Drowning | Bùi Chát

Khai mạc 'Đang trôi'. Bùi Chát in the middle. Photo by Trà Cù Lủ

poem by Bùi Chát
translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

I was about to compose a poem with all the words
I picked out from all the poems I have read
My wife stopped me just in time instead
– Are you sure you want to go ahead
People will watch you day and night
(Worried someone might steal their organs or kidnap their poems)
The litigation and lawsuits can drag out until when
Passing from one person to the next day in day out and then
There will be no one left to fend
Enough energy to chase after those new innovations
New poems

Đuối


Tôi đang định làm bài thơ
Bằng những từ được tháo ra từ bài thơ khác
Vợ tôi biết được, bả cản
Nếu anh nhất định làm vậy
Mọi người suốt ngày đêm canh chừng
(Sợ thơ mình bị bắt cóc hoặc lấy cắp nội tạng)
Cuộc kiện cáo giằng co có thể kéo dài
Từ người này sang người này, rồi lại sang ngày khác
Cuối cùng sẽ chẳng còn ai
Đủ sức chạy theo những loài thơ mới


Bùi Chát is the poet, writer, publisher and artist’s pen name. Bùi Quang Viễn was born on October 22, 1979, at Hố Nai, Biên Hòa, Đồng Nai Province, Việt Nam. Born to family of patriotic Catholic refugees from the North in 1954.

Graduated in 2001 from the Faculty of Literature, Linguistics, and Journalism of Hồ Chí Minh City University of Social Sciences and Humanities. Bùi Chát named and cofounded Nhóm Mở Miệng (Open Mouth Group) with the poet and writer Lý Đợi, promoting Graveyard & Garbage Poetry.

Nhà Xuất bản Giấy Vụn (Scrap Paper Publishing House), also founded by Bùi Chát, distributions of xerographically structured sensitive works by “pavement poets”. In 2004, Bùi Chát and cofounder Lý Đợi were detained for two days for distributing flyers at a poetry reading raided by the authority. In 2005, the culture department blocked their performance at the Goethe Institute in Hà Nội.

In 2011, Bùi Chát was awarded the IPA Freedom to Publish Prize “for his exemplary courage in upholding the freedom to publish.” He was arrested on his return to Việt Nam after receiving the award in Buenos Aires and detained for several days.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

MISSING SAIGON | Hoàng Xuân Sơn

Sipply coffee, Saigon, Vietnam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Hoàng Xuân Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

morning in the old saigon (1)

early morning coffee, stools spilling into the street
a whirlpool estuary gateway to the sea
in a single drop of black coffee
a sip of life in barely awaken footsteps like a dream

so addictive is. the animation
chatter from the floating market
and above all that life and movement
the gentle opening of a door to contentment

no other light could ever dim or
shift such longing, like the scent of
a fresh pressed crisp linen shirt
a memory edged in one’s mind

dead silent waters down boundless rivers
streaks of alluvium garments of red clouds
sombre purple of water hyacinth
hid in waves of emptiness

drilled in is the morning chill
a dreamy knock on the door
sudden flood sudden rain
like sediment is life. why disturb it?

S À I G Ò N N H Ớ T H Ư Ơ N G
[ h o à n g x u â n s ơ n, v i ế t t h ơ
1983 – 2015]


b u ổ i s á n g s à i g ò n c ũ

___________________________________
sáng sớm ngồi cà phê quán cóc
giọt đen lênh láng biển thần phù
ngụm đời một ngụm chưa tỉnh thức
vẫn còn trong mộng bước du du

ghiền lắm. cái lao xao hàng quán
tiếng kêu ơi ới của thương hồ
và trên tất cả nguồn sinh động
mở cửa an bình nhẹ cổng vô

làm sao một ánh đèn leo lét
có thể khơi lan nhớ tận nguồn
áo đã xanh rồi phiên trúc nhã
kỷ niệm in vào trí tượng suôn

nước trôi bình tịnh qua sông ngát
phù sa vệt đỏ áo mây hồng
tím buồn trên sóng bèo hoang lục
giữ kín đời mình một khoảng không

sáng sớm nghe hàn trong cái rét
bàn tay ai gõ tiếng mơ hồ
rồi bỗng tuôn ào chương thuỷ vũ
đời chầm. xao động mấy vi lô?

3 juin 2019

s à i g ò n 3 đ o ạ n (2)
_______________________

đi qua cống bà xếp
những chiếc bánh bông hường
trên lầu cao tọa tháp
chiếc răng cời dễ thương
*
sài gòn xếp bằng ngồi
nhà sư châm lửa đốt
khói trời và hoang loạn
nửa ngày mây bay đi
*
khúc bánh mì hòa mã
cà phê đậm thái chi
bánh xe chiều rụng nắng
trôi xuống ngõ vàng quỳ
*
3 tháng 11/2020

**



Viết thêm, tặng Vũ Hoàng(3) Thư :
&

Và cà phê cô hồng
tóc thả dài ngang lưng
tiếng hát riêng bóng tối
bay thơm khói xanh lừng


s à i g ò n b ỏ l ử n g (4)
_______________________

bước ra đường cái đụng xe ôm
lết đi trên vỉa phố lồm cồm
về ngang phường cũ đèn chấp chóa
nhà dính nhà xâu một mũi đinh
,
người dính người như xâu chim mía
chiều lụng rồi nhậu đi chú hai
chục ly cối dập đầu lôi ký
trễ mẹ phà rồi chu mẹc ơi . . .


b ộ h à n h (5)
_________________

nhà và cây
đường và người
chuyến xe lú giữa
ngày mai
bữa rày
miệng trời
khựng giữa hai tay
làm sao vốc được
nụ ngày của đêm
vì hương đã chết
rất mềm

26,27 oct. 2015


d z ô (6)
__________

Vô sâu chút xiú. vô thêm nữa
mấy con súc sắc nhảy leng keng
cậu chàng khách trú cười cười bảo
ngộ thắng rồi, nị trả hai vziên


h a i m ả n h (7)
______________

tờ bạc mà xé làm hai
thối đêm một nửa
chung ngày rợp vui
sáng đạp xe theo đường đời
nghe thơm một quãng mắt môi người tình
một hôm
phố xá
thình lình
xóa tên kẻ mất
đóng đinh người còn!

11 Apr 2021


b u ổ i s á n g x e b u ý t. v à t h i ế u n ữ (8)
___________

buổi sáng sáo nhồng
thiếu nữ
những cái nguýt lườm
sinh sự chuyến xe buýt thành đô
lờ mờ đầu óc chật hẹp
thèm một chút nắng trong
những chiếc dép vẫn lép xép trên lối mòn
lẹp xẹp
quanh quẩn hàng rào dẫm nát
phố phường tay đôi
buổi sáng cân nhắc mình
va đụng ngọn phi lao
trần xe lúng liếng
những viên sỏi rù rì ôm bọc cách
chiếc bóng bẹp dí
nơi góc đường


v à m à u b ụ i (9)
____________

màu bụi có khi rất đẹp
buổi trưa nắng xám. trong
mầu đơm không gian cổ hanh. mềm
cái háy mắt cong
và mi đen

nhớ những trưa nồng đô thị
phin nõn
mồ hôi hồng
hương ngai ngái. tóc
và măng tơ
dưới vòm lung linh trứng cá
vắt vẻo cành gió
trắng muốt búp sen cười
và chụm môi
thổi đầu mắt bụi

tháng 11 năm 11


s à i-g ò n l â u (10)
____________

[tặng nguyễn đăng thường]

ra phố đứng một chân
nghe cửa nhà đè nặng
một cái hố dự phần
dăm con đường lấn cấn

chui nách áo mồ hôi
gột hoài không sạch bụi
một tàn cây nằm chui
trong ý đồ vặt trụi

ra phố lượn mấy vòng
mà lối về chỉ một
công trình ôi công trình
bị mắt mình thui chột

bị tim mình đánh thót
lâu hung lắm. sài-gòn
nhằm nhò chi hòn ngọc
rớt xuống. nằm trong lon

)(
hoàng xuân sơn
1983 – 2015



Hoàng Xuân Sơn 

A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh… 

Hometown: Vỹ Dạ, Huế.

Lý Thường Kiệt Primary  

Bán Công High School and Quốc Học Huế High School

Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn. 

Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.

After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.

The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn  Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề,  Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn,  Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ. 

Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.

Published work:

Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)

Huế Buồn Chi (thơ,93)

Lục Bát (thơ, 2005)

Ref: vanchuongviet.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

An Oxymoron | Bùi Chát

poem by Bùi Chát
translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

1.
I am a witness to many deaths
Sad. Pitiful
Horrifying, to the point where…

Death is something no one dare


2.
I am a witness to many deaths
Sad
Pitiful
Horrifying
to the point where…

Living is something no one dare

Nghịch lí


1.
Tôi đã chứng kiến nhiều cái chết
Buồn. Thê thảm
Kinh hoàng, đến nỗi…

Không còn ai dám chết


2.
Tôi đã chứng kiến nhiều cái chết
Buồn
Thê thảm
Kinh hoàng
đến mức…

Không còn ai dám sống

(Chúng ta đang trôi đi đâu?! – Nxb Đà Nẵng 2025)


Bùi Chát is the poet, writer, publisher and artist’s pen name. Bùi Quang Viễn was born on October 22, 1979, at Hố Nai, Biên Hòa, Đồng Nai Province, Việt Nam. Born to family of patriotic Catholic refugees from the North in 1954.

Graduated in 2001 from the Faculty of Literature, Linguistics, and Journalism of Hồ Chí Minh City University of Social Sciences and Humanities. Bùi Chát named and cofounded Nhóm Mở Miệng (Open Mouth Group) with the poet and writer Lý Đợi, promoting Graveyard & Garbage Poetry.

