BABY, DON’T BE SO SURPRISED | Lê Vĩnh Tài [479]

Nguyễn Thị Phương Trâm

Thơ Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

Published on LatinoUSA – English edition – Thank you Juan.

we love each other as though we are criminals, chained up by the whispers of our heart, the only consolation is our last resting place, a bed or a hole in the ground, by the grace of the almighty we have been protected, while you baby, continue to laugh and play, surrender to a world where you are a toy,

baby, you can laugh all you want, laugh till you’re out of breath, lose your way, find yourself in a bad situation and you’ll be crying, you won’t make a sound, you won’t be able to breathe, you won’t be able to find the air in your lungs, the so call trauma of those dreams,

the hopelessness, tell me, the pitiful agony, why do they elude us, why aren’t such pity sustainable, how pitiful can it be, when we love, we find ourself laughing at whether we are even worth the laugh, your thoughts will be the destruction of you, they are the flames that will destroy you, as you stare at the blaring screen of your smartphone, in the middle of this amorous love affair, will it be prudent for me to go and look for you,

like the way you bury your sorrow, in those perfect verses of poetry, quietly you compare me to all your obsessions so far, the vested enthusiasm you have reserved for the people you love,

my lips ignites the desire within you, wine wakes up the spirit inside you, your skin bears the mark of disdain saved for those who craves love but in turn exposes your desire,

a sincere man who saves kisses for his muse, as the desire within those eyes gives birth to jealousy, flashing before the eyes of a drowning soul trying to hold on to a rock, they feel as though they are invincible,

when someone holds firmly onto their pride, they will feel invincible, but in the eye of the ultimate marvelous feat of envy my love, you will dare not question it.

EM ĐỪNG NGẠC NHIÊN GÌ NHÉ

chúng ta yêu nhau như những tù nhân, bị xiềng xích bởi những lời thì thầm của trái tim, sự an ủi có thể là nơi an nghỉ cuối cùng của chúng ta, chiếc giường có thể biến thành ngôi mộ, chúng ta được bao bọc trong phước lành, trong khi em cứ tiếp tục vui đùa trong thế giới này, đầu hàng nó để biến thành món đồ chơi của nó,

em vẫn cười, thở hổn hển, lạc vào một con đường nguy hiểm, cùng lúc khóc thầm, ngạt thở khi vật lộn để thở, nỗi ám ảnh méo mó của những giấc mơ,

tuyệt vọng, hãy cho anh biết, nỗi khao khát lòng thương xót, sao nó lại trốn tránh chúng ta, sao lòng thương xót lại không tồn tại, thật đáng buồn khi yêu nghĩa là cười vào giá trị của chúng ta, suy nghĩ của em thiêu đốt chính em, khi em chỉ nhìn chằm chằm vào ánh sáng của màn hình điện thoại, giữa những tiếng vọng của cuộc tình lãng mạn, anh có nên đi tìm em không,

như những câu thơ tinh tế, em ấp ủ mọi nỗi bất bình, âm thầm so sánh anh với những đam mê trong quá khứ, sự nồng nhiệt mà em từng biết với những người em yêu,

đôi môi anh thắp lên nỗi khao khát trong em, rượu vang đánh thức tâm hồn em, làn da em mang dấu vết của sự khinh miệt, dành cho những ai khao khát tình yêu nhưng lại phơi bày những ham muốn của mình,

người đàn ông chân thành để cho mỗi nụ hôn thuộc về nàng thơ của mình, trong khi ánh mắt khao khát gợi lên tình yêu chỉ nảy sinh từ sự ghen tuông, trong khoảnh khắc thoáng qua khi một người sắp chết đuối bám vào một tảng đá, họ cảm thấy mình bất khả chiến bại,

nếu một người giữ chặt lòng kiêu hãnh của mình, chắc chắn cảm xúc của họ gần như bất khả chiến bại, nhưng ánh mắt, kiệt tác của sự ghen tị, làm em không còn dám nghi ngờ gì nữa,


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

THE THICK WOOLEN JUMPER | Lê Vĩnh Tài [476]

Nguyễn Thị Phương Trâm

Truyện ngắn Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

Published on LatinosUSA —Edición en español

“Are you cold?” his voice was both worried and unsure. “Definitely not,” she replied. “I’m wearing a very thick woolen jumper.” “It’s a bit tight”, he added.

“No, it’s alright”, she corrected him.

Life is absolutely beautiful to him. He had an adorable beautiful young wife, and she continues to turn his life upside down even when he is preoccupied with other people, with her thick woolen jumper even when it’s not cold.

She asked him about his plans for the night, then added: “Listen, young man, if you’re inviting your friends over, I will have to wear my thickest woolen jumper.”

He understood her reservation, and he knew he didn’t have to justify anything when their guests eventually turned up. They understand her condition, only she is oblivious to it. Everyone around her kept her condition to themself the way he would secretly shave in the bathroom.

Years back, the same jumper drove him crazy. A young woman lying across the bed, wearing a jumper with a turtle neck so beautiful he couldn’t imagine her in anything else. The woolen jumper through her warmth spoke to him, even when her hands were cold. The two of them were woven together like a woolen jumper, with the softness and warmth from her front door, during the cold autumn evenings they had dated.

.

“Who will come tonight hun?” She asked him again, her voice sounded breathless as though the rolls and rolls of yarn wrapped thickly around her feverish body were choking her.

“They’re all coming.” He replied as he fiddled with the flowers in a porcelain vase on a side table next to her hospital bed. Quietly he stared at the white wall. The wires over her hospital bed were haphazardly weaved into each other, no different to the yarn in her jumper he thought… His voice was husky: “Your parents, your little sister, your closest friends…”

She was quiet for a moment before she said, “Can you help me change all that? It feels wrong somehow, you know that. I’m in my last stage, I don’t like a lot of people, it’s too noisy.”

He understood, he knew she didn’t want to look at their awkward smiles. “It won’t be like that”, he said as he pushed the oxygen tank closer to the bed and then he proceeded to draw a thick blanket over a portrait he drew stretched out rather thinly in a frame. He was worried her jumper was not enough to keep her warm. He cried: “It’s very cold outside, but I know you will be nice and warm.”

CHIẾC ÁO LEN DÀY…

“Em có lạnh không?” Anh hỏi, giọng hơi lo lắng và nghi ngờ. “Tất nhiên là không,” nàng trả lời. “Em đang mặc chiếc áo len rất dày.” “Nó hơi chật”, anh nói.

“Nó thoải mái”, nàng chỉnh anh.

Anh thấy cuộc sống thật thật dễ thương. Anh đã có một cô vợ trẻ đáng yêu, và nàng liên tục xáo trộn đời anh cả khi anh đang có khách, với chiếc áo len dày ngay khi trời không lạnh.

Nàng đã hỏi anh về chương trình đêm nay, sau đó nàng nói: “Nghe này, anh bạn trẻ, nếu bạn mời bạn bè của bạn để làm một cuộc gặp gỡ, mọi người sẽ phải gặp tôi trong một chiếc áo len rất dày.”

Anh nhận ra lời cảnh báo của nàng, và anh biết mình sẽ không phải đính chính khi khách của nàng và anh đến. Họ biết tình trạng sức khoẻ của nàng, chỉ có nàng là không biết. Mọi người giấu nàng như anh vẫn lén cạo râu trong phòng tắm.

Nhiều năm trước, chiếc áo len này đã làm anh điên đảo. Người con gái nằm nghiêng trên giường, với chiếc áo len với cổ áo đan tuyệt đẹp mà anh không thể tưởng tượng nàng trong bất kỳ chiếc áo nào khác. Chiếc áo len đã nói chuyện với anh bằng hơi ấm của nàng, cả khi bàn tay nàng rất lạnh. Họ đã đan vào với nhau như chiếc áo len, với sự mềm mại và hơi ấm trước cửa nhà nàng, vào mỗi đêm mùa thu ngày hai người còn hẹn hò và lạnh.

.

“Ai sẽ đến với em đêm nay, anh yêu?” Nàng hỏi lại anh một lần nữa, giọng nàng như bị bóp nghẹt bởi những đường cong của chiếc áo len dày cộp bao quanh cơ thể bị sốt của nàng.

“Tất cả mọi người.” Anh trả lời và sửa lại những bông hoa trong bình sứ bên cạnh giường nàng trong bệnh viện. Anh lặng người ngắm bức tường trắng. Dây nhợ ngơ ngác đan xen vào nhau, anh thấy chúng cũng giống như chiếc áo len… Anh khàn giọng: “Bố mẹ bạn, em gái của bạn, những người bạn tốt nhất của bạn…”

Nàng im lặng một lúc, “Anh có thể giúp em thay đổi chương trình không? Em cảm thấy đó không phải là cách tốt nhất, anh biết mà. Bệnh của em đã vào đoạn cuối, nó không phù hợp với sự đông người hay ồn ào.”

Anh biết nàng không đủ sức nhìn những nụ cười gượng gạo của mọi người. “Không phải như vậy đâu”, anh trả lời nàng và đẩy máy thở ô-xy lại gần giường nàng hơn. Anh ngồi xuống bên cạnh giường nàng và vẽ một tấm chăn dày lên trên một khung tranh đã căng khá mỏng manh của anh. Anh sợ chiếc áo len của nàng không đủ ấm. Anh khóc: “Trời rất lạnh, nhưng tôi nghĩ rằng tối nay bạn sẽ rất ấm áp.”


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The madman at the bottom of the slope on Tam Đảo | Mai Thảo

Mai Thảo by Đinh Trường Chinh

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

[a body of work in progress – unedited]

Người điên dưới chân sườn Tam Đảo

Thế là, giữa một buổi sáng Sài Gòn rực rỡ, tin dữ mà gia đình tôi chờ đợi thấp thỏm suốt mười năm ở bên này vĩ tuyến, đã từ bên kia vĩ tuyến mười bảy bay sang. Bà ngoại tôi, người cuối cùng của dòng họ Nguyễn còn ở lại miền Bắc đã tạ thế.

Hung tin thu gom trong mấy dòng bưu thiếp lời lẽ mơ hồ, ngày giờ và chi tiết cái chết nghìn trùng cách trở không được nói đến tường tận, nhưng tôi, tôi biết bà ngoại đã nằm xuống ở đâu, cặp mắt nhân hậu một đời nhỏ lệ xót thương kẻ khác ấy đã khép lại dưới vòm trời nào, thước đất nào đã được bà lựa chọn gửi nắm xương tàn của một tuổi già cô độc.

Thửa ruộng nhỏ nằm dưới chân một sườn đồi trọc. Đất đỏ rờ rỡ màu máu. Thửa ruộng có một thân cây lớn nghiêng bóng, kế liền với một con đường sỏi đá và cỏ bồng hoang vu, trên đầu là những đám mây trung du và đám mây của một vòm trời trung du trắng xốp như bông nõn ấy nổi chìm ở bên này và bên kia một vùng rậm rì xanh đặc là hai sườn Tam Đảo.

Từ đỉnh núi, đổ xuống một ngọn thác trắng phau nhìn xa như một sợi chỉ bạc. Từ cuối con đường hoang, vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc về chiều. Từ những xóm xa lọt vọng vào thị xã tiếng chầy giã gạo ba trăng. Tự miền cao phả về cái hơi thở âm u của núi rừng Việt Bắc. Tự miền dưới thổi lên cái hương thơm đầm ấm của lúa mạ đồng bằng. Người ta khiêng quan tài bà từ căn nhà rêu phong cổ cũ đi ra, cách hàng nghìn cây số tôi cũng hình dung thấy rõ ràng như vậy, đám táng kéo dài trên con đường lả lay cỏ bồng, chiếc quan tài in lên nền trời Tam Đảo, và nó được hạ huyệt trong thửa ruộng đó, không thể trên một thức đất nghĩa địa nào khác. Bởi vì bà tôi, nếu đã ở lại, nếu đã chối từ vượt tuyến cũng chỉ để được nằm xuống bên cạnh đứa con xấu số của bà là bác Cả Đoàn. Bác Cả được chôn ở thửa ruộng ấy, mấy giờ sau khi bác chết, cái thân thể trần truồng lỗ chỗ vừa đúng 17 vết đạn liên thanh.

*

Câu chuyện xảy ra cách đây đã mười lăm năm. Nhưng thảm kịch của người bác điên loạn, còn xảy ra lâu hơn nữa về trước, từ khi tôi còn nhỏ dại. Tôi kể lại dưới đây. Vì cái chết của người bác điên rồ là một trong những hiện tượng lạ lùng không bao giờ tôi giải thích được.

Mãi mãi tôi còn nhớ tới những chuyến về thăm quê ngoại đó, chuyến xe hàng cũ kỹ nổ máy từ tối đất nơi chân sóng rì rào của một xóm đạo vùng biển ỳ ạch chuyển mình trên những con đường liên tỉnh trải đá xanh hun hút. Những dốc đò rồi những bến phà. Dưới vành trời hắt hiu của mùa đông miền Bắc, chiếc xe cũ kiên nhẫn nuốt dần từng cây số trắng, thả lùi những xóm làng chài lưới về sau, tiến dần vào một vùng rừng núi cằn cỗi. Ngọn Tam Đảo hiện ra trong sương chiều, đỉnh núi chìm nhòe trong lớp mây xám loãng như một chiếc khăn choàng đánh đai lấy nó. Rồi là niềm vui náo nức tràn trề trong gió rừng đổ xuống khi chiếc xe trườn vào thị xã Vĩnh Yên le lói ánh đèn. Chiếc xe kéo thả mẹ con tôi xuống một căn nhà cuối tỉnh lỵ.

Cha tôi đánh điện tín từ hôm trước. Và bà tôi ngồi đó, trước thềm cửa, chờ đón chúng tôi. Bà chít khăn mỏ quạ, mặc áo bông ngắn. Mỗi năm bà mỗi già, nhưng ánh vui mừng cảm động của đôi mắt vẫn ngời lên, lấp lánh, khi tôi tự xe nhảy cẫng xuống, và mặc mẹ tôi quát mắng không được lôi bà như thế, tôi kéo bà sềnh sệch vào nhà. Bữa cơm, tôi ngồi chồm chỗm trên lòng bà, vòi quấy đủ thứ. Bà nấu chè và làm mứt dừa ngon vô cùng. Chè bà cốt, màu mật đặc quánh, mùi gừng thơm cay phảng phất trong mùi hương gạo nếp bùi ngậy. Dừa mật Vĩnh Yên nổi tiếng miền Bắc, bà nấu thành một thứ mứt dẻo quyện, trong suốt, đỏ thắm, đựng đầy trong một vò thủy tinh lớn. Những ngày về thăm bà ngoại, dạ dày tôi căng phình, đuôi mép lúc nào cũng nhuếch nhoáng màu đường màu mật. Vui thú không bút nào tả xiết. Thức dậy sau một đêm ngủ vùi vì chuyến đi mệt nhọc, buổi sáng tôi chạy ra đầu nhà, và cặp mắt của đứa nhỏ chỉ quen nhìn bãi cát và sóng biển trong tôi đã ngó nhìn đến độ bàng hoàng ngây ngất ngọn Tam Đảo hiện hình chất ngất trong buổi sáng trung du yên tĩnh, ngọn núi đứng đó, sừng sững trước mắt như một hình ảnh thần linh hoang đường, với cả một thế giới kỳ lạ, bí mật của nó ẩn kín ở sườn núi bên kia.

*

Chính là một trong những chuyến về Vĩnh Yên thăm ông bà ngoại mà tôi biết đến sự hiện hữu của bác Cả Đoàn. Lần thứ nhất ngó thấy bác, tôi đứng đờ người, mặt tái nhợt vì khiếp hãi. Đang nhảy nhót chung quanh cái bể non bộ ở khoảng sân sau, tiếng gõ loong coong làm nhịp cho một giọng hát ê a lạ tai ở căn buồng sát hông nhà bếp làm tôi ngừng nhảy, tò mò tiến lại.

Qua khung cửa khép hờ, tôi nhìn thấy một người đàn ông. Râu ria và đầu tóc người ấy xồm xoàm như một con thú. Người ấy khoác một tấm bao bố trên vai, đóng khố ngồi khoanh chân trên nền đất nhớp nhúa của căn buồng không có đồ đạc gì ngoài một tấm phản mộc. Hai chân người ấy bị xích chặt. Cái xích quấn nhiều vòng chung quanh mắt cá, đầu xích cột chặt vào một cái cọc gỗ chôn nghiêng.

Cảnh tượng người đàn ông gần như lõa thể bị cùm xích đột ngột hiện ra làm tôi rợn người, nín thở, trái tim đậm thình thình trong lồng ngực. Người đàn ông chưa nhìn thấy tôi. Hắn vẫn ngồi nguyên trong dáng điệu cũ, mắt nhắm nghiền, hai tay cầm hai mảnh que nhỏ loong coong lên đít một cái ống bơ sữa bò lật úp, miệng ê a như một thầy bùa đang tụng niệm.

Hắn cứ ê a và cứ nhắm nghiền mắt mà gõ loong coong không ngừng trên nắp ống bơ như thế một hồi lâu, thần trí như đắm chìm hoàn toàn vào một thế giới mơ hồ nào đó. Tôi tròn xoe mắt, nhìn ngắm không chớp. Tôi không biết người đàn ông cởi trần bị xích chân và đang ê a hát nhảm ấy là ai. Tại sao hắn ở trong nhà bà ngoại tôi? Tại sao hắn bị cùm xích như thế? Ông tôi, bà tôi, mẹ tôi, không một ai nói chuyện cho tôi về hắn, về sự hiện hữu của hắn trong căn nhà này, dù chỉ một lần.

Bỗng dưng, một tiếng động làm người đàn ông bừng tỉnh. Hắn mở choàng mắt, ngừng hát ngừng gõ. Thấy tôi đứng đó, hắn trợn mắt nhìn rồi thình lình hắn chỉ thẳng chiếc que vào mặt tôi, và cười nhe hàm răng trắng ởn. Tôi chỉ kịp rú lên khiếp hãi rồi quay đầu, cắm cổ chạy bay lên nhà trên.

Tôi còn nhớ khi tôi vừa thở vừa kể chuyện cho bà tôi về người đàn ông nhìn thấy dưới căn buồng hông bếp, bà tôi và mẹ tôi đã đưa mắt nhìn nhau, cái nhìn trao đổi ấy cực kỳ buồn rầu và chua xót.

Tôi níu áo bà, hỏi dồn:

“Ai thế, bà ngoại?”

Mẹ tôi trừng mắt mắng át:

“Trẻ con biết gì mà hỏi. Cấm mày không được xuống đó nữa, nghe không?”

Thấy tôi phụng phịu sắp khóc, bà ngoại kéo tôi vào lòng, vuốt tóc. Bà nói, giọng nghẹn ngào nước mắt lưng tròng:

“Cháu nó biết gì mà mắng nó! Bác Cả Đoàn đấy cháu ạ! Mẹ bảo cháu phải nghe, cháu đừng lảng vảng xuống gần chỗ bác Cả nữa nhé!”

“Tại sao thế bà ngoại?”

Bà tôi ngập ngừng nói:

“Vì bác ấy điên”.

