenly powerless; stood there and watched them like some talentless director as his performers ran amuck, there was no way to control or direct them. He shouted: “Hey, how do a bunch of crazy blokes dance compared to other dancers, who looks better?”. The randy letters refused the indignation of reply. He shouted again: “Now I know why no one wants to spare a dollar for you guys!”. The letters egged on, began to sing and shimmied up and around the incline. Singing louder and rowdier: “You’re so blind, yesterday at the market some gangster bribed the letter S to go with him, asked L to work in a brothel, as for the letter Đ, it ran away to the market to find money, the letter T has snuck away to the department stores to pick people’s pockets…”.

He was mortified, counting over and over again, it was true the familiar letters S, L, Đ, T… they were gone, lost somewhere in the street far away in the city!

He took the letters to the market to sell, they went feral, breaking the pack, hence it was inevitable that there were such break-ups and goodbyes. He dropped to the ground halfway up the incline, sweaty, stared intently at the city, the busy crowd pushing and shoving each other down some pit of devastating civility. Not sure where he could find S in this chaotic crowd of swords and blades. He called out: “Hey S, shooting sad satire success sure self silver linings, hey springs… come back to the mountain, don’t hang around in the streets learning bad habits bloody stabbings… Hey L, long lanky lovely lively lovable lot… come back to the mountain!”.

There was no answer!

On his butt, he called out to the lost letters, like a mage reciting a mantra calling upon the return of the dead. A fleet of birds flew by shook their heads with disbelief, the wind teased him in passing, the clouds stared… He screamed, leave me alone! At that very moment, in the distance appeared clearer the forms of the damaged letters, they were tripping, falling over each other, crying as they approached him. His heart cracked open, his vision blurred with tears: The letter L was in front, Đ right behind, both naked with flesh wounds seeping blood. Both letters fell into his arms, like daughters diving into their father’s unconditional loving arms. The letter Đ’s eyes were black and blue, lips were swollen, Đ must have received a bashing at the market. The letter L’s lower abdomen was bleeding, the wound still open and weeping, bright red… Both choking on their words reported they witnessed S getting shot, ran as she held onto her chest before collapsing at the intersection outside the market. He hugged both of his naive children, and cried. Mount Chư Mang somberly stood there firmly looking down at them, its green leafy eyes were on the verge of tears.

He grabbed a handful of leaves and started to chew it finely before placing it on L’s wound to stop the bleeding, and applied ointment on Đ’s bruises. The other letters gathered around them, they were like apes, and he was the leader of the troop. He began to lull them beyond his hurtful spirit, his voice was husky: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Those who don’t want to die, those who brutally tried to sow evil, by this sunset let it go via the cool wind, let it go now đờ cờ lờ sờ mờ tờ… The letters relaxed, fell asleep, there was a hiccup here and there now and then in their deep slumber, like children who were falsely punished!

He sat weaving the reeds together, they needed a firm rope to cross the valley. Beyond the canyon was their home. He sang as he worked on the rope, like a poor mother in the mountains carrying her child on her back singing a lullaby as she worked in the cornfield. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

The long shadow of the afternoon fell as he woke up, the letters, they helped each other across the valley. The fragile rope was at breaking point. The mountain mist rolled out just in time to catch them. He guided the letters through the mist at the end of autumn. He sang as he walked as though he was a mage reciting mantras, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… It’s very possible the string was already broken, but it didn’t matter. He announced aloud, let us be on our way, the entire earth swayed, the whole of humanity lopsided, not just us. The letters stopped crying, they held onto each other, and onward they went beneath the moonlight. The shadows of the man and letters falling longer, stretching from where they were to the other side of the valley, like ghosts appearing from the last century. Past midnight the man and letters were at the summit, to disappear completely inside the sound blinding fog.

At the foot of Mount Chư Mang, now and then people could still witness the cries and singing resounded in the mist, the eerie haunting devilish sounds stretching from the market across to the highland to then wrapped around the summit. On clear nights, on both sides of the path up the mountain were stains of dried blood the scent of wild grass.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ let us go back to the mountain yeah… Weepy songs of lullabies, lullabies of lulling mournful sadness.

[Edited July 2022]

Chư Mang xuống chợ

Nhân buổi đẹp trời, hắn dắt díu bồng bế bầy chữ rời núi Chư Mang xuống kẻ chợ bán, như mẹ bán con, như nhà nghèo bán chó, như tình nhân lừa bán tình nhân. Bầy chữ cui cút đi theo, gương những con mắt màu xanh lên nhìn dòng người lạ lẫm đang cố giày xéo dẫm đạp lên nhau để về đích trước. Hắn dặn, đi đúng đường thẳng lối, không được chạy lung tung kẻo lạc! Rồi hắn chọn một khoảng vỉa hè bày chữ ra bán. Người kẻ chợ đi về như thác lũ, mặt mũi ai cũng trùm kín như thể đang tham gia lễ hội hóa trang. Gió thổi mây bay và nắng chứa chan trên những hộp nhà cao vút. Bầu trời thực sự biến mất sau làn khói bụi. Hắn chợt nhói thương những con chữ yếu mềm. Hắn cũng đói, sáng đến chiều chưa có gì vào bụng, mắt hoa lên, nhìn phía nào cũng thấy mặt trời chói gắt. 

Bầy chữ sau mấy ngày lê lết ngoài vỉa hè khói bụi đã trở nên méo mó hình hài. Hắn trừng mắt nhìn ngược nhìn xuôi chờ đợi nhưng tuyệt nhiên không hề có ai mua. Hắn nói, thôi, đứng dậy múa hát đi, một lần này nữa, rồi quay về, hoặc là chết ở đây. Lũ ký tự ngả nghiêng vịn nhau đứng dậy, vừa run cầm cập vừa trình diễn vũ điệu tử thần chết chóc. Những con mắt phố thị sấp ngửa dừng lại đứng nhìn, như nhìn đám hát rong xa lạ. Hắn thấy mình quá nhẫn tâm. Hắn nói, đủ rồi, quay về lại thôi! Tiếng chim gì đó từ thượng nguồn sông Năng chợt từ chín tầng trời vọng lại nghe từa tựa một lời yêu thương mời gọi quay về. Lũ hắn rảo bước, nhằm hướng tiếng chim khắc khoải, nhằm hướng câu hát yêu thương mà băng đèo vượt núi, về thôi! Về thôi, về núi sừng sững, về sông ngân dài, về cổ thụ vạn năm, về thảo nguyên triệu tuổi.

