Portrait of the truth

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Nguyễn Thị Phương Trâm 

I tried with great difficulty to capture a portrait of the Truth, but after hundreds of retakes, there’s always only half of the Truth, and the other half was always hidden. When the photo was posted, people were all audibly enthusiastic, surprised, full of hope and indignation. They believed they were facing the truth. I apprised aloud: This is only half of the Truth, the other half is lagging way behind. But they refused to believe in what I had pointed out to them, they would leave, looking for more images like mine.

Do you know the value of the Truth? I don’t know for sure, but I guess it’s a considerable cost, perhaps enough for the exchange of life. Hence the Truth will always overshadow all aspects of living. It’s a long black shadow, a dark spectre, a free-flowing nefarious cape of Lucifer. Inside its shadow echoes were the tears and laughter, all that is damp and wet, reeking the smell of parties, and excessive sugary defilements.

Near the poles, the Sun is ever bright; hence, the shadow of the Truth is a permanent imprint on the land. We dwell for a long time there, looking out now and then, like toddlers playing hide and seek with themselves in front of a mirror.

Therefore, in order for the Truth to reveal itself, we need a bit of a reflection, a bit of judgement and a bit of wonder.

I’ve captured an island, from high above, the island was as blue as a bout of rain, as green as a meadow, lay there calmly in the middle of a peaceful sea. Have you seen it? The harmonious colours, glimmering light, brilliant, glorious! But it’s just a shadow of the Truth. The Truth here is only an illusion. Where I’ve just flown by, there has never been an island. If I think about it hard enough, it would appear. As for the others, knowing it’s not what it is, still full of praise, so pretty, so adorable, so endearing, it feels like a piece of me! They hide the Truth to appease a different reality.

Beyond the metaphysical, right?

The vocation of writing has made me wary, filling me up with delusions. No one wants that. One person is right; one hundred is still okay. But when the whole community is wary and delusional, it could only conclude in two possible ways: for one that community may achieve greatness; or two, that community could end up splitting up in despair.

Why is that?

Simple, they will abandon their faith completely when there’s no other faith to replace it.

Looking at all the intelligent faces boasting about their achievements, prizes, etc. in a photograph, no one believes it’s an image of the Truth.

The nature of doubt is contagious — an act, overbearing, and deceiving. I’ve heard first hand these words of deceit, at a photographic exhibition still open here in our town museum.

The doubt will come to the point of fixation, forcing you and me to be doubtful of our ego, disbelieving what is sceptical. And sooner or later, we have to see it to the end: That is, when is the beginning? Whose power has given birth to it? Or more straightforward, is it the evidence to Hegel’s ultimate theory?

If you want to eat a length of sugarcane, you have to de-shell it. If you’re going to discard the shell of scepticism, you have to extinguish the light, the Sun, not the cover of its shadow. Perhaps then, beyond the dark cover of night, you may leave. The hands you’re then able to grasp, would be the hands of the Truth, not some dangling corporal medal. Faces may dawn upon a face, the face of reality, full of the warmth of being alive, not some decorative designer cloth clinging to your skin.

In conclusion, it’s rare to meet a face worthy enough of the name to appear naked in daylight. Is it not a tragedy? It’s up to you to decide. Though there’s this, of the life that we’re presently living, in reality, none of these happy tragedies ever desist. Hence, every night eagerly, I pour alcohol down my throat, and in my dreams, infrequently engage with various faces. 

Do we need to tirelessly honour the shadow of the Truth, is this not exhausting? It would help if you found a way to unwind, like seeing a beauty contest, for an instant. Where many details are required to form beauty, eyes, voluptuous curvaceous lips, the cries, the laughter, criticism, scepticism, passing about etc. After that, do not harbour any desire to bury yourself under a blanket and sleep. Before sleeping, imagine the round face of the writer incarcerated yesterday afternoon. There’s something about their features resembling Truth. Just that much, only then, will you rest in peace.

I’ve been driving around town, ro do what, do you know? I’ve gone and found my real face. My face does not live at home, or on my person, for a long time now. It had fallen somewhere amongst the weeds, in the mud, along the side of the road of this tiny mountainous town. Now and then, I bring out my camera to admire and take pictures of my face, before deleting them, because I know, it’s not me.

Here’s a little secret, there’s a scar under my chin. Putting it cryptically, it’s sad evidence from those violent and damaging adolescent years. But no one will ever discern it. I stopped the vehicle on a bridge; beneath the bridge, the flowing stream was crystal clear, someone had mentioned. As I looked down, the scar appeared, as an imprint on the surface of the water, ruby red like evidence of a kiss.

My face was suddenly filled with anguish, and trespass.

And that was only a teeny tiny detail of the Truth!

[May 2019]

Chân dung sự thật

Tôi cố gắng chụp một bức ảnh chân dung Sự Thật, nhưng chụp đi chụp lại hàng trăm lần, cũng chỉ có một nửa sự thật thôi, còn một nửa luôn luôn bị che khuất. Khi bức ảnh được đăng lên, nhiều người xem và ồ lên thích thú, ngạc nhiên, hy vọng và căm phẫn. Họ tưởng đang đối mặt với sự thật. Tôi khuyến cáo: Đó mới chỉ là một nửa sự thật thôi, còn một nửa đang nằm xa phía sau kia. Họ không tin, và bỏ đi, xem tiếp những bức ảnh khác…

Bạn biết Sự Thật có giá bao nhiêu không? Tôi cũng không biết chắc, nhưng đoán chừng đắt lắm, có khi đổi cả mạng sống. Vì thế mà Sự Thật luôn luôn đổ bóng lên mọi diễn biến của đời sống. Bóng đen của nó kéo dài như bóng ma hắc ám, như một áo choàng của quỷ phấp phới bay. Từ trong đó vọng ra những khóc cười, những thi vị ướt át, những hân hoan mùi mẫn, những cưỡng hiếp ngọt ngào…

Ở xứ nhiệt đới, mặt trời luôn hiện diện chói lòa, vì vậy, bóng của Sự Thật cũng theo đó mà in rõ ràng lên mặt đất. Chúng tôi sống lâu trong đó, lâu lâu ngó ra ngoài, như những đứa trẻ thiểu năng chơi trò chơi trốn tìm với chính nó trong gương…

Vì vậy, để nhìn được một chút sự thật nào đó, chúng ta cần một chút liên tưởng, một chút phán đoán và một chút hoài nghi.

Tôi chụp một hòn đảo, từ trên cao nhìn xuống, xanh như một cơn mưa, xanh như một cánh đồng, nằm thanh bình trên biển lặng. Bạn thấy chưa? Màu sắc hài hòa, ánh sáng long lanh, rạng rỡ, đẹp lắm! Nhưng nó mới chỉ là bóng dáng của Sự Thật thôi. Sự thật, đó chỉ là một ảo ảnh. Trên vùng biển tôi vừa bay qua, không hề có hòn đảo nào hết. Tôi nghĩ đến nó và nó có mặt. Những người khác, biết nó không còn là chính nó, nhưng vẫn khen, đẹp quá, yêu quá, gắn bó quá, ruột thịt quá! Họ đang che giấu sự thật để vỗ về một sự thật khác.

Siêu hình quá, phải không?

Công việc viết lách bắt tôi nghi ngờ và tưởng tượng. Không ai muốn thế cả. Một người thì được, một trăm người, vẫn còn được. Nhưng nếu cả một cộng đồng hoài nghi và tưởng tượng, thì có hai khả năng: Một là cộng đồng đó vĩ đại, hai là, cộng đồng đó sắp lao xuống vực thẳm.

Vì sao ư?

Đơn giản, họ sẽ mất hết niềm tin. Khi chưa có một niềm tin khác thay thế.

Nhìn vào một gương mặt tươi cười đang nói về những chiến công, thành quả vân vân… trong một tấm ảnh, tất cả mọi người đều không nghĩ tấm ảnh đó là sự thật.

Cảm giác hoài nghi có tính lây lan. Diễn, làm gì có chuyện đó, phét lác, lừa lọc… Tôi đã nghe tận tai những từ ấy, tại một cuộc triển lãm ảnh về cuộc sống đương đại tổ chức trong bảo tàng thành phố, hôm qua.

Sự hoài nghi sẽ đến lúc ám ảnh mạnh mẽ khiến tôi và bạn hoài nghi chính mình. Hoài nghi nỗi hoài nghi. Và không sớm thì muộn, tôi và bạn phải truy đến cùng: Cái ấy, bắt đầu từ đâu? Ai, thế lực nào đã tạo ra nó? Hay đơn giản, nó chỉ là một minh chứng cho thuyết ý niệm tuyệt đối của Heghen?

Muốn ăn một khúc mía, bạn phải bóc vỏ. Muốn vứt bỏ hoài nghi, bạn hãy tắt ánh sáng đi, tắt mặt trời đi, đừng để cái bóng của nó che lấp. Khi đó, đêm đen sẽ bao trùm, bạn bước đi. Bàn tay nếu nắm được bàn tay, sẽ là bàn tay thật sự, chứ không phải là một công cụ đeo bám bên cạnh con người. Khuôn mặt nếu nhìn thấy khuôn mặt, thì đó sẽ là khuôn mặt thật, chứa chan hơi ấm của sự sống, chứ không phải là một vật trang trí phía trên thân xác con người…

Nói như vậy cũng có nghĩa là, bạn sẽ hiếm khi gặp được một gương mặt xứng đáng với cái tên gọi của nó giữa thanh thiên bạch nhật. Điều đó có phải là bi kịch không? Tùy bạn nghĩ. Chỉ có điều này, cuộc sống mà chúng ta đang sống, thực sự chưa bao giờ chấm dứt các bi kịch vui vẻ. Vì vậy, tôi thường nốc rượu rất hăng hái vào mỗi đêm, và trong mơ, thỉnh thoảng có gặp một số mặt người…

Chúng ta luôn luôn phải chiêm ngưỡng cái bóng của Sự Thật, mệt mỏi quá phải không? Bạn hãy tìm cách thư giãn đi, ví dụ như xem một cuộc thi hoa hậu chẳng hạn. Ở đó có rất nhiều chi tiết cấu thành cái đẹp, những mắt những môi phong nhũ phì đồn, những khóc những cười, phỉ nhổ, hoài nghi, đánh đổi vân vân. Và sau đó thì đừng thủ dâm mà hãy trùm chăn nằm ngủ. Trước khi ngủ bạn tưởng tượng lại gương mặt tròn xoe của một nhà văn vừa bị bắt chiều qua. Có một cái gì đó gần gần giống gương mặt thật. Chừng đó thôi, sau đó, bạn sẽ ngủ một giấc thật dài…

Tôi vừa phóng xe một vòng quanh thành phố, để làm gì, bạn biết không? Tôi đi xem bộ mặt thật của tôi. Mặt tôi không ở trong nhà, trên người tôi, từ lâu lắm rồi. Nó rơi đâu đó trong cỏ, trong bùn, dọc ven đường của phố núi bé tẹo này. Thỉnh thoảng tôi có đưa máy lên ngắm mặt tôi và chụp, xong rồi lại xóa đi, vì tôi biết, đó không phải là tôi.

Có một bí mật nho nhỏ, dưới cằm tôi có sẹo. Nói một cách ẩn dụ bóng bẩy thì đấy là dấu vết tổn thương của một tuổi thơ dữ dội và rách nát. Nhưng mà không ai biết đâu. Tôi dừng xe lại trên một cây cầu, dưới cầu nước chảy trong veo, chả biết ai từng nói thế. Tôi ngó xuống, và vết sẹo nổi lên, in ngay mặt nước, đỏ chót như một dấu môi hôn…

Đau đớn và đầy tội lỗi, mặt tôi đấy…

Đó cũng mới chỉ là một phần bé tí tẹo của Sự Thật mà thôi!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Cursed

A short story in Vietnamese by Tạ Xuân Hải
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Sòng bridge was a place completely devoid of people. If there was an emergency where someone had to cross the river, people would walk two kilometres downstream and use a different bridge. Or they would use a boat to cross. On a good day when the water was calm enough they would wade and swim. But they would never set foot on that bridge. Not sure since when, but the villagers have been afraid of it for so long, they would avoid it as though there was some kind of demon. Out of respect and fear, to appease whatever was there they erected an altar at the foot of the bridge, and called it their Lord. Their Lord’s curse had been passed on from generation to generation to the present date:

“A heel on Sòng bridge and it’s

Death to women at dawn

and death to men at dusk”

Sòng bridge lay there, asleep in the past, like someone who had suffered unbearable hardship, resting their head on their arms, legs sprayed out on the floor, not waiting or hoping for the want of anything any more, nor do they care to share their burden or need anyone to understand them.

But then one day, from a distant land came to the village across the bridge was a rather small framed elderly man. Instantaneously the excitement spread through the village, he’s going to die some afternoon soon. A number of people turned up at the old man’s rental home to warn him about the frightful curse. They had also added that he won’t die immediately, because our Lord needs time to wake up properly before delivering his most fitting punishment, a death more horrible than ever before. “Our Lord dislikes incessant repetition.” They said, “Our Lord is always prepared to cast the most horrific punishment of all.” They did all the worrying on the old man’s behalf, while he sat there puffing away on his cigarette, politely smiling as his wrinkly eyes fell wistfully always in the direction of the river. They pressed on and on about how it was not a laughing matter. They counsel that he should think about possible offerings at the altar at the foot of the bridge as an apology to their Lord, offerings might save his life, even though they weren’t sure that it would work. “But you have to try, rather than just wait here and die.”

Seeing how the old man would only smile, they figured it’s best to tell him about the ghastly deaths of those who had set foot on the bridge. “So, you’ve seen these deaths with your own eyes?” the old man asked. They panicked, but recovered almost immediately. They claimed that the village elders have witnessed such deaths and have passed on such knowledge to them. They recited a list of names. “You have to believe us, it’s all true.” But after seeing that he was still unaffected by it, it angered them. “He must think we’re children.” They mumbled under their breath. They left aggravated and angry. “Let him die!” they said. They believe it will happen, not only do they believe it will happen, but they hope that he would actually diel. They cursed him. “Then he’ll see!” They waved goodbye to each other before heading back to their homes.

The next day the entire village gathered in front of the old man’s house, anxiously they waited for the stupid and obstinately old guy to drop dead. They stood around in groups, out in the streets and would now and then look into the old man’s home. The old man sat at a wooden table out by the verandah, his eyes always staring at something on the table. Now and then he would lift his right hand to his mouth and inhale deeply on his cigarette. Sometimes he would smile to himself, and occasionally buried his face in both of his hands. Totally unaware of the people outside in the street, waiting for him to die. Then, thoughtless and careless, he dropped his glass on the tiles. The hollowed sound echoed through the crowd, startling them. “It’s happening.” The whispered. They were on their toes trying to get a better look. Some pushed their way towards the gate. They mumbled this and that into each other’s ears. The elderly women in the village burst out in prayers. Some closed their eyes, dare not look. The old man got up slowly from his chair, got a broom and swept the shattered glass together. Then he chucked the pile of broken glass into a bin nearby. Only then was he suddenly aware of the people standing outside, watching him. He smiled and nodded, greeted them, but no one responded. He placed the broom against the wall and returned to his table, lit another cigarette before again looking down at whatever it was as though nothing had happened at all.

The crowd grew more anxious as the sun began to fall. Some of the women were a bit disappointed because they had to leave to sort out their evening meal. “Give us a shout when it happens, yeah.” They nudged, urging anyone who stayed back. The kids were dragged home as well even though some of them refused to budge. Chucking a fit on the ground crying and screaming until the adults threatened them with – if they won’t leave our Lord will also come after them. A couple of dozen people remained, amongst them were a few village elders. They sat in a circle at the foot of a huge nacre. 

“The old guy will die right?” A baby-faced guy asked.

“He will die alright, it’s a matter of time. There’s no way of knowing when it will happen exactly, but it will happen. Maybe our Lord has not yet decided on what should be a fitting horrible death, since it has been so long.” An elder added. 

“What if our Lord has forgotten about his curse?” Cheekily another guy added.

“Blasphemy! Our Lord will never age!” An elder spoke up as he tapped his tobacco pipe on the ground. “Doesn’t matter how it will happen, but it will take place this afternoon.

A couple of them got to their feet to get a better look inside the old man’s house. But he was still staring at something in his hand on the table. They shook their heads and sat down again with the others. 

The horizon was smeared with darkness. The crowd had shrunk to about a dozen people. And nothing happened. The old man got up and started the preparation for his evening meal. The fire lit up his wrinkly tranquil peaceful face. The crowd by now was rather bored. They sat there passing around the tobacco bong, taking turns yawning. Some were slapping their legs trying to chase away the mosquitoes. A number of them took a last look into the old man’s house, wiped the dirt off their bum and left. By seven o’clock they were all gone. But throughout the night they were alert and anxious for any sound coming from the old man’s rental home. They were still hopeful that the strange old man from some far away place would succumb to the devastating horrible death, better late than never, they thought. They were as excited for the old man’s misfortune as they would have been for the spring festival. As they fell into a slumber filled with  indescribable anxiousness, filled with terrifying but satisfying dreams. 

