new year’s eve | Mai Thảo

2017 Vivid Festival, Sydney Opera House, Australia. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

alone I will step through the opening of a new year
the world dead silent in the wordless rain
startled by the crowing of another generation
from the underworld more urgent is my calling

trừ tịch

Bước một mình qua ngưỡng cửa năm
Nhân gian tịch mịch tiếng mưa thầm
Chợt đầu vẳng tiếng gà lai kiếp
Báo vẫn đêm đầy ở cõi âm


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

HAIR & HORN | Nguyễn Viện [chapter ONE]

Ngọc, Trâm và Viện. Ảnh Hân Lê chụp.

A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Lời giới thiệu: Sự tò mò của tôi thường đưa tôi đến những nơi tôi chưa bao giờ có ý định đến. Những cảm giác hỗn loạn sợ hãi rất vui rồi lại nhàm chán.

Đi chơi hay chơi với chữ đối với tôi không khác gì. Nhưng chữ đưa tôi đi nhiều nơi không cần phải check-in check-out mệt mỏi nhọc nhành chào đón.

– Em mai mốt đi uống cà phê với anh.

– Em không thích nhiều người.

– Ừ thì, thì đi uống cà phê với một mình anh.

– Okê anh.

Dễ ẹc ha.

Anh không uống một giọt cồn, cả buổi tối anh sai các em hầu bia cho tôi uống thay cơm. Khi tôi bắt đầu héo như hoa anh nói mình về đi em. Ừ, để em đưa anh về.

Dễ ẹc ha.

Không một lần hỏi tại sao vì ai làm gì đi đâu với ai.

Dễ ẹc vậy mà ít người làm được ngoài những câu hỏi quan tâm lạc lõng không liên quan gì đến một người lạ lạc trên quê hương.

Tôi say nhưng tôi vẫn bình tĩnh. Tôi nhớ từng cặp mắt.

Cuối năm con rắn với những bài thơ của cậu Lý Đợi. Đọc xong vài tác phẩm của cậu tôi thấy cậu ấy cũng “hơi” du côn như tôi. Tôi thấy vui. Văn Chương vui. Viết tiếng việt rất vui. Càng ngày càng viết bớt sai chính tả dù là anh hay việt. Nên quyết định học tiếp thành một quyết định dễ ẹc.

Sang năm của con ngựa tôi muốn dịch một cuốn tiểu thuyết thứ hai. Một cách tập chung hay hơn là dịch thơ rải rác mỗi ngày. Và có thể vài năm nữa tôi sẽ trở lại dịch hết truyện kiều của anh Nguyễn Du. Nhưng năm binh ngọ mỗi ngày tôi sẽ dịch một khúc tiểu thuyết của anh Nguyễn Viện cho vui nha.

Cheers,

Nguyễn Thị Phương Trâm

#vanhocngoaibien#literaturebeyond#nguyenthiphuongtram#nguyenvien


Khi ấy, một cọng lông nách của gã nông dân mù chữ thuộc làng Mơ, xứ Mận… đã bị bứt ra khỏi nơi u tối bởi một số phận đã được tiền định. Giờ Ngọ, ngày Dậu, tháng Thân, năm Tuất… theo lịch phương Đông, gã nông dân săm soi cọng lông loăn xoăn đột nhiên ngứa ngáy và nổi đỏ ấy, đưa lên miệng thổi… Cọng lông bay vào bầu trời. Gã nói: “Hãy mang cơn ngứa của tao đi khắp thế gian.”

Theo cơn gió, cọng lông phất phơ giạt vào khe cửa nhà một ông thày đồ. Ở đó, sớm tối được nghe lời thánh hiền, thấm đẫm tứ thư ngũ kinh và truyền thống dân tộc, lông biến thành sừng. Cái sừng trâu lừng lững trên vách mà ông thày đồ cũng không nhớ có từ khi nào. Cũng trong năm ấy, thiếp của ông thày đồ hạ sinh một bé trai. Ngay khi sinh ra, thằng bé đã phô trương một con cu to khác thường. Cứng và đỏ chói lọi.

Thấu cảm được sự bí ẩn trong giấc mơ thành sừng của một cọng lông, ông thày đồ đặt tên cho con là Mao Thành Giác. Mặc dù, gia phả nhà ông vốn họ Nguyễn.

Tuy là con trong gia đình thày đồ, Mao Thành Giác vẫn phải đi chăn trâu như những đứa trẻ khác trong thôn làng. Giấc mơ thành sừng của nó càng ngày càng mãnh liệt. Bọn trẻ con thích Mao Thành Giác vì nó hiện thân cho niềm vui, sự nghịch ngợm và những ước mơ bay bổng. Nó bày đủ thứ trò tinh quái từ đánh nhau đến nhìn trộm phụ nữ tắm sông, thay quần áo. Khi mới mười hai tuổi, nó đã biết mùi háng phụ nữ và làm thủ lĩnh của đám trẻ con trong làng.

Mao Thành Giác hỏi bọn nhóc: “Tụi mày biết háng con gái có mùi gì không?” Bọn trẻ con đần cái mặt ngu ngơ, chúng chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy. “Mày ngửi rồi hả?” Nó khệnh khạng: “Tao biết những điều chúng mày không thể biết.” “Làm sao mày biết được?” “Thằng nào muốn nghe thì hãy ngồi xuống.” Vài đứa vẫn đứng. Nó ra uy: “Đứa nào không muốn nghe thì đi chỗ khác.” Tất cả bọn nhóc đều ngồi xuống. “Nghe này, tao chỉ cần làm bộ vấp ngã… rồi ôm mông cô gái mà tao muốn ngửi là xong thôi.”

Mao Thành Giác lại hỏi: “Tụi mày muốn trưa nay no nê không?” Bọn nhóc khoái chí: “Muốn… muốn…”

“Theo tao.”

Nó nhìn thấy một con trâu từ phía xa. Cả bọn kéo tới, dắt con trâu về vũng nước làng mình rồi vu vạ cho thằng chăn trâu khốn khổ kia: “Mày cho trâu tắm vũng nước nhà tao, muốn chuộc thì để phần ăn của mày lại đây.”

Bắt người khác phải khuất phục là bản lĩnh và bản chất của Mao Thành Giác.

Đôi khi hứng chí, nó bộc lộ khí phách lãnh tụ nhân dân bằng cách bắt bọn nhóc công kênh như rước vua. Nó cũng thích sai một đứa nào đó bò xuống đất làm bệ đỡ để nó đạp lưng leo lên cưỡi trâu. Không đứa nào dám trái ý nó.

Có một thằng nhóc lúc nào cũng lẽo đẽo theo Mao Thành Giác chỉ để muốn biết về cái mãi mãi bí ẩn: “Háng con gái có mùi gì?” Nó bảo: “Không tả được. Nếu mày muốn biết thì tìm cách mà ngửi.” Thằng nhóc tò mò ấy sau nhiều lần bị tát sưng mặt cũng biết được háng con gái mùi gì, nó bảo: “Khai bỏ mẹ.” Đó là háng của con bé chăn vịt ngoài rìa làng. Nhưng cũng không mất nhiều thời gian, thằng nhóc được mở mang kiến thức, rằng háng phụ nữ không chỉ có mùi khai mà còn “hấp dẫn vô cùng tận”, khi nó theo đuổi con bé đẹp nhất làng mà Mao Thành Giác đã ngửi mùi trước. Khi về già, thằng nhóc này trở thành bạn tâm phúc chuyên dẫn gái cho Mao Thành Giác giải sầu.

Không có điều gì muốn mà Mao Thành Giác không làm được. Vào năm mười lăm tuổi, nó đã biết giá trị thực sự của cái sừng trong háng nó. Tất cả các bà goá trong làng đều có thể chứng thực điều này. Họ bảo: “Chưa từng có một gã đàn ông con trai nào lẫm liệt đến thế.” Một bà táo bạo kể: “Nó giống như ống sắt nung.” Một bà khác nói: “Của ngựa chứ không phải người.” Nhưng chinh phục phụ nữ không phải là niềm vui duy nhất của Mao Thành Giác, trong tận cùng nỗi khao khát thành sừng, nó muốn cả đàn ông cũng phải quì dưới chân nó. Ông thày đồ nhìn thấy ngọn lửa nhảy múa trong tâm can cậu con, vì thế, ông càng ra sức kìm kẹp Mao Thành Giác theo khuôn phép đạo nghĩa thánh hiền và truyền thống. Nhưng ngọn lửa cuồng vọng bất trị ấy đã đốt cháy tất cả các đấng thánh và chính bản thân nó.

Khi gia đình và ngôi làng trở nên quá bé nhỏ, chật hẹp với giấc mơ hùng dũng sang trọng của nó, Mao Thành Giác quyết định bỏ nhà đi. Năm ấy, nó mười bảy tuổi.

Vào thành phố, Mao Thành Giác xin được chân phụ bếp một quán nhậu để sống qua ngày. Thành phố dạy hắn hút thuốc, uống rượu, chơi gái. Song thành phố cũng dập vùi hắn trong thân phận người làm thuê. Hắn đi từ nhà hàng này đến quán ăn nọ với mọi nỗi đắng cay của bất công. Nhưng không bao giờ hắn cho phép mình tủi nhục. Cũng chính ở nơi bị bóc lột và dập vùi ấy, một Mao Thành Giác khác đã hình thành như ma đưa lối, quỉ đưa đường. Hắn muốn vươn lên làm người nấu ăn cho cả thế giới như một người yêu nghề, chân chính. Nhưng trước khi có thể trở thành người phục vụ vĩ đại, hắn đã trải qua một cuộc trường chinh vô tiền khoáng hậu từ xó bếp các con tàu lênh đênh trên đại dương đến các loại bếp của mọi kiểu nhà hàng trên khắp các lục địa.

Năm hai mươi tuổi, Mao Thành Giác đã nắm được các yếu tính âm dương của từng loại thực phẩm cũng như làm chủ được mọi gia vị. Ông khách ở nhà hàng Mộng Xanh mà hắn được biết vốn là nhà văn, nhưng lại nổi tiếng bằng những bài báo hoa mỹ về các món ăn, từ dân dã đến sang trọng. Một người biết tuốt của giới văn chương chữ nghĩa An Nam.

Ông ta khen hắn về món giò heo giả cầy: “Cậu thật công bằng.”

Hắn ngạc nhiên, lễ phép: “Thế là sao ạ?”

Ông nhà văn tợp một ngụm rượu trắng, thong thả nói: “Vì cậu vẫn giữ được phẩm giá cho heo trong khi tôn vinh mùi vị của con cầy.”

Hắn hỏi lại: “Ông quan tâm đến sự công bằng?”

Ông nhà văn không kém ngạc nhiên như hắn. Ông không giấu tò mò nhìn hắn từ chân lên đầu: “Ờ… mà cậu cũng quan tâm đến sự công bằng sao?”

Hắn nhũn nhặn: “Tôi là người nấu ăn, tôi không muốn để bất cứ một thực phẩm hay gia vị nào mất chỗ đứng của nó trên lưỡi người ăn.”

Ông nhà văn đứng lên: “Tôi mời cậu một ly được chứ?”

Hắn chần chừ rồi thưa: “Dạ… nhưng chỉ một ly thôi ạ.”

Hắn nói “xin phép” rồi bước vào trong cầm ra một cái ly nhỏ tương tự như ly của ông nhà văn đang uống.

Ông nhà văn: “Xin mời.”

Hắn cúi đầu cảm tạ rồi ngửa mặt uống cạn một hơi.

“Cám ơn.” Hắn nói. “Tôi xin phép được về chỗ của mình.”

Ông nhà văn lại nhìn hắn từ đầu xuống chân như một loại động vật quí hiếm: “Cậu có lúc nào rảnh không?”

“Dạ không.” Quả thực, không rảnh. Từ sáng sớm hắn đã phải đích thân theo bà chủ đi chợ để chọn mua thực phẩm. Và tới khi đêm tàn, quán hết khách, hắn mới được nghỉ.

Ông nhà văn tần ngần, tiếc rẻ: “Tôi muốn có dịp được mời cậu một bữa riêng tư.”

Dè dặt im lặng… rồi xin phép lui, hắn cảm thấy ông nhà văn cũng không bình thường.

“Công bằng” là một từ nhạy cảm.

Lần thứ hai Mao Thành Giác gặp ông nhà văn ở sạp báo. Khi ấy, hắn bị đuổi việc vì bà chủ đã học lỏm được nghề của hắn.

Ông nhà văn mừng rỡ: “Hôm nay cậu rảnh à?”

“Dạ… chắc là còn rảnh nhiều ngày nữa.”

“Vậy thì đi với tôi.” Ông nhà văn nói.

Hắn lẳng lặng theo ông vào một quán cà-phê.

Ông nhà văn hỏi: “Có chuyện gì nói cho tôi nghe.”

Hắn nói: “Chỉ là tôi bị mất việc, thế thôi.”

“Bây giờ cậu sẽ đi đâu?”

“Tôi cũng chưa biết. Nhưng có lẽ tôi sẽ đi học. Tôi muốn nói được tiếng Pháp.”

Ông nhà văn gật gù: “Hay đấy. Nhưng cậu học tiếng Pháp để làm gì?”

Trong thâm tâm, hắn muốn đi đây, đi đó… và nấu được mọi món ăn của các dân tộc. Nhưng hắn lại tỏ bày một điều mà chưa bao giờ hắn nghĩ đến: “Tôi muốn học để đi làm cho nhà nước.”

Ông nhà văn cười cười: “Nếu vậy, cậu nên tìm cách xin vào trường Thuộc Địa.”

Hắn cũng cười cười: “Vâng, nhưng tôi cần phải giỏi tiếng Pháp cái đã. Ông biết đấy, tôi không có tiền. Ông dạy tôi được không?”

Ông nhà văn nói: “Tiếng Pháp của tôi không đủ để dạy cho bất cứ ai. Tốt nhất là cậu nên xin việc ở một nhà hàng Pháp hay một con tàu Pháp. Việc tiếp xúc trực tiếp sẽ giúp cậu học hỏi nhanh hơn. Vả lại còn có cái để sống.”

Mặt Mao Thành Giác sáng rỡ. Chân trời đã mở ra.

Ngay hôm sau, Mao Thành Giác ra bến tàu tìm gặp những thuỷ thủ mà hắn biết mặt đã từng đến ăn tại các nhà hàng nơi hắn làm việc. Hắn nhờ họ giới thiệu một chân phụ bếp. Một tuần sau, hắn đã có mặt trên con tàu ATF của Pháp đi Marseille.

Trên tàu, Mao Thành Giác học được cách chế biến các món ăn đơn giản của Pháp. Đôi khi để thay đổi khẩu vị, hắn cũng trổ tài nấu món mì An Nam. Các thuỷ thủ thích hắn vì hắn rất An Nam. Hắn tự hào: “Mình phải thế nào người ta mới quí mình chứ”. Cái thế nào của hắn là luôn luôn giả lả để làm vui lòng mọi người, như thể người khác không vui là do lỗi của hắn. Mấy gã người gốc Châu Phi thường nói với hắn về thân phận của người dân thuộc địa và nghèo đói. Họ cũng thì thầm với nhau về cuộc cách mạng vô sản ở Nga. Mao Thành Giác chưa có khái niệm gì về các vấn đề chính trị, nhưng hắn thích những câu chuyện về cuộc đời Vladimir Ilyich Lenin và cách ông ta cướp chính quyền từ Nga hoàng. Mao Thành Giác nhìn thấy thời cuộc.

Hơn một tháng sau, tàu ATF cập cảng Le Havre. Nước Pháp làm Mao Thành Giác mờ mắt. Hắn xuống tàu và không bao giờ trở lại. Lần mò đến Paris, hắn tìm được vài người đồng hương. Họ giúp hắn kiếm tiền bằng cách đi giao báo. Họ cũng dạy hắn tiếng Pháp hoàn chỉnh và dạy cách hắn viết báo để kiếm thêm tiền. Đấy là lúc Mao Thành Giác khát khao nhất được nhận vào trường Thuộc Địa, nhưng đơn xin đặc cách của Mao Thành Giác gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa không được chấp nhận, mặc dù hắn đã thành khẩn “Tôi nguyện làm tôi tớ trung thành của mẫu quốc vĩ đại.”

Một trong những người sáng lập tờ báo Những Kẻ Khốn Cùng, cơ quan ngôn luận tranh đấu cho độc lập của các nước thuộc địa, chia sẻ với Mao Thành Giác: “Việc trước tiên và cũng khó khăn nhất là khai dân trí. Sự hiểu biết là chìa khoá cho sự giải phóng bản thân và là nền tảng cho sự tiến bộ. Do đó, chính cậu cần phải học, học, học mãi…” Mao Thành Giác chẳng những biết thế, mà hắn còn biết hơn, chính sự ngu muội của đám đông mới là tiền đề cho mọi lực lượng cách mạng.

Không vì oán giận nước Pháp không cho hắn cơ hội phục vụ, Mao Thành Giác tìm cách đến với xứ sở của Lenin huyền thoại để biết sự ngu muội được dẫn dắt như thế nào. Vào Nga bằng cách đi qua nước Đức, hắn đến Matxcơva và xin được vào trường Đại học Cộng sản Phương Đông qua sự giới thiệu của Đảng Cộng sản Pháp. Nhưng chỉ hơn một năm sau, Giác bỏ học vì ngộ ra nước Nga và cuộc cách mạng vô sản không phải là chỗ của hắn. Mao Thành Giác muốn sướng. Hắn truy tìm cái sướng, nhưng ở nước Nga Xô Viết, một mặt cái sướng bị kết án như một thứ đáng khinh bỉ của chủ nghĩa cá nhân, mặt khác cái sướng toàn thể lại chỉ là bánh vẽ của những giáo điều. Hắn nhìn ra chủ nghĩa xã hội là một nghịch lý không lối thoát. Chế độ Cộng sản đồng nghĩa với đói khổ, sợ hãi và chuồng trại. Tuy nhiên, chủ nghĩa Cộng sản đã cho Mao Thành Giác một bài học lớn, vật chất quyết định cuộc sống con người cũng như xã hội, và cụ thể hơn, cái bao tử quyết định phẩm cách con người. Điều ấy làm thay đổi cuộc đời hắn.

Các nô lệ ở thế gian đã vùng lên, nhưng bao nhiêu lợi quyền không qua tay mình như lời bài hát Quốc Tế Ca, mà các nô lệ tiếp tục là nô lệ một cách triệt để hơn, toàn diện hơn cho một ý hệ và thế lực mới. Mao Thành Giác ớn lạnh sống lưng đào thoát khỏi giấc mơ đại đồng, làm cuộc cách mạng bản thân. Quay lại Paris, hắn tiếp tục con đường định mệnh, trở thành một đầu bếp chuyên nghiệp.

Nhắm mắt hay mở mắt, Mao Thành Giác lúc nào cũng lao đi như mũi tên. Hắn tìm được chỗ trú chân trong một nhà hàng thuộc loại khá ở khu trung tâm Paris, âm mưu lật đổ mọi thứ giáo điều.

Giờ của con người đã đến, Mao Thành Giác phô trương thanh thế cái sừng đỏ chói lọi trong háng. Không thể so sánh vóc dáng với đàn ông Pháp, nhưng bù lại, hắn sở hữu một cái sừng đẳng cấp thế giới, đặc biệt có khả năng co giãn không giới hạn đáp ứng được cho tất cả thể loại hang hốc phụ nữ. Con gái Pháp mê hắn. Đàn bà mọi châu lục đến Paris du lịch cũng mê hắn. Mao Thành Giác được trả tiền để phục vụ một nửa thế giới. Hắn sống trên đỉnh vinh quang của cái sừng. Nhờ thế, lịch sử của một cu-ly thuộc địa đã được viết lại cho xứng đáng với cái sừng ngoại hạng ấy. Mao Thành Giác được tô vẽ như một thành hoàng của làng Mơ, xứ Mận huyền bí… Không một phụ nữ nào ngủ với hắn mà không ra hết nước.

Mao Thành Giác, kẻ trả thù dân tộc vĩ đại nhất mọi thời đại của An Nam nhược tiểu và thuộc địa, niềm an ủi cho mọi nỗi lưu vong và khốn cùng.

Mao Thành Giác, kẻ đáng kính trong số những người đáng kính nhất bởi những món ăn của ông ta mang đến sự viên mãn cho khát vọng hạnh phúc con người.

Những món ăn được chế biến theo công thức riêng của Mao Thành Giác bao giờ cũng lạ miệng và ngon không thể so sánh. Ăn uống với thực đơn của Mao Thành Giác không chỉ là văn hoá nghệ thuật hay sành điệu, mà còn chứng thực một giá trị cốt lõi trong dinh dưỡng, tăng cường sinh lực giới tính cho tất cả nam phụ lão ấu một cách hoàn hảo.

Việt Nam vô địch muôn năm. Tiếng vọng hoan hô ấy còn âm vang đến mấy thế hệ sau.

Mao Thành Giác lừng danh Paris. Người ta truyền tụng: “Chưa ăn món ăn của Giác nấu, chưa phải là người biết sống.” Với phụ nữ, họ bảo: “Chưa biết sừng của Giác, chưa thể gọi là biết đàn ông đích thực.” Mao Thành Giác là kỳ tích văn hoá ẩm thực và tình dục của Paris trong vài thập niên trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Paris tiêu biểu cho nền văn minh phương Tây, nhưng thủ đô ánh sáng ấy không đủ cho cái cuồng hoan bất tận vô thuỷ vô chung của Mao Thành Giác. Ở đấy, nó thiếu một bóng tối của những nỗi niềm hoang sơ cội nguồn sinh thành của cái dục. Vì thế, khi một bạn cũ người Algeria trên con tàu ATF xưa kia rủ hắn về quê hương lập nghiệp, không phải suy nghĩ nhiều, Mao Thành Giác đồng ý ôm hết vốn liếng tích luỹ được bỏ Paris qua Phi Châu huyền bí, mặc dù hắn biết người Hồi giáo không bao giờ là đối tượng của cái nghề nấu ăn như hắn, nhưng sự khắt khe của luật lệ cũng như tấm mạng che mặt của phụ nữ Hồi giáo lại kích thích hắn tột độ. Hắn muốn phá vỡ mọi giới hạn. Hắn tin rằng cái gì càng bị cấm càng dễ bị cám dỗ. Mao Thành Giác mở nhà hàng riêng và đặt tên là Pieds Noirs, trước hết phục vụ kiều dân Pháp và những hậu duệ người Châu Âu trên xứ sở ăn kiêng này.

Khi chưa kịp lật tấm khăn che mặt của bất cứ cô gái Algeria trinh trắng nào, Mao Thành Giác đã bị Malika thông minh, biết và dám phô bày vẻ đẹp của mình, từng bóc tem hơn một ngàn gã trai tơ đủ quốc tịch, tụt quần.

Ma nữ thành Paris hồi hương cố xứ nhập vai cô bé quàng khăn đỏ, hỏi: “Sao cu anh to thế?”

Con sói An Nam bảo: “Nó to vì em.”

Cô gái quàng khăn đỏ Phi Châu lại hỏi: “Sao cu anh cứng thế?”

Con sói An Nam hãnh diện: “À… Nó cứng để em biết thế nào là thần thoại phương Đông.”

Cô gái giả dạng ngây thơ hỏi tiếp: “Sao cu anh chói lọi thế?”

Con sói An Nam tự hào: “Nó chói lọi cho người đời biết bướm em đã có ngày rạng rỡ.”

Ma nữ thành Paris về hưu non cười híp mắt. Hai con mắt như hai con sâu róm. Mao Thành Giác mang đến cho cô một ấn tượng kinh dị.

Thay vì bị ăn thịt, cô bé quàng khăn đỏ Malika háo hức chiêm ngắm cái kỳ quan văn hoá phương Đông, cô mơn trớn hân thưởng nó điệu nghệ bằng đôi môi dày và cái lưỡi mềm của mình. Con sói Mao Thành Giác được dẫn dắt về rừng. Và hắn qui hồi bản nguyên hoang dã.

Linh hồn hắn bị giam giữ vĩnh viễn trong âm hộ rừng rú của thần nữ ma mị này. Cái sừng bò đỏ hung hãn điên loạn đâm vào bóng tối mù mịt và ướt át của một viễn cảnh tối thượng cho sự tồn sinh, mà bốn ngàn năm văn hiến của hắn nhập nhoà vọng tưởng. Mao Thành Giác nhìn thấy Đức Brahma sáng loà trên đỉnh ngọn cương dương sấm sét. Trí huệ mở ra. Từ đấy, ý tưởng đi Ấn Độ luôn thôi thúc trong lòng hắn.

Malika sành sỏi tình dục là em gái của người bạn thuỷ thủ. Cô đủ khôn ngoan để cùng quản lý nhà hàng Pieds Noirs với Mao Thành Giác. Cô cũng có cả một dòng họ phía sau sắp hàng nhờ vả. Vì thế, hầu hết nhân viên của Pieds Noirs là anh chị em nhà Malika. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy sụp của nhà hàng này trước khi nó bén rễ được vào lòng đất khô cằn của Phi châu.

Khi chế độ thuộc địa cáo chung, hầu hết người Pháp trở về quê hương. Đám “chân đen” lai lịch Châu Âu và “bè lũ tay sai” ôm chân đế quốc thực dân cũng chạy theo Pháp, hắn không nghĩ có thể làm ăn được với người Hồi giáo ngoan đạo nên bán tống bán táng nhà hàng tiêu điều của mình di cư qua Ấn Độ.

Nhưng con tàu lênh đênh và góc bếp thân tình với những thuỷ thủ đủ loại màu da lại một lần nữa lôi cuốn hắn. Con tàu chở hàng của Phần Lan đem Mao Thành Giác đến những bến cảng và ngôn ngữ xa lạ. Nhờ thế, Mao Thành Giác học và nói được 52 thứ tiếng. Hắn cũng trải nghiệm được mọi khẩu vị của con người khắp mặt đất.

Nghiệp chướng chồng chất khi tinh trùng của hắn rơi vãi trên những nẻo đường hoang dâm vô độ, để lại nỗi tiếc hận cho phụ nữ được hắn khai mở cùng lúc đóng lại mọi mầm mống phồn thực phiêu bồng. Nhưng cũng chính oan gia nhà hắn lại cứu hắn thoát khỏi những hệ luỵ truyền giống bừa bãi. Tinh trùng hắn loãng như nước gạo.

Hành trình tới Ấn Độ của hắn bị kéo dài đến gần mười năm.

Trước khi tìm một chỗ để kiếm ăn, hắn muốn biết Ấn Độ thực sự là gì? Mao Thành Giác đã nhìn thấy tứ khổ tràn lan trên mặt đất như Phật chiêm nghiệm. Hắn cũng nhìn thấy bát chánh đạo đâu đó qua các hành giả trầm mặc dưới bóng cây như Phật giác ngộ. Hắn cũng tự tâm soi chiếu cõi tịnh tu bất chợt của mình và chỉ thấy sự lừa mị.

Làm thế nào có thể hành động vô cầu khi lòng dục chất ngất mà không bị kẹt giữa thực tại hỗn mang hoặc chết chìm trong ảo vọng? Bài học của Xô Viết Nga trở thành chân lý. Bao tử khoẻ mạnh, tứ chi phát triển và tinh anh phát tiết. Từ xứ sở kiêng thịt heo đến xứ sở kiêng thịt bò… hắn vận dụng tư duy hoá thân của món heo giả cầy An Nam vượt qua ngã chấp. Giao cấu phi giao cấu. Nghiệp phi nghiệp.

Mút mùa mê hoặc với nghệ thuật làm tình phương Đông, Mao Thành Giác chỉ muốn tu tình. Hắn tự hỏi, làm tình có giải thoát được không? Hắn đã từng kiệt sức với châu Phi nồng nàn hoang dã. Giờ đây, hắn muốn thanh thoát với cả vũ trụ nhiệm màu. Kamasutra, chiêu thức của lạc thú trần gian hay phương cách hoá giải tâm thức và đường đi đến cực lạc giải thoát? Liệu có thể ứng dụng Bhakti Yoga với tâm tình thờ phụng và hiến dâng vào Kamasutra để đạt đến hợp nhất trong một bản thể?

Nhưng đã đến lúc bao tử lên tiếng. Một ngôn ngữ thực dụng. Một thực thể thường tại. Phẩm cách và phong thái.

Ấn Độ nghèo đói và viễn tưởng. Khí trời và phương pháp hít thở phải chăng là tiếng gọi của một bao tử trống rỗng? Bể khổ trầm luân đang ở giữa chúng sinh, cũng như ở trong hắn. Không thể trải nghiệm như một tì kheo khất thực tuỳ tâm của bá tánh, bởi khẩu vị của hắn là một thứ thần linh khác, hắn nghiêm ngặt và đòi hỏi sự hoàn hảo. Lần đầu tiên trong đời, Mao Thành Giác lan man nghĩ đến cái gọi là văn hoá ẩm thực, triết lý ăn uống hay Yoga dinh dưỡng. Các tôn giáo đều hướng đến việc ăn chay như một liệu pháp tiết chế lòng dục. Hắn cần phải đi ngược lại và tìm một nền tảng triết học cho sự thực nghiệm tâm linh kết hợp giữa chất lượng dinh dưỡng, Bhakti Yoga và Kamasutra như một lạc thú tuyệt đối của cuộc sống con người.

Mao Thành Giác đi qua các thánh tích Phật giáo và các đền đài lăng tẩm vua chúa từ Ấn Độ đến Nepal để tìm cảm hứng kinh doanh. Hắn nhận ra nền tảng của tâm linh cũng chỉ là tham vọng vật chất. Không có vật chất thì không có Thượng đế.

Cuộc tuần hoàn ăn, ngủ, đụ, ỉa của cuộc sống con người là khởi nguồn và kết thúc một sinh mệnh. Tâm linh chỉ là sự biến thái và kết quả của cuộc tuần hoàn ấy. Vì thế, ăn không chỉ là biện pháp mà còn là cứu cánh cho hạnh phúc.

Mao Thành Giác về bên sông Hằng linh thiêng lập một lữ quán, phục vụ ăn-ngủ-đụ-ỉa cho chúng sinh.

Có kẻ cầm búa đến và nói: “Tôi có một cái búa.”

Hắn từng nghe nói về người này. Cái búa để đóng đinh và nhổ đinh. Hoặc đập vỡ mặt một ai đó như người này vẫn thường làm.

Mao Thành Giác nói: “Tôi cũng có một cái búa. Ngoài ra, tôi còn có cái liềm. Ông biết công dụng của cái liềm chứ?” Vừa nói hắn vừa đưa tay lên ngang cổ cứa như cắt lúa.

Người cầm búa bỏ đi. Rồi trở lại vào hôm sau với nhiều cái búa hơn, ông ta nói: “Mi phải nộp phạt.”

Mao Thành Giác tỏ vẻ ngạc nhiên: “Sao lại phải nộp phạt cho ông?”

Ông ta nói: “Đây là lãnh địa của bọn tao. Mày chưa xin phép…”

Mao Thành Giác cười xởi lởi: “Ồ… vậy thì tốt quá. Người anh em, hãy cho người của ông đến đây. Hãy làm việc cho tôi. Các ông và cả vợ con các ông nữa. Tôi có rất nhiều thứ cho họ. Sữa, mật ong, cà-ri, vải vóc và than củi…”

Người cầm búa và thuộc hạ của ông ta qui phục Mao Thành Giác, kẻ hào phóng ban phát miếng ăn và áo ấm.

Mao Thành Giác dạy cho đàn ông cách phụ bếp nấu ăn và sự trung thành. Hắn cũng dạy cho đàn bà cách phục vụ và làm hài lòng khách hàng. Riêng món đặc sản bò giả nai nổi tiếng của lữ quán Sông Hằng, hắn chỉ truyền nghề cho những kẻ được tuyển chọn đặc biệt sau một nghi thức bí mật.

Không bao lâu, hệ thống lữ quán Sông Hằng của Mao Thành Giác đã có mặt khắp Ấn Độ và các nước Nam Á khác. Với slogan “Thụ hưởng & Giải thoát”, thương hiệu Sông Hằng mang đến cho khách hàng của mình một trải nghiệm trái nghịch nhưng hấp dẫn, vừa tràn đầy hương vị trần gian vừa thoát tục siêu phàm với những món ăn cực ngon mà không đầy bụng. Không thể tìm thấy ở đâu khác.

Thật ra, sự phát triển của hệ thống lữ quán Sông Hằng không phải lúc nào cũng êm xuôi. Mao Thành Giác từng đối diện với muôn vàn khó khăn tưởng như không thể vượt qua nổi, nếu hắn không mang theo bùa hộ mạng luôn đeo trên cổ. Đó là một miếng vải vàng to đúng ba phân vuông, trên đó thêu hình búa liềm màu đỏ và những hoa văn nhỏ máu. Bất cứ ai nhìn thấy tấm bùa này cũng tự nhiên đái ra quần. Nỗi sợ không kiểm soát được. Một bóng ma của nhân loại xuất hiện từ giữa thế kỷ 19 ở Âu Châu. Theo nó hay không theo nó, người ta đều có thể chết vì búa đập vào mặt hoặc lưỡi liềm cắt cổ. Mỗi khi đối diện với nguy cơ thất bại trước một đối thủ sừng sỏ hay một kẻ sách nhiễu khó chịu trong chính quyền, Mao Thành Giác đều sử dụng đến quyền năng của lá bùa này.

Mỗi tháng, Mao Thành Giác đều có các vị khách quý đến thăm:

Cảnh sát khu vực.

Công an kinh tế cấp quận và thành phố.

Công an hình sự cấp quận và thành phố.

Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy.

Nhân viên Phòng tài nguyên môi trường.

Nhân viên thuế vụ.

Nhân viên kiểm soát an toàn thực phẩm.

Nhà báo các loại.

Các ban ngành đoàn thể từ trung ương đến địa phương.

Càng nhiều người đến thăm, càng chứng tỏ mình như thế nào, anh cựu nông dân Mao Thành Giác tự đắc. Hắn sử dụng mặt trái của cuộc sống như thế mạnh của mình và không làm ai phải thất vọng khi ra về. Một ông chủ đích thực, hắn ban phát và gia ân. Những kẻ sách nhiễu, hắn coi như bọn ăn cắp vặt và chấp nhận như một lẽ thường tình ở đời. Nhưng ngay cả với các đối thủ cạnh tranh, trong mọi trường hợp, hắn vẫn là con người hoà bình. Thần chết còn thương lượng được huống chi con người ta, hắn vẫn nói đùa thế. Triết lý hoà bình và phương châm hành động của hắn: “Cuộc sống chỉ là một cuộc thương lượng.” Tuy nhiên, hắn không cho phép ai chiếm thế thượng phong.

Có một nguyên tắc mà Mao Thành Giác buộc mình tuân thủ, không lạm dụng hay quấy nhiễu tình dục nhân viên dưới quyền. Nhưng với cô gái lựu đạn em út của gã cầm búa, hắn đành phá lệ.

Amanat múa hát huyền hoặc. Giọng cô như tiếng vang của núi rừng. Mỗi khi cô nhảy múa, mọi loại dương vật các kiểu đều ngỏng đầu cách mạng. Bọn đàn ông phát điên. Vú cô không lủng lẳng nhưng Mao Thành Giác cảm nhận nó như hai quả lựu đạn đã rút kíp. Mông cô tròn được treo trên cặp giò suông thẳng, khiêu khích như hai quả bom. Amanat thách thức cái chết. May thay, cô vẫn còn trinh trắng. Bên cạnh cô, cái búa của ông anh luôn nhắc nhở những kẻ liều lĩnh. Mao Thành Giác biết lợi hại của cái búa ấy trước khi biết sự nguy hiểm của cô. Nhưng chẳng có điều gì mà hắn không thương lượng được. Vượt qua mọi lề luật cổ hủ Ấn Độ, Amanat trở thành của riêng Mao Thành Giác, đơn giản như nó phải thế. Khi ấy Amanat mười bảy tuổi.

Dưới tác động của chất lượng dinh dưỡng theo công thức cường dương thoát tục, Mao Thành Giác đã thực hành Bhakti Yoga trong toàn bộ các tư thế của Kamasutra với báu vật Ấn Độ. Và nàng, giống như một nữ thần uyên nguyên, đón nhận sự tận hiến của Giác suốt bốn mươi chín ngày đêm không ngừng nghỉ trong niềm hoan lạc chất ngất vô sở trú. Tất cả mọi thần linh đã chứng giám cho sự viên thành của Giác và Amanat về diệu pháp giả tướng chân như này. Món thịt heo giả cầy An Nam hay bò giả nai trên đất Ấn của Mao Thành Giác đã hoá giải mọi chấp trước của lý sự.

Amanat nói: “Tất cả mọi tế bào, tất cả máu me trong người em đều nhảy múa.”

Mao Thành Giác cũng thú nhận: “Còn hơn cả chìm xuống đáy sông Hằng, hay mất hồn trên đỉnh Himalaya, anh biến tan vào tánh không của bản thể và cái huy hoàng của vũ trụ.”

Amanat trở thành bà chúa của Mao Thành Giác. Huỷ diệt và độ lượng.

Nhưng sự giàu có do Mao Thành Giác mang lại đã nhanh chóng làm hỏng Amanat. Cô thích phô trương sự sang trọng của mình và điều ấy đã làm mất đi phần nào niềm đam mê nhục dục thần thánh vốn là bản chất và sự thu hút của cô.

Amanat biến đổi từ một con bồ câu cần mẫn ái ân thành một con công khoe mẽ.

Mao Thành Giác bỏ quên cô trong lâu đài ven sông và chú tâm vào kinh doanh.

Khách hàng muốn đến ăn ngủ trong các lữ quán Sông Hằng phải đặt chỗ trước. Người ta đồn rằng, ăn ở Sông Hằng sẽ hưng phấn như mãnh thú mùa động tình, ngủ ở Sông Hằng sẽ không mộng mị, yêu nhau ở Sông Hằng sẽ được giải thoát. Bản thân ông chủ Mao Thành Giác cũng nổi tiếng không kém khi tất cả đàn bà con gái đều kháo nhau về cái sừng đỏ không bao giờ oặt xuống của hắn.

Vào đêm rằm mỗi tháng, Mao Thành Giác mở cửa miễn phí nhà hàng của mình cho chị em không phân biệt tuổi tác, mỗi người một lần, được ăn uống thỏa thuê và uống rượu không giới hạn. Không một ai đã ăn và uống ở Sông Hằng lại không lên cơn dâm dật. Đêm ấy, Mao Thành Giác cúng dường cái sừng đỏ của mình cho mọi khát vọng phụ nữ. Và phụ nữ, không một ai không tuột hết ruột gan ra ngoài và kiệt sức trong vòng dăm ba phút. Họ đã làm chứng cho thực đơn của Sông Hằng cũng như nếm trải một kinh nghiệm không có lần thứ hai về tuyệt đỉnh khoái lạc.

Mụ vợ mông bành của người cầm búa, cũng như những bà vợ khác từng được nếm mùi chiếc sừng đỏ của Mao Thành Giác trong háng, không thể không hoài niệm niềm cực lạc siêu thoát ấy, mỗi đêm. Điều ấy làm người cầm búa nổi giận. Những ông chồng quyền lực khác ghen tức. Họ đồng lòng tố cáo Mao Thành Giác làm băng hoại luân lý và hỗn loạn trật tự xã hội. Hắn bị đưa ra trước toà án nhân dân. Những người đàn bà yêu hắn phản đối bằng cách tuyệt thực tập thể. Nhưng toà án vẫn tuyên án, Mao Thành Giác bị xử ba năm tù và đóng cửa vĩnh viễn hệ thống lữ quán Sông Hằng.

Dẫu sao, tiếng tăm của Mao Thành Giác cũng giúp hắn được biệt đãi trong tù. Hắn được đặc cách cho đi chợ nấu ăn phục vụ đám cai ngục. Bọn này vốn rảnh, giờ đây được tăng lực bởi thực đơn của Mao Thành Giác, chúng trở nên hung hãn vô độ. Tất cả đàn bà con gái trong nhà giam đều bị chúng hãm hiếp mỗi ngày.

Ngoài ba bữa nấu ăn, Mao Thành Giác không phải làm gì. Hắn có đủ thinh lặng và riêng tư để trầm tưởng về cuộc đời và ý nghĩa của nó.

Nhà tù không khắc nghiệt, nhưng cũng mất tự do, Mao Thành Giác nghĩ về cách làm lại cuộc đời. Hắn cần đổi chiêu, đổi cả thương hiệu của mình để biến thành một người khác, được kính trọng theo lẽ thường. Và biết đâu… hắn có thể làm chủ cả thế giới này. Cu-ly và vĩ nhân chỉ là một khoảng cách may rủi. Cơn mơ mộng mới ngọt ngào làm sao.

Mao Thành Giác nôn nóng ra khỏi tù. Hắn sẵn sàng đút lót bọn cai ngục để được khoan hồng giảm án. Nhưng bọn cai ngục ưa thích món ăn hắn nấu hơn tiền. Vì tiền không mua được những cơn động dục nóng bỏng và tràn trề năng lượng. Hắn ở tù đúng ba năm. Cay đắng vì uổng phí thời gian và tinh hoa của mình cho bọn súc vật.

Chán ngấy Ấn Độ, Mao Thành Giác cuốn gói sang Mỹ.

Cập cảng Boston cổ kính, hắn tìm được việc tại một nhà hàng trên đường School. Ngoài chuyện độ nhật qua ngày, hắn muốn nghiên cứu phong cách và sở thích ăn uống kiểu Mỹ. Khác với Paris, khác với Alger và khác với các thành phố nhếch nhác của Ấn Độ, Boston gợi ý cho hắn về một cuộc cách mạng ẩm thực mà hắn tin rằng chỉ có thể thành công trên đất Mỹ, nơi chấp nhận sự thay đổi.

Khi ấy, đại cách mạng văn hoá của Mao Trạch Đông bùng nổ ở Trung Quốc. Tin tức về các vụ đấu tố giết người hàng loạt cũng như cao trào huỷ diệt văn hoá truyền thống một cách điên cuồng của đám Hồng Vệ Binh làm máu trong người Mao Thành Giác sôi sục hứng khởi. Đêm tối từ phương Đông đã bao phủ địa cầu. Ngu dốt đạt đỉnh. Bầy đàn phô trương sức mạnh. Chưa bao giờ Mao Thành Giác lại cảm thấy gần gũi máu thịt với Mao Trạch Đông đến vậy. Người cầm lái vĩ đại đã ở trong hắn. Mao Thành Giác phất cờ. Hắn quyết định bỏ Boston lên New York, trung tâm của thế giới. Tại đây, hắn đọc thơ Charles Bukowski và la cà với bọn giang hồ ở khu Harlem. Nước Mỹ được nhìn từ đáy.

Mao Thành Giác, kẻ nứng cặc khôn nguôi, thích mùi của các phụ nữ đậm màu. Đêm nào không ngửi mùi cơm cháy trong háng Jane, hắn không ngủ được. Cũng như Malika, mùi bò rừng ở Algeria. Amanat, mùi dê non ở Ấn Độ. Mùi mắm của các bà goá ở quê nhà. Giờ đây Jane, đêm của đế quốc Mỹ làm hắn ngây ngất. Các em trắng ngần ở Paris không để lại một dư vị nào.

Mao Thành Giác nói với Jane: “Anh có cảm giác như cả không gian này chỉ có mùi em. Mùi hành tây, mùi thịt nướng và cả mùi bơ sữa nữa. Anh cũng ngửi thấy cả mùi mía ngọt…”

Và mùi của Jane như một khải thị từ sâu thẳm. Mùi con đực và mùi con cái bao giờ cũng mang đến một cảm thức hồi hướng cội nguồn. Mao Thành Giác đã biết cuộc cách mạng của mình bắt đầu từ đâu.

Các nhà viết sử, các nhà báo, các nhà văn và cả các nhà tư tưởng hẳn sẽ ghi nhớ sự kiện trọng đại này, cuộc cách mạng ẩm thực làm thay đổi thế giới và cảm xúc con người bắt đầu từ những đêm Mao Thành Giác úp mặt trong háng đen đủi của Jane.

New York rộng lớn, nhưng không ở đâu thích hợp hơn khu Chinatown để Mao Thành Giác mở nhà hàng ăn uống và nhà nghỉ Ánh Sáng Phương Đông của mình. Cùng với slogan “Thụ hưởng & Giải thoát” như hồi ở Ấn Độ, bảng hiệu Ánh Sáng Phương Đông còn có một ghi chú “Ăn chay nhưng không kiêng thịt”.

Trong khi các món chay ở Châu Á thường giả thịt cá bằng rau củ, đậu hũ và nấm… thì ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông, công thức chế biến hoàn toàn ngược lại, thịt cá biến thành rau củ… Vì thế, các món ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông luôn mang đến cho thực khách một cảm giác thanh tao thực vật, cũng như thấm đẫm ý vị chay tịnh đầy màu sắc tôn giáo.

Để làm được điều này, Mao Thành Giác ngâm tẩm tẩy mùi cho thịt cá rồi tạo hương vị mới bằng cách kết hợp các loại rau thơm theo các tỉ lệ khác nhau, tạo nên mùi người đủ các sắc tộc. Đặc trưng và gây nghiện. Đồng thời tẩy não người tiêu dùng thông qua các mật chú Tây Tạng và những kiến giải tâm linh. Tu tại tâm.

Mỗi món ăn mang một tên gọi như kinh cầu, mật chú hướng đến khát vọng an bình, chân tính và giải thoát, nhưng tác dụng cụ thể vào cơ chế vận hành thân xác lại trái ngược. Món “Lễ hiến tế Chúa Trời” bò nướng than có thể mang lại cảm giác muốn giết người. Hay món “Cánh chim hoà bình” bồ câu chiên nước mắm có thể tạo ra sự kích thích dâm dục. Hoặc món “Om Ah Bira Khe Chara Hum” heo tiềm thuốc bắc, tụng niệm 7 lần trước khi ăn có thể chuyển hoá thịt thành cam lồ và giải nghiệp xấu của việc ăn thịt, nhưng lại mang đến sự hưng phấn toàn diện cho người ăn. Món “Om Kuru Kulle Hri Svaha” gỏi gà xé phay, vừa ăn vừa tụng niệm sẽ giúp may mắn trong kinh doanh, đồng thời tạo ra sự thu hút, quyến rũ… cả về tinh thần lẫn thể xác.

Hiểu biết luật pháp Mỹ, Mao Thành Giác cho đăng ký bản quyền toàn bộ tên gọi cũng như công thức chế biến thực phẩm của mình.

Như thế, cuộc cách mạng ẩm thực của Mao Thành Giác đã bắt đầu bằng các tên gọi mang tính giả danh và món ăn thực chất là giả tướng.

Mỗi món ăn đều có bản hướng dẫn nghi thức tiếp nhận cũng như ý nghĩa và tác dụng của nó. Cái ăn là gốc của mọi sự. Vì thế khi ăn, không được văng tục, chửi thề. Ăn món nào, hướng tâm vào tên gọi của món ấy. Thụ hưởng và giải thoát.

Trong lúc ca tụng J. Krishnamurti, người ta cũng không quên Mao Thành Giác như một người giải phóng truyền thống và bạo lực tinh thần. Suy tôn một đức tin mới, nhưng Mao Thành Giác không tìm kiếm sự minh triết, hắn tin vào sự linh thiêng nội tại của các phẩm vật thiên nhiên mà trời đất đã ban tặng cho con người. Ăn là đạo của sự sống. Người Mỹ hoan hô hắn và họ đã đến với Mao Thành Giác như kẻ tiên tri cho một thời đại mới. Dưỡng sinh là dưỡng dục.

Cũng như mọi nhà hàng khác của Mao Thành Giác xưa nay, tất cả mọi thực khách đến với Ánh Sáng Phương Đông đều phải đặt chỗ trước và đăng ký thời gian ngồi tại nhà hàng. Đã xảy ra nhiều trường hợp như của gia đình nhà Williams gồm vợ chồng và hai con, khi tới lượt họ được mời vào nhà hàng thì ông chồng đã không thể có mặt vì đã ly dị vợ trước đó hơn một năm. Không thiếu những cặp tình nhân đặt chỗ từ lúc họ mới yêu nhau, nhưng khi có thể ung dung ngồi thưởng thức sự lãng mạn của mình trong nhà hàng thì đã phát sinh người thứ ba, đứa con mới ra đời. Những trường hợp bất khả kháng như thế, Mao Thành Giác luôn chấp nhận thiệt thòi để làm vui lòng khách đến.

Rồi Mao Thành Giác mở nhà hàng thứ hai ở Washington DC. Và trong mười năm kế tiếp, hắn đã có chi nhánh ở 52 tiểu bang nước Mỹ. Mỗi tiểu bang chỉ có một thánh đường ăn uống duy nhất mang tên Ánh Sáng Phương Đông, bởi Mao Thành Giác muốn người ta phải đến nhà hàng của hắn như một cuộc hành hương.

Có tin đồn rằng, các cựu tổng thống Mỹ đều đã từng đến ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông. Qua đấy, họ nhận thức được giá trị của cuộc sống không là vinh quang hay quyền lực mà ở sự đơn giản và chân thực. Có một cựu tổng thống đã đăng ký ăn liên tiếp một tháng mỗi năm cho đến khi ông ta qua đời. Ông coi đây là thời gian để bảo dưỡng tinh thần và điều chỉnh sức khoẻ.

Người ta cũng truyền tụng, các cặp vợ chồng hiếm muộn có thể tìm thấy hạnh phúc về đường con cái nếu được ăn uống theo thực đơn của Mao Thành Giác.

Nước Mỹ không chỉ là nơi người ta đến kiếm tiền làm giàu và thụ hưởng tự do. Nước Mỹ cũng không chỉ là nơi có thể truyền bá mọi tư tưởng, mọi lối sống. Không phải Israel mà chính nước Mỹ mới là đất hứa của Chúa. Mao Thành Giác xây cho mình một biệt phủ mô phỏng kiến trúc Tử Cấm Thành của Trung Quốc trong khu Chinatown thành phố San Francisco. Tại đây, hắn tìm hiểu cuộc đời Mao Trạch Đông và đọc các trước tác của ông này. Hắn vẫn tin rằng, hắn có máu huyết với người cầm lái vĩ đại, mặc dù hắn được sinh ra ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước tác của Mao Trạch Đông không ảnh hưởng gì đến hắn. Thậm chí, hắn còn cho rằng có thuộc lòng “Mao Chủ tịch ngữ lục” cũng không bổ ích bằng ăn một bữa tại nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông. Mao Thành Giác chỉ ngưỡng mộ con người này về cách ông ta chiếm đoạt quyền lực và vận hành quyền lực trong đời sống xã hội. Tính cách đế vương, độc tài và tàn nhẫn, sử dụng sinh mạng con người như công cụ, Mao Trạch Đông là đỉnh cao, hội tụ và điển hình cho các loại vua chúa phong kiến và vô sản. Các thông tin mang tính ngoại sử về sinh hoạt tình dục của Mao Chủ tịch càng làm cho Mao Thành Giác cảm thấy mình gần gũi hơn với ông ta.

Tại Biệt phủ Mao Thành Giác, mỗi năm cứ vào dịp tết nguyên tiêu, hắn lại tổ chức tuyển chọn một trăm gái đẹp mới cho mình, chia ra ở trong năm cung, và đặt tên theo ngũ hành. Cung Kim dành cho gái da trắng, Cung Thổ dành cho gái da vàng và nâu, Cung Thuỷ dành cho gái da đen, Cung Hỏa dành cho gái da đỏ. Hắn ở cung Mộc là màu của bầu trời và cây cỏ trên mặt đất. Mỗi đêm, hắn ngủ với bốn cô, bốn màu da khác nhau như cách giao hoà với trời đất. Hắn cho rằng, khi ngũ hành tương sinh mọi điều tốt đẹp, vì thế, không những hắn thường làm tình với bốn cô một lúc, đồng thời hắn còn cho các cô làm tình với nhau. Ngoài ra, khi ngẫu hứng vào ban ngày, hắn chơi trò “bịt mắt bắt dê”, dành riêng cho các cô thích bạo dâm.

Mao Thành Giác, cũng như mọi vua chúa ở phương Đông, tin rằng tinh anh và hơi hướng của gái trẻ có thể là một phương thuốc trường sinh bất lão.

Sảnh Thiên Đường nằm trong Cung Mộc rộng mỗi chiều bốn mươi thước, trống trơn, chỉ có hoa treo trên các vách tường. Nơi đây dành cho đêm cuối tuần. Tất cả một trăm cô đều có mặt. Họ tổ chức các cuộc thi xem ai dâm đãng nhất, làm tình kiểu cọ đẹp nhất.

Khi ấy, “Hiệp hội các Đầu bếp Thế giới” được vận động thành lập. Mao Thành Giác tham gia với tư cách sáng lập viên và ngay nhiệm kỳ đầu tiên, Mao Thành Giác dễ dàng nhận được sự tín nhiệm của toàn thể các thành viên trong chức vụ chủ tịch. Không chỉ bằng danh tiếng của mình, Mao Thành Giác còn khuất phục các đại biểu bằng một tiệc chiêu đãi trọng thể trước cuộc bầu cử tại nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông và một đêm đế vương trong biệt phủ. Không một ai, cho dù là chủ nhân của các nhà hàng danh tiếng hay những kẻ lịch lãm nhất, thoát khỏi bị rơi tõm vào cơn thảng thốt mê cuồng khi nhấm nháp thực đơn của nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông và tận hưởng sự phục vụ vô tiền khoáng hậu của một trăm cô gái được tuyển chọn trong biệt phủ.

Mao Thành Giác được gọi là Chủ tịch Mao, nhưng để phân biệt với Mao Chủ tịch của Trung Quốc, Mao Thành Giác được gọi ngắn gọn là “Mao Chủ”.

Mao Chủ tịch của Trung Quốc thích giết người, Mao Chủ cũng muốn giết người. Dưới các chính sách của người cầm lái vĩ đại Mao Trạch Đông, khoảng 45 đến 75 triệu người đã chết theo các thống kê khác nhau. Tuy nhiên, Mao Chủ không muốn hơn thua với Mao Chủ tịch về sự hung ác, hắn có cách khác. Cho dù các cuộc điều tra sau này của FBI xác nhận tất cả các cô từng ngủ với Mao Thành Giác, sau khi bị rũ bỏ đều tìm cách tự sát, nhưng FBI không thể kết tội hắn. Có một sự thật không được khám phá, ngay cả với các nhà tâm lý trị liệu, tất cả các cuộc tự sát ấy đều có cùng một nguyên nhân, thiếu cái sừng đỏ của Mao Thành Giác trong háng hoặc không còn được ăn các món ăn do Mao Thành Giác nấu. Một cảm thức tuyệt vọng và bơ vơ cùng tận. Cái chết giải phóng họ khỏi niềm hoài cảm và nỗi ám ảnh khôn khuây.

Mao Thành Giác là sự sống và cái chết.

Nếu Mao Trạch Đông với chỉ riêng phong trào toàn dân diệt chim sẻ đã khiến cho khoảng 36 triệu nông dân Trung Hoa chết đói vì mùa màng thất bát, thì Mao Thành Giác cần cho thế giới biết sự vĩ đại chân chính của mình như thế nào. Nhưng dù sao, Mao Thành Giác vẫn phải học tập Mao Trạch Đông, hắn cho phát động phong trào quốc tế “Diệt ruồi cứu nhân loại” thông qua Tổ chức Y tế thế giới WHO và sự hỗ trợ thông tin của báo chí, dưới ngọn cờ bảo vệ môi trường trong sạch, bảo vệ sức khoẻ con người. Không có ruồi, ăn ngon hơn, không bị lây nhiễm các loại bệnh bởi ruồi. Mao Thành Giác đóng góp thực tế cho phong trào bằng cách tặng mỗi hộ gia đình tham gia hai vỉ đập ruồi. Tổng số lượng vỉ đập ruồi mà Mao Thành Giác đã cung cấp lên đến hàng trăm triệu cái. Chiến tích diệt ruồi của mỗi hộ gia đình, tuỳ theo số lượng ruồi chết tích luỹ được, sẽ được tưởng thưởng bằng một huy chương “Chiến sĩ diệt ruồi” do WHO trao tặng và những xuất ăn đặc biệt cho cả gia đình do nhà hàng Áng Sáng Phương Đông đóng hộp gửi đến tận nhà.

Kết quả của chiến dịch này đã cứu được hàng tỉ người trên hành tinh thoát chết vì tiêu chảy. Mao Thành Giác trở thành “Doanh nhân Văn hoá Thế giới”, một huy hiệu cao quý do UNESCO tuyên dương. Nhưng bọn phản cách mạng hậu hiện đại vốn coi các đại tự sự chỉ là giẻ rách, nhân sự kiện này đã đặt cho Mao Thành Giác, tức Mao Chủ một hỗn danh mới, Mao Ruồi.

Lịch sử ghi nhận sự góp phần của Mao Trạch Đông cũng như Mao Ruồi trong những tác động làm thay đổi cuộc sống con người. Nhưng hậu thế sẽ không bao giờ được chứng kiến cái khí thế toàn dân Trung Quốc dưới ánh sáng soi đường của Mao Chủ Tịch quang vinh hồ hởi phấn khởi đi bẫy chim, săn chim, đuổi bắt chim như thế nào… Cũng như cảnh tượng ba phần tư nhân loại, theo sáng kiến vĩ đại của Mao Ruồi, tay cầm vỉ đập ruồi, tay cầm cái lọ hoặc bịch nylon, thi đua bắt ruồi… nó hùng dũng ra sao.

Đã từng sống ở Ấn Độ và biết đến Mahatma Gandhi, nhưng Mao Ruồi không học được gì từ triết lý bất bạo động của Gandhi. Hắn vẫn luôn ngưỡng vọng Mao Trạch Đông, kẻ bạo loạn hoang tưởng và tận kỳ lực đến dã man, theo cách của một tên hề. Trên đỉnh vinh quang hay trên ngọn cương dương sấm sét, Mao Ruồi tự coi mình là kẻ dẫn dắt. Hắn muốn thế giới thuộc về mình. Và hắn đã làm. Thành công với phong trào diệt ruồi, Mao Thành Giác tiếp tục giương cao ngọn cờ cách mạng ba sẵn sàng “Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch” vì một nhân loại văn minh hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn. Cũng với sự hỗ trợ của WHO, chiến dịch này được cổ vũ trên toàn thể các nước Á Phi và Nam Mỹ. Cũng từ đó, chuỗi nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông đã mọc lên khắp thế giới. Ánh Sáng Phương Đông, một thương hiệu toàn cầu và thêm một lần nữa, ai không một lần trong đời đến ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông chưa phải là người biết sống.

Việc ỉa sạch là một kinh nghiệm có từ miền Bắc Việt Nam với các hố xí tập thể, được doanh nhân văn hoá Mao Ruồi nâng tầm quốc sách cho các quốc gia chậm phát triển. Ăn rồi ỉa, ỉa lấy cứt làm phân bón cho ruộng đồng. Cuộc xoá đói giảm nghèo luân hồi của cứt huy hoàng tráng lệ và đầy tính nhân văn. Lại một lần nữa, ai không từng đi ỉa ở các hố xí xã hội chủ nghĩa thì chưa thể biết đủ tứ khoái và thống khổ của con người.

Mùi cứt nồng nặc. Mùi văn hoá cách mạng. Mùi thời đại. Giá trị của cứt là giải thoát và đắp bồi. Cho dù hố xí hai ngăn là môi trường tốt nhất cho ruồi sinh sôi, nhưng vì cứt, nhân dân lại càng phải ra sức diệt ruồi. Cuộc tuần hoàn Ruồi – Ăn – Ỉa trở thành một hành trình bất tận của phong trào thi đua yêu nước được các chính quyền khắp châu lục phát động theo từng quý.

Mùa xuân, chiến dịch có khẩu hiệu:

“Mừng xuân toàn dân nô nức

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa hè:

“Học sinh, sinh viên hăng hái

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa thu:

“Vì cuộc sống thân yêu, phụ nữ

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa đông:

“Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch

Thể hiện sức mạnh toàn quân”

Phong trào được tổng kết sau ba năm. Liên Hiệp Quốc ghi nhận, châu Phi đạt thành tích cao nhất, chỉ số hạnh phúc của người dân đứng đầu thế giới và tuổi thọ trung bình tăng lên 5 tuổi. Cuộc cách mạng ngoạn mục nhất trong lịch sử của lục địa này.

Đây cũng là thành tựu được công luận ghi nhận và mang đến cho người dẫn đường Mao Ruồi sự vẻ vang tột đỉnh. Tự điển danh nhân thế giới xuất hiện mục từ “Mao Thành Giác”. Trong đó, Mao Ruồi được mô tả như một chiến sĩ văn hoá, người phát động các phong trào xã hội mang tầm thế kỷ và đem lại lợi ích thiết thực cho hàng trăm triệu người. Tuy nhiên, các chiến tích về cuộc cách mạng ẩm thực và tính dục chỉ được nói ngắn gọn: “Người khởi xướng phong trào Eat to Fuck.”

Nhưng Mao Ruồi đột ngột trở về Việt Nam, giữa lúc vinh quang và giàu có. Cả FBI và CIA của Mỹ đều không lý giải được.

Tất cả tài sản sau bao năm tích cóp hắn bán hết và gửi tiền vào ngân hàng Thuỵ Sĩ. Mao Ruồi nặn ra một lý lịch mới, đóng vai kẻ thức ngộ và tự viết tiểu sử.

Just like that, an arm pit hair from an illiterate farmer from Mơ village, in the land of Mận... as predestined was pulled out from a dark damp hole. The hour of the horse, the day of the rooster, the month of the monkey, the year of the dog... according to the Lunar calendar, the farmer trying to ease an itchy inflamed lump pulled out the curly hair without much thought, brought it up to his lips and brew... The arm pit hair flew into the sky. He said: "Take my itch and pass it around the world."
In the wind, the suspended arm pit hair drifted through a gap in the door of a teacher, thầy đồ. Thầy đồ is an educated man who had failed too many exams to pass as a Mandarin scholar. Here in the gap, day and night were the sound of genteel saints, reciting the Four Books and the Five Classics, a collection of authoritative texts fundamental to Confucianism together with what were essential to the prosperity of tradition, the hair turned into a horn. Before long on the teacher's wall the imposing ox horn was proudly displayed. In that same year, his wife gave birth to a baby boy. The boy from birth was endowed with a large penis. Bright red and hard.

Fully grasping the significance of the hair aspiration of becoming a horn, the failed Mandarin named his son Mao Thành Giác. Even though, he was born into the house of Nguyễn.

Even though his father is thầy đồ, Mao Thành Giác still had to tend to their ox like all the other children in the village. His dreams of becoming a horn as the days passes by became more and more earnest. The children in the village loves Mao Thành Giác because of his likable disposition, curious nature and dreams that made them felt as though they too could fly. His mind never stopped thinking about their next mischievous adventure from fighting to peeking at girls bathing in the river, or getting change. By the time he was twelve, he could sniff out the smell of a woman's crotch and the boss of all the children in the village.

Mao Thành Giác asked the children in the village: “Do any of you know the smell of a girl’s crotch?” The children looked both stunned and stupid by the question, nothing like that have ever entered their mind. “Have you smelt it?” Prancing he announced: “I know things, none of you know about.” “How?” “If you want to know, sitting down.” Some of them did not sit down. He then said: “Get lost if you don’t want to listen.” All the children sat. “Listen, all I had to do was pretend to trip… grab onto the hip of the girl I want to smell and it’s done.”

Mao Thành Giác again asked: “Lunch today, do you guys want a feast?” The children now really excited: “Yeah… Yeah…”

“Follow me.”

He spotted an ox far away. The gang of them gathered around the ox, pulled it back to the water hole in their village to harass the poor kid who was herding the ox: “You let your ox wash in our water hole, leave your lunch here if you want it back.”

The nature and character of Mao Thành Giác amounts to his ability to force others into submission.

Sometimes, enthusiastically he would reveal the vigour of the leader of a nation by making the children carry him on their shoulders in a procession as though he was a king. He was also keen on having one of the kids on all fours on the ground so he can use them as a stool to get onto the back of his ox for a ride. The children, none of them dare go against him.

One of the smaller boys followed him every where only because he wanted to know about what was infinitely a mystery: “What does a girl’s crotch smells like?” He replied: “You can’t describe it. Find a way if you want to know what it smells like.” The poor kid after being slapped black and blue so many times eventually found out for himself the smell of a girl’s crotch, he said: “Smells like pee.” And that was the crotch of the little girl who herds ducks on the outskirts of the village. It didn’t take much time before the small boy’s mind blossomed, not only does the female crotch smells like pee but that it was “infinitely attractive”, even though Mao Thành Giác have already had the first sniff he still chased after the prettiest girl in the village. When this small boy grew up, he became the confidant, he was the one who brought girls over to console Mao Thành Giác.

There was nothing Mao Thành Giác could not do. When he turned fifteen, he was fully aware of the value of the horn in his crotch. All the widows in the village can attest to it. They said: “Never before has there been a man with such a magnificent instrument.” One daring woman recounted: “It’s hot like an iron pipe.” Another woman claimed: “It’s more horse than human.” But conquering the female disposition was not Mao Thành Giác greatest joy, within his deepest desire of becoming a horn, he also wanted the men to at his feet kneel. His father, the esteemed teacher of the village seeing the flame danced within his son’s heart, hence forth, he put more energy into taming Mao Thành Giác’s behaviour with moral principles, sage practices and tradition. But there were no cure for a fanatical flame of desire that had burned everything that were sage within him, himself included.

When his family and the village became too small, too narrow too tight compared to his heroic elegant dreams, Mao Thành Giác left his family, his home and village. The year he turned seventeen.

In town, Mao Thành Giác first job was a kitchen hand at a place where generally men go to drink, quán nhậu, he earned enough money for food and board. Town taught him how to smoke, drink, sleep with women. The condition aligned with life in town was his crushing work load as a hired help. He worked from one eatery to the next accumulating all the possible pain and injustice. But not once did he allowed himself the humiliation of pity. The actual places where he were both used and crushed, standing was the form of a different Mao Thành Giác led as though by some nefarious entity, evil force, down a dark path. He wanted to be the best chef, an inpiration to the world, as someone who genuinely loves his work. But before he could be this magnificent person of service to society, he had to surpass a payless epic journey never to be repeated by a stove in a hole on a boat across the ocean docking at all kinds of kitchens restaurants possible places serving food all over the continent.

By the time Mao Thành Giác was twenty, he had managed to grasp the delicate yin and yang nature of each ingredient in his kitchen, a master of spices. A patron of Nhà Hàng Mộng Xanh was a writer that he later discovered was a florid food critic, from street food to fine dining. A person of know-how in the world of literature in An Nam.

The writer complimented Mao Thành Giác on his special “Giò heo giả cày”, a dog stew that used pork in place of dog meat: “You are a very fair man.”

Surprised, he politely asked: “I don’t understand?”

The writer swallowed a mouth full of white wine, took his time before replying: “Because you have manage to retain the value of pork and at the same time appraised the flavour of dog meat.”

He asked again: “You care about fairness?”

Like him, the writer was no less surprised. He made no attempt to hide his curiosity, the writer eyes surveyed Mao Thành Giác from head to toe: “Sure… and is fairness something you also care about?”

With the utmost humility Mao Thành Giác replied: “I am a cook, I will not allow a single ingredient to lose its spot on the tongue of those who comsume my food.”

The writer stood up: “If it’s okay, may I invite you to join me for a drink?”

He hesitated before replying: “Yes but, just one.”

“Please, excuse me for a moment” he apolgised before turning back towards the kitchen to fetch a small glass similar to the same glass that was in the writer’s hand.

The writer: “Please.”

Respectful Mao Thành Giác bow his head before lifting his chin to swallow the alcohol in one gulp.

“Thank you.” He said. “I have to get back to my station.”

The writer eyed him from head to toe again as though he was a rare exotic creature: “When will you be free again?”

“I’m sorry, but that was it.” And it was true, there was no spare time. He accompanied his boss to the market in the morning to buy the ingredients. He can only leave after all their patrons leave, and that was pretty late into night.

The writer was quiet for a moment, somewhat disappointed: “I want to invite you for a private meal.”

Astute and quiet… was his apology before retreating, he thought the writer was not quite all there.

“Fairness” was a sensitive terminology.

The second time he saw the writer again was at a newstand. It was when, his boss had learned all his tricks in the kitchen so he was suddenly out of a job.

The writer was openly glad: “Are you free today?”

“Yes… and I will be free for many days to come.”

“Then come, come with me” the writer said.

Quietly he followed the writer into a cafe.

The writer asked: “What’s wrong, tell me.”

He replied: “I just lost my job, just that.”

“Where are you heading to now?”

“I don’t know. But I thought about going back to school. I want to learn French.”

The writter nodded encouragingly: “That’s good. But why are you learning French?”

Deep within his heart, was the desire to go places, travel… and master the cuisines of the world. But instead he revealed something that had never entered his mind: “I want to learn it so I can get a job in government.”

The writer chuckled: “In that case you should try and apply to get into École Coloniale.”

He also chuckled: “Yes, but I have to be fluent in French before I can apply. As you can see, I don’t have money. Can you teach me?”

The writer said: “My french is not enough to teach anyone. You probably get a better chance learning French if you apply for a job at a French restaurant or a French cruise ship. The one on one contact would also be the fastest way for you to learn. And a way to earn a living.”

Mao Thành Giác face lit up. The sky suddenly opened up.

The next day, at the ship dock, Mao Thành Giác searched for the sailors who were regular patrons where he used to work. He asked them if they can help him find a work as a kichen hand on their ship. A week later, he was on the AFT, a French carrier heading for Marseille.

On the carrier, Mao Thành Giác learned how to prepare simple french dishes. Sometime for a change he would reveal his talent in the kitchen by making An Nam ramen. The sailors loved him because he was very An Nam. He was very proud: “There must be something about me people like so much”. That something of his were the lies he told so people can feel good about themselves, as though if they did not feel good it was his problem. African descendants on the carrier would often tell him stories about the plight of those who have been colonized and impoverished conditions. There were whispers of a proletarian revolution in Russia. Mao Thành Giác then had no concept of any kind when it came to politic, but he loved the stories about the life of Vladimir Ilyich Lenin and how he seized power from the Tsar. Mao Thành Giác saw the times.

More than a month later, the AFT was wharfed in Havre. Blinding was France in the eyes of Mao Thành Giác. He descended the ship and never looked back. When he found himself in Paris, he stumbled upon a couple of his countryman. They helped him survive by delivering newspaper. They also taught him proper French and how to write for the paper to earn extra cash. It was then that Mao Thành Giác’s desire to get into École Coloniale most, but the application he sent to the minister of École Coloniale was denied, even though he sincerely pleaded, “I pledge to be a loyal servant of the great motherland.”

One of the founder of of The Wretched publication, media outlet fighting for independence of colonized nations, shared with Mao Thành Giác: "The first and foremost hardest task is the enlightenment of the people. Knowledge is the key to the liberation of one's identity and the foundation for progress. Hence, you must get an education, and this education is a lifetime goal..." It was something Mao Thành Giác already understood, in fact his understanding were beyond that, the ignorance of the crowd was actual premise behind all the forces of a revolution.

His resentment for France denying him a chance to serve, was the not the reason Mao Thành Giác found himself in the land of Lenin in folklore to attain the knowledge of how ignorance could be a tool used to lead people by the nose. Entered Russia through Germany, he arrived in Moscow and was accepted into The Communist University of the Toilers of the East via the recommendation of The French Communist Party. But only after a year, Giác left, realising that Russia and the proletarian revolution had no place for him. Mao Thành Giác wanted to feel good. He never stops searching for what makes him feels good, but in Soviet Russia, one hand of what makes him feel good was condemned as the contempt of individualism, on the other hand what makes him feels good were the empty promises of all those dogmata. He saw how there was no escape in socialism. How the communist regime is synonymous with starvation, fear, cages and livestock. However though Communism, Mao Thành Giác had learned a big lesson, the material gives rise to living no different to society, precisely more so, the stomach defines the attributes of the human condition. And that fact alone, changed his life.

All the slaves around the world stood up, to never hold any gains or power in their hands as promised in the National Anthem, the slaves continued to be slaves striving for efficiency, wholly bettter slaves to a new ideology and power. The spine chilling thought helped Mao Thành Giác dug his way out of this great dream of unity, a revolution of his own. Returned to Paris, he continued on his destined path, he became a chef.

Eyes opened or closed, Mao Thành Giác was like an arrow always head first moving forward. He found a place to rest his feet at a fairly decent restaurant at the heart of Paris, conspired to overthrow all dogmata.

It was his time, Mao Thành Giác flaunted the power of the bright red horn between his legs. Though could not be compared to a Fremchman, but to compensate, what he had was a world class horn, with the unique ability to rise on command fitting all kinds of holes shape and size between the thighs of a woman. It did not matter which continent these women came from they were all obsessed with him. Mao Thành Giác was paid to serviced half the population of the world. He lived at the tip of glory of his horn. And that was how, the history of a coolie from the colony was rewritten to reflect rightly such an exceptional horn. Mao Thành Giác was drawn and coloured in like Mơ village guardian deity, in the land of Mận in folklore… Not single woman who slept with him was left wet.

Mao Thành Giác, the greatest avenger of all time of a feeble and colonial nation like An Nam, a consolation for all exiles and wretched souls.

Mao Thành Giác, more respected amongst those who were most respected because his food was able to satisfied the human thirst for happiness.

The way food was prepared from Mao Thành Giác's unique recipes were always innovative and in comparatively delicious. Dining with a menu designed by Mao Thành Giác were not just art and culture or sophistication, it was an affirmation of the core of nutrition and nourishment, for both men and women of all ages faultlessly enhanced their sexual vitality.

Việt Nam vô địch muôn năm, Vietnam undefeated, long live Vietnam. The echoes of those cheers resounding still many generations after.

Mao Thành Giác was famous in Paris. The praise by word of mouth: “If one have not consume one of Giác’s creation one have not lived.” And the women, they claimed: “If one have not been consummated by Giác’s horn one will never be able to appreciate the veracity of what is means to be truly consummated by a real man.” Mao Thành Giác was a cultural phenomenon when it comes to fine dining and the art of love making for the couple of decade before and after the second world war.

Paris representative of Western civilization, but that capital city of light was not enough for Mao Thành Giác's extreme appetite for endless revelry without beginning or end. In Paris, he was missing a dark shadow, the pure root of his desire for sex. Hence, when an old friend from Algeria, they met on the AFT sometime ago asked him to go home with him and open a restaurant, without much thought it was an obvious choice, Mao Thành Giác agreed to packed up everything he had and left Paris, followed his friend to mysterious Africa, even though he was fully aware of how muslims were not the kind of patron for the cuisine served in his kitchen, but the strick laws like the burqa Muslim women must wear was an intense turn on. He wanted to break down all the barriers. He believed that temptations easily follows always what is forbidden. Mao Thành Giác opened a private restaurant, Pieds Noirs serviced expats from France and decendants from Europe in a land of fastings.

Before there was even a chance to tear off a veil of any Algerian virgin, Mao Thành Giác had already caught the eye of the clever Malika, who knew exactly how to reveal and display her beauty, more than a thousand fresh face young men new to the game from all race colour and nationality have fallen into her hands, pulled down their pants.

The demon of Paris returned to her homeland impersonating the little red riding hood, asked: “How come your penis big?”

The An Wolf said: “It’s big because of you.”

The African red riding hood again asked: “How come you penis is so hard?”

The An Nam wolf proudly announced: “Ah… It’s hard you can experience the joy of Eastern folklore.”

The girl pretending to be innocent continued: “How come you penis is so shiny?”

Swelling with pride the wolf of An Nam said: “It’s shiny to let people of this world know today is the day your vagina will shine.”

The demon of Paris on the early retirement smiled was so wide no one could see her eyes. Her eyes were like caterpillas. She was impressed by how Mao Thành Giác could make her feel absolutely petrified.

Instead of being swallowed alive, the red riding hood Malika excitely admired the wonder of Eastern culture, she caressed and savoured it skillfully with her volumptous lips and soft tongue. The wolf Mao Thành Giác was led into the forest. And he was turned back to his wild untamed ways.

His soul was trapped forever inside the wild vigina of the goddess of demons. The ferocious, frenzied red bull’s horn pierced the murky, damp darkness of an ultimate prospect for existence, for four thousand years of civilization to hime was like a blurr. Mao Thành Giác saw the radiant Brahma atop the thunderous peak of his penis. His wisdom was awakened. From then on, the idea of ​​going to India in his heart became a mission.

Malika was an expert in bed and she was his sailor friend younger sister. She was clever enough to manage Pieds Noirs with Mao Thành Giác. She also had a long list of relatives lining up behind her asking for help. Hence, nearly all of the staff working for Pieds Noirs were in way or another related to Malika. That was also the reason for the down fall of the restaurant even before it took root became apart of the barren soil of Africa.

When the colonial regime came to an end, most French people returned to France. A bunch of “black-footed” Europeans and their “henchmen” who clung to the colonial empire also followed the French. He didn’t think he could do business with devout Muslims, so he sold off what he could of his dilapidated restaurant and emigrated to India.

But the familiar tiny stove on the carrier and sailors in various colour skin once again called him. The Finnish cargo carrier exposed Mao Thành Giác to wharfs and languages all foreign to him. Hence forth in the end, Mao Thành Giác could converse in 52 languages. He was also able to experience the taste and flavours the world could offer.

The mounting karmic consequence of his sperm scattered along the paths of his unrestrained debauchery, the regret of the women he had deflowered as his body simultaneously shuts down all seeds of procreative pleasure. He was his own worst enemy , his body saved him from the consequences of indiscriminate procreation. His sperm was as watery as rice water.

His journey toward India took nearly ten years.

Before trying to find a way to make a living, he wanted to know what India was truly about? Mao Thành Giác had seen for himself how the Four Sufferings had spread around the world as Buddha contemplated. He had also seen the quiet practice of the Noble Eightfold Path in the shades of the trees here and there like they were enlightened Buddhas. All he could see from his sudden interest in meditation was deception.

How could a selfless act not feel trapped between the chaotic reality and suffocating delusions amongst all that unrestrained lust? A lesson in Russia turned gospel. A healthy gut indicates a strong constitution of both body and mind. From a land where they do not eat pork to where they do not eat beef… he employed the concept of the embodiment of “heo giả cầy”, where pork was used instead of dog meat to make the same tradition dog stew in An Nam to overcome his ego. Copulation absent of copulation. Karma absent of karma.

Endlessly obsessed with the Eastern art of love making, the only thing Mao Thành Giác wanted to do was cultivate love. He asked himself, can making love help you let go? All his energy was once spent after a wild and passionate session with Africa. Now, all he wants is to one with the wonder of the universe. Kamasutra, an animalistic act of this world or a way to reconcile the mind or a path toward the epitome of ecstasy and release? Could applying Bhakti Yoga with spiritual adoration and devotion to the Kamasutra achieve unification within one entity?

But when the stomach growls. A practical slip of the tongue. Common reality. Character and demeanor.

The poverty and utopia of India. Where the atmosphere and technique of taking a breath were possibly dependent on a completely empty stomach? Dukkha and the inherent suffering amidst all living things, and that includes him. Receiving alms and being dependent on the generosity of other people as a mendicant monk was not how he wanted to experience life, because his taste was something else entirely, he needed a different kind of divine intervention, he harvested and demanded perfection. Mao Thành Giác thought about culinary culture for the first time in his whole life, the philosophy of nutrition and Yoga diet. Denomination of all kinds veered toward fasting as both treatment and therapy for the taming of lustful desires. He wanted to go back to the basic to find the philosophical foundation for experimental spirituality between nutritional quality, Bhakti Yoga and the Kamasutra during the day to day life were the absolute pleasure for any woman or man.


Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Journey to Freedom | Nguyễn Xuân Thiêm

Nghĩa, Thiêm, Anh, Thảo, Tùng, Trâm.

[NHẬT KÝ ĐỜI TỴ NẠN]

Journey to Freedom 

Saigon fell on April 30, 1975 

After General Duong Van Minh’s surrender order was  read on Saigon radio 

The people of the South began to live in fear…because  they had completely fallen into the hands of the North  Vietnamese communists! 

1. June 26, 1975: Following the order of the Saigon  military committee, I went to a 10-day reeducation  camp because I was a lieutenant of the Republic of  Vietnam regime, with the advice to bring enough food  for 10 days! But I was deceived by the communists! 

2. From June 26, 1975 to March 21, 1979: I had to go  to a reeducation camp but in reality it was a forced  labor prison! I was mentally threatened and always  lived in terror regardless of right or wrong, had to  confess that I had committed crimes against the  people and the North Vietnamese communist army to brainwash… physically forced to do labor; torture; hard  work every day, poor food, hunger, illness that had to  be overcome without medicine… Many people died in  the re-education camp. If they survived, they returned  with a crippled body and a crazy spirit! 

During my time in prison, my young wife courageously  raised 4 children at home, under pressure from the  ward police to study communist policies every night, to  deal with forced labor in the complex, to be beaten as a comprador bourgeois and pressured to go to the new  economic zone… 

3. From March 21, 1979: I was temporarily released to  return to my family, I still had to live under the  supervision of the ward police, had no civil rights and  had to report in detail every day where I went and what  I did? The form of a prison controlled all activities of  the people. 

4. November 20, 1980: I decided to take my family,  including my wife and 4 small children (Phuong Anh,  12 years old; Phuong Tram, 10 years old; Xuan Tung,  8 years old and Phuong Thao, 7 years old) to cross the  border to seek freedom. I thought it would be better for  the whole family to die at sea than to live under the  Vietnamese communist regime, a dictatorial regime  ruled by the Party, corrupt, violent, deceitful and  barbaric; not respecting human rights and always  terrorizing people with police state… my children would  not be able to go to school as they wished; we would  not have a place to live in the Vietnamese communist  society because they considered our family as second class citizens! on a small wooden boat with very  modest dimensions: width only 2.5 meters; length 10.0  meters; no engine because it was broken from the  beginning, passing Phu Quoc island, only relying on  the wind to blow into Thai Lan bay!!! on a boat with 40  people in the same situation. Drifting on the Gulf of  Thailand for 3 days and 4 nights without food, limited  drinking water in rough seas, stormy waves and fear of  pirates; thought we would die at sea… until November  24, 1980, our boat was fortunately rescued by a Thai fishing boat, I still remember the boat owner ‘s name  Chusan. Because at that time, out of 10 refugee boats  crossing the sea, 8 were robbed by pirates and women  ere raped. 

5. November 24, 1980 – December 19, 1980: We were  at the Chonburi/Thailand transit camp. 

6. 19/12/1980-20/01/1981: We entered the Songkhla  refugee camp/Thailand 

7. 20/01/1980-05/03/1981: We stayed at the  Panatnikom transit camp/Bangkok/Thailand. 

8. 06/03/1981: My family was accepted by the  Australian government for permanent settlement as  political refugees. 

9. 06/03/1981-15/10/1981: My family was temporarily  housed at the East Hill Hostel. 

10. 15/03/1981-15/10/1981: I worked as a carpenter  for the Everest Worthington company. 

11. 02/04/1984: My family was sworn into Australian  citizenship. 

12. 1981-1985: My family lived in Baulkham Hills/ Sydney 

13. 1982-1998: My wife was an employee of the  Australian Post Office as a mail officer.

14. 19/10/1981-03/11/2017: During  more than 36 years working in Australia,  I have served through many different  companies named: FFE(Fire Fighting  Enterprises); Quell Fire Safety; James  Hardie; Chubb Fire & Security; William;  UTC(United Technologies Corporations)  with many tasks from factory process  worker; supervisor; production manager;  NSW. Workshop and Sydney Portable  Services Manager. 

15. 1985-present (2025)… settled in  Lidcombe NSW. Sydney

Nguyễn Xuân Thiêm

Hành Trình Tìm Tự Do  

Sài Gòn sụp đổ ngày 30 Tháng 4 Năm 1975  

Sau lệnh đầu hàng của Đại tướng Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh Sài Gòn  Người dân miền nam bắt đầu sống trong lo sợ…vì đã hoàn toàn rơi vào tay cộng sản Bắc việt! 

1. Ngày 26/06/1975: theo lệnh của ủy ban quân quản Sài Gòn tôi đi trình diện cải tạo 10 ngày vì  là sĩ quan cấp úy của chế độ VietNam Cộng Hoà kèm lời khuyên là mang lương thực cho đủ 10 ngày! Nhưng đã bị cộng sản đánh lừa! 

2. Từ ngày 26/06/1975 tới 21/03/1979: tôi phải đi vào trại tập trung cải tạo nhưng thực chất là  nhà tù khổ sai! bị đe dọa tinh thần luôn sống trong khủng bố bất chấp đúng sai phải tự khai là  mình đã có tội với nhân dân và quân đội cộng sản Bắc việt để tẩy não …về thể xác phải đi lao  

động; khổ hình; vất vả hàng ngày, ăn uống kham khổ, nhịn đói, đau bịnh phải khắc phục không có  thuốc điều trị…nhiều người đã chết trong trại cải tạo nếu còn sống thì về với thân tàn ma dại! 

Trong thời gian tôi bị ở tù thì người vợ trẻ ở nhà can đảm nuôi dạy 4 đứa con nhỏ, dưới áp lực  của công an phường phải học tập chính sách cộng sản mỗi tối, đối phó với cưỡng bức lao động  trong tổ hợp, bị đánh tư sản mại bản và áp lực đi vùng kinh tế mới…. 

3. Từ ngày 21/03/1979: được tạm tha về với gia đình, tôi vẫn phải sống dưới sự quản thúc của  công an phường, không có quyền công dân và phải trình diện khai báo chi tiết mỗi ngày là đi đâu  và làm gì? Hình thức một nhà tù kiểm soát mọi hoạt động của người dân. 

4. Ngày 20/11/1980: tôi đã quyết định đưa gia đình gồm vợ tôi với 4 đứa con nhỏ (Phương Anh  12 Tuổi; Phương Trâm 10 tuổi; Xuân Tùng 8 tuổi và Phương Thảo 7 tuổi) đi vượt biên tìm tự do.  Tôi thiết nghĩ thà cả gia đình cùng chết trên biển còn hơn sống dưới chế độ cộng sản Vietnam,  

một chế độ độc tài Đảng trị, tham nhũng; bạo lực; xào trá và dã man; không tôn trọng nhân  quyền và luôn khủng bố người dân bằng công an trị…các con tôi sẽ không được tới trường học  theo nguyện vọng; chúng tôi sẽ không có chỗ để sinh sống trong xã hội cộng sản Việt Nam vì họ sếp gia đình chúng tôi là công dân hạng hai! trên chiếc thuyền gỗ nhỏ bé với kích thước thật  khiêm tốn: chiều ngang chỉ 2.5 mét; chiều dài 10.0 mét; không động cơ vì bị hư ngay từ đầu  ngang qua đảo Phú quốc mà chỉ nhờ gió thổi vào vịnh Thải Lan!!! trên thuyền với 40 người cùng  cảnh ngộ. Lênh đênh trên vịnh Thái Lan 3 ngày 4 đêm không thực phẩm, hạn chế nước uống  trong biển động, sóng bão và nỗi lo sợ hải tặc; tưởng như chết trên biển cả ….đến ngày  24/11/1980 thuyền chúng tôi may mắn được một thuyền đánh cá Thái Lan cứu vớt, tôi vẫn còn  ghi nhớ ơn tên người chú thuyền là Chusan. Vì vào thời điểm này cứ 10 thuyền tỵ vượt biển thì  đã tới 8 thuyền bị hải tặc cướp của và hãm hiếp phụ nữ. 

5. Ngày 24/11/1980-19/12/1980: chúng tôi ở trại tạm cư chuyển tiếp chonburi/Thailand. 

6. Ngày 19/12/1980-20/01/1981: chúng tôi nhập trại tỵ nạn Songkhla/Thailand 

7. Ngày 20/01/1980-05/03/1981: chúng tôi ở trại chuyển tiếp Panatnikhom/Bangkok/Thailand. 

8. Ngày 06/03/1981: gia đình tôi được chính phủ Úc chấp nhận cho định cư vĩnh viễn với tư cách  là những người tỵ nạn chính trị. 

9. Ngày 06/03/1981-15/10/1981: gia đình tôi được tạm trú tại East Hill Hostel. 

10. Ngày 15/03/1981-15/10/1981: tôi làm thợ mộc cho công ty Everest Worthington. 

11. Ngày 02/04/1984: gia đình tôi được tuyên thệ vào quốc tịch Úc Đại Lợi. 

12. 1981-1985: gia đình tôi cư ngụ tại vùng Baulkham Hills/Sydney  

13. 1982-1998: vợ tôi là nhân viên của bưu điện Úc.

14. Ngày 19/10/1981-03/11/2017: trong suốt hơn 36 năm làm việc tại Úc tôi đã phục vụ qua  nhiều công ty khác nhau tên là: FFE(Fire Fighting Enterprises); Quell Fire Safety; James Hardie;  Chubb Fire&Security; William; UTC(Unites Technologies Cooperations) vời nhiều nhiệm vụ từ factory process worker; supervisor; production manager; NSW. Workshop and Sydney Portable  Services Manager. 

15. 1985-tới nay (2025)…định cư tại Vùng Lidcombe NSW. Sydney 


Nguyễn Xuân Thiêm là ba của tôi, ông viết song ngữ anh và việt. Sau bao nhiêu năm không nói, không viết. Vì một đứa con cứng đầu như tôi, ông đã viết lại.

Tôi mong rằng ông sẽ viết thêm và viết nữa. Viết cho con cháu của chúng tôi.

Nguyễn Thị Phương Trâm

not a sound | Mai Thảo

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

left at first light as the flower bloomed without much notice
night coming home to the bough at night without much of a fight
the moon sometimes happens upon it
a lanky shadow tucked away at one corner of a wall

không tiếng

Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Old books and the same old story | Viên Linh

Viên Linh by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Viên Linh
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

a sad soul
forty with a head full of white hair
embodying the burnt books
chilling ashes of someone else’s revolution.

the injustice of the letters
broken heart with no voice
hid the bubbling desire
bottomless sadness

time passing by in the dark
playing the vinyl missing friends
scattered and exiled across the world
the old books and me and the same story

2.

us in the middle of a red hot summer
raining blood and gale
pushing to where the ghostly sail
not a single shelter

the waiting years
where were the souls I hold dear
mowing the lawn
watering the grass with my tears

in the dying light miss
the inkwell and nib
my writing desk is an abandoned crypt
demonic tears songs of mourning

3.

dormant demons and blank pieces of paper
waiting mine field
unending under currents
look for each other in nihilism

separated by the South seas
to the bottom of the East sea meet
for survival separate
for the motherland live in exile

so I’m a little sad for my so
O mournful heart

Chuyện Vãn Cùng Sách Cũ

Xưa một kẻ u cư
Bốn mươi đầu bạc trắng
Ta thân xác phần thư
Đời tro than nguội lạnh.

Chữ nghĩa đã hàm oan
Tâm kiệt cùng mực cạn
Ẩn mật chút men trong
Cất lòng sầu vô hạn.

Hầm tối tháng ngày qua
Nghe nhạc vàng nhớ bạn
Lưu lạc nơi xứ người
Sách cùng ta chuyện vãn.

2.

Chuyện ta mùa hạ đỏ
Mưa máu đẩy thuyền ma
Về đâu trời đất tận
Tìm không một mái nhà.

Mấy năm rồi ngóng đợi
Bằng hữu biệt muôn phương
Có chiều ta xén cỏ
Lệ rơi trong góc vườn.

Có chiều thương bút mực
Bàn viết như mồ hoang
Yên nằm hồn lệ quỉ
Chờ ý xuống hộ tang.

3.

Quỉ ơi đời giấy trắng
Chờ ngươi đã nhiều năm
Có nghe nghìn xác sóng
Tìm nhau ngoài hư không.

Xa nhau bờ Nam Hải
Gặp nhau lòng Biển Đông
Sinh ly thà thủy biệt
Quê hương thà lưu vong.

Chuyện ta hờn chí nhỏ
Tâm ta ừ tâm tang.


Vien Linh [1936-2024] grew up in Saigon. He made a living as a writer since 1962, and was the Editor-in-Chief of many weekly newspapers specializing in literature and art such as Kich Anh, Nghe Thuat, Khoi Hanh, Hong, Thoi Tap, Dan Ta… He was the Editor-in-Chief of Tien Tuyen Daily Newspaper of the General Department of Political Warfare for more than 6 years of military service, with editors Le Dinh Thach and Ha Thuong Nhan. He was discharged in 1972. March 28, 2024 the poet Vien Linh passed away at 11:11 a.m. in Virginia, USA, at the age of 86.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The moon in my childhood | Mai Thảo

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

[Published on Văn Nghệ BIỂN KHƠI]
[Tôi xin tặng bản dịch này cho anh Nguyễn Hưng Quốc , with whom I have found the courage to translate Mai Thảo. Thank you anh!]

Alone, Chu heads for the road. Tonight again their date did not work out as planned. Hiền said she was tired, sorry but Chu knew she was lying. Exhaustion is a woman’s form of evasion.

Hiền’s bedroom was on the third floor, in the middle of town. The window looks down into the main road. A multi-level house, accessed by a private balcony, with an elevator that takes you up, the whole bottom floor is divided into various stores. Glass panels lit up splendidly by neon lights during the day. At night, gloomy light filters through the iron grilled roller door at exactly after six in the afternoon when the live-in security guard would pull them down to lock up. Chu turned up in the middle of the commotion as doors came down amid the silence. The security guy at the door opened it up again to look out. His tired eyes watch Chu pay the taxi driver.

“I want to see Miss Hiền”.

“Miss Hiền is never home at this hour”.

Chu steps onto the pavement, looking up he smiles before adding:

“The light is on in her room. Just let me go up and we’ll see”.

The small room occupied by the guard and his family is a small space that sinks below the level of the main road. Strewn cups and ceramic tea pot. His wife leaning against their bed head, sitting still, in a state of rest not sure if she is asleep or not. The child fast asleep on an old grass mat across the patterned tile floor. Chu turns his head to look at the sleeping child, he smiles as he enters the dark hallway. The child and the mat reminds him of the small verandah of an ancestral home divided like in nature, three leaves, three rooms and two fruits. In his childhood, Chu remembered the night he had waited for a long time on the verandah of that house, watching Hiền sleep soundly in the moonlight. Now, parts of his life have been replaced with messy complications, so many one-ways standing in his way back to the past, Chu can only remember a few scattered memories like that. The dark corridor he is now in triggers no memory. People miss little, in the middle of a city. Limited emotions are confined by barriers like walls and rooftops, dry like bougainvillea. The short walk to the elevator had barely enough room for the return of old images. They are somewhere. Out of town. In the past. But then he can come here, to this place. Chu pressed the button to open the elevator door with the single image: Hiền sleeping soundly in the moonlight. The lonely image, passes by, floating, like a deserted island in the middle of a boundless pool of yellow. Chu finds himself unexpectedly sad. He lowers his head. Inside the narrow elevator shaft like a box, whoosh it takes him up.

Hiền’s room, Chu has to walk back and forth a few times before he can find the number. Here a couple of times already, and still the identical rooms get him mixed up. The doors are painted in a milky white colour. The room number pops up in copper. Chu’s hand gravitates towards his collar, he fiddles with the top button of his shirt as he readjust his cravat.

“Hi Chu, I didn’t know it was you. Where are you heading?”

Where else? Chu thought as he stepped into the room. The full-length tall boy mirror throws Chu’s outline right back at Chu standing there looking lost looking into a room dressed as opulent as the beauty of a young woman. The full face of the city zoomed in in full focus. Gleaming highways. Traffic slithering along, slips away like snakes. Low benches covered with large flowers. The lines of Hiền’s eyebrows are defined by the infinite sharp flick of her eyeliner. Heeding Hiền’s invitation, Chu sits down on one of the chairs. Unable to compose himself all of a sudden. He needed a minute to focus on his composure. To face a woman who is supposed to be Hiền. A childhood friend who he used to watch sleep in the village moonlight. Another memory came to Chu: that night Chu woke Hiền. The moonlight cuts a cool line through the paved yard. Two kids holding each other’s hand heading for Chu’s home. Another roomy paved yard. Huddled together were husbandry laborers threshing rice. The smells in the dark were more playful than during the day. Soon dawn will bring with it the preparations for the harvest, plots of fat and ripe ears of rice, cheerful voices rising louder and louder, one song after the other, the notes of their voices flying higher and higher, to after settle, perched upon the stalks of a golden harvest. The shuffling and fluttering sound of rice threshing went on and on. Until the moment Chu had taken Hiền home, the moonlight had remained consistently brilliant. The husbandry laborers would still be at it, threshing the rice.

Still in her shorts, though Hiền had already finished her makeup before Chu showed up. Cheeks roughed, her eyes appeared deeper under darkened lashes, Chu can already see in her eyes the twinkle of an evening of festivities. It’s life here, at nightfall. The party is for a Hong Kong movie actress, a famous singer from the Philippines, just flown in from Tokyo. Rows of seats placed in a line. The festivities are full of noise and more noise with all the possible unnecessary hollow praises and formalities. The fires would burn brightly before it would dim in the dance studio. The dance floor polished, the music chirpy. A mesmerizing dizzy air. All of it crosses his mind. The moonlight grew colder and packed away in a corner of his mind. Chu walks over and places a hand on the edge of the table, he leans in and looks down. He begins to regret the idea of looking for Hiền because the moon is shining in the street. He stands there for a while. When he turns around to look at Hiền, she has not moved from where she is standing. She sounds a little embarrassed:

“Sit down, don’t you want to sit down for a bit? It’s odd, you’re standing there like that”.

“Did I disturb you Hiền?”

“No. Is there a place you want to take me”.

“No,” Chu replied.

He feels that he has nothing. He has not a single thing. The evening moon over there means nothing and it is very far away from here, this place. He walks over to the window and looks down. To see how much more meaningless it is. The moonlight in pieces over the canopy, falling, slips through the gaps of the leaves. The weak yellow light is more imagined than real in the street. In the surrounding area in all four directions, at the same height as a wilderness of windows, the lights flicker far and not so far away, giving the city its chaotic depths and heights piles and piles piled on top of each other. Chu closes the window before he turns his back to the window:

“On the way here, I was hoping we could go for a walk. But it looks like you’re busy. Maybe another time. I’m going to go”.

Hiền could not hide the joy in her voice:

“I’m actually not busy, but I was going to have a nap and you turned up”.

Chu nod:

“Okay, I’m going to go”.

The bright light of those evenings. Noisy parties. The club’s dance floor vibrating and feet weaved together breathing down one’s neck:

“How brilliant is the moon tonight Chu?”

Chu’s hand is still on the window sill, with the window doors still slightly ajar.

“Why don’t you come and open the window and see for yourself”.

After that he nodded his goodbye to Hiền and left. Hiền did not move from where she had been standing. The elevator making a racket, the elevator drops through freely to abruptly stop in front of the hallway. It is not long before Chu finds himself in the street, like how just a moment not long ago he had entered, alone.

*

Hiền stood still for a while at the same spot after Chu left. The room feels significantly bigger. Chu’s presence though only for a short period completely changed the air of her room. His eyes were strangely sad. Hiền thought quietly as she walked toward her dressing table. She sat down quietly, she studied her features for a moment. The mirror reflects the lines of bright red lips. Ever lightly Hiền puckered her lips. The slight movement wakes up the colour on her lips, the shimmer. Hiền put another layer of rouge on the apple of her cheeks, stood up, walked over to the closet. The dress she had planned to wear tonight is a deep red with large embroidered flowers. Hiền opens her handbag and takes out the business card Đoàn gave her, she studies it again. Đoàn is a new friend, rich, who has been to France, only to frequent the nightclubs and coastlines to sunbake, where year after year it would attract tourists from large cities from all around the world. Đoàn have only been back for the last six months. The business card had a few lines quickly scribbled on it:

“Hiền, at eleven I will send a car to pick you up. Don’t forget, we’ll go to the dance at Liễu Guest House maybe? Then we can do whatever”.

Whatever. It is how Đoàn entertains life, how all of Hiền’s new friends live, the people in her life right now, a thoughtless self-destructive way of life without an objective or care in the world. Whatever. Hiền had fallen, fallen profoundly into this way of life. Whatever. Meaning whatever new interest might come next, new dance floor, new party or festivity, join other sightseers, life squashed and crunched up into a ball, thrown into an air of commotion and boisterous laughter, blinding flamboyant colours.

Following Đoàn’s advice, Hiền sold her house in the suburb to rent this apartment in the middle of the city. It has already been 4 or 5 months. Her new life has pushed away old memories together with old friends. This number of friends includes Chu. Not once did Chu say or indicate that Chu had ever loved her. But Hiền can feel it, her woman’s intuition dictates it when it comes to things like this, the way Chu feels about her is no longer finite, no longer confined in the past. Nor did Hiền question it. More so was that she did not want to ask. A luxurious lifestyle of changeable temperament, affecting a woman’s general view of life and the future. Hiền is apprehensive when it comes to love, serious commitment, solemn and upright like Chu. She avoids thinking about anything that would last, anything permanent. Things that make her look ordinary. What she likes to have is a very elegant bedroom. A cupboard full of the latest imported fashion. Opulence is a life she wants to live. And the ability to pertain all of it, what she likes. This is one of the reasons amongst lots of other reasons that had led Hiền toward her decision to distance herself from Chu even though her heart remains not far off. People like Chu can disappear for years, live a thousand miles away, and they might be on another path, but is impossible to cast aside. A frequent conflicting state of mind: compared to Hiền’s new friends, Chu lacks in many aspects but then again Chu on the other hand. Chu can not be compared to anyone. Chu stands alone, that image of solitude is not only truly cold but also truly beautiful. Pride is the reason for Hiền’s embarrassment each time she thinks of Chu. But right now. Even though Chu is no longer here. Chu’s last words remained:

“Why don’t you come and open the window and see for yourself”.

Hiền pushes the window open. Night descending for a while, layers of cold air settling one on top of each other. The moon perched far away, all the way on the other side, on top of the trees. The face of the moon is plump and round with a kind and bewildered countenance of a farmer’s first trip into town. The odd comparison makes her smile. Hiền conjurs up Chu’s voice in her mind, his solemn face just now, before he left.

The sadness comes back as she contemplates her position. The grand nights and all those glittery lights add up to barely enough light to light the soul. Dark and desolate in parts like the street corners no one ever ventures into. A few years back, a period of time when they had often met up regularly last. Chu was true to his words, Chu is someone who will always speak the truth – Hiền, you have a spirit that is as bright as the full moon on the brightest moonlit night. After more self reflection, that assessment is no longer true. It has changed. This spirit has a kind of light that is nothing but a flicker of brilliance the moment just before the street lamps were turned off. The lamp housing directs the light downward. To where there is nothing worth seeing. Hiền lifts her chin. Her eyes scanned the top of the trees and higher, higher than the canopy where the white clouds and alas they caught the sight of a moon with a round face. Still the same moon as before, the same as yesterday’s afternoon, but it feels now to Hiền completely different. The way one can be distracted walking in the street and only after a second look recognize a familiar face. Always from way up there, still always from way up there is Chu’s moon, and always Chu’s moon has the ability to find Hiền. But Hiền have never found her way up there, never found a way up.

*

Hiền did not see Đoàn enter. Hiền turned startled by Đoàn’s hand on her shoulder.

“Baby girl in red”.

Đoàn laughed, taking a couple of steps back before he lit a cigarette, inhales. Speaks in a style that is Đoàn:

“I believe Liễu did something rather silly this afternoon so I must take you there. Liễu will definitely regret it, but the boys, they will definitely agree. I don’t know if I should take you there Hiền, all those hundreds and hundreds of eyes in one place. I might have to fight hundreds of them off all at once”.

“I don’t want to go”.

Đoàn’s eyes opened wider as he laughed.

“I was joking, let’s go. It’s time. We shouldn’t make these people wait.

Hiền reiterate:

“Đoàn, I truly do not want to go”.

Đoàn is surprised only after the second reply. The cigarette is barely on his lips, surprised to the extent where him didn’t know whether he had already taken a puff of the cigarette or not.

Hiền takes her time approaching Đoàn.

“Please apologise to Liễu and the others for me. Just tell them that I will join you some other time”.

“Why”, Đoàn snapped. “You women are so strange, always changing your mind at the last minute”.

Hiền laughed:

“There’s nothing strange about women, so don’t ask me why. I myself do not know. Perhaps I am still a girl from a small country town. It is best you should not try to understand this girl from a small country town. I know that you are always good to me, you should go, it’s getting late. I’m fine at home alone. I put on this red dress because I knew that it would stand out next to the purple you have on. I had all the intention of going with you. But now suddenly I no longer want to go, that’s truly all there is to it Đoàn”.

The man shrugs his shoulders as he heads out.

“Đoàn”.

He turns around. The sound of Hiền’s voice did not sound real. Hiền is saying something that has no meaning to Đoàn, something that only she could understand:

“Don’t be upset with me, I will join you some other time. But please don’t come and get me on a night when there’s a moon. You must remember to never come and get me the nights when there’s a moon”.

*

The door slammed shut, the man had left, Hiền quietly turned to look at her reflection on the tall boy’s mirror. Slowly she unbuttons the row of buttons, slips her arms out of the sleeves of the red dress letting it fall to the ground. Her hands reach for the handles of the tall boy to open it. A colourful row of dresses and áo dài hung neatly together in a generous space opens up inside the tall boy. Hiền raises her hands higher to choose another dress from the hanger. Her eyes are misty. The light blue silk áo dài is what she wanted in the end and she puts it on. She returns to the dressing table, picks up a cloth to remove her lipstick, tucks her handbag in a draw. Hiền hands holding nothing as she heads for the door, she switches off the light, closes the door, walks towards the elevator. The elevator takes her to the bottom floor. Hiền meanders the dark hallway toward the front door. The security guard has not gone to sleep. He had just pulled down the iron shutters.

“Miss Hiền. Mr. Đoàn was just here to pick you up, you’re not going with him? He had only just left”.

“No, I’m not joining Mr. Đoàn. But can you help me open the shutters so I can leave”.

The iron shutters are again rolled up.

“Will you be back soon, I can wait”, enquired the security guard.

Hiền take a look outside. It’s very late but the moon will be bright the whole night. She shakes her head:

“You should retire for the night. I don’t know when I will be back, it might be a while. I’ll wake you when I’m back, don’t worry”.

Out in the street, Hiền stopped to look up. Her eyes look at the moon not to admire its pretty light, more so as a guide. Which direction should she take. She ponders as she walks: He’s probably there, at those places and nowhere else. There are four gardens in town. Four generous spaces with rock benches and pebble paths, with moonlight over them, wholesome and boundless. Hiền’s footsteps are brisk but unhurried. The moon is now brilliant over the city, it’s round and it’s high up there, it’s perched at the top of the sky for a long time now. Walking on the sidewalk beneath the canopies of the trees, eaves, feels as though she is walking on someone’s paved yard, towards the verandah of someone’s ancestral home. An old bed. A very white, very big yard. Sounds of the threshing of rice at the start of the harvest. Falling shadows of husbandry laborers. Generous moonlight drapes across their shoulders their backs, and undressed arms.

Dancing and flying on the late night footpath is the long flap of Hiền’s delicate áo dài spun in silk. Hiền head for the first garden. It is more than likely that Chu is lying on a rock bench, looking up. Hiền will stop at the entrance into the garden. She will take her time walking over to Chu. Approach Chu the way she used to when they were children. She will quietly tell him:

“Chu, can you sit up. Can fall asleep in your arms and when I’m sound asleep in the moonlight you can watch me sleep the way you used to”.

Vầng trăng thơ ấu

Chu đi xuống mặt đường, một mình. Một lần nữa cuộc đi chơi tay đôi đêm nay lại không thành. Hiền kêu mệt, xin lỗi, nhưng Chu biết Hiền nói dối. Mệt mỏi chỉ là một cớ để thoái thác của người đàn bà.

Buồng riêng của Hiền ở từng lầu thứ ba, giữa trung tâm thành phố. Cửa sổ trông xuống đại lộ. Căn nhà nhiều từng, vào bằng hành lang riêng, có thang máy đưa lên, cả một từng dưới ngăn chia thành những khu cửa hàng. Ban ngày màu sắc lộng lẫy trong những ô kính chạy dọc theo những hình đèn nêông. Ban đêm, bóng tối âm u lọt qua mấy tấm cửa sắt cứ đúng sáu giờ chiều là người gác cửa đã buông xuống. Chu đến giữa lúc tiếng sắt kêu trong im lặng. Người gác cửa mở cửa ngó ra. Y mệt mỏi nhìn Chu đang trả tiền xe.

“Tôi muốn lên thăm cô Hiền”.

“Giờ này cô ấy làm gì có nhà”.

Chu đi ra ngoài hè đường ngước mắt nhìn lên. Chàng mỉm cười nói với người gác già:

“Cửa sổ còn sáng đèn. Ông cứ để tôi lên”.

Gian buồng nhỏ của gia đình người gác cửa chìm thấp hơn mặt đường. Chiếc bình tích và những cái chén lăn lóc. Vợ người gác ngồi tựa lưng vào thành giường, yên lặng không biết thức hay ngủ. Dưới nền đá hoa, một đứa trẻ ngủ rất say trên chiếc chiếu cũ. Chu mỉm cười nhìn lại đứa trẻ đoạn đi vào hành lang tối. Manh chiếu và đứa trẻ nhỏ vừa gợi lại cho chàng hình ảnh một đầu mái hiên của một căn nhà cổ, ba gian hai chái. Ngày nhỏ, Chu nhớ có một đêm chàng đã đứng lại rất lâu ở cái đầu mái hiên ấy, ngắm Hiền ngủ bằn bặt dưới ánh trăng. Bây giờ, cuộc đời đổi thay với những khúc những nếp rối rắm, có rất nhiều khoảng ngõ cụt đứng chắn lối trở về dĩ vãng, Chu chỉ nhớ lại được vỏn vẹn có thế. Cái hành lang tối chàng đang đi vào không gợi nhớ. Người ta không nhớ nhung nhiều, giữa thành phố. Tình cảm chứa nén trong giới hạn nhất định của những bờ tường những mái nhà, khô lại như những bông hoa giấy. Đoạn đường ngắn dẫn đến trước thang máy không đủ không khí cần thiết cho những hình ảnh cũ được trở về. Hình như chúng ở đâu. Ngoài ngoại ô. Trong ngày xưa. Nhưng chúng đến được ở đây. Chu bấm nút điện mở cửa vào thang với một hình ảnh duy nhất: Hiền nằm ngủ êm đềm dưới ánh trăng. Hình ảnh cô đơn trải đi, lênh đênh, giống như một hòn đảo hoang giữa màu vàng rời rợi không bờ bến. Tự nhiên Chu thấy buồn lạ lùng. Chàng cúi đầu xuống. Khung thang hẹp như một cái hộp vùn vụt đưa chàng lên.

Buồng Hiền ở, Chu đi đi lại lại mấy lần mới tìm thấy số. Đến đây đã một vài lần, tuy vậy những căn buồng giống nhau vẫn làm chàng nhầm lẫn. Cửa sơn màu trắng sữa. Số buồng bằng đồng nổi. Chu đưa tay nắn lại cái nút cà vạt cũ.

Có tiếng chân bên trong, rồi Hiền mở cửa, hiện ra trên một nền ánh sáng xanh dịu. Nàng nhìn Chu ngạc nhiên:

“Kìa anh Chu, em lại tưởng ai. Anh đi đâu thế?”

Còn đi đâu nữa. Chu vừa nghĩ thầm vừa đi vào. Tấm gương lớn ở phía tủ áo hắt trả lại bóng Chu đứng ngỡ ngàng trước một căn phòng trang trí cũng lộng lẫy như sắc đẹp của người thiếu nữ. Bộ mặt thành phố chỉ thu nhỏ lại ở đây. Đại lộ chói sáng. Những đoàn xe nhiều màu trườn đi như những con rắn. Những bông hoa lớn bọc trên những thành ghế thấp. Đường lông mày của Hiền với những cái đuôi kẻ nhọn và dài vút như một lưỡi dao. Theo lời Hiền mời, Chu ngồi xuống một thành ghế. Chàng tự cảm thấy khó chịu vì chợt thấy mất hẳn bình tĩnh. Vì cần phải có một phút định thần. Vậy mà người đàn bà trước mặt chỉ là Hiền. Chỉ là người bạn thuở nhỏ đã ngủ thiếp dưới ánh trăng thôn quê. Chu nhớ được thêm: đêm ấy chàng đã đánh thức Hiền dậy. Trăng sáng xanh cắt vạch trên mặt sân gạch. Hai đứa trẻ dắt tay nhau trở về nhà Chu. Cũng lại một khoảng sân gạch thật rộng nữa. Những người tá điền đứng quây vào nhau đập lúa. Đêm mùa vui hơn ngày. Sớm mai lại là cánh đồng ướt sương với những thửa ruộng lúa chín mẩy hạt, điệu hò tiếng hát cất lên, bay đi, đậu xuống những thân lúa. Tiếng đập thóc rào rào. Đến lúc Chu đưa Hiền về, trăng vẫn sáng lắm. Những người tá điền vẫn đập lúa.

Chu nghĩ rằng giữa hai người tuy vậy vẫn chẳng có gì thay đổi và không ai cấm chàng có một câu nói một cử chỉ thân mật như ngày trước. Nhưng đến lúc chàng quay trở lại nhìn Hiền thì chàng lại biết ngay, hết sức rõ rệt, là cử chỉ ấy sẽ không được biểu tỏ, câu nói ấy sẽ không được nói ra. Gặp lại nhau, cuộc sống đã làm họ thành những người lớn. Với những vấn đề những tâm trạng của người lớn. Họ cùng ở giữa thành phố. Nhà Hiền gần đại lộ quá.

Còn mặc quần ngắn, nhưng Hiền đã trang điểm xong trước khi Chu đến. Hai gò má hồng đỏ, cặp mắt sâu hơn giữa những lông mi đã được đánh thẫm lại, Chu nhìn vào đã thấy thấp thoáng cái bóng dáng tưng bừng của những buổi dạ hội. Cuộc sống ở đây, khi đêm xuống. Bữa tiệc tiếp đón một nữ tài tử điện ảnh đến từ Hương Cảng, một nữ danh ca từ Phi Luật Tân, từ Đông Kinh vừa ghé xuống phi trường thành phố. Những dãy ghế kê thành hàng. Bữa tiệc ồn ồn ào ào với những nghi lễ phiền toái những lời chúc tụng kênh kiệu. Ánh lửa lòa sáng rồi lại mờ tối của một tiệm khiêu vũ. Sàn nhảy loang loáng, âm nhạc líu ríu. Không khí ngà ngà mê mê. Chu nghĩ đến tất cả những thứ đó. Một ánh trăng lạnh đọng lại trong óc. Chu đi lại về phía bàn phấn chống tay nhìn xuống. Chàng bắt đầu thấy hối hận về việc đã đến tìm Hiền mà nguyên nhân chỉ vì đêm nay thành phố có trăng thôi. Như thế một lúc lâu. Quay lại Hiền vẫn đứng ở chỗ cũ. Giọng nàng ngượng ngùng:

“Anh ngồi chơi chứ đứng đây ư? Lạ quá đi mất”.

“Hiền bận gì không?”

“Không anh ạ. Anh định rủ em đi đâu bây giờ”.

“Không” Chu trả lời.

Chàng thấy mình không có gì hết. Không có một tí gì hết. Đêm trăng trên kia vô nghĩa và cách biệt với nơi này. Chàng đi ra cửa sổ nhìn xuống. Càng cảm thấy tất cả sự vô nghĩa đó. Những mảnh trăng mờ mờ gãy vỡ giữa những bóng lá. Ánh sáng vàng yếu tầm thường của nó chỉ có thể đoán thấy mà không nhìn thấy trên mặt đường. Bốn phía xung quanh, ngang từng cao của rừng cửa sổ, những ánh đèn trập trùng xa xa gần gần làm cho đêm thành phố có chiều sâu và những tầm cao thấp chồng chất hỗn loạn lên nhau. Chu khép cửa quay trở vào:

“Lúc đến đây anh định rủ Hiền xuống phố đi bộ một lát. Nhưng thôi để lúc khác vậy. Chắc em bận, anh đi về”.

Giọng nói của Hiền vui mừng không giấu được:

“Bận thì không bận, nhưng em mệt đang muốn nằm nghỉ một lát thì anh đến”.

Chu gật đầu:

“Thôi anh về”.

Những buổi dạ hội sáng chói. Những bữa tiệc ồn ào. Sàn nhảy của một tiệm khiêu vũ sóng sánh âm nhạc và những bước chân người đan chen quấn quít phía sau lưng:

“Ở ngoài trăng sáng lắm phải không anh Chu?”

Bàn tay Chu nằm nguyên trên thành cửa đã mở hé.

“Em mở cửa sổ mà xem”.

Sau đó chàng tỏ dấu chào Hiền rồi đi khỏi. Hiền vẫn đứng nguyên ở chỗ cũ. Tiếng thang máy ầm ầm chuyển động, khung thang đổ xuống như lao rồi đứng sững lại trước hành lang. Một lát sau Chu đã ở ngoài đường, như lúc chàng vào, một mình.

*

Chu bỏ đi khá lâu rồi Hiền vẫn đứng nguyên không cử động. Căn buồng rộng hẳn ra. Sự có mặt của Chu dù chỉ là chốc lát đã thay đổi cái không khí của nó. Đôi mắt anh ấy buồn lạ. Hiền nghĩ thầm như vậy và đi lại phía bàn phấn. Nàng ngồi xuống im lặng, tự ngắm mình một lúc lâu. Tấm gương hắt trả một đường môi đỏ. Hiền khẽ nhếch mép. Vết son động đậy, ánh ánh. Hiền thoa phấn lại một lần nữa, đứng dậy đi về phía tủ áo. Chiếc áo nàng đã chọn cho đêm nay, màu nó đỏ sẫm với những bông hoa thật lớn. Hiền mở sắc tay lấy ra tấm danh thiếp của Đoàn gởi đến từ chiều, đọc lại. Đoàn là một người bạn mới, nhà giàu, đã sang Pháp nhưng chỉ để đến những hộp đêm và phơi nắng ở những miền duyên hải, năm này qua năm khác tụ hội những đoàn du lịch đến nghỉ mát từ khắp các ngả thành phố lớn của thế giới. Đoàn về nước được sáu tháng. Danh thiếp ghi mấy hàng chữ viết vội:

“Mười một giờ anh sẽ đưa xe đến đón Hiền. Nhớ chứ, buổi họp mặt có khiêu vũ ở khách thính của Liễu? Chúng mình sẽ đến đó rồi liệu sau”.

Rồi liệu sau. Tất cả lối sống của Đoàn, của những người bạn mới Hiền vẫn gặp, vẫn đi chơi với họ, cái lối sống tự hủy hoại không suy nghĩ và chẳng có một vấn đề nào đặt ra là thế. Rồi liệu sau. Hiền đã ngã vào, ngã thật sâu vào lối sống đó. Rồi liệu sau. Nghĩa là rồi lại đến khách thính khác, đi xuống những sàn nhảy, tới những buổi dạ hội những bữa tiệc, nhập vào những cuộc du lịch, tất cả cuộc sống vo tròn lại, ném vào cái không khí ồn ào những chuỗi cười lớn, lộng lẫy màu sắc nhức mắt.

Theo lời khuyên của Đoàn, Hiền đã bán căn nhà ở ngoại ô và thuê căn gác này ở giữa thành phố. Cũng đã được 4, 5 tháng. Cuộc sống mới đẩy nàng đi xa nếp sống cũ cùng những kỷ niệm với những người bạn cũ. Trong số những người này có Chu. Chưa một lần nào Chu nói hoặc có những cử chỉ nói Chu yêu nàng. Nhưng Hiền đã cảm thấy, nhờ linh khiếu đặc biệt của người đàn bà về vấn đề này, tình cảm Chu đối với nàng không đứng lại trong giới hạn cũ nữa. Hiền cũng không hỏi. Đúng hơn không muốn hỏi. Nếp sống xa hoa thay đổi tâm tính, đến cả những nhận xét quan niệm chung của người đàn bà về tương lai và cuộc đời. Hiền sợ tình yêu, thứ tình yêu trang nghiêm, đứng đắn của Chu. Nàng tránh nghĩ đến bất cứ những cái gì bền chặt, có tính chất quyết định. Thấy là mình đã trở nên tầm thường. Thích có một cái buồng ngủ thật đẹp chẳng hạn. Thích có một cái tủ đựng tất cả các thứ hàng áo mới nhập cảng. Thích được sống lộng lẫy. Và thực hiện bằng được tất cả những ý thích đó. Điều này chính là một trong rất nhiều nguyên nhân khiến Hiền tự ý xa Chu tuy thâm tâm vẫn không xa hẳn. Những người như Chu có thể khuất bóng hàng năm, xa cách hàng nghìn cây số, đi trên một con đường khác, nhưng Hiền vẫn không quên được. Một tâm trạng trái ngược mâu thuẫn: nhiều khi thử so sánh với những người bạn mới, Hiền thấy Chu thua kém họ nhiều thứ nhưng Chu đứng riêng một phía. Không thể so sánh được Chu với bất cứ một người nào. Chu đứng một mình, cái hình ảnh cô đơn ấy thật lạnh và thật đẹp. Sự kiêu hãnh của Hiền lại chính là nguyên nhân làm hổ thẹn mỗi khi chợt nghĩ đến Chu. Như bây giờ. Chu đi rồi. Câu nói cuối cùng của Chu vẫn còn lại:

“Hiền mở cửa mà xem”.

Hiền mở cửa. Đêm xuống lâu, những đợt lạnh dần dần dâng lên trong không khí. Trăng đậu thật xa, phía bên kia, trên một ngọn cây. Khuôn trăng thành phố tròn và phúc hậu từ khuôn mặt của người nhà quê mới ra tỉnh. Hiền mỉm cười về sự so sánh ngộ nghĩnh. Nàng nghĩ lại giọng nói khuôn mặt Chu ban nãy lúc Chu trang nghiêm bỏ đi.

Nhưng rồi nghĩ đến mình, buồn lại đến. Những đêm thật lộng lẫy vậy mà mấy mươi thứ ánh sáng cộng lại vẫn không sáng hết được tâm hồn. Hoang tối nhiều khoảng vẫn còn như những ngả phố vắng không có ai đi qua. Trước đây mấy năm, nhớ là thời kỳ cuối cùng hai người vẫn gặp nhau. Chu vẫn nói thành thật, Chu bao giờ cũng thành thật trong lời nói – tâm hồn Hiền sáng như một đêm trăng sáng. Tự soi ngắm lại, nhận xét ấy không còn đúng nữa. Nó đã đổi khác. Tâm hồn chỉ còn sáng cái ánh sáng lúc vụt tắt của một ngọn điện treo ngang cột đèn. Chao đèn hướng ánh sáng xuống những khoảng thấp ở dưới. Chẳng có gì đáng nhìn. Hiền ngước mắt. Cái nhìn đi từ những ngọn cây lên cao hơn, tới những đám mây màu trắng và sau cùng nó bắt gặp một vầng trăng thật tròn. Vẫn vầng trăng ban nãy, của chiều hôm trước, nhưng Hiền đã thấy nó khác hẳn. Giống như khuôn mặt người đi đường nhìn thờ ơ không chú ý đến lúc ngó kỹ lại mới chợt nhận ra một người thân. Ánh trăng Chu đến với nàng từ trên ấy, vẫn từ trên ấy. Nhưng Hiền đã không lên được tới đó, không lên được tới đó.

*

Đoàn vào mà Hiền vẫn không biết. Đoàn để tay lên vai làm Hiền giật mình quay lại.

“Cô bé áo đỏ”.

Đoàn cười rồi lùi lại châm thuốc lá hút. Đoàn nói kiểu cách:

“Anh nghĩ rằng Liễu đã làm một việc rất dại dột khi nhắc anh chiều nay thế nào cũng phải đưa em tới. Chắc Liễu sẽ hối hận, nhưng bọn đàn ông thì bằng lòng. Anh không biết anh có nên đưa Hiền đến cái chỗ có trăm mắt đổ dồn vào đó không. Chắc anh sẽ phải chống đỡ trên hàng trăm mặt trận một lúc.

“Em không đi đâu”.

Đoàn mở to mắt rồi cười phá lên.

“Nói đùa đấy, thôi đi. Đến giờ rồi. Chúng mình không nên làm cho thiên hạ đợi.

Tiếng Hiền nhắc lại:

“Anh Đoàn, em không đi thật mà”.

Bấy giờ Đoàn mới ngạc nhiên thật. Điếu thuốc lá đưa gần tới môi, sự ngạc nhiên làm Đoàn quên là phải hút hoặc phải hạ tay xuống.

Hiền thong thả đi lại trước mặt Đoàn.

“Anh xin lỗi chị Liễu và các anh ấy hộ em. Và nói hộ để hôm khác em sẽ đến cùng với anh”.

“Tại sao như vậy”, Đoàn hỏi bực tức. “Đến phút cuối cùng mới thay đổi ý kiến, đàn bà các em lạ thật”.

Hiền buồn cười:

“Đàn bà chẳng có gì lạ lùng cả đâu, anh cũng đừng hỏi em tại sao. Chính em cũng không hiểu. Có lẽ tại trong em vẫn còn một người con gái quê mùa. Người con gái quê mùa ấy anh không nên biết thì hơn. Anh vẫn tốt với em lắm xin anh đừng hỏi gì nữa và đi đi kẻo muộn. Em ở nhà một mình được rồi. Anh xem em đã mặc áo hoa đỏ này vì biết trước sẽ rất nổi bên cạnh màu tím của anh. Em vẫn định đi với anh đấy chứ. Tự nhiên không muốn đi nữa, có thế thôi anh Đoàn ạ”.

Người đàn ông nhún vai lắc đầu đi ra phía trước.

“Anh Đoàn”.

Y quay trở lại. Giọng Hiền mơ màng. Hiền nói một câu mà Đoàn không hiểu được riêng chỉ có nàng hiểu:

“Đừng giận em nhé, để hôm khác em sẽ lại đi chơi với anh. Nhưng anh đừng đến đón vào những đêm có trăng. Anh nhớ đừng đến đón vào những đêm có trăng”.

*

Tiếng cửa sập mạnh, người đàn ông bỏ đi rồi, Hiền quay trở lại phía trước tủ áo yên lặng ngắm bóng mình trong gương. Rồi nàng từ từ tháo hết hàng khuy áo, tháo khỏi tay chiếc áo màu đỏ chói để mặc nó rớt xuống mặt đất. Nàng với tay mở tủ. Dãy áo nhiều màu xếp sát nhau trong khoang tủ rộng hiện ra. Hiền với tay chọn một chiếc áo khác. Mắt nhìn mơ màng. Cuối cùng nàng chọn tấm áo lụa trơn màu xanh nhạt từ từ mặc vào. Trở lại bàn phấn, lấy khăn lau hết sáp môi, cất cái sắc tay vào ngăn kéo. Hiền đi tay không ra cửa, tắt đèn, đóng cửa lại, đi về phía thang máy. Thang máy đưa nàng xuống từng dưới. Hiền lần theo hành lang tối đi ra phía cửa. Người gác già còn thức. Y vừa hạ cái lưới sắt xuống.

“Kìa cô Hiền. Ông Đoàn vừa đến đón, cô không đi với ông ấy sao? Ông ấy vừa ở đây ra thôi”.

Hiền mỉm cười trước đôi mắt ngạc nhiên của người gác già. Nàng nói dịu dàng:

“Không, tôi không đi với ông Đoàn. Nhưng bây giờ nhờ ông mở hộ cửa cho tôi ra ngoài”.

Tấm lưới sắt lại kéo lên.

“Thế cô có về ngay không để tôi chờ, người gác hỏi”.

Hiền nhìn ra ngoài. Đã khuya lắm nhưng trăng đêm nay sẽ sáng trọn đêm. Nàng lắc đầu:

“Ông cứ đi ngủ. Chưa biết lúc nào tôi về, có lẽ còn lâu lắm. Tôi về tôi sẽ gọi ông dậy, không sao đâu”.

Ra đến ngoài đường, Hiền đứng lại nhìn lên. Đôi mắt nhìn trăng không phải để tìm một ánh sáng đẹp, còn như muốn dò hỏi một lối đi. Đoạn nàng tiến bước. Vừa đi Hiền vừa nghĩ: Phải rồi anh ấy chỉ có thể ở những nơi đó. Thành phố cả thảy có bốn vườn hoa. Bốn khoảng rộng với những chiếc ghế đá những con đường lát sỏi tráng, ánh trăng đang chiếu xuống đó, mênh mông và đầy. Hiền bước nhanh nhưng cũng không thấy vội vã lắm. Trăng sáng bây giờ trên thành phố, nó tròn nó cao thế kia, nó còn đậu ở đỉnh trời thật lâu. Đi trên bờ hè dưới bóng cây những mái hiên, mà Hiền có cảm tưởng như đang đi về một khoảng sân gạch nào, tới một đầu thềm một ngôi nhà cổ nào. Chỗ nằm ngủ cũ. Khoảng sân rộng, trắng xóa. Tiếng đập lúa đêm đầu mùa. Bóng những người tá điền đổ xuống. Trăng trải chan hòa trên những bờ vai bờ lưng, những cánh tay để trần.

Tấm áo lụa của Hiền mỏng nhẹ một vạt dài bay múa trên đường khuya. Hiền bắt đầu đi về lối vườn hoa thứ nhất. Chắc Chu đang nằm ngửa trên một tấm ghế đá, nhìn lên. Hiền sẽ đứng lại ở đầu lối vào vườn hoa. Nàng sẽ đi thong thả lại bên Chu. Gần chàng, như hồi nhỏ. Nàng sẽ nói với chàng dịu dàng:

“Anh Chu, anh ngồi dậy. Em sẽ nằm gối đầu lên cánh tay anh và em sẽ ngủ thiếp đi như ngày nào dưới ánh trăng kia cho anh xem”.


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

unnecessary | Mai Thảo

Mai Thảo by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Not a single shadow at high noon and in the boundless sky
As unnecessary as the clouds are the sunlight
Even more unnecessary is my liberal heart
Enduring an ancient pain that never part

thừa

Một vũng trời cao đứng bóng trưa
Nhìn lên bỗng thấy nắng mây thừa
Thừa thêm ta nữa tâm tiền tiến
Mà khối đau buồn rất cổ xưa


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

waiting for a friend | Mai Thảo

Trâm's sketch of Mai Thảo

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

I know the road is long and it’s late
I left the door open and the stair lights on
You’re here now and I can’t remember whence you came
in the sightless sleep came the steady raindrops

đợi bạn

Nửa khuya đợi bạn từ xa tới
Cửa mở cầu thang để sáng đèn
Bạn tới lúc nào không biết nữa
Mưa thả đều trên giấc ngủ đen


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.