Về đến lưng chừng dốc thì lũ chữ lên cơn co giật và bắt đầu nhảy múa. Hắn bất lực đứng nhìn, như một gã đạo diễn bất tài nhìn dàn diễn viên làm loạn, không cách gì điều khiển nổi. Hắn hét: “Này, những gã điên nhảy múa với những vũ công nhảy múa, bên nào đẹp hơn?”. Lũ chữ bất kham không thèm trả lời. Hắn lại hét: “Hèn gì không có thằng con bố khỉ nào chịu bỏ tiền lẻ ra mua tụi mày!”. Lũ chữ càng hưng phấn, chúng vừa múa vừa hát. Hát to lên rằng: “Nhà ngươi quả thực mù lòa, hôm qua ở kẻ chợ có gã du côn đã rủ rê chữ S đi bụi đời, rủ chữ L vào động đĩ, rủ chữ Đ ra chợ kiếm ăn, chữ T đã trốn khỏi bầy vào siêu thị hành nghề móc túi…”.

Hắn kinh hoàng, đếm đi đếm lại, quả nhiên mấy chữ thân quen S, L, Đ, T… đã trốn đi hoặc lạc lối ngoài phố phường xa lạ!

Hắn dắt chữ ra chợ bán, kết quả lũ chữ bỏ đi hoang, tan đàn xẻ nghé, tử biệt sinh ly. Hắn ngồi giữa dốc quệt mồ hôi, nhìn về phố thị, thấy cả một đám đông đang đuổi nhau xuống hố thẳm văn minh điêu tàn. Chữ S bây giờ không biết ở đâu trong đám đông cuồng loạn gươm dao. Hắn gọi: “Ơ này chữ S, ơ này súng ơ này sân si ơ này sung sướng ơ này soán đoạt sờ soạng sống, ơ này sông… Về lại núi thôi về lại núi, đừng lê la phố chợ học thói lưu manh chém giết máu me… Ơ này L lờ lững lộn làng lành lặn lênh láng lung linh lóng lánh lập lòe… về núi thôi!”. 

Không có tiếng trả lời!

Hắn ngồi gọi chữ, như pháp sư ngồi niệm chú gọi hồn người chết quay về. Bầy chim bay qua nhìn hắn lắc đầu ngao ngán, bầy gió bay qua nhìn hắn cười châm chọc, bầy mây bay qua nhìn… Hắn hét toáng lên, kệ tao! Vừa lúc đó, từ xa thấp thoáng bóng hình vừa chạy vừa vấp ngã, vừa chạy vừa khóc than. Tim hắn đau nhói, mắt hắn mờ đi vì nước: Chữ L chạy trước, chữ Đ chạy sau, cả hai đứa trần truồng, thịt da gai cào tứa máu. Hai con chữ ngã nhào vào lòng hắn, như con gái đâm bổ vào lòng cha già sau cuộc tình thất bát. Chữ Đ mắt thâm tím, môi sưng vù, chắc bị ăn đòn hội chợ. Chữ L chảy máu ngay bụng dưới, vết thương hở ra lở loét, đỏ lòm… Hai đứa nghẹn ngào thông báo rằng, có thấy chữ S bị trúng đạn, vừa chạy vừa ôm ngực rồi ngã sấp mặt dưới chân cột đèn nơi ngã tư phố chợ. Hắn ôm hai đứa con nông nổi dại khờ, ngồi khóc. Núi Chư Mang trầm mặc đứng nhìn, mắt lá cũng rưng rưng.

Hắn thò tay bứt một nắm lá nhai nhuyễn rồi đắp vào vết thương cầm máu cho chữ L, lấy dầu xoa vết bầm tím cho chữ Đ. Lũ chữ phủ phục vây quanh, như bầy khỉ vây quanh gã khỉ đột đầu đàn. Hắn cất tiếng ru bằng giọng khàn khàn thống khổ điêu linh: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Kẻ nào không muốn chết kẻ nào hung bạo lọc lừa gieo mầm ác, nào hãy buông tay trong buổi hoàng hôn gió mát, thôi, thôi nào đờ cờ lờ sờ mờ tờ… Bọn chữ gục xuống ngủ, thỉnh thoảng nấc lên trong mê man, như những đứa trẻ vừa bị đòn oan!

Hắn lặng lẽ bứt cỏ ngồi đan bện lại, cần một sợi dây chắc chắn bắc qua thung lũng. Qua hẻm núi này là về đến quê nhà. Hắn vừa miệt mài đan vừa hát, như một bà mẹ nghèo trên núi vừa địu con hai bên nách vừa trỉa bắp vừa hát ru. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

Bóng chiều đổ xuống, hắn xốc lũ chữ dậy, dắt díu nhau qua thung lũng. Sợi dây cỏ mỏng manh chòng chành như sắp đứt. Sương núi ùn ùn cuồn cuộn lao ra đỡ lấy. Hắn dắt bầy chữ đi trong sương núi cuối thu. Hắn vừa đi vừa hát ru như đạo sĩ niệm chú, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… Hình như sợi dây đã đứt, nhưng có hề gì. Hắn nói to, chúng ta đi thôi, cả trái đất chòng chành, cả nhân loại ngả nghiêng chứ riêng gì chúng ta đâu. Bầy chữ thôi không kêu khóc nữa, chúng vịn tay nhau bước đi dưới trăng. Bóng chữ bóng người gầy guộc đổ dài, kéo từ bên này qua bên kia thung lũng, như những bóng ma hời từ thế kỷ trước hiện về. Quá nửa đêm thì chữ và người lên đỉnh núi rồi mất hút trong thăm thẳm mù sương.

Ở dưới chân núi Chư Mang, lâu lâu người ta vẫn nghe tiếng ai đó ca hát và khóc than trong sương, những âm thanh quỷ quyệt kéo dài từ phía kẻ chợ rồi lướt qua thảo nguyên hoang vắt rủ nhau chạy vòng quanh đỉnh núi. Những buổi trời trong, thấy rõ ràng hai bên lối đi lên núi còn vương vãi những vệt máu khô thơm mùi có dại.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ về thôi về với núi thôi… Khóc mà như ru, ru mà như hát, hát mà như than.

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Alone

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

ALONE

Like everyone else, solo I came into the world. I arrived solo, and eventually, I will leave alone, you too, no one’s an exception. When you’re in a state of chaos, you forget, forget the origin and the infinite, your solitude. You fight loneliness with the value of your worth; splashing around to keep afloat above a billion people. Awake in the middle night, you are alone.

Life’s cruelty leaves one in a state of persistent terror of loneliness. Each day, I emerge inline in suburbia, in cafes or pubs with my friends. But always gruesomely possessed as though thick clouds blinded me, I saw no one, absolutely no one, just the sound of echoing laughter from some far-off fantastic place. I’m alone. 

The day shall come when I’m no longer in my youth; there will be termite in my eyelids. They will silently chew and suck on my flesh. Such issues guarantee complications: I would look at life through random potholes. The sky will always have falling snow, and people face no difference from separate coloured sheets of paper, holey. I have never disclosed this to anyone.