The next day, then the day after that, the old man was as unaffected as the day he sat foot across the bridge. But to the villagers it was not good news. And of course there were a number of people who were unaffected by the whole thing. A number of people, especially the young, didn’t give the entire thing a thought. They had plenty of other interests which drew their attention. As for the little children, they had pretty much forgotten about the whole thing. But to some it wasn’t so simple. To them it was an unforgivable mistake. How could a stranger from an unheard of place be so disrespectful, dare step on the village’s age-old curse? And had not suffered from any repercussions? He had brought all this chaos upon the community. He had shaken not only the villagers faith but also that of the village elders. What happens when the young ones no longer listen to their elders? Curses will become obsolete, threatening the order of society itself. A man must pay for his crime. So, an emergency meeting was necessary. The man in question had to leave. He’s not human, he must be some kind of demon in human form. Why? Because even our Lord dare not punish him. He’s an abomination. He had managed to overcome our curse. He had managed to overcome our Lord. As for the villagers? What will happen to them when our Lord finally wakes up and takes it out on the innocent villagers like us instead? Our Lord will destroy the village if we continue to harbour his sworn enemy.

That afternoon, a number of them turned up at the old man’s home to announce the villagers’ decision. “It’s a fair decision.” They carefully observed his reaction. The elderly man sat there quietly staring out at the river, with a distant look in his eyes. “You must leave this afternoon, it has been decided, this very afternoon, remember that.” They repeated it a couple of times to make sure he had heard it, before they left him alone. The elderly man continued to look into the distance. Before he pulled out a small photograph from his pocket, smoothing it out carefully with both hands, lifting it up for a better look in a different light. He thought about his daughter, his wife. They died in an accident, leaving him alone in this life. He had often wanted to follow them, but was unsuccessful after the few times he tried to end his life. He no longer thinks about death. He left the city for the country, as far away as he could so he didn’t have to see any kind of auto vehicle, or car ever again. His feet had brought him to this beautiful idyllic village. He thought this is where he will live out the rest of his life, amongst the trees, rivers, and simple farmers. He had prepared himself spiritually and mentally to retire under this clean and generous horizon. But now it was no longer possible. He’s a sinner, or rather, they’ve insisted that he’s a sinner. He had dared to step on their curse, and disrupted the tranquillity of other people. He had wished often that the curse would come to fruition. Because for a long time now, death was not something to be feared any more, it was something he had accepted. It was something he desperately desired. Now he had to leave. He can not bear people’s hate, their fear. Even if he tries to stay, they will never leave him alone. His feet shook thinking about the road ahead. Exhausted, he went inside. Shoved his clothes into a beaten cloth bag, grabbed the faded bucket hat and put it on his head. For no reason at all, he suddenly had the urge to cross Sòng bridge one more time.

He followed the worned grass strewn path. The worn path long forgotten by people, lay there bearing the innumerable number of piercing needles upon its fresh. He is it, like the bridge, still wondering why it had been abandoned. They are there endlessly remembering the happy feet of the long gone days, waiting to be discovered by fresh new footsteps.

A few days later, they found the old man’s body washed up on a dry grass bank on the other side of the river. The villagers were quick to unanimously agree: The curse was finally fulfilled.

May 2022

—–

LỜI NGUYỀN

Cầu Sòng là một nơi hoàn toàn vắng vẻ. Nếu có công chuyện thật sự cấp bách phải qua sông, người ta đi vòng xuống phía hạ nguồn khoảng hai cây số, ở đó có một chiếc cầu khác. Hoặc người ta chèo thuyền. Cũng có thể người ta bơi khi con nước hiền lành. Nhưng nhất định người ta không đặt chân lên cây cầu ấy. Không biết từ bao giờ, người ta kinh khiếp nó như kinh khiếp một con ác quỷ. Mà quả thật dân làng được kể lại rằng ở đó có một con ác quỷ trú thân. Để vỗ về và để tỏ ra kính sợ, người ta đã lập một cái am thờ ngay chỗ chân cầu, và tôn xưng nó là Ngài. Lời nguyền của Ngài vẫn còn được truyền lại đến tận hôm nay:

“Nửa bàn chân chạm cầu Sòng

Đàn bà chết sáng, đàn ông chết chiều”

Cầu Sòng nằm đó, ngủ trong quên lãng, như một con người đã đi đến tận cùng đau khổ, gối tay lên đầu và duỗi thẳng hai chân, thôi không đợi chờ, thôi không hy vọng, thôi không cần sự sẻ chia hay thấu hiểu của người đời.

Nhưng một ngày nọ, có một ông lão nhỏ thó từ phương xa vừa chuyển đến ngôi làng đã đi qua cây cầu ấy. Ngay lập tức những lời bàn tán nổi lên, rằng ông ta sẽ phải trả giá cho cái hành động liều lĩnh ngu ngốc của mình; rằng ông ta sẽ chết, ngay chiều mai. Một số người đã đến tận ngôi nhà mà ông lão thuê ở và cho ông biết về lời nguyền đáng sợ. Họ giải thích thêm rằng ông không bị chết ngay lập tức, vì Ngài cần có thời gian để tỉnh ngủ và nghĩ ra một hình phạt ghê rợn nhất chưa từng có trước đây. “Ngài không thích sự lặp lại.” Họ nói. “Ngài luôn có những kế hoạch hoàn hảo ghê rợn.” Họ lo lắng thay cho ông lão, trong khi ông cứ bình thản ngồi hút thuốc, cười lịch sự và hướng đôi mắt nhăn nheo ra phía dòng sông. Họ nhấn mạnh với ông rằng đó không phải chuyện để đùa. Họ khuyên ông nên đem lễ vật đến am để cúng và tạ lỗi với Ngài, hoặc đi tìm một thầy pháp đủ mạnh để có thể thông tri với Ngài, nhằm cứu lấy tính mạng, dù họ không dám chắc là những điều có mang lại kết quả hay không. “Dù sao cũng nên thử mọi cách, còn hơn ngồi yên chờ chết.”

Khi thấy ông lão vẫn chỉ mỉm cười, họ kể cho ông nghe về những người trước đây dám đặt chân lên cây cầu đã phải nhận một cái chết đau đớn khủng khiếp như thế nào. “Các bạn đã thực sự chứng kiến những cái chết đó?” ông lão hỏi. Họ hơi bối rối, nhưng hầu như ngay lập tức, họ lấy lại được bình tĩnh. Họ nói với ông rằng có nhiều người già trong làng đã tận mắt chứng kiến và kể lại cho họ. Họ liệt kê ra một loạt những cái tên. “Ông phải tin mới được, vì đó là sự thật mười mươi.” Rồi khi thấy ông vẫn không có vẻ gì sợ sệt, họ tức giận vô cùng. “Lão xem chúng mình như đám trẻ con.” Họ thì thầm với nhau. Họ kéo nhau ra về, lòng đầy tức tối. “Cứ để lão chết đi!” họ nói. Họ tin điều đó sẽ xảy ra, rồi không chỉ tin, họ cầu mong cho điều đó xảy ra. Họ nguyền rủa ông lão. “Rồi lão sẽ trắng mắt!” Họ chào nhau rồi ai về nhà nấy.

Chiều hôm sau, cả đám dân làng đều thấp thỏm chờ đợi lời nguyền sẽ ra tay với lão già lì lợm ngu xuẩn. Họ tụ tập thành từng nhóm, đứng ngoài đường và chốc chốc lại nhìn vào trong nhà của ông lão. Ông lão ngồi ở chiếc bàn gỗ nhỏ ngoài hiên, đôi mắt chăm chú nhìn vào một vật gì đó. Tay phải của ông thỉnh thoảng lại đưa điếu thuốc lên môi và rít một hơi dài. Có lúc ông mỉm cười một mình, có lúc ông đưa hai tay lên bưng mặt. Dường như ông không biết đến đám người đang tụ tập ngoài kia và chờ đợi cái chết của ông. Trong một lần sơ ý, ông làm rơi chiếc ly thuỷ tinh xuống nền gạch. Một tiếng choang khô khốc vang lên làm cả đám đông giật mình kinh hãi. “Bắt đầu rồi đấy.” Họ xì xào. Họ cố nhướng cổ thật cao. Có một số người còn chạy vào tận cổng. Một số kẻ thì thầm gì đó vào tai kẻ khác. Mấy bà già lầm rầm khấn vái. Một số kẻ nhắm mắt không dám nhìn. Ông lão chậm chạp bước ra khỏi ghế, đi lấy một cái chổi và gom những mảnh vỡ thuỷ tinh vào một chỗ. Sau đó ông hất chúng vào thùng đựng rác. Ngay lúc đó ông mới phát hiện ra ở ngoài đường có bao nhiêu là người đang đứng đó, nhìn mình. Ông mỉm cười chào họ, nhưng không ai mỉm cười đáp lại. Ông dựa cái chổi vào tường và trở lại bàn, châm một điếu thuốc mới rồi cúi xuống chăm chú như chưa có điều gì xảy ra.

Đám đông bắt đầu sốt ruột khi mặt trời sắp lặn. Một số phụ nữ đành luyến tiếc trở về nhà để chuẩn bị bữa ăn tối. “Hét lên thật to khi chuyện đó xảy ra nhé.” Họ dặn những kẻ ở lại. Lũ trẻ con cũng bị kéo về, dù một số đứa cứ nằng nặc không chịu. Chúng nằm ra giữa đất và khóc rống lên cho đến khi người lớn dọa chúng rằng nếu không về thì Ngài cũng sẽ đến tìm cả chúng nữa. Còn lại một đám khoảng vài chục người, trong đó có ba bốn cụ già. Họ ngồi thành một vòng tròn trên đám cỏ dưới một gốc cây xà cừ lớn.

“Nó chắc chắn sẽ xảy ra với lão già chứ?” Một gã mặt non choẹt hỏi.

“Chắc chắn nó sẽ xảy ra. Chỉ là không biết đích xác lúc nào thôi. Có thể Ngài đang gắng nghĩ ra một hình phạt thật khủng khiếp, bởi lâu rồi ngài chưa được ra tay.” Một cụ già nói.

“Có khi nào Ngài đã quên lời nguyền của mình không?” Một gã mặt đầy tàn nhang xen vào.

“Quên thế nào được! Chỉ là Ngài suy nghĩ hơi lâu một chút. Hẳn Ngài đã già rồi, không còn minh mẫn và khỏe mạnh như xưa.” Một gã trẻ tuổi khác nói với vẻ tinh nghịch.

“Báng bổ! Ngài không bao giờ già!” Một cụ già vỗ cái điếu thuốc lào xuống đất. “chờ mà xem, kiểu gì cũng trong chiều nay.”

Một vài kẻ đứng dậy và nhìn vào trong nhà của ông lão. Nhưng ông vẫn cúi xuống bàn. Họ lắc đầu với mấy người khác và lại ngồi xuống.

Trời đã nhá nhem tối. Đám đông chỉ còn lại khoảng mươi người. Vẫn không có chuyện gì xảy đến. Ông lão đã đứng dậy, vào bếp nhóm lửa chuẩn bị bữa ăn tối. Ngọn lửa rực lên soi chiếu khuôn mặt nhăn nheo và bình thản. Đám người bắt đầu chán nản. Họ truyền tay nhau điếu thuốc lào và ngáp dài liên tục. Một số kẻ đánh ben bét vào chân để xua muỗi. Một số kẻ ngó vào ngôi nhà lần cuối rồi phủi đít đi về. Đến bảy giờ tối thì không còn một ai ở lại nữa. Tuy vậy, trong đêm, người ta vẫn dỏng tai lên nghe ngóng. Họ vẫn hy vọng tai hoạ sẽ xảy đến với ông lão xa lạ kỳ quặc kia, muộn còn hơn không. Họ ngóng chờ nó như ngóng chờ lễ hội mùa xuân. Rồi họ chìm vào giấc ngủ đầy những băn khoăn khó tả, đầy những mộng mị kinh khiếp thỏa thuê.

Ngày hôm sau, rồi hôm sau nữa, ông già vẫn bình an vô sự. Nhưng đó không phải là tin mừng đối với dân làng. Tất nhiên cũng có một số người nhìn nhận nó một cách bình thản. Một số khác, nhất là những người trẻ tuổi thì hầu như chẳng còn bận tâm. Họ có nhiều thú vui khác để theo đuổi. Trẻ con thì hoàn toàn quên béng. Nhưng đối với một số người thì sự việc không đơn giản như vậy. Đó là một sự xúc phạm không thể tha thứ. Làm sao mà một con người lạ mặt, vừa đến từ một nơi xa xôi nào đó lại dám giẫm lên lời nguyền mà cả dân làng đã phải kiêng sợ từ bấy lâu nay? Và giẫm lên mà không hề bị trừng phạt? Ông ta đã làm cho tập tục bị xáo trộn. Ông ta đã làm cho niềm tin của dân làng vào các vị bô lão bị lung lay. Rồi mọi chuyện sẽ đi đến đâu, khi mà lời nói của các vị không còn được cháu con tuân phục? Thế nghĩa là đâu chỉ lời nguyền bị vô hiệu hoá, mà ngay cả nề nếp kỷ cương cũng bị đe doạ. Người đàn ông kia hiển nhiên phải bị trừng phạt. Và một cuộc họp được triệu tập ngay lập tức. Người đàn ông bị buộc phải dời đi. Ông ta không phải là người, ông ta là một con quỷ dữ đội lốt người. Vì sao ư? Vì đến cả Ngài cũng không dám ra tay trừng phạt hắn. Hắn quá ghê gớm. Hắn chế ngự được cả lời nguyền. Hắn chế ngự được Ngài. Nhưng còn dân làng? Sẽ phải làm sao khi Ngài tức giận và trút tất cả nỗi tức giận đó lên đám người vô tội? Ngài sẽ huỷ hoại cả cái làng này nếu như họ còn tiếp tục chứa chấp kẻ thù không đội trời chung của Ngài.

Chiều hôm đó, một số người đã đến ngôi nhà của ông lão và báo cho ông lão biết quyết định của dân làng. “Thế đã là quá tử tế với lão rồi đấy nhé.” Họ quan sát thái độ của ông. Ông lão ngồi yên lặng, mắt nhìn ra phía bờ sông, một cái nhìn xa xăm vời vợi. “Lão phải dời đi ngay chiều nay, nhớ nhé, ngay chiều nay đấy.” Họ nhắc lại lần nữa để chắc chắn là ông lão đã nghe thủng lỗ tai, rồi họ ra về. Ông lão vẫn ngồi nhìn vào xa xăm. Rồi ông lôi bức ảnh nhỏ từ trong túi áo ra, vuốt phẳng nó và giơ lên ngắm nghía. Ông nghĩ đến vợ và đứa con gái của mình. Họ đã chết trong một tai nạn, bỏ lại ông một mình trên cõi đời này. Ông đã từng muốn đi theo họ, nhưng cả ba lần tự tử đều không thành. Ông không còn nghĩ đến cái chết nữa. Ông rời bỏ thành phố và đi thật xa về những miền quê để không phải nhìn thấy những con đường lớn và những chiếc ô-tô. Rồi đôi chân đưa ông đến ngôi làng tươi đẹp này. Ông nghĩ ông sẽ sống nốt quãng đời còn lại của mình ở nơi đây, giữa cỏ cây và dòng sông tươi mát, giữa những người nông dân bình dị. Ông đã chuẩn bị tâm thế để nằm xuống nghỉ ngơi dưới bầu trời rộng rãi trong lành. Nhưng điều đó giờ đây là không thể. Ông là kẻ có tội, hay đúng hơn, người ta bắt ông phải là kẻ có tội. Một kẻ dám chà đạp lên lời nguyền, chà đạp lên sự bình yên của những người khác. Ước gì lời nguyền trở thành hiện thực, ông đã từng nghĩ vậy. Bởi đối với ông, cái chết từ lâu đã không có gì đáng sợ. Ngược lại, ông còn thèm muốn nó. Giờ thì ông sẽ lại phải ra đi. Ông không thể sống trên nỗi lo sợ và căm ghét của người đời. Mà họ cũng chẳng đời nào để ông yên, nếu ông cứ cố tình ở lại. Chân ông run lên khi nghĩ đến con đường phía trước. Ông uể oải đứng dậy, vào nhà. Ông nhét mấy bộ quần áo vào chiếc túi vải cũ nát, chụp chiếc mũ nồi bạc phếch lên đầu. Không hiểu tại sao, ông lại muốn leo lên cây cầu Sòng một lần nữa.

Ông men theo lối mòn cỏ dại mọc đầy. Lối mòn lâu ngày bị con người quên lãng, nằm đó chịu đựng muôn vàn mũi kim đâm vào da thịt. Hẳn là nó, cũng như cây cầu, vẫn băn khoăn chẳng hiểu vì sao bỗng chốc mình bị bỏ rơi. Chúng ở đó, nhớ lại những bước chân nhộn nhịp một thời xưa cũ, và ngóng đợi những bàn chân mới.

Mấy ngày sau, họ tìm thấy xác ông lão dạt vào bãi ngô non ở bờ sông phía bên kia. Tất cả dân làng đều nhanh chóng đồng ý với nhau rằng: cuối cùng thì lời nguyền đã ra tay.

(Tạ Xuân Hải)


Tạ Xuân Hải, the poet and  YouTuber is a native of Ma Thanh commune, Yen Thanh district, Nghe An province.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Chư Mang to the market

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

CHƯ MANG TO THE MARKET

Since it’s a lovely day, he took his letters down Mount Chư mang to sell at the market, like a mother selling their children, like the poor sell their dogs, like lovers selling each other out. Now the dejected letters followed him, mirrors of blue eyes watching the passing strangers stepping on top of each other trying to move ahead. Stay in line, no running, or you’ll get lost! He reminded them before choosing a spot to display them. People came from all directions and flooded the market, their faces covered as though they were at a masquerade ball. The sun glared at the tall, boxy residential buildings, and a breeze shifted the fluffy clouds over our head. The buildings disappeared completely behind clouds of dust; he felt sorry for his soft and weak letters. He’s also hungry, since this morning till now after lunch nothing was in his stomach, his eyes blurred from hunger, the Sun was glaring from all direction.

The letters all bent out of shape after a few days wandering the dirt-covered streets. No one was interested in buying the letters. He announced after a last look around the market, up you go, sing and dance all of you, just this once, then we’ll go home, or die here. The characters grabbing onto each other for support stood up, wobbly and shaking; they enacted a tragedy about the grim reaper reclaiming death. The hectic eyes of the city paused to watch the odd street performance. He felt heartless. He said, stop, enough, let’s go home! A bird call came from the river Năng upstream, from the ninth level of heaven resounding, full of love, urged for  their return home. They quickened their pace, headed for the anxious bird call, the songs of endearment aided them in surpassing the hills and valleys, they were on their way home! Home, to the proud, tall and formidable mountains, to the long resounding rivers, to the ancient hundred-year-old trees, to the thousand-year-old highland.

Half the way up an incline the letters began to shake and broke out in a dance. He was suddenly powerless; stood there and watched them like some talentless director as his performers ran amuck, there was no way to control or direct them. He shouted: “Hey, how do a bunch of crazy blokes dance compared to other dancers, who looks better?”. The randy letters refused the indignation of reply. He shouted again: “Now I know why no one wants to spare a dollar for you guys!”. The letters egged on, began to sing and shimmied up and around the incline. Singing louder and rowdier: “You’re so blind, yesterday at the market some gangster bribed the letter S to go with him, asked L to work in a brothel, as for the letter Đ, it ran away to the market to find money, the letter T has snuck away to the department stores to pick people’s pockets…”.

He was mortified, counting over and over again, it was true the familiar letters S, L, Đ, T… they were gone, lost somewhere in the street far away in the city!

He took the letters to the market to sell, they went feral, breaking the pack, hence it was inevitable that there were such break-ups and goodbyes. He dropped to the ground halfway up the incline, sweaty, stared intently at the city, the busy crowd pushing and shoving each other down some pit of devastating civility. Not sure where he could find S in this chaotic crowd of swords and blades. He called out: “Hey S, shooting sad satire success sure self silver linings, hey springs… come back to the mountain, don’t hang around in the streets learning bad habits bloody stabbings… Hey L, long lanky lovely lively lovable lot… come back to the mountain!”.

There was no answer!

On his butt, he called out to the lost letters, like a mage reciting a mantra calling upon the return of the dead. A fleet of birds flew by shook their heads with disbelief, the wind teased him in passing, the clouds stared… He screamed, leave me alone! At that very moment, in the distance appeared clearer the forms of the damaged letters, they were tripping, falling over each other, crying as they approached him. His heart cracked open, his vision blurred with tears: The letter L was in front, Đ right behind, both naked with flesh wounds seeping blood. Both letters fell into his arms, like daughters diving into their father’s unconditional loving arms. The letter Đ’s eyes were black and blue, lips were swollen, Đ must have received a bashing at the market. The letter L’s lower abdomen was bleeding, the wound still open and weeping, bright red… Both choking on their words reported they witnessed S getting shot, ran as she held onto her chest before collapsing at the intersection outside the market. He hugged both of his naive children, and cried. Mount Chư Mang somberly stood there firmly looking down at them, its green leafy eyes were on the verge of tears.

He grabbed a handful of leaves and started to chew it finely before placing it on L’s wound to stop the bleeding, and applied ointment on Đ’s bruises. The other letters gathered around them, they were like apes, and he was the leader of the troop. He began to lull them beyond his hurtful spirit, his voice was husky: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Those who don’t want to die, those who brutally tried to sow evil, by this sunset let it go via the cool wind, let it go now đờ cờ lờ sờ mờ tờ… The letters relaxed, fell asleep, there was a hiccup here and there now and then in their deep slumber, like children who were falsely punished!

He sat weaving the reeds together, they needed a firm rope to cross the valley. Beyond the canyon was their home. He sang as he worked on the rope, like a poor mother in the mountains carrying her child on her back singing a lullaby as she worked in the cornfield. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

The long shadow of the afternoon fell as he woke up, the letters, they helped each other across the valley. The fragile rope was at breaking point. The mountain mist rolled out just in time to catch them. He guided the letters through the mist at the end of autumn. He sang as he walked as though he was a mage reciting mantras, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… It’s very possible the string was already broken, but it didn’t matter. He announced aloud, let us be on our way, the entire earth swayed, the whole of humanity lopsided, not just us. The letters stopped crying, they held onto each other, and onward they went beneath the moonlight. The shadows of the man and letters falling longer, stretching from where they were to the other side of the valley, like ghosts appearing from the last century. Past midnight the man and letters were at the summit, to disappear completely inside the sound blinding fog.

At the foot of Mount Chư Mang, now and then people could still witness the cries and singing resounded in the mist, the eerie haunting devilish sounds stretching from the market across to the highland to then wrapped around the summit. On clear nights, on both sides of the path up the mountain were stains of dried blood the scent of wild grass.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ let us go back to the mountain yeah… Weepy songs of lullabies, lullabies of lulling mournful sadness.

[Edited July 2022]

Chư Mang xuống chợ

Nhân buổi đẹp trời, hắn dắt díu bồng bế bầy chữ rời núi Chư Mang xuống kẻ chợ bán, như mẹ bán con, như nhà nghèo bán chó, như tình nhân lừa bán tình nhân. Bầy chữ cui cút đi theo, gương những con mắt màu xanh lên nhìn dòng người lạ lẫm đang cố giày xéo dẫm đạp lên nhau để về đích trước. Hắn dặn, đi đúng đường thẳng lối, không được chạy lung tung kẻo lạc! Rồi hắn chọn một khoảng vỉa hè bày chữ ra bán. Người kẻ chợ đi về như thác lũ, mặt mũi ai cũng trùm kín như thể đang tham gia lễ hội hóa trang. Gió thổi mây bay và nắng chứa chan trên những hộp nhà cao vút. Bầu trời thực sự biến mất sau làn khói bụi. Hắn chợt nhói thương những con chữ yếu mềm. Hắn cũng đói, sáng đến chiều chưa có gì vào bụng, mắt hoa lên, nhìn phía nào cũng thấy mặt trời chói gắt. 

Bầy chữ sau mấy ngày lê lết ngoài vỉa hè khói bụi đã trở nên méo mó hình hài. Hắn trừng mắt nhìn ngược nhìn xuôi chờ đợi nhưng tuyệt nhiên không hề có ai mua. Hắn nói, thôi, đứng dậy múa hát đi, một lần này nữa, rồi quay về, hoặc là chết ở đây. Lũ ký tự ngả nghiêng vịn nhau đứng dậy, vừa run cầm cập vừa trình diễn vũ điệu tử thần chết chóc. Những con mắt phố thị sấp ngửa dừng lại đứng nhìn, như nhìn đám hát rong xa lạ. Hắn thấy mình quá nhẫn tâm. Hắn nói, đủ rồi, quay về lại thôi! Tiếng chim gì đó từ thượng nguồn sông Năng chợt từ chín tầng trời vọng lại nghe từa tựa một lời yêu thương mời gọi quay về. Lũ hắn rảo bước, nhằm hướng tiếng chim khắc khoải, nhằm hướng câu hát yêu thương mà băng đèo vượt núi, về thôi! Về thôi, về núi sừng sững, về sông ngân dài, về cổ thụ vạn năm, về thảo nguyên triệu tuổi.

Về đến lưng chừng dốc thì lũ chữ lên cơn co giật và bắt đầu nhảy múa. Hắn bất lực đứng nhìn, như một gã đạo diễn bất tài nhìn dàn diễn viên làm loạn, không cách gì điều khiển nổi. Hắn hét: “Này, những gã điên nhảy múa với những vũ công nhảy múa, bên nào đẹp hơn?”. Lũ chữ bất kham không thèm trả lời. Hắn lại hét: “Hèn gì không có thằng con bố khỉ nào chịu bỏ tiền lẻ ra mua tụi mày!”. Lũ chữ càng hưng phấn, chúng vừa múa vừa hát. Hát to lên rằng: “Nhà ngươi quả thực mù lòa, hôm qua ở kẻ chợ có gã du côn đã rủ rê chữ S đi bụi đời, rủ chữ L vào động đĩ, rủ chữ Đ ra chợ kiếm ăn, chữ T đã trốn khỏi bầy vào siêu thị hành nghề móc túi…”.

Hắn kinh hoàng, đếm đi đếm lại, quả nhiên mấy chữ thân quen S, L, Đ, T… đã trốn đi hoặc lạc lối ngoài phố phường xa lạ!

Hắn dắt chữ ra chợ bán, kết quả lũ chữ bỏ đi hoang, tan đàn xẻ nghé, tử biệt sinh ly. Hắn ngồi giữa dốc quệt mồ hôi, nhìn về phố thị, thấy cả một đám đông đang đuổi nhau xuống hố thẳm văn minh điêu tàn. Chữ S bây giờ không biết ở đâu trong đám đông cuồng loạn gươm dao. Hắn gọi: “Ơ này chữ S, ơ này súng ơ này sân si ơ này sung sướng ơ này soán đoạt sờ soạng sống, ơ này sông… Về lại núi thôi về lại núi, đừng lê la phố chợ học thói lưu manh chém giết máu me… Ơ này L lờ lững lộn làng lành lặn lênh láng lung linh lóng lánh lập lòe… về núi thôi!”. 

Không có tiếng trả lời!

Hắn ngồi gọi chữ, như pháp sư ngồi niệm chú gọi hồn người chết quay về. Bầy chim bay qua nhìn hắn lắc đầu ngao ngán, bầy gió bay qua nhìn hắn cười châm chọc, bầy mây bay qua nhìn… Hắn hét toáng lên, kệ tao! Vừa lúc đó, từ xa thấp thoáng bóng hình vừa chạy vừa vấp ngã, vừa chạy vừa khóc than. Tim hắn đau nhói, mắt hắn mờ đi vì nước: Chữ L chạy trước, chữ Đ chạy sau, cả hai đứa trần truồng, thịt da gai cào tứa máu. Hai con chữ ngã nhào vào lòng hắn, như con gái đâm bổ vào lòng cha già sau cuộc tình thất bát. Chữ Đ mắt thâm tím, môi sưng vù, chắc bị ăn đòn hội chợ. Chữ L chảy máu ngay bụng dưới, vết thương hở ra lở loét, đỏ lòm… Hai đứa nghẹn ngào thông báo rằng, có thấy chữ S bị trúng đạn, vừa chạy vừa ôm ngực rồi ngã sấp mặt dưới chân cột đèn nơi ngã tư phố chợ. Hắn ôm hai đứa con nông nổi dại khờ, ngồi khóc. Núi Chư Mang trầm mặc đứng nhìn, mắt lá cũng rưng rưng.

Hắn thò tay bứt một nắm lá nhai nhuyễn rồi đắp vào vết thương cầm máu cho chữ L, lấy dầu xoa vết bầm tím cho chữ Đ. Lũ chữ phủ phục vây quanh, như bầy khỉ vây quanh gã khỉ đột đầu đàn. Hắn cất tiếng ru bằng giọng khàn khàn thống khổ điêu linh: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Kẻ nào không muốn chết kẻ nào hung bạo lọc lừa gieo mầm ác, nào hãy buông tay trong buổi hoàng hôn gió mát, thôi, thôi nào đờ cờ lờ sờ mờ tờ… Bọn chữ gục xuống ngủ, thỉnh thoảng nấc lên trong mê man, như những đứa trẻ vừa bị đòn oan!

Hắn lặng lẽ bứt cỏ ngồi đan bện lại, cần một sợi dây chắc chắn bắc qua thung lũng. Qua hẻm núi này là về đến quê nhà. Hắn vừa miệt mài đan vừa hát, như một bà mẹ nghèo trên núi vừa địu con hai bên nách vừa trỉa bắp vừa hát ru. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

Bóng chiều đổ xuống, hắn xốc lũ chữ dậy, dắt díu nhau qua thung lũng. Sợi dây cỏ mỏng manh chòng chành như sắp đứt. Sương núi ùn ùn cuồn cuộn lao ra đỡ lấy. Hắn dắt bầy chữ đi trong sương núi cuối thu. Hắn vừa đi vừa hát ru như đạo sĩ niệm chú, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… Hình như sợi dây đã đứt, nhưng có hề gì. Hắn nói to, chúng ta đi thôi, cả trái đất chòng chành, cả nhân loại ngả nghiêng chứ riêng gì chúng ta đâu. Bầy chữ thôi không kêu khóc nữa, chúng vịn tay nhau bước đi dưới trăng. Bóng chữ bóng người gầy guộc đổ dài, kéo từ bên này qua bên kia thung lũng, như những bóng ma hời từ thế kỷ trước hiện về. Quá nửa đêm thì chữ và người lên đỉnh núi rồi mất hút trong thăm thẳm mù sương.

Ở dưới chân núi Chư Mang, lâu lâu người ta vẫn nghe tiếng ai đó ca hát và khóc than trong sương, những âm thanh quỷ quyệt kéo dài từ phía kẻ chợ rồi lướt qua thảo nguyên hoang vắt rủ nhau chạy vòng quanh đỉnh núi. Những buổi trời trong, thấy rõ ràng hai bên lối đi lên núi còn vương vãi những vệt máu khô thơm mùi có dại.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ về thôi về với núi thôi… Khóc mà như ru, ru mà như hát, hát mà như than.

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

the words in gold

A short story in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

THE WORDS IN GOLD

I’ve bled listening to you talk, do you remember. You would tell us these amazing fairy tales about the words in gold.

When I left after your stories, the sea was completely placid. It was nothing but a red reflection due to the dull greyish boats’ headlights. A glare here and there from the water was just enough for me to work out the shape of a person.

I don’t remember exactly. The features of his face changes constantly in my mind, including his fancy pompous get up and demeanour. Except for a cold heart that was ever unchanging. I was chilled to the bone. I don’t know why I listened to you so intently, the discourse in your words made of gold. Or perhaps I was simply mad. I would wake up the next morning with wrists laden in gold bangles and bracelets made out of words in gold.

I know you’re not an ordinary thief. You’re someone who’s looking for gold. Or perhaps you’re the last prospector at sea? You want people to dig a tunnel with you through the aching loneliness of the sea, and of course there will be diggings in the streets. Not a simple job. I realised after attaining the words in gold, I will always be red. Oh forgive me, victims of my beloved sea. I can but console myself, if something went wrong say, that the price of gold is not so hot right now.

Like me, you will not sell the gold you’ve just gathered. Those with hundreds of rings, necklaces, alluring bracelets often sell them without knowing the true value of their gold.

Gold is someone else’s pain, but in contrast a source of your joy. Gold is also the air I breathe, inhaling it through the nights I dance in the moonlight, unlike our ancestors who stayed up only to sharpen their swords.

Now and then I would ponder about the fate of my treasure trove full of gold. I decided, once there was enough, I will forge a bust of myself from pure gold, unadulterated, brilliant gold, take it out on a boat and drop it into the sea. It makes us happy when no one dares lay their eyes on it. In order to confirm that there will always be words of gold deep within your heart and mine.

But different is our relationship with the sea, it will be a bond of agony for us all, dragging on and on brilliantly, endlessly, forever blue…

___

June 2021

NHỮNG CHỮ VÀNG… 

Bạn nhớ không, tôi đã chảy máu khi ngồi nghe bạn phát biểu. Bạn hay kể một câu chuyện cổ tích tuyệt vời về những chữ bằng vàng.  

Khi tôi quay về sau khi nghe bạn nói chuyện đêm hôm ấy, biển vắng tanh. Nó chỉ được chiếu sáng bởi ánh sáng màu đỏ quạch của đèn pha sứt mẻ từ những con thuyền màu xám xịt. Chút ánh sáng lẻ loi hắt lên từ những vũng nước, vừa đủ cho tôi nhìn thấy, hình như có một dáng người. 

Tôi không thể nhớ chính xác được. Hắn ta luôn luôn thay đổi gương mặt trong bộ nhớ của tôi, cả thứ trang phục cầu kỳ đỏm dáng. Chỉ có trái tim băng giá của hắn thì không bao giờ thay đổi. Tôi thấy lạnh buốt. Không biết lý do tại sao tôi lắng nghe bạn, với bài phát biểu viết bằng những chữ vàng. Hay chỉ đơn giản là tôi đã phát điên. Tôi thức dậy vào sáng hôm sau với hai cổ tay đeo đầy những vòng vàng làm bằng những con chữ.

Tôi biết bạn không phải là một tên trộm thông thường. Bạn là một người tìm vàng. Hay là một thợ mỏ cuối cùng còn lại trên mặt biển? Bạn muốn mọi người cùng với bạn đào một đường hầm trong sự cô độc đớn đau của biển, và chắc chắn rồi đây sẽ phải đào trên đường phố. Không phải là dễ dàng. Có được những chữ vàng, tôi mới nhận ra mình vẫn mãi mãi màu đỏ. Tha thứ cho tôi, những nạn nhân trên biển thân yêu của tôi. Và tôi tự an ủi mình rằng, nếu có gì không tốt thì chỉ tại lúc này vàng chưa sốt giá.

Cũng như tôi, bạn không bao giờ bán những chữ vàng bạn mới thu được. Những kẻ có hàng trăm chiếc nhẫn, dây chuyền, vòng đeo tay quyến rũ thường hay bán đi vì không hiểu giá trị của chữ vàng.

Vàng là nỗi đau của ai đó, nhưng là niềm vui của bạn. Vàng cũng là không khí của tôi, tôi hít thở mỗi đêm khi phải nhảy múa dưới trăng, không như ngày xưa tiền nhân chỉ biết thức đêm mài kiếm. 

Đôi khi tôi suy nghĩ về số phận kho vàng của tôi. Cuối cùng, khi đã tích lũy đủ, tôi sẽ làm một bức tượng bán thân của mình từ vàng ròng, tinh khiết và vàng rực rỡ, và tôi sẽ chở ra bằng thuyền để ném nó xuống biển. Nó làm chúng ta vui khi không còn ai dám nhìn nó. Để biết rằng luôn luôn có những chữ vàng trong thâm tâm của bạn và tôi. 

Nhưng tình yêu với biển thì khác, nó sẽ cùng với nỗi đau, cùng với mọi người, kéo dài và xanh biếc, mãi mãi…


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Faces of familiar spirits

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

People say: “Write something nice!”.

Writing a nice sweet story isn’t hard, but the story of Mount Chư Mang has never ceased to haunt me. Fervently, I went searching for an adventure much like the sad tale of Don Quixote in the autumn of his life, in search of a knight’s honour armed with a blunt sword in rusted armour. But the rivers are long and the mountains vast. The joy of chasing pretty familiar spirits left me in a paradox of affliction and intoxication.

Sweet is the meaningless reality in dreams; the ability to love an ethereal angelic face tainted with evil.

Each night, the darkness fell like a waterfall. These beautiful familiar faces appeared on the window sill: “Come to the mountains”, “What are you afraid of, coward…” There, they’ve returned, the familiar spirits. They asked me to follow them to the mountains if I do not, they implore, they beg, and I would always give in and follow them, to continue the dream.

I went searching for the green eyes, and ruby lips amongst the towering old trees — a sad lumbering knight in search of “the” dream at the end of his life. Yes, sometimes there was a glimpse of bright dark eyes, yes, sometimes the heat of those red lips. But, like anything determined by fate, it’s a fleeting moment before those eyes’ lips flit away, and disappear into the dark black starry night.

When the moon and stars were spent, on blades of grass past the be-witching hour the spirits dissolve, they were lulled to sleep between the rocks. I would cry: “Stay play, keep playing, morning is not yet near!”. In a state of half-wakefulness and sleep, their laughter fell free from the higher branches, breaking into a swarm of autumn fireflies. I would hug the fresh silk sheath abandoned in my arms, and inhale the lingering addictive intense scent, like remnants of precious fossils from a million years ago.

You asked: “Where do those familiar spirits come from?”. I’ve no idea; I first met them the day I set foot on Mount Chư Mang. Amusing himself with a game of hiding and seeking fate, looking for happiness. A knight discarded by society.

Bright nights wandering in the mead, one hand with a fist full of clad silk, one hand cupping the smile of a pretty demon. Me in shredded ill-fitting clothes from top to toe, decrepit, like a scarecrow at the end of a season. At sunrise, the soulful smiles would grow delicate wings before they would fly away, those fragrant robes also flew, left behind a man with ludicrous laughter steeped in the evening dew, like some guy stomping on a lifeless creel all day all night.

I consoled myself, fine, starting tomorrow I won’t go there, starting tomorrow. But by sunset, falls always the thrilling sweet sound of a far-off dream!

You say it’s a time of diminished dharma, ghouls and demons were everywhere, sightings atop mountains, valleys, be careful! I, for long, have forsaken my virtue. In tattered armour, I carried a broken sword in search of adventures, I carried with me the jeering laughter of a fool, even in the most despairing defeat. Though in all those endless dreams, this village knight had never once fulfilled his desire. The more he chased, the more those beautiful demonic faces and their stirring laughter flew further away.

Now there isn’t a place on Mount Chư Mang I’ve not walked. I traveled the nights basking in moonlight wrapped in stars, nights battered by rain-soaked hail and mist. All those beloved familiar faces were flickering far far away, sometimes this side of the mountain, sometimes way there in the mead. Sometimes I am so tired, that I would fall asleep in their soft embrace and tender caress, dreaming those dreams, I’m soaring in the sky, heading for the heavenly blue clouds. Sometimes I’m so tired, that I would find myself sitting on the ground hugging my knees, always with me was the blunt broken sword, and a smile drenched in blood basking in the moonlight.

I’m okay, don’t worry. So many years of my youth were spent nurturing delusions, to bury them now, here. By nightfall, I would again sing the songs of tall mountains and deep valleys. So long as I’m entertained, so long as all those beautiful familiar faces of angels never leave this mountain. I will continue to hunt, and embrace tightly the big dreams of my youth, aren’t we all the same! Till we no longer have our youth, till mouldered is our armour, till the eyes are blurry and our feet slower, as the sound of those inviting laughter rises I will take to the road.

“To the mountains, I go…”.

There, can you hear? Outside, like the call of a trumpet during a funeral march, the golden shadow of humanity falls in sorrow. I have to go; I must prepare for the continuance of my dream, the same continual dream, of life crashing like ocean tides, rhythmic for a hundred years, for a lifetime.

Again I must go!

[October 2019]

Những gương mặt linh miêu

Bạn nói: “Hãy viết một câu chuyện ngọt ngào đi?”.

Bịa ra một câu chuyện ngọt ngào thì có gì là khó? Vấn đề là câu chuyện về núi Chư Mang vẫn chưa khi nào thôi ám ảnh. Tôi mải mê đi tìm một ảo ảnh về tình yêu, như chàng hiệp sĩ cuối mùa tội nghiệp Don Quixote, tìm cách chinh phục thế giới bằng một lưỡi gươm cùn và bộ giáp trụ rách nát. Mà núi thì quá cao xanh, mà sông thì quá rộng dài. Trò chơi trốn tìm với những nàng linh miêu xinh đẹp thì đầy cám dỗ nhưng cũng đầy trắc trở.

Có gì là ngọt ngào không khi bạn yêu một gương mặt đẹp tựa thánh thần lẫn ác quỷ, mà chỉ xuất hiện trong mơ thôi chứ chưa gặp mặt bao giờ?

Mỗi đêm về, bóng tối tràn qua như thác đổ, những gương mặt đẹp ma mị lại xuất hiện bên cửa sổ: “Lên núi chơi thôi”, “Sợ gì chứ, đồ nhát gan”… Đó, linh miêu lại về đó. Họ rủ tôi lên núi chơi, nếu không đi, họ năn nỉ, họ khiêu khích, thế là tôi lại ra khỏi nhà, tham dự vào trò mộng du miên viễn.

Tôi đi tìm những mắt xanh môi thắm giữa bạt ngàn cổ thụ. Chàng hiệp sĩ cuối mùa xộc xệch thảm hại đuổi theo giấc mơ vĩ đại của đời mình. Ờ, cũng có khi bắt được một ánh mắt long lanh, ờ, cũng có khi bắt được một bờ môi ấm nóng. Nhưng, như một trò đùa được số phận mặc định, chỉ sơ sẩy thoáng chút thôi là mắt là môi lại vụt bay, mất hút giữa vực thẳm sao trời lãng đãng…

Khi trăng sao đã mệt nhoài, những vệt lân tinh thôi không còn thắp sáng đầu ngọn cỏ, thì bầy linh miêu rủ nhau đậu lên vách đá và thiu thiu ngủ. Tôi hét lớn: “Chơi nữa đi, chơi tiếp đi, trời đã sáng đâu!”. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, tiếng cười của họ rơi tự do từ trên cành cao xuống đất, vỡ vụn ra như bầy đom đóm mùa thu. Tôi ôm mảnh xiêm y màu xanh còn lại trong tay, hít lấy hít để hương thơm ma mị cõi bồng lai còn phảng phất, tưởng như tinh túy sơn khê triệu năm còn lưu dấu trên tay. 

Bạn hỏi: “Bầy linh miêu ấy từ đâu đến?”. Tôi có biết đâu, từ khi tôi bước chân lên đỉnh Chư Mang thì đã gặp họ rồi. Gã hiệp sĩ bị thế gian chối bỏ mải miết tìm vui trong trò chơi trốn tìm định mệnh, để tìm vui…

Có những đêm, khi trời sáng bạch, tôi vẫn còn loay hoay trên núi, tay níu áo xiêm, tay còn lại thì cầm một nụ cười của linh miêu xinh đẹp. Nhìn lại mình thì áo quần xộc xệch, rách từ dưới rách lên, nhếch nhác lôi thôi, như một hình nộm cuối mùa ngơ ngác. Mặt trời lên, nụ cười của linh miêu mọc thêm đôi cánh mỏng và bay đi mất, xiêm áo thơm lừng cũng vỗ cánh bay đi, để lại mình tôi tẽn tò với tiếng cười ướt đẫm sương đêm, như một gã đánh dậm ướt ròng thâu đêm suốt sáng với chiếc giỏ không lăn lóc dưới chân!

Tôi tự nhủ, thôi, từ ngày mai không thèm lên chơi nữa, thôi kể từ ngày mai…

Nhưng rồi, khi mặt trời lặn, tiếng nhặt tiếng khoan ngọt như một giấc mộng xa xăm lại mời gọi lên đường!

Bạn nói, thời mạt pháp, ma quỷ đầy đường, hiện hình ngay cả trên núi cao rừng thẳm, bảo trọng nhé! Tôi thì từ lâu đã không còn quan tâm đến an nguy cho bộ trang phục ngoan ngoãn của mình. Tôi mang gươm cùn giáp rách theo đuổi cuộc chơi, là biết cách trang bị cho mình tiếng cười ngạo nghễ, ngay cả khi thất bại ê chề. Chỉ hiềm một nỗi là trong những cơn mộng du vô tận, gã hiệp sĩ nhà quê chưa khi nào hoàn thành ước nguyện của mình. Càng đuổi bắt thì những gương mặt linh miêu xinh đẹp có tiếng cười ma mị lại càng hun hút xa xăm.

Bây giờ thì trên núi Chư Mang không có chỗ nào tôi chưa đặt chân tới. Tôi đi trong những đêm trăng sao ngà ngọc, trong những đêm mưa gió mịt mùng. Những gương mặt thân thương xa ngái thoắt ẩn thoắt hiện, lúc thì ở sườn núi bên này, lúc ở tận mạn bên kia. Có khi mệt quá, tôi ngủ quên trong vòng tay mềm mại móng vuốt của linh miêu, rồi mộng mơ đủ chuyện, vẽ ra những đường bay hão huyền lên tận mây xanh. Có khi mệt quá, tôi ngồi bó gối, bên cạnh là giáo cùn gươm gãy giáp rách, và nụ cười rớm máu dưới trăng.

Tôi không sao đâu mà, đừng lo cho tôi nhé. Bao nhiêu năm tuổi trẻ đã nuôi lớn ảo mộng, rồi sẽ chôn vùi cũng sẽ đúng nơi đây. Tôi vẫn hát bài hát của núi thẳm non cao mỗi lúc đêm về. Miễn là tôi còn trò chơi thú vị, miễn là những gương mặt linh miêu đẹp tựa thiên thần không rời bỏ núi mà đi. Tôi sẽ đuổi theo cho kỳ được, và ôm thật chặt trong tay những mộng mơ kỳ vĩ, tuổi trẻ, ai mà chẳng thế! Cho đến lúc không còn trẻ nữa, khi giáp trụ tan hoang, khi mắt mờ chân chậm, tôi sẽ vẫn lên đường mỗi khi tiếng cười mời gọi cất lên.

“Lên núi chơi thôi…”.

Đấy, bạn có nghe thấy gì không? Ngoài kia, bóng chiều vàng vọt của cõi người bắt đầu đổ xuống u buồn như tiếng kèn đưa đám. Tôi phải bắt đầu thôi, sửa soạn cho giấc mơ nối tiếp của mình, những giấc mơ trùng điệp, như sóng vỗ, giữa nhịp đập trăm năm của kiếp người.

Tôi lại phải đi đây!

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

I don’t know what I did, can you explain it to me?

A short story in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

I’m trying to deal with the cracks all over my body, so please try not to break me.

I once had a bottle on a wall. It was a brilliant green. I’m fairly sure it was the loneliest bottle I’ve ever seen. It’s all alone on the wall, day and night. As I look out the window, it’s always within my point of view. Then one day, there was this cat, it appeared out of nowhere, bumped into the bottle on the wall and the bottle fell. When the bottle hit the ground, the noise was unbelievable, it was very loud.

Bits of green shattered shards of glass were scattered everywhere, all over the ground. Soon after, I could hear the cat crying, I knew then, it was injured. I saw with my own eyes its paws were sticky with dirt and blood. The bottle to begin with was harmless on the wall, only a bump and it was dangerous.

I watched you smile at me in the huge chair, as your fingers played with the soft strands of hair on your head. You reminded me of the green glass bottle on the wall. It was harmless to start with, but now you’re the cause of my pain.

Now, each time I look at the wall, I’m full of regret, I’m breathless as the gap between heaven and earth closes up. Hence, when I had turned my head to look at you, I was confused, I don’t know what was happening, I didn’t know how all this had come to be, I began to fall the moment I saw how the heavens were moving further and further away.

Thus, for a long time I couldn’t write, I could not compose a single poem, because I had so much time and none at all, all at the same time. In truth, I had nothing to say, what I wanted to say, brought me no joy. My fingers continued to noisily tapped on the keyboard but I had no idea what I was typing. The constant tapping on the keyboard sounded like the reverberating shattering sound of a glass bottle hitting the ground. You said: it sounded like life.

_____

September 2022

BẠN CÓ THỂ CHO TÔI BIẾT TẠI SAO, VÌ TÔI KHÔNG BIẾT MÌNH ĐÃ LÀM GÌ KHÔNG? 

cơ thể tôi đang đối phó với những vết nứt, nhưng bạn đừng làm tôi vỡ vụn.

vì đã từng có một cái chai trên tường. Nó rất xanh. Tôi dám chắc đó là cái chai xanh cô đơn nhất mà tôi từng thấy. Nó lẻ loi trên tường, cả ngày lẫn đêm. Khi tôi nhìn ra cửa sổ, nó luôn ở trong tầm mắt của tôi. Rồi một hôm con mèo xuất hiện, vô tình đã chạm vào làm nó rơi khỏi bức tường. Khi cái chai rơi xuống, nó tạo ra một tiếng kêu rất lớn.

những mảnh vỡ của cái chai màu xanh lá cây rải trên khắp mặt đất. Sau đó, con mèo kêu lên và tôi biết nó đã bị thương. Rõ ràng tôi thấy bàn chân của nó dính đầy máu và bụi bẩn. Cái chai lúc đầu không nguy hiểm chút nào nhưng sau một cú va chạm và rơi, nó trở nên rất nguy hiểm.

tôi nhìn bạn mỉm cười với tôi trên chiếc ghế bành lớn, những ngón tay của bạn lướt qua những lọn tóc mềm mại của bạn. Bạn làm tôi nhớ về cái chai màu xanh lá cây. Ban đầu, bạn vô hại, nhưng bây giờ bạn làm tổn thương tôi.

nếu tôi nhìn lên bức tường, tôi sẽ hối tiếc vì khi mặt đất đến gần bầu trời hơn sẽ làm tôi ngạt thở. Vì vậy, tôi quay nhìn lại bạn và nhớ tại sao mọi thứ lại thành ra như vậy, tôi đã rơi xuống ngay từ đầu khi tôi nhìn bầu trời xa dần.

do đó tôi đã không viết một bài thơ nào trong một thời gian dài, vì tôi có thời gian và tôi không có thời gian cũng trong cùng một lúc. Thật ra tôi không có lời nào để nói, những lời tôi cần nói, không phải là câu chuyện vui. Bàn tay tôi đã di chuyển các ngón tay lên bàn phím nhưng tôi vẫn không biết mình đang gõ gì. Tiếng gõ phím của tôi nghe như tiếng của các mảnh chai vỡ. Bạn nói: nghe giống như cuộc sống.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Chư Mang in the fall

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

CHƯ MANG IN THE FALL!

He embarked on an expedition solely to confirm the true meaning of life, and its nature, to try and find the source of inspiration. And he has witnessed an endless stream absent of any border confined by humanity, especially since the angels have been vacuous for a long time.

Across the row of mountains, he has surpassed, left behind are threadbare wings of celestial beings, gone, never to return. Including those clouds themselves carried the mere images of the past. He didn’t want to mention the faces of men, because there’s no elegant way to portray it! When what is pure is tainted with the smell of treachery void of thought, where be the face that has once haunted us in dreams?

On the cusp of these windy, cloudy paths, his feet trampled upon shards of meteorite a million years old. Poise, confident in completely grasping the way of life, pure and unembellished or complacent and arrogant like the dust in the imperial city, just falling apart beneath the feet of people who have once ridiculously thought they would live forever.

He carefully noted in his memory, like a diligent surveyor.  He made an act of comparison to draw out a conclusion about his own life. There are days he thought he was those clouds, chasing vows and broken promises, unattached by struggles, a face of a child.

There were anxious afternoons in passing he entertained himself by trying to step on his shadow in the vastness of nowhere. He yearns for Mount Chư Mang, where there were intoxicating beautiful familiars drawing him into games of hiding and seeking searching for butterflies. In the end, he’s always alone, alone to chase and capture without rest. Sometimes his heart aches, arms heavy, opening his fist to ten weightless fingers, flying away in swirls of smoke.

Further his travels, he held firm one certainty, not all dare to reveal the truth of their thoughts, even though they know it’s a hundred percent fact. The tragedy, even those careful with their words, believes silence is wise, or then to cover their silence with hollow jarring laughter.

He couldn’t stand it sometimes, and he’s unhinged in the middle of all that open display of intellect. Then he thought, the truth is what right does he have in forcing a bird to speak, make the sunrise in the east and set in the west if they do not wish it?

Each new day, life displays multitudes of unexpected beauty. Hence, he’s never pessimistic, never bored. Even his sigh cultivates a rush into a new adventure. No morning is like another, and as the sun rises, each new day is the very first day. Sometimes, Mount Chư Mang unexpectedly appeared like a lover in an enchanted curtain of returning autumn mist. The mountain is like someone you endear, the well-loved instrument, waiting. He continues on his way whistling to some autumn melody.

There in the morning the sunlight was brilliant, bewildered he asked himself what The Creator was doing on the seventh level, is He happy or sad?

The Creator moulded the naked human form on earth and made them mingle with animals and plants. And many have been mistaken with the idea of living means existing. And find all sorts of ways to survive longer than other people though without any understanding at all. Baffled, he asked Nietzche: “Is The Creator truly dead?”.

The ascetic philosopher laughed contemptuously and then left for a path on the rib of the mountain, golden in garlands of wildflowers.

From the moment of birth, he’s been a warped spirit. Each day from the moment he was born, beneath the weight of life, the more morbidly it is bent out of shape. Now and then, he would try to affirm his position all around him. He comes to the same conclusion, he and all around him are all shrivelled up and are as crumbled and wrinkled as each other. But that’s not important. Everyone is as ugly, or everyone is together ugly, or no one is ugly at all. What is more important is whether or not our souls have remained intact. Through the messy mass of breathing human beings he met on the road,  each one had a deep scar. On his own body an injury that never stops bleeding. He grinds his teeth, forgetting the pain, the blood, the worries so he can stand tall, nothing fancy but solemn and glorious like a boulder on the side of one road or another.

He concludes the thousand-league expedition, returning to Mount Chư Mang on a glorious autumn morning. The children carefree waited for him at the foot of the mountain and welcomed him with their bright, innocent smiles. The children are free of life’s pressures; their brilliant smiles are always full of life without reservation. They’re oblivious to the scars, to the battered wings of celestial beings discarded on far away mountains. He will tell them many stories, including the story about the despairing friendly familiar spirits on the top of Mount Chư Mang then after that sit and wait quietly for the return of the echoes from the tip of those mountains far, far away.

[Edited July 2022]

Chư Mang, mùa thu!

Hắn đã làm một cuộc viễn du chỉ với mục đích xác định lại tính chân thực của cuộc sống, bản chất của nó, với tư cách là ngọn nguồn sáng tác. Và hắn đã chứng kiến dòng chảy mênh mang không bờ bến của cõi người trần tục, trong khi thánh thần vắng bóng từ lâu.

Trên những dãy núi cao hắn đặt chân qua, chỉ sót lại những đôi cánh xác xơ của thần tiên một đi không trở lại. Ngay cả đám mây cũng chỉ còn mang gương mặt của chính mình trong quá khứ mà thôi. Hắn không muốn nhắc đến những gương mặt người, bởi vì, không biết diễn đạt thế nào cho phải phép! Khi sơn khê cũng phảng phất hương vị gian manh vô thức thì phố thị dưới kia, tìm đâu ra một gương mặt người đã từng ám ảnh trong mơ…

Trên những nẻo đường mây gió, bàn chân hắn từng dẫm lên những mảnh thiên thạch hàng triệu tuổi. Đĩnh đạc, tự tin thấu hiểu lẽ đời, không hoa hòe hoa sói hay tự mãn kiêu căng như cát bụi kinh thành, vừa mới vỡ vụn dưới chân người đã nhăm nhe nghĩ rằng mình vạn tuế. 

Hắn tỉ mẩn ghi chép vào trí nhớ, như một công nhân trắc địa cần cù. Hắn đang thử làm phép so sánh để rút ra một kết luận riêng tư cho chính cuộc đời mình.

Có những ngày, hắn ngỡ mình là mây, đuổi theo những hẹn thề hư ảo, bằng gương mặt trẻ thơ chưa vướng bận ngược xuôi.

Có những buổi chiều thảng thốt đi qua, hắn một mình với trò chơi dẫm chân lên bóng mình giữa thênh thang vạn dặm. Hắn nhớ núi Chư Mang, nơi có những cô gái mang gương mặt linh miêu đẹp não nùng từng rủ hắn chơi trò trốn tìm hoa bướm. Cuối cùng thì hắn vẫn một mình, một mình với một cuộc đuổi bắt không ngừng nghỉ. Có khi tim đau, có khi tay nặng trĩu, rồi đến lúc xòe ra mười ngón nhẹ hều, tất cả vừa hóa thành ngọn khói, và bay…

Càng đi xa, hắn càng chắc chắn điều này, không phải ai cũng dám nói lên suy nghĩ thật của mình, dù biết rõ điều đó một trăm phần trăm là sự thật. Bi kịch là ở chỗ, ngay cả những người cận kề miệng lỗ, cũng tự cho rằng im lặng là khôn ngoan, hoặc ngụy trang sự lặng im bằng những cái cười đểu giả.

Có khi hắn không chịu được, hắn muốn nổi điên lên trước sự khôn khéo lõa lồ ấy. Nhưng rồi hắn nghĩ, thực ra hắn lấy quyền gì để bắt con chim phải hót, bắt mặt trời phải mọc ở đằng đông và lặn đằng tây nếu như chúng không muốn thế?

Mỗi ngày mới bắt đầu, cuộc sống lại trình diễn muôn vàn điều bất ngờ đẹp đẽ. Vì thế, hắn chưa bao giờ bi quan, chưa bao giờ chán nản. Kể cả tiếng thở dài cũng manh nha một giục giã lên đường. Không có buổi sáng nào giống buổi sáng nào, mặt trời lên, ngày nào cũng là lần thứ nhất. Có bữa, hắn bất ngờ nhìn thấy núi Chư Mang như một người tình trong màn khói sương huyền ảo độ thu về. Núi như người thương, còn người thương thì như một cây đàn, chờ đợi. Hắn huýt sáo một bài hát gì đó về mùa thu rồi tiếp tục bước đi.

Có những buổi chiều nắng rạng ngời ngoài cửa, hắn hoang mang tự hỏi không biết Thượng Đế đang làm gì trên tầng trời thứ bảy, ở đó đang vui hay đang buồn? 

Thượng Đế nhào nặn ra con người trên cõi đời trần trụi rồi bắt họ phải sống lẫn vào cỏ cây muông thú. Và rất nhiều người nhầm lẫn, sống là tồn tại. Và họ tìm đủ mọi cách để tồn tại lâu hơn người khác mà không cần biết ý nghĩa của nó. Hắn bâng khuâng hỏi Nietzsche: “Thượng Đế chết thật chưa?”.

Bậc triết gia khổ hạnh ấy cười khinh khỉnh rồi bỏ đi theo con đường ven sườn núi vàng rực màu hoa dại.

Ngay từ lúc ra đời, hắn đã là một sinh linh méo mó. Càng ngày, dưới sức nặng của cuộc đời, nó càng méo mó đến thảm hại. Thỉnh thoảng, hắn vẫn nhìn lại mình, rồi nhìn qua người khác. Tất cả đều vẹo vọ nhàu nhĩ như nhau cả. Nhưng điều đó không quan trọng. Ai cũng xấu như nhau thì hoặc là tất cả cùng xấu hoặc là không ai xấu cả. Quan trọng nhất là tâm hồn của mỗi người có còn nguyên vẹn hay không. Trong đám đông lộn xộn hắn gặp trên đường xa vạn dặm, mỗi người đều mang một vết thương sâu hoắm. Ngay trong mình hắn cũng có một vết thương không ngừng rỉ máu. Hắn nghiến răng quên đau quên máu quên hết mọi phiền muộn để đứng lên vững chãi, không hoa hòe hoa sói mà trầm tĩnh hân hoan như tảng đá bên đường.

Hắn kết thúc hành trình vạn dặm, trở về núi Chư Mang vào một buổi sáng mùa thu long lanh mặt cỏ. Bọn trẻ trâu đang đợi hắn dưới chân núi với những nụ cười hồn nhiên rạng rỡ. Bọn trẻ ấy chưa bị áp lực cuộc sống đè nặng nên nụ cười cũng tròn trĩnh dễ thương. Chúng cũng chưa biết về những vết thương rát bỏng, chưa biết về những đôi cánh xác xơ của thần tiên vứt bỏ trên ngọn núi xa xăm. Hắn sẽ nói với bọn trẻ rất nhiều chuyện, kể cả chuyện về những gương mặt linh miêu hư ảo xa vời trên đỉnh Chư Mang thân thuộc rồi sau đó ngồi im đợi nghe tiếng cười vọng về từ trên đỉnh núi xa xăm.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The doorway in my ear

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

THE DOORWAY IN MY EAR

1.

“When will the case be ready for trial?”.

Mumbling, I wriggled my left ear. No one heard me. Since, there was no reply. I wriggled my left ear again. Sometimes it’s blocked, buzzing oddly. Sometimes it sounded as if someone was laughing. (H. Ha. Ha ha ha). Or it sounded as though some creature with a crisp dry voice was singing. Over and over again. Monotonous and annoying. 

The sun flashes over my face. Its shadow threw me up in the air and left me there hanging. Rather cruelly. For the last couple of months, it feels as though I’ve fallen into a suspended state between the reality in my right ear and the delusions in my left ear. I wanted to repeat the first question the moment I had returned from a city with a mist-covered bridge connecting at both ends, places of grievance. Each time I opened my mouth, there were these uncomfortable odd sounds in my left ear. 

With my stubborn nature, without fail, I could not/would not let go of anything until I’d found the answer to any of my questions, and the questions came, one after the other. “How could a name induce such fear in people?”, for instance.

Silence.

For the last few days, this strain of thought has plagued me. If only I knew how to stop the questions. Since no one could answer these questions for me. All around me, people were not happy, stupefied by their tiny world. They were unaware of the fact that they were prisoners in their small world. 

“Maybe there’s a doorway in my ear?”. I recited it again to myself. There was a buzzing static sound of a song playing on a giant screen, trying to force its way into my ear. The sound was choking. Sometimes it’s the kind of music I want to listen to so I could simply disappear. “The way up the lonely mountain”, I tapped on the keyboard slowly. I found myself mellowing, lost in the guy’s deep soothing voice on the screen. The doorway, in my ear, slowly and deliberately shuts. Shutting out all the noise of the world on the outside, all I could hear was a buzzing sound in my head. They were making fun of me, picking on me, messing up my strains of thoughts. “Not a ghost.” It’s the letter K. They like to laugh out loud ha ha ha. Grinning. Their faces were hidden, laughing. A gummy mouth that could devour a pathetic, sorry forest. The world will not dare utter a chilling keen word like the letter K, mostly silent. The sun will continue to shine, even when it’s alone, someone did say. 

I should persist with this monologue, a description of the existence of K. A name which begins with a character drawn first with one vertical stroke and two slanted lines running in opposite directions yet still manage to hold on to each other. Exactly like the tragic tale of Romeo and Juliet. That particular character in the alphabet haunts me. They’re present everywhere in dark corners, pits, and caverns. They’re in the air. They fall to the ground. They rise from the bottom of the deep dark ocean. They hang from atop the silvery waves giggling, laughing, and crying. They dangled from the bottom half of the crescent moon. They casually turn back time to then crawl into the eyes hidden beneath the thick eyebrows of a bearded woman, her body scattered with scars born nineteen 07. I’ve witnessed them persistently turning back time, going back further and further, to appear on the gaunt faces of men born a hundred years ago. 

I have no idea why, why anyone would be afraid of a name, an innocent character of the alphabet. I’ve chosen it for a game most people dare not start. (or perhaps, they don’t have the capacity to endure it, or they’re afraid, the way I was afraid and fearful of it). It is a gift. Even though I continued to question the existence of the creator, “who is this freak anyway?” Or the existence of a doorway in my left ear.  

Day after day, fleeting was the sun in my ears. Time quietly passed by. Time laughing at my delusions. But persistently, I played with the letter K. A character emulating a picture of humanity. I was overwhelmed by sadness. A sadness I could not evade. I tucked myself away in a world full of painful memories. Was it her? My first love. The mention of her on my lips felt like an illusion I had burned to ashes after that night. (I should never talk about that night again?). The truth is I could not recall a single memory of that night. My deteriorating memory had betrayed me, the way I had betrayed her with unjustifiable reasons. 

Today is no different from any other day. I’m at a cafe near the green and red light intersection opposite the mist-covered bridge for the mere purpose of kick-starting my brain, to wake me up from the drowsiness of dawn. Yet, I’m unable to escape the eyes of those who enjoy laughing at me. They are in my face, wondering whether the seeing part of my eyes lies merely on the surface or the back of my head? Or whether my eyes are whole with the usual cornea and iris? I have an odd talent, in view of such critical assessments, I’m able to look straight into their eyes and deceive them with anything other than what I could truly see, my irises are tucked away, and the only thing they are able to see is the cold fluffy cloudy white part of my eyes. I’ve seen a few stops in their tracks, nauseated by fear. People can be rather nauseating, man, yes you, sucking on the pipe, but your name is the letter S. And as it turned out, you alone have not such a character, the character which has haunted me even in my dreams.

2.

On days it’s so cold, and you’re chilled to the bone, I feel the need to stay at the cafe even longer than normal. People in general could never bear such plain stubbornness, and most would leave before me. My advantage is that, I have plenty of time on my hands. I’m not in a rush to leave any place. Neither do I have the desire to run back and forth around town. Working at a desk, and shuffling around paperwork would be even worse. It’s impossible to recount all the boring jobs in the world. I let people pay for my time. I would sit with them somewhere, anywhere. Since all they need is someone to listen to them. When their time is up, they will pay me. If they want me to continue to listen to them, the price would increase by the hour after the appointed slot. Sounds like nothing, but if I was to put it in simpler terms, my humble earnings parallel the earnings of a government official. And I don’t have to turn up at the office the way they have to eight hours a day. All I have to do is sit and listen, and be attentive to what they are talking about. In this world, people are always lonely.

More on the topic of being afraid of a name. Clearly, I’m talking about the guy with the name starting with that particular character. I don’t understand why anyone should be afraid of a name, like for instance “someone everyone knows”. Dare I say, I’ve never stood amongst the grey clouds or dark shadows. I prefer the warmth of the sun. I prefer the fragrant pristine fresh light of leaves and foliage. Hence, to me, a name with such an interesting character should emulate goodwill and positivity. And, I truly hope that, each time someone sits down next to me, they will find that their way ahead shall with ease spread out to no end, and of course, it shall be full of flowers and wildlife, bird songs, and fluttering butterflies. Lately, I must admit, my forgetfulness has been invaluable when it comes to my current job. I could be listening to what they had to say today, (or that I had the need to listen to something). Retaining a few facts beyond my existence isn’t so important. Hence, I welcome their troubles, to then allow their troubles to freely fall away through me as though it had never existed. Hence then, I’m able to continue working as a listener, taciturn, and harmless to everyone.

The doorway in my ear is a good thing. I’ve come to terms with the existence of this doorway, as the days passed by, the noise from it grew louder, and my left was no longer so sensitive to all the different sounds, in fact, it refused to listen to what my client had to say instead. Unarguably for the best. Otherwise, I’m a ticking bomb ready to explode at any given moment, a human trigger, a danger to all around me. Thoughtlessly, that day, the day I had an appointment with a stranger, he ripped off a page of the calendar on the wall, and it happened to be a Friday, at that very same moment, I felt a pair of eyes on me from the shadow the whole time. Like the eyes of an Asian barred owlet. “Those who like to watch me, people who have nothing else to do”, I thought. They could never do what I do, a unique job that requires a unique set of skills, hence their spiteful envy. Spiteful envy is the source of all kinds of sins.

Today was a depressing day. The city was cold beneath a blanket of familiar grey mist. And it was obvious how I’m boxed in by my surroundings. I arrived at the cafe as predicted. The undefined grey light across the horizon brought me little peace. I ordered a serving of coffee. In this world, coffee is an indispensable beverage. The owner didn’t care about greeting his customers, he put all his attention and energy into dispensing his coffees, before carefully placing on my table, one shot of espresso, one small glass of fresh milk, and a glass of water. His eyes always down, always on his serving tray, he mumbled, “where’s the guy who likes to rip pages off the calendar on the wall?”. (The cafe owner was not at all curious as to why his customer likes to rip pages off the calendar on the wall in his shop). There’s no need to get into the business of strangers. The guy who likes to rip off the calendar sits with me, but he has no intention of hiring me to listen to him.

He then asked about the doorway in my ear. I was suddenly taken aback, “weird, how could he possibly know about that doorway?”. I returned his question with a curious look. He looked past me then as though he wanted to ask, “so, have you shut this door yet?”. I remained silent. He continued, “I want to book you to listen to me today, but first you have to close that door”. Rather an inconvenience for me, since at the moment, all I want to do is flung all the doors wide open, including this intangible door (in one form or another) inside my ear. “Look boss, at the moment I can’t close that door, I need to know what’s happening in the world, otherwise I might just disappear, my world, my loneliness is distended and swollen like a ball flying high in the air, at the moment in mid-flight.”

The owner of the cafe said nothing, quietly he walked over to the wall with the calendar scattered with images of still life. He had definitely worked out why his customer likes to rip off the pages of the calendar on the wall. He had not turned up today. So the owner volunteered to do it instead. His eyes were brooding somewhat. I made up my mind for the moment to definitely not listen to whatever he had to say. 

3. 

I had an appointment. A rather rushed appointment. A returning client. A lanky sensitive guy. Tall and thin, deep set eyes, framed by dark shadows, (probably from many sleepless nights). Habitually, I would assess people the first time I meet anyone. I like to capture the basic features of their face, general charisma. The first feature I’ve always gravitated towards was their ears. Perhaps because I’m a fairly curious person. The truth is, I am curious like people who are curious about things that may involve them. But, I’m mostly curious about people’s ears. Because the doorway is my priority. I tend to wonder if it has a doorway there like mine or not?

I had an appointment with a poet. He was finally ready to tell his story. He arrived in a commotion. Before he sat down next to me, his first order of activity was to walk over to the wall, through the scattered tables and chairs and whatever patron sitting in the cafe, and with purpose, rip off a page of the calendar on the wall. On it was a new painting of still life. I quickly took a snapshot of the emotions on his face, deep hollowed eyes. His hair was like the clouds outside. A generalised picture of a poet perhaps, with a head full of thick unkempt wavy hair. He was oblivious to my assessment of him, and that I was ready and waiting for his stories. (With the one condition, I must have a doorway in my ear). Oddly, we all want someone to listen, but demand it has to be in confidence. What pertains to the secrecy of a poet’s word? Beyond a sky full of poetry. What I do know for sure is that, the poet is someone who loves poetry, he enjoys the fun side of poetry. Then what was there left to hide in poetry? Yet, here we are, he has an appointment with me, paid with the meagre royalty fee of a poem, so I could listen to him talk. He spoke of his vegetable garden with creeping vines of butterfly pea with blooming purple flowers (though the vegetable garden was destroyed by a recent storm). He spoke about the roses he had recently planted in the garden at the front of his house, the roses thriving, blooming in the periodic visits by the sun. Yes, that was pretty much the gist of it and he had paid me to listen to it. What he had told me that day was like poetry, hence, I didn’t want to shut the doorway in my ear. Enthusiastically I soaked up every fresh detail, every ounce of his lust for life. The poet with the deep set eyes, who likes to rip off pages of the wall calendar each day at the cafe about the same age as the owner of the cafe, was called Ocean.

4.

I rarely meet up with a client more than once. Each person has but one story. The newspaperman was a tad more favourable to me, he was by nature more subdued. Not because I enjoy listening to how he describes the streets where he likes to jog. But, more than how he would ease into his session in a warm steady voice, I was able to vividly discern how my world has slowly opened up. It was as though I was allowed to leave the tight and cramped space inside my mother’s sac, I was free to venture out on a brand new adventure. I could imagine a place where I would have no need for a doorway in my ear, where I have to securely lock up. Or for instance, how I was suddenly an innocent child again. A child without a single stain on his white shirt. A happy child in the middle of a meadow, amongst the colours of spring, amongst flowers and fresh green leaves. Plus, there was another reason why I liked his steady warm voice. I had mentioned this to someone once, I had this recurring dream of the only man in the household reading a fairy tale to me before kissing me on the forehead and wishing me sweet dreams, before I fell asleep. This was why I liked him so much, why I had allowed him to see me more than the others, not just once, so he could tell me about his runs up the lonely mountain.

If only I had just listened and not looked up, if only I had not looked into his eyes. On his face were these misplaced haunting eyes. A pair of eyes that were different from the eyes of the poet, this pair of eyes were brilliant, bright like sunlight. When he opens his mouth. The door in my ear would be flung open, ready to welcome the breeze, the gale. “Where is this lonely mountain?”. I thought, curious. And of course, he was unaware of how much I wanted to know about the way up “the lonely mountain”. My imagination and dreams of fairy tale places have always been my salvation in any given moment, time and space. That is, the time I’ve reserved for his appointments was never monetary. My soul has its own universe, ready to be discovered. But, I like to return to what was at hand, with living, with my main purpose. My job was to “listen”.

A couple of times I’ve met up with other people, for instance, a young man who was a translator. I spoke mainly about buying clothing and shoes. Oddly enough. I had to immediately shut the door in my left ear. Honestly though, as soon as there was a hint of his voice, the doorway was in no time tightly shut, before I was aware of it being shut. 

I had another client, he was a teacher. Another mixed up person, he’s married, but they seem to be rather separated? He likes to talk about things his wife couldn’t be bothered about. And of course, I was apt for the job as his listener, his stories will be safe with me. I had assumed, before our appointment, a teacher might cheer me up with talks of school antics. But instead, my left ear, during my appointment with the teacher was strangely enough, completely unblocked. The familiar doorway had disappeared completely. So, I was fairly sure I will get to hear about his schemes on how to make extra cash after hours. The reveries of my school days disappeared in a puff of smoke, and I was left with nothing but an overwhelming feeling of disappointment.

5.

K. That guy, the writer, sat there scanning each letter, taking apart each and every ideal, philosophical thought, and or refined skill expertly, but never had enough money to make rent. He booked me today, with his meagre royalty fee. One hour. But he has been talking for more than an hour. The money he has left will not be enough to pay for the next hour. Yet enthusiastically, he continued to share his ideas for the next piece, something like a poisonous wind or a case that will not go to trial or will never get a day in court. If only he knew, I had a doorway in my ear, will it be different? I waved my hand, “your time is up, if you want me to listen, you have to pay”. Upset, he shuts up, and pulls out a crumbled silver note from his pants pocket, places it on the table before pushing it towards me, mumbling, “I want to talk about love, about kindness”. My lips moved, took the money, stood up and left the cafe.

Just like that, like tonight, after a week of living in someone else’s world, I’m the guy who is now trying to find the doorway in my ear, (a door I’ve never seen). I wanted to open it up, remove it, completely and finally. I took the bag full of the cash I had earned from trying to listen to people last week. I went looking for him, K, the writer, the guy who talked more than he should. Then, I threw the bag of money at him before saying: “I want you mate, to sit down, keep your mouth shut, and listen to me. There’s enough money here for a few months’ rent.”

“Well, do you want it or not, are you a listener or not?”.

The writer patted the bag of cash eagerly, not meeting my gaze. I opened my mouth and told him my story. What was it? How did it start? I’ll tell him about the middle aged man, who lived next door. What I saw. What had haunted my childhood. On one bright moonlit night. Yes, it was definitely a brilliant moonlit night. The middle aged man had ordered a pitiful woman and all the children in what one might call a home full of dreams to lay down in a muddy trench outside one rainy windy night, to satisfy his sudden blood thirst. I wanted to tell K how much I had wanted a gun in my hands at that moment. (Dare I place a wager with K, if I was the oldest kid there, I would have also wanted a gun in my hand).

“I was a bit over ten then, and the oldest kid was around my age.” By this point, I shut up completely. Telling your story is never easy, harder for a stranger like K. I realised, but I had already paid him, so I continued. K, today mate, you will be the listener. You don’t have a door in your ear. You have to learn to be a good listener. I will be your first client. You must remember this very day and I mean this job. You’ll never know, you might be able to make a living out of it. And you’ll never know, you might never have to depend on your writing for money again. You can stop writing. “That guy, the poet”, I paused, visualising the vague form of a guy pushing a barrow full of dirt. I continued, the poet, he’s not just talking about turning over the soil to plant flowers. He told me about his life, and the lives of those who enjoy writing poetry like him. But look, you don’t have to put up with the details, there’s no point. All you need to know is that he had once dreamed of becoming a calendar on a wall, instead of having to rip off a page of the calendar on the cafe wall which belonged to the guy named Ocean. He counts time, or was he counting the lines edged on his sad tragic face? If only he had never bothered with poetry. If only his parents had banned him from a young age from reading poetry the way my mate had told his daughter without much thought not to read poetry in front of him. Then again mate, his father was also a poet. What is poetry anyway? Is poetry like a forest full of scented flowers and sweet fruit, bird songs and fluttering butterflies or just an aching forever hidden in your deep sound eyes.

There’s more, want me to tell you about the newspaper guy? Ahumn, nothing much, nothing that’s worth mentioning. I reckon, there was a time I was obsessed with the paths full of flowers and ripe fruit, the paths he used to run up the lonely mountain. Correct, I have been taken by an imaginary world. Now if it weren’t for these dreams, how was anyone able to survive this world? Every time, my appointment with the newspaper guy, would always leave a knot in my stomach. I would worry about the existence of the doorway in my left ear. I’m filled with delusions of the paths the newspaper guy listlessly uses day in and day out every afternoon.

When I’m busy, I have tried to lock up the doorway in my ear. But his voice always manages to infiltrate the locked door, and I’m forced to fully discern the dreamy aspect of all these lovely running paths. More than once, I thought of punching him in the face, so he can shut up. But I couldn’t do it. Violence is the resolution of extreme anger. Hence, I had to let it go. I thought about the gun the year I was a bit over ten, now it felt more like something I had made up, a trauma that would unexpectedly surface. Moonlit nights were commonly reserved for wolves in the highlands. Sometimes, all I want to do is take his money and then completely seal up the doorway in my left ear, so I can stop dreaming about his lonely mountain. And to tell you the truth, I know he has lots of money. I can’t work out how he’s so comfortable. While all he talked about were the runs up a foggy mountain, a lonely mountain.

“What about that translator with the thick glasses and a head full of hair?”. K cut in suddenly, right in the middle of my tirade. 

“Ah, so you’re that guy, puffing away like a chimney in the corner, watching all my appointments?” I snapped. 

K didn’t reply. And it was possible I had forgotten his icy cool face in the dark corner. A kind of face you only have to see once and be traumatised by it, exactly like the face of the drunk man I had hidden from in a dark corner of the house, corner of a room, corner of a wall. I had to fight to overcome such fear, so I could escape my own darkness. Even though years after such thoughts were stripped away, the desire of wanting a gun. But as I grew up, I learned that violence only gives birth to violence.

K quickly cut in, in the middle of trying to listen to me, “then why are you here, why are you telling me why you had wanted a gun?”. I didn’t know how to answer that. I was silent before I changed the topic, “The translator, let me see if I can remember rightly, honestly, all he spoke about was buying stuff every day. I’ll never be able to understand why such a respectable translator would have nothing else to talk about but buying shoes and clothes. Don’t you find that weird? I’ve never heard him mention anything to do with translating. I’ve never heard him boast about any particular draft he was working on like other translators.

“Look, forget it, I don’t care about how the translator spends his money. I’m more curious about the teacher, he seems pretty well off”. K, the writer interjected. No, the teacher was not well off, not as far as I remembered it. He’s alright, nothing about him strikes me as impressive. A simple person. It’s true. Why are you so interested in him anyway? All I can remember is how much he was obsessed with how to make more money. Then again, he didn’t skim on paying for an hour of my time, all I did was sit there with him, sipping coffee, then we would go our separate ways after that. And of course, he would insist on paying for my coffee. I was never curious about how much he made. How much would a teacher make? I thought.

“Then, what is it you want to tell me, for the money you gave me?” K snapped. What’s the matter with this K guy, I deliberately told him about the doorway in my left ear, I had deliberately told him about how much I had wanted a gun? Is he dim witted or just pretending to be stupid? His looming Asian barred owlet eyes in the shadow, I’ve seen before, as bright and brilliant as flood lights. They angered me suddenly. It had been more than an hour. I didn’t want to share anything else with him. I couldn’t figure out how a writer could be so ignorant. If you were a bit quicker witted, you’ll be able to pick up so many new ideas for your next story, you might be able to earn more royalty for pieces published in the Sunday paper. Before you can be a writer, you must learn to be a good listener.

Then I remembered what had slipped my mind. The poet sent me a photo of a painting he had just finished, (before he was a poet, he was an artist), the painting was of a man sitting in front of an easel, his left hand holding a revolver with the barrel pointing at his temple right by his left ear. On the floor was a door. I lifted my left arm and touched my left ear without much thought. I’m not sure if the doorway in my ear was still there? K, the writer stared at my left ear. He walked over to his work desk in the corner, he pulled open a drawer. What was he looking for? I was curious, but instead I got to my feet and left via the front door. A loud noise exploded in the tiny room. It was the last sound I heard clearly in both of my ears.

“I wanted to tell her, my first love, about the door in my left ear. I need to tell her the reason I had left and why I had betrayed her. And of course, I still wanted to tell her about the paths up the lonely mountain, how they were full of the colours of a fairy tale”.

The young man in front of the room the writer K was renting felt nothing as he closed his eyes. A bright red door fell out of his left ear. There was little more the investigators were able to learn about the cafe owner named Ocean. The listener’s case finally had a hearing.

 

Truyện ngắn

CÁNH CỬA TRONG LỖ TAI

1. 

“Vụ án bao giờ mới được xét xử?”. 

Tôi lắc tai bên trái, lẩm bẩm. Chẳng có ai nghe tôi nói. Bởi thế, không ai trả lời. Tôi lại tiếp tục lắc tai bên trái. Thỉnh thoảng nó ù đặc tắc nghẽn, và lao xao một thứ âm ngữ kì quái. Có khi là tiếng cười. (K. Ka. Ka ka ka). Có khi chỉ là tiếng con gì trong đêm tối hát ca ráo hoảnh. Lặp đi lặp lại. Buồn chán. 

Trời sượt qua mặt tôi. Bóng của mặt trời ném tôi lên không trung rồi buông tay hờ hững. Rõ là ác. Mấy tháng nay, tôi hệt như đang bị rơi vào một trạng thái lơ lửng giữa thế giới thực bên lỗ tai phải và một thế giới ảo bên lỗ tai trái. Tôi rất muốn lặp lại câu hỏi đầu tiên từ khi tôi trở về thành phố có chiếc cầu mù sương cô đơn nối hai bờ than thở. Mỗi lần tôi định mở miệng, lỗ tai trái của tôi bắt đầu khiến tôi khó chịu bởi những âm thanh lạ ấy. 

Đương nhiên, với cá tính ngang bướng và cố chấp, tôi không thể/ không muốn buông bỏ việc tìm kiếm câu trả lời cho mình, hết câu này đến câu khác. “Có điều gì khiến thế giới sợ một cái tên?”, chẳng hạn thế.

Im lặng.

Đã mấy ngày, tôi bị cái ý nghĩ này làm phiền lòng. Giá mà tôi biết cách ngừng đặt những câu hỏi. Bởi vì chẳng ai trả lời được cho tôi. Nhìn quanh, tôi thấy có vài khuôn mặt người nhăn nhó, chăm chú vào khoảng không gian bé nhỏ. Chẳng ai nhận ra mình đang bị giam cầm một cách vô hình.

“Có một cánh cửa bên trong lỗ tai tôi thì phải?”. Tôi lại nói. Một mình. Bản nhạc rì rào phát ra từ cái màn hình lớn đang cố nhét vào tai tôi. Chúng làm tôi phát nghẹn. Thỉnh thoảng tôi mong muốn những bản nhạc như thế nên biến mất. “Đường lên đỉnh núi cô đơn”, tôi gõ bàn phím một cách chậm chạp. Giọng trầm của gã đàn ông trong bản nhạc khiến tôi trở nên bị động và lạc lối. Cánh cửa đó, trong lỗ tai tôi đang cố tình đóng lại từ từ. Tôi chẳng nghe thấy bất cứ âm thanh nào khác ở thế giới này, ngoài những tiếng vo ve trong não. Chúng gây phiền nhiễu cho tôi, chúng khiến tôi bị xáo trộn tư duy, mạch suy nghĩ. “Không phải là một con ma.” Chữ K đấy. Chúng thích cười ha ha ha. Nhăn răng mà cười. Cười giấu mặt. Hàm răng ấy bạnh ra hệt như muốn ăn hết cả một cánh rừng bị lỗi. Thế giới vẫn không dám nhắc đến chữ K sắc lạnh và khá lặng lẽ. Mặt trời sẽ luôn luôn tỏa sáng kể cả khi chỉ có một mình, hình như ai đó nói vậy.