Nhà Xuất bản Giấy Vụn (Scrap Paper Publishing House), also founded by Bùi Chát, distributions of xerographically structured sensitive works by “pavement poets”. In 2004, Bùi Chát and cofounder Lý Đợi were detained for two days for distributing flyers at a poetry reading raided by the authority. In 2005, the culture department blocked their performance at the Goethe Institute in Hà Nội.

In 2011, Bùi Chát was awarded the IPA Freedom to Publish Prize “for his exemplary courage in upholding the freedom to publish.” He was arrested on his return to Việt Nam after receiving the award in Buenos Aires and detained for several days.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The Date | Tống Phước Bảo

A Short story in Vietnamese by Tống Phước Bảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

1.

Quyên met him at Metro 9, the light rail connecting Suối Tiên and Quảng Trường. He looked smart in a three piece black suit and charcoal purple tie. Hair neatly combed, divided three quarter to the side. A generous forehead crowning prominent cheekbones. Quyên’s heart skipped a beat. It took a couple of minutes before she had managed to regain her composure.

The carriage doors opened, rows and rows of people rushed in, filling up any space that was left to be filled. 7h30 in the morning May 2. A busy start to the week. Office workers from the surround areas coming into town after a long break, after the country had shut down for the national holiday. In the tight carriage Quyên’s eyes searched for him, but she couldn’t find him. Perhaps because people, they all looked the same. Perhaps it was because Quyên was not fully awake. Last night’s dream was still spinning around in her head.

2.

Passing the exam Thuần was accepted into a big company, after being unemployed for five months. Happy news rang over the phone.

Quyên bought Thuần a smart suit, fitting of his form, a few plain coloured ties. Thuần liked to keep it simple, no long or short stripes. Thuần was simple from the inside out. Like it or not he would come straight out with it, tell the person to their face.

A couple of times Quyên tried to tell Thuần to be a little more kinder with his words. In theses current time no one cares if you’re good or bad, what makes all the difference were the kind words. Because Thuần was like that, after two years working his butt off he was still at the bottom of the food chain, his friends graduating from the same class were now in better roles, they were either in managerial roles or trainers.

Thuần do not agree, or disagree. But he would always speak up. Everything was black and white, there was no other colours in between, to muddle the boundaries. Thuần is a person who will fight, will speak up until the job was done, taking full responsibility for his actions.

Quyên asked Thuần, have you ever thought about me, our future together? With our current situation you can not be Lục Vân Tiên.

Thuần resting his head on Quyên’s shoulder. One afternoon in Thủ Thiêm when the waves endlessly came and went. From district two looking over the city centre, proud tall building puncturing the sky, the streets glowing slowly with red and green lights. The urgently shifting. This land right here, from the ground up, business centres, majestic residential buildings, they will pop up. Quyên, all changes has a cost. If Thuần stay quiet, I will be like the other people with their heads down because of money position fame and opportunity. A city like this needs people who can break things down for any development to succeed.

Someone else will speak up if Thuần do not. There are plenty of things wrong with this world. As long as we watch what we’re doing and stay firm there’s nothing we have to fear. Time will tell. There are times Thuần finds it impossible to go on, his faith is renewed by simply resting his head on Quyên’s shoulder. There will be time when Thuần will stumble and fall, Quyên will have to believe that, Thuần just need to rest and everything will be fine. Quyên, our faith in each other is how we survive!

3.

10 O’clock Friday, the 13th of June. The trip home on the light rail from Quảng Trường to Suối Tiên. The last train, the last day of the week there is usually less people. The carriage was mostly empty. The two of them found themselves sitting opposite each other.

The man sitting facing her was unusually pale caught Quyên’s attention. Droopy eyelids, head leaning onto the side panel of the seat . Movements to disposition were a show of exhaustion. But Quyên could still discerned his steady breathing.

For fifteen minutes Quyên watched him, the light rail came to a full stop. Hesitating a few seconds, Quyên made her mind to wake him up.

_It’s the last stop!

He opened his eyes, startled but managed a smile before thanking her. The two of them stepped out of the carriage together, crossing the empty platform. The gate standing there in silent, unmoving. He quickly fished out his red rail pass, swiping the thin screen at the end of the gate, the automatic gate opened up as usual.

_The gate sometimes does not work. My name is Jack, I’m twenty four, just back from the States, Director of Operations of the City Metro System.

_Oh, I’m Rita…

_Rita, you are beautiful, I wonder if I could have your birthday?

A faint smile appeared on Quyên’s lips as she proceeded to clearly give him her date of birth. Their conversation continued across another long walkway, down two sets of stairs, then out into the main road. Quyên turned left, he turned right.

4.

The news of Thuần’s accident came late one seasonal rainy night in December. The city stood still bearing the downpour from the East sea. Quyên was on the phone to all the taxi companies, the operator told her to wait.

More than four hours before that, all the offices had allowed their staff to leave early, Thuần did call to say, after the meeting he will head home. The meeting was rather stressful, it had taken Thuần more than a week to prepare for it. Cancelling their wedding fitting appointment. Including the reservation of the restaurant venue Thuần had left it for Quyên. Every night Thuần would be in bed at two in the morning. Quyên would ask how every were going, Thuần would reply with how much he was so sick off with a long sigh.

The rain draped across the sky covering every up. No taxi. Quyên did not sleep. 12 am, the picture frame of Quyên and Thuần the day he took her to the opening of the Metro 9 light rail, suddenly fell, the glass shattered across the floor. Quyên grabbed her phone and pressed the number the doctor used to contact her. There were only the chilling sound of buzzing coming from the other end of the line.

5.

In the news there was a serious case of fraud, the exaggerated cost of a metro project from twenty years ago. To the extent of staging an accident to cover up the incident. All nine stations of the metro line connecting the surrounding suburbs to the city center were overcharged by billions of dong. The entire board of directors were arrested. People from accounts to floor supervisors, they were all under investigation. The incident for a whole week was a topic of interest through all the carriages down the metro line. And for almost a week, Quyên did not see the guy with the charcoal purple tie.

The case was turned over one late night when the young director was held up in his office. An old filing cabinet in the storeroom next to his office toppled. A big commotion. He and a couple of security guards rushed over to check out what had happened and to see if they can help clean up. In a stack of documents, fell out from a purple ring binder was a CD, on the cover was a photograph of a smiling couple taken in front of Metro 9 station.

He took the folder back to his office. His curiosity was piqued because the woman in the photograph was someone he saw now and then on the metro. And the new the guy next to her, leaned into her like two drops of water.

The disc had a collection of photographs of the pair, from the time they were at university together on their bikes, to their lovely home, then …a photograph compressed in a compressed file marked as Jorker virus. Jorker wore a black suit with a charcoal purple tie.

Then he remembered the evening on the late trip home on the metro, he entered the six digit number he remembered through the whole conversation on the platform of Metro 9 after he was woke up by the young woman.

The last file that had opened up stunned him. Crucial data from more than twenty years ago. The data was immediately handed to the police.

7.

The young director caught the light rail from Long Thành International Airport to Suối Tiên on one late night at the end of the week. The business trip devoted to the incident that had taken place twenty years ago had left him exhausted. It was the last stop. Metro 9. Exactly ten at night December 14th 2046. Enough time for him to make it to his twenty fourth birthday.

Even footsteps on the deserted platform. Approaching the exit, he found Rita having trouble with the automatic gate. Pulled out his red rail pass. The conversation continued the length of the deserted walkway.

_Thank you to you and your partner, I have always believed that we are meant to meet each other. There is always a higher reason. There are things in the world we can’t explain, and time will tell. All the questions will be answered. You can now let it go.

Quyên was silent. Their shadows casting long shadows against the stark yellow illumination of the station light. Down two flights of stairs. The young man nodded his goodbye before turning right.

_I like people to call me Quyên more than Rita.

_Quyên!

_Thuần…

Through the gust of wind the young man could discern the overwhelming emotion in her voice. The young woman waved, before she quietly turned left. Her figure disappeared slowly in the yellow evening light, faintly blurred by a dusting of a silvery mist after the rain at the end of the season. There was a chill in the wind, the young man pulled the sides of his jacket closer together, with easy measured steps continued on his way.

8.

Quyên ran, she continued to run down a street caught in a curtain of early morning mist. The undefined yellow light shifting in each corner each turn in the street. The tears burred her vision. At the intersection, Quyên did not stop, she ran and she ran until she was as light as the air around her like the clouds across a blue sky after a deadly storm.

There was the piercing screeching sound of brakes. Lots of commotion. Dear god, out of nowhere first thing in the morning in front of someone’s car. No.

The time on Quyên’s wrist watch stopped at 4h30am December 12, 2022. Quyên is forever twenty four. Waiting for the date with Thuần.

Truyện Ngắn

Cuộc Gặp

1.

Quyên gặp anh chàng tại ga số 9, của chuyến tàu điện nối từ Suối Tiên về Quảng Trường Thành Phố. Anh chàng lịch lãm trong bộ vest đen cùng chiếc cra-vat màu tím tím than. Mái tóc chải gọn, chia mớ bảy ba. Vầng trán rộng cùng đôi gò má nhô cao. Bất giác tim Quyên nhói lên. Loạng choạng vài giây mới lấy lại bình tĩnh. 

Cửa tàu điện mở ra, dòng người vội vã lao nhanh vào, lắp đầy các khoảng trống còn sót lại. 7h30 sáng ngày 2 tháng 5. Một ngày đầu tuần hối hả. Những con người công sở đang rời ngoại ô trở lại trung tâm làm việc sau kì nghỉ lễ dài. Trong khoang tàu chật chội, Quyên cố nhoài người tìm anh chàng ấy, nhưng chẳng thấy. Có thể chỉ là người giống người. Cũng có khi là Quyên chưa tỉnh ngủ. Cơn mộng mị đêm qua còn quấn quít tâm trí. 

2.