My belief is not that I am alone, but that many put up with these termites in their eyes. They’ll never speak of them, keeping such secrets close to their hearts. If disclosed, you’re medicated with complicated lengthy hospital and specialist visits, and with a promise of no better prognosis. Many lose their eyesight after treatment, and many end up blind; it’s an unfortunate fact!

I laughed out loud one quiet afternoon, as I listened to the district loudspeaker playing some song about unification. I say, apart is beautiful, it’s best to sit alone, you don’t have to entertain any dark intentions, listen alone to the termites squeaking, gnaw at the cells in your eyes.

No matter how lonely, you must be a good citizen to lead an upstanding life within the boundaries of society. Some are bound so tight it’s impossible to breathe. Others were a little looser but are so clumsy they habitually stumble.

I’ve no idea what he’s thinking but a neighbour opposite the other day hung a sign by the front of his gate: “Freedom for rent”. Of course, many turned up, but after the proprietor explained they saw that it was too involved and too complicated, they shook their heads and left. I queried, in frustration, he exclaimed: “They crave freedom but whine that the price is too steep, they all scream freedom, none of the cowards wants to pay!”.

I told another neighbour, a burglar about the “freedom for rent”, and he snorted: “That quack eats people alive, he evades tax, launders money like a pro, now he’s old and he’s still a hustler!”.

The strange story continued to haunt me. I decided to delve further, “freedom for rent” in its entity is to rent what, how much is too expensive. But my neighbour refused to give me a straight answer, he pressed on with if you have the means to pay, stop asking, stop being so nosy, and mind your own business.

Yesterday, my neighbour lost his life, but no one has yet rented his freedom. When they covered up his body, in the house, there was nothing in it but a pile of political books on how to deceive, to gain power, a complete collection from East to West. But on a positive note, he died alone! Leaning in to close his eyes, I whispered: “I’m prepared to rent your freedom at any price”. And of course, he couldn’t reply or nod in acceptance; there was just a twinkle in his eyes before they closed forever. From those eyes, a swarm of white ants in a swarm took to the sky, engulfing the entire city. I stood there, stunned, and watched them fly away, a haze of white flowers, the small cloud of them bloomed and expanded in a rush, covering everything. The world disappeared.

There was no other path, other than to wait, alone.

[August 2018]

Một mình

Bằng cách giống như tất cả mọi người, tôi đến với thế giới này một mình. Tôi đến một mình, và mai kia, tôi cũng đi một mình, bạn cũng thế, không có ai ngoại lệ. Khi bạn hòa vào đám đông hỗn loạn, bạn quên rằng, lúc đầu và mãi mãi, bạn chỉ có một mình thôi. Bạn chống lại trạng thái cô đơn bằng cách khẳng định giá trị của mình, và cố vùng vẫy để mình không bị chìm lút vào nhân loại đông đến hàng tỉ người. Vậy mà khi thức dậy giữa đêm khuya, bạn vẫn chỉ có một mình.

Có vẻ như cuộc sống quá bất công khi để con người trong trạng thái cô đơn tiềm tàng với nỗi sợ hãi thường trực. Mỗi ngày, tôi vẫn hòa vào dòng người tấp nập ngoài phố, trong quán cà phê hoặc quán nhậu với bạn bè. Nhưng với một nỗi ám ảnh ghê gớm như đám mây mờ kéo ngang trong mắt, tôi không thấy ai hết, hoàn toàn không có ai, những tiếng cười nói hò hét như thể vọng về từ cõi xa xăm nào không có thật. Tôi vẫn chỉ một mình.

Một ngày nào đó khi không còn trẻ nữa, tôi phát hiện ra trong mí mắt mình có những con mọt. Chúng lặng lẽ gặm nhấm các tế bào. Chuyện này dĩ nhiên sẽ gây ra một số rắc rối: Tôi nhìn đời bằng ánh mắt bị mọt gặm thủng lỗ chỗ. Bầu trời lúc nào cũng như có tuyết trắng đang rơi, còn mặt người thì không khác gì những tờ giấy đủ màu, thủng lỗ chỗ. Tôi không hề nói cho ai biết bí mật này, chỉ một mình tôi…

Tôi vẫn tin rằng, không chỉ riêng mình,còn có rất nhiều người khác có những con mọt gặm trong mắt. Họ cũng không nói ra mà khăng khăng giữ bí mật ấy cho riêng mình. Bởi nếu nói ra, bạn sẽ phải uống thuốc, sẽ phải điều trị dài ngày trong bệnh viện, mà kết quả thì không có gì hứa hẹn là sẽ tốt hơn. Rất nhiều người bị mù, sau khi điều trị thì chuyển sang đui, thật đấy!

Có những buổi chiều, ngồi bên thềm nghe loa phường cất vang bài hát gì đó về sự đoàn kết, tôi cười thầm một mình. Tôi thấy, một mình cũng hay, nếu không cần phải hiện thực hóa một âm mưu đen tối thì tốt nhất vẫn nên ngồi một mình, nghe tiếng mọt gặm tế bào trong mắt, kẽo kẹt, kẽo kẹt…

Dù cô đơn đến mấy, bạn vẫn phải sống như một con người với đầy đủ ý thức về bổn phận trách nhiệm và mớ dây chằng chịt vân vân ràng buộc xung quanh. Có người bị buộc chặt đến nỗi không thở được, có người bị buộc lỏng hơn một chút nhưng lóng ngóng vụng về nên thường xuyên vấp té.

Ông hàng xóm nhà đối diện không biết nghĩ ngợi thế nào mà ngày nọ treo cái biển to đùng trước cổng: “Cho thuê tự do”. Đương nhiên là rất nhiều người thấy lạ đến coi nhưng sau khi nghe ông chủ giải thích thì thấy rối rắm mù mịt nên lắc đầu bỏ đi hết lượt.

Tôi hỏi cơ sự,ông ta trầm ngâm giải thích: “Họ thèm tự do nhưng chê giá quá đắt đó thôi, ai cũng kêu gào tự do mà không dám trả giá, hèn lắm!”.

Tôi đem chuyện ông hàng xóm “cho thuê tự do” nói với một ông hàng xóm khác làm nghề ăn trộm, ông ấy bĩu môi cười khinh khỉnh rồi nói: “Cái lão ấy lẩn thẩn ăn người, một tay buôn lậu rửa tiền cực giỏi, giờ về già nhưng máu buôn bán phi pháp vẫn còn!”.

Câu chuyện lạ lùng khiến tôi thắc mắc mãi. Tôi lân la hỏi xem, “cho thuê tự do” cụ thể là cho thuê cái gì, giá bao nhiêu mà đắt. Nhưng lão hàng xóm không trả lời, nằng nặc bảo rằng, có nhu cầu thì bỏ tiền ra, không thì đừng hỏi lôi thôi chuyện nhà người khác.

Cho đến ngày hôm qua, ông hàng xóm ấy chết, vẫn chưa có khách hàng nào thuê tự do. Lúc khâm liệm, trong nhà không có gì ngoài một đống sách chính trị nói về các mánh khóe lừa lọc và cai trị, từ phương Đông đến phương Tây đủ cả. Điều đáng nói, lão chết một mình! Khi vuốt mắt cho lão ấy, tôi cúi xuống nói nhỏ: “Tôi sẵn sàng thuê tự do của ông với bất cứ giá nào”. Dĩ nhiên là lão ấy không thể trả lời hoặc gật đầu đồng ý, chỉ có đôi mắt như khẽ chớp sáng trước khi đóng lại vĩnh viễn. Từ trong đó, bầy mọt trắng vỗ cánh bay ra, mịt mờ khắp phố. Tôi đứng ngẩn ngơ trông theo, thấy lờ mờ trước mắt những bông hoa màu trắng, lúc đầu còn nhỏ, sau nở bung xòe, che kín mọi thứ. Thế giới biến mất.

Không hề có con đường nào khác nữa, tôi ngồi xuống chờ đợi, một mình. 

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A game of sinking to the bottom of the sea

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I’ve been trying to remove myself from this world, slowly, a small piece at a time. Attachments can be tiresome, talking, smiling, the acts of socialising — picking away like a bird plucking at its feathers, like a silkworm pulling at every strand of silk, beneath a looming gloomy grey horizon. Chư Mang is entering a season of torrential rain. I’m ready to let myself go, to sink to the bottom of the sea, to officially step into another fragile broken adventure of the heart. Where I may find myself with all its corners, and sharp edges, sorrow, joy, a complete story, not lost or displaced, officially mine alone!

I’ve often thought God was wrong when he created too many people, weak with the need to lean on others via the invisible fragile threads call tradition, and morality. There’s no true faith nor whole enough for all. I rather have myself as company, than a boat full of people. I like the idea of sinking to the bottom of the sea alone, then from there, looking up, watching life in waves roll by. But of course, it would be boring and lonely, and yes, I would ask a pretty fairy to come and play with me!

I know, hiding beneath my yellow skin and those like me are the boundless possible instabilities. Hence, after a short time edged in-game in the middle of the silence, I would rise to the surface to breathe, like a pathetic yellow tail fish. In those times bobbing up and down, I heard the earth stooped over in pain: The broken promises and jealousy, the lies and betrayal, cunning cowardice. I would sit quietly beneath the shade of a tree on the side of the mountain singing a trivialised song about the nation, its people fumbling noiselessly — my throat raw and burning like inside the barrel of a machine gun after a tirade of gunfire.

Everybody prods along, running, crawling, as though they’re afraid that if they were to stop, society would lose its magnificent radiance. I query in passing: “Hey, why don’t you try leaving the world just once by sinking to the bottom of the sea? Hey, why don’t you just lie down on the spine of the mountain and sing some meaningless songs and see?”. No one listens to me. They’re very busy! Some held out their hands to pull me up to join the rest of this happy, lively human race. Stop, I know, the creator is wrong.

Now and then, there had been a few volunteers sporting a game of falling into the sea with me, but only for a few weeks, before the moon was high enough in the sky, they were gone, quietly they would leave me. Some leave-in regret, some unsure if they’re happy or sad. I have always known, so I have no regret, in this game, you need to be persistent, take nothing for granted, not have too much fun, but also can’t just eat and do nothing either. I play alone, like a woodcutter who had lost his way in the jungle, solely in the deep dark leagues of the sea, I’m content and at peace.

But if we sink too deep into the sea, never knowing though, all might be ashes, forgotten, will never – amount – to – anything! Hence, now and then I would rise for a breath of air, laugh with the people I care about and others, and give back to love a kiss the shape of a spiral of Cổ Loa Citadel! This life, you can’t be forever far from it?

In the end, you’re just a small living thing busy juggling the two different worlds, far apart; such contradictions, torturous enough? Often we are like a migrating bird who is displaced from its flock at dusk or early morning fog, a fractured, broken call in the twist of a breeze. You swore to live and die to the full from here to the end of the world, with the will of an iron gut, till the river erodes and the sea dries up, till the rocks are yellow and grounds to dust. Now, all have flown away in a direction unknown without a hint of ever being. A strand of hair is left behind, serendipitously shiny beneath the eerie sunlight, like a flash at the equator splitting a road into two distinct halves.

You ask me, why does it have to be so absurd, why different from everyone else, why is that? One never knows! Life was already like that when I was born. A portrait of tragedy bound for hardship, a tattered map, in it, everyone wanted for themselves the part that makes sense. They all thought they make sense the most, the most useful, hence then who will accept what does not make sense? So okay I will volunteer to receive all that is worthless without meaning, take it all upon myself, so the world is in less disparity of light and load, and see if the world will be that much more balanced. All of humanity, all the celestial beings residing, all the thrones, monuments big and small, I will push them aside, so I can be alone; on the other side, see if the earth would stop rotating, knowing it may implode!

Though honestly there shouldn’t have to be so many words, I’m afraid when I’m gone humanity will misconstrue my ideas; they’ll make up some treacherous fantasy instead; hence I have to repeat it once more, then I’m done. This nation is drowning in a lie, a gold plated crystal-laden illustrious epic tale, why would you bother with falsifying more folklore, it’s only a matter of time, sooner or later (people will work it out). You can either continue to believe or not believe. As for me, I will continue to go on my search for a game of my choice. I shall let myself go, sinking to the bottom of the sea, to step into another fragile broken official adventure of the heart. Where, I may find myself with all its corners, and sharp edges, sorrow, joy, a complete story, not lost nor displaced, officially mine alone!

Hey, is there anyone out there interested in joining me for a while?

[Edited July 2022]

Chơi trò đánh đắm

Ta đang cố gắng gỡ mình ra khỏi thế giới này, từ từ, từng tí một. Tình trạng kết dính nhiều khi làm ta mệt mỏi, tiếng nói nụ cười chỉ là hình thức biểu hiện xã giao. Gỡ như chim gỡ lông, như tằm gỡ tơ, bằng cách ngồi nhìn bầu trời xám xịt. Chư Mang bắt đầu vào mùa mưa dầm dề. Ta lại chuẩn bị đánh chìm mình, để chính thức bước vào cuộc phiêu lưu mới trong thế giới nội tâm mong manh đứt đoạn. Ở đó, ta thực sự tìm thấy mình với đầy đủ góc cạnh, buồn vui, với đầy đủ câu chuyện, không mạch lạc, nhưng chính thức là của riêng mình!