Tôi nên tiếp tục chơi trò độc thoại, mô tả sự tồn tại của K. Một cái tên bắt đầu bằng ký tự bởi một gạch dọc hai gạch chéo ngược nhau mà vẫn bám dính lấy nhau. Hệt như tình yêu vĩnh cửu và chết chóc của chàng Romeo và nàng Juliet. Tôi nghĩ khá nhiều đến cái ký tự ấy. Chúng có mặt ở khắp mọi nơi tận cùng hang hốc. Chúng ở trên trời. Chúng rơi xuống mặt đất. Chúng nhoài ra đại dương sâu thẳm. Chúng bám trên những con sóng bạc khóc cười. Chúng lơ lửng trên vầng trăng nửa vành. Chúng bình thản ngược dòng thời gian chui vào đôi mắt nấp dưới hai hàng lông mày rậm kỳ quái của người đàn bà có râu, thân mang đầy thương tích sinh năm một chín không bảy. Thậm chí tôi còn thấy chúng tiếp tục ngược dòng thêm lần nữa, xa hơn xa hơn, để nằm lại trên khuôn mặt gầy gò của người đàn ông cách tuổi của tôi phải chừng một trăm năm. 

Tôi chẳng hiểu tại sao, người ta lại sợ một cái tên, một ký tự vô hại. Tôi chọn nó để bắt đầu cuộc chơi mà đa phần kẻ khác không bao giờ dám bứt phá để bước chân vào. (hoặc giả, họ không đủ khả năng, hoặc là họ sợ hãi, như tôi đã từng sợ hãi và căm ghét). Công việc này hệt như một món quà. Dù rằng tôi vẫn thường tự vấn về việc tồn tại của thượng đế, “hắn là cái lão quái gàn dở nào thế?” Hoặc sự tồn tại của một cánh cửa bên trong lỗ tai trái của tôi. 

Mặt trời vẫn sượt qua tai tôi hàng ngày. Thời gian dịch chuyển một cách thầm lặng. Thời gian cười cợt chế giễu sự huyễn hoặc của tôi. Nhưng tôi thì vẫn chật vật chơi đùa với chữ K. Một ký tự khắc họa đủ đầy chân dung nhân loại. Tôi cảm thấy buồn. Tôi lẩn tránh. Tôi giấu mình trong một thế giới tràn đầy những hồi ức đau thương. Có phải là nàng không? Người tình đầu tiên của tôi. Tôi nhắc nhở đến nàng như một ảo ảnh mà tôi đã châm lửa đốt sạch sau cái đêm hôm ấy. (tôi không nên nhắc đến cái đêm hôm ấy nữa nhỉ?). Thật lòng tôi chẳng thể lưu giữ nổi một chút hình ảnh nào của cái đêm hôm ấy nữa. Trí nhớ suy tàn đã phản bội tôi, như tôi đã từng phản bội nàng vì một lý do lãng xẹt. 

Hôm nay cũng như mọi ngày khác, tôi đến quán cà phê gần ngã tư đèn xanh đèn đỏ đối diện với cây cầu sương mù, chỉ vì một lý do duy nhất là tôi cần một thứ kích thích cho não tôi làm việc và bớt cơn buồn ngủ buổi sáng. Ấy thế mà, tôi vẫn không thể nào thoát nổi ánh mắt săm soi của những con người thích cười. Họ soi vào ánh mắt tôi, họ muốn biết trong mắt tôi lòng đen nằm ở phía bên nào chăng? Hay là, mắt tôi có đủ lòng đen lòng trắng không? Tôi có biệt tài khá lạ, bất cứ khi nào tôi thấy ghét ánh mắt soi mói của một vài kẻ khác, tôi sẽ nhìn trực diện vào mắt họ và bắt đầu thực hiện kỹ xảo giấu biệt lòng đen trong mắt mình, chỉ còn lòng trắng bồng bềnh như mây lạnh. Vài lần tôi thấy thần thái của họ tan biến đột ngột, thay vào đó là một vẻ mặt sợ hãi đến độ phát buồn nôn. Con người thường xuyên đáng buồn nôn như vậy đấy anh chàng ngậm tẩu, mà tên anh là một chữ S. Và hình như cũng chỉ có anh không mang thứ ký tự đó, ký tự ám ảnh tôi trong cả những giấc mơ.

2. 

Vào những ngày mùa đông lạnh buốt thịt da xương tuỷ, tôi lại càng muốn ngồi lâu hơn ở quán cà phê. Một vài kẻ không chịu nổi kiểu trơ lỳ như tôi nên rời đi trước. Tôi thì khá rảnh rỗi. Tôi chẳng cần phải gấp gáp di dời khỏi nơi này. Tôi cũng chẳng muốn chạy qua chạy lại trên phố. Làm việc ở những văn phòng bàn giấy tôi càng cảm thấy buồn chán hơn. Câu chuyện buồn chán của thế giới hẳn là không thể nào đếm xuể. Tôi cho người ta thuê thời gian của tôi. Tôi chỉ ngồi cùng họ ở đâu đó. Vì họ cần ai đó để lắng nghe. Tôi chỉ việc im lặng. Tôi không đưa ra lời khuyên, tôi không được phép lên giọng phán xét. Bộ phận hoạt động nhiều nhất trên cơ thể tôi lúc này là đôi tai, ánh mắt, và thỉnh thoảng gật đầu ra vẻ đồng tình với câu chuyện của họ. Hết thời gian, họ sẽ trả tiền cho tôi. Nếu muốn tôi nghe tiếp, họ phải tăng số tiền lên theo giờ. Ấy thế, nói khiêm tốn một chút chứ số tiền tôi kiếm được có khi bằng mức lương của một công chức nhà nước. Tôi chẳng cần phải đến công sở như họ, mỗi ngày tám tiếng. Tôi chỉ cần ngồi xuống và im lặng, lắng nghe họ nói. Loài người trong thế giới này thật là cô đơn. 

Quay lại việc người ta sợ một cái tên. Hẳn là tôi đang nói đến một ai đó có tên bắt đầu bởi ký tự ấy. Chẳng hiểu sao lại phải sợ một cái tên, hệt như “kẻ mà ai cũng biết đó là ai” vậy. Tôi dám khẳng định rằng, tôi chưa bao giờ đứng về phía những đám mây màu xám đen hoặc bóng tối. Tôi thích mặt trời ấm áp. Tôi thích thứ ánh sáng tinh khiết thơm tho của cây lá xanh non. Bởi thế, tôi nghĩ, cái tên có ký tự đặc biệt ấy sẽ mang lại sự nhiều điều tốt lành. Và, tôi thực sự mong muốn rằng, mỗi lần một ai đó ngồi xuống bên cạnh tôi, họ sẽ thấy con đường càng đi càng rộng mở thênh thang, dĩ nhiên có nhiều hoa thơm cỏ ngọt chim ca bướm lượn rập rờn. Lúc này, tôi chợt nhận ra, chính trí nhớ suy tàn của tôi đã giúp tôi làm được cái công việc này. Tôi có thể nghe họ nói hôm nay, (hoặc là tôi chẳng cần nghe bất cứ điều gì). Chuyện lưu giữ thêm một vài dữ liệu bên ngoài cuộc sống của tôi, có khi không thật cần thiết lắm. Bởi thế, những câu chuyện của họ cứ thản nhiên đến, rời đi khỏi tôi như chưa bao giờ tồn tại vậy. Vì lẽ ấy, nên tôi mới tiếp tục làm được công việc của một kẻ lắng nghe, kiệm lời, và vô hại đối với mọi người.  

Kể ra trong tai tôi có thêm một cánh cửa cũng tốt. Tôi nhận thấy sự tồn tại của cánh cửa đó, khi càng ngày những âm thanh vo ve xuất hiện càng nhiều, và lỗ tai trái của tôi không còn nhạy bén với các loại âm thanh, thậm chí nó từ chối cả việc lắng nghe những câu chuyện của các vị khách. Tôi nghĩ như vậy là tốt nhất. Nếu không, một khi tôi biến thành quả bom mà kíp nổ là những ẩn ức của con người, hẳn sẽ rất nguy hiểm cho thế giới này. Bất giác, hôm đó, cái hôm mà tôi có hẹn với một vị khách lạ, anh ta xé tấm lịch tường ngày thứ sáu, thì đồng thời, tôi lại nhìn thấy một ánh mắt khác trong bóng tối. Hệt như cú vọ. “Những kẻ thích chơi trò quan sát tôi, thật ra cũng chỉ là bọn dở hơi”, tôi nghĩ vậy. Chúng không làm được cái công việc đặc biệt như tôi nên khả năng là chúng đố kỵ ghét bỏ. Sự đố kỵ của con người là căn nguyên đầu tiên của mọi tội lỗi. 

Hôm nay là một ngày u ám. Thành phố này lạnh lẽo nấp dưới làn sương mù xám quen thuộc. Tâm trạng tôi cũng bị cái khung cảnh ấy đóng nẹp, chi phối rất rõ rệt. Tôi đến quán như thường nhật. Ánh sáng từ phía bầu trời nhàn nhạt màu xám lạnh khiến tinh thần tôi không thể nào ổn định. Tôi gọi cà phê, một loại thức uống không thể thiếu được của thế giới. Gã chủ quán không buồn ngước mặt lên chào khách, gã chăm chú với việc pha chế, sau đó cẩn trọng đặt xuống bàn tôi, một espresso, một tách sữa tươi nhỏ, một cốc nước. Gã vẫn cúi gằm, miệng lẩm bẩm hỏi, “người đàn ông thích xé lịch tường đâu rồi?”. (Gã không thắc mắc tại sao, vị khách đó lại thích bộ lịch tường mà gã treo ở quán). Chẳng việc gì phải tò mò về sở thích của người lạ mặt. Người đàn ông thích xé tấm lịch tường vài lần ngồi cùng tôi, nhưng anh ta chưa có ý định thuê tôi lắng nghe câu chuyện của mình.

Sau đó, gã hỏi tiếp về một cánh cửa trong lỗ tai. Tôi giật mình, “quái lạ, sao gã biết tôi có cánh cửa ấy nhỉ?”. Tôi nhìn gã dò xét. Gã lúc bấy giờ mới liếc mắt qua vai tôi như muốn hỏi, “thế mày đóng cánh cửa trong lỗ tai chưa?”. Tôi im lặng. Gã tiếp tục, “tao muốn thuê mày làm người lắng nghe hôm nay, nhưng mày phải đóng cánh cửa ấy lại”. Thật khó chịu cho tôi, vì lúc này, đúng lúc này tôi lại muốn mở toang mọi cánh cửa, kể cả nó, cánh cửa vô hình (hoặc có hình dạng nào đó) đi chăng nữa trong lỗ tai mình. “Ông chủ quán, tôi không thể đóng cánh cửa ấy bây giờ, tôi cần phải lắng nghe thế giới, nếu không tôi sẽ chết mất. Thế giới của tôi, nỗi cô đơn của tôi đang căng lên như một quả bóng bay vậy.”

Gã chủ quán làm thinh, lặng lẽ đến gần bộ lịch tường có in những bức tranh tĩnh vật. Gã hẳn là đã đoán ra lý do vị khách lạ lần trước vẫn thích xé những tấm lịch tường. Hôm nay anh ta không đến. Gã làm thay công việc ấy, một cách tự nguyện. Ánh mắt gã trầm tư. Tôi thì vẫn dứt khoát từ chối lắng nghe câu chuyện của gã lúc này. 

3. 

Tôi có hẹn. Một cuộc hẹn khá vội vã. Vị khách hàng đã từng ngồi cùng tôi. Anh ta trông thật là mảnh khảnh. Cái dáng cao lênh khênh, đôi con mắt sâu hoắm, (chắc nhiều đêm mất ngủ). Thói quen của tôi mỗi khi tiếp xúc với ai đó, việc đầu tiên là quan sát. Tôi muốn nắm bắt được những đường nét cơ bản trên khuôn mặt họ, thần thái. Điểm tôi thích lướt qua trước bao giờ cũng là cái lỗ tai. Có lẽ, tôi tò mò. Thật tình tôi cũng là kẻ khá tò mò như những kẻ tò mò khác khi săm soi thế giới xung quanh. Tôi thì chỉ săm soi cái lỗ tai thôi. Bởi, thứ tôi quan tâm là một cánh cửa. Liệu họ có một cánh cửa bên trong tai giống như tôi hay không? 

Tôi hẹn với anh thi sĩ. Cuối cùng anh ấy cũng đã quyết định kể câu chuyện của mình. Anh đến, ồn ào ngồi xuống ghế. Việc đầu tiên của anh, là tiến đến bộ lịch tường, xé một tờ. Trên đó là một bức tranh mới. Tôi quan sát nhanh khuôn mặt anh, đôi mắt sâu hoắm của anh. Mái tóc anh hệt như mây. Chắc hình dáng mái tóc của các của thi sĩ đều thế. Hẳn là anh không biết tôi đang săm soi anh, và chờ đợi để nghe anh kể chuyện. (Với điều kiện, tôi là người có một cánh cửa trong lỗ tai). Thật kỳ lạ, tôi thấy ai cũng muốn kẻ khác lắng nghe, nhưng lại đòi hỏi việc giữ kín những câu chuyện bí mật đó. Anh thi sĩ có gì phải giữ kín nhỉ? Ngoài một bầu trời đầy thơ. Theo tôi biết, anh thi sĩ kia cũng chỉ là kẻ yêu thơ, biết chơi đùa với thơ. Thế thì có gì bí ẩn ở bên trong câu chuyện của thơ nữa? Ấy vậy mà có, đấy, như hôm nay, anh ta hẹn tôi, thuê tôi một giờ bằng số tiền nhuận bút thơ ít ỏi để được kể chuyện. Anh ta kể về vườn rau có cây hoa đậu biếc nở bông tim tím (mà vườn rau đó hình như vừa bị vùi tan nát sau những cơn bão). Anh ta kể về một vườn hoa hồng vừa vun trồng ở khoảnh đất trước nhà, hoa nở bừng nhiều sắc màu khi mặt trời ghé qua. Đấy, chỉ có chừng đó thôi mà anh ta cũng phải bỏ tiền ra để thuê tôi, để bắt tôi lắng nghe. Những thứ anh ta kể như một bài thơ đẹp, nên tôi, hôm ấy không muốn đóng cánh cửa trong lỗ tai mình lại. Tôi tranh thủ đón bắt mọi cảm giác tươi tắn yêu đời từ câu chuyện của anh ta. Nhà thơ có đôi mắt sâu hoắm và thích xé những tờ lịch tường mỗi ngày ở quán cà phê của gã đàn ông trung tuổi có tên Ocean. 

4.

Tôi ít khi gặp ai lần thứ hai. Mỗi người có thể kể cho tôi một câu chuyện. Anh nhà báo thì lặng lẽ hơn, và tôi ưu ái anh ta hơn một chút. Chẳng phải vì tôi thích nghe anh ta kể về những con đường chạy bộ. Nhưng, khi anh ta bắt đầu bằng chất giọng trầm ấm thì tôi biết thế giới của tôi đang mở rộng. Tôi được phép bước chân ra khỏi cái vỏ bọc co quắp như hình dạng chiếc bào thai của mình và bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới mẻ. Tôi có thể tưởng tượng ở nơi chốn ấy tôi không cần phải lắp một cánh cửa bên trong tai, sau đó khóa kín lại. Hoặc là tôi hoá thành một đứa trẻ hồn nhiên chẳng hạn. Một đứa trẻ không hề bị dính một vết bẩn nào trên chiếc áo sơ mi trắng. Một đứa trẻ luôn tươi cười rạng rỡ giữa những cánh đồng, giữa những sắc màu của mùa xuân đầy hoa lá xanh non. Và, tôi thích nghe giọng trầm ấm của anh ta vì một lý do khác nữa. Có lần tôi nói với ai đó rằng, tôi từng mơ ước trước giờ đi ngủ, tôi được nghe người đàn ông lớn duy nhất trong nhà tôi kể một câu chuyện cổ tích và đặt một nụ hôn lên trán tôi cùng lời chúc ngủ ngon. Bởi lý do ấy, mà tôi ưu ái anh ta, cho phép anh ta gặp tôi nhiều hơn, không chỉ một lần, để anh ta được kể về những con đường chạy bộ lên đỉnh núi cô đơn của mình. 

Giá như tôi chỉ lắng nghe và đừng ngước lên nhìn vào mắt anh ta. Trên khuôn mặt đó, lại có thêm một đôi mắt thẳm sâu khác ám ảnh lấy tôi. Nhưng, đôi mắt của anh có điểm khác với thi sĩ, đôi mắt anh sáng lấp lánh, mạnh mẽ như ánh mặt trời. Khi anh ta bắt đầu mở miệng. Cánh cửa trong lỗ tai trái của tôi lại muốn mở toang chờ đợi những cơn gió. “Đỉnh núi cô đơn ấy ở đâu?”. Tôi thắc mắc. Dĩ nhiên anh ta không biết rằng tôi đang muốn biết đường lên “đỉnh núi cô đơn” đó đến dường nào. Trí tưởng tượng và những giấc mơ về một thế giới cổ tích trẻ thơ luôn cứu rỗi lấy tôi mọi nơi mọi lúc. Thế đấy, việc tôi dành cho anh ta những cuộc hẹn, không phải vì tôi cần tiền của anh ta. Tâm hồn tôi cũng là một vũ trụ thẳm sâu cần được khám phá. Nhưng, tôi muốn quay trở lại với cuộc đời thực, với công việc chính của mình. Tôi là kẻ làm nghề “người lắng nghe”. 

Có mấy bận tôi hẹn với những vị khác khác, chẳng hạn như, một cậu dịch giả. Cậu ta chỉ nói về chuyện mua sắm quần áo và giày dép. Kỳ quái thật. Tôi phải chủ động đóng gấp cánh cửa bên lỗ tai trái của tôi lại. Mà thực tình, chỉ cần cậu ta cất giọng, lỗ tai tôi đã tự khép lại từ bao giờ.

Một khách hàng khác của tôi là anh nhà giáo. Thêm một kẻ rỗi hơi, anh ta đã có gia đình, nhưng hình như giữa họ có một vài khoảng cách thì phải? Anh ta rất muốn chia sẻ những câu chuyện nào đó của riêng mình mà vợ anh ta không muốn nghe. Và dĩ nhiên, tôi là sự lựa chọn phù hợp. Tôi đã nghĩ, trước đó rằng, có khi tay nhà giáo này sẽ khiến cho tôi cảm thấy vui vẻ chút ít bằng những câu chuyện ở học đường. Ấy vậy, mà ngược lại, lỗ tai trái của tôi, cái hôm hẹn với anh nhà giáo nó dường như thông suốt kỳ lạ. Cánh cửa quen thuộc biến đâu mất tích. Bởi thế, tôi chắc chắn phải nghe anh ta kể lể về những mánh lới kiếm chác thêm tí mắm muối bên ngoài giờ dạy. Câu chuyện học đường như tôi mơ hồ tưởng tượng về thời tuổi trẻ của mình bỗng chốc chỉ còn là một nỗi thất vọng tràn trề. 

5. 

K. Cái thằng nhà văn, hắn ngồi soi chữ, bàn về những tư tưởng, triết thuyết, nghệ thuật cao cả, nhưng hắn lại không thể trả nổi tiền trọ mỗi tháng. Hôm nay hắn thuê tôi, bằng vài đồng nhuận bút ít ỏi của hắn. Một giờ. Nhưng hình như hắn đã nói hơn một giờ. Số tiền hắn có sẽ không đủ để trả cho tôi một giờ tiếp theo. Vậy mà hắn vẫn thao thao bất tuyệt kể lể những ý tưởng hắn sẽ viết, chẳng hạn câu chuyện về một cơn gió độc hoặc về một phiên toà không được kết án. Giá mà hắn biết rằng, trong tai tôi có một cánh cửa nhỉ? Tôi ra hiệu cho hắn, 

“đã hết giờ làm việc, nếu mày muốn tao tiếp tục nghe thì phải trả tiền”. Hắn hậm hực ngậm miệng lại, dù vẫn kịp lôi trong túi ra vài tờ giấy bạc đã cũ đẩy về phía tôi vừa lẩm bẩm, “tao còn muốn nói về tình yêu, về lòng nhân ái”. Tôi nhếch mép, cầm tiền, đứng dậy rời khỏi quán. 

Ấy thế, tối nay, sau một tuần ở một thế giới khác, tôi lại là kẻ quyết định thử tìm kiếm cánh cửa trong lỗ tai mình, (cánh cửa mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy). Tôi muốn mở nó, muốn tháo gỡ nó ra, triệt để. Tôi cầm cái bọc tiền mình kiếm được sau bảy ngày tôi tự thử thách mình, làm người lắng nghe. Tôi đến tìm hắn, K, gã nhà văn nhiều chuyện. Đấy, tôi ném bọc tiền về phía hắn và nói: “Tao muốn mày ngồi xuống, im lặng và lắng nghe. Chừng này tiền có thể đủ cho mày trả tiền trọ vài tháng đấy.” 

“Nào nói đi, mày muốn gì hả người lắng nghe?”. 

Tay nhà văn mân mê bọc tiền, mắt không nhìn tôi. Tôi mở miệng và bắt đầu kể câu chuyện của tôi cho hắn. Như thế nào nhỉ? Phải bắt đầu từ đâu nhỉ? Tôi phải kể về một người đàn ông trung tuổi, gã ở sát bên cạnh nhà tôi. Cái hoạt cảnh mà tôi đã vô tình nhìn thấy. Chúng ám ảnh tôi suốt cả tuổi thơ. Trong một đêm trăng sáng. Phải, chính xác là trong một đêm trăng sáng. Người đàn ông trung tuổi ấy đã ra lệnh cho tất cả những đứa trẻ cùng với người đàn bà tội nghiệp của ông ta phải bước ra khỏi căn nhà méo mó những giấc mơ và nằm xuống con mương đất bên ngoài trời mưa gió, chỉ để thỏa mãn một cơn say máu. Tôi phải nói cho K nghe về việc tôi đã từng muốn có trong tay một khẩu súng như thế nào. (Tôi dám cá cược với K rằng, nếu tôi là đứa trẻ lớn nhất, tôi chắc chắn cũng rất muốn có trong tay một khẩu súng). 

“Khi đó, tao không hề biết đến sự tồn tại nữ thần công lý Athena, nhưng quý bà ấy bây giờ cũng chỉ là một bức tượng đá”. Tôi nói và tiếp tục nói. Hệt như tôi chưa bao giờ được nói vậy. Hắn thừa biết là tôi muốn được nói hơn bao giờ hết. Cái nghề làm người lắng nghe này cần phải có một trái tim thật lớn mới đủ dung chứa mọi đau khổ phiền muộn trên đời. Không biết phải thuê hắn bao nhiêu giờ để tôi có thể kể lể hết câu chuyện của tôi. Nhưng tôi mặc kệ, bọc tiền của tôi hắn đã cầm, vì thế, hắn bắt buộc phải tiếp tục nghe tôi nói. Trong lỗ tai của hắn không hề có cánh cửa nào như tôi, chắc hẳn hắn sẽ khá mệt mỏi. Những câu chuyện không đầu không cuối, rả rích rót vào tai gã nhà văn K. 

“Tao nhớ năm đó tao chỉ mới hơn mười tuổi, và đứa lớn nhất trong đám trẻ ấy cũng bằng tuổi tao.” Tôi nói đến đó, rồi bất chợt im bặt. Kể một câu chuyện đối với tôi quả thật không đơn giản chút nào, nhất là cho kẻ lạ mặt như K. Tôi biết thế, nhưng tôi đã trả tiền cho hắn rồi, bởi vậy, tôi nói tiếp với hắn. K, hôm nay, mày hãy là người lắng nghe. Mày không có bất kỳ cánh cửa nào trong lỗ tai cả. Mày hãy tập làm người lắng nghe đi. Tao sẽ là khách hàng đầu tiên của mày. Mày nhớ cái ngày hôm nay và cả cái nghề này. Biết đâu mày sẽ sống được với công việc mới. Biết đâu mày không cần phải chật vật kiếm ăn bằng nghề viết. Đừng viết nữa. “Tay nhà thơ kia”, tôi ngập ngừng hình dung ra hình ảnh một người đàn ông gầy gò đẩy chiếc xe cút kít đi chở đất. Tôi nói tiếp, tay nhà thơ kia không chỉ nói về việc cuốc đất trồng hoa đâu. Tao nhớ, có lần hắn đã kể cho tao về cuộc đời hắn, cuộc đời của những người thích làm thơ như hắn. Nhưng thôi, mày không cần phải nghe chi tiết nhiều làm gì. Mày chỉ cần biết là hắn đã từng mong muốn biến thành một cuốn lịch tường, thay vì phải xé rời nó xuống mỗi ngày ở quán cà phê của ông Ocean. Hắn đếm thời gian, hay đếm những nếp nhăn trên khuôn mặt khắc khổ trầm luân của hắn? Giá như hắn đừng làm thơ. Giá như cha mẹ hắn cấm cản hắn làm thơ từ bé như anh bạn trẻ có lần vô tình dặn dò con gái nhỏ không được đọc thơ trước mặt hắn vậy. Nhưng mày ạ, cha hắn cũng đã làm thơ. Thơ là cái thứ gì thế mày? Có phải thơ là một khu rừng đầy hoa thơm trái ngọt, chim ca bướm lượn hay thơ chỉ là một nỗi đau luôn luôn được giấu kín trong đôi mắt sâu hoắm. 

Còn nữa, mày có muốn biết những câu chuyện của thằng nhà báo không? Chao ôi, chán chết. Tao nghĩ, tao đã từng bị thu hút với những con đường đầy hoa thơm cỏ ngọt mà hắn kể mỗi lần chạy bộ lên đỉnh núi cô đơn. Phải, chính tao cũng biết rằng tao bị quyến rũ bởi thế giới rộng mở của trí tưởng tượng. Ấy vậy, nếu không có những giấc mơ, tao thật chẳng hiểu làm thế nào để sống? Sau mỗi lần gặp thằng nhà báo, tao có hồ nghi về bản thân mình, hồ nghi sự tồn tại của cánh cửa bên lỗ tai trái. Tao tự huyễn hoặc những gì thằng nhà báo kể về những con đường nó đã chạy bộ mỗi chiều từ ngày này sang ngày khác là những thứ nhảm nhí, nhàm chán. 

Có bận, tao cố gắng khoá thật chặt cánh cửa trong lỗ tai trái. Ấy thế mà cái âm lượng từ miệng của nó vẫn cứ đều đều xuyên qua cánh cửa, rồi bắt tao phải thấu nhận hết sự mơ mộng về những con đường chạy bộ. Đã nhiều lần, tao nghĩ đến việc đưa nắm đấm lên làm một phát vào mặt nó, cho nó im hẳn. Nhưng tao không làm được. Bạo lực chỉ là một giải pháp tức thời trong cơn bĩ cực. Vì thế, nên thôi, tao nghĩ về khẩu súng đó năm tao hơn mười tuổi, giờ thì nó hệt như một giấc mơ, một sự ám ảnh đầy ẩn ức bất chợt. Những đêm trăng sáng nhiều khi chỉ dành riêng cho loài sói trên thảo nguyên. Đôi lúc, tao nghĩ tao nên lấy tiền của nó và đóng chặt cánh cửa bên lỗ tai trái lại, để không cần phải mơ mộng về đỉnh núi cô đơn nữa. Và thật tình, tao biết nó có rất nhiều tiền. Tao chẳng hiểu tại sao nó lại có nhiều tiền đến vậy. Trong khi nó chỉ có những câu chuyện liên quan đến mấy con đường chạy bộ lên đỉnh núi mù sương, đỉnh núi cô đơn. 

“Vị dịch giả có mái tóc lởm khởm với một đôi mắt kính dày cộp thì sao?”, K bất ngờ cắt ngang mạch kể của tôi. 

“A, hoá ra mày chính là cái gã đi giày da ngồi trong bóng tối rít thuốc và quan sát những cuộc hẹn của tao đấy hả?, tôi hỏi vặn lại. 

K không trả lời. Và dễ thường tôi quên chắc cái khuôn mặt lạnh như tiền của hắn trong bóng tối. Khuôn mặt khiến ai nhìn lướt qua một lần cũng ám ảnh, hệt như tôi từng thấy khuôn mặt của người đàn ông say nào đó những năm tôi bé nhỏ hãi sợ lẩn trốn trong góc nhà, góc phòng, góc tường. Tôi phải tự đấu tranh để vượt qua nỗi sợ hãi đó, để bước ra khỏi cái bóng tối của chính mình. Dù rằng những năm sau này tôi đã dần dần tước bỏ cái ý nghĩ, cái ước muốn có được một khẩu súng. Thời điểm ấy quả thật tôi khá hoang mang, sợ hãi, và yếu đuối. Tôi không biết cách kháng cự lại những cảm giác ẩn ức từ việc nhận diện khái niệm về tình yêu, lòng nhân từ, hay hình ảnh độc ác mà tôi đã chứng kiến đó trong tuổi thơ của mình ngoài việc nghĩ đến một khẩu súng. Nhưng, càng lớn tôi càng hiểu rằng, bạo lực thường chỉ sinh ra bạo lực. 

K chen vào, khi đang nghe tôi nói, “thế tại sao bây giờ mày lại chạy đến và nói với tao rằng mày cần một khẩu súng?”. Tôi không trả lời được. Tôi im lặng và đánh lạc hướng hắn, “Dịch giả, để tao nhớ lại, thực tình thì vị đấy chỉ nói với tao về việc mua sắm hàng ngày. Tao chẳng thể nào hiểu nổi, tại sao một con người như vị dịch giả đáng kính kia chỉ có mỗi nhu cầu duy nhất là kể lể về việc mua sắm. Mày thấy lạ không? Tao chưa bao giờ nghe gã nhắc đến những công trình dịch thuật. Tao chưa bao giờ nhìn thấy vị ấy khoe những bản thảo như một vài kẻ khác. 

“Thôi thôi tao không muốn nghe về công việc mua sắm nhảm nhí của gã dịch giả ấy. Tao tò mò về anh nhà giáo, hình như anh ta khá giả lắm nhỉ?”. Nhà văn K nói. Không, anh nhà giáo, để tao nhớ xem. Anh ta cũng bình thường thôi, chẳng có gì ấn tượng. Một con người đơn giản. Thật đấy. Mày tò mò gì về anh ta? Tao chỉ nhớ rằng, anh ta chưa bao giờ có nhu cầu chia sẻ bất cứ điều gì thú vị hơn, ngoài chuyện kiếm cơm. Tuy nhiên, anh ta vẫn bỏ tiền ra, thuê tao một giờ, chỉ để thỉnh thoảng được lặng yên, bắt tao ngồi nhấp cà phê với anh ta, sau đó mỗi đứa một đường. Đương nhiên, tiền cà phê anh dành trả. Tao cũng chẳng mấy quan tâm đến số tiền mà anh ta kiếm được. Nhà giáo thì kiếm được bao nhiêu? Tao nghĩ thế. 

“Vậy, cuối cùng cái thứ mày cần tao lắng nghe, để xứng đáng với số tiền mày trả cho tao là gì?” K hỏi gắt. Thằng nhà văn này kỳ khôi thật. Tôi đã cố tình kể cho hắn nghe về một cánh cửa bên lỗ tai trái, tôi đã cố tình nói cho hắn biết về việc tôi từng mong ước có một khẩu súng như thế nào? Hắn kém cỏi hay giả vờ khờ khạo nhỉ? Con mắt cú vọ của hắn trong bóng tối, tôi đã từng thấy, sáng như ánh đèn pha. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ khá điên rồ. Hơn một giờ đồng hồ đi qua. Tôi không muốn chia sẻ thêm với hắn bất cứ điều gì nữa. Chao ơi, thằng nhà văn kém cỏi. Giá mày nhanh nhạy một chút, mày đã có hàng đống ý tưởng cho một câu chuyện hư cấu, biết đâu mày sẽ kiếm thêm được ít nhuận bút từ số báo ngày chủ nhật. Mày muốn muốn trở thành nhà văn, trước hết mày phải là người biết lắng nghe. 

Tôi nhớ ra mình còn việc phải làm. Tay nhà thơ tối qua hình như có gửi cho tôi hình ảnh chụp bức tranh anh ta vừa mới hoàn tất, (trước khi là thi sĩ, anh ta đã từng là một hoạ sĩ), trong bức tranh là người đàn ông ngồi trước giá vẽ, tay trái cầm một khẩu súng và chỉa lên thái dương ngay bên cạnh lỗ tai của mình. Dưới đất có một cánh cửa. Bất giác, tôi đưa tay sờ lên lỗ tai trái. Chẳng biết cánh cửa của tôi liệu có còn ở đó? Thằng nhà văn K nhìn chằm chằm vào lỗ tai trái của tôi. Hắn đi tới góc làm việc, tay hắn kéo hộc bàn. Thứ gì trong đó nhỉ? Tôi tò mò, nhưng cũng đồng thời đứng dậy rất nhanh lao ra khỏi cửa. Một tiếng nổ toang vang lên trong căn phòng nhỏ. Chỉ là một âm thanh mà lần cuối cùng tôi được nghe thấy rõ ràng bằng cả hai tai của mình.

“Tôi cần phải kể cho nàng, tình yêu đầu đời của tôi về một cánh cửa bên lỗ tai trái, tôi cần phải nói với nàng lý do tại sao tôi rời bỏ và phản bội nàng. Dĩ nhiên, tôi còn muốn mô tả cho nàng những con đường lên đỉnh núi cô đơn, tràn ngập sắc màu của thế giới cổ tích”. 

Đôi mắt người đàn ông trẻ trước căn phòng trọ của nhà văn K hờ hững khép lại. Có một cánh cửa màu đỏ sậm rớt ra từ lỗ tai bên trái. Chẳng ai biết gì thêm về câu chuyện của gã chủ quán cà phê tên Ocean. Vụ án của người lắng nghe bây giờ mới thực sự bắt đầu. 

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
%d bloggers like this: