BABY, DON’T BE SO SURPRISED | Lê Vĩnh Tài [479]

Nguyễn Thị Phương Trâm

Thơ Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

Published on LatinoUSA – English edition – Thank you Juan.

we love each other as though we are criminals, chained up by the whispers of our heart, the only consolation is our last resting place, a bed or a hole in the ground, by the grace of the almighty we have been protected, while you baby, continue to laugh and play, surrender to a world where you are a toy,

baby, you can laugh all you want, laugh till you’re out of breath, lose your way, find yourself in a bad situation and you’ll be crying, you won’t make a sound, you won’t be able to breathe, you won’t be able to find the air in your lungs, the so call trauma of those dreams,

the hopelessness, tell me, the pitiful agony, why do they elude us, why aren’t such pity sustainable, how pitiful can it be, when we love, we find ourself laughing at whether we are even worth the laugh, your thoughts will be the destruction of you, they are the flames that will destroy you, as you stare at the blaring screen of your smartphone, in the middle of this amorous love affair, will it be prudent for me to go and look for you,

like the way you bury your sorrow, in those perfect verses of poetry, quietly you compare me to all your obsessions so far, the vested enthusiasm you have reserved for the people you love,

my lips ignites the desire within you, wine wakes up the spirit inside you, your skin bears the mark of disdain saved for those who craves love but in turn exposes your desire,

a sincere man who saves kisses for his muse, as the desire within those eyes gives birth to jealousy, flashing before the eyes of a drowning soul trying to hold on to a rock, they feel as though they are invincible,

when someone holds firmly onto their pride, they will feel invincible, but in the eye of the ultimate marvelous feat of envy my love, you will dare not question it.

EM ĐỪNG NGẠC NHIÊN GÌ NHÉ

chúng ta yêu nhau như những tù nhân, bị xiềng xích bởi những lời thì thầm của trái tim, sự an ủi có thể là nơi an nghỉ cuối cùng của chúng ta, chiếc giường có thể biến thành ngôi mộ, chúng ta được bao bọc trong phước lành, trong khi em cứ tiếp tục vui đùa trong thế giới này, đầu hàng nó để biến thành món đồ chơi của nó,

em vẫn cười, thở hổn hển, lạc vào một con đường nguy hiểm, cùng lúc khóc thầm, ngạt thở khi vật lộn để thở, nỗi ám ảnh méo mó của những giấc mơ,

tuyệt vọng, hãy cho anh biết, nỗi khao khát lòng thương xót, sao nó lại trốn tránh chúng ta, sao lòng thương xót lại không tồn tại, thật đáng buồn khi yêu nghĩa là cười vào giá trị của chúng ta, suy nghĩ của em thiêu đốt chính em, khi em chỉ nhìn chằm chằm vào ánh sáng của màn hình điện thoại, giữa những tiếng vọng của cuộc tình lãng mạn, anh có nên đi tìm em không,

như những câu thơ tinh tế, em ấp ủ mọi nỗi bất bình, âm thầm so sánh anh với những đam mê trong quá khứ, sự nồng nhiệt mà em từng biết với những người em yêu,

đôi môi anh thắp lên nỗi khao khát trong em, rượu vang đánh thức tâm hồn em, làn da em mang dấu vết của sự khinh miệt, dành cho những ai khao khát tình yêu nhưng lại phơi bày những ham muốn của mình,

người đàn ông chân thành để cho mỗi nụ hôn thuộc về nàng thơ của mình, trong khi ánh mắt khao khát gợi lên tình yêu chỉ nảy sinh từ sự ghen tuông, trong khoảnh khắc thoáng qua khi một người sắp chết đuối bám vào một tảng đá, họ cảm thấy mình bất khả chiến bại,

nếu một người giữ chặt lòng kiêu hãnh của mình, chắc chắn cảm xúc của họ gần như bất khả chiến bại, nhưng ánh mắt, kiệt tác của sự ghen tị, làm em không còn dám nghi ngờ gì nữa,


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

THE THICK WOOLEN JUMPER | Lê Vĩnh Tài [476]

Nguyễn Thị Phương Trâm

Truyện ngắn Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

Published on LatinosUSA —Edición en español

“Are you cold?” his voice was both worried and unsure. “Definitely not,” she replied. “I’m wearing a very thick woolen jumper.” “It’s a bit tight”, he added.

“No, it’s alright”, she corrected him.

Life is absolutely beautiful to him. He had an adorable beautiful young wife, and she continues to turn his life upside down even when he is preoccupied with other people, with her thick woolen jumper even when it’s not cold.

She asked him about his plans for the night, then added: “Listen, young man, if you’re inviting your friends over, I will have to wear my thickest woolen jumper.”

He understood her reservation, and he knew he didn’t have to justify anything when their guests eventually turned up. They understand her condition, only she is oblivious to it. Everyone around her kept her condition to themself the way he would secretly shave in the bathroom.

Years back, the same jumper drove him crazy. A young woman lying across the bed, wearing a jumper with a turtle neck so beautiful he couldn’t imagine her in anything else. The woolen jumper through her warmth spoke to him, even when her hands were cold. The two of them were woven together like a woolen jumper, with the softness and warmth from her front door, during the cold autumn evenings they had dated.

.

“Who will come tonight hun?” She asked him again, her voice sounded breathless as though the rolls and rolls of yarn wrapped thickly around her feverish body were choking her.

“They’re all coming.” He replied as he fiddled with the flowers in a porcelain vase on a side table next to her hospital bed. Quietly he stared at the white wall. The wires over her hospital bed were haphazardly weaved into each other, no different to the yarn in her jumper he thought… His voice was husky: “Your parents, your little sister, your closest friends…”

She was quiet for a moment before she said, “Can you help me change all that? It feels wrong somehow, you know that. I’m in my last stage, I don’t like a lot of people, it’s too noisy.”

He understood, he knew she didn’t want to look at their awkward smiles. “It won’t be like that”, he said as he pushed the oxygen tank closer to the bed and then he proceeded to draw a thick blanket over a portrait he drew stretched out rather thinly in a frame. He was worried her jumper was not enough to keep her warm. He cried: “It’s very cold outside, but I know you will be nice and warm.”

CHIẾC ÁO LEN DÀY…

“Em có lạnh không?” Anh hỏi, giọng hơi lo lắng và nghi ngờ. “Tất nhiên là không,” nàng trả lời. “Em đang mặc chiếc áo len rất dày.” “Nó hơi chật”, anh nói.

“Nó thoải mái”, nàng chỉnh anh.

Anh thấy cuộc sống thật thật dễ thương. Anh đã có một cô vợ trẻ đáng yêu, và nàng liên tục xáo trộn đời anh cả khi anh đang có khách, với chiếc áo len dày ngay khi trời không lạnh.

Nàng đã hỏi anh về chương trình đêm nay, sau đó nàng nói: “Nghe này, anh bạn trẻ, nếu bạn mời bạn bè của bạn để làm một cuộc gặp gỡ, mọi người sẽ phải gặp tôi trong một chiếc áo len rất dày.”

Anh nhận ra lời cảnh báo của nàng, và anh biết mình sẽ không phải đính chính khi khách của nàng và anh đến. Họ biết tình trạng sức khoẻ của nàng, chỉ có nàng là không biết. Mọi người giấu nàng như anh vẫn lén cạo râu trong phòng tắm.

Nhiều năm trước, chiếc áo len này đã làm anh điên đảo. Người con gái nằm nghiêng trên giường, với chiếc áo len với cổ áo đan tuyệt đẹp mà anh không thể tưởng tượng nàng trong bất kỳ chiếc áo nào khác. Chiếc áo len đã nói chuyện với anh bằng hơi ấm của nàng, cả khi bàn tay nàng rất lạnh. Họ đã đan vào với nhau như chiếc áo len, với sự mềm mại và hơi ấm trước cửa nhà nàng, vào mỗi đêm mùa thu ngày hai người còn hẹn hò và lạnh.

.

“Ai sẽ đến với em đêm nay, anh yêu?” Nàng hỏi lại anh một lần nữa, giọng nàng như bị bóp nghẹt bởi những đường cong của chiếc áo len dày cộp bao quanh cơ thể bị sốt của nàng.

“Tất cả mọi người.” Anh trả lời và sửa lại những bông hoa trong bình sứ bên cạnh giường nàng trong bệnh viện. Anh lặng người ngắm bức tường trắng. Dây nhợ ngơ ngác đan xen vào nhau, anh thấy chúng cũng giống như chiếc áo len… Anh khàn giọng: “Bố mẹ bạn, em gái của bạn, những người bạn tốt nhất của bạn…”

Nàng im lặng một lúc, “Anh có thể giúp em thay đổi chương trình không? Em cảm thấy đó không phải là cách tốt nhất, anh biết mà. Bệnh của em đã vào đoạn cuối, nó không phù hợp với sự đông người hay ồn ào.”

Anh biết nàng không đủ sức nhìn những nụ cười gượng gạo của mọi người. “Không phải như vậy đâu”, anh trả lời nàng và đẩy máy thở ô-xy lại gần giường nàng hơn. Anh ngồi xuống bên cạnh giường nàng và vẽ một tấm chăn dày lên trên một khung tranh đã căng khá mỏng manh của anh. Anh sợ chiếc áo len của nàng không đủ ấm. Anh khóc: “Trời rất lạnh, nhưng tôi nghĩ rằng tối nay bạn sẽ rất ấm áp.”


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

HEART BOUND IS AN EPIC TALE OF THE SEA | Lê Vĩnh Tài [487]

Thơ Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

“your name missing from the sea calls you home…”

1.
“your name missing from the sea calls you home…”
but instead of calling that one person
the sea calls forth an aging civilization
wheezy
& senile

you see that I’m drifting
like a breathless lullaby
the last of humanity’s symphony

clouds after clouds pulling each other along
without the refrain verses of a song
across the sky
after a century of war
revolutional and counter-revolutional ideologies
hollow promises like seashells sunbaking in the sun

your thoughts about angels were much like your thoughts about what’s missing from the sea
vast once upon a time
now just a sound
crashing waves and delusions

2.
once upon a time, angels were messengers of God
the sea also a messenger
of the origin, of the infinite, of silence

now the angels have lost their vernacular
sea lost its green hue
novels lost turned history
angels lost because of bleeding verses of poetry
slogans are all that’s needed by humanity

angels searching for humanity as though they’re searching for their lover
“Is it worth living in such a world?”
a question like an old song
drifts away, salty, soaked by the rain
soaked by the tears beyond its expiry date

but humanity no longer has the ability to reply
since in the reply faith is a requirement
now at the bottom of the ocean
actors acting as boat people acting as lovers acting at seminars
as though they have never starved, been close to death or dying
Trùng Dương on the verge of a romantic outburst

but after a thousand years of history the vernacular
is nothing but the clanking of empty cans
at some beach in the dark
forgettable people

the dumb searching for the deaf
the deaf searching for the blind
the blind searching for who?
no one knows

the sea knows
the sea always knows
but sea can’t be bothered with a reply

3.
the sea placing the stethoscope on its chest
not to listen to its heart beat
but history

history sound like soft murmurs
like the long sigh of someone just waking up
after a long fight to a point where no one remembers why

a sound as sad as Trịnh
but as sharp as Nguyễn
and as cold as the lastest population estimate
unfathomable number of human bodies
when floods follows the correct “procedure”
when human life is no different to mental arithmetic

philosoplers claiming
“humans are an end in themselves”
but history claiming
“humans are the means”
as life in a whisper say
“humans are the unexpected cost”

echoes like crashing waves
crashing against eroding banks of sand
enough about angels
more should be said about the people
but the people are now on the other side of memory
who are these people?

these inventors of a nation
to then bury such a nation under a mountain of debt
these inventors of community
to then destroy such a community with exhausting individualism
inventing fire to set fire to the jungle
travelled to the moon and yet on earth
the poor continues to sleep in the shadow of history

Trịnh sang once:
“humanity curled up like animals in winter”
and history continues to justify itself
with the political winters that will never dissolve

4.
like the songs drifting in the night out at sea
the angels have lost their messages
remain is the sea
quietly, tired, patient
beholding the words we will dare not say

as we continue to hang around
as though we’re the author of humanity’s last song
the truth appears as quietly as the moon would late into the night
us both for each other
angel and sacrifice

if there’s a rebellion worth singing about
then it’s a rebellion against
the smooth ruthlessness
that humanity has to get used to like the salty taste of the sea

and each day that we are able to get over it
get washed up into the forbidden zone of our humanity
the way waves get washed up on an eroding sand bank

5.
the sea in the dark tonight lies there like a wound
not sure who was at fault
a million reasons for the sea to be sad
it remembers that it was green once
waves soothing gently edges of the horizon
torn apart like exhausted lovers
knocking on a memory we have dropped somewhere

we follow the shoreline
as though we are following the length of history
each wave is a century
and each century in our hand is each salty lick of a wave

once upon a time, the sea was where the gods delivered their blessings
in present time, the sea is where humanity delivers its transgression

not once did the sea speak up
but its silence is the forgotten verse
Trịnh had left behind
on a beach in the dark
the shadow of humanity from so many centuries ago
he waits not for war
waits not for peace
waits not for a single promise from history
he waits merely for the easing of his sadness
a night when he can sleep and not dream of tidal waves

he understands that the sea will always come home
when humanity may not
a voice as tender as chalk dust
as sad as a wave disappearing
all revolution in the end
wants to find a place where humanity may be human
the sea heard what was said but it will not reply
while the waves retreat into the distance like a long sigh

the waves said:
freedom is the fate of humanity
and yet tonight the sea said:
freedom is something humanity tend to drop as they
running away from themselves

the sound of the sea is as clear as the sound of a person
when it’s near, when it’s far
when it’s earnest to the point that it could burn and blister
when it’s lonely to the point of weeping

“your departure hereafter, your name missing from the sea calls you home”
and the sea thought:
if humanity were to leave the sea forever
will the sea call humanity home?

or is the sea too tired, all it wants to do is sleep?
sleep through the centuries where humanity
continues to fail at how to love for each other

I bent down, picked up a shell
it’s empty, but the sound in it
sounds like angels void of messages
washed up here

the sea is just a witness to what is missing from the sea
everything missing from the sea
including what humanity wants to forget

these are the words of a song
not reserved for the next generation
it is reserved just for the sea
the last entity
to miss humanity

BÀI TRƯỜNG CA CỦA BIỂN TRONG LỒNG NGỰC

1.
“Biển nhớ tên em gọi về…”
nhưng thay vì gọi về một người
biển gọi về một nền văn minh đã già
đã cạn hơi
đã mất trí nhớ

bạn thấy tôi đang trôi
như người hát ru đứt hơi
buổi hòa nhạc cuối của loài người

những đám mây kéo nhau đi
như những câu hát không còn điệp khúc
trôi qua bầu trời
sau cả một thế kỷ chiến tranh
các chủ nghĩa cách mạng và phản cách mạng
những lời hứa bị rỗng như vỏ ốc phơi khô

bạn nghĩ về các thiên thần như nghĩ về biển nhớ
ngày xưa mênh mông
giờ chỉ còn lại âm thanh
va đập sóng và ảo tưởng

2.
ngày xưa, thiên thần là thông điệp
biển cũng là thông điệp
của khởi nguyên, của vô tận, của lặng im

giờ đây thiên thần đã lạc ngôn ngữ
biển thì lạc màu xanh
tiểu thuyết lạc thành lịch sử
những câu thơ ứ máu lạc thiên thần
con người chỉ cần khẩu hiệu

các thiên thần tìm con người như tìm người tình cũ
“Thế giới này còn đáng sống không?”
câu hỏi như câu hát cũ
trôi dạt, đầy muối mặn, đầy mưa
đầy những giọt nước mắt đã quá hạn

nhưng nhân loại không còn khả năng trả lời
vì muốn trả lời, người ta phải tin vào một thứ
đã chìm dưới đáy đại dương
những vai diễn thuyền nhân vờ yêu nhau giả vờ hội thảo
như chưa bao giờ đói, chết hay bị thương
trùng dương đang cương lên cơn lãng mạn

nhưng ngôn ngữ sau nghìn năm lịch sử
chỉ còn tiếng va đập của vỏ lon
trên bờ biển mỗi đêm
của những người đã quên

người câm tìm người điếc
người điếc tìm người mù
người mù tìm ai?
không ai biết

biển biết
biển luôn luôn biết
nhưng biển không còn muốn trả lời

3.
biển đặt ống nghe lên ngực
không phải nghe những nhịp tim
mà câu chuyện thuộc về lịch sử

lịch sử là tiếng rên khe khẽ
như tiếng thở dài của người vừa tỉnh dậy
sau cuộc chiến dài đến mức quên tên

tiếng ấy buồn như Trịnh
nhưng sắc như Nguyễn
và lạnh như báo cáo số lượng dân số
những thân xác vô hình
khi những cơn lũ vẫn cứ đúng “quy trình”
khi người ta xem mạng người như số học

những triết gia nói rằng
“con người là mục đích tự thân”
nhưng lịch sử lại nói rằng
“con người là phương tiện”
còn cuộc sống thầm thì
“con người là chi phí phát sinh”

những âm vang như tiếng sóng
đập vào bờ cát đã xói mòn
nói về các thiên thần như vậy đủ rồi
hãy nói về nhân dân
nhưng nhân dân đã qua bên kia bờ ký ức
nhân dân là ai?

là những người phát minh ra quốc gia
và chôn nó dưới núi nợ
là người phát minh ra cộng đồng
và phá tan bằng chủ nghĩa cá nhân mệt mỏi
phát minh ra lửa chỉ để đốt rừng
đi tới Mặt Trăng nhưng ngay trên mặt đất
những người nghèo vẫn nằm ngủ dưới bóng của lịch sử

Trịnh từng hát:
“người nằm co như loài thú khi mùa đông về”
và lịch sử tiếp tục chứng minh
bằng những mùa đông chính trị không bao giờ tan

4.
như tiếng hát trôi trên biển đêm
thiên thần đã mất thông điệp
chỉ còn lại biển
âm thầm, mỏi mệt, bất chấp
ôm lấy những điều ta không dám nói

khi chúng ta tiếp tục loanh quanh
như người viết ca khúc cuối của nhân loại
sự thật hiện ra im lặng như trăng khuya
chúng ta vừa là thiên thần
và là kẻ hiến tế cho nhau

nếu có cuộc nổi loạn nào đáng để hát
thì đó là nổi loạn chống lại
sự trơn tru tàn nhẫn
mà loài người phải quen như quen vị mặn của biển

và mỗi ngày, ta bước qua nó
trôi vào vùng cấm của chính nhân tính mình
như sóng trôi vào bờ cát đang tan

5.
biển đêm nay nằm như một vết thương
không còn nhớ ai đã gây ra
một triệu nỗi buồn của biển
biển chỉ nhớ mình đã từng xanh
tiếng sóng vỗ vào mép bầu trời
rách ra như người tình mệt mỏi
gõ cửa một ký ức mà ta đã đánh rơi

chúng ta đi dọc bờ biển
như thể đang bước dọc lịch sử
mỗi con sóng là một thế kỷ
và mỗi thế kỷ trôi qua để lại một vết muối mặn liếm trên tay

ngày xưa, biển là nơi thần linh gửi xuống phước lành
ngày nay, biển là nơi con người gửi xuống tội lỗi

biển chưa từng cất tiếng
nhưng chính sự im lặng của biển
một ca khúc Trịnh bị bỏ quên
trên bờ biển đêm
một bóng người từ bao nhiêu thế kỷ
anh ta không chờ chiến tranh
không chờ hòa bình
không chờ bất kỳ một lời hứa nào từ lịch sử
anh ta chỉ chờ nỗi buồn tan bớt
để có thể ngủ một đêm không mơ thấy sóng thần

anh ta biết biển vẫn trở về
còn con người thì không
giọng nhẹ như bụi phấn
buồn như một con sóng vừa tan
mọi cuộc cách mạng rốt cuộc
đều muốn tìm một chỗ để con người được làm người
biển nghe câu ấy và không trả lời
nhưng sóng biển lùi xa như tiếng thở dài

những con sóng nói:
tự do là số phận của con người
nhưng đêm nay biển thì thầm:
tự do là thứ con người luôn đánh rơi
trên đường chạy khỏi chính mình

tiếng biển rõ như tiếng của một người
lúc gần, lúc xa
lúc tha thiết đến bỏng tay
lúc cô độc đến muốn khóc

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…”
và biển nghĩ:
nếu nhân loại rời biển mãi mãi
liệu biển có gọi về không?

hay biển mệt rồi, biển chỉ muốn ngủ?
ngủ qua những thế kỷ mà loài người
vẫn chưa học được cách yêu nhau

tôi cúi xuống, nhặt một vỏ sò
nó rỗng, nhưng âm thanh trong đó
giống như tiếng những thiên thần không còn thông điệp
đã trôi dạt về đây

biển chỉ là nhân chứng

biển nhớ
biển nhớ tất cả
cả những điều nhân loại muốn quên

đây là lời hát
không dành cho thế hệ sau
chỉ dành cho biển
kẻ cuối cùng còn chịu nhớ
về loài người

Mai Khao Beach, Phuket, Thailand. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

6.
baby, this century
rising from the ashes of dreams
because of a gust of wind
fire and decimation

my lullaby is that long sigh
a civilization that is no more
green was the sea once
now evident in pages of fiction

did you know baby, the philosophy of this century
no one has the answer to the question
pages of a book turning by itself in the wind
spoke about the things where history is too tired
where no one want to note or copy

truth is not something humanity is looking for anymore
they look for what will not hurt them
truth like roots in the wilderness
trees and more trees salty and alive in memory
“blanket me with the salt of the land
my bullet wound steeped in the salt where I land
stings the flesh the bone stings those who had lay down their life”

we holding onto this century
as though we’re holding onto an orphaned child
the face of millions and millions of missing people
migrations are it’s teardrops
in boats, through the storms
in time with the footsteps tripping over each other in the street
knowing not whether they’re rushing toward the future
or trying to escape the past

the century sitting right up the odd night
asking the simplest of questions:
“why is there not a long left in humanity ?”

hearafter we will forget
the nameless fights
this orphaned century
as painful as half a song
harmonies sinking to the bottom of the sea

I want to sing to it a lullaby
with the voice of a street seller
this century can sleep in the end
sing to it to keep it alive
because it’s still a child with the burden
our karma

7.
softy to you baby, to the sea, I will sing
souls who have not found a home
I will tell you about those
who were left behind in the history of humanity
after the longest withdraw

they don’t want to live off the sun
since the sun is nothing but a memory
embers were the source of their survival
smoulders deep in the earth
as though the last glimmer of life
lies in death

embers sustained them
history like a book
with its first page ripped out
and lines across the last page
in disarray
footnotes and question marks
without an answer

did you know baby this century
light reserve just enough ember
to light the way for each other

since too much light can burn us
and we have chosen embers
a kind orphaned light
without a keeper
in windy nights
we huddle together
the way people long ago
learn how to let go of a world that was falling apart
without lost of identity

some were once wariors
now knows off by heart the harmony
how to put children to sleep with their lullaby
because easy was murder
because leaving each other alone was harder

some are poets
out of touch at the time
now just as out of touch
but humanity in the end
need to sing
need a song to confirm their existence
so they hold on to him
even when his poems no longer rhymes
just heavy breathing
like wind through abandoned homes

you can say baby that they are weak
but they are the last proof
that humanity can still have light
when there’s nothing left to set on fire

in their shadows from afar
see in each one of them
a sadness as beautiful as a song
so sad that it can be
turn into something call hope
because only those with sadness
can remember what it’s like to be human

baby, those who live off embers
innovation is beyond them
they simply hold on to each other
so they won’t fall off the edge of the world

sometimes, it’s as simple as that
born heroes
and the whispers of the sea out there
no one can quell the light of such embers
they know how to remember each other

8.
tonight
on a hill where they erect the tombstones
breeze through the rows and rows of trees
as though through the husky throat of a century

from damp soil, grass as soft as songs as soft as memory
lullabies used to put a nation to sleep through a war
through peace, through hope
and afternoons no one can remember
each person turning up quietly one at a time
as though they do not want themself to wake up

those who have called upon their name
to settle with the realization that
all those names as they say are
no more

they turn up not to cry
they’re here to listen
since only in silence
humanity can hear the right questions it wants to ask

each person with the burden of a name
gathered in a circle as in ritual
from the centre of the circle, rise a song
“one lover after the other they leave us like small rivers”

herein rise in a song
each one of us in the circle
as though to remember one thing
very much like a name
not a name on their ID card
but the name their mother’s used to call them
while they’re in her arms, the name they’ve lost
dropped somewhere at the market in the crowd

a little girl claimed
the fragility of my name
an elderly woman echoed
through a toothless smile
mine is much the same

night
it is full of these names in the dark
returning slowly
a name
standing in front of a song
that will never die

6.
em ơi, thế kỷ này
lớn lên từ tro than của giấc mơ
vì bầy gió đã luồn vào
đốt sạch

anh ru nó bằng tiếng thở dài
của những nền văn minh không còn
tiếng của biển đã từng xanh
giờ chỉ còn trên những trang tiểu thuyết

em biết không, triết học của thế kỷ này
là câu hỏi không người đáp trả
những trang sách tự lật trong gió
nói những điều mà lịch sử đã mệt
không còn ai muốn chép

con người không đi tìm sự thật nữa
họ chỉ tìm thứ không làm họ đau
còn sự thật như đám rễ hoang
sống trong ký ức rừng ngập mặn
“đắp cho anh nắm đất mặn xứ này
nơi anh ngã muối ngấm vào vết đạn
xót thịt xót xương xót người nằm xuống”

chúng ta ôm lấy thế kỷ này
như ôm một đứa trẻ mồ côi
có khuôn mặt của hàng triệu người đã biến mất
nó khóc bằng những cuộc di dân
trên thuyền, trong bão
ngay khi giữa phố đầy những bước chân
không ai biết mình đang chạy tới tương lai
hay thoát khỏi quá khứ

có đêm thế kỷ ngồi dậy
hỏi một câu rất giản dị:
“tại sao con người không còn hát?”

ngày mai chúng ta sẽ quên
những cuộc chiến không tên
thế kỷ mồ côi này
đau như một bản nhạc bỏ dở giữa chừng
mọi hợp âm đều rơi xuống biển

anh muốn ru nó
bằng giọng của người hát rong
cuối cùng để thế kỷ ngủ
ru để nó đừng chết
vì nó vẫn là một đứa trẻ
mang nghiệp của chúng ta

7.
anh hát khẽ thôi, cho em, cho biển
những linh hồn chưa tìm được ngôi nhà
anh nói với em
về những kẻ còn sót lại
sau cuộc rút lui dài nhất của nhân loại

họ không sống bằng mặt trời
vì mặt trời chỉ còn là một ký ức
họ sống nhờ những đốm tàn tro
âm ỉ trong lòng đất
như thể mầm sống cuối cùng
lại nằm trong cái chết

những kẻ sống nhờ ánh tàn tro ấy
lịch sử giống như một cuốn sách
đã bị xé mất trang đầu
và trang cuối
ngổn ngang những đường gạch chéo
những chú thích và những câu hỏi
chưa có ai trả lời

em biết không một thế kỷ
ánh sáng chỉ giữ lại chút tro tàn
để soi đường cho nhau

vì nếu ánh sáng quá mạnh sẽ đốt cháy chúng ta
chúng ta chọn tàn tro
thứ ánh sáng mồ côi
không thuộc về ai
trong những đêm gió nổi
chúng ta tụ lại quanh nhau
như bầy người cổ xưa
học cách rời bỏ một thế giới đang sụp đổ
vẫn không đánh mất mình

có người từng là chiến binh
giờ nằm thuộc lòng
bản hòa tấu ru cho trẻ con ngủ
vì giết nhau quá dễ
còn để cho nhau yên thì mới khó

có người là thi sĩ
đương thời bị xem là lạc điệu
giờ vẫn lạc điệu như thế
nhưng bầy người cuối cùng
cần một tiếng hát
để thấy rằng mình còn tồn tại
nên họ giữ anh ta lại
dù thơ anh chẳng còn gieo vần
chỉ còn những tiếng thở
như gió lùa qua những ngôi nhà hoang

em có thể nghĩ họ yếu đuối
nhưng họ là bằng chứng cuối cùng
rằng con người biết thắp sáng
ngay cả khi không còn gì để đốt

từ xa nhìn vào bóng họ
thấy trong từng người
là một nỗi buồn đẹp như bài hát
buồn đến mức
thành một cách để mà hy vọng
vì chỉ ai còn nỗi buồn
mới nhớ cách làm người

em ơi, những kẻ sống bằng ánh tàn tro
không làm nên cuộc cách tân nào
họ chỉ giữ lấy nhau
để không rơi khỏi thế giới

đôi khi, chỉ thế thôi
đã là một anh hùng
và biển ngoài kia thì thầm
không ai tắt được ánh sáng
của những tàn tro biết nhớ nhau

8.
đêm nay
trên ngọn đồi nơi người ta đặt những tấm bia đá
gió thổi qua những hàng cây
như thổi qua cổ họng của thế kỷ đã khàn tiếng

mặt đất ẩm, cỏ mọc mềm như ký ức những bài ca
từng ru một dân tộc qua chiến tranh
qua hòa bình, qua hy vọng
và những buổi chiều không ai còn nhớ
mỗi bóng người đến một cách lặng lẽ
như thể họ không muốn đánh thức chính mình

những người từng gọi tên mình
rồi một ngày nhận ra
tất cả những cái tên ấy
không còn

họ đến không phải để khóc
đến để nghe
vì chỉ trong im lặng
con người mới nghe được những câu hỏi thật của mình

mỗi người mang theo một cái tên
quây thành vòng tròn như một nghi lễ
từ giữa vòng tròn, một giọng hát cất lên
“từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ…”

và khi câu hát cất lên
từng người trong vòng tròn
như nhớ lại được một điều
rất giống cái tên
nhưng không phải tên trên chứng minh thư
mà là tên mẹ gọi khi ôm họ vào lòng
tên mà họ đánh rơi
giữa chợ đời chen lấn

một cô bé bỗng nói
tên tôi là mong manh
một bà lão đáp lại
bằng nụ cười không còn răng
tên tôi cũng vậy

đêm
nó đầy ắp những cái tên
đang từ từ quay trở lại
một cái tên
khi đứng trước một bài ca
không bao giờ chết

Sea, waves, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

9.
baby, listen
a dazzling city once
like the imaginative mind of humanity in its youth

the glass windows used to reflect those intimate moments now blurry under a layer of dust
intersections eyewitness to people in a rush
to be in time for work, be in time to love each other, in time to break up
now nothing but puffs of grey smoke
stretched out as though memory is being buried alive

but there’s still a bright light
a lonely flame
in a room on the third floor
paint peeled wall
peeling pieces of disappointment of the twenty first century
that can not be healed

the window still opened, breaths of the wind
carries with it the sound of a distant sea
lingered echoes of a song
the days humanity still cared for each other
help those in need

baby, you ask: this flame, who lit it?
all I can do is shake my head
maybe it was the first person who left
left it burning because they forgot to blow it out
maybe it’s a soul
wanting to leave a sign for thoses to come
also maybe it is destiny
denying darkness its victory

that flame choking the way mother’s caution is caught
in her throat during each yearly flood
where’s there’s light
there’s still a way to come home

for those from the jungle
those from the sea
those who had given up from the East
those with nothing to lose from the West
could altogether call what’s over there home

that night, the first person to step through the door was
not a hero
not a philosopher
just a very sad soul
looking for somewhere to sit down
to catch their breath and sing

then through the door was the second
then third person
“the welcome embrace of trees and mountain
visit, the booby traps and machetes…”

no one said any thing
no one said any thing
they simply sang in that dim weak light
as though they all had an understanding
the only thing they need to keep safe
was not their life
but their humanity
already as fragile as a piece of paper
but still as pure as a verse of a song
sang in the middle of the day
gleaming blue steel

that was when I understood dear love:
that flame there, it was not waiting for redemption
nor was it waiting for a miracle
or a change in history
it’s waiting only for one thing:
It’s waiting for evil doers to feel the shame of their actions
feel sad when they see the pain of blood and skin colour of other people
other than them

10.
we understand that
declarations
begins always with light

it only ends
with the things people cannot
straight away see
sentences
hanging in the square
each time a new ideal is born
the call for freedom
written in a tone of an edict

the declaration
written with bare arms
and read in a thick husky voice
of those who once upon a time
had too much faith in big dreams

“Us that is
what is left of us
declare that we have no faith
in declaration.”

because we inderstand
all the big stuff
must be announced in a soft voice
resolution is unnecessary when it comes to kindness
strategy does not equate to caring
it’s simply a hand reaching out at the right time

we believe in the small things
a glass of water for a stranger
a shelter from the rain
a timely apology

we chose to withdraw
so we won’t step on each other

someone asked:
“you guys think you can change the world
with tenderness?”

11.
we meet the people
sitting around mending the sky

they’re not saints
not poets, philosophers
or heroes
just ordinary people
sick from waiting for a miracle
from someone else

they sit waiting on the roof in the flood
crumbling bell towers
bridges to nowhere
holding onto nothing but old songs
and the glimmer of old memories

they asked:
the sky did not tear by itself
the hole in the ozone layer is man made
they bend over, pick up the humanity’s sorrows
a forgotten war
an unofficial migration
a misplaced promise of peace
the death of a love in infancy
the last look between two people
the blameless card dealt

all picked up by them, wiped clean
placed in the empty spots across the horizon
as though they’re stars
someone accidently dropped

one of them looked up
we’re mending the sky
so it won’t fall on the children
who will definitely come this way

another person added
we’re mending the sky
because no one lifts their chin to look up anymore

the last person said
we’re mending the sky
because if we do not, the night will swallow all of us whole

I watched them my love, the souls who quietly worked
and history will never remember them
but then again for that reason
it is worth the effort

sound of wind through the holes and tears
cry out like the notes played on a broken keyboard
attentively they listen nodding:
the sky is in a lot of pain
we should be more tender

like someone’s claw marks through time
each shimmering row of thread high in the sky
each small thread of hope
returned to the earth

you asked my love:
what will they do after they finish mending the sky?

I smiled:
only then will they lie down and rest
leave us with
a sky though not perfect
but enough to keep us warm in this orphaned century

9.
anh kể em nghe
một thành phố từng rực rỡ
như trí tưởng tượng của con người khi còn trẻ

những cửa kính từng soi bóng các cuộc tình đã mờ lớp bụi
những ngã tư từng chứng kiến người ta rất vội
kịp làm việc, kịp yêu nhau, kịp bỏ nhau
giờ đây chỉ còn những vệt khói xám
kéo dài như ký ức bị chôn sống

nhưng một ngọn đèn vẫn sáng
ngọn đèn cô độc
trong tầng ba của một căn phòng
bức tường bong tróc
như những mảng thất vọng của thế kỷ hai mươi mốt
không chữa lành

cửa sổ vẫn mở, gió thở
mang theo tiếng của biển rất xa
dư âm của lời ca
những ngày người ta còn biết thương nhau
qua cầu không rút ván

em hỏi: ai thắp ngọn đèn ấy?
anh chỉ biết lắc đầu
có thể của một người ra đi từ lâu
nhưng quên tắt
có thể là một linh hồn
muốn để lại dấu hiệu cho kẻ đến sau
cũng có thể là định mệnh
chưa muốn bóng tối chiến thắng

ngọn đèn ấy, nó nghẹn lại
như lời mẹ dặn trong mùa mưa lũ
ở đâu còn ánh sáng
ở đó còn đường về

cho những ai từ rừng
cho những ai từ biển
những kẻ tuyệt vọng từ phương Đông
những kẻ không còn gì để mất từ phương Tây
đều lặng lẽ được về phía ấy

tối hôm ấy, người đầu tiên bước vào căn phòng
không phải anh hùng
không phải triết gia
chỉ là một kẻ buồn quá
tìm chỗ để ngồi xuống
thở và hát

thêm một người thứ hai
một người thứ ba
“rừng núi dang tay
đi thăm, hầm chông và mã tấu…”

không ai nói gì
không ai hỏi ai
họ chỉ hát trong ánh sáng yếu ớt ấy
như thể tất cả đều hiểu rằng
điều duy nhất họ phải giữ
không phải là mạng sống
mà là nhân tính
đã mỏng như tờ giấy
nhưng vẫn đẹp như một câu hát
được hát giữa trưa
xanh ngời ánh thép

đó là lúc anh hiểu:
ngọn đèn kia không chờ cứu viện
không chờ phép lạ
không chờ lịch sử thay đổi
nó chỉ chờ một điều duy nhất:
chờ những người còn biết xấu hổ khi làm điều ác
và biết buồn khi thấy người khác đau
máu đỏ da màu

10.
chúng tôi đã hiểu rằng
những lời tuyên ngôn
luôn bắt đầu bằng ánh sáng

nó chỉ kết thúc
bằng những điều
người ta không chịu nhìn thẳng
những hàng chữ
được treo lên quảng trường
mỗi lần có một lý tưởng mới chào đời
những lời kêu gọi tự do
bị viết bằng giọng ra lệnh

bản tuyên ngôn
được viết bằng cánh tay trần
và đọc bằng giọng khản đặc
của những người đã từng
tin quá nhiều vào những giấc mơ lớn

“Chúng tôi,
những kẻ còn sót lại,
tuyên bố rằng,
không còn tin vào tuyên ngôn.”

vì chúng tôi đã hiểu
rằng mọi điều lớn lao
phải được nói bằng một giọng nhỏ nhẹ
rằng tử tế không cần biểu quyết
rằng yêu thương không phải chương trình
chỉ đơn giản một bàn tay chìa ra đúng lúc

chúng tôi tin vào những điều nhỏ bé
một chén nước cho người lạ
một mái hiên trú mưa
một lời xin lỗi kịp lúc

chúng tôi chọn lùi lại
để không dẫm lên nhau

ai đó hỏi:
“các người nghĩ thế giới sẽ thay đổi
bằng sự dịu dàng sao?”

11.
chúng tôi gặp họ
những người ngồi vá lại bầu trời

họ không phải thần thánh
không phải nhà thơ, triết gia
cũng chẳng phải anh hùng
chỉ là những con người bình thường
đã quá mệt với việc chờ đợi phép màu
từ tay của kẻ khác

họ ngồi trên những mái nhà bị ngập
những tháp chuông gãy
những cây cầu không dẫn đến đâu nữa
trên tay chỉ có những câu hát cũ
và những mảnh ký ức lấp lánh

họ nói:
bầu trời không tự rách
chính con người làm nó bị thủng
họ cúi xuống, nhặt nỗi buồn của nhân loại
một cuộc chiến bị lãng quên
một cuộc di cư không ai ghi chép
một lời hứa hòa bình đã mất
một tình yêu chết trẻ
ánh mắt lần cuối giữa hai người
cái thẻ bài vô tội

tất cả đều được họ nhặt lên, lau sạch
đặt vào khoảng trống của vòm trời
như thể chúng là những ngôi sao
kẻ nào đó lỡ đánh rơi

một người trong nhóm ngẩng lên
chúng tôi vá lại bầu trời
để nó đừng rơi xuống đầu những đứa trẻ
thế nào cũng đi qua đây

một người khác tiếp lời
chúng tôi vá lại bầu trời
vì không còn ai biết cách ngẩng đầu nữa

người cuối cùng
chúng tôi vá lại bầu trời
vì nếu không, đêm sẽ nuốt hết chúng ta

anh nhìn họ, những người thầm lặng
đang làm việc mà lịch sử sẽ không bao giờ nhớ
nhưng có lẽ vì vậy
nó mới đáng làm

gió thổi qua những lỗ thủng còn dang dở
kêu như những phím đàn vỡ
những người ấy lắng nghe, rồi gật đầu:
bầu trời vẫn còn đang đau
nhẹ tay hơn một chút

như móng tay ai cào vào thời gian
cứ mỗi đường chỉ khâu lấp lánh trên cao
là một chút hy vọng
lại trở về trên mặt đất

em hỏi:
rồi họ sẽ làm gì khi bầu trời đã vá xong?

anh mỉm cười:
khi ấy, họ sẽ nằm xuống nghỉ
để lại cho chúng ta
một bầu trời dù không hoàn hảo
nhưng đủ để che một thế kỷ mồ côi

Phú Quốc, Việt Nam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

12.
when history closes a door
they embrace the spring in their arms
they fly beyond time

without anyone holding them back
they leave history behind
birds refusing to fly North
because they know the cold would destroy what’s left of memory

they walk away in silence
without fire
without a map
on them they carry the smallest slice of spring
wrapped in a handkerchief
like the glass marbles kids used to hide
worried their mothers might take them away

that slice of spring, it’s not a flower
not sunlight
those who do not believe in the concept of “enlightenment”
since they see that even light could be injured

like the residual heat left behind on a chair
when you stand up
they have gone beyond history
where there are no issues
just a silence space across the sky
where literature is free from judgment
like the fear of waking
history fast asleep at the bottom of a hill

one of them said:
I left history behind
only because I want to love again
without people watching me

and in that village, history
may have perhaps made other people feel less afraid

the oddest thing
the only thing they had to do was breathe
and the world feels less scary

sometimes looking back at the old sky
they see history continues to
spill blood
struggle
libel
build
pull down
more bloodshed

they don’t need acknowledgement
saving just enough warmth for humanity
when everything has turned cold

and history is nurtured
with tenderness beyond reason
held high by those who makes no promises
suddenly the only thing left
when history have no one left to note their name

14.
when the sound of a bomb takes away
a breath

when the smoke of war
lingers still on the clothes on our back

guns no longer speaking
still burning slowly in the ground

because we still do not want to forget
we can all still see
a blade of grass
not tall
not green to perfection
not standing tall against the wind
just a fragile thread
shyly poking it’s head out from a crack in a burning cement wall

where there has been fire
where humanity have withdrawn
where history thought
there is no life
but grass does not need history
to grow

at such a point
some might kneel down beside it
to say a prayer
the first line “teach us to love one another as You have loved us”

– the prayer of a survivor coming home

pray O blade of grass
you are softer than any philosophy
and yet you stand up faster than all kinds of pain and sorrow

you’re oblivious of the past
nor are you bothered about the future
and yet at this very moment
you have done
what humanity have forgotten:

thank you
for growing where people believe there’s nothing left to grow
country is not just land
it is the return of things thought to be dead

gosh O green grass, aching at the end of the horizon
falling through the heart
into the soil budding still as grass

– a child’s prayer

knows nothing about war
knows its mother’s silence
it asking:
grass, does it hurt there?

to no reply
but those who heard feels
the pain more more painful for longer

– prayer of a person who had taken up arms

both hands familiar with the sound of explosions
and your conscience could slowly sit down:
– my bullets have entered the places where the grass will grow
the earth shrivelled up from fear
and yet the grass continued to grow
fragile to the point I wanted to cry

my apologies to the seasons of spring
who had missed my bullet

my apologies for not believing
in miracles

but if there were miracles
then it would be like green commas
in a dejected sentence

they stand around the small blade of grass
like standing around a small flame during
the funeral of a century

no one singing, but the wind to replace them
no one crying, but the dust playing in the light
the cause of red eyes and tears

O grass, we are the cause of the tear in the sky
we are the decay in memory
stamping out the light of what is left of the spring
burning to ashes our soul

comes the day we stop, stand to face
a blade of grass, and still knows how to stay silent
know how to breath slowly
how to reach out and touch another living thing

and it will be
amidst the bombs and munition of the world
rise the last prayers
not to justify or ask for anything
we are all hurt
but like grass each wound knows how to be green again

12.
khi lịch sử khép lại cánh cửa
họ lặng lẽ ôm mùa xuân trên tay
bay ra thời gian

nhưng không ai giữ lại
họ đã rời khỏi lịch sử
những bóng chim từ chối bay về phương Bắc,
vì biết trước gió lạnh sẽ giết chết ký ức

họ đi trong im lặng
không mang theo lửa
không mang theo bản đồ
chỉ mang một mùa xuân nho nhỏ
giấu trong khăn tay
như bọn trẻ từng giấu viên bi thuỷ tinh
sợ mẹ lấy mất

mùa xuân ấy, không phải là hoa
không phải nắng
những người không tin vào khái niệm “khai sáng”
vì họ đã thấy ánh sáng cũng bị thương

như hơi ấm còn sót lại trên ghế
khi bạn vừa đứng dậy
họ ra ngoài lịch sử
nơi không còn biến cố
chỉ có khoảng trời câm lặng
để văn chương không cảm thấy bị xét xử
như nỗi sợ đánh thức
lịch sử đang ngủ vùi dưới chân đồi

một người nói:
tôi rời khỏi lịch sử
chỉ vì tôi muốn yêu trở lại
mà không bị ai cảnh giác

và trong ngôi làng, lịch sử
có thể làm cho người khác cảm thấy bớt sợ

kỳ lạ thay
chỉ cần họ thở
thế giới đã bớt sợ hãi thêm một chút

đôi khi nhìn về chân trời cũ
họ thấy lịch sử vẫn tiếp tục
đổ máu,
tranh giành,
mạt sát,
xây đắp,
sụp đổ,
rồi lại đổ máu.

họ không cần ai công nhận mình
chỉ giữ lại chút hơi ấm cho loài người
khi mọi thứ còn sót lại đã nguội

và lịch sử
được nuôi bằng sự dịu dàng không lý thuyết
được giữ bởi những người không hứa hẹn
bỗng trở thành điều duy nhất sót lại
khi lịch sử chẳng còn ai để ghi tên

14.
khi tiếng bom vừa dứt
một nhịp thở

khi khói chiến tranh
vẫn còn vương trong kẽ áo

khi mặt đất vẫn âm ỉ sức nóng
của những khẩu súng đã ngừng nói

vì chúng chưa chịu quên
mọi người vẫn còn nhìn thấy
một ngọn cỏ
không cao
không xanh màu xanh trọn vẹn
không đứng thẳng trước gió
chỉ là một sợi mỏng manh
rụt rè trồi lên từ vết nứt của lớp bê tông tường thành đang cháy

nơi mà lửa đã đi qua
nơi mà con người đã lùi bước
nơi mà lịch sử nghĩ rằng
sẽ không bao giờ có sự sống
nhưng ngọn cỏ không cần lịch sử
nó mọc

chính lúc ấy
có người quỳ xuống bên nó
để đọc bài kinh cầu nguyện
lời đầu tiên “người biết yêu người”

– bài kinh của kẻ còn sống sót trở về

lạy ngọn cỏ
ngươi mềm hơn mọi triết lý
nhưng ngươi cũng đứng dậy nhanh hơn mọi đau thương

ngươi không biết quá khứ
cũng chẳng màng tương lai
nhưng ngay lúc này
ngươi đã làm điều
mà loài người quên mất:

cám ơn
vì ngươi mọc từ nơi không ai nghĩ chẳng còn gì để mọc
quê hương không chỉ là đất đai
mà là sự trở lại của thứ tưởng như đã chết

ôi cỏ xanh ngươi buốt tận chân trời
ngã xuống xuyên giữa ngực
tan vào đất đâm chồi vẫn cỏ

– bài kinh của một đứa bé

không hiểu chiến tranh là gì
nhưng hiểu nỗi im lặng của mẹ
nó hỏi:
cỏ ơi, chỗ này có đau không?

không ai trả lời
nhưng mọi người nghe thấy
đau hơn và lâu hơn

– bài kinh của người từng cầm súng

hai tai đã quen tiếng nổ
và lương tâm người vẫn ngồi xuống thật chậm:
– tôi đã bắn vào nơi cỏ sẽ mọc
đã làm mặt đất co lại vì sợ
vậy mà cỏ vẫn mọc lên
mỏng manh đến mức làm tôi muốn khóc

tôi xin lỗi
cho những mùa xuân tôi đã bắn hụt

tôi xin lỗi
vì tôi không tin vào phép màu

nhưng nếu có phép màu
thì nó như dấu phẩy màu xanh
trên câu văn tuyệt vọng

họ cùng đứng quanh ngọn cỏ
như đứng quanh một ngọn nến nhỏ
trong tang lễ của thế kỷ

không ai hát, nhưng gió hát thay họ
không ai khóc, nhưng bụi bay trong ánh sáng
khiến đôi mắt đỏ lên như khóc

ngọn cỏ ơi, chúng ta đã làm rách cả bầu trời
làm mục nát ký ức
dập tắt mùa xuân
đốt cháy linh hồn của chính mình

nếu một ngày chúng ta còn đứng lại
trước một ngọn cỏ, còn biết lặng im
còn biết thở chậm
còn biết đưa tay chạm vào một sinh linh

và thế là
trên nền đạn bom của thế giới
những bài kinh cuối cùng được đọc lên
không để cầu xin, không để chứng minh
tất cả chúng ta đều bị thương
nhưng mọi vết thương đều biết cách xanh như cỏ

Sea Cliff Bridge, NSW, Australia. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A HYMN OF TENDERNESS
FOR THOSE WHO ARE DISAPPEARING
BECAUSE OF THEIR MEMORY OF A WAR


love, this verse that I wrote
like a small offering
on the forehead of those eroding
like pebbles beneath the feet of this century

those who had survived the war
dying in the afternoons tainted with smoke
lost in the middle of peace
as though they are walking through a field long forgotten

where each step echoes the sound of an explosion
a past that refuses to leave them alone
as though the call of street sellers
were the sound of alarms and sirens

like a prayer
read over and over again
to snap you out of a nightmare

love, this verse that I wrote
I wrote it so the blue sky may be less cold
when it passes over their old shoulders

love, this verse that I wrote
I wrote it so that the sea may be less sad
seeing people standing around for so long
not knowing why they want to cry

love, this verse that I wrote
like lighting a candle
placing it in the middle of a room amid all that trembling
only a small candle flame
but enough for them to see that
darkness will never triumph over a flame that knows how to listen

and if war
continues to pump through their vein
then this hymn
will be the water in a brook that will clean their hands
shaken from so many years without the touch of tenderness

love, this verse that I wrote
for those who are slowly disappearing
because of the memory of a war
like sand through fingers
so I can tell them that
no one is born to then disappear
no one is born to then fade in memory

tonight, the most tender of hymns is written
in their thinnest of breaths
rising still, flying
like an apology turning up late
written for the hearts
that had safeguard the world

with a cost that no one
could ever repay

no echo or rising applaud
just silence
so all those exhausting memory could be placed down on the ground
like a soldier’s backpack
returning from a battle
that had lasted a lifetime

all they have to do is sit still
give themself the permission to believe
that the world will also slow down
wait for them

some place a hand on their chest
feels that their heartbeat
no longer sound like the fire of artillery

they are called by their name
in a world that had in the end
learned how to listen
to pain and not
turn it into folklore


BẢN THÁNH CA DỊU DÀNG
CHO NHỮNG NGƯỜI VẪN ĐANG BIẾN MẤT
VÌ KÝ ỨC CHIẾN TRANH


anh viết khúc này
như một lời tụng nhỏ
đặt lên vầng trán của những người
đã mòn đi như viên sỏi dưới chân thế kỷ

những người không chết trong chiến tranh
mà chết trong những buổi chiều còn sót mùi khói
những người đi lạc giữa hòa bình
như đi giữa một cánh đồng bị bỏ quên

nơi từng bước chân vang lên tiếng nổ
của cái quá khứ không cho họ bình yên
như thể tiếng rao hôm nay của người bán hàng rong
cũng thành còi báo động

như một lời kinh
đọc đi đọc lại
để bẻ gãy một cơn ác mộng

anh viết khúc này
để trời xanh bớt lạnh
khi đi qua vai họ

anh viết khúc này
để biển bớt buồn
khi nhìn thấy những bóng người đứng rất lâu
mà không biết vì sao mình muốn khóc

anh viết khúc này
như thắp lên một ngọn nến
đặt giữa căn phòng đầy những cơn run rẩy
ngọn nến nhỏ thôi
nhưng đủ để họ biết
bóng tối chưa từng thắng một ngọn lửa biết lắng nghe

và nếu chiến tranh
vẫn còn đang chảy trong mạch máu của họ
thì bản thánh ca này
sẽ là dòng suối rửa sạch đôi bàn tay
đã run lên từ quá nhiều năm không được chạm vào sự dịu dàng

anh viết khúc này
cho những người đang mất dần
vì ký ức chiến tranh
như cát đang rơi khỏi lòng bàn tay
để nói với họ rằng
không ai sinh ra để tan biến
không ai sinh ra để ký ức phai đi

đêm nay, bản thánh ca dịu dàng nhất
được viết bằng hơi thở rất mỏng
của họ, vẫn sẽ bay lên, bay lên
như một lời xin lỗi muộn màng
gửi tới những trái tim
đã từng bảo vệ thế giới

bằng cái giá mà không ai
trả lại được cho họ

không có tràng pháo tay nào vang lên
chỉ có sự im lặng
để những ký ức mệt mỏi
được đặt xuống như balô của người lính
vừa trở về sau một cuộc hành quân
kéo dài cả đời

họ chỉ cần ngồi yên
cho phép mình tin rằng
thế giới này cuối cùng cũng chịu chậm lại
để đợi họ

có người đặt tay lên ngực
nghe thấy nhịp tim mình
không giống tiếng súng

họ được gọi tên
trong một thế giới
cuối cùng, cũng học được cách
lắng nghe nỗi đau
mà không biến nó thành huyền thoại

Dawn, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

not a sound | Mai Thảo

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

left at first light as the flower bloomed without much notice
night coming home to the bough at night without much of a fight
the moon sometimes happens upon it
a lanky shadow tucked away at one corner of a wall

không tiếng

Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The madman at the bottom of the slope on Tam Đảo | Mai Thảo

Mai Thảo by Đinh Trường Chinh

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

[a body of work in progress – unedited]

Người điên dưới chân sườn Tam Đảo

Thế là, giữa một buổi sáng Sài Gòn rực rỡ, tin dữ mà gia đình tôi chờ đợi thấp thỏm suốt mười năm ở bên này vĩ tuyến, đã từ bên kia vĩ tuyến mười bảy bay sang. Bà ngoại tôi, người cuối cùng của dòng họ Nguyễn còn ở lại miền Bắc đã tạ thế.

Hung tin thu gom trong mấy dòng bưu thiếp lời lẽ mơ hồ, ngày giờ và chi tiết cái chết nghìn trùng cách trở không được nói đến tường tận, nhưng tôi, tôi biết bà ngoại đã nằm xuống ở đâu, cặp mắt nhân hậu một đời nhỏ lệ xót thương kẻ khác ấy đã khép lại dưới vòm trời nào, thước đất nào đã được bà lựa chọn gửi nắm xương tàn của một tuổi già cô độc.

Thửa ruộng nhỏ nằm dưới chân một sườn đồi trọc. Đất đỏ rờ rỡ màu máu. Thửa ruộng có một thân cây lớn nghiêng bóng, kế liền với một con đường sỏi đá và cỏ bồng hoang vu, trên đầu là những đám mây trung du và đám mây của một vòm trời trung du trắng xốp như bông nõn ấy nổi chìm ở bên này và bên kia một vùng rậm rì xanh đặc là hai sườn Tam Đảo.

Từ đỉnh núi, đổ xuống một ngọn thác trắng phau nhìn xa như một sợi chỉ bạc. Từ cuối con đường hoang, vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc về chiều. Từ những xóm xa lọt vọng vào thị xã tiếng chầy giã gạo ba trăng. Tự miền cao phả về cái hơi thở âm u của núi rừng Việt Bắc. Tự miền dưới thổi lên cái hương thơm đầm ấm của lúa mạ đồng bằng. Người ta khiêng quan tài bà từ căn nhà rêu phong cổ cũ đi ra, cách hàng nghìn cây số tôi cũng hình dung thấy rõ ràng như vậy, đám táng kéo dài trên con đường lả lay cỏ bồng, chiếc quan tài in lên nền trời Tam Đảo, và nó được hạ huyệt trong thửa ruộng đó, không thể trên một thức đất nghĩa địa nào khác. Bởi vì bà tôi, nếu đã ở lại, nếu đã chối từ vượt tuyến cũng chỉ để được nằm xuống bên cạnh đứa con xấu số của bà là bác Cả Đoàn. Bác Cả được chôn ở thửa ruộng ấy, mấy giờ sau khi bác chết, cái thân thể trần truồng lỗ chỗ vừa đúng 17 vết đạn liên thanh.

*

Câu chuyện xảy ra cách đây đã mười lăm năm. Nhưng thảm kịch của người bác điên loạn, còn xảy ra lâu hơn nữa về trước, từ khi tôi còn nhỏ dại. Tôi kể lại dưới đây. Vì cái chết của người bác điên rồ là một trong những hiện tượng lạ lùng không bao giờ tôi giải thích được.

Mãi mãi tôi còn nhớ tới những chuyến về thăm quê ngoại đó, chuyến xe hàng cũ kỹ nổ máy từ tối đất nơi chân sóng rì rào của một xóm đạo vùng biển ỳ ạch chuyển mình trên những con đường liên tỉnh trải đá xanh hun hút. Những dốc đò rồi những bến phà. Dưới vành trời hắt hiu của mùa đông miền Bắc, chiếc xe cũ kiên nhẫn nuốt dần từng cây số trắng, thả lùi những xóm làng chài lưới về sau, tiến dần vào một vùng rừng núi cằn cỗi. Ngọn Tam Đảo hiện ra trong sương chiều, đỉnh núi chìm nhòe trong lớp mây xám loãng như một chiếc khăn choàng đánh đai lấy nó. Rồi là niềm vui náo nức tràn trề trong gió rừng đổ xuống khi chiếc xe trườn vào thị xã Vĩnh Yên le lói ánh đèn. Chiếc xe kéo thả mẹ con tôi xuống một căn nhà cuối tỉnh lỵ.

Cha tôi đánh điện tín từ hôm trước. Và bà tôi ngồi đó, trước thềm cửa, chờ đón chúng tôi. Bà chít khăn mỏ quạ, mặc áo bông ngắn. Mỗi năm bà mỗi già, nhưng ánh vui mừng cảm động của đôi mắt vẫn ngời lên, lấp lánh, khi tôi tự xe nhảy cẫng xuống, và mặc mẹ tôi quát mắng không được lôi bà như thế, tôi kéo bà sềnh sệch vào nhà. Bữa cơm, tôi ngồi chồm chỗm trên lòng bà, vòi quấy đủ thứ. Bà nấu chè và làm mứt dừa ngon vô cùng. Chè bà cốt, màu mật đặc quánh, mùi gừng thơm cay phảng phất trong mùi hương gạo nếp bùi ngậy. Dừa mật Vĩnh Yên nổi tiếng miền Bắc, bà nấu thành một thứ mứt dẻo quyện, trong suốt, đỏ thắm, đựng đầy trong một vò thủy tinh lớn. Những ngày về thăm bà ngoại, dạ dày tôi căng phình, đuôi mép lúc nào cũng nhuếch nhoáng màu đường màu mật. Vui thú không bút nào tả xiết. Thức dậy sau một đêm ngủ vùi vì chuyến đi mệt nhọc, buổi sáng tôi chạy ra đầu nhà, và cặp mắt của đứa nhỏ chỉ quen nhìn bãi cát và sóng biển trong tôi đã ngó nhìn đến độ bàng hoàng ngây ngất ngọn Tam Đảo hiện hình chất ngất trong buổi sáng trung du yên tĩnh, ngọn núi đứng đó, sừng sững trước mắt như một hình ảnh thần linh hoang đường, với cả một thế giới kỳ lạ, bí mật của nó ẩn kín ở sườn núi bên kia.

*

Chính là một trong những chuyến về Vĩnh Yên thăm ông bà ngoại mà tôi biết đến sự hiện hữu của bác Cả Đoàn. Lần thứ nhất ngó thấy bác, tôi đứng đờ người, mặt tái nhợt vì khiếp hãi. Đang nhảy nhót chung quanh cái bể non bộ ở khoảng sân sau, tiếng gõ loong coong làm nhịp cho một giọng hát ê a lạ tai ở căn buồng sát hông nhà bếp làm tôi ngừng nhảy, tò mò tiến lại.

Qua khung cửa khép hờ, tôi nhìn thấy một người đàn ông. Râu ria và đầu tóc người ấy xồm xoàm như một con thú. Người ấy khoác một tấm bao bố trên vai, đóng khố ngồi khoanh chân trên nền đất nhớp nhúa của căn buồng không có đồ đạc gì ngoài một tấm phản mộc. Hai chân người ấy bị xích chặt. Cái xích quấn nhiều vòng chung quanh mắt cá, đầu xích cột chặt vào một cái cọc gỗ chôn nghiêng.

Cảnh tượng người đàn ông gần như lõa thể bị cùm xích đột ngột hiện ra làm tôi rợn người, nín thở, trái tim đậm thình thình trong lồng ngực. Người đàn ông chưa nhìn thấy tôi. Hắn vẫn ngồi nguyên trong dáng điệu cũ, mắt nhắm nghiền, hai tay cầm hai mảnh que nhỏ loong coong lên đít một cái ống bơ sữa bò lật úp, miệng ê a như một thầy bùa đang tụng niệm.

Hắn cứ ê a và cứ nhắm nghiền mắt mà gõ loong coong không ngừng trên nắp ống bơ như thế một hồi lâu, thần trí như đắm chìm hoàn toàn vào một thế giới mơ hồ nào đó. Tôi tròn xoe mắt, nhìn ngắm không chớp. Tôi không biết người đàn ông cởi trần bị xích chân và đang ê a hát nhảm ấy là ai. Tại sao hắn ở trong nhà bà ngoại tôi? Tại sao hắn bị cùm xích như thế? Ông tôi, bà tôi, mẹ tôi, không một ai nói chuyện cho tôi về hắn, về sự hiện hữu của hắn trong căn nhà này, dù chỉ một lần.

Bỗng dưng, một tiếng động làm người đàn ông bừng tỉnh. Hắn mở choàng mắt, ngừng hát ngừng gõ. Thấy tôi đứng đó, hắn trợn mắt nhìn rồi thình lình hắn chỉ thẳng chiếc que vào mặt tôi, và cười nhe hàm răng trắng ởn. Tôi chỉ kịp rú lên khiếp hãi rồi quay đầu, cắm cổ chạy bay lên nhà trên.

Tôi còn nhớ khi tôi vừa thở vừa kể chuyện cho bà tôi về người đàn ông nhìn thấy dưới căn buồng hông bếp, bà tôi và mẹ tôi đã đưa mắt nhìn nhau, cái nhìn trao đổi ấy cực kỳ buồn rầu và chua xót.

Tôi níu áo bà, hỏi dồn:

“Ai thế, bà ngoại?”

Mẹ tôi trừng mắt mắng át:

“Trẻ con biết gì mà hỏi. Cấm mày không được xuống đó nữa, nghe không?”

Thấy tôi phụng phịu sắp khóc, bà ngoại kéo tôi vào lòng, vuốt tóc. Bà nói, giọng nghẹn ngào nước mắt lưng tròng:

“Cháu nó biết gì mà mắng nó! Bác Cả Đoàn đấy cháu ạ! Mẹ bảo cháu phải nghe, cháu đừng lảng vảng xuống gần chỗ bác Cả nữa nhé!”

“Tại sao thế bà ngoại?”

Bà tôi ngập ngừng nói:

“Vì bác ấy điên”.

Mãi mấy năm về sau, khi lớn khôn hơn, tôi mới được mẹ tôi nói chuyện về bác Cả Đoàn. Bác là con trưởng và là người con trai độc nhất của ông bà tôi. Theo lời mẹ tôi thuật lại, bác thông minh và hiền từ vô cùng. Ông bà tôi cho bác ra Hà Nội học, đến khi đỗ bằng cao đẳng tiểu học, bác Cả ở luôn ngoài Hà Nội, làm thư ký cho một hãng buôn lớn, thỉnh thoảng mới về Vĩnh Yên thăm ông bà tôi, thường thường là vào cuối mùa gặt để làm giúp ông tôi sổ sách về thóc lúa thu hoạch được. Gia sản của ông tôi ước chừng vài ba chục mẫu ruộng ở các miền kế cận thị xã, những thửa ruộng nằm rải rác trong những thung lũng, những chân đồi trước mặt ngọn Tam Đảo. Đường sá miền trung du gập ghềnh núi đồi cheo leo, đó chỉ là một hệ thống thiên nhiên của những lối mòn đổ xuống thung này vắt qua lũng khác, xe cộ không thể đi tới, nên mỗi lần đi thăm ruộng ông tôi vẫn phải dùng ngựa. Ông tôi có một con ngựa hồng, khi nào không cưỡi vẫn thả rông cho ăn cỏ ở khoảng đồi thấp sau nhà.

Năm đó – năm xảy ra bất hạnh – bác Cả từ Hà Nội về giữa lúc ông tôi bị đau nặng. Thế là bác Cả sáng sáng cưỡi ngựa đi thăm ruộng thay cha. Buổi sáng hôm đó, bác cũng cưỡi ngựa phóng nước kiệu ra khỏi nhà đi thăm mấy thửa ruộng gặt dở trong thung như thường lệ.

Đến nơi, bác thả ngựa cho ăn cỏ ở một bóng cây, chạy xuống chuyện trò vui vẻ với đám thợ gặt. Sự tình cờ tai hại là thửa ruộng ấy sát liền với thửa ruộng của một điền chủ khác, người này hôm ấy cũng cưỡi ngựa đến thăm ruộng mình và cũng thả ngựa cho ăn cỏ dưới cùng một bóng cây. Một lát sau, những tiếng hí vang lên. Tiếng móng đập loạn xạ. Hai con ngựa đá nhau dữ dội. Hoặc là bác Cả không biết khi hai con ngựa đá nhau như thế là cực kỳ nguy hiểm, hoặc là bác sợ con ngựa của ông bị thương – không biết – chỉ biết bác chạy lao tới, kéo con ngựa của ông tôi ra, và liền bị nó đá hậu một đá trúng giữa khoảng bụng dưới. Bác thét lên một tiếng đau đớn rồi ngã vật xuống, ngất đi.

Khi đám thợ gặt khiêng bác về nhà, ai cũng tưởng bác bị ngựa đá chết. Rờ tim, còn đập thoi thóp, nhưng bác vẫn mê man không hồi tỉnh lại được. Bà ngoại tôi cuống cuồng, kêu thóc thảm thiết. Phương kế nào cũng không làm bác tỉnh lại. Cho đến khi một người hàng xóm mách bà tôi cho bác uống mật gấu. Chất mật gấu có một tác dụng kích thích cực kỳ mãnh liệt. Chỉ mười lăm phút sau, bác Cả cựa mình và mở mắt.

Có điều là thương con quá độ, muốn cứu con mau chóng, bà tôi đã đổ vào miệng bác quá nhiều mật gấu. Sau tai nạn, bác khỏe mạnh như người thường. Nhưng một năm sau, chất mật gấu bắt đầu phá phách cơ thể và thần trí: bác Cả Đoàn phát điên. Bà tôi đau đớn ra tận Hà Nội đón đứa con điên loại về Vĩnh Yên, nhất định không chịu để người ta đưa bác vào nhà thương Vôi, là nhà thương người điên ở miền Bắc thời bấy giờ.

Sự buồn thảm như một đám mây đen tối đổ dồn vào mái nhà êm ấm, biến nó thành địa ngục và nhà mồ. Ông tôi giết con ngựa phản chủ, suốt ngày ngồi lặng lẽ trên góc phản, khuôn mặt u uất rắn lạnh như chưa thôi đau đớn trước một thất đức tiền kiếp nào đó, bây giờ hiện thân thành trừng phạt mà người phải gánh chịu qua chứng điên loạn của người con. Bà tôi thì cả ngày vật vã khóc lóc. Nhà có người điên nên bạn bè thân thuộc cũng xa lánh dần dần. Sự thật là ông tôi đóng kín cửa không chịu tiếp ai, trong nỗi đau âm thầm có pha lẫn một niềm tủi hổ mà sống người để bụng, chết người mang theo, vĩnh viễn không bao giờ xóa bỏ được.

Căn nhà chứa lúa dưới hông bếp không dùng làm gì nữa – ông tôi đã bán rẻ hết ruộng đất sau tai họa – biến thành cái thế giới lưu đầy bé nhỏ cho bác Cả sống với những hình ảnh quái dị nhảy múa trước mắt, nơi sự tỉnh táo sáng suốt chỉ còn là những vùng thư thái thu hẹp như những giọt nắng thoi thóp cuối cùng của một vòm trời bão giông. Căn bệnh không thuyên giảm, ngày một trầm trọng thêm mãi cho đến khi mọi phương sách cứu chữa tuyệt vọng đều uổng công.

Mấy tháng đầu, cơn điên chập chờn trong một trạng thái mất trí hiền lành. Bác Cả cười khóc rồi lăn ra ngủ. Bác ngủ suốt ngày suốt đêm, đầu ghếch lên một góc tường, tay chân co quắp, như một con chó ốm. Sau, chứng bệnh nặng dần. Cái thế giới bệnh hoạn ngột ngạt nung nấu biến con vật hiền lành thiêm thiếp thành một con thú dữ tợn, mỗi lần nổi cơn là một lần đập phá gào thét khủng khiếp. Tóc bạc mọc dài ra, râu ria xồm xoàm. Rớt rãi sùi trắng hai bên mép. Con mắt trợn trừng đỏ rực màu máu. Đêm đêm tiếng gầm rú của người điên vang động khắp khu phố, như lan xa tới vách Tam Đảo và vang trở lại, gợi trong nó cái âm thanh rùng rợn của một con hổ vằn tử thương tru rống từ một đáy rừng sương.

Một buổi chiều nóng nực, bác Cả phát cơn điên đã chạy lên nhà đập phá loạn xạ. Rồi vớ được một gióng cửa gỗ lim, bác thẳng cánh quất xuống đầu ông tôi máu chảy lênh láng. Từ đó, mặc dù bà tôi phản đối, ông tôi cho xích bác lại. Người điên khỏe lạ lùng. Cái dây xích lớn thế, cái cọc đóng sâu vào nền đất như thế mà nhiều lần bác thét rồi vươn tay nhổ phăng cọc, cứ trần truồng ôm xích mà chạy túa ra đường. Bác vừa chạy vừa hò hét, cứ nhắm hướng Tam Đảo tiến vào. Phải hàng chục người trai tráng trong phố mới chế ngự được bác sau một cuộc vật lộn dữ dội.

Người độc nhất mà bác còn nể sợ là bà tôi. Đang gào thét, chửi rủa, đập phá, chỉ cần bà tôi đến ngó bác bằng cái nhìn đẫm lệ và dịu dàng nói: “Cả, làm gì thế con?” là bác im ngay, bác từ từ ngồi xuống, cái nhìn nem nép cúi gằm như một đứa nhỏ phạm tội. Tình thương đó của bà tôi là dòng ánh sáng duy nhất còn chiếu soi được vào vùng tối đặc mê mẩn, là trận mưa duy nhất còn đổ xuống và thấm lắng được vào thần trí bác như một vùng đất đai khô cằn, làm nở lên những bông hoa. Nhưng tình thương đó chỉ là một liều thuốc an thần chốc lát. Căn buồng chứa thóc ngày trước ở hông bếp là một địa ngục vĩnh viễn giam cầm bác Cả tôi trong cái thế giới cô độc của kẻ mất trí, cái thế giới rùng rợn của người điên.

*

Từ ngày biết rõ chuyện bác Cả như thế, tôi vẫn được mẹ tôi hằng năm cho về thăm bà ngoại. Tôi sợ, nên chỉ quanh quẩn trên nhà, đôi khi lảng vảng xuống khoảng sân sau cũng chỉ dám đứng ngó bác thấp thoáng trong căn buồng mờ tối từ xa. Cho đến khi cuộc chiến tranh đột ngột bùng nổ, cắt đứt đường về thăm quê ngoại. Hai năm trôi qua như thế, rồi là một tin buồn từ ngọn Tam Đảo vượt qua nghìn trùng cách trở xuống với gia đình tôi ở dưới biển: ông ngoại tôi tạ thế. Mẹ tôi khóc ngất, thương cha chết một phần, thương người mẹ già một thân một mình lủi thủi kéo lê cái tuổi già buồn thảm dưới bóng núi xa đến mười phần.

Tôi còn nhớ năm đó là một mùa đông cực kỳ buốt lạnh. Sau một đêm bàn bạc, cha tôi bằng lòng để mẹ tôi tìm đường lên Vĩnh Yên đón bà ngoại xuống ở với gia đình tôi. Mọi đường giao thông trên bộ đã bị gián đoạn hết, phải chuyển vận bằng thuyền. Vì chuyến đi nguy hiểm gian lao, tôi phải năn nỉ vòi vĩnh mãi mới được mẹ tôi cho phép đi theo. Ngày đi đêm nghỉ, chiếc thuyền nan ngược dòng, vượt nhánh sông này tới nhánh sông khác, len lỏi qua các mặt trận, tránh xa những vùng súng đạn, ròng rã đúng vào nửa tháng mới tới được cái bến đá hẻo lánh dưới chân ngọn Tam Đảo.

Bấy giờ, từ mạn cầu Đuống tràn ngược lên qua Hương Canh, Phúc Yên, cánh quân mở đường của Pháp đã tiến dần đến thị xã. Chúng tôi đặt chân vào căn nhà rêu phong cổ cũ đúng ngày bà ngoại tôi đang sửa soạn tản cư vào núi. Đứa trẻ đã lớn, đã biết nhận xét ở tôi, chuyến cuối cùng về thăm quê ngoại đó, thu vào tầm mắt nó những hình ảnh cực kỳ buồn thảm. Bà tôi đã già, già lắm. Bà vẫn đội cái khăn mỏ quạ, mặc cái áo bông ngắn như cũ, nhưng ánh lửa nhân hậu sưởi ấm những tháng ngày thơ dại của tôi đã tắt trong cặp mắt nhòe mờ, khuôn mặt tươi cười thuở nào chỉ còn là một vùng héo hon đầy những nếp nhăn, in hằn những đường rãnh nước mắt không thôi chảy ròng từ ngày đứa con trai độc nhất bị ngựa đá thành điên. Cùng với tiếng súng của một thời loạn lạc ầm ĩ dội tới từ đầu thị xã, buổi tối mùa đông dầy đặc khí núi thổi lùa từng đợt lạnh căm căm vào căn nhà le lói ánh đèn, nơi mẹ tôi và bà tôi ngồi thao thức bên đống hành lý gói buộc sẵn sàng trong đêm dài kinh hoàng, chờ buổi sáng tới để chạy ẩn vào hang núi. Những tiếng thở dài não nuột phát ra từ hai cái bóng âm thầm. Bỗng mẹ tôi hỏi:

“Còn bác Cả”.

“Mẹ cũng chưa biết tính sao đây, bà ngoại vừa khóc vừa nói. Nó điên loạn như thế cùm xích bao nhiêu năm rồi, bây giờ tháo xích đưa nó đi theo, biết nó chịu đi không? Nó nổi cơn lên thì làm thế nào chứ! Mà để nó ở lại thì thà mẹ ở lại đây cho lính Tây nó bắn chết còn hơn”.

“Hồi này bệnh tình anh con ra sao? Mẹ tôi hỏi”.

Bà tôi gạt nước mắt nhìn xuống phía nhà bếp:

“Mỗi ngày một nặng thêm. Trước nó còn chịu nghe mẹ, bây giờ mê loạn hoàn toàn rồi, bảo gì cũng không chịu nghe nữa”.

Tôi cứ nằm nghe tiếng đại bác ầm ì và tiếng nói chuyện rì rầm như thế rồi ngủ đi trên gối bà lúc nào không hay. Khi mẹ tôi lay vai đánh thức dậy, trời đã tảng sáng. Tiếng súng lớn vọng tới trong đêm giờ đã biến thành tiếng liên thanh tặc tặc réo réo từng hồi, thật gần, rõ mồn một, tưởng như đã nghe thấy tiếng giầy đinh, tiếng sì sồ của quân Pháp ở ngay đầu phố.

Mẹ tôi và bà đeo khăn gói lên vai hấp tấp đi xuống căn buồng bên hông nhà bếp. Phút quyết liệt đã tới. Bà tôi mở cánh cửa gỗ, mẹ tôi rón rén đi theo, cùng tiến vào chỗ bác Cả Đoàn nằm. Tôi nín thở, đứng nép sau lưng bà. Cái bao bố rách tơi tả phủ lên một thân hình gầy đét đến xương, bác Cả nằm nghiêng, quay mặt vào tường, sợi dây xích đen nhảy căng thẳng từ cổ chân bác tới đầu cọc. Mùi cứt đái xông lên nồng nặc khiến tôi nôn ọe bịt vội mũi lại. Cái ống bơ và hai thanh tre, thú tiêu khiển và cũng là bạn bè độc nhất suốt một đời của người điên – tôi nhìn thấy ở nguyên chỗ cũ, dưới chân bác. Bác nằm, nhưng không ngủ. Tiếng nôn ọe của tôi làm bác bất thần quay ra và ngồi vụt dậy. Tôi hoảng hốt không giữ được tiếng thét sợ hãi. Mọi người chờ đợi những tràng dài quát tháo nguyền rủa nổi lên. Nhưng không, bác lùi vội lại một bước như con thú dữ thu mình, tròn xoe mắt, nhìn bà tôi không chớp. Mẹ tôi gạt nước mắt đứng yên. Bà tôi ngồi xuống. Bằng một giọng nói hết sức dịu dàng, rành rọt từng tiếng một, bà tôi cắt nghĩa cho bác là quân Pháp đã tràn vào thị xã, chúng tôi phải bỏ nhà tản cư vào núi và xuống đây đem bác đi theo.

“Con bằng lòng đi theo mẹ không?”

Bác Cả nín thinh, rồi cái nhìn vụt chuyển thẳng từ bà tôi tới tôi khiến tôi thất thần lạnh toát người đi.

“Con giai em con đó, mẹ con nó lặn lội từ dưới bể lên thăm con đó”.

Bà ngoại quay lại tôi:

“Cháu chào bác Cả đi. Bác yêu cháu lắm. Cháu chào bác đi”.

Tôi nhợt người, ấp úng mãi mới nói được với người điên:

“Lạy bác ạ!”

Bác vẫn nín thinh trong dáng điệu thủ thế cũ. Bà tôi ngồi xích lại gần bác, nghẹn ngào:

“Con thế này, sống cũng như chết rồi, mẹ chẳng muốn đưa con ra khỏi chỗ này làm gì, nhưng Tây nó đến, mẹ bỏ con lại không đành, con nghe lời mẹ, con đừng giận dữ, con đi theo mẹ nhé!”

Bác vẫn nín thinh và nhìn ngó trừng trừng. Bà tôi ngọt ngào dỗ:

“Bây giờ mẹ cởi xích cho con”.

Miệng nói bà tôi thò tay vào chân bác. Bác Cả rút phắt chân lại. Dây xích căng thẳng, tiếng kêu loảng xoảng trong căn buồng tối nhờ nhờ. Nhưng tình thế nguy ngập không thể chùng chình được nữa.

“Mẹ cứ cởi xích cho con rồi con có giết chết mẹ, giết chết em, giết chết ngay lập tức, mẹ cũng đành, nhưng mẹ không thể bỏ con ở lại một mình được, mẹ phải cứu con, mẹ phải đưa con đi, mẹ con ta sống chết phải có nhau”.

Bà tôi vừa khóc sướt mướt, vừa mếu máo tra cái chìa vào ổ khóa. Rồi mẹ tôi và tôi cũng ôm mặt khóc theo. Tiếng khóc vang đầy căn buồng hòa lẫn với tiếng đạn liên thanh tặc tặc nổi dậy, mỗi phút một gần thêm mãi. Vòng xích cuối cùng đã tháo hết, bác Cả như một con thú dữ bị gông cùm bao nhiêu năm qua vừa được thả lỏng. Giây phút cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi cứng người, chờ bác chồm dậy, thét lớn, vung xích quật xuống.

Nhưng lạ lùng, nhưng kinh ngạc xiết bao! Bác Cả từ từ đứng dậy. Và trong một dáng điệu hết sức từ tốn, đĩnh đạc, bác tiến lại trước mẹ tôi, giơ cánh tay trần khẳng khiu đặt lên vai mẹ tôi, cử chỉ thân mật âu yếm của một người anh đối với người em gái lâu ngày mới gặp:

“Cô Hai đấy ư? Bây giờ cô chú xuống làm ăn dưới biển ư? Chú ấy vẫn mạnh đấy chứ?”

Sự kinh ngạc làm mẹ tôi mãi mãi mới trả lời được hai tiếng ngắn cộc:

“Vâng ạ”.

Mà không riêng gì người, bà tôi và tôi đều cùng sững sờ trong kinh ngạc tột điểm. Bao nhiêu năm điên loạn, thốt nhiên, trong giây phút thập tử nhất sinh này, bác Cả đã tỉnh dậy, như tỉnh dậy sau một giấc ngủ bằn bặt, như sống lại sau một cái chết dài.

“Ông mất rồi, tôi bệnh hoạn như thế này, bà già yếu không còn ai nương tựa, chỉ còn mình cô chú. Cô chú thay tôi chăm sóc bà nhé!”

Mẹ tôi giàn giụa nước mắt gật đầu.

Bác Cả quay lại, mỉm cười tiến đến trước mặt tôi, cái bao bố kéo lệt xệt trên nền đất.

“Tên cháu là gì?”

Phút đó tôi vẫn khiếp hãi, nhưng sự khiếp hãi không còn như trước nữa. Tôi nhìn cái khuôn mặt râu ria xồm xoàm, nhớp nhúa, tiều tụy nhưng đầy những nét đẹp cân đối, tôi nhìn cái thân hình giơ xương, cái mái tóc màu tro phủ xuống kín gáy, rồi tôi nuốt nước bọt, cố gắng chế ngự sự hồi hộp, dõng dạc trả lời bác:

“Thưa bác, tên cháu là Đăng”.

Bác Cả nhoẻn miệng cười, xoa đầu tôi, nhắc đi nhắc lại:

“Tốt lắm, tốt lắm, tốt lắm”.

Cuối cùng, bác quay sang bà ngoại mà nỗi mừng vui xúc động mãnh liệt vừa bật thành tiếng khóc nức nở.

“Con không điên nữa đâu. Bây giờ con không điên đâu. Mẹ đừng sợ, mẹ đừng khóc nữa”.

Qua khung cửa, trời bật sáng rõ. Cùng với ngày vừa lên, tiếng giầy đinh rầm rập, tiếng xì xồ quát tháo lạ tai của toán lính Pháp hung dữ nhất tề nổi lên ở đầu phố.

Bác Cả lắng tai nghe ngóng. Mắt bác sáng quắc. Bác nhảy vọt một bước ra sân, vơ lấy cái gióng cửa dựng ở bên thành bể non bộ, cái gậy mà trong một cơn điên ngày nào bác đã đánh ông tôi chết ngất. Theo tiếng gọi của bác chúng tôi líu ríu ra khỏi nhà, lếch thếch chạy ngược về phía chân núi. Ngọn Tam Đảo mờ mờ trong sương sớm. Ra đến đầu tỉnh chúng tôi đặt chân vào con đường dẫn lên đồi còn ướt đẫm sương. Chúng tôi vừa chạy vừa thở hổn hển, chân cẳng run bắn muốn ríu lại, muốn té quỵ, vì ở phía sau lưng những tiếng đạn, tiếng giầy, tiếng xì xồ vẫn đuổi theo rất gấp. Những đám người chạy cùng với chúng tôi khi nhìn thấy bác Cả, mình đeo khố tải, tay cầm gậy lớn, đều kêu lên thất thanh: “Người điên! Người điên!” và chạy tán loạn về phía khác. Tôi chạy tưởng chừng sắp muốn đứt hơi. Bà tôi mấy lần lảo đảo chỉ muốn ngã sấp xuống. Bác Cả đi tập hậu, cứ kéo lết bết cái bao tải như thế, vừa chạy vừa ngoái cổ lại. Trên con đường vắng tanh, lởm chởm, chỉ còn bốn bà cháu chúng tôi cuống cuồng, lếch thếch trước những tràng đạn đuổi theo veo véo trên đầu.

Bỗng tiếng bác Cả cất lên:

“Chúng nó! Chúng nó!”

Chúng tôi rú lên, cùng ngoái cổ nhìn lại. Thấp thoáng ở xa xa, đầu con đường đầu tỉnh, những đầu lưỡi lê nhấp nhổm, sáng loáng. Cùng lúc đó, bà tôi kiệt sức, ngã vật xuống. Bác Cả chạy đến, xốc bà ngoại dậy. Bà tôi vừa khóc vừa thở:

“Thôi đành là mẹ con ta chết ở đây. Mẹ không chạy nổi nữa, con ơi!”

Tôi thấy bác Cả đẩy bà ngoại cho mẹ tôi đỡ lấy, bác nghển cổ nhìn tứ phía, rồi bác chỉ tay cho mẹ tôi nhìn thấy một con đường nhỏ chạy tắt xuống thung lũng um tùm.

“Cô đưa bà và cháu chạy xuống dưới kia”.

Mẹ tôi còn ngơ ngác do dự bác đã giục hối hả:

“Mau lên. Chạy xuống ẩn dưới đó đi”.

“Còn bác?”

Bác Cả lần lượt nhìn cả ba chúng tôi bằng một cái nhìn lạ lùng, một cái nhìn chứa chan, nồng nàn, như gửi vào đó tất cả những thương yêu một đời, rồi bác mỉm cười nói:

“Tôi chạy theo sau mà. Mau lên, trời ơi, mau lên”.

Mẹ tôi quẳng vội khăn gói, một tay dìu bà, một tay dắt con, cắm đầu chạy xuống con đường nhỏ. Đạn nổ đinh tai nhức óc. Chạy tới một vùng cỏ dại cao ngang tầm người, mẹ tôi vấp kéo theo bà tôi và tôi cùng ngã xuống.

Nhìn lên, mẹ tôi kêu lên một tiếng sợ hãi. Thì ra bác Cả không chạy theo chúng tôi, mà từ con đường cao, bác chạy sang phía bên kia, bác chạy thẳng lên đỉnh đồi.

Suốt đời, tôi còn nhớ thân đến cái cảnh tượng lạ lùng, kinh dị đó. Thân hình bác Cả nổi lên nền núi xanh thấp thoáng nắng sớm, cái khổ tải lất phất như một cánh bướm, như không phải là bác đang chạy mà đang là là bay. Điều kỳ dị là bác chạy dềnh dàng, chuệnh choạng, chân nam đá chân xiêu, như người sau rượu. Điều kỳ dị nữa là bác vừa chạy như thế, vừa vung tít cái gậy trên đầu, vừa ngoái cổ lại, gật gù như vẫy như gọi bọn lính đuổi theo, miệng thì ca hát ê a, tiếng ca hát ê a tôi đã từng nghe thấy trong những cơn điên của bác.

Bà tôi và mẹ tôi cùng thét lên:

“Trời ơi! Lại nổi cơn điên rồi”.

Nhưng không phải thế đâu. Bác Cả không điên. Bác Cả chỉ đang cứu chúng tôi thoát khỏi ba cái chết thảm khốc. Sau này, càng nghĩ càng nhớ đến cái nhìn cuối cùng của bác, cái nhìn chan chứa yêu thương không nói, tôi càng tin là đúng, là chỉ có thể như thế, là lần duy nhất trong đời, điên đã tỉnh rồi, đã giả bộ múa hát điên điên dại dại, để dụ quân Pháp về một hướng khác, đánh lạc đường chúng đuổi theo chúng tôi.

Và bác đã thành công, toán lính đuổi tới chỗ bà tôi ngã, đứng khựng lại trước cảnh tượng kỳ quái đang diễn ra trước mắt chúng trên ngọn đồi trọc. Tới đỉnh đồi, bác Cả quay lại, hoa chân múa tay, miệng vẫn hò hát, như thách thức đám lính đuổi theo. Một tràng đạn xé tan không khí. Từ đám cỏ hồng, tôi thấy bác Cả lảo đảo, cái gậy trong tay bác hạ xuống, bác loạng choạng đi trở xuống, tay ôm ngực. Một tràng đạn thứ hai nổi lên. Bác Cả ngã vật xuống. Quân Pháp chụm đầu bàn tán, ý chừng còn thảng thốt trước sự xuất hiện quái đản của người khùng. Rồi chúng quay trở lại, kéo nhau về thị xã.

Chúng tôi thoát chết.

Khi bà tôi lên tới đỉnh đồi và nức nở quỳ xuống, bác Cả đã tắt thở từ lâu. Con mắt một nửa đời người vẩn đục màu máu điên loạn chỉ còn là một khối đồng tử bất động. Cái bao tải phủ ngang thân thể bác như một màn vải liệm. Chiếc gậy lớn vẫn cầm lăm lăm trong tay. Bác Cả nằm nghiêng nghiêng, nét mặt hiền hòa, cái nhìn ngước lên như hướng tới đỉnh núi Tam Đảo cao ngất bây giờ đã rực rỡ dưới nắng.

Bà tôi vuốt mắt cho bác. Buổi trưa hôm đó bà tôi xõa tóc, đi theo xác con đến tận bờ huyệt đào ngay trong thửa ruộng chân đồi, dưới bóng cây, nơi khi xưa, bác Cả Đoàn đã bị con ngựa hồng của ông tôi đá một phát vào bụng dưới thành điên.

***

Trở về căn nhà rêu phong cũ, bà tôi quét dọn lại căn buồng chứa lúa ngang hông nhà bếp, dọn giường chiếu xuống đó, sống những ngày già yếu cuối cùng của đời bà ngay trên thước đất nơi bác Cả bị xiềng xích ngày trước. Chỉ còn một thân một mình nhưng bà tôi nhất định ở lại nơi này, trong căn buồng của người con điên, và bỏ luôn ý định xuống miền biển, sống với gia đình chúng tôi, mẹ tôi năn nỉ thế nào, khóc xin đến mấy cũng không lay chuyển được. Ngày sắp di cư vào Nam, cả thầy mẹ tôi cùng lên Vĩnh Yên, đón bà cùng đi. Nhưng bà tôi không chịu. Và bà đã ở lại. Bà bảo mẹ tôi:

“Mẹ già rồi, không đi đâu nữa. Mẹ ở lại chờ chết trong căn buồng này là nơi thằng Cả nó đã sống, đêm đêm mẹ vẫn mơ thấy nó hiện hồn về”.

Trên cái bàn thờ nhỏ của bác Cả Đoàn được thiết lập ở một góc buồng, bà tôi dựng cái gậy bác Cả còn cầm ở trong tay cho đến lúc chết. Và trên bàn thờ, dưới ánh khói hương, là cái ống bơ sắt cũ và đôi gậy tre là những dấu tích cuối cùng của một cuộc đời điên loạn.

*

Bây giờ bà tôi đã chết. Tấm bưu thiếp ngắn ngủi từ bên kia vĩ tuyến không nói rõ bà tôi nằm xuống ở đâu, trút hơi thở cuối cùng trên thước đất nào. Nhưng tôi, tôi nhìn thấy rõ ràng cái chết nghìn trùng cách trở ấy. Người bà ngoại nhân hậu vì quá thương con, cho con uống quá nhiều mật gấu đến nỗi thành điên, đã khép mắt trong căn buồng ấy, nơi mãi mãi phảng phất tiếng ê a lạ tai và tiếng đũa gõ loong coong đêm ngày trên nắp cái ống bơ lật úp của người điên đã chết cho những người thân yêu được sống. Phải, bà ngoại tôi chỉ có thể chết trong căn buồng ấy. Không thể chỗ khác. Và người ta cũng chỉ có thể chôn cất bà ở chỗ ấy, cho người mẹ già được ngủ giấc ngủ nghìn đời với người con điên trong thửa ruộng dưới chân đồi nhìn lên một sườn Tam Đảo. Không thể ở chỗ khác.

Có một điều là: sau bao nhiêu năm, tôi vẫn ngạc nhiên và vẫn tự hỏi về cái hiện tượng lạ lùng là sự thức tỉnh sáng suốt cuối cùng và đột ngột của bác Cả Đoàn. Tiếng súng đạn đinh tai nhức óc đã làm bác chợt tỉnh cơn điên loạn triền miên? Hay là vì những giọt nước mắt hãi hùng của chúng tôi trong buổi sáng thập tử nhất sinh đó? Hay vì tôi, vì cái khuôn mặt thơ dại của đứa cháu vô tội? Không biết. Có thể là vì những nguyên nhân huyền bí, siêu hình nào đó đã cấu tạo thành linh hồn và sự thật dị thường không khám phá nổi, niềm bí mật nghìn đời ẩn giấu của thế giới người điên.

Chỉ biết rằng, buổi sáng hôm đó, trước cái chết đến gần, bác Cả Đoàn đã tỉnh dậy. Và nhờ sự sáng suốt độc nhất, chốc lát, của cuộc đời điên loạn ấy mà tôi còn được sống đến ngày nay.

Just like that, one bright morning in Saigon, the crazy news my family have been waiting for anxiously for ten years this side of the parallel, flown in from the other side of the 17th parallel. My maternal grandmother, the last member of the Nguyễn family left behind in the North just passed away.

Bad news condensed in a few surreal lines on a postcard, date time of an unreachable death thousands and thousands of miles away scarcely mentioned, but I, I knew where my maternal grandmother laid down her life, wise eyes and a lifetime of benevolent tears for others have closed up under which firmament, which patch of earth had she chose for the keepsake of her withered bone in old age alone.

The small acre field lies at the foot of a grassless hill. The clay soil was eerily red like blood. The shade of a huge tree in the field right by a path of pebble and reeds in their natural habitat, above them were cumulus clouds, a firmament of white fluffy cotton balls, clouds with flat bottoms that looked like cauliflowers floating on this side and on the other side was a dense green thicket were the two slopes of Tam Đảo.

The white water poured from the top of the mountain and from far away the water fall looked like a silver cotton thread. Rising was the echo of a horse galloping from the end of an over grown path in the afternoon light. Escaped from distant villages the odd sound of rice being pounded in a mortar and pestle three moons after the harvest. Returned from the Northern highlands of the Vietnam the sombre dark air of the trees and mountain. Carried in the wind from the low plains was the warm smell of paddy seedlings. They carried her coffin out from an old moss covered house, a thousand miles away and I can still see it clearly, the funeral procession stretched out along on a path through sea of grass swaying in the wind, the coffin was an imprint across the horizon of Tam Đảo, and it was lowered in to the ground in the middle of that acreage of land, and not just any soil or cemetery. Because my grandmother, stayed, refused to cross the demilitarized zone so she could be buried next to her unfortunate son, my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. My uncle Cả was buried in that acreage of land, a few hours after he died, his body riddled holes exactly 17 bullets form an automatic rifle.

*

It happened fifteen years ago. The tragedy of my crazy uncle, it began long before that, when I was still knew nothing and small. Me retelling the story. Because my uncle’s crazy death was a mystery I could never explained.

I will never forget the trips to mother's family home, the rickety old truck noisy exhaust rattling from the dark rippling water edges of the small church village by the sea lazily moving along the roads through the province lined with infinite blue gravel. Climbing hills after hills before the ferry dock. In the bleak light of the Northern winter, the ancient vehical patiently swallowing one white mile at a time, leaving the withdrawing fishing villages behind, heading deeper and deeper into the ruggedness of the mountain and jungle. Tam Đảo mountain appearing slowly through the afternoon mist, the tip of the mountain a blurr sinking into a layer of grey clouds thinned out like a chiffon sash wrapped around it. Then again joy and excitement of the jungle overwhelming in the wind came falling down as the truck slips down towards the flickering lights in the streets of Vĩnh Yên. The toll truck drop my mother and I at a house at the far end of the provincial capital.

The day before my father sent a telegram. And my grandmother sat there on the steps of the front door, waiting for us. She wore a headscarf, short quilted jacket. Older by the year, but all the joy lit up in her eyes, the sparkle, when I jump out of the truck, and my mother’s worried face to not to drag my grandmother like that into the house. During our meal, I was on my grandmother’s lap, demanding all kinds of stuff. My grandmother made the best chè and mứt dừa. My grandmother’s chè was thick and rich the colour of honey, the ginger fragrant with the slightest hint of heat through the nutty scent of sticky rice. Honey coconut from Vĩnh Yên famous in North, my grandmother would turn it into soft chewy, translucent, deep red, fruit candy with a bite kept in a large glass jar. The days I spent with my grandmother my stomach was always stuffed. My lips, the corner of my mouth was always sticky with honey and coloured candy. The kind of happiness that could never be completely noted by a pen on paper. Waking up after a long sleep after an exhausting long journey, running to the front of the house first thing in the morning, sand and waves in the bewildering eyes of a child full of wonder inside me staring at the overwhelming peak of mount Tam Đảo in the midland morning, the mountain stood there imposing, loomed before us like some mythical, divine manifestation, with an entire strange, secret world hidden on the other side of the mountain.

*

It was actually on one of those trips to Vĩnh Yên to see my ông bà ngoại that I became aware of my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. The first time I saw him, I stood there stunned, the blood drained from my face, I was terrified. Dancing around a rock pool in the backyard, a clanging noise setting up the tempo for


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

home to the fall | Đinh Trường Chinh

Trung Thu 2023, art by Đinh Trường Chinh

In Vietnamese by Đinh Trường Chinh
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

home to the fall
home to the fog
to a room cast in darkness
discern the stirring of the dying light

home to. home yes.
to half a glass of your poison
blow away the dust and cobweb of time
in the night wash away
the stains of old & stale faces of those
who haunt us

imminent storms
leave behind their lonely daylight
passing affections
sees. a cold autumn …

trở về với mùa thu
trở về với sương mù
nghe buổi chiều thức dậy
giữa căn phòng âm u

trở về. trở về thôi.
rót cho mình lưng rượu
thổi lớp bụi thời gian
lau mặt đêm ám cũ

những trận bão kéo sang
để lại ngày hiu quạnh
nghe tình vừa đi ngang
nhìn ra. mùa thu lạnh …


Đinh Trường Chinh, the poet, and artist was born in 1970 in South Vietnam. The poet currently works in IT in Virginia, U. S. A.

Viet Pham, translator and poet, passed away today, September 2025.  The world will miss his compassion and sense of humour..

each day is a | Mai Thảo

Mai Thảo

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

each day is a line on the wall in a prison cell
on a cold wordless wall where I sleep
so many lines on the wall there’s no space left for them anymore
lines running into each other endlessly in waves for a thousand year

mỗi ngày một

Mỗi ngày một gạch mỗi ngày giam
Lên bức tường câm cạnh chỗ nằm
Gạch miết tới không còn chỗ gạch
Gạch vào trôi giạt tới nghìn năm


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

waiting a thousand year | Mai Thảo

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

waiting a thousand year at the precipice
home to the delusions of the same name
living a shitty life in the gutter
because they have not came

one shitty face is like any other shitty face
when it’s time for the bats to wake up
across the sky is the spreading stench
from here to the end of the horizon

owls and crows in a crowd
tearing to shreds the leaves in the trees
the stench of dirt from the few souls lost
the stench of sewage and rising rot

worthless influencers ruling the world
cheap tactics scaremongering the old
opportunists and users, you’re not dead yet
and these demons are already laughing

with my head down I can leave this land of the living
like a tired star that wants to resign from its position
like a boat far from shore heading for the seas
heading for the elephant graveyard for the final rest

make our ancestors wade through the swamps
such swampy paths could never take our shoes
the shoes are dirty so let them be
on the way home through the West Gate

chờ đợi nghìn năm

Ta đợi ngàn năm tới trước thềm
Đó về huyễn ảo đã cùng tên
Song loan chưa tới trong chờ đợi
Đành với hoàng hôn sống nhá nhem

Tối sáng không phân nhọ mặt người
Là giờ xuất hiện của bầy dơi
Rợp trời những cánh bay hôi hám
Trên lối ta đi tới cuối trời

Quạ cú ào theo kín một bầy
Cáo chồn mai phục mỗi hàng cây
Dăm con ma xó tanh mùi đất
Cống rãnh chui lùn cũng bủa vây

Bàn độc chen chân chó nhảy ngồi
Mồ chiều xanh lạnh lửa ma trơi
Giậu chưa đổ đã bìm chen lấn
Huyệt chửa đào xong đã quỷ cười

Ta cúi đầu đi khỏi bãi đời
Như vì sao mỏi muốn lìa ngôi
Như thuyền xa bến vào muôn biển
Tới đáy rừng chôn giấc ngủ voi

Làm người xưa bước qua lầy lội
Đường lội làm sao giữ được giầy
Giầy đã lấm rồi thôi để mặc
Trên lối đi về hướng Cửa Tây


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.