Mãi mấy năm về sau, khi lớn khôn hơn, tôi mới được mẹ tôi nói chuyện về bác Cả Đoàn. Bác là con trưởng và là người con trai độc nhất của ông bà tôi. Theo lời mẹ tôi thuật lại, bác thông minh và hiền từ vô cùng. Ông bà tôi cho bác ra Hà Nội học, đến khi đỗ bằng cao đẳng tiểu học, bác Cả ở luôn ngoài Hà Nội, làm thư ký cho một hãng buôn lớn, thỉnh thoảng mới về Vĩnh Yên thăm ông bà tôi, thường thường là vào cuối mùa gặt để làm giúp ông tôi sổ sách về thóc lúa thu hoạch được. Gia sản của ông tôi ước chừng vài ba chục mẫu ruộng ở các miền kế cận thị xã, những thửa ruộng nằm rải rác trong những thung lũng, những chân đồi trước mặt ngọn Tam Đảo. Đường sá miền trung du gập ghềnh núi đồi cheo leo, đó chỉ là một hệ thống thiên nhiên của những lối mòn đổ xuống thung này vắt qua lũng khác, xe cộ không thể đi tới, nên mỗi lần đi thăm ruộng ông tôi vẫn phải dùng ngựa. Ông tôi có một con ngựa hồng, khi nào không cưỡi vẫn thả rông cho ăn cỏ ở khoảng đồi thấp sau nhà.

Năm đó – năm xảy ra bất hạnh – bác Cả từ Hà Nội về giữa lúc ông tôi bị đau nặng. Thế là bác Cả sáng sáng cưỡi ngựa đi thăm ruộng thay cha. Buổi sáng hôm đó, bác cũng cưỡi ngựa phóng nước kiệu ra khỏi nhà đi thăm mấy thửa ruộng gặt dở trong thung như thường lệ.

Đến nơi, bác thả ngựa cho ăn cỏ ở một bóng cây, chạy xuống chuyện trò vui vẻ với đám thợ gặt. Sự tình cờ tai hại là thửa ruộng ấy sát liền với thửa ruộng của một điền chủ khác, người này hôm ấy cũng cưỡi ngựa đến thăm ruộng mình và cũng thả ngựa cho ăn cỏ dưới cùng một bóng cây. Một lát sau, những tiếng hí vang lên. Tiếng móng đập loạn xạ. Hai con ngựa đá nhau dữ dội. Hoặc là bác Cả không biết khi hai con ngựa đá nhau như thế là cực kỳ nguy hiểm, hoặc là bác sợ con ngựa của ông bị thương – không biết – chỉ biết bác chạy lao tới, kéo con ngựa của ông tôi ra, và liền bị nó đá hậu một đá trúng giữa khoảng bụng dưới. Bác thét lên một tiếng đau đớn rồi ngã vật xuống, ngất đi.

Khi đám thợ gặt khiêng bác về nhà, ai cũng tưởng bác bị ngựa đá chết. Rờ tim, còn đập thoi thóp, nhưng bác vẫn mê man không hồi tỉnh lại được. Bà ngoại tôi cuống cuồng, kêu thóc thảm thiết. Phương kế nào cũng không làm bác tỉnh lại. Cho đến khi một người hàng xóm mách bà tôi cho bác uống mật gấu. Chất mật gấu có một tác dụng kích thích cực kỳ mãnh liệt. Chỉ mười lăm phút sau, bác Cả cựa mình và mở mắt.

Có điều là thương con quá độ, muốn cứu con mau chóng, bà tôi đã đổ vào miệng bác quá nhiều mật gấu. Sau tai nạn, bác khỏe mạnh như người thường. Nhưng một năm sau, chất mật gấu bắt đầu phá phách cơ thể và thần trí: bác Cả Đoàn phát điên. Bà tôi đau đớn ra tận Hà Nội đón đứa con điên loại về Vĩnh Yên, nhất định không chịu để người ta đưa bác vào nhà thương Vôi, là nhà thương người điên ở miền Bắc thời bấy giờ.

Sự buồn thảm như một đám mây đen tối đổ dồn vào mái nhà êm ấm, biến nó thành địa ngục và nhà mồ. Ông tôi giết con ngựa phản chủ, suốt ngày ngồi lặng lẽ trên góc phản, khuôn mặt u uất rắn lạnh như chưa thôi đau đớn trước một thất đức tiền kiếp nào đó, bây giờ hiện thân thành trừng phạt mà người phải gánh chịu qua chứng điên loạn của người con. Bà tôi thì cả ngày vật vã khóc lóc. Nhà có người điên nên bạn bè thân thuộc cũng xa lánh dần dần. Sự thật là ông tôi đóng kín cửa không chịu tiếp ai, trong nỗi đau âm thầm có pha lẫn một niềm tủi hổ mà sống người để bụng, chết người mang theo, vĩnh viễn không bao giờ xóa bỏ được.

Căn nhà chứa lúa dưới hông bếp không dùng làm gì nữa – ông tôi đã bán rẻ hết ruộng đất sau tai họa – biến thành cái thế giới lưu đầy bé nhỏ cho bác Cả sống với những hình ảnh quái dị nhảy múa trước mắt, nơi sự tỉnh táo sáng suốt chỉ còn là những vùng thư thái thu hẹp như những giọt nắng thoi thóp cuối cùng của một vòm trời bão giông. Căn bệnh không thuyên giảm, ngày một trầm trọng thêm mãi cho đến khi mọi phương sách cứu chữa tuyệt vọng đều uổng công.

Mấy tháng đầu, cơn điên chập chờn trong một trạng thái mất trí hiền lành. Bác Cả cười khóc rồi lăn ra ngủ. Bác ngủ suốt ngày suốt đêm, đầu ghếch lên một góc tường, tay chân co quắp, như một con chó ốm. Sau, chứng bệnh nặng dần. Cái thế giới bệnh hoạn ngột ngạt nung nấu biến con vật hiền lành thiêm thiếp thành một con thú dữ tợn, mỗi lần nổi cơn là một lần đập phá gào thét khủng khiếp. Tóc bạc mọc dài ra, râu ria xồm xoàm. Rớt rãi sùi trắng hai bên mép. Con mắt trợn trừng đỏ rực màu máu. Đêm đêm tiếng gầm rú của người điên vang động khắp khu phố, như lan xa tới vách Tam Đảo và vang trở lại, gợi trong nó cái âm thanh rùng rợn của một con hổ vằn tử thương tru rống từ một đáy rừng sương.

Một buổi chiều nóng nực, bác Cả phát cơn điên đã chạy lên nhà đập phá loạn xạ. Rồi vớ được một gióng cửa gỗ lim, bác thẳng cánh quất xuống đầu ông tôi máu chảy lênh láng. Từ đó, mặc dù bà tôi phản đối, ông tôi cho xích bác lại. Người điên khỏe lạ lùng. Cái dây xích lớn thế, cái cọc đóng sâu vào nền đất như thế mà nhiều lần bác thét rồi vươn tay nhổ phăng cọc, cứ trần truồng ôm xích mà chạy túa ra đường. Bác vừa chạy vừa hò hét, cứ nhắm hướng Tam Đảo tiến vào. Phải hàng chục người trai tráng trong phố mới chế ngự được bác sau một cuộc vật lộn dữ dội.

Người độc nhất mà bác còn nể sợ là bà tôi. Đang gào thét, chửi rủa, đập phá, chỉ cần bà tôi đến ngó bác bằng cái nhìn đẫm lệ và dịu dàng nói: “Cả, làm gì thế con?” là bác im ngay, bác từ từ ngồi xuống, cái nhìn nem nép cúi gằm như một đứa nhỏ phạm tội. Tình thương đó của bà tôi là dòng ánh sáng duy nhất còn chiếu soi được vào vùng tối đặc mê mẩn, là trận mưa duy nhất còn đổ xuống và thấm lắng được vào thần trí bác như một vùng đất đai khô cằn, làm nở lên những bông hoa. Nhưng tình thương đó chỉ là một liều thuốc an thần chốc lát. Căn buồng chứa thóc ngày trước ở hông bếp là một địa ngục vĩnh viễn giam cầm bác Cả tôi trong cái thế giới cô độc của kẻ mất trí, cái thế giới rùng rợn của người điên.

*

Từ ngày biết rõ chuyện bác Cả như thế, tôi vẫn được mẹ tôi hằng năm cho về thăm bà ngoại. Tôi sợ, nên chỉ quanh quẩn trên nhà, đôi khi lảng vảng xuống khoảng sân sau cũng chỉ dám đứng ngó bác thấp thoáng trong căn buồng mờ tối từ xa. Cho đến khi cuộc chiến tranh đột ngột bùng nổ, cắt đứt đường về thăm quê ngoại. Hai năm trôi qua như thế, rồi là một tin buồn từ ngọn Tam Đảo vượt qua nghìn trùng cách trở xuống với gia đình tôi ở dưới biển: ông ngoại tôi tạ thế. Mẹ tôi khóc ngất, thương cha chết một phần, thương người mẹ già một thân một mình lủi thủi kéo lê cái tuổi già buồn thảm dưới bóng núi xa đến mười phần.

Tôi còn nhớ năm đó là một mùa đông cực kỳ buốt lạnh. Sau một đêm bàn bạc, cha tôi bằng lòng để mẹ tôi tìm đường lên Vĩnh Yên đón bà ngoại xuống ở với gia đình tôi. Mọi đường giao thông trên bộ đã bị gián đoạn hết, phải chuyển vận bằng thuyền. Vì chuyến đi nguy hiểm gian lao, tôi phải năn nỉ vòi vĩnh mãi mới được mẹ tôi cho phép đi theo. Ngày đi đêm nghỉ, chiếc thuyền nan ngược dòng, vượt nhánh sông này tới nhánh sông khác, len lỏi qua các mặt trận, tránh xa những vùng súng đạn, ròng rã đúng vào nửa tháng mới tới được cái bến đá hẻo lánh dưới chân ngọn Tam Đảo.

Bấy giờ, từ mạn cầu Đuống tràn ngược lên qua Hương Canh, Phúc Yên, cánh quân mở đường của Pháp đã tiến dần đến thị xã. Chúng tôi đặt chân vào căn nhà rêu phong cổ cũ đúng ngày bà ngoại tôi đang sửa soạn tản cư vào núi. Đứa trẻ đã lớn, đã biết nhận xét ở tôi, chuyến cuối cùng về thăm quê ngoại đó, thu vào tầm mắt nó những hình ảnh cực kỳ buồn thảm. Bà tôi đã già, già lắm. Bà vẫn đội cái khăn mỏ quạ, mặc cái áo bông ngắn như cũ, nhưng ánh lửa nhân hậu sưởi ấm những tháng ngày thơ dại của tôi đã tắt trong cặp mắt nhòe mờ, khuôn mặt tươi cười thuở nào chỉ còn là một vùng héo hon đầy những nếp nhăn, in hằn những đường rãnh nước mắt không thôi chảy ròng từ ngày đứa con trai độc nhất bị ngựa đá thành điên. Cùng với tiếng súng của một thời loạn lạc ầm ĩ dội tới từ đầu thị xã, buổi tối mùa đông dầy đặc khí núi thổi lùa từng đợt lạnh căm căm vào căn nhà le lói ánh đèn, nơi mẹ tôi và bà tôi ngồi thao thức bên đống hành lý gói buộc sẵn sàng trong đêm dài kinh hoàng, chờ buổi sáng tới để chạy ẩn vào hang núi. Những tiếng thở dài não nuột phát ra từ hai cái bóng âm thầm. Bỗng mẹ tôi hỏi:

“Còn bác Cả”.

“Mẹ cũng chưa biết tính sao đây, bà ngoại vừa khóc vừa nói. Nó điên loạn như thế cùm xích bao nhiêu năm rồi, bây giờ tháo xích đưa nó đi theo, biết nó chịu đi không? Nó nổi cơn lên thì làm thế nào chứ! Mà để nó ở lại thì thà mẹ ở lại đây cho lính Tây nó bắn chết còn hơn”.

“Hồi này bệnh tình anh con ra sao? Mẹ tôi hỏi”.

Bà tôi gạt nước mắt nhìn xuống phía nhà bếp:

“Mỗi ngày một nặng thêm. Trước nó còn chịu nghe mẹ, bây giờ mê loạn hoàn toàn rồi, bảo gì cũng không chịu nghe nữa”.

Tôi cứ nằm nghe tiếng đại bác ầm ì và tiếng nói chuyện rì rầm như thế rồi ngủ đi trên gối bà lúc nào không hay. Khi mẹ tôi lay vai đánh thức dậy, trời đã tảng sáng. Tiếng súng lớn vọng tới trong đêm giờ đã biến thành tiếng liên thanh tặc tặc réo réo từng hồi, thật gần, rõ mồn một, tưởng như đã nghe thấy tiếng giầy đinh, tiếng sì sồ của quân Pháp ở ngay đầu phố.

Mẹ tôi và bà đeo khăn gói lên vai hấp tấp đi xuống căn buồng bên hông nhà bếp. Phút quyết liệt đã tới. Bà tôi mở cánh cửa gỗ, mẹ tôi rón rén đi theo, cùng tiến vào chỗ bác Cả Đoàn nằm. Tôi nín thở, đứng nép sau lưng bà. Cái bao bố rách tơi tả phủ lên một thân hình gầy đét đến xương, bác Cả nằm nghiêng, quay mặt vào tường, sợi dây xích đen nhảy căng thẳng từ cổ chân bác tới đầu cọc. Mùi cứt đái xông lên nồng nặc khiến tôi nôn ọe bịt vội mũi lại. Cái ống bơ và hai thanh tre, thú tiêu khiển và cũng là bạn bè độc nhất suốt một đời của người điên – tôi nhìn thấy ở nguyên chỗ cũ, dưới chân bác. Bác nằm, nhưng không ngủ. Tiếng nôn ọe của tôi làm bác bất thần quay ra và ngồi vụt dậy. Tôi hoảng hốt không giữ được tiếng thét sợ hãi. Mọi người chờ đợi những tràng dài quát tháo nguyền rủa nổi lên. Nhưng không, bác lùi vội lại một bước như con thú dữ thu mình, tròn xoe mắt, nhìn bà tôi không chớp. Mẹ tôi gạt nước mắt đứng yên. Bà tôi ngồi xuống. Bằng một giọng nói hết sức dịu dàng, rành rọt từng tiếng một, bà tôi cắt nghĩa cho bác là quân Pháp đã tràn vào thị xã, chúng tôi phải bỏ nhà tản cư vào núi và xuống đây đem bác đi theo.

“Con bằng lòng đi theo mẹ không?”

Bác Cả nín thinh, rồi cái nhìn vụt chuyển thẳng từ bà tôi tới tôi khiến tôi thất thần lạnh toát người đi.

“Con giai em con đó, mẹ con nó lặn lội từ dưới bể lên thăm con đó”.

Bà ngoại quay lại tôi:

“Cháu chào bác Cả đi. Bác yêu cháu lắm. Cháu chào bác đi”.

Tôi nhợt người, ấp úng mãi mới nói được với người điên:

“Lạy bác ạ!”

Bác vẫn nín thinh trong dáng điệu thủ thế cũ. Bà tôi ngồi xích lại gần bác, nghẹn ngào:

“Con thế này, sống cũng như chết rồi, mẹ chẳng muốn đưa con ra khỏi chỗ này làm gì, nhưng Tây nó đến, mẹ bỏ con lại không đành, con nghe lời mẹ, con đừng giận dữ, con đi theo mẹ nhé!”

Bác vẫn nín thinh và nhìn ngó trừng trừng. Bà tôi ngọt ngào dỗ:

“Bây giờ mẹ cởi xích cho con”.

Miệng nói bà tôi thò tay vào chân bác. Bác Cả rút phắt chân lại. Dây xích căng thẳng, tiếng kêu loảng xoảng trong căn buồng tối nhờ nhờ. Nhưng tình thế nguy ngập không thể chùng chình được nữa.

“Mẹ cứ cởi xích cho con rồi con có giết chết mẹ, giết chết em, giết chết ngay lập tức, mẹ cũng đành, nhưng mẹ không thể bỏ con ở lại một mình được, mẹ phải cứu con, mẹ phải đưa con đi, mẹ con ta sống chết phải có nhau”.

Bà tôi vừa khóc sướt mướt, vừa mếu máo tra cái chìa vào ổ khóa. Rồi mẹ tôi và tôi cũng ôm mặt khóc theo. Tiếng khóc vang đầy căn buồng hòa lẫn với tiếng đạn liên thanh tặc tặc nổi dậy, mỗi phút một gần thêm mãi. Vòng xích cuối cùng đã tháo hết, bác Cả như một con thú dữ bị gông cùm bao nhiêu năm qua vừa được thả lỏng. Giây phút cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi cứng người, chờ bác chồm dậy, thét lớn, vung xích quật xuống.

Nhưng lạ lùng, nhưng kinh ngạc xiết bao! Bác Cả từ từ đứng dậy. Và trong một dáng điệu hết sức từ tốn, đĩnh đạc, bác tiến lại trước mẹ tôi, giơ cánh tay trần khẳng khiu đặt lên vai mẹ tôi, cử chỉ thân mật âu yếm của một người anh đối với người em gái lâu ngày mới gặp:

“Cô Hai đấy ư? Bây giờ cô chú xuống làm ăn dưới biển ư? Chú ấy vẫn mạnh đấy chứ?”

Sự kinh ngạc làm mẹ tôi mãi mãi mới trả lời được hai tiếng ngắn cộc:

“Vâng ạ”.

Mà không riêng gì người, bà tôi và tôi đều cùng sững sờ trong kinh ngạc tột điểm. Bao nhiêu năm điên loạn, thốt nhiên, trong giây phút thập tử nhất sinh này, bác Cả đã tỉnh dậy, như tỉnh dậy sau một giấc ngủ bằn bặt, như sống lại sau một cái chết dài.

“Ông mất rồi, tôi bệnh hoạn như thế này, bà già yếu không còn ai nương tựa, chỉ còn mình cô chú. Cô chú thay tôi chăm sóc bà nhé!”

Mẹ tôi giàn giụa nước mắt gật đầu.

Bác Cả quay lại, mỉm cười tiến đến trước mặt tôi, cái bao bố kéo lệt xệt trên nền đất.

“Tên cháu là gì?”

Phút đó tôi vẫn khiếp hãi, nhưng sự khiếp hãi không còn như trước nữa. Tôi nhìn cái khuôn mặt râu ria xồm xoàm, nhớp nhúa, tiều tụy nhưng đầy những nét đẹp cân đối, tôi nhìn cái thân hình giơ xương, cái mái tóc màu tro phủ xuống kín gáy, rồi tôi nuốt nước bọt, cố gắng chế ngự sự hồi hộp, dõng dạc trả lời bác:

“Thưa bác, tên cháu là Đăng”.

Bác Cả nhoẻn miệng cười, xoa đầu tôi, nhắc đi nhắc lại:

“Tốt lắm, tốt lắm, tốt lắm”.

Cuối cùng, bác quay sang bà ngoại mà nỗi mừng vui xúc động mãnh liệt vừa bật thành tiếng khóc nức nở.

“Con không điên nữa đâu. Bây giờ con không điên đâu. Mẹ đừng sợ, mẹ đừng khóc nữa”.

Qua khung cửa, trời bật sáng rõ. Cùng với ngày vừa lên, tiếng giầy đinh rầm rập, tiếng xì xồ quát tháo lạ tai của toán lính Pháp hung dữ nhất tề nổi lên ở đầu phố.

Bác Cả lắng tai nghe ngóng. Mắt bác sáng quắc. Bác nhảy vọt một bước ra sân, vơ lấy cái gióng cửa dựng ở bên thành bể non bộ, cái gậy mà trong một cơn điên ngày nào bác đã đánh ông tôi chết ngất. Theo tiếng gọi của bác chúng tôi líu ríu ra khỏi nhà, lếch thếch chạy ngược về phía chân núi. Ngọn Tam Đảo mờ mờ trong sương sớm. Ra đến đầu tỉnh chúng tôi đặt chân vào con đường dẫn lên đồi còn ướt đẫm sương. Chúng tôi vừa chạy vừa thở hổn hển, chân cẳng run bắn muốn ríu lại, muốn té quỵ, vì ở phía sau lưng những tiếng đạn, tiếng giầy, tiếng xì xồ vẫn đuổi theo rất gấp. Những đám người chạy cùng với chúng tôi khi nhìn thấy bác Cả, mình đeo khố tải, tay cầm gậy lớn, đều kêu lên thất thanh: “Người điên! Người điên!” và chạy tán loạn về phía khác. Tôi chạy tưởng chừng sắp muốn đứt hơi. Bà tôi mấy lần lảo đảo chỉ muốn ngã sấp xuống. Bác Cả đi tập hậu, cứ kéo lết bết cái bao tải như thế, vừa chạy vừa ngoái cổ lại. Trên con đường vắng tanh, lởm chởm, chỉ còn bốn bà cháu chúng tôi cuống cuồng, lếch thếch trước những tràng đạn đuổi theo veo véo trên đầu.

Bỗng tiếng bác Cả cất lên:

“Chúng nó! Chúng nó!”

Chúng tôi rú lên, cùng ngoái cổ nhìn lại. Thấp thoáng ở xa xa, đầu con đường đầu tỉnh, những đầu lưỡi lê nhấp nhổm, sáng loáng. Cùng lúc đó, bà tôi kiệt sức, ngã vật xuống. Bác Cả chạy đến, xốc bà ngoại dậy. Bà tôi vừa khóc vừa thở:

“Thôi đành là mẹ con ta chết ở đây. Mẹ không chạy nổi nữa, con ơi!”

Tôi thấy bác Cả đẩy bà ngoại cho mẹ tôi đỡ lấy, bác nghển cổ nhìn tứ phía, rồi bác chỉ tay cho mẹ tôi nhìn thấy một con đường nhỏ chạy tắt xuống thung lũng um tùm.

“Cô đưa bà và cháu chạy xuống dưới kia”.

Mẹ tôi còn ngơ ngác do dự bác đã giục hối hả:

“Mau lên. Chạy xuống ẩn dưới đó đi”.

“Còn bác?”

Bác Cả lần lượt nhìn cả ba chúng tôi bằng một cái nhìn lạ lùng, một cái nhìn chứa chan, nồng nàn, như gửi vào đó tất cả những thương yêu một đời, rồi bác mỉm cười nói:

“Tôi chạy theo sau mà. Mau lên, trời ơi, mau lên”.

Mẹ tôi quẳng vội khăn gói, một tay dìu bà, một tay dắt con, cắm đầu chạy xuống con đường nhỏ. Đạn nổ đinh tai nhức óc. Chạy tới một vùng cỏ dại cao ngang tầm người, mẹ tôi vấp kéo theo bà tôi và tôi cùng ngã xuống.

Nhìn lên, mẹ tôi kêu lên một tiếng sợ hãi. Thì ra bác Cả không chạy theo chúng tôi, mà từ con đường cao, bác chạy sang phía bên kia, bác chạy thẳng lên đỉnh đồi.

Suốt đời, tôi còn nhớ thân đến cái cảnh tượng lạ lùng, kinh dị đó. Thân hình bác Cả nổi lên nền núi xanh thấp thoáng nắng sớm, cái khổ tải lất phất như một cánh bướm, như không phải là bác đang chạy mà đang là là bay. Điều kỳ dị là bác chạy dềnh dàng, chuệnh choạng, chân nam đá chân xiêu, như người sau rượu. Điều kỳ dị nữa là bác vừa chạy như thế, vừa vung tít cái gậy trên đầu, vừa ngoái cổ lại, gật gù như vẫy như gọi bọn lính đuổi theo, miệng thì ca hát ê a, tiếng ca hát ê a tôi đã từng nghe thấy trong những cơn điên của bác.

Bà tôi và mẹ tôi cùng thét lên:

“Trời ơi! Lại nổi cơn điên rồi”.

Nhưng không phải thế đâu. Bác Cả không điên. Bác Cả chỉ đang cứu chúng tôi thoát khỏi ba cái chết thảm khốc. Sau này, càng nghĩ càng nhớ đến cái nhìn cuối cùng của bác, cái nhìn chan chứa yêu thương không nói, tôi càng tin là đúng, là chỉ có thể như thế, là lần duy nhất trong đời, điên đã tỉnh rồi, đã giả bộ múa hát điên điên dại dại, để dụ quân Pháp về một hướng khác, đánh lạc đường chúng đuổi theo chúng tôi.

Và bác đã thành công, toán lính đuổi tới chỗ bà tôi ngã, đứng khựng lại trước cảnh tượng kỳ quái đang diễn ra trước mắt chúng trên ngọn đồi trọc. Tới đỉnh đồi, bác Cả quay lại, hoa chân múa tay, miệng vẫn hò hát, như thách thức đám lính đuổi theo. Một tràng đạn xé tan không khí. Từ đám cỏ hồng, tôi thấy bác Cả lảo đảo, cái gậy trong tay bác hạ xuống, bác loạng choạng đi trở xuống, tay ôm ngực. Một tràng đạn thứ hai nổi lên. Bác Cả ngã vật xuống. Quân Pháp chụm đầu bàn tán, ý chừng còn thảng thốt trước sự xuất hiện quái đản của người khùng. Rồi chúng quay trở lại, kéo nhau về thị xã.

Chúng tôi thoát chết.

Khi bà tôi lên tới đỉnh đồi và nức nở quỳ xuống, bác Cả đã tắt thở từ lâu. Con mắt một nửa đời người vẩn đục màu máu điên loạn chỉ còn là một khối đồng tử bất động. Cái bao tải phủ ngang thân thể bác như một màn vải liệm. Chiếc gậy lớn vẫn cầm lăm lăm trong tay. Bác Cả nằm nghiêng nghiêng, nét mặt hiền hòa, cái nhìn ngước lên như hướng tới đỉnh núi Tam Đảo cao ngất bây giờ đã rực rỡ dưới nắng.

Bà tôi vuốt mắt cho bác. Buổi trưa hôm đó bà tôi xõa tóc, đi theo xác con đến tận bờ huyệt đào ngay trong thửa ruộng chân đồi, dưới bóng cây, nơi khi xưa, bác Cả Đoàn đã bị con ngựa hồng của ông tôi đá một phát vào bụng dưới thành điên.

***

Trở về căn nhà rêu phong cũ, bà tôi quét dọn lại căn buồng chứa lúa ngang hông nhà bếp, dọn giường chiếu xuống đó, sống những ngày già yếu cuối cùng của đời bà ngay trên thước đất nơi bác Cả bị xiềng xích ngày trước. Chỉ còn một thân một mình nhưng bà tôi nhất định ở lại nơi này, trong căn buồng của người con điên, và bỏ luôn ý định xuống miền biển, sống với gia đình chúng tôi, mẹ tôi năn nỉ thế nào, khóc xin đến mấy cũng không lay chuyển được. Ngày sắp di cư vào Nam, cả thầy mẹ tôi cùng lên Vĩnh Yên, đón bà cùng đi. Nhưng bà tôi không chịu. Và bà đã ở lại. Bà bảo mẹ tôi:

“Mẹ già rồi, không đi đâu nữa. Mẹ ở lại chờ chết trong căn buồng này là nơi thằng Cả nó đã sống, đêm đêm mẹ vẫn mơ thấy nó hiện hồn về”.

Trên cái bàn thờ nhỏ của bác Cả Đoàn được thiết lập ở một góc buồng, bà tôi dựng cái gậy bác Cả còn cầm ở trong tay cho đến lúc chết. Và trên bàn thờ, dưới ánh khói hương, là cái ống bơ sắt cũ và đôi gậy tre là những dấu tích cuối cùng của một cuộc đời điên loạn.

*

Bây giờ bà tôi đã chết. Tấm bưu thiếp ngắn ngủi từ bên kia vĩ tuyến không nói rõ bà tôi nằm xuống ở đâu, trút hơi thở cuối cùng trên thước đất nào. Nhưng tôi, tôi nhìn thấy rõ ràng cái chết nghìn trùng cách trở ấy. Người bà ngoại nhân hậu vì quá thương con, cho con uống quá nhiều mật gấu đến nỗi thành điên, đã khép mắt trong căn buồng ấy, nơi mãi mãi phảng phất tiếng ê a lạ tai và tiếng đũa gõ loong coong đêm ngày trên nắp cái ống bơ lật úp của người điên đã chết cho những người thân yêu được sống. Phải, bà ngoại tôi chỉ có thể chết trong căn buồng ấy. Không thể chỗ khác. Và người ta cũng chỉ có thể chôn cất bà ở chỗ ấy, cho người mẹ già được ngủ giấc ngủ nghìn đời với người con điên trong thửa ruộng dưới chân đồi nhìn lên một sườn Tam Đảo. Không thể ở chỗ khác.

Có một điều là: sau bao nhiêu năm, tôi vẫn ngạc nhiên và vẫn tự hỏi về cái hiện tượng lạ lùng là sự thức tỉnh sáng suốt cuối cùng và đột ngột của bác Cả Đoàn. Tiếng súng đạn đinh tai nhức óc đã làm bác chợt tỉnh cơn điên loạn triền miên? Hay là vì những giọt nước mắt hãi hùng của chúng tôi trong buổi sáng thập tử nhất sinh đó? Hay vì tôi, vì cái khuôn mặt thơ dại của đứa cháu vô tội? Không biết. Có thể là vì những nguyên nhân huyền bí, siêu hình nào đó đã cấu tạo thành linh hồn và sự thật dị thường không khám phá nổi, niềm bí mật nghìn đời ẩn giấu của thế giới người điên.

Chỉ biết rằng, buổi sáng hôm đó, trước cái chết đến gần, bác Cả Đoàn đã tỉnh dậy. Và nhờ sự sáng suốt độc nhất, chốc lát, của cuộc đời điên loạn ấy mà tôi còn được sống đến ngày nay.

Just like that, one bright morning in Saigon, the crazy news my family have been waiting for anxiously for ten years this side of the parallel, flown in from the other side of the 17th parallel. My maternal grandmother, the last member of the Nguyễn family left behind in the North just passed away.

Bad news condensed in a few surreal lines on a postcard, date time of an unreachable death thousands and thousands of miles away scarcely mentioned, but I, I knew where my maternal grandmother laid down her life, wise eyes and a lifetime of benevolent tears for others have closed up under which firmament, which patch of earth had she chose for the keepsake of her withered bone in old age alone.

The small acre field lies at the foot of a grassless hill. The clay soil was eerily red like blood. The shade of a huge tree in the field right by a path of pebble and reeds in their natural habitat, above them were cumulus clouds, a firmament of white fluffy cotton balls, clouds with flat bottoms that looked like cauliflowers floating on this side and on the other side was a dense green thicket were the two slopes of Tam Đảo.

The white water poured from the top of the mountain and from far away the water fall looked like a silver cotton thread. Rising was the echo of a horse galloping from the end of an over grown path in the afternoon light. Escaped from distant villages the odd sound of rice being pounded in a mortar and pestle three moons after the harvest. Returned from the Northern highlands of the Vietnam the sombre dark air of the trees and mountain. Carried in the wind from the low plains was the warm smell of paddy seedlings. They carried her coffin out from an old moss covered house, a thousand miles away and I can still see it clearly, the funeral procession stretched out along on a path through sea of grass swaying in the wind, the coffin was an imprint across the horizon of Tam Đảo, and it was lowered in to the ground in the middle of that acreage of land, and not just any soil or cemetery. Because my grandmother, stayed, refused to cross the demilitarized zone so she could be buried next to her unfortunate son, my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. My uncle Cả was buried in that acreage of land, a few hours after he died, his body riddled holes exactly 17 bullets form an automatic rifle.

*

It happened fifteen years ago. The tragedy of my crazy uncle, it began long before that, when I was still knew nothing and small. Me retelling the story. Because my uncle’s crazy death was a mystery I could never explained.

I will never forget the trips to mother's family home, the rickety old truck noisy exhaust rattling from the dark rippling water edges of the small church village by the sea lazily moving along the roads through the province lined with infinite blue gravel. Climbing hills after hills before the ferry dock. In the bleak light of the Northern winter, the ancient vehical patiently swallowing one white mile at a time, leaving the withdrawing fishing villages behind, heading deeper and deeper into the ruggedness of the mountain and jungle. Tam Đảo mountain appearing slowly through the afternoon mist, the tip of the mountain a blurr sinking into a layer of grey clouds thinned out like a chiffon sash wrapped around it. Then again joy and excitement of the jungle overwhelming in the wind came falling down as the truck slips down towards the flickering lights in the streets of Vĩnh Yên. The toll truck drop my mother and I at a house at the far end of the provincial capital.

The day before my father sent a telegram. And my grandmother sat there on the steps of the front door, waiting for us. She wore a headscarf, short quilted jacket. Older by the year, but all the joy lit up in her eyes, the sparkle, when I jump out of the truck, and my mother’s worried face to not to drag my grandmother like that into the house. During our meal, I was on my grandmother’s lap, demanding all kinds of stuff. My grandmother made the best chè and mứt dừa. My grandmother’s chè was thick and rich the colour of honey, the ginger fragrant with the slightest hint of heat through the nutty scent of sticky rice. Honey coconut from Vĩnh Yên famous in North, my grandmother would turn it into soft chewy, translucent, deep red, fruit candy with a bite kept in a large glass jar. The days I spent with my grandmother my stomach was always stuffed. My lips, the corner of my mouth was always sticky with honey and coloured candy. The kind of happiness that could never be completely noted by a pen on paper. Waking up after a long sleep after an exhausting long journey, running to the front of the house first thing in the morning, sand and waves in the bewildering eyes of a child full of wonder inside me staring at the overwhelming peak of mount Tam Đảo in the midland morning, the mountain stood there imposing, loomed before us like some mythical, divine manifestation, with an entire strange, secret world hidden on the other side of the mountain.

*

It was actually on one of those trips to Vĩnh Yên to see my ông bà ngoại that I became aware of my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. The first time I saw him, I stood there stunned, the blood drained from my face, I was terrified. Dancing around a rock pool in the backyard, a clanging noise setting up the tempo for


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The Date | Tống Phước Bảo

A Short story in Vietnamese by Tống Phước Bảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

1.

Quyên met him at Metro 9, the light rail connecting Suối Tiên and Quảng Trường. He looked smart in a three piece black suit and charcoal purple tie. Hair neatly combed, divided three quarter to the side. A generous forehead crowning prominent cheekbones. Quyên’s heart skipped a beat. It took a couple of minutes before she had managed to regain her composure.

The carriage doors opened, rows and rows of people rushed in, filling up any space that was left to be filled. 7h30 in the morning May 2. A busy start to the week. Office workers from the surround areas coming into town after a long break, after the country had shut down for the national holiday. In the tight carriage Quyên’s eyes searched for him, but she couldn’t find him. Perhaps because people, they all looked the same. Perhaps it was because Quyên was not fully awake. Last night’s dream was still spinning around in her head.

2.

Passing the exam Thuần was accepted into a big company, after being unemployed for five months. Happy news rang over the phone.

Quyên bought Thuần a smart suit, fitting of his form, a few plain coloured ties. Thuần liked to keep it simple, no long or short stripes. Thuần was simple from the inside out. Like it or not he would come straight out with it, tell the person to their face.

A couple of times Quyên tried to tell Thuần to be a little more kinder with his words. In theses current time no one cares if you’re good or bad, what makes all the difference were the kind words. Because Thuần was like that, after two years working his butt off he was still at the bottom of the food chain, his friends graduating from the same class were now in better roles, they were either in managerial roles or trainers.

Thuần do not agree, or disagree. But he would always speak up. Everything was black and white, there was no other colours in between, to muddle the boundaries. Thuần is a person who will fight, will speak up until the job was done, taking full responsibility for his actions.

Quyên asked Thuần, have you ever thought about me, our future together? With our current situation you can not be Lục Vân Tiên.

Thuần resting his head on Quyên’s shoulder. One afternoon in Thủ Thiêm when the waves endlessly came and went. From district two looking over the city centre, proud tall building puncturing the sky, the streets glowing slowly with red and green lights. The urgently shifting. This land right here, from the ground up, business centres, majestic residential buildings, they will pop up. Quyên, all changes has a cost. If Thuần stay quiet, I will be like the other people with their heads down because of money position fame and opportunity. A city like this needs people who can break things down for any development to succeed.

Someone else will speak up if Thuần do not. There are plenty of things wrong with this world. As long as we watch what we’re doing and stay firm there’s nothing we have to fear. Time will tell. There are times Thuần finds it impossible to go on, his faith is renewed by simply resting his head on Quyên’s shoulder. There will be time when Thuần will stumble and fall, Quyên will have to believe that, Thuần just need to rest and everything will be fine. Quyên, our faith in each other is how we survive!

3.

10 O’clock Friday, the 13th of June. The trip home on the light rail from Quảng Trường to Suối Tiên. The last train, the last day of the week there is usually less people. The carriage was mostly empty. The two of them found themselves sitting opposite each other.

The man sitting facing her was unusually pale caught Quyên’s attention. Droopy eyelids, head leaning onto the side panel of the seat . Movements to disposition were a show of exhaustion. But Quyên could still discerned his steady breathing.

For fifteen minutes Quyên watched him, the light rail came to a full stop. Hesitating a few seconds, Quyên made her mind to wake him up.

_It’s the last stop!

He opened his eyes, startled but managed a smile before thanking her. The two of them stepped out of the carriage together, crossing the empty platform. The gate standing there in silent, unmoving. He quickly fished out his red rail pass, swiping the thin screen at the end of the gate, the automatic gate opened up as usual.

_The gate sometimes does not work. My name is Jack, I’m twenty four, just back from the States, Director of Operations of the City Metro System.

_Oh, I’m Rita…

_Rita, you are beautiful, I wonder if I could have your birthday?

A faint smile appeared on Quyên’s lips as she proceeded to clearly give him her date of birth. Their conversation continued across another long walkway, down two sets of stairs, then out into the main road. Quyên turned left, he turned right.

4.

The news of Thuần’s accident came late one seasonal rainy night in December. The city stood still bearing the downpour from the East sea. Quyên was on the phone to all the taxi companies, the operator told her to wait.

More than four hours before that, all the offices had allowed their staff to leave early, Thuần did call to say, after the meeting he will head home. The meeting was rather stressful, it had taken Thuần more than a week to prepare for it. Cancelling their wedding fitting appointment. Including the reservation of the restaurant venue Thuần had left it for Quyên. Every night Thuần would be in bed at two in the morning. Quyên would ask how every were going, Thuần would reply with how much he was so sick off with a long sigh.

The rain draped across the sky covering every up. No taxi. Quyên did not sleep. 12 am, the picture frame of Quyên and Thuần the day he took her to the opening of the Metro 9 light rail, suddenly fell, the glass shattered across the floor. Quyên grabbed her phone and pressed the number the doctor used to contact her. There were only the chilling sound of buzzing coming from the other end of the line.

5.

In the news there was a serious case of fraud, the exaggerated cost of a metro project from twenty years ago. To the extent of staging an accident to cover up the incident. All nine stations of the metro line connecting the surrounding suburbs to the city center were overcharged by billions of dong. The entire board of directors were arrested. People from accounts to floor supervisors, they were all under investigation. The incident for a whole week was a topic of interest through all the carriages down the metro line. And for almost a week, Quyên did not see the guy with the charcoal purple tie.

The case was turned over one late night when the young director was held up in his office. An old filing cabinet in the storeroom next to his office toppled. A big commotion. He and a couple of security guards rushed over to check out what had happened and to see if they can help clean up. In a stack of documents, fell out from a purple ring binder was a CD, on the cover was a photograph of a smiling couple taken in front of Metro 9 station.

He took the folder back to his office. His curiosity was piqued because the woman in the photograph was someone he saw now and then on the metro. And the new the guy next to her, leaned into her like two drops of water.

The disc had a collection of photographs of the pair, from the time they were at university together on their bikes, to their lovely home, then …a photograph compressed in a compressed file marked as Jorker virus. Jorker wore a black suit with a charcoal purple tie.

Then he remembered the evening on the late trip home on the metro, he entered the six digit number he remembered through the whole conversation on the platform of Metro 9 after he was woke up by the young woman.

The last file that had opened up stunned him. Crucial data from more than twenty years ago. The data was immediately handed to the police.

7.

The young director caught the light rail from Long Thành International Airport to Suối Tiên on one late night at the end of the week. The business trip devoted to the incident that had taken place twenty years ago had left him exhausted. It was the last stop. Metro 9. Exactly ten at night December 14th 2046. Enough time for him to make it to his twenty fourth birthday.

Even footsteps on the deserted platform. Approaching the exit, he found Rita having trouble with the automatic gate. Pulled out his red rail pass. The conversation continued the length of the deserted walkway.

_Thank you to you and your partner, I have always believed that we are meant to meet each other. There is always a higher reason. There are things in the world we can’t explain, and time will tell. All the questions will be answered. You can now let it go.

Quyên was silent. Their shadows casting long shadows against the stark yellow illumination of the station light. Down two flights of stairs. The young man nodded his goodbye before turning right.

_I like people to call me Quyên more than Rita.

_Quyên!

_Thuần…

Through the gust of wind the young man could discern the overwhelming emotion in her voice. The young woman waved, before she quietly turned left. Her figure disappeared slowly in the yellow evening light, faintly blurred by a dusting of a silvery mist after the rain at the end of the season. There was a chill in the wind, the young man pulled the sides of his jacket closer together, with easy measured steps continued on his way.

8.

Quyên ran, she continued to run down a street caught in a curtain of early morning mist. The undefined yellow light shifting in each corner each turn in the street. The tears burred her vision. At the intersection, Quyên did not stop, she ran and she ran until she was as light as the air around her like the clouds across a blue sky after a deadly storm.

There was the piercing screeching sound of brakes. Lots of commotion. Dear god, out of nowhere first thing in the morning in front of someone’s car. No.

The time on Quyên’s wrist watch stopped at 4h30am December 12, 2022. Quyên is forever twenty four. Waiting for the date with Thuần.

Truyện Ngắn

Cuộc Gặp

1.

Quyên gặp anh chàng tại ga số 9, của chuyến tàu điện nối từ Suối Tiên về Quảng Trường Thành Phố. Anh chàng lịch lãm trong bộ vest đen cùng chiếc cra-vat màu tím tím than. Mái tóc chải gọn, chia mớ bảy ba. Vầng trán rộng cùng đôi gò má nhô cao. Bất giác tim Quyên nhói lên. Loạng choạng vài giây mới lấy lại bình tĩnh. 

Cửa tàu điện mở ra, dòng người vội vã lao nhanh vào, lắp đầy các khoảng trống còn sót lại. 7h30 sáng ngày 2 tháng 5. Một ngày đầu tuần hối hả. Những con người công sở đang rời ngoại ô trở lại trung tâm làm việc sau kì nghỉ lễ dài. Trong khoang tàu chật chội, Quyên cố nhoài người tìm anh chàng ấy, nhưng chẳng thấy. Có thể chỉ là người giống người. Cũng có khi là Quyên chưa tỉnh ngủ. Cơn mộng mị đêm qua còn quấn quít tâm trí. 

2.

Thuần đậu đợt thi tuyển vào công ty lớn, sau năm tháng thất nghiệp. Một niềm vui réo rắt qua điện thoại. 

Quyên sắm cho Thuần một bộ đồ vest thật đẹp, ôm vừa vóc dáng anh, vài chiếc cra-vat trơn màu. Tính Thuần không thích hoa lá hay sọc ngang sọc dọc. Thuần giản đơn, thẳng tuột khúc ruột. Thích hay không chẳng để trong lòng, sẵn sàng nói thẳng vào mặt người đối diện. 

Đôi lần Quyên cũng khuyên Thuần nên khéo léo trong ăn nói. Xã hội bây giờ giỏi dở cũng chẳng thể sánh bằng một người khéo léo. Thuần như thế, nên hai năm lăn lóc ở vị trí nhân viên quèn, chứ mấy người bạn cùng khóa nay đã trưởng phòng hay chuyên viên hết rồi. 

Thuần chẳng phản bác, cũng chẳng đồng thuận. Nhưng Thuần vẫn cứ bộc trực. Trắng đen rõ ràng, không pha lẫn thứ màu tạp nham vào được. Thuần thuộc tuýp người sẽ đấu tranh, sẽ phản kháng mạnh mẽ nhất để đi đến cùng sự việc, dẫu biết chắc cái kết cuộc mà mình nhận lấy. 

Quyên hỏi Thuần, có lần nào Thuần suy nghĩ cho Quyên, cho tương lai của hai đứa? Thời này chẳng thể làm Lục Vân Tiên. 

Thuần tựa đầu lên vai Quyên. Một chiều Thủ Thiêm sóng nước mênh mông. Từ phía quận hai nhìn về khu trung tâm thành phố, những tòa nhà trọc trời đang lừng lững hiên ngang, phố xá bắt đầu lên đèn xanh đỏ. Đất rục rịch chuyển mình hối hả. Ngay trên mảnh đất này, rồi đây sẽ mọc lên những khu thương mại, những chung cư cao tầng uy nghi. Cái đổi mới nào cũng có giá của nó mà Quyên. Nếu Thuần im lặng, thì Thuần cũng giống như bao người khác cắm cúi vì chút tiền tài danh lợi. Thành phố này, cũng cần có những con người bứt phá, để cái phát triển nó được vẹn tròn. 

Thuần không nói, thì vẫn sẽ có người nói. Chuyện sai trái trong cuộc đời này nhiều lắm. Chỉ cần mình cương trực thì không hề lo sợ điều gì. Thời gian sẽ trả lời tất cả. Sẽ có lúc Thuần mệt mỏi, Thuần tựa vào Quyên mà lấy lại niềm tin. Sẽ có lúc Thuần gục ngã, thì Quyên phải tin rằng, chỉ là Thuần đang nghĩ ngơi, rồi quay trở lại giải quyết mọi chuyện. Con người ta, vẫn cứ phải luôn tin nhau mà sống Quyên à!

3. 

10 giờ tối thứ sáu, ngày 13 tháng 6. Trên chuyến tàu từ Quảng trường về lại Suối Tiên. Chuyến tàu cuối, của ngày cuối tuần thường rất vắng khách. Khoang tàu trống trải. Vô tình mà cả hai ngồi đối diện nhau. 

Gương mặt xanh xao và có phần trắng bệch của anh chàng khiến Quyên chăm chú nhìn. Đôi mắt nhắm hờ, tựa đầu vào thành tàu. Dáng điệu mỏi mệt. Quyên nghe có tiếng thở đều. 

Mười lăm phút sau, tàu dừng trạm. Lừng khừng vài giây, Quyên chủ động đến đánh thức anh chàng. 

_ Ga cuối rồi!

Anh chàng mở mắt, sững người phút chốc rồi khẽ mỉm cười cám ơn. Cả hai xuống trạm, băng qua dãy hành lang đường nội nội bộ vắng ngắt. Trục quay nơi cổng ra vẫn đứng im, không nhúc nhích cần đẩy. Anh chàng vội vàng dùng một chiếc thẻ từ màu đỏ, quét lên bề mặt của một màn hình mỏng nơi đầu trục quay, cần đẩy hoạt động bình thường.

_ Cần đẩy gặp trục trặc. Tôi tên Jack, hai bốn tuổi, vừa từ Mỹ về, giám đốc vận hành của hệ thống tàu điện thành phố. 

_Ờ, tôi tên Rita…

_ Chị Rita đẹp quá, mạn phép hỏi thử birthday của chị?

Quyên khẽ mỉm cười, trả lời rõ ràng ngày tháng năm sinh cho anh chàng nghe. Câu chuyện kéo dài qua thêm một hành lang dài, xuống hai đoạn thang nữa, rồi ra đường cái lớn. Quyên rẽ trái, anh chàng rẽ phải. 

4.

Người ta báo tin Thuần bị tai nạn giữa một đêm mưa giông tháng mười hai. Thành phố hứng chịu cơn bão vừa đổ bộ từ biển Đông. Quyên gọi các hãng taxi, tổng đài bảo đợi. 

Hơn bốn tiếng trước, mọi công sở đã cho nhân viên về sớm, Thuần có điện thoại báo, xong cuộc họp sẽ về. Cuộc họp dường như khá căng thẳng, Thuần đã chuẩn bị tài liệu hơn tuần nay. Kể cả chuyện đi thử đồ cưới cũng gác lại. Chuyện đặt nhà hàng Thuần giao hết cho Quyên. Đêm nào Thuần cũng vào giường khi đồng hồ điểm hai giờ sáng. Có lần Quyên hỏi thăm tình hình, Thuần thở dài ngao ngán. 

Mưa giăng mù trời. Taxi chẳng tới. Quyên không tài nào ngủ được. 12 giờ đêm, khung hình kỉ niệm hồi hai đứa chụp lúc Thuần dẫn Quyên đi tham quan cổng gate số 9 vừa hoàn thành của công trình tàu điện, bỗng rơi xuống đất vỡ tung. Quyên chụp lấy điện thoại, gọi vào số máy mà khi nãy bác sĩ vẫn dùng để liên lạc với Quyên. Chỉ toàn tín hiệu tút tút lạnh người. 

5.

Báo chí đăng tin vụ trọng án kê khống chi phí công trình tàu điện từ hơn hai mươi năm trước. Có cả dấu hiệu của một vụ dàn cảnh tai nạn giao thông để bịt đầu mối. Cả chín cổng gate của tuyến tàu điện nối liền khu ngoại ô vào trung tâm thành phố đều bị kê khống hàng tỷ đồng. Toàn bộ Ban giám đốc công trình đều bị bắt giữ. Cuộc điều tra đang lần sang cả kế toán và giám sát. Câu chuyện được rôm rả bàn tán suốt cả tuần lễ trên các khoang tàu. Cũng gần như cả tuần lễ, Quyên không thấy anh chàng cra-vat tím. 

Vụ án được lật lại nhờ vào một buổi tối muộn khi anh chàng giám đốc trẻ còn nán lại công ty. Chiếc tủ cũ đựng hồ sơ rệu rã bên nhà kho cách phòng anh ta bỗng ngã sụp. Tiếng động vang lớn. Anh cùng vài người bảo vệ sang xem, sẵn tiện phụ dọn dẹp. Trong sắp hồ sơ tài liệu có bìa còng màu tím rơi ra chiếc đĩa ghi, bên ngoài được dán hình một cặp đôi đang tươi cười chụp trước cổng gate số 9. 

Anh chàng đem về phòng mình và mở ra xem. Chỉ là tò mò vì cô gái trong hình rất giống người mà mình hay gặp trên chuyến tàu điện. Còn chàng trai, tựa thể mình như hai giọt nước.

Chiếc đĩa ghi lại nhiều hình ảnh của cặp đôi, từ thời sinh viên còi cọc trên chiếc xe đạp, cho đến hình ngôi nhà xinh xắn của họ, rồi hình …là hình nén trong một file ảnh có dấu virus Jorker. Chàng Jorker mặc bộ vest đen đeo cra-vat tím.

Vượt vài bức tường lửa của file ảnh, cuối cùng một mật mã 6 kí tự hiện ra. Suy đoán hồi lâu. Anh chàng chẳng thể tìm ra. Đóng chiếc lap-top lại, anh rời văn phòng ra về cho kịp chuyến tàu muộn cuối tuần. 

Nhưng rồi ngay trong đêm trở về sau chuyến tàu muộn, anh gõ thử 6 con số mà mình đã nhớ suốt cuộc nói chuyện dọc hành lang của ga số 9 sau khi được người phụ nữ đánh thức. 

File cuối cùng hiện ra làm anh sững sờ. Một dữ liệu quan trọng của hơn hai mươi năm về trước. Dữ liệu nhanh chóng được chuyển cho cảnh sát.

6.

Bão tan vào lúc 4h sáng, thành phố hỗn độn và ngổn ngang. Điện thoại lại reo vang. Quyên chỉ nghe rõ vài câu rồi nắm chặt chiếc điện thoại mà lao ngay ra đường. Cứ chạy, cứ chạy…

Nhà xác lạnh tanh, nơi hộc tủ đựng xác Thuần, người ta ghi giờ mất của anh là 12 giờ đêm ngày 14 tháng 12 năm 2022. Quyên bật khóc, gào thét giữa những vị bác sĩ pháp y ráo hoảnh và cần mẫn công việc của mình. Không ai nghe thấy cơn đau này của Quyên. Quyên khụy ngã, mắt nhắm nghiền, nụ cười Thuần an lành hiện lên trong tâm trí. 

7.

Chàng giám đốc trẻ đón chuyến tàu điện nối từ sân bay quốc tế Long Thành về lại Suối Tiên vào một đêm muộn cuối tuần. Chuyến công tác báo cáo về vụ việc cách đây hơn hai mươi năm khiến chàng rã rời. Tàu dừng ở gate cuối. Cổng ga số 9. Đúng mười giờ tối ngày 14 tháng 12 năm 2046. Còn kịp cho một đêm sinh nhật tròn hai mươi bốn tuổi.

Khua bước đều trên hành lang vắng. Nơi trục quay, anh chàng lại gặp chị Rita bị mắc kẹt. Chiếc thẻ từ đỏ được móc ra. Câu chuyện lại nối dọc những sải chân theo hành lang vắng. 

_ Cám ơn anh ấy và cũng cám ơn chị, tôi vẫn luôn tin vào duyên số dẫn dắt con người ta đến những sự gặp gỡ. Tất cả mọi cuộc gặp gỡ đều có mục đích nhất định. Có những chuyện trên đời này mình không thể lý giải, chỉ biết nên tin vào vòng quay thời gian. Mọi câu hỏi sẽ được trả lời. Giờ chị có thể thanh thản. 

Quyên không nói gì. Bóng người đổ dài theo ngọn đèn vàng hiu hắt. Xuống hai đoạn cầu thang. Chàng trai trẻ cúi đầu chào Rita rồi rẽ phải

_ Tôi vẫn thích người ta gọi mình là Quyên hơn cái tên Rita.

_ Quyên!

_ Thuần…

Chàng trai trẻ nghe âm vọng trong cơn gió vừa thổi qua là một giọng điệu nức nở. Người phụ nữ vẫy chào, rồi lặng lẽ rẽ trái. Bóng dáng khuất dần trong màn đêm vàng vọt, phảng phất hơi sương loáng bạc sau cơn mưa cuối mùa. Gió lùa se lạnh, chàng trai trẻ kéo áo kín lại, thong dong từng bước chân.

8.

Quyên cứ chạy, cứ chạy…mãi miết trên con phố sớm tinh mơ còn vương màu sương khói. Ánh đèn vàng tờ mờ giăng khắp nẻo đường. Nước mắt nhạt nhòa. Giữa ngã tư, Quyên cứ chạy, cứ chạy mãi miết cho đến khi thấy mình bồng bềnh trôi hẫng nhẹ như những vòm mây xanh sau cơn bão lớn.

Có tiếng thắng xe rít ken két điếng người. Có tiếng láo xáo. Trời ơi, đâu ra sáng sớm bang bang ngay đầu xe người ta. Thôi, xong rồi. 

Đồng hồ trên tay Quyên dừng lại ở 4 giờ 30 phút sáng ngày 14 tháng 12 năm 2022. Quyên mãi mãi hai mươi bốn. Đợi chờ một cuộc gặp với Thuần.

                                            TỐNG PHƯỚC BẢO 


Tống Phước Bảo and Nguyễn Thị Phương Trâm, Saigon, Vietnam. April 2025

Tống Phước Bảo is a young published writer living in Ho Chi Minh City, Vietnam. You can find his prolific work published periodically throughout Vietnam, from North to South.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The moon in my childhood | Mai Thảo

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

[Published on Văn Nghệ BIỂN KHƠI]
[Tôi xin tặng bản dịch này cho anh Nguyễn Hưng Quốc , with whom I have found the courage to translate Mai Thảo. Thank you anh!]

Alone, Chu heads for the road. Tonight again their date did not work out as planned. Hiền said she was tired, sorry but Chu knew she was lying. Exhaustion is a woman’s form of evasion.

Hiền’s bedroom was on the third floor, in the middle of town. The window looks down into the main road. A multi-level house, accessed by a private balcony, with an elevator that takes you up, the whole bottom floor is divided into various stores. Glass panels lit up splendidly by neon lights during the day. At night, gloomy light filters through the iron grilled roller door at exactly after six in the afternoon when the live-in security guard would pull them down to lock up. Chu turned up in the middle of the commotion as doors came down amid the silence. The security guy at the door opened it up again to look out. His tired eyes watch Chu pay the taxi driver.

“I want to see Miss Hiền”.

“Miss Hiền is never home at this hour”.

Chu steps onto the pavement, looking up he smiles before adding:

“The light is on in her room. Just let me go up and we’ll see”.

The small room occupied by the guard and his family is a small space that sinks below the level of the main road. Strewn cups and ceramic tea pot. His wife leaning against their bed head, sitting still, in a state of rest not sure if she is asleep or not. The child fast asleep on an old grass mat across the patterned tile floor. Chu turns his head to look at the sleeping child, he smiles as he enters the dark hallway. The child and the mat reminds him of the small verandah of an ancestral home divided like in nature, three leaves, three rooms and two fruits. In his childhood, Chu remembered the night he had waited for a long time on the verandah of that house, watching Hiền sleep soundly in the moonlight. Now, parts of his life have been replaced with messy complications, so many one-ways standing in his way back to the past, Chu can only remember a few scattered memories like that. The dark corridor he is now in triggers no memory. People miss little, in the middle of a city. Limited emotions are confined by barriers like walls and rooftops, dry like bougainvillea. The short walk to the elevator had barely enough room for the return of old images. They are somewhere. Out of town. In the past. But then he can come here, to this place. Chu pressed the button to open the elevator door with the single image: Hiền sleeping soundly in the moonlight. The lonely image, passes by, floating, like a deserted island in the middle of a boundless pool of yellow. Chu finds himself unexpectedly sad. He lowers his head. Inside the narrow elevator shaft like a box, whoosh it takes him up.

Hiền’s room, Chu has to walk back and forth a few times before he can find the number. Here a couple of times already, and still the identical rooms get him mixed up. The doors are painted in a milky white colour. The room number pops up in copper. Chu’s hand gravitates towards his collar, he fiddles with the top button of his shirt as he readjust his cravat.

“Hi Chu, I didn’t know it was you. Where are you heading?”

Where else? Chu thought as he stepped into the room. The full-length tall boy mirror throws Chu’s outline right back at Chu standing there looking lost looking into a room dressed as opulent as the beauty of a young woman. The full face of the city zoomed in in full focus. Gleaming highways. Traffic slithering along, slips away like snakes. Low benches covered with large flowers. The lines of Hiền’s eyebrows are defined by the infinite sharp flick of her eyeliner. Heeding Hiền’s invitation, Chu sits down on one of the chairs. Unable to compose himself all of a sudden. He needed a minute to focus on his composure. To face a woman who is supposed to be Hiền. A childhood friend who he used to watch sleep in the village moonlight. Another memory came to Chu: that night Chu woke Hiền. The moonlight cuts a cool line through the paved yard. Two kids holding each other’s hand heading for Chu’s home. Another roomy paved yard. Huddled together were husbandry laborers threshing rice. The smells in the dark were more playful than during the day. Soon dawn will bring with it the preparations for the harvest, plots of fat and ripe ears of rice, cheerful voices rising louder and louder, one song after the other, the notes of their voices flying higher and higher, to after settle, perched upon the stalks of a golden harvest. The shuffling and fluttering sound of rice threshing went on and on. Until the moment Chu had taken Hiền home, the moonlight had remained consistently brilliant. The husbandry laborers would still be at it, threshing the rice.

Still in her shorts, though Hiền had already finished her makeup before Chu showed up. Cheeks roughed, her eyes appeared deeper under darkened lashes, Chu can already see in her eyes the twinkle of an evening of festivities. It’s life here, at nightfall. The party is for a Hong Kong movie actress, a famous singer from the Philippines, just flown in from Tokyo. Rows of seats placed in a line. The festivities are full of noise and more noise with all the possible unnecessary hollow praises and formalities. The fires would burn brightly before it would dim in the dance studio. The dance floor polished, the music chirpy. A mesmerizing dizzy air. All of it crosses his mind. The moonlight grew colder and packed away in a corner of his mind. Chu walks over and places a hand on the edge of the table, he leans in and looks down. He begins to regret the idea of looking for Hiền because the moon is shining in the street. He stands there for a while. When he turns around to look at Hiền, she has not moved from where she is standing. She sounds a little embarrassed:

“Sit down, don’t you want to sit down for a bit? It’s odd, you’re standing there like that”.

“Did I disturb you Hiền?”

“No. Is there a place you want to take me”.

“No,” Chu replied.

He feels that he has nothing. He has not a single thing. The evening moon over there means nothing and it is very far away from here, this place. He walks over to the window and looks down. To see how much more meaningless it is. The moonlight in pieces over the canopy, falling, slips through the gaps of the leaves. The weak yellow light is more imagined than real in the street. In the surrounding area in all four directions, at the same height as a wilderness of windows, the lights flicker far and not so far away, giving the city its chaotic depths and heights piles and piles piled on top of each other. Chu closes the window before he turns his back to the window:

“On the way here, I was hoping we could go for a walk. But it looks like you’re busy. Maybe another time. I’m going to go”.

Hiền could not hide the joy in her voice:

“I’m actually not busy, but I was going to have a nap and you turned up”.

Chu nod:

“Okay, I’m going to go”.

The bright light of those evenings. Noisy parties. The club’s dance floor vibrating and feet weaved together breathing down one’s neck:

“How brilliant is the moon tonight Chu?”

Chu’s hand is still on the window sill, with the window doors still slightly ajar.

“Why don’t you come and open the window and see for yourself”.

After that he nodded his goodbye to Hiền and left. Hiền did not move from where she had been standing. The elevator making a racket, the elevator drops through freely to abruptly stop in front of the hallway. It is not long before Chu finds himself in the street, like how just a moment not long ago he had entered, alone.

*

Hiền stood still for a while at the same spot after Chu left. The room feels significantly bigger. Chu’s presence though only for a short period completely changed the air of her room. His eyes were strangely sad. Hiền thought quietly as she walked toward her dressing table. She sat down quietly, she studied her features for a moment. The mirror reflects the lines of bright red lips. Ever lightly Hiền puckered her lips. The slight movement wakes up the colour on her lips, the shimmer. Hiền put another layer of rouge on the apple of her cheeks, stood up, walked over to the closet. The dress she had planned to wear tonight is a deep red with large embroidered flowers. Hiền opens her handbag and takes out the business card Đoàn gave her, she studies it again. Đoàn is a new friend, rich, who has been to France, only to frequent the nightclubs and coastlines to sunbake, where year after year it would attract tourists from large cities from all around the world. Đoàn have only been back for the last six months. The business card had a few lines quickly scribbled on it:

“Hiền, at eleven I will send a car to pick you up. Don’t forget, we’ll go to the dance at Liễu Guest House maybe? Then we can do whatever”.

Whatever. It is how Đoàn entertains life, how all of Hiền’s new friends live, the people in her life right now, a thoughtless self-destructive way of life without an objective or care in the world. Whatever. Hiền had fallen, fallen profoundly into this way of life. Whatever. Meaning whatever new interest might come next, new dance floor, new party or festivity, join other sightseers, life squashed and crunched up into a ball, thrown into an air of commotion and boisterous laughter, blinding flamboyant colours.

Following Đoàn’s advice, Hiền sold her house in the suburb to rent this apartment in the middle of the city. It has already been 4 or 5 months. Her new life has pushed away old memories together with old friends. This number of friends includes Chu. Not once did Chu say or indicate that Chu had ever loved her. But Hiền can feel it, her woman’s intuition dictates it when it comes to things like this, the way Chu feels about her is no longer finite, no longer confined in the past. Nor did Hiền question it. More so was that she did not want to ask. A luxurious lifestyle of changeable temperament, affecting a woman’s general view of life and the future. Hiền is apprehensive when it comes to love, serious commitment, solemn and upright like Chu. She avoids thinking about anything that would last, anything permanent. Things that make her look ordinary. What she likes to have is a very elegant bedroom. A cupboard full of the latest imported fashion. Opulence is a life she wants to live. And the ability to pertain all of it, what she likes. This is one of the reasons amongst lots of other reasons that had led Hiền toward her decision to distance herself from Chu even though her heart remains not far off. People like Chu can disappear for years, live a thousand miles away, and they might be on another path, but is impossible to cast aside. A frequent conflicting state of mind: compared to Hiền’s new friends, Chu lacks in many aspects but then again Chu on the other hand. Chu can not be compared to anyone. Chu stands alone, that image of solitude is not only truly cold but also truly beautiful. Pride is the reason for Hiền’s embarrassment each time she thinks of Chu. But right now. Even though Chu is no longer here. Chu’s last words remained:

“Why don’t you come and open the window and see for yourself”.

Hiền pushes the window open. Night descending for a while, layers of cold air settling one on top of each other. The moon perched far away, all the way on the other side, on top of the trees. The face of the moon is plump and round with a kind and bewildered countenance of a farmer’s first trip into town. The odd comparison makes her smile. Hiền conjurs up Chu’s voice in her mind, his solemn face just now, before he left.

The sadness comes back as she contemplates her position. The grand nights and all those glittery lights add up to barely enough light to light the soul. Dark and desolate in parts like the street corners no one ever ventures into. A few years back, a period of time when they had often met up regularly last. Chu was true to his words, Chu is someone who will always speak the truth – Hiền, you have a spirit that is as bright as the full moon on the brightest moonlit night. After more self reflection, that assessment is no longer true. It has changed. This spirit has a kind of light that is nothing but a flicker of brilliance the moment just before the street lamps were turned off. The lamp housing directs the light downward. To where there is nothing worth seeing. Hiền lifts her chin. Her eyes scanned the top of the trees and higher, higher than the canopy where the white clouds and alas they caught the sight of a moon with a round face. Still the same moon as before, the same as yesterday’s afternoon, but it feels now to Hiền completely different. The way one can be distracted walking in the street and only after a second look recognize a familiar face. Always from way up there, still always from way up there is Chu’s moon, and always Chu’s moon has the ability to find Hiền. But Hiền have never found her way up there, never found a way up.

*

Hiền did not see Đoàn enter. Hiền turned startled by Đoàn’s hand on her shoulder.

“Baby girl in red”.

Đoàn laughed, taking a couple of steps back before he lit a cigarette, inhales. Speaks in a style that is Đoàn:

“I believe Liễu did something rather silly this afternoon so I must take you there. Liễu will definitely regret it, but the boys, they will definitely agree. I don’t know if I should take you there Hiền, all those hundreds and hundreds of eyes in one place. I might have to fight hundreds of them off all at once”.

“I don’t want to go”.

Đoàn’s eyes opened wider as he laughed.

“I was joking, let’s go. It’s time. We shouldn’t make these people wait.

Hiền reiterate:

“Đoàn, I truly do not want to go”.

Đoàn is surprised only after the second reply. The cigarette is barely on his lips, surprised to the extent where him didn’t know whether he had already taken a puff of the cigarette or not.

Hiền takes her time approaching Đoàn.

“Please apologise to Liễu and the others for me. Just tell them that I will join you some other time”.

“Why”, Đoàn snapped. “You women are so strange, always changing your mind at the last minute”.

Hiền laughed:

“There’s nothing strange about women, so don’t ask me why. I myself do not know. Perhaps I am still a girl from a small country town. It is best you should not try to understand this girl from a small country town. I know that you are always good to me, you should go, it’s getting late. I’m fine at home alone. I put on this red dress because I knew that it would stand out next to the purple you have on. I had all the intention of going with you. But now suddenly I no longer want to go, that’s truly all there is to it Đoàn”.

The man shrugs his shoulders as he heads out.

“Đoàn”.

He turns around. The sound of Hiền’s voice did not sound real. Hiền is saying something that has no meaning to Đoàn, something that only she could understand:

“Don’t be upset with me, I will join you some other time. But please don’t come and get me on a night when there’s a moon. You must remember to never come and get me the nights when there’s a moon”.

*

The door slammed shut, the man had left, Hiền quietly turned to look at her reflection on the tall boy’s mirror. Slowly she unbuttons the row of buttons, slips her arms out of the sleeves of the red dress letting it fall to the ground. Her hands reach for the handles of the tall boy to open it. A colourful row of dresses and áo dài hung neatly together in a generous space opens up inside the tall boy. Hiền raises her hands higher to choose another dress from the hanger. Her eyes are misty. The light blue silk áo dài is what she wanted in the end and she puts it on. She returns to the dressing table, picks up a cloth to remove her lipstick, tucks her handbag in a draw. Hiền hands holding nothing as she heads for the door, she switches off the light, closes the door, walks towards the elevator. The elevator takes her to the bottom floor. Hiền meanders the dark hallway toward the front door. The security guard has not gone to sleep. He had just pulled down the iron shutters.

“Miss Hiền. Mr. Đoàn was just here to pick you up, you’re not going with him? He had only just left”.

“No, I’m not joining Mr. Đoàn. But can you help me open the shutters so I can leave”.

The iron shutters are again rolled up.

“Will you be back soon, I can wait”, enquired the security guard.

Hiền take a look outside. It’s very late but the moon will be bright the whole night. She shakes her head:

“You should retire for the night. I don’t know when I will be back, it might be a while. I’ll wake you when I’m back, don’t worry”.

Out in the street, Hiền stopped to look up. Her eyes look at the moon not to admire its pretty light, more so as a guide. Which direction should she take. She ponders as she walks: He’s probably there, at those places and nowhere else. There are four gardens in town. Four generous spaces with rock benches and pebble paths, with moonlight over them, wholesome and boundless. Hiền’s footsteps are brisk but unhurried. The moon is now brilliant over the city, it’s round and it’s high up there, it’s perched at the top of the sky for a long time now. Walking on the sidewalk beneath the canopies of the trees, eaves, feels as though she is walking on someone’s paved yard, towards the verandah of someone’s ancestral home. An old bed. A very white, very big yard. Sounds of the threshing of rice at the start of the harvest. Falling shadows of husbandry laborers. Generous moonlight drapes across their shoulders their backs, and undressed arms.

Dancing and flying on the late night footpath is the long flap of Hiền’s delicate áo dài spun in silk. Hiền head for the first garden. It is more than likely that Chu is lying on a rock bench, looking up. Hiền will stop at the entrance into the garden. She will take her time walking over to Chu. Approach Chu the way she used to when they were children. She will quietly tell him:

“Chu, can you sit up. Can fall asleep in your arms and when I’m sound asleep in the moonlight you can watch me sleep the way you used to”.

Vầng trăng thơ ấu

Chu đi xuống mặt đường, một mình. Một lần nữa cuộc đi chơi tay đôi đêm nay lại không thành. Hiền kêu mệt, xin lỗi, nhưng Chu biết Hiền nói dối. Mệt mỏi chỉ là một cớ để thoái thác của người đàn bà.

Buồng riêng của Hiền ở từng lầu thứ ba, giữa trung tâm thành phố. Cửa sổ trông xuống đại lộ. Căn nhà nhiều từng, vào bằng hành lang riêng, có thang máy đưa lên, cả một từng dưới ngăn chia thành những khu cửa hàng. Ban ngày màu sắc lộng lẫy trong những ô kính chạy dọc theo những hình đèn nêông. Ban đêm, bóng tối âm u lọt qua mấy tấm cửa sắt cứ đúng sáu giờ chiều là người gác cửa đã buông xuống. Chu đến giữa lúc tiếng sắt kêu trong im lặng. Người gác cửa mở cửa ngó ra. Y mệt mỏi nhìn Chu đang trả tiền xe.

“Tôi muốn lên thăm cô Hiền”.

“Giờ này cô ấy làm gì có nhà”.

Chu đi ra ngoài hè đường ngước mắt nhìn lên. Chàng mỉm cười nói với người gác già:

“Cửa sổ còn sáng đèn. Ông cứ để tôi lên”.

Gian buồng nhỏ của gia đình người gác cửa chìm thấp hơn mặt đường. Chiếc bình tích và những cái chén lăn lóc. Vợ người gác ngồi tựa lưng vào thành giường, yên lặng không biết thức hay ngủ. Dưới nền đá hoa, một đứa trẻ ngủ rất say trên chiếc chiếu cũ. Chu mỉm cười nhìn lại đứa trẻ đoạn đi vào hành lang tối. Manh chiếu và đứa trẻ nhỏ vừa gợi lại cho chàng hình ảnh một đầu mái hiên của một căn nhà cổ, ba gian hai chái. Ngày nhỏ, Chu nhớ có một đêm chàng đã đứng lại rất lâu ở cái đầu mái hiên ấy, ngắm Hiền ngủ bằn bặt dưới ánh trăng. Bây giờ, cuộc đời đổi thay với những khúc những nếp rối rắm, có rất nhiều khoảng ngõ cụt đứng chắn lối trở về dĩ vãng, Chu chỉ nhớ lại được vỏn vẹn có thế. Cái hành lang tối chàng đang đi vào không gợi nhớ. Người ta không nhớ nhung nhiều, giữa thành phố. Tình cảm chứa nén trong giới hạn nhất định của những bờ tường những mái nhà, khô lại như những bông hoa giấy. Đoạn đường ngắn dẫn đến trước thang máy không đủ không khí cần thiết cho những hình ảnh cũ được trở về. Hình như chúng ở đâu. Ngoài ngoại ô. Trong ngày xưa. Nhưng chúng đến được ở đây. Chu bấm nút điện mở cửa vào thang với một hình ảnh duy nhất: Hiền nằm ngủ êm đềm dưới ánh trăng. Hình ảnh cô đơn trải đi, lênh đênh, giống như một hòn đảo hoang giữa màu vàng rời rợi không bờ bến. Tự nhiên Chu thấy buồn lạ lùng. Chàng cúi đầu xuống. Khung thang hẹp như một cái hộp vùn vụt đưa chàng lên.

Buồng Hiền ở, Chu đi đi lại lại mấy lần mới tìm thấy số. Đến đây đã một vài lần, tuy vậy những căn buồng giống nhau vẫn làm chàng nhầm lẫn. Cửa sơn màu trắng sữa. Số buồng bằng đồng nổi. Chu đưa tay nắn lại cái nút cà vạt cũ.

Có tiếng chân bên trong, rồi Hiền mở cửa, hiện ra trên một nền ánh sáng xanh dịu. Nàng nhìn Chu ngạc nhiên:

“Kìa anh Chu, em lại tưởng ai. Anh đi đâu thế?”

Còn đi đâu nữa. Chu vừa nghĩ thầm vừa đi vào. Tấm gương lớn ở phía tủ áo hắt trả lại bóng Chu đứng ngỡ ngàng trước một căn phòng trang trí cũng lộng lẫy như sắc đẹp của người thiếu nữ. Bộ mặt thành phố chỉ thu nhỏ lại ở đây. Đại lộ chói sáng. Những đoàn xe nhiều màu trườn đi như những con rắn. Những bông hoa lớn bọc trên những thành ghế thấp. Đường lông mày của Hiền với những cái đuôi kẻ nhọn và dài vút như một lưỡi dao. Theo lời Hiền mời, Chu ngồi xuống một thành ghế. Chàng tự cảm thấy khó chịu vì chợt thấy mất hẳn bình tĩnh. Vì cần phải có một phút định thần. Vậy mà người đàn bà trước mặt chỉ là Hiền. Chỉ là người bạn thuở nhỏ đã ngủ thiếp dưới ánh trăng thôn quê. Chu nhớ được thêm: đêm ấy chàng đã đánh thức Hiền dậy. Trăng sáng xanh cắt vạch trên mặt sân gạch. Hai đứa trẻ dắt tay nhau trở về nhà Chu. Cũng lại một khoảng sân gạch thật rộng nữa. Những người tá điền đứng quây vào nhau đập lúa. Đêm mùa vui hơn ngày. Sớm mai lại là cánh đồng ướt sương với những thửa ruộng lúa chín mẩy hạt, điệu hò tiếng hát cất lên, bay đi, đậu xuống những thân lúa. Tiếng đập thóc rào rào. Đến lúc Chu đưa Hiền về, trăng vẫn sáng lắm. Những người tá điền vẫn đập lúa.

Chu nghĩ rằng giữa hai người tuy vậy vẫn chẳng có gì thay đổi và không ai cấm chàng có một câu nói một cử chỉ thân mật như ngày trước. Nhưng đến lúc chàng quay trở lại nhìn Hiền thì chàng lại biết ngay, hết sức rõ rệt, là cử chỉ ấy sẽ không được biểu tỏ, câu nói ấy sẽ không được nói ra. Gặp lại nhau, cuộc sống đã làm họ thành những người lớn. Với những vấn đề những tâm trạng của người lớn. Họ cùng ở giữa thành phố. Nhà Hiền gần đại lộ quá.

Còn mặc quần ngắn, nhưng Hiền đã trang điểm xong trước khi Chu đến. Hai gò má hồng đỏ, cặp mắt sâu hơn giữa những lông mi đã được đánh thẫm lại, Chu nhìn vào đã thấy thấp thoáng cái bóng dáng tưng bừng của những buổi dạ hội. Cuộc sống ở đây, khi đêm xuống. Bữa tiệc tiếp đón một nữ tài tử điện ảnh đến từ Hương Cảng, một nữ danh ca từ Phi Luật Tân, từ Đông Kinh vừa ghé xuống phi trường thành phố. Những dãy ghế kê thành hàng. Bữa tiệc ồn ồn ào ào với những nghi lễ phiền toái những lời chúc tụng kênh kiệu. Ánh lửa lòa sáng rồi lại mờ tối của một tiệm khiêu vũ. Sàn nhảy loang loáng, âm nhạc líu ríu. Không khí ngà ngà mê mê. Chu nghĩ đến tất cả những thứ đó. Một ánh trăng lạnh đọng lại trong óc. Chu đi lại về phía bàn phấn chống tay nhìn xuống. Chàng bắt đầu thấy hối hận về việc đã đến tìm Hiền mà nguyên nhân chỉ vì đêm nay thành phố có trăng thôi. Như thế một lúc lâu. Quay lại Hiền vẫn đứng ở chỗ cũ. Giọng nàng ngượng ngùng:

“Anh ngồi chơi chứ đứng đây ư? Lạ quá đi mất”.

“Hiền bận gì không?”

“Không anh ạ. Anh định rủ em đi đâu bây giờ”.

“Không” Chu trả lời.

Chàng thấy mình không có gì hết. Không có một tí gì hết. Đêm trăng trên kia vô nghĩa và cách biệt với nơi này. Chàng đi ra cửa sổ nhìn xuống. Càng cảm thấy tất cả sự vô nghĩa đó. Những mảnh trăng mờ mờ gãy vỡ giữa những bóng lá. Ánh sáng vàng yếu tầm thường của nó chỉ có thể đoán thấy mà không nhìn thấy trên mặt đường. Bốn phía xung quanh, ngang từng cao của rừng cửa sổ, những ánh đèn trập trùng xa xa gần gần làm cho đêm thành phố có chiều sâu và những tầm cao thấp chồng chất hỗn loạn lên nhau. Chu khép cửa quay trở vào:

“Lúc đến đây anh định rủ Hiền xuống phố đi bộ một lát. Nhưng thôi để lúc khác vậy. Chắc em bận, anh đi về”.

Giọng nói của Hiền vui mừng không giấu được:

“Bận thì không bận, nhưng em mệt đang muốn nằm nghỉ một lát thì anh đến”.

Chu gật đầu:

“Thôi anh về”.

Những buổi dạ hội sáng chói. Những bữa tiệc ồn ào. Sàn nhảy của một tiệm khiêu vũ sóng sánh âm nhạc và những bước chân người đan chen quấn quít phía sau lưng:

“Ở ngoài trăng sáng lắm phải không anh Chu?”

Bàn tay Chu nằm nguyên trên thành cửa đã mở hé.

“Em mở cửa sổ mà xem”.

Sau đó chàng tỏ dấu chào Hiền rồi đi khỏi. Hiền vẫn đứng nguyên ở chỗ cũ. Tiếng thang máy ầm ầm chuyển động, khung thang đổ xuống như lao rồi đứng sững lại trước hành lang. Một lát sau Chu đã ở ngoài đường, như lúc chàng vào, một mình.

*

Chu bỏ đi khá lâu rồi Hiền vẫn đứng nguyên không cử động. Căn buồng rộng hẳn ra. Sự có mặt của Chu dù chỉ là chốc lát đã thay đổi cái không khí của nó. Đôi mắt anh ấy buồn lạ. Hiền nghĩ thầm như vậy và đi lại phía bàn phấn. Nàng ngồi xuống im lặng, tự ngắm mình một lúc lâu. Tấm gương hắt trả một đường môi đỏ. Hiền khẽ nhếch mép. Vết son động đậy, ánh ánh. Hiền thoa phấn lại một lần nữa, đứng dậy đi về phía tủ áo. Chiếc áo nàng đã chọn cho đêm nay, màu nó đỏ sẫm với những bông hoa thật lớn. Hiền mở sắc tay lấy ra tấm danh thiếp của Đoàn gởi đến từ chiều, đọc lại. Đoàn là một người bạn mới, nhà giàu, đã sang Pháp nhưng chỉ để đến những hộp đêm và phơi nắng ở những miền duyên hải, năm này qua năm khác tụ hội những đoàn du lịch đến nghỉ mát từ khắp các ngả thành phố lớn của thế giới. Đoàn về nước được sáu tháng. Danh thiếp ghi mấy hàng chữ viết vội:

“Mười một giờ anh sẽ đưa xe đến đón Hiền. Nhớ chứ, buổi họp mặt có khiêu vũ ở khách thính của Liễu? Chúng mình sẽ đến đó rồi liệu sau”.

Rồi liệu sau. Tất cả lối sống của Đoàn, của những người bạn mới Hiền vẫn gặp, vẫn đi chơi với họ, cái lối sống tự hủy hoại không suy nghĩ và chẳng có một vấn đề nào đặt ra là thế. Rồi liệu sau. Hiền đã ngã vào, ngã thật sâu vào lối sống đó. Rồi liệu sau. Nghĩa là rồi lại đến khách thính khác, đi xuống những sàn nhảy, tới những buổi dạ hội những bữa tiệc, nhập vào những cuộc du lịch, tất cả cuộc sống vo tròn lại, ném vào cái không khí ồn ào những chuỗi cười lớn, lộng lẫy màu sắc nhức mắt.

Theo lời khuyên của Đoàn, Hiền đã bán căn nhà ở ngoại ô và thuê căn gác này ở giữa thành phố. Cũng đã được 4, 5 tháng. Cuộc sống mới đẩy nàng đi xa nếp sống cũ cùng những kỷ niệm với những người bạn cũ. Trong số những người này có Chu. Chưa một lần nào Chu nói hoặc có những cử chỉ nói Chu yêu nàng. Nhưng Hiền đã cảm thấy, nhờ linh khiếu đặc biệt của người đàn bà về vấn đề này, tình cảm Chu đối với nàng không đứng lại trong giới hạn cũ nữa. Hiền cũng không hỏi. Đúng hơn không muốn hỏi. Nếp sống xa hoa thay đổi tâm tính, đến cả những nhận xét quan niệm chung của người đàn bà về tương lai và cuộc đời. Hiền sợ tình yêu, thứ tình yêu trang nghiêm, đứng đắn của Chu. Nàng tránh nghĩ đến bất cứ những cái gì bền chặt, có tính chất quyết định. Thấy là mình đã trở nên tầm thường. Thích có một cái buồng ngủ thật đẹp chẳng hạn. Thích có một cái tủ đựng tất cả các thứ hàng áo mới nhập cảng. Thích được sống lộng lẫy. Và thực hiện bằng được tất cả những ý thích đó. Điều này chính là một trong rất nhiều nguyên nhân khiến Hiền tự ý xa Chu tuy thâm tâm vẫn không xa hẳn. Những người như Chu có thể khuất bóng hàng năm, xa cách hàng nghìn cây số, đi trên một con đường khác, nhưng Hiền vẫn không quên được. Một tâm trạng trái ngược mâu thuẫn: nhiều khi thử so sánh với những người bạn mới, Hiền thấy Chu thua kém họ nhiều thứ nhưng Chu đứng riêng một phía. Không thể so sánh được Chu với bất cứ một người nào. Chu đứng một mình, cái hình ảnh cô đơn ấy thật lạnh và thật đẹp. Sự kiêu hãnh của Hiền lại chính là nguyên nhân làm hổ thẹn mỗi khi chợt nghĩ đến Chu. Như bây giờ. Chu đi rồi. Câu nói cuối cùng của Chu vẫn còn lại:

“Hiền mở cửa mà xem”.

Hiền mở cửa. Đêm xuống lâu, những đợt lạnh dần dần dâng lên trong không khí. Trăng đậu thật xa, phía bên kia, trên một ngọn cây. Khuôn trăng thành phố tròn và phúc hậu từ khuôn mặt của người nhà quê mới ra tỉnh. Hiền mỉm cười về sự so sánh ngộ nghĩnh. Nàng nghĩ lại giọng nói khuôn mặt Chu ban nãy lúc Chu trang nghiêm bỏ đi.

Nhưng rồi nghĩ đến mình, buồn lại đến. Những đêm thật lộng lẫy vậy mà mấy mươi thứ ánh sáng cộng lại vẫn không sáng hết được tâm hồn. Hoang tối nhiều khoảng vẫn còn như những ngả phố vắng không có ai đi qua. Trước đây mấy năm, nhớ là thời kỳ cuối cùng hai người vẫn gặp nhau. Chu vẫn nói thành thật, Chu bao giờ cũng thành thật trong lời nói – tâm hồn Hiền sáng như một đêm trăng sáng. Tự soi ngắm lại, nhận xét ấy không còn đúng nữa. Nó đã đổi khác. Tâm hồn chỉ còn sáng cái ánh sáng lúc vụt tắt của một ngọn điện treo ngang cột đèn. Chao đèn hướng ánh sáng xuống những khoảng thấp ở dưới. Chẳng có gì đáng nhìn. Hiền ngước mắt. Cái nhìn đi từ những ngọn cây lên cao hơn, tới những đám mây màu trắng và sau cùng nó bắt gặp một vầng trăng thật tròn. Vẫn vầng trăng ban nãy, của chiều hôm trước, nhưng Hiền đã thấy nó khác hẳn. Giống như khuôn mặt người đi đường nhìn thờ ơ không chú ý đến lúc ngó kỹ lại mới chợt nhận ra một người thân. Ánh trăng Chu đến với nàng từ trên ấy, vẫn từ trên ấy. Nhưng Hiền đã không lên được tới đó, không lên được tới đó.

*

Đoàn vào mà Hiền vẫn không biết. Đoàn để tay lên vai làm Hiền giật mình quay lại.

“Cô bé áo đỏ”.

Đoàn cười rồi lùi lại châm thuốc lá hút. Đoàn nói kiểu cách:

“Anh nghĩ rằng Liễu đã làm một việc rất dại dột khi nhắc anh chiều nay thế nào cũng phải đưa em tới. Chắc Liễu sẽ hối hận, nhưng bọn đàn ông thì bằng lòng. Anh không biết anh có nên đưa Hiền đến cái chỗ có trăm mắt đổ dồn vào đó không. Chắc anh sẽ phải chống đỡ trên hàng trăm mặt trận một lúc.

“Em không đi đâu”.

Đoàn mở to mắt rồi cười phá lên.

“Nói đùa đấy, thôi đi. Đến giờ rồi. Chúng mình không nên làm cho thiên hạ đợi.

Tiếng Hiền nhắc lại:

“Anh Đoàn, em không đi thật mà”.

Bấy giờ Đoàn mới ngạc nhiên thật. Điếu thuốc lá đưa gần tới môi, sự ngạc nhiên làm Đoàn quên là phải hút hoặc phải hạ tay xuống.

Hiền thong thả đi lại trước mặt Đoàn.

“Anh xin lỗi chị Liễu và các anh ấy hộ em. Và nói hộ để hôm khác em sẽ đến cùng với anh”.

“Tại sao như vậy”, Đoàn hỏi bực tức. “Đến phút cuối cùng mới thay đổi ý kiến, đàn bà các em lạ thật”.

Hiền buồn cười:

“Đàn bà chẳng có gì lạ lùng cả đâu, anh cũng đừng hỏi em tại sao. Chính em cũng không hiểu. Có lẽ tại trong em vẫn còn một người con gái quê mùa. Người con gái quê mùa ấy anh không nên biết thì hơn. Anh vẫn tốt với em lắm xin anh đừng hỏi gì nữa và đi đi kẻo muộn. Em ở nhà một mình được rồi. Anh xem em đã mặc áo hoa đỏ này vì biết trước sẽ rất nổi bên cạnh màu tím của anh. Em vẫn định đi với anh đấy chứ. Tự nhiên không muốn đi nữa, có thế thôi anh Đoàn ạ”.

Người đàn ông nhún vai lắc đầu đi ra phía trước.

“Anh Đoàn”.

Y quay trở lại. Giọng Hiền mơ màng. Hiền nói một câu mà Đoàn không hiểu được riêng chỉ có nàng hiểu:

“Đừng giận em nhé, để hôm khác em sẽ lại đi chơi với anh. Nhưng anh đừng đến đón vào những đêm có trăng. Anh nhớ đừng đến đón vào những đêm có trăng”.

*

Tiếng cửa sập mạnh, người đàn ông bỏ đi rồi, Hiền quay trở lại phía trước tủ áo yên lặng ngắm bóng mình trong gương. Rồi nàng từ từ tháo hết hàng khuy áo, tháo khỏi tay chiếc áo màu đỏ chói để mặc nó rớt xuống mặt đất. Nàng với tay mở tủ. Dãy áo nhiều màu xếp sát nhau trong khoang tủ rộng hiện ra. Hiền với tay chọn một chiếc áo khác. Mắt nhìn mơ màng. Cuối cùng nàng chọn tấm áo lụa trơn màu xanh nhạt từ từ mặc vào. Trở lại bàn phấn, lấy khăn lau hết sáp môi, cất cái sắc tay vào ngăn kéo. Hiền đi tay không ra cửa, tắt đèn, đóng cửa lại, đi về phía thang máy. Thang máy đưa nàng xuống từng dưới. Hiền lần theo hành lang tối đi ra phía cửa. Người gác già còn thức. Y vừa hạ cái lưới sắt xuống.

“Kìa cô Hiền. Ông Đoàn vừa đến đón, cô không đi với ông ấy sao? Ông ấy vừa ở đây ra thôi”.

Hiền mỉm cười trước đôi mắt ngạc nhiên của người gác già. Nàng nói dịu dàng:

“Không, tôi không đi với ông Đoàn. Nhưng bây giờ nhờ ông mở hộ cửa cho tôi ra ngoài”.

Tấm lưới sắt lại kéo lên.

“Thế cô có về ngay không để tôi chờ, người gác hỏi”.

Hiền nhìn ra ngoài. Đã khuya lắm nhưng trăng đêm nay sẽ sáng trọn đêm. Nàng lắc đầu:

“Ông cứ đi ngủ. Chưa biết lúc nào tôi về, có lẽ còn lâu lắm. Tôi về tôi sẽ gọi ông dậy, không sao đâu”.

Ra đến ngoài đường, Hiền đứng lại nhìn lên. Đôi mắt nhìn trăng không phải để tìm một ánh sáng đẹp, còn như muốn dò hỏi một lối đi. Đoạn nàng tiến bước. Vừa đi Hiền vừa nghĩ: Phải rồi anh ấy chỉ có thể ở những nơi đó. Thành phố cả thảy có bốn vườn hoa. Bốn khoảng rộng với những chiếc ghế đá những con đường lát sỏi tráng, ánh trăng đang chiếu xuống đó, mênh mông và đầy. Hiền bước nhanh nhưng cũng không thấy vội vã lắm. Trăng sáng bây giờ trên thành phố, nó tròn nó cao thế kia, nó còn đậu ở đỉnh trời thật lâu. Đi trên bờ hè dưới bóng cây những mái hiên, mà Hiền có cảm tưởng như đang đi về một khoảng sân gạch nào, tới một đầu thềm một ngôi nhà cổ nào. Chỗ nằm ngủ cũ. Khoảng sân rộng, trắng xóa. Tiếng đập lúa đêm đầu mùa. Bóng những người tá điền đổ xuống. Trăng trải chan hòa trên những bờ vai bờ lưng, những cánh tay để trần.

Tấm áo lụa của Hiền mỏng nhẹ một vạt dài bay múa trên đường khuya. Hiền bắt đầu đi về lối vườn hoa thứ nhất. Chắc Chu đang nằm ngửa trên một tấm ghế đá, nhìn lên. Hiền sẽ đứng lại ở đầu lối vào vườn hoa. Nàng sẽ đi thong thả lại bên Chu. Gần chàng, như hồi nhỏ. Nàng sẽ nói với chàng dịu dàng:

“Anh Chu, anh ngồi dậy. Em sẽ nằm gối đầu lên cánh tay anh và em sẽ ngủ thiếp đi như ngày nào dưới ánh trăng kia cho anh xem”.


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The old professor | Mai Thảo

Thanh Hoá, Việt Nam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Bài thơ hữu tả

Anh luôn đứng bên tả ngạn
em thì lì mãi bên hữu ngạn
con sông dài miên man những bài thơ
đương nhiên là lúc nào em cũng phải
không đúng sao?
——
Văn của anh Mai Thảo giàu ngôn ngữ quá đi. Cảm giác học không kịp những từ ngữ quên cả thở..
🙂

It poured the day he saw the old professor. The dike ran along the right bank of Sông Đáy between Ba Thá and Vân Đình. A turbid and muddy trail. Human traffic going with and against each other. A struggle condensed into a fleeting moment of bashfulness, shame and brimming joy along with images of a cold and unending long trek, pounding and drowning in the bleary white dusty rain the time they had bumped into each other. Far away were remnants of crumbling hamlets.

Teacher and student holding onto each others hand, and the rain continued to pour – together ran for cover under a tree. The years rolling along past us by as we dived head first in to life, now fully grown, next to his teacher he is a head taller. The shrinkage of age makes his teacher appeared even smaller. But between them nothing has changed. As always the teacher is both more firm more confident compared to his student. The exemplary attitude and protection inside the classroom that he as a student received day after day.

“Sir, where are you staying now?”

“Ba Thá”

“You still teach”.

The professor smiled kindly:

“Yes, I still teach but yesterday afternoon the school was bombed. I’m heading for Ty now to make an official report. Ty is a district down from Vân Đình. I’ve lost everything, except for what is here.”

What is here: a sack, a couple of sets of brown clothes and a bamboo stick.

He looks at the small, meaningless career, the last remaining belongings of a moral life, and thought of two images: a humble and meagre ascetic of a certain era imparting beautiful thoughts to humanity in asceticism, and the image of a rain drenching windy path, the afternoon setting upon a large inter-region, the old teacher walking alone on that road, the simplicity of a noble profession is the heavy burden on his silvery hair in the dark stormy night.

The rain continued to pour. The student and teacher gravitated towards each other. Nodding, the old professor looks at his student:

“You gentlemen have changed a lot. All grown up. But it does not matter where I am you still recognise me, and I all of you. You still have exactly the same absent-minded look when you sat in my class looking out the classroom window during those summers in the middle of the day”.

His reply:

“Yes, I remember the way I used to be in class. That has not changed”.

The professor’s low warm voice discernable through the consistent clatter of the pouring rain:

“No, nothing has changed”.

The professor’s deep set eyes follows the long path through the rain to the end, further than the end of the road:

“War changes the path we take on the road. Every thing becomes bitter, harder than before. The earthly mounds. Pits and tunnels. Broken bridges. And the storms, there seem to be more of them”.

The professor sigh:

“We are the old ways learning how to walk on a new path”.

Before he turn to look at his student:

“And you, what are you doing now?”

“Buôn sir”

“Buôn?”

“I left school after Cách Mạng Tháng Tám. The stuff I want to smuggle is going up the river around Rót Rét. I will meet up with them at Bương Cấn and tonight once the rain ease I will head for Phú Thọ”.

The professor said two words quietly “I see” and that was that. His professor is by nature a quiet man. The rain poured over head. In front of them is the angry red and murky water of Sông Đáy. Unreachable is the other side of the bank. Taking a few steps back, standing behind his teacher, his eyes focused more intently on the strands of grey hair stirred by the wind on the familiar grave focused features of a face he had seen a past long gone standing against the black background of a chalk board. The smooth and luke warm memories and images of a time in a classroom came rushing back frame by frame on the small patch of the thoroughfare at the side of the road. Bunches of summer flowers in a brilliant red perched on the window sill, and as each cluster of flowers bloomed came the rushing was a peek of new dream, the light tempo of a time when the spirit was swept away to wild unexplored places far and beyond. Over new horizons were the fragile quiver of butterfly wings. Lucid panes of glass. Low warm sound of our lessons pacing steadfast between the classroom’s chairs lined up in neat rows. Deep set hem topped with a white hat. Blocks of bricks worn out at the edges by the rain formed the steps up into each classroom. Bygone architecture of a school built on the ruble of an old citadel weaves through the rows of trees and scattered ponds. A city under the long howl of a ferry tailed by a trail of smoke that lingered in the sky. The first idea conjured, the air of an imaginary journey. Flickering images of a path lost in the sunlight of an impending summer.

He remembered the opening day the old teacher turned up after one transfer after the other. It also poured that particular morning. The sound of shoes approaching along the corridor. The professor stepped into the classroom and paused for a second, said: “Good morning gentlemen”, as he head straight for the raised lectern. The first hour was reserved for getting to know each other. The professor shared a private joy, he was happy about the transfer to a school in town after the ten years he had spent in the jungle.

He said: “The last school was right by the border of Vietnam and China, my students were half Kinh and half from a collective of small indigenous groups. Up there in the jungle, the nights are long and in the morning each time I opened the classroom door, the classroom would be filled with thick fog. The jungle surrounds it was thick with trees and more trees, the trees went on and on as though there were no end. On the school yard you can find paw prints of ferocious creatures and wild animals. And when it was cold it was extremely cold. The students’ hands and feet were cold and their faces were pale and blue because it was so cold. The doors and windows must be shut tightly so our body heat could circulate before we could even do anything”.

The images of a classroom at the border materialized through the low warm tone that was distinctively unique to the old professor. The way he tell his story, the way he phrase each sentence was also different. And immediately, amongst the forty five students listening, from a seat at the back of the classroom he looked up, found instantly the fondness and respect for his new teacher. A kind of fondness that was new to him. It was like a new discovery, a phenomenon, a change.

The life of a student, going up a class each year, there’s a new teacher, but amongst those teachers, often once after closing the door finally to that class, tucked away separately as life goes on, comes back immediately vividly in the memory of a student that particular teacher. Why? Perhaps its a certain feature of their face, voice, edged deeper in the past. Perhaps because its tided up to something, may it be abstract or pictorial, the emotional attachment surpasses the norm, denoting richer, more meaning.

He came first on his first essay in class. An odd occurance. He got his paper back three days later, when his name was called, by the compliments and smile he was asked to please read the best paragraph out loud, standing up, his hand shook as he held onto the piece of paper and those minutes were the rosiest highlight in the history of the years he spent in school where beyond that point into the past were mostly mediocrity and darkness.

He was lazy and careless. Always last no matter what subject. A complete change. For the rest of his life he will never forget the complete change in the brooding student who sat at the back of the class during that history lesson, the awkwardness of having to standing up for the first time, the anxiousness and excitement of reading and sharing his first success with the full attention and admiration of the whole class. That feeling stayed with him as he sat down.

The class could not find any reason for this sudden change. He, himself could not understand. He wrote that essay for one person to read, it specifically express the sincere and fine emotions reserved for a teacher who describe a school at the border as “paw prints of ferocious creatures and wild animals” and “in the morning each time I opened the classroom door, the classroom would be filled with thick fog”.

*

The rain continued to come down heavily.

The afternoon had turned up on the other side of the river bank. The sky is low and grey. The boat full of goods heading up the river around Rót Rét where the water was a bit rough in the cold and wet is the highlight of a small and warm memory compare to the confiding fact that the teacher had loss his school, not knowing where he will end up in this rain this wind.

They both nod their head in deep thought. The professor said:

“You just said you’re in the middle of smuggling something?”

“Yes sir”.

“You gentlemen have so many professions. Each person on their own path. The end of last month I saw a student I can’t remember which year I had taught him reclaiming land on a plantation in Nho Quan. A filthy area where the water is poisoned, very bad for your health. He was pale and weak, he did not look well. You travelling back and forth on a boat, would perhaps be a much better idea”.

“The last couple of years, since the day I left school there were not enough opportunity for me to move around, unlike now. But smuggling is not a suitable direction. Sometimes I feel like what I’m doing is all for nothing”.

The professor reply:

“I inderstand. But more than often we would find ourself doing what is in reach where we do not have a choice but accept. You generation is full of men who are not in the right position, not sure which path to take. It’s painful being your age. As for us there’s no point talking about it. Often it is so hard, I would still find myself quietly thank heaven for letting me hold that ruler and lecture. What else can I do if it’s not teaching?

The professer laughed softly:

“It’s a habit of the job: Seeing you gentleman all I want to do is ask what you want to do with your life. If you don’t like the smuggling, what do you want to do?”

“Once during a discussion, you were joking about me becoming a writer, I still have that laughable dream of becoming a writer”.

“Oh! I can’t remember, but if it was something I said than it wouldn’t have been a joke. That’s right, Vietnamese literature in those days was a subject you loved the most”.

The professor’s voice grew more earnest:

“Keep at it. You’ll never know one day I might find myself reading something written by one of my students and that student is you. The be biggest consolidation to a teacher is their student who could take a path that had taken shape in the classroom”.

The rain easing suddenly, the loud clatter of pouring rain stopped. The other side of the river, the bank materilises slowly from behind the thick curtains of rain. But the horizon remained low and laden with water vapours. The heavy down pour stopped in time to prepare for another down pour.

The two of them left the cover of the tree. The professor look up at the sky:

“It should be fine now. I better head for Ty before it’s too late”.

The professor turn around, places a frail hand on his old student’s shoulder:

“It has been a while since I’ve seen any of you gentlemen. Thank you for thinking of me. You gentlemen are now wise adults, via your experience grew up, I don’t have any advice left to give you. Stay safe”.

An emotion goodbye.

“I wish I had more time with you professor. I’ll follow the boat and in around half a month I will be back around here again. May I please have the address of your new so I can get another chance to see you”.

The professor cast the idea aside:

“I, myself do not know where I’m going. Further in there’s a new school in the mountain or I might stop teaching altogether. I will be hard for us to meet again, you still remember now an then that is enough no need to feel bad about not visiting me”.

The professor left, carrying the sack on his thin shoulders, supported by the bamboo stick deep in the muddy water, he ran after his teacher:

“Buôn, I do okay. Honestly I’m not trying to repay you in any way, but can I help you in anyway at all professor?”

The professor shook his head smiling:

“I live alone, I do not need anything. Thank you son. You should go back”.

He stood there frozen in the middle of the dike straining his neck trying to follow the figure from a bygone era disappear into the rain. The sack, bamboo stick, the strands of grey hair grew smaller and smaller like forever. Then those smallest distinguishable features too fade away into a curtain of rain.

That was the last time he saw his teacher. Selling the last boat of goods, he went straight back to Vân Đình. Found out that Ty Học was actually there, they told his professor that most of the schools have been destroyed, it will a while before there will be any new school and the professor left after that not leaving an address behind.

*

Eighteen years later.

Writing, I fulfilled that childhood dream. Amongst the hidden reasons that pushed me, I noted the professor’s advice to keep trying everyday on that muddy dike.

The decision that can change a person’s life often are the small reasons. Here perhaps because it was the advise from a person I respect.

I never saw the professor again from that day on. But the memory of that class, how moving it was to stand in the middle of the class reading the essay to the whole class – the thought of it again – takes me back still, to the time I was a student. Encompassing a capacious classroom, a private world of its own. Clusters of royal poinciana, bright translucent glass panes, the tip of a white hat, blinding summer days. The first sentence, a clumsy, baffling composition. On top of all of that was the reserved quiet face of the professor looking down like a source of calm.

Now each time my fingers hovers over the page of a draft, flustered because of a word, an idea too difficult to portray, I could then again see flashes of the scribbled rubbed out sentences of the draft of an old essay. Then appeared would be the images of the old professor. I want to see again, to say, at least once, to the professor:

“Professor, you were the biggest inspiration for the pages I now write”.

But the sentences I write now will never come to know those inky grading red lines. The last encounter. The road seem to never end in the white rain. Age is a heavy number piled on top of a life beyond dusk. My intution tells me that, that low warm voice have now faded into silence. The bamboo walking stick no longer in those fragile hands, fallen, lost somewhere, out there.

Người thầy học cũ

Y gặp lại người thầy học cũ một ngày mưa lớn. Con đê chạy dọc hữu ngạn sông Đáy chỗ đó là giữa quãng Ba Thá, Vân Đình. Đường lầy. Kẻ đi ngược, người về xuôi. Cuộc kháng chiến gian khổ thu lại trong giây phút gặp gỡ bất thình lình một nỗi tủi mừng rưng rưng và cái hình ảnh buốt lạnh của con đường dài thẳm, trùng điệp hầm hố dưới mưa bụi trắng xóa. Xa xa dấu vết những làng xóm tiêu hủy còn lại.

Hai thầy trò nắm chặt tay nhau, mưa vẫn đổ lớn – cùng chạy đến trú dưới một gốc cây. Nhiều năm tháng qua đi từ ngày bỏ trường lăn mình vào cuộc đời, bây giờ Y đã lớn, đứng cạnh thầy cao hơn thầy hẳn một cái đầu. Thầy thì tuổi già đã làm cho thân hình nhỏ lại. Nhưng giữa hai người vẫn không có sự thay đổi. Người thầy vẫn vững chãi và tự tin hơn. Thái độ gương mẫu và che chở bên trong cửa lớp ngày nào Y vẫn nhận được.

“Thầy ở đâu xuống?”

“Tôi ở Ba Thá xuống”.

“Thầy vẫn dạy học”.

Người thầy học cười hiền lành:

“Phải, tôi vẫn dạy học nhưng trường làng vừa bị bom đốt cháy chiều hôm qua. Hôm nay tôi phải về Ty báo cáo. Ty ở dưới Vân Đình. Tôi mất hết, chỉ chạy được những cái này.

Những cái này: một cái bị cói, mấy bộ quần áo nâu và một cái gậy trúc.

Y nhìn cái cơ nghiệp nhỏ nhoi vô nghĩa, những đồ tùy thân cuối cùng còn sót lại của một cuộc đời đạo đức và liên tưởng tới hai hình ảnh: vị chân tu của một thời đại nào đi truyền bá trong khổ hạnh những tư tưởng đẹp cho nhân loại và hình ảnh một con đường mưa bay, buổi chiều xuống trên liên khu rộng lớn, người thầy học cũ lại một mình bước đi trên con đường đó mang trên mớ tóc bạc cái nghề đạm bạc cao quý, mang nặng nó trong đêm tối và mưa bão.

Mưa vẫn đổ lớn. Hai thầy trò đứng sát vào nhau hơn. Thầy nhìn trò, gật đầu:

“Các anh đổi thay nhiều lắm. Trưởng thành cả rồi. Nhưng mà ở đâu và bao giờ các anh vẫn nhận ra tôi, tôi vẫn nhận ra các anh. Anh thì vẫn còn nguyên vẹn cái nhìn lơ đãng ra ngoài cửa lớp những buổi trưa mùa hạ”.

Y trả lời:

“Vâng, con vẫn thế. Con vẫn nhớ con như thế”.

Giọng thầy trầm trầm trong tiếng mưa đổ rào rào:

“Chúng ta vẫn thế”.

Đôi mắt sâu của thầy nhìn xuôi theo con đường dài, qua màn mưa về tận cuối đường, xa hơn cái xa của cuối đường:

“Chiến tranh đổi thay hình thể những ngả đường trên đó chúng ta đi. Tất cả trở nên khó khăn cực nhọc và chua xót hơn cũ. Những ụ đất. Những hầm hố. Những chiếc cầu đổ. Hình như mưa bão cũng nhiều hơn”.

Và thầy thở dài:

“Chúng ta là những con người cũ đang tập đi trên những con đường mới”.

Rồi thầy quay lại hỏi:

“Còn anh, bây giờ anh làm gì?”

“Thưa thầy con đi buôn”.

“Đi buôn?”

“Con bỏ học từ sau Cách mạng tháng Tám. Thuyền hàng của con chắc bây giờ đang ngược dòng đi lên ở giữa khoảng Rót Rét. Con sẽ đón thuyền ở vùng Bương Cấn và nếu đêm nay ngớt mưa sẽ đi thẳng tới Phú Thọ”.

Người thầy “Thế à” một tiếng nhỏ rồi không nói gì nữa. Tính thầy vẫn ít nói. Mưa ào ào trên đầu. Trước mắt họ dòng sông Đáy đục đỏ chảy đi hung dữ. Bãi xa mịt mùng bên kia. Người học trò đứng lùi lại phía sau và nhìn thấy sát tầm mắt, những sợi tóc bạc gió thổi lay tạt trên khuôn mặt mà trông nghiêng vẫn đựng đầy cái vẻ trầm lặng cũ, những ngày xưa nhìn xuống Y trên một nền bảng đen. Những kỷ niệm những hình ảnh của một lớp học vừa trở về lướt thướt và buốt lạnh trên khoảng đường này. Những chùm hoa mùa hạ đỏ chói chang trên góc cửa sổ, sự hé mở của những giấc mộng ban đầu nở từ những chùm hoa rực rỡ ấy, nhịp bồng bềnh đẩy đưa của tâm hồn chạy đến những chân trời những thế giới hoang vu. Cánh bướm mỏng của niềm rung động mới. Những tấm kính sáng trong. Tiếng giảng bài trầm trầm đi giữa hàng ghế. Tà áo thâm và cái đỉnh mũ trắng. Những bực gạch mưa làm mòn cạnh đi lên từng cửa lớp. Lối kiến trúc cổ kính của một mái trường xây cất trên nếp thành đổ nát cũ lượn vòng giữa những hàng cây và những ao đầm. Thành phố ở dưới với tiếng hú dài của một tiếng còi tàu kéo theo những vệt khói còn treo lâu trên nền trời. Ý niệm thứ nhất về không gian trong chuyến đi tưởng tượng. Vụ hè sắp tới thấp thoáng hình ảnh con đường mất hút dưới nắng.

*

Y nhớ thầy đã về sau một buổi tựu trường có nhiều thuyên chuyển. Cũng một buổi sáng mưa lớn. Có tiếng giày từ ngoài hành lang đi tới. Thầy vào, đứng lại một giây nhìn mọi người, nói: “Chào các anh”, đoạn đi thẳng lên bục cao. Giờ học thứ nhất được dành cho sự làm quen nhau. Người thầy bày tỏ nỗi vui riêng sau mười mấy năm ở rừng được đổi về một trường thành phố.

Thầy nói: “Trường cũ ở sát biên giới Hoa – Việt, học trò nửa Kinh nửa thiểu số. Trên ấy đêm rừng dài và buổi sáng nào cũng dầy đặc sương trong lớp học vừa mở cửa. Rừng thì trùng điệp ở chung quanh. Sân trường đôi khi còn in những dấu chân thú dữ. Và rét thì rét ghê rét gớm. Các học trò chân tay cũng cóng buốt và mặt mũi xám tái lại. Phải đóng kín cửa cho hơi nóng truyền đi một lúc sau mới làm việc được”.

Hình ảnh của một lớp học biên giới được gợi lên bằng giọng nói đặc biệt trầm trầm. Cái lối kể chuyện của thầy cũng khác. Và ngay lập tức, trong số bốn mươi lăm học trò chăm chú lắng nghe, từ một chỗ ngồi tận đáy lớp nhìn lên, Y cảm thấy mến yêu ngay người thầy học mới. Một nỗi mến yêu đặc biệt chưa từng có. Tưởng như một khám phá, một đổi thay lớn.

Trong một cuộc đời học trò, từng năm học đi lên, mỗi năm lại gặp một người thầy, nhưng trong tất cả những người thầy đó, thường vẫn chỉ có một người mà về sau lúc đã giã từ cửa lớp, ở mãi chỗ sâu xa cách biệt trong cuộc đời, mỗi lần nhớ lại là người học trò lại nhớ trước nhớ ngay đến người thầy ấy. Tại sao? Có thể vì một nét mặt, một giọng nói, được khắc sâu hơn vào dĩ vãng. Có thể vì một sự bắt buộc nào đó, trừu tượng và siêu hình, khiến cho tương quan tình cảm vượt khỏi mức bình thường, chứa đựng một ý nghĩa rộng lớn hơn.

Bài luận đầu tiên của Y được nhiều điểm nhất lớp. Một sự lạ. Ba hôm sau khi thầy trả bài, gọi đến tên, ngợi khen và mỉm cười bảo Y hãy đọc cho cả lớp nghe một đoạn văn hay, Y đứng dậy, tờ giấy trên tay run run và giây phút đó đã là cả một dấu son rực rỡ trong cái lịch sử học trò của Y từ trước đến nay vốn rất tầm thường tăm tối.

Y lười và lơ đãng. Trên tất cả các môn học, điểm số bao giờ cũng ở dưới cùng. Một sự đội sổ toàn diện. Suốt đời Y nhớ mãi cái giờ học lịch sử ấy của một tên học trò đội sổ ngồi tối tăm ở cuối lớp, lần đầu đứng lên ngượng nghịu, hồi hộp đọc cho cả một lớp im sững thán phục cái thành công thứ nhất của đời mình. Ngồi xuống còn cảm động.

Cả lớp không tìm hiểu được nguyên nhân sự đổi thay đột ngột này. Chính Y cũng không hiểu. Y đã viết bài luận ấy cho một người xem, nó là cái biểu tỏ cụ thể của một tình cảm chân thật và tốt đẹp gửi đến cho một người thầy đã tả được một cái trường học biên giới bằng “những dấu chân thú dữ” và “sương trắng dầy đặc cửa lớp buổi sớm”.

*

Mưa vẫn đổ lớn.

Buổi chiều như đã muốn đến từ bãi sông bên kia. Trời thấp và xám. Con thuyền đầy hàng ngược dòng ở giữa khoảng Rót Rét bồng bềnh trong ướt lạnh còn là điểm vui ấm bé nhỏ so với tâm sự của người thầy mất trường, không biết sẽ về một nơi nào trong mưa bay.

Hai người cùng cúi đầu suy nghĩ. Thầy nói:

“Anh vừa nói hiện anh đi buôn đấy nhỉ?”

“Dạ”.

“Các anh làm thật nhiều nghề. Mỗi người một đường. Cuối tháng trước tôi có gặp một anh không rõ đã học tôi năm nào, làm khẩn hoang ở một đồn điền Nho Quan. Vùng ấy lam chướng, nước độc, rất có hại cho sức khỏe. Trông anh ta xanh yếu đáng ngại. Cứ như anh đi đây đi đó trên một con thuyền, có lẽ lại hay hơn”.

“Kể thì mấy năm nay, từ ngày ra trường con chưa từng có dịp được đi nhiều, thấy nhiều như bây giờ. Nhưng nghề buôn không phải là một chí hướng thích hợp. Nhiều lúc con vẫn cảm thấy đang làm một việc vô ích”.

Người thầy đáp:

“Tôi biết. Nhưng chúng ta bây giờ thường vẫn phải làm ngay cái việc nhìn thấy trong tầm tay với mà không có quyền từ chối, lựa chọn. Thế hệ các anh biết bao nhiêu người hiện đang đứng lạc vị trí, băn khoăn tìm đường. Ở tuổi các anh thật đau đớn. Chúng tôi thì không nói làm gì. Nhiều lúc cực nhọc vất vả, tôi vẫn thầm cảm ơn trời còn cho mình được cầm cái thước kẻ giảng bài. Tôi làm gì khác được nếu thôi dạy học?”

Thầy cười khẽ:

“Thói quen của nghề nghiệp đấy: Thấy các anh là hỏi về dự định vào đời. Không thích đi buôn, anh muốn làm gì?”

“Có một lần trong giờ luận, thầy nói đùa con có thể trở thành nhà văn, con vẫn ao ước thực hiện được câu nói đùa ấy”.

“Thế ư! Tôi không nhớ nữa, nhưng nếu có nói thì nói thực đâu phải đùa. Phải rồi, Việt văn là môn học xưa kia anh ham thích nhất”.

Giọng thầy trở nên ân cần:

“Cố gắng đi. Biết đâu chẳng một ngày tôi được đọc văn của một người học trò cũ là anh. Niềm an ủi lớn nhất của một người thầy vẫn là được thấy người học trò cũ của mình đi vào tương lai trên lối đi đã được phác định từ trong cửa lớp”.

Mưa bỗng ngớt đi, tiếng đổ ào ạt dừng lại. Mé sông bên kia, bờ bãi mịt mùng ban nãy nổi lên dần dần. Nhưng vòm trời thì vẫn thấp nặng và nghi ngút hơi nước. Trận mưa lớn vừa ngớt chỉ để sửa soạn cho một trận mưa lớn khác sắp đổ xuống.

Hai người ra khỏi gốc cây. Người thầy nhìn lên trời:

“Đã có thể đi được rồi. Tôi phải đi xuống Ty bây giờ cho kịp”.

Thầy quay lại, cánh tay gầy yếu đặt lên vai người học trò cũ:

“Lâu lắm mới gặp nhau tôi cám ơn các anh còn nhớ đến tôi. Các anh bây giờ đã khôn lớn cả, đã tự trưởng thành trong những kinh nghiệm, tôi cũng không có điều gì phải khuyên bảo nữa. Thôi anh ở lại”.

Giây phút giã từ này thật là cảm động.

“Con ân hận không được gặp thầy lâu. Con theo thuyền độ nửa tháng bán hàng xong rồi sẽ trở lại vùng này. Xin thầy địa chỉ để con được lại thăm trường mới”.

Người thầy gạt đi:

“Chính tôi hiện giờ cũng không biết rồi sẽ được thuyên chuyển đi đâu. Liên khu trong, một trường mới mở trong núi hay là nghỉ dạy vĩnh viễn không chừng. Chắc khó gặp lại, anh còn nhớ đến tôi là đủ và đừng băn khoăn về vấn đề tìm thăm tôi”.

Người thầy bước đi, cái bị cói nằm trên bờ vai gầy, gậy trúc chống xuống đường lầy. Y chạy theo thầy:

“Con đi buôn cũng không đến nỗi túng thiếu lắm. Thật tình không dám nghĩ đến chuyện trả ơn, nhưng con có giúp thầy được điều gì không?”

Người thầy lắc đầu mỉm cười:

“Tôi một thân một mình cũng không cần gì. Cám ơn anh. Thôi anh trở lại”.

Y đứng sững giữa con đê nhìn theo bóng dáng cổ kính của người thầy. Cái bị cói, cái gậy trúc, những sợi tóc bạc cứ nhỏ dần mãi. Rồi những cái điểm bé nhỏ ấy nhòa đi sau màn mưa.

Y gặp lại người thầy học cũ của Y lần ấy là lần cuối cùng. Bán xong chuyến hàng, Y lên bộ về thẳng Vân Đình. Hỏi thăm Ty Học chính ở đó, Y được biết người ta đã nói với thầy là các trường bị phá hủy gần hết, phải đợi một thời gian để lập trường mới và người thầy đã bỏ đi không để lại địa chỉ.

*

Đến nay đã mười tám năm.

Viết văn, tôi thực hiện được cái ước vọng duy nhất của thuở nhỏ. Trong số những nguyên nhân thầm kín thúc đẩy tôi, tôi ghi nhận lời thầy khuyên nhủ cố gắng ngày nào trên quãng đường lầy.

Sự đổi thay quyết định một đời người thường vì những nguyên nhân nhỏ. Ở đây có thể vì lời khuyên của một người tôi kính yêu.

Từ đó tôi không gặp lại thầy, cũng không trở lại một cửa lớp nào nữa. Nhưng kỷ niệm còn giữ được của buổi học ấy, nỗi cảm động đứng giữa hàng ghế đọc bài luận ấy cho cả lớp nghe – nhớ lại – vẫn đưa tôi trở về được với cái thế giới học trò. Nó nằm trong chu vi một lớp học, nhưng rộng và riêng biệt đúng như một thế giới. Chùm hoa phượng, những phiến kính sáng trong, cái đỉnh mũ trắng, những ngày hè chói nắng. Câu văn đầu tay vụng dại, bỡ ngỡ. Trên tất cả, khuôn mặt trầm lặng của thầy ngó xuống như một nỗi bình yên.

Bây giờ đôi khi ngừng tay trên một trang bản thảo, lúng túng trước một danh từ, một ý tưởng diễn đạt khó khăn, tôi lại thấy những hàng chữ dập dập xóa xóa trước mắt bỗng phảng phất giống với trang giấy nháp của bài luận cũ. Hình ảnh người thầy lúc đó lại hiện lên. Tôi muốn được gặp lại, để nói, ít nhất cũng một lần, với thầy:

“Những trang giấy này có được một phần lớn nhờ thầy”.

Nhưng mà những dòng chữ tôi viết bây giờ chắc không bao giờ được biết tới những dòng mực đỏ phê điểm ấy nữa. Buổi gặp mặt cuối cùng. Con đường xa hút dưới mưa trắng. Số tuổi chất nặng lên cuộc đời đã xế chiều. Giọng nói trầm trầm ấy đã chìm lặng, tôi linh cảm như vậy. Cái gậy trúc ấy chắc đã rời khỏi cánh tay gầy yếu, rơi xuống một nơi nào đó, ở ngoài kia.


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

HORSES, PEOPLE, WHITE CLOUDS | Nguyễn Văn Thiện

Horse frightened by lightning by Eugène Delacroix, 1825–29

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 

I fell asleep on the patio dreaming of people on white horses riding through the trees, atop the canopy. They hovered for a bit before they quietly left, the jittery horses stayed behind, cantering, and dug their hooves into the top of the trees. The horses also never wanted to stay for longer than a moment, since staying, meant they had to put up with the unbearable coolness of the spring breeze. In the morning their hoofprints would stay as fresh as those footprints left behind in the alleyway at the back of the house. But once the horses were gone, in the canopy, where the horses used to be was a grumpy gecko, mumbling, oh for heaven’s sake.

Begrudgingly I said: “Why didn’t you wake me? Which direction did the horses go?”. The gecko continued grumpily, mumbling, “It’s your fault for sleeping faced down!”. I wanted to throw a rock at it but I stopped myself. I slept with my face in the pillow; I was annoyed, but I must admit I can’t blame anyone else but myself!

I picked out seven seed-bearing fruits and conscientiously planted them in each human and hoof print, covering the holes with dirt and dust, then I waited.

I thought once the seedlings began to show, I would then go home. Those seven seeds, couldn’t all be duds, couldn’t possibly, my life, can’t be that unlucky! I chased the gecko away: “Go! I don’t want to listen to your pathetic whining”. Determined, I grabbed the tail of a silver cloud and begged: “Hey, please rain for me, right over here!”. The cloud left leaving behind its disdain. Recklessly, I took a hold of an amber ray of sunlight: “Hey, bless us with your light over here, please!”. The vain, lazy beam of light just shrugged itself from my grasp, got up, and left.

It didn’t stop me. Alone, I will make it rain, and alone I will make my light. My sweat will be the rain, my eyes the source of light, my breath the wind. The seedlings will germinate.

It felt as though the laden tiresome dreams came nearly every night, it would begin with the sound of footsteps and then the clatter of beating hoofs. And then unexpectedly, I can’t remember exactly when the green leaves broke through, they popped their heads through the earthy soil cap, and they were greener than hope. I fell back, right onto my backside, laughing out loud, I proceeded to sing a glorious melody of love.

But, the taller the tree grew, the more gangly it became, and towards the end, it was more like a bunch of knotted vines stretching for the sky.

I persisted. Even when the tree began to show no promise, alone I toiled to make it rain and light. When it comes to love and devotion I would wait another year, I could wait till next January!

The very first petals finally bloomed, they were white with hints of pink, and they were in the shape of a horse’s shoe, like the shape of perfumed lips, remnants of laughter.

I was wandering around the house, idled, dying for a drink, but I was too afraid to leave the house, I get to be a happy drunk but I might miss the people and their horses — the hoofs were like stilettos dancing on the tin roof.

Waking up day after day as though I was sleepwalking, I would automatically look for those hoofed petals. The flowers were always there, perched like they have just fallen from the sky, delicate new blooms full of anxiety.

As spring passed us by, the wind rolled across the meadow, chafing our lips. One morning after the Sun was finally awake, I stepped outside, as usual looking for my flowers, to find them gone. I suspect the wind had whisked them away like an accidental appropriation or collusion flipped over, deliberately abandoned me. 

It was evident! But there was nothing I could do, the flowers were gone. I was again left alone to make rain and light, but this time, I refused to stay and wait alone. This time I wanted another person to keep me company, another person to wait with me.

But there was no one, it made sense since I am a loner, I am unsociable! Solus, me, myself, and I was playing a dangerous game of hiding and seeking. Through the passing comments – I laughed, insults – I smiled, what kind of flower is a hoofed-shaped flower, you’re a fool – as though in a state of incapacitated childishness I laughed. I will never disclose my secrets to anyone. As the hoofprints and footprints of those visitors, they were still fresh, in my foggy web of memory.

In the middle of the night, night after night I found myself waiting for the neighing of those horses in the trees, I waited for some shadowy mirage to attend to my grave, buried dreams, anxiously I pondered if there was anyone out there like me? Carefully, I packed my bag and waited for spring, then I will head for the road, I will leave. The gecko was outside in the alley, as though he was waiting for me the whole time, its eyes followed my every step. I said, stop, stop with your cranky mumbling, especially in the middle of such lonely nights, it’s done, the horses are gone, and they will never come back. The gecko was motionless, but its eyes followed me as though it was trying to tell me something. Then there it was, the strangest thing, on the mouldy skin of the reptile, there were these white petals with hints of pink, they looked exactly like those hoofed flowers, evidence of some kind of celebration!

But what of it, the world is a big place, the sky is high, and the horizon is wide, so forget it I must, I must move on. There was something odd in the air, the wind was pungent with the scent of new grass. Hello, spring!

Ngựa, người, mây trắng

Chiều qua ngủ quên mơ thấy có người cưỡi ngựa trắng về đậu trên tán cây rộp rộp ngoài hiên rồi lại lặng lẽ đi. Người đi rồi, còn ngựa trắng thì ở lại bồn chồn gõ móng. Rồi ngựa cũng không chịu đợi lâu, vì đợi lâu, chắc là không chịu nổi gió xuân mơn mởn nên đã đủng đỉnh đi rồi. Sáng ra thấy vết chân còn mới như in ngoài ngõ. Trên vòm cây rộp rộp, chỗ đêm qua người ngựa đứng chờ, bây giờ đã có một con thằn lằn nằm im chép miệng, trời ơi…

Tôi đay nghiến: “Sao không đánh thức tao? Ngựa đi về phương nào?”. Thằn lằn chép chép chẹp chẹp mãi không thôi: “Ai bảo mày ngủ sấp!”. Tôi nhặt một hòn đá toan ném nhưng rồi lại thôi. Thì tại tôi ngủ úp mặt vào gối, đúng rồi, còn trách ai được nữa! Nhưng mà ấm ức, nhưng mà xót xa.

Tần ngần, tôi nhặt bảy hạt quả rộp rộp bỏ vào dấu chân người, dấu chân ngựa rồi lấy đất bụi lấp lại, ngồi chờ…

Tôi nghĩ, khi nào hạt nở xanh cây thì về. Những bảy hạt, không lẽ toàn là hạt lép, không lẽ, đời mình, chỉ toàn xui xẻo không thôi! Tôi đuổi thằn lằn: “Thôi mày đi chỗ khác dùm!”. Tại vì tôi không thích thở than ẽo uột. Tôi cả quyết quờ tay bắt một đám mây màu bạc: “Này, làm ơn mưa dùm vào chỗ này với!”. Đám mây khinh khỉnh bỏ đi. Tôi liều lĩnh quờ tay bắt một tia nắng mặt trời màu đỏ: “Này, làm ơn rọi dùm vào chỗ này với!”. Tia nắng kiêu kỳ lúng liếng bỏ đi…

Đã vậy, tôi cũng không cần. Tôi một mình làm mưa làm nắng, kệ tôi. Thì mồ hôi sẽ là mưa này, thì mắt nhìn sẽ là nắng này, thì hơi thở sẽ là gió này… Nào, hãy nảy mầm đi, đâm cành xanh lá đi…

Hình như đêm nào, trong những giấc mơ nặng nhọc, tôi cũng nghe thấy tiếng bước chân và tiếng gõ móng bồp bộp bên thềm. Sáng ra, thấy hạt đã nảy mầm, lòng hân hoan rạng rỡ. Rồi một ngày, không còn nhớ rõ ngày nào, những chiếc lá xanh đội đất nhú lên, xanh hơn cả niềm hi vọng. Tôi ngồi bệt xuống, vừa cười vừa hát, một bài hát yêu thương.

Nhưng không hiểu làm sao, cây càng lớn thì càng khẳng khiu, và cuối cùng thì hoá thành chùm dây leo rối rắm vươn thẳng lên trời…

Không dễ gì tôi bỏ cuộc đâu, tôi bướng lắm mà kiên trì lắm lắm. Nếu đã tin yêu rồi sẽ chờ cho đến ra giêng! Dù cây khẳng khiu, dù một mình phải làm mưa làm nắng.

Thế rồi những cánh hoa đầu tiên cũng nở, trắng phơn phớt hồng, nhưng hình móng ngựa, như hình môi thơm, như dấu vết của tiếng cười…

Những ngày qua, tôi thơ thẩn trước nhà, dù rất thèm rượu nhưng không dám đi, sợ khi mình say rồi thì người ngựa lại về đứng đợi bên hiên vắng. Đến cả trong mơ cũng còn nghe tiếng móng gõ như tiếng guốc khua giòn, náo động.

Mỗi lần tỉnh giấc, tôi lại một mình mở cửa ra nhìn những cánh hoa rộp rộp, như người mộng du. Hoa vẫn đó, như từ trời cao đậu xuống, mong manh như vừa mới lột, đầy lo âu…

Thế rồi sắp sửa sang xuân, gió cuộn mình lăn tròn qua trảng cỏ, rát mặt. Buổi sáng khi mặt trời thức giấc, tôi bước ra nhìn thì hoa không còn nữa. Tôi nghi, gió đã cuốn đi rồi, như một sự tình cờ chiếm đoạt hoặc thông đồng lật lọng bỏ tôi đi.

Dấu vết còn rành rành ra đấy! Mà thôi, dù sao cũng đã đi rồi. Giờ thì vẫn còn lại một tôi, tiếp tục làm mưa làm nắng, nhưng tôi sẽ không ngồi chờ nữa. Tôi sẽ kéo theo một ai đó, cùng chờ…

Nhưng không hề có ai cả, phải rồi, xưa nay tôi có chơi với ai đâu! Tôi một mình một cõi, tôi một mình với một trò chơi trốn tìm mạo hiểm. Ai đó đi qua, khen, tôi cười cười, ai đó đi qua, chê, tôi cũng chỉ cười, ai đó hét vào mặt, hoa rộp rộp là hoa gì, đồ ngớ ngẩn, tôi cũng chỉ biết cười, như bọn trẻ thiểu năng. Tôi không nói ra đâu, bí mật của đời tôi đó, dấu chân ngựa và người đến thăm tôi bữa nọ, vẫn còn mới nguyên trong kí ức mịt mùng…

Chỉ một tiếng ngựa hí trong đêm thôi mà chờ đợi, chỉ một bóng hình về thăm thẳm trong mơ thôi, mà nôn nao thương nhớ, có ai như mình không nhỉ? Chắc là không, vậy thì mình giống ai? Chắc chắn cũng không. Tôi xếp hành lí xong rồi, chỉ chờ gió xuân cất cánh, là đi. Vừa ra khỏi ngõ thì thấy thằn lằn nằm đợi, nhìn theo. Tôi nói, thôi, mày đừng chép miệng trong đêm vắng, dù sao thì ngựa cũng không về. Thằn lằn vẫn nhìn theo. Mà lạ chưa, trên da thịt mốc meo của loài bò sát, thấy còn in rõ ràng sắc trắng phơn phớt hồng của cánh hoa rộp rộp hôm nào, như dấu vết một cuộc giao hoan! Không lẽ là…?

Nhưng mà thôi, trời cao lồng lộng, mà thôi, gió lạ thơm mùi cỏ đã nôn nao. Chào nhé, mùa xuân!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

the words in gold | Lê Vĩnh Tài

Manly beach, Australia. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A short story in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

I bled listening to you talk, do you remember. You would tell us these amazing fairy tales about the words in gold.

When I left after your stories, the sea was completely placid. It was nothing but a red reflection due to the dull greyish boat’s headlights. A glare here and there from the water was just enough for me to work out the shape of a person.

I don’t remember exactly. The features of his face change constantly in my mind, including his fancy pompous getup and demeanour. Except for a cold heart that was ever unchanging. I was chilled to the bone. I don’t know why I listened to you so intently, the discourse in your words was made of gold. Or perhaps I was simply mad. I would wake up the next morning with wrists laden in gold bangles and bracelets made out of words in gold.

I know you’re not an ordinary thief. You’re someone who’s looking for gold. Or perhaps you’re the last prospector at sea? You want people to dig a tunnel with you through the aching loneliness of the sea, and of course, there will be diggings in the streets. Not a simple job. I realised after attaining the words in gold, I will always be red. Oh forgive me, victims of my beloved sea. I can but console myself, if something went wrong, and the price of gold is not so hot right now.

Like me, you will not sell the gold you just gathered. Those with hundreds of rings, necklaces, alluring bracelets often sell them without knowing the true value of their gold.

Gold is someone else’s pain, but in contrast a source of your joy. Gold is also the air I breathe, inhaling it through the nights I dance in the moonlight, unlike our ancestors who stayed up only to sharpen their swords.

Now and then I would ponder about the fate of my treasure trove full of gold. I decided, once there was enough, I will forge a bust of myself from pure gold, unadulterated, brilliant gold, take it out on a boat and drop it into the sea. It makes us happy when no one dares lay their eyes on it. In order to confirm that there will always be words of gold deep within your heart and mine.

But different is our relationship with the sea, it will be a bond of agony for us all, dragging on and on brilliantly, endlessly, forever blue…

___

June 2021

NHỮNG CHỮ VÀNG… 

Bạn nhớ không, tôi đã chảy máu khi ngồi nghe bạn phát biểu. Bạn hay kể một câu chuyện cổ tích tuyệt vời về những chữ bằng vàng.  

Khi tôi quay về sau khi nghe bạn nói chuyện đêm hôm ấy, biển vắng tanh. Nó chỉ được chiếu sáng bởi ánh sáng màu đỏ quạch của đèn pha sứt mẻ từ những con thuyền màu xám xịt. Chút ánh sáng lẻ loi hắt lên từ những vũng nước, vừa đủ cho tôi nhìn thấy, hình như có một dáng người. 

Tôi không thể nhớ chính xác được. Hắn ta luôn luôn thay đổi gương mặt trong bộ nhớ của tôi, cả thứ trang phục cầu kỳ đỏm dáng. Chỉ có trái tim băng giá của hắn thì không bao giờ thay đổi. Tôi thấy lạnh buốt. Không biết lý do tại sao tôi lắng nghe bạn, với bài phát biểu viết bằng những chữ vàng. Hay chỉ đơn giản là tôi đã phát điên. Tôi thức dậy vào sáng hôm sau với hai cổ tay đeo đầy những vòng vàng làm bằng những con chữ.

Tôi biết bạn không phải là một tên trộm thông thường. Bạn là một người tìm vàng. Hay là một thợ mỏ cuối cùng còn lại trên mặt biển? Bạn muốn mọi người cùng với bạn đào một đường hầm trong sự cô độc đớn đau của biển, và chắc chắn rồi đây sẽ phải đào trên đường phố. Không phải là dễ dàng. Có được những chữ vàng, tôi mới nhận ra mình vẫn mãi mãi màu đỏ. Tha thứ cho tôi, những nạn nhân trên biển thân yêu của tôi. Và tôi tự an ủi mình rằng, nếu có gì không tốt thì chỉ tại lúc này vàng chưa sốt giá.

Cũng như tôi, bạn không bao giờ bán những chữ vàng bạn mới thu được. Những kẻ có hàng trăm chiếc nhẫn, dây chuyền, vòng đeo tay quyến rũ thường hay bán đi vì không hiểu giá trị của chữ vàng.

Vàng là nỗi đau của ai đó, nhưng là niềm vui của bạn. Vàng cũng là không khí của tôi, tôi hít thở mỗi đêm khi phải nhảy múa dưới trăng, không như ngày xưa tiền nhân chỉ biết thức đêm mài kiếm. 

Đôi khi tôi suy nghĩ về số phận kho vàng của tôi. Cuối cùng, khi đã tích lũy đủ, tôi sẽ làm một bức tượng bán thân của mình từ vàng ròng, tinh khiết và vàng rực rỡ, và tôi sẽ chở ra bằng thuyền để ném nó xuống biển. Nó làm chúng ta vui khi không còn ai dám nhìn nó. Để biết rằng luôn luôn có những chữ vàng trong thâm tâm của bạn và tôi. 

Nhưng tình yêu với biển thì khác, nó sẽ cùng với nỗi đau, cùng với mọi người, kéo dài và xanh biếc, mãi mãi…


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.