Thuần đậu đợt thi tuyển vào công ty lớn, sau năm tháng thất nghiệp. Một niềm vui réo rắt qua điện thoại. 

Quyên sắm cho Thuần một bộ đồ vest thật đẹp, ôm vừa vóc dáng anh, vài chiếc cra-vat trơn màu. Tính Thuần không thích hoa lá hay sọc ngang sọc dọc. Thuần giản đơn, thẳng tuột khúc ruột. Thích hay không chẳng để trong lòng, sẵn sàng nói thẳng vào mặt người đối diện. 

Đôi lần Quyên cũng khuyên Thuần nên khéo léo trong ăn nói. Xã hội bây giờ giỏi dở cũng chẳng thể sánh bằng một người khéo léo. Thuần như thế, nên hai năm lăn lóc ở vị trí nhân viên quèn, chứ mấy người bạn cùng khóa nay đã trưởng phòng hay chuyên viên hết rồi. 

Thuần chẳng phản bác, cũng chẳng đồng thuận. Nhưng Thuần vẫn cứ bộc trực. Trắng đen rõ ràng, không pha lẫn thứ màu tạp nham vào được. Thuần thuộc tuýp người sẽ đấu tranh, sẽ phản kháng mạnh mẽ nhất để đi đến cùng sự việc, dẫu biết chắc cái kết cuộc mà mình nhận lấy. 

Quyên hỏi Thuần, có lần nào Thuần suy nghĩ cho Quyên, cho tương lai của hai đứa? Thời này chẳng thể làm Lục Vân Tiên. 

Thuần tựa đầu lên vai Quyên. Một chiều Thủ Thiêm sóng nước mênh mông. Từ phía quận hai nhìn về khu trung tâm thành phố, những tòa nhà trọc trời đang lừng lững hiên ngang, phố xá bắt đầu lên đèn xanh đỏ. Đất rục rịch chuyển mình hối hả. Ngay trên mảnh đất này, rồi đây sẽ mọc lên những khu thương mại, những chung cư cao tầng uy nghi. Cái đổi mới nào cũng có giá của nó mà Quyên. Nếu Thuần im lặng, thì Thuần cũng giống như bao người khác cắm cúi vì chút tiền tài danh lợi. Thành phố này, cũng cần có những con người bứt phá, để cái phát triển nó được vẹn tròn. 

Thuần không nói, thì vẫn sẽ có người nói. Chuyện sai trái trong cuộc đời này nhiều lắm. Chỉ cần mình cương trực thì không hề lo sợ điều gì. Thời gian sẽ trả lời tất cả. Sẽ có lúc Thuần mệt mỏi, Thuần tựa vào Quyên mà lấy lại niềm tin. Sẽ có lúc Thuần gục ngã, thì Quyên phải tin rằng, chỉ là Thuần đang nghĩ ngơi, rồi quay trở lại giải quyết mọi chuyện. Con người ta, vẫn cứ phải luôn tin nhau mà sống Quyên à!

3. 

10 giờ tối thứ sáu, ngày 13 tháng 6. Trên chuyến tàu từ Quảng trường về lại Suối Tiên. Chuyến tàu cuối, của ngày cuối tuần thường rất vắng khách. Khoang tàu trống trải. Vô tình mà cả hai ngồi đối diện nhau. 

Gương mặt xanh xao và có phần trắng bệch của anh chàng khiến Quyên chăm chú nhìn. Đôi mắt nhắm hờ, tựa đầu vào thành tàu. Dáng điệu mỏi mệt. Quyên nghe có tiếng thở đều. 

Mười lăm phút sau, tàu dừng trạm. Lừng khừng vài giây, Quyên chủ động đến đánh thức anh chàng. 

_ Ga cuối rồi!

Anh chàng mở mắt, sững người phút chốc rồi khẽ mỉm cười cám ơn. Cả hai xuống trạm, băng qua dãy hành lang đường nội nội bộ vắng ngắt. Trục quay nơi cổng ra vẫn đứng im, không nhúc nhích cần đẩy. Anh chàng vội vàng dùng một chiếc thẻ từ màu đỏ, quét lên bề mặt của một màn hình mỏng nơi đầu trục quay, cần đẩy hoạt động bình thường.

_ Cần đẩy gặp trục trặc. Tôi tên Jack, hai bốn tuổi, vừa từ Mỹ về, giám đốc vận hành của hệ thống tàu điện thành phố. 

_Ờ, tôi tên Rita…

_ Chị Rita đẹp quá, mạn phép hỏi thử birthday của chị?

Quyên khẽ mỉm cười, trả lời rõ ràng ngày tháng năm sinh cho anh chàng nghe. Câu chuyện kéo dài qua thêm một hành lang dài, xuống hai đoạn thang nữa, rồi ra đường cái lớn. Quyên rẽ trái, anh chàng rẽ phải. 

4.

Người ta báo tin Thuần bị tai nạn giữa một đêm mưa giông tháng mười hai. Thành phố hứng chịu cơn bão vừa đổ bộ từ biển Đông. Quyên gọi các hãng taxi, tổng đài bảo đợi. 

Hơn bốn tiếng trước, mọi công sở đã cho nhân viên về sớm, Thuần có điện thoại báo, xong cuộc họp sẽ về. Cuộc họp dường như khá căng thẳng, Thuần đã chuẩn bị tài liệu hơn tuần nay. Kể cả chuyện đi thử đồ cưới cũng gác lại. Chuyện đặt nhà hàng Thuần giao hết cho Quyên. Đêm nào Thuần cũng vào giường khi đồng hồ điểm hai giờ sáng. Có lần Quyên hỏi thăm tình hình, Thuần thở dài ngao ngán. 

Mưa giăng mù trời. Taxi chẳng tới. Quyên không tài nào ngủ được. 12 giờ đêm, khung hình kỉ niệm hồi hai đứa chụp lúc Thuần dẫn Quyên đi tham quan cổng gate số 9 vừa hoàn thành của công trình tàu điện, bỗng rơi xuống đất vỡ tung. Quyên chụp lấy điện thoại, gọi vào số máy mà khi nãy bác sĩ vẫn dùng để liên lạc với Quyên. Chỉ toàn tín hiệu tút tút lạnh người. 

5.

Báo chí đăng tin vụ trọng án kê khống chi phí công trình tàu điện từ hơn hai mươi năm trước. Có cả dấu hiệu của một vụ dàn cảnh tai nạn giao thông để bịt đầu mối. Cả chín cổng gate của tuyến tàu điện nối liền khu ngoại ô vào trung tâm thành phố đều bị kê khống hàng tỷ đồng. Toàn bộ Ban giám đốc công trình đều bị bắt giữ. Cuộc điều tra đang lần sang cả kế toán và giám sát. Câu chuyện được rôm rả bàn tán suốt cả tuần lễ trên các khoang tàu. Cũng gần như cả tuần lễ, Quyên không thấy anh chàng cra-vat tím. 

Vụ án được lật lại nhờ vào một buổi tối muộn khi anh chàng giám đốc trẻ còn nán lại công ty. Chiếc tủ cũ đựng hồ sơ rệu rã bên nhà kho cách phòng anh ta bỗng ngã sụp. Tiếng động vang lớn. Anh cùng vài người bảo vệ sang xem, sẵn tiện phụ dọn dẹp. Trong sắp hồ sơ tài liệu có bìa còng màu tím rơi ra chiếc đĩa ghi, bên ngoài được dán hình một cặp đôi đang tươi cười chụp trước cổng gate số 9. 

Anh chàng đem về phòng mình và mở ra xem. Chỉ là tò mò vì cô gái trong hình rất giống người mà mình hay gặp trên chuyến tàu điện. Còn chàng trai, tựa thể mình như hai giọt nước.

Chiếc đĩa ghi lại nhiều hình ảnh của cặp đôi, từ thời sinh viên còi cọc trên chiếc xe đạp, cho đến hình ngôi nhà xinh xắn của họ, rồi hình …là hình nén trong một file ảnh có dấu virus Jorker. Chàng Jorker mặc bộ vest đen đeo cra-vat tím.

Vượt vài bức tường lửa của file ảnh, cuối cùng một mật mã 6 kí tự hiện ra. Suy đoán hồi lâu. Anh chàng chẳng thể tìm ra. Đóng chiếc lap-top lại, anh rời văn phòng ra về cho kịp chuyến tàu muộn cuối tuần. 

Nhưng rồi ngay trong đêm trở về sau chuyến tàu muộn, anh gõ thử 6 con số mà mình đã nhớ suốt cuộc nói chuyện dọc hành lang của ga số 9 sau khi được người phụ nữ đánh thức. 

File cuối cùng hiện ra làm anh sững sờ. Một dữ liệu quan trọng của hơn hai mươi năm về trước. Dữ liệu nhanh chóng được chuyển cho cảnh sát.

6.

Bão tan vào lúc 4h sáng, thành phố hỗn độn và ngổn ngang. Điện thoại lại reo vang. Quyên chỉ nghe rõ vài câu rồi nắm chặt chiếc điện thoại mà lao ngay ra đường. Cứ chạy, cứ chạy…

Nhà xác lạnh tanh, nơi hộc tủ đựng xác Thuần, người ta ghi giờ mất của anh là 12 giờ đêm ngày 14 tháng 12 năm 2022. Quyên bật khóc, gào thét giữa những vị bác sĩ pháp y ráo hoảnh và cần mẫn công việc của mình. Không ai nghe thấy cơn đau này của Quyên. Quyên khụy ngã, mắt nhắm nghiền, nụ cười Thuần an lành hiện lên trong tâm trí. 

7.

Chàng giám đốc trẻ đón chuyến tàu điện nối từ sân bay quốc tế Long Thành về lại Suối Tiên vào một đêm muộn cuối tuần. Chuyến công tác báo cáo về vụ việc cách đây hơn hai mươi năm khiến chàng rã rời. Tàu dừng ở gate cuối. Cổng ga số 9. Đúng mười giờ tối ngày 14 tháng 12 năm 2046. Còn kịp cho một đêm sinh nhật tròn hai mươi bốn tuổi.

Khua bước đều trên hành lang vắng. Nơi trục quay, anh chàng lại gặp chị Rita bị mắc kẹt. Chiếc thẻ từ đỏ được móc ra. Câu chuyện lại nối dọc những sải chân theo hành lang vắng. 

_ Cám ơn anh ấy và cũng cám ơn chị, tôi vẫn luôn tin vào duyên số dẫn dắt con người ta đến những sự gặp gỡ. Tất cả mọi cuộc gặp gỡ đều có mục đích nhất định. Có những chuyện trên đời này mình không thể lý giải, chỉ biết nên tin vào vòng quay thời gian. Mọi câu hỏi sẽ được trả lời. Giờ chị có thể thanh thản. 

Quyên không nói gì. Bóng người đổ dài theo ngọn đèn vàng hiu hắt. Xuống hai đoạn cầu thang. Chàng trai trẻ cúi đầu chào Rita rồi rẽ phải

_ Tôi vẫn thích người ta gọi mình là Quyên hơn cái tên Rita.

_ Quyên!

_ Thuần…

Chàng trai trẻ nghe âm vọng trong cơn gió vừa thổi qua là một giọng điệu nức nở. Người phụ nữ vẫy chào, rồi lặng lẽ rẽ trái. Bóng dáng khuất dần trong màn đêm vàng vọt, phảng phất hơi sương loáng bạc sau cơn mưa cuối mùa. Gió lùa se lạnh, chàng trai trẻ kéo áo kín lại, thong dong từng bước chân.

8.

Quyên cứ chạy, cứ chạy…mãi miết trên con phố sớm tinh mơ còn vương màu sương khói. Ánh đèn vàng tờ mờ giăng khắp nẻo đường. Nước mắt nhạt nhòa. Giữa ngã tư, Quyên cứ chạy, cứ chạy mãi miết cho đến khi thấy mình bồng bềnh trôi hẫng nhẹ như những vòm mây xanh sau cơn bão lớn.

Có tiếng thắng xe rít ken két điếng người. Có tiếng láo xáo. Trời ơi, đâu ra sáng sớm bang bang ngay đầu xe người ta. Thôi, xong rồi. 

Đồng hồ trên tay Quyên dừng lại ở 4 giờ 30 phút sáng ngày 14 tháng 12 năm 2022. Quyên mãi mãi hai mươi bốn. Đợi chờ một cuộc gặp với Thuần.

                                            TỐNG PHƯỚC BẢO 


Tống Phước Bảo and Nguyễn Thị Phương Trâm, Saigon, Vietnam. April 2025

Tống Phước Bảo is a young published writer living in Ho Chi Minh City, Vietnam. You can find his prolific work published periodically throughout Vietnam, from North to South.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The madman at the bottom of the slope on Tam Đảo | Mai Thảo

Mai Thảo by Đinh Trường Chinh

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

[a body of work in progress – unedited]

Người điên dưới chân sườn Tam Đảo

Thế là, giữa một buổi sáng Sài Gòn rực rỡ, tin dữ mà gia đình tôi chờ đợi thấp thỏm suốt mười năm ở bên này vĩ tuyến, đã từ bên kia vĩ tuyến mười bảy bay sang. Bà ngoại tôi, người cuối cùng của dòng họ Nguyễn còn ở lại miền Bắc đã tạ thế.

Hung tin thu gom trong mấy dòng bưu thiếp lời lẽ mơ hồ, ngày giờ và chi tiết cái chết nghìn trùng cách trở không được nói đến tường tận, nhưng tôi, tôi biết bà ngoại đã nằm xuống ở đâu, cặp mắt nhân hậu một đời nhỏ lệ xót thương kẻ khác ấy đã khép lại dưới vòm trời nào, thước đất nào đã được bà lựa chọn gửi nắm xương tàn của một tuổi già cô độc.

Thửa ruộng nhỏ nằm dưới chân một sườn đồi trọc. Đất đỏ rờ rỡ màu máu. Thửa ruộng có một thân cây lớn nghiêng bóng, kế liền với một con đường sỏi đá và cỏ bồng hoang vu, trên đầu là những đám mây trung du và đám mây của một vòm trời trung du trắng xốp như bông nõn ấy nổi chìm ở bên này và bên kia một vùng rậm rì xanh đặc là hai sườn Tam Đảo.

Từ đỉnh núi, đổ xuống một ngọn thác trắng phau nhìn xa như một sợi chỉ bạc. Từ cuối con đường hoang, vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc về chiều. Từ những xóm xa lọt vọng vào thị xã tiếng chầy giã gạo ba trăng. Tự miền cao phả về cái hơi thở âm u của núi rừng Việt Bắc. Tự miền dưới thổi lên cái hương thơm đầm ấm của lúa mạ đồng bằng. Người ta khiêng quan tài bà từ căn nhà rêu phong cổ cũ đi ra, cách hàng nghìn cây số tôi cũng hình dung thấy rõ ràng như vậy, đám táng kéo dài trên con đường lả lay cỏ bồng, chiếc quan tài in lên nền trời Tam Đảo, và nó được hạ huyệt trong thửa ruộng đó, không thể trên một thức đất nghĩa địa nào khác. Bởi vì bà tôi, nếu đã ở lại, nếu đã chối từ vượt tuyến cũng chỉ để được nằm xuống bên cạnh đứa con xấu số của bà là bác Cả Đoàn. Bác Cả được chôn ở thửa ruộng ấy, mấy giờ sau khi bác chết, cái thân thể trần truồng lỗ chỗ vừa đúng 17 vết đạn liên thanh.

*

Câu chuyện xảy ra cách đây đã mười lăm năm. Nhưng thảm kịch của người bác điên loạn, còn xảy ra lâu hơn nữa về trước, từ khi tôi còn nhỏ dại. Tôi kể lại dưới đây. Vì cái chết của người bác điên rồ là một trong những hiện tượng lạ lùng không bao giờ tôi giải thích được.

Mãi mãi tôi còn nhớ tới những chuyến về thăm quê ngoại đó, chuyến xe hàng cũ kỹ nổ máy từ tối đất nơi chân sóng rì rào của một xóm đạo vùng biển ỳ ạch chuyển mình trên những con đường liên tỉnh trải đá xanh hun hút. Những dốc đò rồi những bến phà. Dưới vành trời hắt hiu của mùa đông miền Bắc, chiếc xe cũ kiên nhẫn nuốt dần từng cây số trắng, thả lùi những xóm làng chài lưới về sau, tiến dần vào một vùng rừng núi cằn cỗi. Ngọn Tam Đảo hiện ra trong sương chiều, đỉnh núi chìm nhòe trong lớp mây xám loãng như một chiếc khăn choàng đánh đai lấy nó. Rồi là niềm vui náo nức tràn trề trong gió rừng đổ xuống khi chiếc xe trườn vào thị xã Vĩnh Yên le lói ánh đèn. Chiếc xe kéo thả mẹ con tôi xuống một căn nhà cuối tỉnh lỵ.

Cha tôi đánh điện tín từ hôm trước. Và bà tôi ngồi đó, trước thềm cửa, chờ đón chúng tôi. Bà chít khăn mỏ quạ, mặc áo bông ngắn. Mỗi năm bà mỗi già, nhưng ánh vui mừng cảm động của đôi mắt vẫn ngời lên, lấp lánh, khi tôi tự xe nhảy cẫng xuống, và mặc mẹ tôi quát mắng không được lôi bà như thế, tôi kéo bà sềnh sệch vào nhà. Bữa cơm, tôi ngồi chồm chỗm trên lòng bà, vòi quấy đủ thứ. Bà nấu chè và làm mứt dừa ngon vô cùng. Chè bà cốt, màu mật đặc quánh, mùi gừng thơm cay phảng phất trong mùi hương gạo nếp bùi ngậy. Dừa mật Vĩnh Yên nổi tiếng miền Bắc, bà nấu thành một thứ mứt dẻo quyện, trong suốt, đỏ thắm, đựng đầy trong một vò thủy tinh lớn. Những ngày về thăm bà ngoại, dạ dày tôi căng phình, đuôi mép lúc nào cũng nhuếch nhoáng màu đường màu mật. Vui thú không bút nào tả xiết. Thức dậy sau một đêm ngủ vùi vì chuyến đi mệt nhọc, buổi sáng tôi chạy ra đầu nhà, và cặp mắt của đứa nhỏ chỉ quen nhìn bãi cát và sóng biển trong tôi đã ngó nhìn đến độ bàng hoàng ngây ngất ngọn Tam Đảo hiện hình chất ngất trong buổi sáng trung du yên tĩnh, ngọn núi đứng đó, sừng sững trước mắt như một hình ảnh thần linh hoang đường, với cả một thế giới kỳ lạ, bí mật của nó ẩn kín ở sườn núi bên kia.

*

Chính là một trong những chuyến về Vĩnh Yên thăm ông bà ngoại mà tôi biết đến sự hiện hữu của bác Cả Đoàn. Lần thứ nhất ngó thấy bác, tôi đứng đờ người, mặt tái nhợt vì khiếp hãi. Đang nhảy nhót chung quanh cái bể non bộ ở khoảng sân sau, tiếng gõ loong coong làm nhịp cho một giọng hát ê a lạ tai ở căn buồng sát hông nhà bếp làm tôi ngừng nhảy, tò mò tiến lại.

Qua khung cửa khép hờ, tôi nhìn thấy một người đàn ông. Râu ria và đầu tóc người ấy xồm xoàm như một con thú. Người ấy khoác một tấm bao bố trên vai, đóng khố ngồi khoanh chân trên nền đất nhớp nhúa của căn buồng không có đồ đạc gì ngoài một tấm phản mộc. Hai chân người ấy bị xích chặt. Cái xích quấn nhiều vòng chung quanh mắt cá, đầu xích cột chặt vào một cái cọc gỗ chôn nghiêng.

Cảnh tượng người đàn ông gần như lõa thể bị cùm xích đột ngột hiện ra làm tôi rợn người, nín thở, trái tim đậm thình thình trong lồng ngực. Người đàn ông chưa nhìn thấy tôi. Hắn vẫn ngồi nguyên trong dáng điệu cũ, mắt nhắm nghiền, hai tay cầm hai mảnh que nhỏ loong coong lên đít một cái ống bơ sữa bò lật úp, miệng ê a như một thầy bùa đang tụng niệm.

Hắn cứ ê a và cứ nhắm nghiền mắt mà gõ loong coong không ngừng trên nắp ống bơ như thế một hồi lâu, thần trí như đắm chìm hoàn toàn vào một thế giới mơ hồ nào đó. Tôi tròn xoe mắt, nhìn ngắm không chớp. Tôi không biết người đàn ông cởi trần bị xích chân và đang ê a hát nhảm ấy là ai. Tại sao hắn ở trong nhà bà ngoại tôi? Tại sao hắn bị cùm xích như thế? Ông tôi, bà tôi, mẹ tôi, không một ai nói chuyện cho tôi về hắn, về sự hiện hữu của hắn trong căn nhà này, dù chỉ một lần.

Bỗng dưng, một tiếng động làm người đàn ông bừng tỉnh. Hắn mở choàng mắt, ngừng hát ngừng gõ. Thấy tôi đứng đó, hắn trợn mắt nhìn rồi thình lình hắn chỉ thẳng chiếc que vào mặt tôi, và cười nhe hàm răng trắng ởn. Tôi chỉ kịp rú lên khiếp hãi rồi quay đầu, cắm cổ chạy bay lên nhà trên.

Tôi còn nhớ khi tôi vừa thở vừa kể chuyện cho bà tôi về người đàn ông nhìn thấy dưới căn buồng hông bếp, bà tôi và mẹ tôi đã đưa mắt nhìn nhau, cái nhìn trao đổi ấy cực kỳ buồn rầu và chua xót.

Tôi níu áo bà, hỏi dồn:

“Ai thế, bà ngoại?”

Mẹ tôi trừng mắt mắng át:

“Trẻ con biết gì mà hỏi. Cấm mày không được xuống đó nữa, nghe không?”

Thấy tôi phụng phịu sắp khóc, bà ngoại kéo tôi vào lòng, vuốt tóc. Bà nói, giọng nghẹn ngào nước mắt lưng tròng:

“Cháu nó biết gì mà mắng nó! Bác Cả Đoàn đấy cháu ạ! Mẹ bảo cháu phải nghe, cháu đừng lảng vảng xuống gần chỗ bác Cả nữa nhé!”

“Tại sao thế bà ngoại?”

Bà tôi ngập ngừng nói:

“Vì bác ấy điên”.

Mãi mấy năm về sau, khi lớn khôn hơn, tôi mới được mẹ tôi nói chuyện về bác Cả Đoàn. Bác là con trưởng và là người con trai độc nhất của ông bà tôi. Theo lời mẹ tôi thuật lại, bác thông minh và hiền từ vô cùng. Ông bà tôi cho bác ra Hà Nội học, đến khi đỗ bằng cao đẳng tiểu học, bác Cả ở luôn ngoài Hà Nội, làm thư ký cho một hãng buôn lớn, thỉnh thoảng mới về Vĩnh Yên thăm ông bà tôi, thường thường là vào cuối mùa gặt để làm giúp ông tôi sổ sách về thóc lúa thu hoạch được. Gia sản của ông tôi ước chừng vài ba chục mẫu ruộng ở các miền kế cận thị xã, những thửa ruộng nằm rải rác trong những thung lũng, những chân đồi trước mặt ngọn Tam Đảo. Đường sá miền trung du gập ghềnh núi đồi cheo leo, đó chỉ là một hệ thống thiên nhiên của những lối mòn đổ xuống thung này vắt qua lũng khác, xe cộ không thể đi tới, nên mỗi lần đi thăm ruộng ông tôi vẫn phải dùng ngựa. Ông tôi có một con ngựa hồng, khi nào không cưỡi vẫn thả rông cho ăn cỏ ở khoảng đồi thấp sau nhà.

Năm đó – năm xảy ra bất hạnh – bác Cả từ Hà Nội về giữa lúc ông tôi bị đau nặng. Thế là bác Cả sáng sáng cưỡi ngựa đi thăm ruộng thay cha. Buổi sáng hôm đó, bác cũng cưỡi ngựa phóng nước kiệu ra khỏi nhà đi thăm mấy thửa ruộng gặt dở trong thung như thường lệ.

Đến nơi, bác thả ngựa cho ăn cỏ ở một bóng cây, chạy xuống chuyện trò vui vẻ với đám thợ gặt. Sự tình cờ tai hại là thửa ruộng ấy sát liền với thửa ruộng của một điền chủ khác, người này hôm ấy cũng cưỡi ngựa đến thăm ruộng mình và cũng thả ngựa cho ăn cỏ dưới cùng một bóng cây. Một lát sau, những tiếng hí vang lên. Tiếng móng đập loạn xạ. Hai con ngựa đá nhau dữ dội. Hoặc là bác Cả không biết khi hai con ngựa đá nhau như thế là cực kỳ nguy hiểm, hoặc là bác sợ con ngựa của ông bị thương – không biết – chỉ biết bác chạy lao tới, kéo con ngựa của ông tôi ra, và liền bị nó đá hậu một đá trúng giữa khoảng bụng dưới. Bác thét lên một tiếng đau đớn rồi ngã vật xuống, ngất đi.

Khi đám thợ gặt khiêng bác về nhà, ai cũng tưởng bác bị ngựa đá chết. Rờ tim, còn đập thoi thóp, nhưng bác vẫn mê man không hồi tỉnh lại được. Bà ngoại tôi cuống cuồng, kêu thóc thảm thiết. Phương kế nào cũng không làm bác tỉnh lại. Cho đến khi một người hàng xóm mách bà tôi cho bác uống mật gấu. Chất mật gấu có một tác dụng kích thích cực kỳ mãnh liệt. Chỉ mười lăm phút sau, bác Cả cựa mình và mở mắt.

Có điều là thương con quá độ, muốn cứu con mau chóng, bà tôi đã đổ vào miệng bác quá nhiều mật gấu. Sau tai nạn, bác khỏe mạnh như người thường. Nhưng một năm sau, chất mật gấu bắt đầu phá phách cơ thể và thần trí: bác Cả Đoàn phát điên. Bà tôi đau đớn ra tận Hà Nội đón đứa con điên loại về Vĩnh Yên, nhất định không chịu để người ta đưa bác vào nhà thương Vôi, là nhà thương người điên ở miền Bắc thời bấy giờ.

Sự buồn thảm như một đám mây đen tối đổ dồn vào mái nhà êm ấm, biến nó thành địa ngục và nhà mồ. Ông tôi giết con ngựa phản chủ, suốt ngày ngồi lặng lẽ trên góc phản, khuôn mặt u uất rắn lạnh như chưa thôi đau đớn trước một thất đức tiền kiếp nào đó, bây giờ hiện thân thành trừng phạt mà người phải gánh chịu qua chứng điên loạn của người con. Bà tôi thì cả ngày vật vã khóc lóc. Nhà có người điên nên bạn bè thân thuộc cũng xa lánh dần dần. Sự thật là ông tôi đóng kín cửa không chịu tiếp ai, trong nỗi đau âm thầm có pha lẫn một niềm tủi hổ mà sống người để bụng, chết người mang theo, vĩnh viễn không bao giờ xóa bỏ được.

Căn nhà chứa lúa dưới hông bếp không dùng làm gì nữa – ông tôi đã bán rẻ hết ruộng đất sau tai họa – biến thành cái thế giới lưu đầy bé nhỏ cho bác Cả sống với những hình ảnh quái dị nhảy múa trước mắt, nơi sự tỉnh táo sáng suốt chỉ còn là những vùng thư thái thu hẹp như những giọt nắng thoi thóp cuối cùng của một vòm trời bão giông. Căn bệnh không thuyên giảm, ngày một trầm trọng thêm mãi cho đến khi mọi phương sách cứu chữa tuyệt vọng đều uổng công.

Mấy tháng đầu, cơn điên chập chờn trong một trạng thái mất trí hiền lành. Bác Cả cười khóc rồi lăn ra ngủ. Bác ngủ suốt ngày suốt đêm, đầu ghếch lên một góc tường, tay chân co quắp, như một con chó ốm. Sau, chứng bệnh nặng dần. Cái thế giới bệnh hoạn ngột ngạt nung nấu biến con vật hiền lành thiêm thiếp thành một con thú dữ tợn, mỗi lần nổi cơn là một lần đập phá gào thét khủng khiếp. Tóc bạc mọc dài ra, râu ria xồm xoàm. Rớt rãi sùi trắng hai bên mép. Con mắt trợn trừng đỏ rực màu máu. Đêm đêm tiếng gầm rú của người điên vang động khắp khu phố, như lan xa tới vách Tam Đảo và vang trở lại, gợi trong nó cái âm thanh rùng rợn của một con hổ vằn tử thương tru rống từ một đáy rừng sương.

Một buổi chiều nóng nực, bác Cả phát cơn điên đã chạy lên nhà đập phá loạn xạ. Rồi vớ được một gióng cửa gỗ lim, bác thẳng cánh quất xuống đầu ông tôi máu chảy lênh láng. Từ đó, mặc dù bà tôi phản đối, ông tôi cho xích bác lại. Người điên khỏe lạ lùng. Cái dây xích lớn thế, cái cọc đóng sâu vào nền đất như thế mà nhiều lần bác thét rồi vươn tay nhổ phăng cọc, cứ trần truồng ôm xích mà chạy túa ra đường. Bác vừa chạy vừa hò hét, cứ nhắm hướng Tam Đảo tiến vào. Phải hàng chục người trai tráng trong phố mới chế ngự được bác sau một cuộc vật lộn dữ dội.

Người độc nhất mà bác còn nể sợ là bà tôi. Đang gào thét, chửi rủa, đập phá, chỉ cần bà tôi đến ngó bác bằng cái nhìn đẫm lệ và dịu dàng nói: “Cả, làm gì thế con?” là bác im ngay, bác từ từ ngồi xuống, cái nhìn nem nép cúi gằm như một đứa nhỏ phạm tội. Tình thương đó của bà tôi là dòng ánh sáng duy nhất còn chiếu soi được vào vùng tối đặc mê mẩn, là trận mưa duy nhất còn đổ xuống và thấm lắng được vào thần trí bác như một vùng đất đai khô cằn, làm nở lên những bông hoa. Nhưng tình thương đó chỉ là một liều thuốc an thần chốc lát. Căn buồng chứa thóc ngày trước ở hông bếp là một địa ngục vĩnh viễn giam cầm bác Cả tôi trong cái thế giới cô độc của kẻ mất trí, cái thế giới rùng rợn của người điên.

*

Từ ngày biết rõ chuyện bác Cả như thế, tôi vẫn được mẹ tôi hằng năm cho về thăm bà ngoại. Tôi sợ, nên chỉ quanh quẩn trên nhà, đôi khi lảng vảng xuống khoảng sân sau cũng chỉ dám đứng ngó bác thấp thoáng trong căn buồng mờ tối từ xa. Cho đến khi cuộc chiến tranh đột ngột bùng nổ, cắt đứt đường về thăm quê ngoại. Hai năm trôi qua như thế, rồi là một tin buồn từ ngọn Tam Đảo vượt qua nghìn trùng cách trở xuống với gia đình tôi ở dưới biển: ông ngoại tôi tạ thế. Mẹ tôi khóc ngất, thương cha chết một phần, thương người mẹ già một thân một mình lủi thủi kéo lê cái tuổi già buồn thảm dưới bóng núi xa đến mười phần.

Tôi còn nhớ năm đó là một mùa đông cực kỳ buốt lạnh. Sau một đêm bàn bạc, cha tôi bằng lòng để mẹ tôi tìm đường lên Vĩnh Yên đón bà ngoại xuống ở với gia đình tôi. Mọi đường giao thông trên bộ đã bị gián đoạn hết, phải chuyển vận bằng thuyền. Vì chuyến đi nguy hiểm gian lao, tôi phải năn nỉ vòi vĩnh mãi mới được mẹ tôi cho phép đi theo. Ngày đi đêm nghỉ, chiếc thuyền nan ngược dòng, vượt nhánh sông này tới nhánh sông khác, len lỏi qua các mặt trận, tránh xa những vùng súng đạn, ròng rã đúng vào nửa tháng mới tới được cái bến đá hẻo lánh dưới chân ngọn Tam Đảo.

Bấy giờ, từ mạn cầu Đuống tràn ngược lên qua Hương Canh, Phúc Yên, cánh quân mở đường của Pháp đã tiến dần đến thị xã. Chúng tôi đặt chân vào căn nhà rêu phong cổ cũ đúng ngày bà ngoại tôi đang sửa soạn tản cư vào núi. Đứa trẻ đã lớn, đã biết nhận xét ở tôi, chuyến cuối cùng về thăm quê ngoại đó, thu vào tầm mắt nó những hình ảnh cực kỳ buồn thảm. Bà tôi đã già, già lắm. Bà vẫn đội cái khăn mỏ quạ, mặc cái áo bông ngắn như cũ, nhưng ánh lửa nhân hậu sưởi ấm những tháng ngày thơ dại của tôi đã tắt trong cặp mắt nhòe mờ, khuôn mặt tươi cười thuở nào chỉ còn là một vùng héo hon đầy những nếp nhăn, in hằn những đường rãnh nước mắt không thôi chảy ròng từ ngày đứa con trai độc nhất bị ngựa đá thành điên. Cùng với tiếng súng của một thời loạn lạc ầm ĩ dội tới từ đầu thị xã, buổi tối mùa đông dầy đặc khí núi thổi lùa từng đợt lạnh căm căm vào căn nhà le lói ánh đèn, nơi mẹ tôi và bà tôi ngồi thao thức bên đống hành lý gói buộc sẵn sàng trong đêm dài kinh hoàng, chờ buổi sáng tới để chạy ẩn vào hang núi. Những tiếng thở dài não nuột phát ra từ hai cái bóng âm thầm. Bỗng mẹ tôi hỏi:

“Còn bác Cả”.

“Mẹ cũng chưa biết tính sao đây, bà ngoại vừa khóc vừa nói. Nó điên loạn như thế cùm xích bao nhiêu năm rồi, bây giờ tháo xích đưa nó đi theo, biết nó chịu đi không? Nó nổi cơn lên thì làm thế nào chứ! Mà để nó ở lại thì thà mẹ ở lại đây cho lính Tây nó bắn chết còn hơn”.

“Hồi này bệnh tình anh con ra sao? Mẹ tôi hỏi”.

Bà tôi gạt nước mắt nhìn xuống phía nhà bếp:

“Mỗi ngày một nặng thêm. Trước nó còn chịu nghe mẹ, bây giờ mê loạn hoàn toàn rồi, bảo gì cũng không chịu nghe nữa”.

Tôi cứ nằm nghe tiếng đại bác ầm ì và tiếng nói chuyện rì rầm như thế rồi ngủ đi trên gối bà lúc nào không hay. Khi mẹ tôi lay vai đánh thức dậy, trời đã tảng sáng. Tiếng súng lớn vọng tới trong đêm giờ đã biến thành tiếng liên thanh tặc tặc réo réo từng hồi, thật gần, rõ mồn một, tưởng như đã nghe thấy tiếng giầy đinh, tiếng sì sồ của quân Pháp ở ngay đầu phố.

Mẹ tôi và bà đeo khăn gói lên vai hấp tấp đi xuống căn buồng bên hông nhà bếp. Phút quyết liệt đã tới. Bà tôi mở cánh cửa gỗ, mẹ tôi rón rén đi theo, cùng tiến vào chỗ bác Cả Đoàn nằm. Tôi nín thở, đứng nép sau lưng bà. Cái bao bố rách tơi tả phủ lên một thân hình gầy đét đến xương, bác Cả nằm nghiêng, quay mặt vào tường, sợi dây xích đen nhảy căng thẳng từ cổ chân bác tới đầu cọc. Mùi cứt đái xông lên nồng nặc khiến tôi nôn ọe bịt vội mũi lại. Cái ống bơ và hai thanh tre, thú tiêu khiển và cũng là bạn bè độc nhất suốt một đời của người điên – tôi nhìn thấy ở nguyên chỗ cũ, dưới chân bác. Bác nằm, nhưng không ngủ. Tiếng nôn ọe của tôi làm bác bất thần quay ra và ngồi vụt dậy. Tôi hoảng hốt không giữ được tiếng thét sợ hãi. Mọi người chờ đợi những tràng dài quát tháo nguyền rủa nổi lên. Nhưng không, bác lùi vội lại một bước như con thú dữ thu mình, tròn xoe mắt, nhìn bà tôi không chớp. Mẹ tôi gạt nước mắt đứng yên. Bà tôi ngồi xuống. Bằng một giọng nói hết sức dịu dàng, rành rọt từng tiếng một, bà tôi cắt nghĩa cho bác là quân Pháp đã tràn vào thị xã, chúng tôi phải bỏ nhà tản cư vào núi và xuống đây đem bác đi theo.

“Con bằng lòng đi theo mẹ không?”

Bác Cả nín thinh, rồi cái nhìn vụt chuyển thẳng từ bà tôi tới tôi khiến tôi thất thần lạnh toát người đi.

“Con giai em con đó, mẹ con nó lặn lội từ dưới bể lên thăm con đó”.

Bà ngoại quay lại tôi:

“Cháu chào bác Cả đi. Bác yêu cháu lắm. Cháu chào bác đi”.

Tôi nhợt người, ấp úng mãi mới nói được với người điên:

“Lạy bác ạ!”

Bác vẫn nín thinh trong dáng điệu thủ thế cũ. Bà tôi ngồi xích lại gần bác, nghẹn ngào:

“Con thế này, sống cũng như chết rồi, mẹ chẳng muốn đưa con ra khỏi chỗ này làm gì, nhưng Tây nó đến, mẹ bỏ con lại không đành, con nghe lời mẹ, con đừng giận dữ, con đi theo mẹ nhé!”

Bác vẫn nín thinh và nhìn ngó trừng trừng. Bà tôi ngọt ngào dỗ:

“Bây giờ mẹ cởi xích cho con”.

Miệng nói bà tôi thò tay vào chân bác. Bác Cả rút phắt chân lại. Dây xích căng thẳng, tiếng kêu loảng xoảng trong căn buồng tối nhờ nhờ. Nhưng tình thế nguy ngập không thể chùng chình được nữa.

“Mẹ cứ cởi xích cho con rồi con có giết chết mẹ, giết chết em, giết chết ngay lập tức, mẹ cũng đành, nhưng mẹ không thể bỏ con ở lại một mình được, mẹ phải cứu con, mẹ phải đưa con đi, mẹ con ta sống chết phải có nhau”.

Bà tôi vừa khóc sướt mướt, vừa mếu máo tra cái chìa vào ổ khóa. Rồi mẹ tôi và tôi cũng ôm mặt khóc theo. Tiếng khóc vang đầy căn buồng hòa lẫn với tiếng đạn liên thanh tặc tặc nổi dậy, mỗi phút một gần thêm mãi. Vòng xích cuối cùng đã tháo hết, bác Cả như một con thú dữ bị gông cùm bao nhiêu năm qua vừa được thả lỏng. Giây phút cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi cứng người, chờ bác chồm dậy, thét lớn, vung xích quật xuống.

Nhưng lạ lùng, nhưng kinh ngạc xiết bao! Bác Cả từ từ đứng dậy. Và trong một dáng điệu hết sức từ tốn, đĩnh đạc, bác tiến lại trước mẹ tôi, giơ cánh tay trần khẳng khiu đặt lên vai mẹ tôi, cử chỉ thân mật âu yếm của một người anh đối với người em gái lâu ngày mới gặp:

“Cô Hai đấy ư? Bây giờ cô chú xuống làm ăn dưới biển ư? Chú ấy vẫn mạnh đấy chứ?”

Sự kinh ngạc làm mẹ tôi mãi mãi mới trả lời được hai tiếng ngắn cộc:

“Vâng ạ”.

Mà không riêng gì người, bà tôi và tôi đều cùng sững sờ trong kinh ngạc tột điểm. Bao nhiêu năm điên loạn, thốt nhiên, trong giây phút thập tử nhất sinh này, bác Cả đã tỉnh dậy, như tỉnh dậy sau một giấc ngủ bằn bặt, như sống lại sau một cái chết dài.

“Ông mất rồi, tôi bệnh hoạn như thế này, bà già yếu không còn ai nương tựa, chỉ còn mình cô chú. Cô chú thay tôi chăm sóc bà nhé!”

Mẹ tôi giàn giụa nước mắt gật đầu.

Bác Cả quay lại, mỉm cười tiến đến trước mặt tôi, cái bao bố kéo lệt xệt trên nền đất.

“Tên cháu là gì?”

Phút đó tôi vẫn khiếp hãi, nhưng sự khiếp hãi không còn như trước nữa. Tôi nhìn cái khuôn mặt râu ria xồm xoàm, nhớp nhúa, tiều tụy nhưng đầy những nét đẹp cân đối, tôi nhìn cái thân hình giơ xương, cái mái tóc màu tro phủ xuống kín gáy, rồi tôi nuốt nước bọt, cố gắng chế ngự sự hồi hộp, dõng dạc trả lời bác:

“Thưa bác, tên cháu là Đăng”.

Bác Cả nhoẻn miệng cười, xoa đầu tôi, nhắc đi nhắc lại:

“Tốt lắm, tốt lắm, tốt lắm”.

Cuối cùng, bác quay sang bà ngoại mà nỗi mừng vui xúc động mãnh liệt vừa bật thành tiếng khóc nức nở.

“Con không điên nữa đâu. Bây giờ con không điên đâu. Mẹ đừng sợ, mẹ đừng khóc nữa”.

Qua khung cửa, trời bật sáng rõ. Cùng với ngày vừa lên, tiếng giầy đinh rầm rập, tiếng xì xồ quát tháo lạ tai của toán lính Pháp hung dữ nhất tề nổi lên ở đầu phố.

Bác Cả lắng tai nghe ngóng. Mắt bác sáng quắc. Bác nhảy vọt một bước ra sân, vơ lấy cái gióng cửa dựng ở bên thành bể non bộ, cái gậy mà trong một cơn điên ngày nào bác đã đánh ông tôi chết ngất. Theo tiếng gọi của bác chúng tôi líu ríu ra khỏi nhà, lếch thếch chạy ngược về phía chân núi. Ngọn Tam Đảo mờ mờ trong sương sớm. Ra đến đầu tỉnh chúng tôi đặt chân vào con đường dẫn lên đồi còn ướt đẫm sương. Chúng tôi vừa chạy vừa thở hổn hển, chân cẳng run bắn muốn ríu lại, muốn té quỵ, vì ở phía sau lưng những tiếng đạn, tiếng giầy, tiếng xì xồ vẫn đuổi theo rất gấp. Những đám người chạy cùng với chúng tôi khi nhìn thấy bác Cả, mình đeo khố tải, tay cầm gậy lớn, đều kêu lên thất thanh: “Người điên! Người điên!” và chạy tán loạn về phía khác. Tôi chạy tưởng chừng sắp muốn đứt hơi. Bà tôi mấy lần lảo đảo chỉ muốn ngã sấp xuống. Bác Cả đi tập hậu, cứ kéo lết bết cái bao tải như thế, vừa chạy vừa ngoái cổ lại. Trên con đường vắng tanh, lởm chởm, chỉ còn bốn bà cháu chúng tôi cuống cuồng, lếch thếch trước những tràng đạn đuổi theo veo véo trên đầu.

Bỗng tiếng bác Cả cất lên:

“Chúng nó! Chúng nó!”

Chúng tôi rú lên, cùng ngoái cổ nhìn lại. Thấp thoáng ở xa xa, đầu con đường đầu tỉnh, những đầu lưỡi lê nhấp nhổm, sáng loáng. Cùng lúc đó, bà tôi kiệt sức, ngã vật xuống. Bác Cả chạy đến, xốc bà ngoại dậy. Bà tôi vừa khóc vừa thở:

“Thôi đành là mẹ con ta chết ở đây. Mẹ không chạy nổi nữa, con ơi!”

Tôi thấy bác Cả đẩy bà ngoại cho mẹ tôi đỡ lấy, bác nghển cổ nhìn tứ phía, rồi bác chỉ tay cho mẹ tôi nhìn thấy một con đường nhỏ chạy tắt xuống thung lũng um tùm.

“Cô đưa bà và cháu chạy xuống dưới kia”.

Mẹ tôi còn ngơ ngác do dự bác đã giục hối hả:

“Mau lên. Chạy xuống ẩn dưới đó đi”.

“Còn bác?”

Bác Cả lần lượt nhìn cả ba chúng tôi bằng một cái nhìn lạ lùng, một cái nhìn chứa chan, nồng nàn, như gửi vào đó tất cả những thương yêu một đời, rồi bác mỉm cười nói:

“Tôi chạy theo sau mà. Mau lên, trời ơi, mau lên”.

Mẹ tôi quẳng vội khăn gói, một tay dìu bà, một tay dắt con, cắm đầu chạy xuống con đường nhỏ. Đạn nổ đinh tai nhức óc. Chạy tới một vùng cỏ dại cao ngang tầm người, mẹ tôi vấp kéo theo bà tôi và tôi cùng ngã xuống.

Nhìn lên, mẹ tôi kêu lên một tiếng sợ hãi. Thì ra bác Cả không chạy theo chúng tôi, mà từ con đường cao, bác chạy sang phía bên kia, bác chạy thẳng lên đỉnh đồi.

Suốt đời, tôi còn nhớ thân đến cái cảnh tượng lạ lùng, kinh dị đó. Thân hình bác Cả nổi lên nền núi xanh thấp thoáng nắng sớm, cái khổ tải lất phất như một cánh bướm, như không phải là bác đang chạy mà đang là là bay. Điều kỳ dị là bác chạy dềnh dàng, chuệnh choạng, chân nam đá chân xiêu, như người sau rượu. Điều kỳ dị nữa là bác vừa chạy như thế, vừa vung tít cái gậy trên đầu, vừa ngoái cổ lại, gật gù như vẫy như gọi bọn lính đuổi theo, miệng thì ca hát ê a, tiếng ca hát ê a tôi đã từng nghe thấy trong những cơn điên của bác.

Bà tôi và mẹ tôi cùng thét lên:

“Trời ơi! Lại nổi cơn điên rồi”.

Nhưng không phải thế đâu. Bác Cả không điên. Bác Cả chỉ đang cứu chúng tôi thoát khỏi ba cái chết thảm khốc. Sau này, càng nghĩ càng nhớ đến cái nhìn cuối cùng của bác, cái nhìn chan chứa yêu thương không nói, tôi càng tin là đúng, là chỉ có thể như thế, là lần duy nhất trong đời, điên đã tỉnh rồi, đã giả bộ múa hát điên điên dại dại, để dụ quân Pháp về một hướng khác, đánh lạc đường chúng đuổi theo chúng tôi.

Và bác đã thành công, toán lính đuổi tới chỗ bà tôi ngã, đứng khựng lại trước cảnh tượng kỳ quái đang diễn ra trước mắt chúng trên ngọn đồi trọc. Tới đỉnh đồi, bác Cả quay lại, hoa chân múa tay, miệng vẫn hò hát, như thách thức đám lính đuổi theo. Một tràng đạn xé tan không khí. Từ đám cỏ hồng, tôi thấy bác Cả lảo đảo, cái gậy trong tay bác hạ xuống, bác loạng choạng đi trở xuống, tay ôm ngực. Một tràng đạn thứ hai nổi lên. Bác Cả ngã vật xuống. Quân Pháp chụm đầu bàn tán, ý chừng còn thảng thốt trước sự xuất hiện quái đản của người khùng. Rồi chúng quay trở lại, kéo nhau về thị xã.

Chúng tôi thoát chết.

Khi bà tôi lên tới đỉnh đồi và nức nở quỳ xuống, bác Cả đã tắt thở từ lâu. Con mắt một nửa đời người vẩn đục màu máu điên loạn chỉ còn là một khối đồng tử bất động. Cái bao tải phủ ngang thân thể bác như một màn vải liệm. Chiếc gậy lớn vẫn cầm lăm lăm trong tay. Bác Cả nằm nghiêng nghiêng, nét mặt hiền hòa, cái nhìn ngước lên như hướng tới đỉnh núi Tam Đảo cao ngất bây giờ đã rực rỡ dưới nắng.

Bà tôi vuốt mắt cho bác. Buổi trưa hôm đó bà tôi xõa tóc, đi theo xác con đến tận bờ huyệt đào ngay trong thửa ruộng chân đồi, dưới bóng cây, nơi khi xưa, bác Cả Đoàn đã bị con ngựa hồng của ông tôi đá một phát vào bụng dưới thành điên.

***

Trở về căn nhà rêu phong cũ, bà tôi quét dọn lại căn buồng chứa lúa ngang hông nhà bếp, dọn giường chiếu xuống đó, sống những ngày già yếu cuối cùng của đời bà ngay trên thước đất nơi bác Cả bị xiềng xích ngày trước. Chỉ còn một thân một mình nhưng bà tôi nhất định ở lại nơi này, trong căn buồng của người con điên, và bỏ luôn ý định xuống miền biển, sống với gia đình chúng tôi, mẹ tôi năn nỉ thế nào, khóc xin đến mấy cũng không lay chuyển được. Ngày sắp di cư vào Nam, cả thầy mẹ tôi cùng lên Vĩnh Yên, đón bà cùng đi. Nhưng bà tôi không chịu. Và bà đã ở lại. Bà bảo mẹ tôi:

“Mẹ già rồi, không đi đâu nữa. Mẹ ở lại chờ chết trong căn buồng này là nơi thằng Cả nó đã sống, đêm đêm mẹ vẫn mơ thấy nó hiện hồn về”.

Trên cái bàn thờ nhỏ của bác Cả Đoàn được thiết lập ở một góc buồng, bà tôi dựng cái gậy bác Cả còn cầm ở trong tay cho đến lúc chết. Và trên bàn thờ, dưới ánh khói hương, là cái ống bơ sắt cũ và đôi gậy tre là những dấu tích cuối cùng của một cuộc đời điên loạn.

*

Bây giờ bà tôi đã chết. Tấm bưu thiếp ngắn ngủi từ bên kia vĩ tuyến không nói rõ bà tôi nằm xuống ở đâu, trút hơi thở cuối cùng trên thước đất nào. Nhưng tôi, tôi nhìn thấy rõ ràng cái chết nghìn trùng cách trở ấy. Người bà ngoại nhân hậu vì quá thương con, cho con uống quá nhiều mật gấu đến nỗi thành điên, đã khép mắt trong căn buồng ấy, nơi mãi mãi phảng phất tiếng ê a lạ tai và tiếng đũa gõ loong coong đêm ngày trên nắp cái ống bơ lật úp của người điên đã chết cho những người thân yêu được sống. Phải, bà ngoại tôi chỉ có thể chết trong căn buồng ấy. Không thể chỗ khác. Và người ta cũng chỉ có thể chôn cất bà ở chỗ ấy, cho người mẹ già được ngủ giấc ngủ nghìn đời với người con điên trong thửa ruộng dưới chân đồi nhìn lên một sườn Tam Đảo. Không thể ở chỗ khác.

Có một điều là: sau bao nhiêu năm, tôi vẫn ngạc nhiên và vẫn tự hỏi về cái hiện tượng lạ lùng là sự thức tỉnh sáng suốt cuối cùng và đột ngột của bác Cả Đoàn. Tiếng súng đạn đinh tai nhức óc đã làm bác chợt tỉnh cơn điên loạn triền miên? Hay là vì những giọt nước mắt hãi hùng của chúng tôi trong buổi sáng thập tử nhất sinh đó? Hay vì tôi, vì cái khuôn mặt thơ dại của đứa cháu vô tội? Không biết. Có thể là vì những nguyên nhân huyền bí, siêu hình nào đó đã cấu tạo thành linh hồn và sự thật dị thường không khám phá nổi, niềm bí mật nghìn đời ẩn giấu của thế giới người điên.

Chỉ biết rằng, buổi sáng hôm đó, trước cái chết đến gần, bác Cả Đoàn đã tỉnh dậy. Và nhờ sự sáng suốt độc nhất, chốc lát, của cuộc đời điên loạn ấy mà tôi còn được sống đến ngày nay.

Just like that, one bright morning in Saigon, the crazy news my family have been waiting for anxiously for ten years this side of the parallel, flown in from the other side of the 17th parallel. My maternal grandmother, the last member of the Nguyễn family left behind in the North just passed away.

Bad news condensed in a few surreal lines on a postcard, date time of an unreachable death thousands and thousands of miles away scarcely mentioned, but I, I knew where my maternal grandmother laid down her life, wise eyes and a lifetime of benevolent tears for others have closed up under which firmament, which patch of earth had she chose for the keepsake of her withered bone in old age alone.

The small acre field lies at the foot of a grassless hill. The clay soil was eerily red like blood. The shade of a huge tree in the field right by a path of pebble and reeds in their natural habitat, above them were cumulus clouds, a firmament of white fluffy cotton balls, clouds with flat bottoms that looked like cauliflowers floating on this side and on the other side was a dense green thicket were the two slopes of Tam Đảo.

The white water poured from the top of the mountain and from far away the water fall looked like a silver cotton thread. Rising was the echo of a horse galloping from the end of an over grown path in the afternoon light. Escaped from distant villages the odd sound of rice being pounded in a mortar and pestle three moons after the harvest. Returned from the Northern highlands of the Vietnam the sombre dark air of the trees and mountain. Carried in the wind from the low plains was the warm smell of paddy seedlings. They carried her coffin out from an old moss covered house, a thousand miles away and I can still see it clearly, the funeral procession stretched out along on a path through sea of grass swaying in the wind, the coffin was an imprint across the horizon of Tam Đảo, and it was lowered in to the ground in the middle of that acreage of land, and not just any soil or cemetery. Because my grandmother, stayed, refused to cross the demilitarized zone so she could be buried next to her unfortunate son, my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. My uncle Cả was buried in that acreage of land, a few hours after he died, his body riddled holes exactly 17 bullets form an automatic rifle.

*

It happened fifteen years ago. The tragedy of my crazy uncle, it began long before that, when I was still knew nothing and small. Me retelling the story. Because my uncle’s crazy death was a mystery I could never explained.

I will never forget the trips to mother’s family home, the rickety old truck noisy exhaust rattling from the dark rippling water edges of the small church village by the sea lazily moving along the roads through the province lined with infinite blue gravel. Climbing hills after hills before the ferry dock. In the bleak light of the Northern winter, the ancient vehical patiently swallowing one white mile at a time, leaving the withdrawing fishing villages behind, heading deeper and deeper into the ruggedness of the mountain and jungle. Tam Đảo mountain appearing slowly through the afternoon mist, the tip of the mountain a blurr sinking into a layer of grey clouds thinned out like a chiffon sash wrapped around it. Then again joy and excitement of the jungle overwhelming in the wind came falling down as the truck slips down towards the flickering lights in the streets of Vĩnh Yên. The toll truck drop my mother and I at a house at the far end of the provincial capital.

The day before my father sent a telegram. And my grandmother sat there on the steps of the front door, waiting for us. She wore a headscarf, short quilted jacket. Older by the year, but all the joy lit up in her eyes, the sparkle, when I jump out of the truck, and my mother’s worried face to not to drag my grandmother like that into the house. During our meal, I was on my grandmother’s lap, demanding all kinds of stuff. My grandmother made the best chè and mứt dừa. My grandmother’s chè was thick and rich the colour of honey, the ginger fragrant with the slightest hint of heat through the nutty scent of sticky rice. Honey coconut from Vĩnh Yên famous in North, my grandmother would turn it into soft chewy translucid fruit candy with a bite.


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

home to the fall | Đinh Trường Chinh

Trung Thu 2023, art by Đinh Trường Chinh

In Vietnamese by Đinh Trường Chinh
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

home to the fall
home to the fog
to a room cast in darkness
discern the stirring of the dying light

home to. home yes.
to half a glass of your poison
blow away the dust and cobweb of time
in the night wash away
the stains of old & stale faces of those
who haunt us

imminent storms
leave behind their lonely daylight
passing affections
sees. a cold autumn …

trở về với mùa thu
trở về với sương mù
nghe buổi chiều thức dậy
giữa căn phòng âm u

trở về. trở về thôi.
rót cho mình lưng rượu
thổi lớp bụi thời gian
lau mặt đêm ám cũ

những trận bão kéo sang
để lại ngày hiu quạnh
nghe tình vừa đi ngang
nhìn ra. mùa thu lạnh …


Đinh Trường Chinh, the poet, and artist was born in 1970 in South Vietnam. The poet currently works in IT in Virginia, U. S. A.

Viet Pham, translator and poet, passed away today, September 2025.  The world will miss his compassion and sense of humour..

say | Nguyễn Thị Phương Trâm

Em làm bài thơ tình
Thình lình như bài thơ
Em thèm… Sao nhỉ?
Ngủ với anh?

Âm thanh
Nhịp điệu
Kiểu?

Những cánh diều
Tuổi thơ

Ừ em mơ

Mờ ơ mơ
Em mờ ơ

Ừ thì em mơ
Gì cơ?

Có phải là thơ

#vanhocngoaibien #literaturebeyondborder #nguyenthiphuongtram #songngutaitram

Trâm and Brother in law from the UK
Trâm and Brother in law from the UK
Trâm and Brother in law from the UK

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Can’t sleep | Hồ Chí Minh

Vietnamese flag on flagpole textile cloth fabric waving on the top sunrise mist fog

thơ Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

2am 4am and it was six
tossing and turning all in the mix
8am 10am in a blink
the soul was engulf in a 5 points yellow star

Thụy bất trước


Nhất canh nhị canh hựu tam canh
Triển chuyển bồi hồi thụy bất thành
Tứ ngũ canh thì tài hợp nhãn
Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh.


Hồ Chí Minh [1890-1969] Bác Hồ, Uncle Ho, the poet was a Vietnamese revolutionary and politician who served as the founder and first president of the Democratic Republic of Vietnam from 1945 until his death in 1969, and as its first prime minister from 1945 to 1955.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.