Ta vẫn thường nghĩ rằng, chính thượng đế đã sai khi tạo ra loài người đông đúc yếu mềm và kết nối họ lại với nhau bằng những sợi dây vô hình có tên là tập quán, đạo đức. Không có một đức tin nào là đúng và đủ cho tất cả mọi người. Ta vẫn thích lang thang một mình hơn là phải ngồi chung một chuyến tàu đầy nhóc sinh mạng. Ta thích đánh chìm mình xuống đáy đại dương cô độc, rồi từ dưới đó, ngước cặp mắt nhìn lên, thấy cuộc đời nhốn nháo cuồn cuộn đi qua. Nhưng như thế thì dĩ nhiên buồn chán vì cô đơn quá, phải rồi, ta sẽ rủ một nàng tiên xinh đẹp chơi cùng!

Ta biết, dưới màu da vàng vọt của ta và đồng loại còn ẩn chứa nhiều điều bất ổn. Vậy nên, sau những thời khắc ít ỏi rong chơi giữa chốn lặng câm, ta lại phải ngoi lên thở, như một chú cá da vàng tội nghiệp. Những giờ phút ngoi lên ngụp xuống ấy, ta nghe thấy nỗi đau trần thế vây bủa xung quanh: Những hẹn hò ghen tức, những dối trá quanh co, những thủ đoạn đê hèn… Ta ngồi lặng dưới bóng cây bên sườn núi và hát một bài hát vô nghĩa về quê hương đất nước, về dân tộc đang đổ dốc không phanh phèng la vỡ trận… Nghe miệng mình bỏng rát như nòng súng vừa bắn liên thanh.

Mọi người vẫn nườm nượm đi, chạy, hoặc bò, làm như họ không vận động thì xã hội không thể tươi đẹp hoặc vĩ đại. Ta hỏi bâng quơ: “Này, sao không thử đánh chìm mình đi để rời xa thế giới này một lần? Này, sao không thử nằm xuống sườn núi này mà hát một bài hát vô nghĩa xem sao?”. Không ai nghe lời ta hết. Họ bận lắm! Cũng có người chìa bàn tay ra, hăm hở kéo ta đứng lên nhập cuộc cùng nhân loại đông vui. Không đâu, ta biết rồi, thượng đế đã sai lầm.

Thỉnh thoảng, cũng có người xung phong tham dự chơi trò đánh đắm chìm nổi phong sương với ta, nhưng chỉ được một vài tuần trăng là lại lặng lẽ bỏ đi. Có người bỏ đi trong nuối tiếc, có người ra đi không rõ buồn hay vui. Ta biết trước rồi, nên không hề tiếc nuối, cuộc chơi này, cần phải kiên trì, không vụ lợi, không ham vui ăn xổi ở thì. Ta chơi một mình, như một gã tiều phu lạc lối, một mình với đại ngàn thăm thẳm, mà vui…

Nhưng nếu chìm sâu quá dưới đáy đại dương, biết đâu rồi, tất cả sẽ cát bụi, sẽ lãng quên, sẽ không – là – gì – nữa! Vậy nên, lâu lâu ta lại ngoi lên hít thở khí trời, cười thân thiện với mọi người, và gửi lại cho yêu thương một nụ hôn hình xoắn ốc Loa Thành! Cuộc đời này, làm sao xa mãi được?

Cuối cùng thì ta cũng chỉ là một sinh linh nhỏ bé bận bịu đi về giữa hai thế giới cách xa nhau, khác xa nhau, vậy đã mâu thuẫn chưa, đã đọa đày chưa? Nhiều khi ta ngỡ mình là con vạc lạc bầy bay đi trong ráng chiều hay sương sớm, với tiếng kêu vỡ vụn rơi theo gió nghiêng nghiêng. Người đã thề sống thề chết rằng chân trời góc bể, rằng tạc dạ sắt đồng, rằng sông mòn biển cạn, rằng đá vàng ghi tạc… bây giờ cũng đã vỗ cánh bay đi về hướng nào đó không còn thấy tăm hơi. Một sợi lông còn sót lại, tình cờ lóe sáng lên dưới ánh mặt trời xa lạ, như một tia chớp nhiệt đới rạch đôi con đường thành hai nửa khác xa nhau…

Bạn hỏi ta, sao phải vô lý thế, sao phải khác người thế, sao thế? Ta có biết được đâu! Ta sinh ra đã thấy cuộc sống như vậy rồi. Một bức tranh điêu tàn khổ sở, một tấm bản đồ rách nát, trong đó, ai cũng giành cho được về phía phần có lý. Ai cũng nghĩ mình có lý nhất, hợp lý nhất, vậy ai chấp nhận phi lý đây? Thôi ta xin nhận hết những điều vô nghĩa lý vậy, nhận hết về mình cho thế giới này bớt chông chênh nặng nhẹ, xem cuộc sống có cân bằng hơn chút nào không. Tất cả thế nhân xuôi ngược, tất cả thánh thần ngự trị, tất cả tượng đài lớn nhỏ mưu mô, kéo nhau về hết một bên đi, ta một mình chọn phía bên này, xem trái đất có ngừng quay không, có sụp đổ không!

Lẽ ra thì không nên nhiều lời đến vậy, nhưng ta sợ khi ta đi rồi nhân loại hiểu nhầm ta, rồi bịa ra những huyền thoại ẩm ương giả dối, nên đành nói thêm lần nữa, rồi thôi. Đất nước này ngập chìm trong những câu chuyện vàng mã trang kim giả dối vĩ đại quang vinh, đừng bịa thêm một truyền thuyết nào nữa hết, đừng dựng thêm một tượng đài nào nữa hết. Tất cả những tráng lệ nguy nga xương máu ấy sẽ sụp đổ tan tành vào một ngày nào đó, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Bạn cứ việc tin hoặc không tin. Còn ta, ta còn mải chạy theo cuộc chơi mình lựa chọn. Trưa nay, khi mặt trời đứng bóng, đám mây lơ đãng bay qua, ta lại bắt đầu chơi. Ta lại đánh đắm mình, để chính thức bước vào cuộc phiêu lưu mới trong thế giới nội tâm mong manh đứt đoạn. Ở đó, ta thực sự tìm thấy mình với đầy đủ góc cạnh, buồn vui, với đầy đủ câu chuyện, không mạch lạc, nhưng chính thức là của riêng mình!

Này, có ai chơi cùng ta một lúc không?


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, born 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A hand

A short thriller in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Lately it has been really weird. Each time I logged onto the computer, a hand from under the keyboard pleadingly blocked me from typing: Stop now, don’t, don’t write.

When I tried to type, the hand’s tone was firmer: you’re not listening, stop typing.

I would abandon the desktop computer for my tablet; still, the same hand from inside it pops out: Stop.

But if I stop here, then I will never be able to find out the origin of the hand. Whose hand had the goad to prevent, stop, begging, threatening, before anything was written, as though I was not there!

This morning, like any other morning, after logging on, I noted down a few random thoughts. Immediately, the hand popped out. I proceeded not to acknowledge it, pretending to be absorbed by what I just wrote, but really I was carefully studying it from the corner of my eyes. Gosh, the ghastly hand was hairy, not like any human hand!

As it turned out, there was a monster inside my computer? I turned it off immediately, and I took it to the computer repair shop. I tried my best to explain it as concisely and as straightforwardly as possible, but the computer technician had no idea what I was talking about. He snapped in the end. “So, basically there’s nothing wrong with the computer?”. I pleaded: “I just want  you to remove whatever it is from my computer, please!”. He took off his glasses, got off his chair, he lifted his arms in the air, rotating his shoulders deliberately and slowly in a long stretch sighing: “Tsk tsk, this guy is out of his mind…”. I knew he meant me, not that damn computer. Then he said: “Why don’t you take my computer home instead!”.

A new computer means fresh inspiration. I was excited with the possibility, ah, and of course more writing. But, as soon as the machine was turned on, the same hairy hand popped out, shaking its index finger. Its white hair was like optic fibres, if you look closely, you’ll see that it has a silvery shimmering hue, if you stare until your eyes are out of focus then it’s red like blood. Have you ever seen a hand like that?

I held my hand out to touch the soft fur, the hair was damp and cold as though it has been iced!

I tapped on the keyboard again, now its hand and my hands touched each other, our fingers were intertwined, caressing as though we were lovers. They tenderly spoke to each other, confiding in one another, they cleaned and trimmed each other’s nails, massaging each digit, exploring all of each other’s gaps and crevices, no different from those well renowned masseuses in town.

That resentful hand slips in and out as though it wanted to make love to my hand. As I came to this sudden realisation, the fear which was already there within me grew. Have you ever considered a lustful encounter with another hand? The thought of it makes me sick! Those fingers were openly caressing. They encouraged, made promises, tried to connect with my hands at all intimate levels, on the desk, in front of the computer.

Outside the earth and the sky, they were all in their rightful, peaceful place. The lush green leaves rustling in the gentle breeze. The clouds drifting, birds singing in the treetops. Thousands of things remain unchanged. In this particular ridiculous predicament, I was alone.

It felt as though something awful was about to happen: When all those hairy and or slippery smooth hands pop out to caress and hold onto each other, it means there’s a fall in self-worth as the result of my dark fate. I will never write again!

Out there the wind blew, clouds flew, birds sang and dogs barked, and I was here alone and confused. My pupils dilated, the characters on the screen becoming more and  blurry, they were fading – sea leojkư ặcặc belly button kongà.

Writer’s block was a common problem, and one of the symptoms of such a problem is self denial. These writers would walk around boasting about all the ideas they have but really they weren’t able to spit out a word sitting in front of their computer at home. They’re sure that, one day, their work will create an echo through the writing community, and one day they’ll get their Nobel Prize. My situation is a little different, the desire to write is there, but my hands are always busy doing other things other than writing!

Quiet, I took a sharp knife out of the kitchen drawer, I will chop off the hairy limb, and report it to the authorities; after that, whatever happens, happens. But by the time I arrived at the police station gate, it was gone. Annoyed, I threw away the knife, chucked the computer, and lay down on my back in the garden.

These days, I don’t know if there seem to be dark omens, monsters keep appearing, strange creatures everywhere.

It started with red tail vipers attacking some locals, then a sounder of feral swine goring eating people in another town. Rumours also of the sightings of elephants and cheetahs.

I wanted to write about what had happened, but now I’ve come to terms with these lustful hands each time I sit down and log on to the computer or put pen to paper! I was not sure how many dozens of laps of the backyard I did, not that it’s very big, back and forth as I stumbled over my footprints. Then there it was, an idea; I took a piece of charcoal with me to the middle of the courtyard, I sat down, I began to sketch, I practised how to relay a story without words.

I illustrated a bed of snakes slithering in a circle, in the centre, a wild pig with its jaw wide open, outside, an ambush of cheetahs baring their fangs. I also drew a human, the victim lying in the middle of the yard, all black and blue from the gnawing and poison. The Sun high illuminated all the animals and the human brightly. They moved, climbing atop each other, crawling away, taking steps, the human at the bottom dying, on the ground in a fit, mouth spitting blood and saliva, a hand reaching for the sky in a portrayal of injustice.

I’m an artist, a real potter, dripping in sweat, staring at my work. Where, where’s what I want to say? Not here. Only a nagging laden tale. I’ve accomplished nothing? I thought harder. That’s right, I’ll draw a hand, ah but no, that’s stupid, what if it would. I’m terrified of that hand! I illustrated a face instead, a gentle, happy, reflective, tolerant, generous, affectionate, steeped in love, meaning and bright etc. amidst a portrait of the agony of life, and see if that face will save us from all that pain.

When the human face appeared, immediately the snakes lowered themselves to the ground, quietly crawling away like May 5th. The wild pig lay prostrated as though severely maimed, the ambush of cheetahs’ ears drooped turned away. Aha, that’s how it should be, how life should be, there’s the truth, there’s the wisdom, goodwill shine, to brandish the evil, correct! I reward myself with a glass of cold water, reward a gifted storyteller who could still portray what he wants to say without the need of a keyboard nor pen. I drank the water as I waited for the natural laws of the universe. I waited forever, and the body still did not move. Hang on, wake up my friend, this life is very much worth living, evil won’t continue to torment. Wake up and look at those kind, generous eyes, there’s Buddha, there’s the almighty up high, Allah, stand up and live? But, the laws of the universe that I live and die by was useless. The dead body is still a dead body, laying bane-fully there, ignoring my pleads. I’ve failed as a writer. I hated that evil hairy hand. In the glaring high noon light, with a twinkle in his eye the beautiful face smiled. A sudden hatred overwhelmed me, there’s no point smiling when death is evident?  The more it sank in, the more I was filled with rage, I grabbed a cleaver and I logged on to the desktop. The hand popped out, the knife in one sharp movement, it severed and flopped around like a human hand. Die die!

Like a wife in a fit of jealousy cuts off her husband’s member, with relish, I picked up the severed hand and examined it still oozing blood. Out in the yard, there was a sudden scream like someone was impaled. I headed out (can you see the trouble I’m in!), saw the human face rolled up, in pain. Someone’s voice spoke amid the dry, hot day: “Give me back my hand!”. Who? Snakes and cheetahs can’t talk, there are only two people, one is dead, the other one smiling and screaming.

Alone I laughed under the midday sun, no one else in the house, disturbed by the laughter even clouds disappeared. I took the piece of charcoal, and drew once more a hand, beneath the human’s body, for that kind face, placing the hairy hand in the correct place. The hand belongs to him! Do you recognise it? I took a few steps back, stared. The face of God, Allah and Buddha glorious again, the revived hand-waved.

I abandoned writing altogether, not because I’m hindered by the hand. But because the secrets were exposed from the moment I lifted my cleaver.

Now without absolution believe in those compassionate, kind faces, even more, do not hate or resent those snakes and cheetahs. I’m suspicious now of the usual old tales.

Every day, I’m still in the front courtyard, hand holding a piece of charcoal, drawing redrawing, faces of monsters, faces of people, and the hands.

_____

Bàn tay

Những ngày này, lạ lắm, hễ mỗi lúc mở máy tính ra viết thì y như rằng có một bàn tay nào đó từ dưới bàn phím thò ra chặn, níu tay mình lại: Thôi mà, đừng mà, đừng viết nữa mà… Tôi lì lợm gõ phím thì bàn tay đổi giọng: Nghe không, không viết nữa…

Tôi bỏ máy lấy quyển sổ nhỏ ra ghi, y như rằng, bàn tay ấy từ trong quyển sổ thò ra: Thôi mà, đừng viết nữa mà…

Nếu thật đúng thế thì thôi, tôi sẽ không biết nữa, chỉ giả vờ mở máy ra gõ mấy kí tự ngớ ngẩn thôi, để làm gì, bạn biết không? Tôi sẽ rình xem bàn tay ấy, là của ai! Ai, đứa nào dám ngăn, dám cản, dám năn nỉ, dám dọa dẫm, trong khi, không viết gì, coi như tôi đã chết rồi.

Sáng nay, như thường lệ, tôi mở máy tính ra, xòe mười ngón tay khởi động trên bàn phím. Lập tức, bàn tay ấy thò ra. Tôi giả vờ như còn bận ngó vào màn hình, không để ý, nhưng tập trung quan sát rất kỹ. Trời ơi, bàn tay đầy lông lá, không phải tay người!

Hóa ra, trong máy tính của tôi, có một con quái vật đang làm chuồng làm tổ? Tôi lập tức tắt máy, vác ra tiệm sửa. Cố gắng trình bày ngắn gọn, dễ hiểu nhất, nhưng chàng thợ sửa máy vẫn không tài nào hiểu được. Cậu ta gắt: “Tóm lại là ông muốn gì?”. Tôi khẩn khoản: “Đuổi nó ra ngoài dùm anh với?”. Cậu gỡ hẳn cặp kính cận, đứng dậy vươn vai: “Chà chà, ca này nặng lắm rồi đây…”. Tôi thừa hiểu, câu này nhằm vào tôi, không nhằm vào cái máy tính chết tiệt. Cuối cùng, cậu chủ tiệm nói: “Ông lấy máy tôi về dùng xem sao!”…

Máy mới, ý tưởng mới, tôi hăm hở, tôi hào hứng, à, phải rồi, mình sẽ viết, sẽ viết, viết nữa. Thế nhưng, vừa mở máy, bàn tay lông lá lại thò ra giật giật, lắc lắc. Lông nó màu trắng như cước, nhìn kỹ thì long lanh như bạc, nhìn mãi đến hoa mắt thì đỏ như máu. Bạn đã bao giờ thấy một cách tay như vậy chưa?

Tôi thò tay rờ rẫm vào lớp lông mịn màng, hơi lạnh tỏa ra như ướp đá, kinh!

Tôi không gõ bàn phím nữa, bây giờ tay nó và tay tôi rờ rẫm, xoắn xuýt, vuốt ve nhau như tình nhân mới bén. Chúng chuyện trò thủ thỉ, tâm sự, chúng gãi vào móng, nắn nắn các ngón, miết vão các kẽ hở, không khác gì bàn tay của những cô thợ mát xa nổi tiếng ngoài thành phố…

Cái bàn tay lông lá đáng ghét ấy, nó mơn trớn quá đà như thể muốn làm tình với tay tôi. Khi ý nghĩ này xuất hiện thì tôi bắt đầu thấy hoảng. Bạn đã bao giờ tưởng tượng, cuộc thông dâm của những bàn tay chưa? Nếu có, thì kể ra cũng khủng khiếp nhỉ! Những ngón tay ấy mơn trớn và khiêu khích một cách lộ liễu. Chúng giao hoan, chúng hứa hẹn và thề bồi, cam kết với nhau đủ thứ, trên bàn viết, trước máy tính, sáng nay…

Thế mà, ngoài kia, trời đất vẫn thanh bình. Những hàng cây rì rào trong gió. Mây bay trên trời và chim hót trên cây. Vạn vật vẫn không hề đổi thay. Chỉ có mỗi mình tôi là rơi vào chuyện trớ trêu.

Tôi nghĩ, điều khủng khiếp đang dần lộ diện: Khi những bàn tay lông lá hoặc trơn nhẫy đưa ra nắm lấy nhau và ve vuốt, tức là đã có một cuộc ngã giá trên chính thân phận đen đủi của mình. Như vậy, tôi sẽ không bao giờ còn viết lách gì được nữa!

Ngoài kia gió thổi mây bay chim kêu và chó sủa, còn tôi ngồi, mặt đần ra như đang bị thôi miên. Đồng tử giãn ra, những ký tự nhòe dần, thế là hết, biển leojkư ặcặc rốn kongà…

Tôi vẫn thường nghe nhắc đến triệu chứng mất chữ ở các nhà văn, tức là khi ngồi cà kê thì chém rất ác, rằng sẽ viết nọ viết kia, đang viết nọ viết kia, mà về nhà thì một chữ cũng không rặn nổi. Họ vẫn đinh ninh rằng, một ngày nào đó, tác phẩm của họ sẽ gây ra một tiếng vang, giật giải nọ giải kia, trong khi, hàng ngày, họ không hề viết. Trường hợp tôi hơi khác một chút, muốn viết nhưng tay đang bận!

Tôi lặng lẽ vào bếp, trở ra với con dao thật bén, tôi sẽ cắt phăng bàn tay lông lá, rồi mang lên phường trình báo, sau đó muốn ra sao thì ra. Nhưng lên đến nơi, lại không thấy nó. Bực mình, tôi vứt dao, bỏ máy, ra sân dạo.

Dạo này, không biết có phải là điềm báo đen tối hay không, quái vật xuất hiện, tác quái khắp nơi…

Đầu tiên là rắn lục đuôi đỏ xuất hiện dày đặc ở đâu đó và liên tục cắn người, sau đó là một con hay một bầy heo rừng xuất hiện ở đâu đó húc và cắn người. Nghe đồn là voi rừng và hổ báo ở đâu đó, cũng sắp xuất hiện ở đâu đó …

Tôi muốn viết lại những câu chuyện ấy, theo cách của tôi, nhưng bây giờ thì chịu rồi, mở máy hoặc giấy bút ra là lại phải ngồi chứng kiến tay nọ làm tình với tay kia! Tôi dạo quanh sân không biết mấy chục vòng, như một nhà hiền triết đang nghiền ngẫm. Mà mảnh sân nhà tôi, đâu phải rộng rãi gì, đi tới đi lui lại dẫm vết chân mình. Phải rồi, tìm cách khác. Tôi lấy một hòn than, ngồi vẽ giữa sân, tập kể lại một câu chuyện mà không cần có chữ nghĩa…

Tôi vẽ một bầy rắn bò ngoằn ngoèo giữa sân theo một vòng tròn, ở giữa là một con heo rừng đang há mõm lồng lộn, bên ngoài, một bầy hổ báo nhe nanh. Tôi vẽ thêm một con người, là nạn nhân của bọn ác thú, đang nằm giữa sân, đen thui vì trúng độc, vì bị cắn. 

Nắng lên cao, soi rọi bầy thú và người. Chúng lay động, vờn nhau, trườn đi, cất bước, người nằm dưới chừng như sắp mất mạng, lăn qua, lăn lại, miệng trào máu hay bọt mép, bàn tay chới với muốn níu lấy trời xanh để giãi bày oan khuất.

Tôi, như một nghệ sĩ đích thực, như một bác thợ gốm, nhễ nhại mồ hôi, đứng nhìn tác phẩm của mình. Đâu rồi, điều tôi muốn nói đâu rồi? Chưa thấy. Mới chỉ là một câu chuyện nặng về kể lể, tả thực. Không lẽ xưa nay tôi mới chỉ làm chừng đó thôi sao? Tôi căng óc tính toán. Phải rồi, tôi sẽ vẽ thêm một bàn tay, à mà thôi, ngu quá, lỡ ra nó lại… Tôi sợ tay lắm! Tôi vẽ một gương mặt, hiền từ, phúc hậu, trầm ngâm, bao dung, độ lượng, trìu mến, ánh nhìn thấm đẫm yêu thương, lại nghiêm nghị, sáng láng vân vân vào chính giữa bức tranh đau đớn của cuộc sống, xem thử nó, cái mặt ấy, có cứu rỗi nỗi đau không…

Gương mặt người xuất hiện, lập tức lũ rắn cúi sát người xuống đất, lặng lẽ bò đi như vừa đến mồng Năm. Chú heo rừng nằm phủ phục như bị trọng thương, bầy hổ báo cụp tai ngoảnh mặt không dám nhìn. A ha, phải thế chứ, cuộc sống đấy, chân lý đấy, minh triết đấy, cái thiện sẽ tỏa bóng lên, cảm hóa cái ác, phải không!

Tôi tự thưởng cho mình cốc nước lọc, tự thưởng cho người kể chuyện tài ba không cần bàn phím và cây bút vẫn nói được điều mình muốn nói. 

Tôi vừa uống nước vừa đợi chờ cái quy luật vận hành quen thuộc của vũ trụ. Nhưng đợi mãi, vẫn không thấy cái xác người cựa quậy. Ơ hay, dậy đi mày, cuộc sống này đáng sống lắm, cái ác không hoành hành mãi được đâu. Dậy mà nhìn vào cái ánh mắt đầy trìu mến bao dung kia kìa, Đức Phật đấy, Chúa Trời đấy, Thánh Ala đấy, dậy mà sống đi chứ?

Nhưng, cái quy luật mà tôi cố sống cố chết bám lấy mà tin ấy, lúc này không còn tác dụng nữa. Cái xác chết vẫn là cái xác chết, nằm chình ình ra đó, mặc cho tôi lay gọi, động viên. Có lẽ là tôi thất bại rồi, viết không được, vẽ cũng không xong. Tôi buồn, tôi chán tôi lắm lắm. Đứa bất tài vô dụng! Tôi thù oán cái bàn tay lông lá chết tiệt đã ngăn đã cấm đã vuốt ve tôi. Nếu không có nó, thì tôi vẫn đang điềm nhiên ngồi viết, chứ có đâu ra nông nỗi này. Trong nắng trưa chói lóa, gương mặt người phúc hậu rõ ràng là đang nheo mắt cười với tôi. Tự dưng, tôi ghét lây cái nheo cười giả dối ấy, cười thì làm được gì, khi mà người bị rắn cắn kia không sống lại được, hỡi người?

Càng nghĩ, càng uất, khí giận bừng bừng, tôi nhặt dao lên chạy vào ngồi trước máy tính. Vừa lúc tôi xòe tay thì bàn tay oan nghiệt kia lại thò ra. Tôi mạnh mẽ cắt phăng một nhát. Nó rời ra, lăn lóc, như tay người thật. Cho mày chết! Như một bà vợ cuồng ghen vừa cắt con giống của chồng, tôi hả hê nhặt bàn tay còn dính máu lên nhìn. Ngoài sân, bỗng có tiếng kêu thét như người bị đâm, bị chém. Tôi nhào trở ra (bạn thấy tôi khổ không!), thấy gương mặt người đang nhăn nhó, đau đớn. Tiếng ai nói rõ ràng giữa ngày nắng khô: “Trả tay tao đây!”. Ai? Rắn rết hổ báo không nói được, chỉ có hai người, một đã chết, một đang vừa cười vừa khóc. Hay là… 

À, phải thế chứ, mày nhé, hèn gì. Tôi cười một mình, thật to, giữa trưa nắng, nhà không có ai… Tiếng cười làm đám mây đang điềm tĩnh bay qua trên đầu giật mình bỏ chạy. Tôi lấy hòn than, vẽ thêm một cái tay nữa, vào dưới thân người, cho cái gương mặt ấy, xong rồi đặt cánh tay lông lá vào đúng chỗ của nó. Đến đây, thì bạn đã tưởng tượng được chưa? Bàn tay ấy là của người ấy! Không hình dung được phải không? Tôi lùi lại vài bước, đứng nhìn trân trối. Gương mặt của Chúa Trời và Thánh Ala và Đức Phật tươi trở lại, cái tay đáng ghét giơ lên vẫy chào…

Rồi tôi bỏ viết, bỏ hẳn, không phải vì bàn tay quái ác kia ngăn chặn. Từ lúc tôi vung dao lên, mọi thứ đã thay đổi, đã lộ diện những bí ẩn mà trước đó tôi chưa lường được.

Bây giờ thì tôi không còn đinh ninh tin tưởng những gương mặt nhân từ, càng không căm ghét bọn rắn lục và hổ báo. Tôi hoài nghi luôn câu chuyện mà tôi vẫn thường kể lể trước đây.

Hàng ngày, tôi vẫn quanh quẩn trước sân, tay cầm hòn than, vẽ đi vẽ lại, gương mặt của ác thú, gương mặt của người, và những bàn tay./


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: