Butterflies high in the mountain

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

The highland is entering the season of rain, beginning the season of rain also means the beginning of the butterfly season. So many untold numbers of butterflies and I am incredibly free. In the morning with nothing to do, I go to watch the butterflies, in the afternoon with nothing to do, I chase after the butterflies, in the evening with nothing to… Life is just an epic journey in play. But I’m a coward, going up the mountain I can’t go alone, I ask my whole childhood and senior years to come along.

In me are three of us: I am now an adult, and I am as before a child, and I am as will be geriatric. The three of us play together amicably, protecting, like father and sons, like three brothers or grandpa and grandsons. The child exclaimed happily: Oh, it’s so beautiful, they have both yellow and white! The adult with a smirk on his face looking at pearly colour petals, while the old man is sombre, staring at something far in the distance on the top of the mountain. The child was skipping along and whistling, the adult strolls, as the old man bent over meandering his way. The three of us decided to climb Mount Chư Mang together.

Halfway up the incline, the geriatric stays back to rest, massaging his knees cursing under his laborious wheeze. The child side step happily skipped away into the distance. Left is the adult, calmly continuing his way forward. On Mount Chư Mang there’s a fresh spring that runs the four seasons continuously, continually bubbling. I lifted my nostrils inhaling etching the direction. There are so many butterflies up there—the lazy wings brilliant butterflies all day sipping water singing and dancing. Life is full of joy. My head was hurrying my footsteps—the higher up the climb, my skin, a layer of cool goosebumps. At the start, there were three of us, now, no way near, I’m alone. Lonely, I called out: Child, where have you disappeared! Old man, hurry up I’m waiting! Only the moaning of the mountain returns in reply. Then there was a sound echoing from the top, some inviting laughter or challenge.

Dusk, the light roast gold the extending limbs of blooming crepe myrtle. The child lifted his eyes. A lounge of mountain lizards moving from branch to branch. Each lizard jaw held onto the other tail in a long line. The child, animated by it, stopped to watch, distracted. He forgets the road ahead is still very long, the water spring is still way ahead at the top of the mountain, very far away! But butterflies, to a child, it’s just another game, at the moment he likes this game of biting the tail in front of the mountain lizards. The mountain lizards invited the child to join, he enthusiastically joined in. He bites the tail of the one in front, holds out his hand to hold onto the head of the one from behind, jumping from branch to branch. In the meantime, the geriatric is tired, meandering the path, nearly there, nearly there, he audibly pushed himself in every step.

I came upon the spring of cold water at dusk. In a little bit, the shadow of night falls. Squatting by a boulder, scooping up the water washed my face. No butterflies. Perhaps, after a long day of frolicking those pretty butterflies have returned to reside on the spines of leaves for the night. I fished out many wings from the water, brought it to my nose; a bewildering fragrant. The scent of trees and grass, water, or is it of the wind, of the earth, of Mount Chư Mang? I carefully layered each pair of wings on a boulder, to make a mat, a blanket, and fell asleep. Have you ever fallen asleep in such a way? It’s amazing. A peaceful sleep, dreamless, no nightmares, no grinding teeth, no snoring nor mumbling. And in the morning, when the sunlight is bright on my face, I step down from the boulder by the spring, my body completely light.

I’m only but a – third left!

No head, no chest, no stomach, just legs stuck onto the crease of my loins, like a body ravaged by a wild cat, half-swallowed, left behind the bottom part. I walked away as light as though I’m flying. And at that moment, the butterflies appear. We danced, and we sang. In the end, to live is to play, the butterflies whispered into my ears.

While I slept beneath the infinite wings, the old man crawled into a hollow of a tree. He’s all scrunched up waiting for nightfall. He couldn’t sleep, he complains as he tucked into a meal of fat gold ants to tame the hunger, like a Komodo dragon feasting on a mountain of termites. Those cheeky ants played death so they can slide smoothly into the stomach of the man, and build a nest. Then in a frenzy, the ants gnawed the geriatric from the inside out. By the morning, nothing was left of the old man’s body, but his hairy head.

The geriatric also only has a – third left!

The lounge of lizards played non-stop without ever a sign of tiring, moving from branch to branch all night, laughing all night. The child was never bored. He laid the length of the tree branch, the lizards crowding him, bit off his hands, his head, his butt and dragged it away, biting and laughing merrily. When morning came, the lizards left. The child’s head has been bitten off together with his legs.

The child, in the same scenario, now also has only a – third left!

At the top of the mountain, when it rains, it’s unbelievably cold — especially if you’re no longer whole, as the three of us. Hence, we looked for each other amidst the vast emptiness. Child, which direction are you lost? Hey adult, where are you having fun? Old man, hurry up I’m waiting? Our voices were echoing, like butterflies in song, like the weeping of a mountain. In the end, we found each other, out of breath, tattered, exhausted, unfished.

The old man whining censures:

“You guys, now I’m only this much left!”

The child all confused:

“They, they bit everything off, there’s only this much left!”

The adult conceptualise: 

“Heck what has happened to us, life is now only a third.”

Three times one part three shall become a whole, I decided. That’s it, and we decided to unite as one. The body of the child with the head of the geriatric and the pair of my present legs, buckling, distorted, hard to look at, but what could we do! As long as we’re whole, to continue on our way.

In the morning with nothing to do, I go to watch the butterflies, in the afternoon with nothing to do, I chase after the butterflies, in the evening with nothing to…

It’s a mere epic search for play./

[May 2019]

Bướm trên núi cao

Tây nguyên chớm vào mùa mưa, chớm mùa mưa cũng là bắt đầu mùa bướm. Bướm nhiều vô kể, mà tôi thì rảnh vô cùng. Buổi sáng, không biết làm gì, tôi đi xem bướm, buổi chiều, không biết làm gì, tôi đuổi theo bướm, buổi tối cũng không biết làm gì… Đời chỉ là một cuộc rong chơi. Nhưng tôi vốn nhát, khi lên núi không dám đi một mình, tôi rủ cả tuổi thơ và tuổi già của tôi cùng đi luôn thể.

Trong tôi có ba đứa: Tôi hiện tại tráng niên và tôi ngày xưa tuổi nhỏ và tôi ngày sau tuổi già. Ba đứa chơi với nhau hòa thuận, đùm bọc, yêu thương như ba cha con, ba anh em hoặc ba ông cháu. Tôi tuổi thơ reo vui: Ồ, đẹp quá đi, lũ chúng nó đều có màu vàng và màu trắng! Tôi tráng niên nhếch mép nhìn theo những cánh hoa màu ngọc, trong khi tuổi già trầm ngâm nhìn cái gì xa xôi trên đỉnh núi. Tuổi thơ vừa đi vừa nhảy vừa huýt sáo, tráng niên bước chậm rãi, tuổi già lọ mọ dò đường. Ba đứa chúng tôi rủ nhau lên núi Chư Mang…

Lên đến nửa dốc, tuổi già ngồi nghỉ lại, vừa đấm vào gối vừa lầm bầm than thở hoặc chửi rủa. Tuổi thơ tung tăng rẽ dọc rẽ ngang rồi mất hút. Chỉ còn lại tráng niên điềm tĩnh bước. Trên núi Chư Mang có một khe nước mát lạnh, nước chảy bốn mùa, dầm dề phồn thực. Tôi ngửa mũi khịt khịt đánh hơi tìm hướng để đi. Trên ấy tha hồ bướm. Những cánh bướm sặc sỡ lười biếng suốt ngày uống nước và múa hát. Đời vui biết mấy. Đầu giục chân bước nhanh. Càng lên cao càng lạnh đến sởn da gà. Khi đi có ba người, bây giờ, nơi lưng chừng dốc, chỉ còn lại một tôi. Cô đơn quá, tôi gọi: Tuổi thơ ơi, mày lạc đâu rồi! Tuổi già ơi, nhanh lên tôi đợi! Chỉ có tiếng núi hú hét đáp trả, chỉ có tiếng lá rì rào đáp trả. Có tiếng gì từ trên đỉnh cao xanh vọng xuống, như một tiếng cười mời mọc hoặc thách đố.

Xế chiều, nắng vàng rộm trên vạt bằng lăng trổ bông. Tuổi thơ ngước mắt lên nhìn. Nó thấy một bầy thằn lằn núi đang chuyền cành. Con nọ cắn vào đuôi con kia thành một hàng dài. Tuổi thơ thích quá đứng hẳn lại xem và cổ vũ. Nó quên rằng, đoạn đường phía trước còn rất dài, khe nước ở tít mãi trên đỉnh núi cơ, xa lắm! Với lại, bướm, đối với tuổi thơ, chỉ là một trò chơi xa lạ, nó thích trò cắn đuôi của bọn thằn lằn núi. Bọn thằn lằn mời tuổi thơ chơi, nó nhiệt tình tham gia ngay. Nó cắn miệng vào đuôi một con phía trước, tay đưa ra sau nắm đầu một con khác, rồi chuyền cành. Trong khi đó, tuổi già mỏi mệt dò đường, sắp đến rồi, sắp đến rồi, ông ta vừa bước vừa tự động viên…

Tôi bước đến gần khe nước lạnh vào cuối chiều. Chỉ một chút nữa thôi là bóng đêm sẽ đổ xuống. Ngồi bên tảng đá, vục nước rửa mặt. Không có bướm. Có lẽ, những bạn bướm xinh đẹp sau một ngày múa hát mệt mỏi đã tìm về ngủ sau vòm lá. Tôi vớt được từ dưới suối rất nhiều đôi cánh, đưa lên mũi ngửi, rất thơm. Hương thơm của cỏ cây, của nước, hay của gió, của đất trời, của núi Chư Mang? Tôi tỉ mẩn xếp những đôi cánh lại trên tảng đá, làm chiếu, làm chăn, và ngả lưng nằm ngủ. Bạn đã bao giờ ngủ như thế này chưa? Tuyệt lắm. Giấc ngủ bình yên, không hề chiêm bao, không hề mộng mị, không nghiến răng, kéo gỗ hay chép miệng. Và sáng ra, trở dậy khi nắng bừng trước mặt, tôi bước xuống khỏi tảng đá bên suối, thấy mình nhẹ bẫng.

Tôi chỉ còn lại một – phần – ba!

Không còn đầu, không còn ngực, không còn bụng, chỉ còn đôi chân dính vào khớp háng, như một xác người bị hổ vồ, nuốt dở, còn sót lại phần dưới. Tôi bước đi nhẹ bẫng như bay. Và khi đó, các bạn bướm bắt đầu xuất hiện. Chúng tôi nhảy múa và hát tưng bừng. Cuối cùng, sống cũng chỉ để chơi thôi, các bạn bướm thơm lừng ghé vào tôi nói nhỏ.

Khi tôi ngủ trong vô vàn cánh bướm thì tuổi già chui vào một hốc cây. Ông ta ngồi thu lu trong đó đợi đêm tàn. Tuổi già thật khó ngủ, ông ta than thở như vậy và thò tay nhặt những con kiến vàng béo ngậy bỏ vào miệng cho đỡ đói. Ông nguyền rủa đứa nào rủ rê ông đi chơi xa rồi bỏ ông lại một mình. Suốt đêm như thế, tuổi già ăn hết nguyên một tổ kiến vàng, như một con kỳ đà ăn tổ mối… Những chú kiến vàng láu lỉnh không kém, chúng giả vờ chết để trôi tuột vào miệng tuổi già, rồi làm tổ trong đó. Rồi chúng hè nhau gặm ngược trở ra. Cho đến sáng, tuổi già đã bị kiến gặm gần hết, chỉ còn lại cái đầu hoa râm.

Tuổi già cũng chỉ còn lại một – phần – ba!

Lũ thằn lằn núi chơi không biết mệt, chúng chuyền cành trong đêm khuya, cười đùa trong đêm khuya. Tuổi trẻ chơi không biết chán. Nó nằm dài trên cành cây, bọn thằn lằn bu quanh, cắn tay cắn chân cắn đầu cắn đít nó lôi đi, vừa cắn vừa cười nắc nẻ. Đến khi trời sáng rõ, lũ thằn lằn núi bỏ đi. Tuổi trẻ đã bị cắn đứt đầu và đứt hai chân.

Tuổi trẻ, thật trùng hợp, bây giờ cũng chỉ còn lại một – phần – ba!

Trên đỉnh núi cao, khi trời đổ mưa, lạnh không kể xiết. Nhất là khi chúng tôi không còn nguyên vẹn nữa. Vì vậy, chúng tôi gọi tìm nhau giữa muôn trùng hoang vắng. Tuổi trẻ ơi, mày đi lạc phương nào? Tráng niên ơi, mày chơi ở đâu? Tuổi già ơi, nhanh lên tôi đợi? Tiếng chúng tôi vang vọng, như tiếng bướm hát ca, như tiếng núi khóc than. Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm thấy nhau, phờ phạc, rách nát, mệt nhoài, dang dở.

Tuổi già lên tiếng trách móc:

“Mả mẹ mày, giờ tao chỉ còn lại chừng này!”

Tuổi trẻ hoang mang:

“Mả mẹ nó, chúng cắn đứt hết, chỉ còn lại chừng này!”

Tuổi tráng niên bâng khuâng:

“Mả mẹ chúng mình, đời còn lại một phần ba”

Ba lần một phần ba sẽ là một nguyên, tôi khẳng định. Thế rồi, chúng tôi thống nhất ráp lại với nhau. Phần thân mình tuổi trẻ gắn với cái đầu tuổi già và đôi chân tôi hiện tại, cọc cạch lắm, vênh lắm, kệch cỡm lắm, khó coi lắm, nhưng biết làm sao được! Miễn là, tôi vẫn vẹn nguyên, tiếp tục lên đường.

Buổi sáng, không biết làm gì, tôi đi xem bướm, buổi chiều, không biết làm gì, tôi đuổi theo bướm, buổi tối cũng không biết làm gì…

Chẳng qua là một cuộc rong chơi./

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Farce

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

FARCE

Day in and day out I sat there, listening to the sound of my heart beating,  unchanging, steadfast, mundane thumping to the point of tedium and madness.

Why to the point of madness? Why does the heart beat, beat at all, why must blood course through my veins, and hair continue to grow when I’m bound by silence? I was born into this world, as a witness to the insane. We are big and small, fast and slow, uniquely different, united as a horde of followers of outdated ideology. Madness followed by falsehood, a chain of tragedies unfolding in silence.

Concurrent there within each second of my heartbeat, minute, day.

I did suspect, maybe; in a moment due to carelessness, someone has implanted a remote pacemaker? Because there are days, my heart is out of control, beating out of place. It doesn’t just beat for me, mad right? I’m a regular healthy 70 beats per minute; yet, there are times, the heartbeats double, even triple its usual rate!

Is there anyone out there out of their mind, crazy enough to sit and count their heartbeats?

I am because I believe there is a larger transient madness out there, beyond me, ready to tear down everything that is today and tomorrow.

My heart doubling and tripling its heart rate and I’m still alive? Seems unsound, but it’s not the biggest farce. I have a friend who writes poetry. In the middle of drinking, he would whisper quietly so only I could hear: “It’s true, in my heart there’s a fortified prison!” stunned, I would stare at him, knowing he was serious, knowing he was not drunk, with not the hint of a smile on his face!

Who’s brave enough to build a fortified prison in their heart? Absurdities are always followed by other absurdities. But I’ll abide, I shall reveal to you, my readers, all these compounding absurdities.

You’ve called me for a drink, but I won’t accept it. Because I know, after finishing half a packet of 333, you will whisper into my ear:” In my heart, there’s a…”

At this point in time, I’ve yet the courage to reveal the biggest, mother of all absurdities, but for the moment: Some people are still alive when their heart has stopped, yes!

They live in the mind of other people.

They have the right to live in the mind of other people.

They’re obligated to live in the mind of other people.

And they have given birth to a mountain of adoration, the wilderness of indignation, savage, vile pit, and divide.

Their hearts no longer beat yet they’re still able to wreak havoc, inciting storms and heavy floods and rain. The mass is inspired by them, worshipping them as immortal saints. And I’m a witness, I’ve never seen their hearts throb, let alone with a heartbeat!

I’ve been burdened by a recent death, a murder, and a young boy beaten to death in detention. On this windy afternoon, my erratic heart thumps faster. I’ve suspected for a while that, that every time someone passes away, my heart automatically weeps, especially when those close to me do not speak, and the senseless death is inevitable.

What’s more senseless is everybody, including those with beating hearts or not claiming they’ve sacrificed all their life to fight against senselessness, in the end, all of them, including me, have to accept all these senseless deaths in silent pain and impotence!

Life’s multitudes of senseless fracases, piled up, overtaking my place in society! From where I stand, every which way I turn, it’s all lopsided, lacking harmony, off-kilter, rough, grotesque, exposed, and ill-fitted.

So much so, that to this day, people believe that this civilised life is built on absurdities. The living, laughing freely; overflowing with faith and love with truncated diminished vigour. Yes, on the other hand, all that makes sense most is considered a farce. If you’re still wary, then be the hero, be a volunteer, deliver a traffic victim to the hospital and see?

Then you’ll know!

No one for the moment has faith in reason. My fellow living and I trudge through pointless junctures, bound by aimlessness, scrambling not once did a vow escape. Each day, I hear people mourn to then celebrate, not laugh nor cry; silently, I watch this senseless life slowly ebb and flow by.

[Edited July 2022]

Phi lý

Mỗi ngày, tôi lắng nghe nhịp đập trái tim mình, nhưng hoàn toàn không cảm nhận được điều gì mới mẻ ngoài nhịp đập thong thả đến nhàm chán và thậm chí có phần phi lý.

Sao lại không phi lý? Sao tim vẫn đập, máu vẫn lưu thông và tóc vẫn dài ra trong khi tôi lại ngồi bó gối trong im lặng? Tôi sinh ra trên cuộc đời này, để minh chứng cho một sự phi lý đến khó tin của kiếp người trên trần thế. Chúng tôi, lớn bé khôn dại khác nhau tùy từng đứa, nhưng đều răm rắp tuân theo những mệnh lệnh cứng nhắc lỗi thời của người khác. Sự phi lý này kéo theo sự phi lý kia, kết thành một chuỗi thảm kịch diễn ra trong lặng lẽ.

Trong khi đó, tim tôi vẫn đập mỗi giây, mỗi phút, mỗi ngày…

Tôi từng nghi ngờ, không lẽ, vào một lúc lơ đãng nào đó, đã bị ai đó cấy vào tim một thiết bị tinh vi để điều khiển? Bởi có những ngày, tim tôi loạn nhịp. Nó không chỉ đập cho riêng mình, phi lý quá không? Chỉ khoảng 70 lần trên một phút là đủ để tôi tồn tại, đằng này, nhiều khi, tim đập gấp đôi, thậm chí gấp ba!

Có ai lẩn thẩn ngồi đếm nhịp tim mình không?

Tôi thì có, bởi vì tôi luôn tin rằng, có sự phi lý lớn lao đang lẩn quất đâu đây và sẵn sàng làm đổ ụp mọi thứ trong nay mai.

Tim đập gấp đôi, gấp ba mà vẫn sống? Phi lý quá, nhưng vẫn chưa phải là điều phi lý nhất. Tôi có anh bạn làm thơ, trong một lần liêu xiêu bia rượu, anh ghé tai tôi nói nhỏ: “Trong tim tao còn có một nhà tù kiên cố, thật đấy?”. Tôi kinh hoàng nhìn vào mặt bạn, biết rằng bạn không hề say, cũng không hề cười!

Ai dám cả gan xây một nhà tù kiên cố trong tim bạn? Hết phi lý này đến phi lý khác, phải không? Tôi sẽ ngồi đây, kể cho bạn nghe những phi lý chất chồng. 

Bạn vừa gọi đi nhậu, nhưng tôi chối từ. Tôi biết, thế nào sau khi hết nửa thùng 333, bạn lại ghé tai tôi thầm thì: “Trong tim tao có một…”.

Tôi vẫn chưa dám nói ra điều phi lý nhất, giờ nói luôn: Có những người tim không còn đập nhưng vẫn sống, tin hay không thì tùy!

Họ sống trong tâm trí người khác.

Họ có quyền sống trong tâm trí người khác.

Họ bắt buộc phải sống trong tâm trí người khác.

Và họ đẻ ra cả một núi tin yêu, cả một rừng phiền toái, cả một hố hằn học hoặc một vực cách chia.

Tim không còn đập nhưng họ tha hồ làm mưa làm gió bất cứ nơi nào. Đám đông ngưỡng vọng họ, tôn sùng họ là những thánh nhân bất tử. Còn tôi, tôi chưa bao giờ tận mắt thấy tim họ đập thế nào!

Tôi đang nghĩ về một câu chuyện vừa xảy ra, một cái chết vừa xảy ra, một án mạng vừa xảy ra, một cậu bé vừa bị đánh đến chết trong trại giam. Câu chuyện đó làm tim tôi bất ngờ tăng tốc loạn xạ trong một buổi chiều giông gió. Tôi đã thấy nghi hoặc từ lâu, rằng mỗi khi có ai đó qua đời là tim tôi phi nước đại, nhất là những người thân sơ bất kể, nhưng phải chịu cái chết phi lý.

Điều phi lý hơn cả là hầu như tất cả mọi người, kể cả những người tim đang đập hoặc tim không đập nữa đều nói rằng họ hi sinh cả cuộc đời để chống lại những điều phi lý, nhưng cuối cùng, tất cả trong bọn họ, kể cả tôi nữa, phải chấp nhận những cái chết phi lý này trong đau đớn và bất lực!

Hình như trên đời này, có bao nhiêu chuyện phi lý đều đổ dồn về quanh chỗ tôi ngồi! Nhìn chỗ nào cũng thấy mất cân đối, thiếu hài hoà, không bằng phẳng, gập ghềnh, kệch cỡm, vênh váo, không phù hợp. Đến nỗi, bây giờ, mọi người xung quanh đã tuyệt đối tin rằng, cuộc sống văn minh này đang được xây dựng bằng tất cả những điều phi lý. Mọi người sống, vui cười hớn hở, tràn ngập tin yêu trên những dở dang mất trớn. Đương nhiên rồi, ở chiều ngược lại, những điều hợp lý nhất sẽ bị coi là phi lý. Nếu bạn còn nghi hoặc điều này, hãy ra tay nghĩa hiệp chở một nạn nhân tai nạn giao thông vào bệnh viện mà xem? Biết liền!

Giờ thì không còn ai còn tin vào điều hợp lý nữa. Tôi và bạn sống quằn quại trong mớ dây chạc linh tinh, rường cột lung tung, bất nháo chí thiên, không hề có một hứa hẹn nào sẽ được thoát ra. Mỗi ngày, tôi vẫn mang trái tim cằn cỗi với những nhịp đập phi lý của mình đi làm, kiếm sống. Mỗi ngày, tôi vẫn nghe thiên hạ vui cười hoặc khóc lóc, hoặc không cười không khóc, lặng lẽ nhìn dòng đời phi lý cuồn cuộn trôi qua.

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Alone

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

ALONE

Like everyone else, solo I came into the world. I arrived solo, and eventually, I will leave alone, you too, no one’s an exception. When you’re in a state of chaos, you forget, forget the origin and the infinite, your solitude. You fight loneliness with the value of your worth; splashing around to keep afloat above a billion people. Awake in the middle night, you are alone.

Life’s cruelty leaves one in a state of persistent terror of loneliness. Each day, I emerge inline in suburbia, in cafes or pubs with my friends. But always gruesomely possessed as though thick clouds blinded me, I saw no one, absolutely no one, just the sound of echoing laughter from some far-off fantastic place. I’m alone. 

The day shall come when I’m no longer in my youth; there will be termite in my eyelids. They will silently chew and suck on my flesh. Such issues guarantee complications: I would look at life through random potholes. The sky will always have falling snow, and people face no difference from separate coloured sheets of paper, holey. I have never disclosed this to anyone.

My belief is not that I am alone, but that many put up with these termites in their eyes. They’ll never speak of them, keeping such secrets close to their hearts. If disclosed, you’re medicated with complicated lengthy hospital and specialist visits, and with a promise of no better prognosis. Many lose their eyesight after treatment, and many end up blind; it’s an unfortunate fact!

I laughed out loud one quiet afternoon, as I listened to the district loudspeaker playing some song about unification. I say, apart is beautiful, it’s best to sit alone, you don’t have to entertain any dark intentions, listen alone to the termites squeaking, gnaw at the cells in your eyes.

No matter how lonely, you must be a good citizen to lead an upstanding life within the boundaries of society. Some are bound so tight it’s impossible to breathe. Others were a little looser but are so clumsy they habitually stumble.

I’ve no idea what he’s thinking but a neighbour opposite the other day hung a sign by the front of his gate: “Freedom for rent”. Of course, many turned up, but after the proprietor explained they saw that it was too involved and too complicated, they shook their heads and left. I queried, in frustration, he exclaimed: “They crave freedom but whine that the price is too steep, they all scream freedom, none of the cowards wants to pay!”.

I told another neighbour, a burglar about the “freedom for rent”, and he snorted: “That quack eats people alive, he evades tax, launders money like a pro, now he’s old and he’s still a hustler!”.

The strange story continued to haunt me. I decided to delve further, “freedom for rent” in its entity is to rent what, how much is too expensive. But my neighbour refused to give me a straight answer, he pressed on with if you have the means to pay, stop asking, stop being so nosy, and mind your own business.

Yesterday, my neighbour lost his life, but no one has yet rented his freedom. When they covered up his body, in the house, there was nothing in it but a pile of political books on how to deceive, to gain power, a complete collection from East to West. But on a positive note, he died alone! Leaning in to close his eyes, I whispered: “I’m prepared to rent your freedom at any price”. And of course, he couldn’t reply or nod in acceptance; there was just a twinkle in his eyes before they closed forever. From those eyes, a swarm of white ants in a swarm took to the sky, engulfing the entire city. I stood there, stunned, and watched them fly away, a haze of white flowers, the small cloud of them bloomed and expanded in a rush, covering everything. The world disappeared.

There was no other path, other than to wait, alone.

[August 2018]

Một mình

Bằng cách giống như tất cả mọi người, tôi đến với thế giới này một mình. Tôi đến một mình, và mai kia, tôi cũng đi một mình, bạn cũng thế, không có ai ngoại lệ. Khi bạn hòa vào đám đông hỗn loạn, bạn quên rằng, lúc đầu và mãi mãi, bạn chỉ có một mình thôi. Bạn chống lại trạng thái cô đơn bằng cách khẳng định giá trị của mình, và cố vùng vẫy để mình không bị chìm lút vào nhân loại đông đến hàng tỉ người. Vậy mà khi thức dậy giữa đêm khuya, bạn vẫn chỉ có một mình.

Có vẻ như cuộc sống quá bất công khi để con người trong trạng thái cô đơn tiềm tàng với nỗi sợ hãi thường trực. Mỗi ngày, tôi vẫn hòa vào dòng người tấp nập ngoài phố, trong quán cà phê hoặc quán nhậu với bạn bè. Nhưng với một nỗi ám ảnh ghê gớm như đám mây mờ kéo ngang trong mắt, tôi không thấy ai hết, hoàn toàn không có ai, những tiếng cười nói hò hét như thể vọng về từ cõi xa xăm nào không có thật. Tôi vẫn chỉ một mình.

Một ngày nào đó khi không còn trẻ nữa, tôi phát hiện ra trong mí mắt mình có những con mọt. Chúng lặng lẽ gặm nhấm các tế bào. Chuyện này dĩ nhiên sẽ gây ra một số rắc rối: Tôi nhìn đời bằng ánh mắt bị mọt gặm thủng lỗ chỗ. Bầu trời lúc nào cũng như có tuyết trắng đang rơi, còn mặt người thì không khác gì những tờ giấy đủ màu, thủng lỗ chỗ. Tôi không hề nói cho ai biết bí mật này, chỉ một mình tôi…

Tôi vẫn tin rằng, không chỉ riêng mình,còn có rất nhiều người khác có những con mọt gặm trong mắt. Họ cũng không nói ra mà khăng khăng giữ bí mật ấy cho riêng mình. Bởi nếu nói ra, bạn sẽ phải uống thuốc, sẽ phải điều trị dài ngày trong bệnh viện, mà kết quả thì không có gì hứa hẹn là sẽ tốt hơn. Rất nhiều người bị mù, sau khi điều trị thì chuyển sang đui, thật đấy!

Có những buổi chiều, ngồi bên thềm nghe loa phường cất vang bài hát gì đó về sự đoàn kết, tôi cười thầm một mình. Tôi thấy, một mình cũng hay, nếu không cần phải hiện thực hóa một âm mưu đen tối thì tốt nhất vẫn nên ngồi một mình, nghe tiếng mọt gặm tế bào trong mắt, kẽo kẹt, kẽo kẹt…

Dù cô đơn đến mấy, bạn vẫn phải sống như một con người với đầy đủ ý thức về bổn phận trách nhiệm và mớ dây chằng chịt vân vân ràng buộc xung quanh. Có người bị buộc chặt đến nỗi không thở được, có người bị buộc lỏng hơn một chút nhưng lóng ngóng vụng về nên thường xuyên vấp té.

Ông hàng xóm nhà đối diện không biết nghĩ ngợi thế nào mà ngày nọ treo cái biển to đùng trước cổng: “Cho thuê tự do”. Đương nhiên là rất nhiều người thấy lạ đến coi nhưng sau khi nghe ông chủ giải thích thì thấy rối rắm mù mịt nên lắc đầu bỏ đi hết lượt.

Tôi hỏi cơ sự,ông ta trầm ngâm giải thích: “Họ thèm tự do nhưng chê giá quá đắt đó thôi, ai cũng kêu gào tự do mà không dám trả giá, hèn lắm!”.

Tôi đem chuyện ông hàng xóm “cho thuê tự do” nói với một ông hàng xóm khác làm nghề ăn trộm, ông ấy bĩu môi cười khinh khỉnh rồi nói: “Cái lão ấy lẩn thẩn ăn người, một tay buôn lậu rửa tiền cực giỏi, giờ về già nhưng máu buôn bán phi pháp vẫn còn!”.

Câu chuyện lạ lùng khiến tôi thắc mắc mãi. Tôi lân la hỏi xem, “cho thuê tự do” cụ thể là cho thuê cái gì, giá bao nhiêu mà đắt. Nhưng lão hàng xóm không trả lời, nằng nặc bảo rằng, có nhu cầu thì bỏ tiền ra, không thì đừng hỏi lôi thôi chuyện nhà người khác.

Cho đến ngày hôm qua, ông hàng xóm ấy chết, vẫn chưa có khách hàng nào thuê tự do. Lúc khâm liệm, trong nhà không có gì ngoài một đống sách chính trị nói về các mánh khóe lừa lọc và cai trị, từ phương Đông đến phương Tây đủ cả. Điều đáng nói, lão chết một mình! Khi vuốt mắt cho lão ấy, tôi cúi xuống nói nhỏ: “Tôi sẵn sàng thuê tự do của ông với bất cứ giá nào”. Dĩ nhiên là lão ấy không thể trả lời hoặc gật đầu đồng ý, chỉ có đôi mắt như khẽ chớp sáng trước khi đóng lại vĩnh viễn. Từ trong đó, bầy mọt trắng vỗ cánh bay ra, mịt mờ khắp phố. Tôi đứng ngẩn ngơ trông theo, thấy lờ mờ trước mắt những bông hoa màu trắng, lúc đầu còn nhỏ, sau nở bung xòe, che kín mọi thứ. Thế giới biến mất.

Không hề có con đường nào khác nữa, tôi ngồi xuống chờ đợi, một mình. 

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

In this way, I managed to rescue the words

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm 

Can one write with a vacant mind? I’m not the only one confronted with this atypical dilemma. A wide and varied vernacular after a time could self-destruct. They, the vowel consonants, and all the accents dots, and commas presently are threatened with destruction.

In the ghoulish colour of dusk, the letters lay scattered inanimate like bones in a tragic national exhibit of famine. 

There are fewer people at this late hour in the afternoon, all the right words without a home, like derelict tombstones in a graveyard. The blood thirsting opportunist, enslaving the vernacular with tempers of swords and daggers.. 

But they, the meaningful words in the vernacular, are equipped with weak limbs!

Hence even in their echoing formidable pleading, undecidedly they die. The letters killed in mass graves of Cholera piled on top of each other. The letter A is on L, I with a busted head, accent “?” curled up, Y legs wide open, blood oozing between the thighs.

Crazy!

I picked up each letter soaked in blood, in the middle of my palm, and the sickly sweet stench of blood hit my nostrils. How can we save them, and help them regain their lively, inspirational grace? I’m not some warlock; I’m a country boy, an outsider to the realm of literature reserved for those more proficient. I was powerless, as the words were ripped apart and molested. 

I begged: Hey, wake up, don’t die!

I cried: Hey, please stop dying!

The letters still didn’t move. They were gone.

I was paralysed like some poor child powerless watching his doll pulled apart, legs, arms, head. I thought: if I had the voodoo to raise the dead! But the Gods, Buddha, and all the saints were long gone in blessing us with their presence on this tiny rude planet. My dreams never eventuate. The shadow of dusk fell silently on each grain of sand wrapped in death. Arduously I picked up each limb, piecing one at a time together. The moon rose without warning, its light exposing the extensive decay, like the flame from a lighthouse. I thought: Maybe wait till the moon is a bit higher, to light the land adequately, I will again try to revive them quietly.

Have you noticed the way TV presenters express themselves? Each word is pronounced with a subtle emphasis on surprise and excitement. Each sound curls up smoothly like rolls of exhaling cigarette smoke. The vernacular is like a dancer, swaying, strutting. They’re exploited by the ambitious and corrupt. The whole community swaying, along with those paid lips, made slavery of the words. Not only does society suffer, but the vernacular itself must endure!

In the meantime, new sufferance has brought down upon bullhead youths (trẻ trâu*), their nature from the get-go chewed up, gnawed, twisted out of shape to an unrecognisable state. Their free-form sentences, backward, without accents, mixed icons, tricks, and maiming literature, assaults the mind, and causes the death of many letters in every message, in each comment online, in every spelling exercise, and composition. My mother’s tongue is my first language, yet, reading their text over and over again, what they wanted to say was impossible to understand.

For example, “I’d like to pepper in the fact that *I* make myself uwu 🙂 i-i know face, but u no i don’t no name 🤧🤧🤧 U ejelous kk bye.”

Now, they lay like a mountain of skulls left behind after a genocide. The moonlight illuminate my forehead. I held each frozen body, lending my lips to pass warm air into them. Their chest began to rise and fall again. They’re still alive.

Sunlight dissipating the mask of the night gave back to the planet its lush shades of green. A bear glanced at us in passing, its eyes filled with love, and left a little sweet milk. A colony of bees stopped by to check on us and left an ounce of honey. An army of ants building their nest stopped running around, to make sure we could enjoy the creamy golden eggs they’ve left for us. The vernacular slowly woke up as I fed each word with the bear’s milk, honey, and eggs. They opened their mouths, swallowed, and tried all they could to pull themselves up. Just like that, one day after the other, then the day after that..

Now the words are doing better, healthier.  Y leading A, L is leaning on H, K with a cane, accents “?” learning to meditate, learning to walk, talk and laugh. Their echoing laughter bounced off, resounding in far-off horizons.

[Edited July 2022]

*Modern colloquial: young, stubborn/bullhead

[July 2018]

Bằng cách đó, tôi đã cứu được các con chữ

Làm sao viết được bằng một cái đầu trống rỗng? Câu hỏi kỳ quái này chắc chắn không chỉ mình tôi gặp phải lúc này, mà rất nhiều người khác nữa. Ngôn ngữ, sau một chặng đường dài phát triển, đã đến lúc suy tàn. Chúng, những nguyên âm phụ âm và các thanh các dấu có dấu hiệu cận kề cái chết.

Trong bóng chiều nhập nhoạng sắc màu ma mị chúng ngồi vạ vật như những bộ xương trưng bày trong bảo tàng về một nạn đói khủng khiếp nào đó của dân tộc…

Những người tử tế đã ít dần đi trong buổi xế chiều này, những con chữ tử tế cũng không còn chỗ trú ngụ, như những pho tượng nhà mồ chơ vơ trong nghĩa địa hoang vu. Những kẻ cơ hội và say máu khoác lên mình các ký tự một mớ trang sức gươm dao và bắt chúng khom lưng oằn mình chịu đựng. Mà chúng, bọn chữ nghĩa ấy thì chân yếu tay mềm!

Rồi chúng, những nỉ non, vang rền, hùng hồn, nhấm nhẳng…chết. Chúng chết hàng loạt như mắc phải vi rút dịch tả, và nằm đè lên nhau. Chữ A đè lên chữ L, chữ I bị sứt đầu, dấu ? nằm co quắp, chữ Y dạng chân ra, máu chảy giữa hai đùi…

Khủng khiếp!

Tôi nhặt những thi thể chữ đẫm máu, đặt lên giữa bàn tay, nghe mùi cái chết tanh xông lên mũi. Làm sao để chúng sống lại, vui đùa, hoan hỉ, dịu dàng như cũ? Không phải là một phù thủy tài ba, tôi chẳng qua là một gã nhà quê đứng bên ngoài cánh đồng văn chương vốn chỉ dành cho những tay chơi cự phách. Tôi ngậm ngùi bất lực khi chữ nghĩa bị phanh thây và cưỡng hiếp mà bất lực.

Tôi lay gọi: Này, dậy đi thôi, đừng chết!

Tôi khóc to: Này, thôi đừng chết nữa!

Lũ chữ vẫn không nhúc nhích. Chúng chết thật rồi…

Như cậu bé nhà nghèo ngồi nhìn những chú búp bê thân thương bị vặt tay bẻ cổ và giẫm bẹp dí, không biết làm sao. Tôi nghĩ: Ước gì mình có phép màu khiến cho người chết có thể sống lại! Nhưng Bụt, Phật và các thánh thần đã từ lâu không còn vãng lai cõi trần chật hẹp và hỗn láo. Điều ước mãi mãi không thành hiện thực. Chiều đổ bóng âm thầm trên nền đất cát còn vương vãi thịt da và hình bóng của cái chết. Tôi tẩn mẩn nhặt từng mẩu tay chân thịt da các ký tự ghép vào nhau. Trăng đột ngột hiện ra chiếu ánh hào quang xuống mặt đất hoang tàn, như một ngọn hải đăng rạng ngời trong mắt người đi biển. Tôi nghĩ: Hay chờ trăng lên cao chút nữa, soi thật sáng chỗ này, tôi sẽ âm thầm làm một cuộc cải tử hoàn sinh…

Bạn có khi nào để ý đến cách diễn đạt của những nhân vật mặt mày sáng láng trên các kênh truyền hình không? Những con chữ được nhả ra từ tốn, nhẹ nhàng, khi phấn khởi, lúc băn khoăn trăn trở, khi nhấn mạnh, khi kéo dài ra… Những âm vực uốn lượn lên bổng xuống trầm như khói thuốc. Lúc ấy, ngôn ngữ đang đóng vai những diễn viên múa, uốn éo, làm dáng. Chúng bị làm tình làm tội bởi con người, những con người đầy tham vọng bá quyền vào tráo trở. Cả cộng đồng uốn éo theo những bờ môi đĩ thõa khiến ngôn ngữ cũng bị đọa đày. Không chỉ có con người khổ, chữ nghĩa cũng khổ lây, thật đấy!

Trong khi đó, ở vào một hoàn cảnh khổ đau không kém, những ký tự thoát khỏi rào chắn răng lưỡi của lũ trẻ trâu, các ký tự lại bị nhai, bị cắn, bị vặn cho méo mó không còn ra hình dáng ban đầu. Chúng tha hồ hành hình chữ nghĩa, chúng viết lộn ngược, viết không dấu, viết tắt có chèn hình, làm đủ trò nhào lộn khiến cho chữ nghĩa bị què cụt, thậm chí là chấn thương sọ não, chết hàng đống trong các tin nhắn, các phản hồi trao đổi trên mạng, thậm chí trong các bài tập chính tả, làm văn ở trong lớp học. Đến nỗi, cùng sống chung một thời đại, cũng sử dụng tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ chính, mà tôi, đọc đi đọc lại nhiều lần vẫn không tài nào hiểu được chúng muốn nói gì…

Ví dụ: cáj mắt ngu ngu hợhợ :-q smile

aj tkươq iem like + tkả heart đê.ránk tốj wua ckúc ngẩu nqon nèk hjhj tốj ấm nká cả nkà…

Bây giờ thì, chúng nằm đây, lăn lóc như sọ người sau nạn diệt chủng. Mà trăng thì vẫn sáng trên đầu. Tôi ôm lấy từng cơ thể lạnh ngắt, rồi ghé miệng truyền hơi ấm vào. Những vòm ngực bắt đầu phập phồng trở lại. Thì ra chúng vẫn còn thoi thóp, chưa chết hẳn.

Ánh mặt trời lột hết những mặt nạ đóng thế đêm qua, trả lại nguyên vẹn tươi xanh trên trái đất. Một chú gấu đi qua dừng lại nhìn chúng tôi, ánh mắt trìu mến chứa chan rồi bước đi, để lại một ít sữa ngọt ngào. Bầy ong mật bay qua, dừng lại hỏi han, trước khi bay tiếp đã để lại một ít mật ngọt lành. Bầy kiến đang xây tổ, dừng lại nhìn chúng tôi, và sau đó để lại những trứng kiến vàng ươm béo ngậy. Tôi lấy sữa gấu mật ong và trứng kiến bón cho lũ chữ vừa tỉnh lại. Chúng há miệng ra nuốt lấy và gắng gượng ngồi dậy. Cứ thế, ngày này, qua ngày khác, những tháng ngày bất tận.

Giờ thì lũ chữ đã khỏe hơn, chúng đang hồi phục từng ngày. Chữ Y dắt chữ A, chữ L tựa vào vai chữ H, chữ K chống gậy, dấu ? tập ngồi thiền… chúng đang tập đi, tập nói tập cười. Tiếng cười nói xôn xao cả một khoảng trời mênh mông…

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Mixed up

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I still believe, at the end of an ocean, a horizon someone is waiting for me. I’ve been to many places quietly wishing never knowing when we may meet again. Though in the end, I would return, return to this familiar seat of mine. The day you left, I was despondent. I admit it to myself many times like that, as in dreams. Where you sat next to me, another person now sits. A different face, a different smile, a different voice, a different hand, a great love, yet still I’m in a state of confusion, this is just another person, just another friend?

I have been confused for a length of time in my youth. Confused that this is red and that is yellow, this will be for many years and that forever. In the end, I finally admit, painfully through a pathetic smile, that I accepted it before I left.

Still, I continue to be in this state of confusion. See here, next to me is where you sat, where you usually sit.

You have appeared next to me, as a sweet young student, you sat down timidly, eyes wide peering into the distance in search of an autumn song. I was confident, so I ignored you. Here I’ve sat; first, anyone could be witnessed. I also knew, ever since you came, where we sat became warmer, palms warmer, slowly warmer the conversations.

Still, as sudden, as when you came, you left on a day I no longer remember. The person replacing you has a different smile to you, different colour hair, but still, I couldn’t accept it. I continued to ramble on about myself, about the wild time on that desolate far off place on mount Chư Mang!

The readers are tired and sick of this common repeating confusion in all the dramas, in all the literature. I’m the same. Only those without talent would repeat such old and worn out times. But, now and then, heaven and earth are inspired by a display of awkward confusion, in amusement.

Until that stupefied moment when I discovered the person just arrived is not you. I was confronted with the painful choices: to stand up and step away from the stranger, or to continue to see here, this person, is a friend of mine, a friend of mine?

The light now low, late in the afternoon, to stand, to leave when the reeds are falling asleep, the mountains and rivers tinge in the colour of the meadow. But to see the person sitting next to me as a friend is too painful! Unheard of the eyes, the lips, the voice, not right, not sound.

The eyes just arrived are coloured with strings of clouds laden with moisture, trilling laughter like a mermaid in Năng river!

What could we do?

The new person drew a heart on the blackboard and said, “there, there’s the heart!” I said, “no, that’s not it!”

The new person drew a smile rolling on the grass then said, there, there’s the smile! I shook my head vigorously.

The new person painted a rolling teardrop, sobbing, “there; there’s a tear!”

I stood up to walk away. The new person broke down in tears. I turned to her, firmly said, “that’s enough, stop crying; it’s too late!”

Liken to a high school infatuation; you think that it’s okay?

I’m unsure. Confusion now and then often leads to conflicting views him saying this, and she said that. What I imagine as everyday happenings have long been absent, the images next to me are not of those that I yearn for and love!

There are long days when burdened with the feeling that upon me are the eyes of the whole human race, it’s true! All those close in my family, friends, those beneath, those above, all the levels of management levelly consistently at once eyes wide open followed me. I continue to sit here; back bent like a branch counting each of its leaves, counting every character to draw an ever ending tale. But no one knows, a long time has passed since I left. The person sitting here is no longer me! Is there anyone like me, absent from the very place I sit, exiled right inside the tale I’m conveying? 

I’m not alone, an overcrowded generation out there, unbeknown, also for a long time now exiled, lost their heritage, left their homes forever. Even, an entire nation exiled, and nothing is strange about this? Though I don’t want to say for sure. Every day, I continue to sit here, sure of my position, drafting, writing. You’re far gone long ago, left as well as the laughter. The new person arriving is not you, and I’m not me, but that’s not a problem, everything will eventually depart, always.

In the end, left are the remnants of pale human shadows. Where I sit, the place is mine, the seat next to me is yours, no not so, it belongs to the person who just arrived. You’ve left, I’m also gone, so the person just came, the person just arrived too.

None of this matters any more, let’s be on our way.

[November 2018]

Nhầm lẫn

Tôi vẫn tin rằng có ai đó đang đợi tôi ở cuối chân trời góc bể. Tôi đã đi rất nhiều nơi với mong ước âm thầm biết đâu rồi sẽ gặp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi trở về đây, về với chỗ ngồi quen thuộc của mình. Từ ngày bạn bỏ ra đi, tôi đã rất buồn. Tôi tự thú nhận với mình nhiều lần như thế, cả trong mơ. Chỗ ngồi của bạn, ở bên cạnh tôi, có một người khác đến ngồi. Một gương mặt khác, một nụ cười khác, một giọng nói khác, một bàn tay khác, một tình yêu khác, nhưng sao tôi cứ nhầm lẫn hoài, đó vẫn chỉ là một người, vẫn là bạn mà thôi?

Tôi đã nhầm lẫn trong một thời gian dài tuổi trẻ. Nhầm lẫn cái nọ màu đỏ cái kia màu vàng, thứ nọ muôn năm thứ kia mãi mãi. Cuối cùng, tôi đã dứt khoát nhận ra, đau đớn nhận ra và mỉm cười ngạo nghễ bỏ đi.

Vậy sao bây giờ tôi lại tiếp tục nhầm lần được. Này nhé, chỗ bên cạnh tôi là chỗ ngồi của bạn, bạn vẫn thường ngồi…

 Bạn đã xuất hiện bên cạnh tôi, như một cô bé học trò xinh xắn, rụt rè ngồi xuống, mở to mắt ngước nhìn xa xăm tìm câu hát mùa thu. Tôi tự tin không thèm để ý. Chỗ này tôi ngồi trước, ai cũng xác nhận thế rồi. Vậy nên tôi mải mê với câu chuyện của mình. Tôi cũng biết rằng, từ khi bạn đến, chỗ ngồi của chúng ta ấm lên, bàn tay ấm lên, câu chuyện cũng ấm dần lên…

Thế nhưng, cũng bất ngờ như khi đến, bạn ra đi vào ngày nào đó tôi không còn nhớ. Người thay thế bạn có một nụ cười khác, một màu tóc khác, nhưng tôi không nhận ra. Tôi cứ mãi huyên thuyên câu chuyện của chính mình, về những trò nghịch dại trên núi Chư Mang xa xăm hoang vắng!

Bạn đọc hẳn đã quá nhàm chán với những tình huống nhầm lẫn quen thuộc đến phát ớn trong các vở kịch, trong các tác phẩm văn chương. Tôi cũng thế. Chỉ có những tay viết bất tài mới lặp lại tình huống cũ rích này. Nhưng, đôi khi, đất trời cũng nổi hứng đặt bày oái oăm nhầm lẫn, cho vui…

Đến khi tôi bàng hoàng phát hiện ra người mới đến không phải là bạn thì mọi sự đã rồi. Tôi đứng trước lựa chọn đau đớn: Hoặc đứng dậy bước đi trước một người xa lạ, hoặc tiếp tục coi đây, người này, là bạn của tôi, là bạn của tôi!

Nếu đứng dậy ra về thì nắng đã xế chiều, thì lau lách đã đìu hiu, thì núi sông đã nhuốm màu quan tái. Nếu coi người vừa ngồi cạnh mình đây vẫn là bạn thì, khó khăn lắm! Mắt ấy, môi ấy, tiếng hát ấy, không phải, không đúng, không quen…

Màu mắt mới đến vừa có một đám mây giăng ngang mọng nước, tiếng cười lảnh lót như nàng tiên cá dưới sông Năng!

Biết làm sao được?

Người mới đến vẽ một trái tim lên bảng đen rồi nói, đó, trái tim đó! Tôi nói, không phải đâu!

Người mới đến vẽ một nụ cười lăn trên cỏ rồi nói, đó, nụ cười đó! Tôi lắc đầu quầy quậy. 

Người mới đến quẹt một giọt nước mắt vừa lăn, nức nở nói, đó, nước mắt đó!

Tôi đứng dậy định bước đi. Người mới đến khóc òa lên. Tôi ngoảnh lại, cả quyết nói, thôi được rồi, đừng khóc nữa, chiều rồi!

Như một tình yêu tuổi học trò, bạn nghĩ thế, phải không?

Tôi không dám chắc đâu. Sự nhầm lẫn đôi khi dẫn đến tình trạng ông nói gà bà nói vịt xảy ra thường xuyên. Cái mà tôi tưởng chừng vẫn thường xuyên hiện hữu thì hóa ra lại vắng mặt lâu rồi, hình ảnh tôi đang thấy bên cạnh mình thì lại không phải là điều tôi vẫn yêu thương và tưởng nhớ!

Có những ngày dài, tôi mang cảm giác rằng cả nhân loại đang dõi mắt nhìn tôi, thật đấy! Những người thân trong gia đình, bạn bè, cấp dưới cấp trên, các tầng bậc quản lý trùng trùng lớp lớp đều mở to mắt nhìn theo. Tôi thì vẫn ngồi đây, khom lưng như một cành cây đếm từng chiếc lá, đếm từng ký tự để vẽ ra câu chuyện muôn trùng. Nhưng tất cả đều không biết rằng, từ lâu tôi đã ra đi. Người ngồi đó không còn là tôi nữa! Có ai như tôi không, tha nhân ngay chính chỗ mình ngồi, vong thân ngay trong câu chuyện mình đang kể?

Không chỉ riêng mình tôi đâu, cả một thế hệ đông đúc chen lấn ngoài kia, biết đâu, từ lâu cũng đã vong thân, mất gốc, bỏ xứ ra đi biền biệt.Thậm chí, cả một dân tộc đã vong thân, điều đó có gì lạ không? Tôi không dám chắc đâu. Hàng ngày, tôi vẫn ngồi đây, yên tâm với vị trí cũ, và vẽ, và viết. Bạn đã bỏ đi biền biệt lâu rồi, đến cả tiếng cười cũng bỏ xứ ra đi. Người mới đến không phải là bạn, còn tôi thì đích thực không phải là tôi, nhưng có sao đâu, mọi thứ rồi sẽ cứ ra đi, trùng trùng lớp lớp.

Cuối cùng, chỉ còn lại những bóng dáng nhạt nhòa của hình nhân ở lại. Chỗ tôi ngồi đây, là chỗ của tôi, chỗ bên cạnh là của bạn, không phải, của người mới đến. Bạn đã bỏ đi rồi, tôi cũng đã ra đi, rồi người mới đến, người mới đến cũng đã…

Nào, tiếp tục lên đường…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Portrait of the truth

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Nguyễn Thị Phương Trâm 

I tried with great difficulty to capture a portrait of the Truth, but after hundreds of retakes, there’s always only half of the Truth, and the other half was always hidden. When the photo was posted, people were all audibly enthusiastic, surprised, full of hope and indignation. They believed they were facing the truth. I apprised aloud: This is only half of the Truth, the other half is lagging way behind. But they refused to believe in what I had pointed out to them, they would leave, looking for more images like mine.

Do you know the value of the Truth? I don’t know for sure, but I guess it’s a considerable cost, perhaps enough for the exchange of life. Hence the Truth will always overshadow all aspects of living. It’s a long black shadow, a dark spectre, a free-flowing nefarious cape of Lucifer. Inside its shadow echoes were the tears and laughter, all that is damp and wet, reeking the smell of parties, and excessive sugary defilements.

Near the poles, the Sun is ever bright; hence, the shadow of the Truth is a permanent imprint on the land. We dwell for a long time there, looking out now and then, like toddlers playing hide and seek with themselves in front of a mirror.

Therefore, in order for the Truth to reveal itself, we need a bit of a reflection, a bit of judgement and a bit of wonder.

I’ve captured an island, from high above, the island was as blue as a bout of rain, as green as a meadow, lay there calmly in the middle of a peaceful sea. Have you seen it? The harmonious colours, glimmering light, brilliant, glorious! But it’s just a shadow of the Truth. The Truth here is only an illusion. Where I’ve just flown by, there has never been an island. If I think about it hard enough, it would appear. As for the others, knowing it’s not what it is, still full of praise, so pretty, so adorable, so endearing, it feels like a piece of me! They hide the Truth to appease a different reality.

Beyond the metaphysical, right?

The vocation of writing has made me wary, filling me up with delusions. No one wants that. One person is right; one hundred is still okay. But when the whole community is wary and delusional, it could only conclude in two possible ways: for one that community may achieve greatness; or two, that community could end up splitting up in despair.

Why is that?

Simple, they will abandon their faith completely when there’s no other faith to replace it.

Looking at all the intelligent faces boasting about their achievements, prizes, etc. in a photograph, no one believes it’s an image of the Truth.

The nature of doubt is contagious — an act, overbearing, and deceiving. I’ve heard first hand these words of deceit, at a photographic exhibition still open here in our town museum.

The doubt will come to the point of fixation, forcing you and me to be doubtful of our ego, disbelieving what is sceptical. And sooner or later, we have to see it to the end: That is, when is the beginning? Whose power has given birth to it? Or more straightforward, is it the evidence to Hegel’s ultimate theory?

If you want to eat a length of sugarcane, you have to de-shell it. If you’re going to discard the shell of scepticism, you have to extinguish the light, the Sun, not the cover of its shadow. Perhaps then, beyond the dark cover of night, you may leave. The hands you’re then able to grasp, would be the hands of the Truth, not some dangling corporal medal. Faces may dawn upon a face, the face of reality, full of the warmth of being alive, not some decorative designer cloth clinging to your skin.

In conclusion, it’s rare to meet a face worthy enough of the name to appear naked in daylight. Is it not a tragedy? It’s up to you to decide. Though there’s this, of the life that we’re presently living, in reality, none of these happy tragedies ever desist. Hence, every night eagerly, I pour alcohol down my throat, and in my dreams, infrequently engage with various faces. 

Do we need to tirelessly honour the shadow of the Truth, is this not exhausting? It would help if you found a way to unwind, like seeing a beauty contest, for an instant. Where many details are required to form beauty, eyes, voluptuous curvaceous lips, the cries, the laughter, criticism, scepticism, passing about etc. After that, do not harbour any desire to bury yourself under a blanket and sleep. Before sleeping, imagine the round face of the writer incarcerated yesterday afternoon. There’s something about their features resembling Truth. Just that much, only then, will you rest in peace.

I’ve been driving around town, ro do what, do you know? I’ve gone and found my real face. My face does not live at home, or on my person, for a long time now. It had fallen somewhere amongst the weeds, in the mud, along the side of the road of this tiny mountainous town. Now and then, I bring out my camera to admire and take pictures of my face, before deleting them, because I know, it’s not me.

Here’s a little secret, there’s a scar under my chin. Putting it cryptically, it’s sad evidence from those violent and damaging adolescent years. But no one will ever discern it. I stopped the vehicle on a bridge; beneath the bridge, the flowing stream was crystal clear, someone had mentioned. As I looked down, the scar appeared, as an imprint on the surface of the water, ruby red like evidence of a kiss.

My face was suddenly filled with anguish, and trespass.

And that was only a teeny tiny detail of the Truth!

[May 2019]

Chân dung sự thật

Tôi cố gắng chụp một bức ảnh chân dung Sự Thật, nhưng chụp đi chụp lại hàng trăm lần, cũng chỉ có một nửa sự thật thôi, còn một nửa luôn luôn bị che khuất. Khi bức ảnh được đăng lên, nhiều người xem và ồ lên thích thú, ngạc nhiên, hy vọng và căm phẫn. Họ tưởng đang đối mặt với sự thật. Tôi khuyến cáo: Đó mới chỉ là một nửa sự thật thôi, còn một nửa đang nằm xa phía sau kia. Họ không tin, và bỏ đi, xem tiếp những bức ảnh khác…

Bạn biết Sự Thật có giá bao nhiêu không? Tôi cũng không biết chắc, nhưng đoán chừng đắt lắm, có khi đổi cả mạng sống. Vì thế mà Sự Thật luôn luôn đổ bóng lên mọi diễn biến của đời sống. Bóng đen của nó kéo dài như bóng ma hắc ám, như một áo choàng của quỷ phấp phới bay. Từ trong đó vọng ra những khóc cười, những thi vị ướt át, những hân hoan mùi mẫn, những cưỡng hiếp ngọt ngào…

Ở xứ nhiệt đới, mặt trời luôn hiện diện chói lòa, vì vậy, bóng của Sự Thật cũng theo đó mà in rõ ràng lên mặt đất. Chúng tôi sống lâu trong đó, lâu lâu ngó ra ngoài, như những đứa trẻ thiểu năng chơi trò chơi trốn tìm với chính nó trong gương…

Vì vậy, để nhìn được một chút sự thật nào đó, chúng ta cần một chút liên tưởng, một chút phán đoán và một chút hoài nghi.

Tôi chụp một hòn đảo, từ trên cao nhìn xuống, xanh như một cơn mưa, xanh như một cánh đồng, nằm thanh bình trên biển lặng. Bạn thấy chưa? Màu sắc hài hòa, ánh sáng long lanh, rạng rỡ, đẹp lắm! Nhưng nó mới chỉ là bóng dáng của Sự Thật thôi. Sự thật, đó chỉ là một ảo ảnh. Trên vùng biển tôi vừa bay qua, không hề có hòn đảo nào hết. Tôi nghĩ đến nó và nó có mặt. Những người khác, biết nó không còn là chính nó, nhưng vẫn khen, đẹp quá, yêu quá, gắn bó quá, ruột thịt quá! Họ đang che giấu sự thật để vỗ về một sự thật khác.

Siêu hình quá, phải không?

Công việc viết lách bắt tôi nghi ngờ và tưởng tượng. Không ai muốn thế cả. Một người thì được, một trăm người, vẫn còn được. Nhưng nếu cả một cộng đồng hoài nghi và tưởng tượng, thì có hai khả năng: Một là cộng đồng đó vĩ đại, hai là, cộng đồng đó sắp lao xuống vực thẳm.

Vì sao ư?

Đơn giản, họ sẽ mất hết niềm tin. Khi chưa có một niềm tin khác thay thế.

Nhìn vào một gương mặt tươi cười đang nói về những chiến công, thành quả vân vân… trong một tấm ảnh, tất cả mọi người đều không nghĩ tấm ảnh đó là sự thật.

Cảm giác hoài nghi có tính lây lan. Diễn, làm gì có chuyện đó, phét lác, lừa lọc… Tôi đã nghe tận tai những từ ấy, tại một cuộc triển lãm ảnh về cuộc sống đương đại tổ chức trong bảo tàng thành phố, hôm qua.

Sự hoài nghi sẽ đến lúc ám ảnh mạnh mẽ khiến tôi và bạn hoài nghi chính mình. Hoài nghi nỗi hoài nghi. Và không sớm thì muộn, tôi và bạn phải truy đến cùng: Cái ấy, bắt đầu từ đâu? Ai, thế lực nào đã tạo ra nó? Hay đơn giản, nó chỉ là một minh chứng cho thuyết ý niệm tuyệt đối của Heghen?

Muốn ăn một khúc mía, bạn phải bóc vỏ. Muốn vứt bỏ hoài nghi, bạn hãy tắt ánh sáng đi, tắt mặt trời đi, đừng để cái bóng của nó che lấp. Khi đó, đêm đen sẽ bao trùm, bạn bước đi. Bàn tay nếu nắm được bàn tay, sẽ là bàn tay thật sự, chứ không phải là một công cụ đeo bám bên cạnh con người. Khuôn mặt nếu nhìn thấy khuôn mặt, thì đó sẽ là khuôn mặt thật, chứa chan hơi ấm của sự sống, chứ không phải là một vật trang trí phía trên thân xác con người…

Nói như vậy cũng có nghĩa là, bạn sẽ hiếm khi gặp được một gương mặt xứng đáng với cái tên gọi của nó giữa thanh thiên bạch nhật. Điều đó có phải là bi kịch không? Tùy bạn nghĩ. Chỉ có điều này, cuộc sống mà chúng ta đang sống, thực sự chưa bao giờ chấm dứt các bi kịch vui vẻ. Vì vậy, tôi thường nốc rượu rất hăng hái vào mỗi đêm, và trong mơ, thỉnh thoảng có gặp một số mặt người…

Chúng ta luôn luôn phải chiêm ngưỡng cái bóng của Sự Thật, mệt mỏi quá phải không? Bạn hãy tìm cách thư giãn đi, ví dụ như xem một cuộc thi hoa hậu chẳng hạn. Ở đó có rất nhiều chi tiết cấu thành cái đẹp, những mắt những môi phong nhũ phì đồn, những khóc những cười, phỉ nhổ, hoài nghi, đánh đổi vân vân. Và sau đó thì đừng thủ dâm mà hãy trùm chăn nằm ngủ. Trước khi ngủ bạn tưởng tượng lại gương mặt tròn xoe của một nhà văn vừa bị bắt chiều qua. Có một cái gì đó gần gần giống gương mặt thật. Chừng đó thôi, sau đó, bạn sẽ ngủ một giấc thật dài…

Tôi vừa phóng xe một vòng quanh thành phố, để làm gì, bạn biết không? Tôi đi xem bộ mặt thật của tôi. Mặt tôi không ở trong nhà, trên người tôi, từ lâu lắm rồi. Nó rơi đâu đó trong cỏ, trong bùn, dọc ven đường của phố núi bé tẹo này. Thỉnh thoảng tôi có đưa máy lên ngắm mặt tôi và chụp, xong rồi lại xóa đi, vì tôi biết, đó không phải là tôi.

Có một bí mật nho nhỏ, dưới cằm tôi có sẹo. Nói một cách ẩn dụ bóng bẩy thì đấy là dấu vết tổn thương của một tuổi thơ dữ dội và rách nát. Nhưng mà không ai biết đâu. Tôi dừng xe lại trên một cây cầu, dưới cầu nước chảy trong veo, chả biết ai từng nói thế. Tôi ngó xuống, và vết sẹo nổi lên, in ngay mặt nước, đỏ chót như một dấu môi hôn…

Đau đớn và đầy tội lỗi, mặt tôi đấy…

Đó cũng mới chỉ là một phần bé tí tẹo của Sự Thật mà thôi!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Chư Mang to the market

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

CHƯ MANG TO THE MARKET

Since it’s a lovely day, he took his letters down Mount Chư mang to sell at the market, like a mother selling their children, like the poor sell their dogs, like lovers selling each other out. Now the dejected letters followed him, mirrors of blue eyes watching the passing strangers stepping on top of each other trying to move ahead. Stay in line, no running, or you’ll get lost! He reminded them before choosing a spot to display them. People came from all directions and flooded the market, their faces covered as though they were at a masquerade ball. The sun glared at the tall, boxy residential buildings, and a breeze shifted the fluffy clouds over our head. The buildings disappeared completely behind clouds of dust; he felt sorry for his soft and weak letters. He’s also hungry, since this morning till now after lunch nothing was in his stomach, his eyes blurred from hunger, the Sun was glaring from all direction.

The letters all bent out of shape after a few days wandering the dirt-covered streets. No one was interested in buying the letters. He announced after a last look around the market, up you go, sing and dance all of you, just this once, then we’ll go home, or die here. The characters grabbing onto each other for support stood up, wobbly and shaking; they enacted a tragedy about the grim reaper reclaiming death. The hectic eyes of the city paused to watch the odd street performance. He felt heartless. He said, stop, enough, let’s go home! A bird call came from the river Năng upstream, from the ninth level of heaven resounding, full of love, urged for  their return home. They quickened their pace, headed for the anxious bird call, the songs of endearment aided them in surpassing the hills and valleys, they were on their way home! Home, to the proud, tall and formidable mountains, to the long resounding rivers, to the ancient hundred-year-old trees, to the thousand-year-old highland.

Half the way up an incline the letters began to shake and broke out in a dance. He was suddenly powerless; stood there and watched them like some talentless director as his performers ran amuck, there was no way to control or direct them. He shouted: “Hey, how do a bunch of crazy blokes dance compared to other dancers, who looks better?”. The randy letters refused the indignation of reply. He shouted again: “Now I know why no one wants to spare a dollar for you guys!”. The letters egged on, began to sing and shimmied up and around the incline. Singing louder and rowdier: “You’re so blind, yesterday at the market some gangster bribed the letter S to go with him, asked L to work in a brothel, as for the letter Đ, it ran away to the market to find money, the letter T has snuck away to the department stores to pick people’s pockets…”.

He was mortified, counting over and over again, it was true the familiar letters S, L, Đ, T… they were gone, lost somewhere in the street far away in the city!

He took the letters to the market to sell, they went feral, breaking the pack, hence it was inevitable that there were such break-ups and goodbyes. He dropped to the ground halfway up the incline, sweaty, stared intently at the city, the busy crowd pushing and shoving each other down some pit of devastating civility. Not sure where he could find S in this chaotic crowd of swords and blades. He called out: “Hey S, shooting sad satire success sure self silver linings, hey springs… come back to the mountain, don’t hang around in the streets learning bad habits bloody stabbings… Hey L, long lanky lovely lively lovable lot… come back to the mountain!”.

There was no answer!

On his butt, he called out to the lost letters, like a mage reciting a mantra calling upon the return of the dead. A fleet of birds flew by shook their heads with disbelief, the wind teased him in passing, the clouds stared… He screamed, leave me alone! At that very moment, in the distance appeared clearer the forms of the damaged letters, they were tripping, falling over each other, crying as they approached him. His heart cracked open, his vision blurred with tears: The letter L was in front, Đ right behind, both naked with flesh wounds seeping blood. Both letters fell into his arms, like daughters diving into their father’s unconditional loving arms. The letter Đ’s eyes were black and blue, lips were swollen, Đ must have received a bashing at the market. The letter L’s lower abdomen was bleeding, the wound still open and weeping, bright red… Both choking on their words reported they witnessed S getting shot, ran as she held onto her chest before collapsing at the intersection outside the market. He hugged both of his naive children, and cried. Mount Chư Mang somberly stood there firmly looking down at them, its green leafy eyes were on the verge of tears.

He grabbed a handful of leaves and started to chew it finely before placing it on L’s wound to stop the bleeding, and applied ointment on Đ’s bruises. The other letters gathered around them, they were like apes, and he was the leader of the troop. He began to lull them beyond his hurtful spirit, his voice was husky: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Those who don’t want to die, those who brutally tried to sow evil, by this sunset let it go via the cool wind, let it go now đờ cờ lờ sờ mờ tờ… The letters relaxed, fell asleep, there was a hiccup here and there now and then in their deep slumber, like children who were falsely punished!

He sat weaving the reeds together, they needed a firm rope to cross the valley. Beyond the canyon was their home. He sang as he worked on the rope, like a poor mother in the mountains carrying her child on her back singing a lullaby as she worked in the cornfield. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

The long shadow of the afternoon fell as he woke up, the letters, they helped each other across the valley. The fragile rope was at breaking point. The mountain mist rolled out just in time to catch them. He guided the letters through the mist at the end of autumn. He sang as he walked as though he was a mage reciting mantras, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… It’s very possible the string was already broken, but it didn’t matter. He announced aloud, let us be on our way, the entire earth swayed, the whole of humanity lopsided, not just us. The letters stopped crying, they held onto each other, and onward they went beneath the moonlight. The shadows of the man and letters falling longer, stretching from where they were to the other side of the valley, like ghosts appearing from the last century. Past midnight the man and letters were at the summit, to disappear completely inside the sound blinding fog.

At the foot of Mount Chư Mang, now and then people could still witness the cries and singing resounded in the mist, the eerie haunting devilish sounds stretching from the market across to the highland to then wrapped around the summit. On clear nights, on both sides of the path up the mountain were stains of dried blood the scent of wild grass.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ let us go back to the mountain yeah… Weepy songs of lullabies, lullabies of lulling mournful sadness.

[Edited July 2022]

Chư Mang xuống chợ

Nhân buổi đẹp trời, hắn dắt díu bồng bế bầy chữ rời núi Chư Mang xuống kẻ chợ bán, như mẹ bán con, như nhà nghèo bán chó, như tình nhân lừa bán tình nhân. Bầy chữ cui cút đi theo, gương những con mắt màu xanh lên nhìn dòng người lạ lẫm đang cố giày xéo dẫm đạp lên nhau để về đích trước. Hắn dặn, đi đúng đường thẳng lối, không được chạy lung tung kẻo lạc! Rồi hắn chọn một khoảng vỉa hè bày chữ ra bán. Người kẻ chợ đi về như thác lũ, mặt mũi ai cũng trùm kín như thể đang tham gia lễ hội hóa trang. Gió thổi mây bay và nắng chứa chan trên những hộp nhà cao vút. Bầu trời thực sự biến mất sau làn khói bụi. Hắn chợt nhói thương những con chữ yếu mềm. Hắn cũng đói, sáng đến chiều chưa có gì vào bụng, mắt hoa lên, nhìn phía nào cũng thấy mặt trời chói gắt. 

Bầy chữ sau mấy ngày lê lết ngoài vỉa hè khói bụi đã trở nên méo mó hình hài. Hắn trừng mắt nhìn ngược nhìn xuôi chờ đợi nhưng tuyệt nhiên không hề có ai mua. Hắn nói, thôi, đứng dậy múa hát đi, một lần này nữa, rồi quay về, hoặc là chết ở đây. Lũ ký tự ngả nghiêng vịn nhau đứng dậy, vừa run cầm cập vừa trình diễn vũ điệu tử thần chết chóc. Những con mắt phố thị sấp ngửa dừng lại đứng nhìn, như nhìn đám hát rong xa lạ. Hắn thấy mình quá nhẫn tâm. Hắn nói, đủ rồi, quay về lại thôi! Tiếng chim gì đó từ thượng nguồn sông Năng chợt từ chín tầng trời vọng lại nghe từa tựa một lời yêu thương mời gọi quay về. Lũ hắn rảo bước, nhằm hướng tiếng chim khắc khoải, nhằm hướng câu hát yêu thương mà băng đèo vượt núi, về thôi! Về thôi, về núi sừng sững, về sông ngân dài, về cổ thụ vạn năm, về thảo nguyên triệu tuổi.

Về đến lưng chừng dốc thì lũ chữ lên cơn co giật và bắt đầu nhảy múa. Hắn bất lực đứng nhìn, như một gã đạo diễn bất tài nhìn dàn diễn viên làm loạn, không cách gì điều khiển nổi. Hắn hét: “Này, những gã điên nhảy múa với những vũ công nhảy múa, bên nào đẹp hơn?”. Lũ chữ bất kham không thèm trả lời. Hắn lại hét: “Hèn gì không có thằng con bố khỉ nào chịu bỏ tiền lẻ ra mua tụi mày!”. Lũ chữ càng hưng phấn, chúng vừa múa vừa hát. Hát to lên rằng: “Nhà ngươi quả thực mù lòa, hôm qua ở kẻ chợ có gã du côn đã rủ rê chữ S đi bụi đời, rủ chữ L vào động đĩ, rủ chữ Đ ra chợ kiếm ăn, chữ T đã trốn khỏi bầy vào siêu thị hành nghề móc túi…”.

Hắn kinh hoàng, đếm đi đếm lại, quả nhiên mấy chữ thân quen S, L, Đ, T… đã trốn đi hoặc lạc lối ngoài phố phường xa lạ!

Hắn dắt chữ ra chợ bán, kết quả lũ chữ bỏ đi hoang, tan đàn xẻ nghé, tử biệt sinh ly. Hắn ngồi giữa dốc quệt mồ hôi, nhìn về phố thị, thấy cả một đám đông đang đuổi nhau xuống hố thẳm văn minh điêu tàn. Chữ S bây giờ không biết ở đâu trong đám đông cuồng loạn gươm dao. Hắn gọi: “Ơ này chữ S, ơ này súng ơ này sân si ơ này sung sướng ơ này soán đoạt sờ soạng sống, ơ này sông… Về lại núi thôi về lại núi, đừng lê la phố chợ học thói lưu manh chém giết máu me… Ơ này L lờ lững lộn làng lành lặn lênh láng lung linh lóng lánh lập lòe… về núi thôi!”. 

Không có tiếng trả lời!

Hắn ngồi gọi chữ, như pháp sư ngồi niệm chú gọi hồn người chết quay về. Bầy chim bay qua nhìn hắn lắc đầu ngao ngán, bầy gió bay qua nhìn hắn cười châm chọc, bầy mây bay qua nhìn… Hắn hét toáng lên, kệ tao! Vừa lúc đó, từ xa thấp thoáng bóng hình vừa chạy vừa vấp ngã, vừa chạy vừa khóc than. Tim hắn đau nhói, mắt hắn mờ đi vì nước: Chữ L chạy trước, chữ Đ chạy sau, cả hai đứa trần truồng, thịt da gai cào tứa máu. Hai con chữ ngã nhào vào lòng hắn, như con gái đâm bổ vào lòng cha già sau cuộc tình thất bát. Chữ Đ mắt thâm tím, môi sưng vù, chắc bị ăn đòn hội chợ. Chữ L chảy máu ngay bụng dưới, vết thương hở ra lở loét, đỏ lòm… Hai đứa nghẹn ngào thông báo rằng, có thấy chữ S bị trúng đạn, vừa chạy vừa ôm ngực rồi ngã sấp mặt dưới chân cột đèn nơi ngã tư phố chợ. Hắn ôm hai đứa con nông nổi dại khờ, ngồi khóc. Núi Chư Mang trầm mặc đứng nhìn, mắt lá cũng rưng rưng.

Hắn thò tay bứt một nắm lá nhai nhuyễn rồi đắp vào vết thương cầm máu cho chữ L, lấy dầu xoa vết bầm tím cho chữ Đ. Lũ chữ phủ phục vây quanh, như bầy khỉ vây quanh gã khỉ đột đầu đàn. Hắn cất tiếng ru bằng giọng khàn khàn thống khổ điêu linh: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Kẻ nào không muốn chết kẻ nào hung bạo lọc lừa gieo mầm ác, nào hãy buông tay trong buổi hoàng hôn gió mát, thôi, thôi nào đờ cờ lờ sờ mờ tờ… Bọn chữ gục xuống ngủ, thỉnh thoảng nấc lên trong mê man, như những đứa trẻ vừa bị đòn oan!

Hắn lặng lẽ bứt cỏ ngồi đan bện lại, cần một sợi dây chắc chắn bắc qua thung lũng. Qua hẻm núi này là về đến quê nhà. Hắn vừa miệt mài đan vừa hát, như một bà mẹ nghèo trên núi vừa địu con hai bên nách vừa trỉa bắp vừa hát ru. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

Bóng chiều đổ xuống, hắn xốc lũ chữ dậy, dắt díu nhau qua thung lũng. Sợi dây cỏ mỏng manh chòng chành như sắp đứt. Sương núi ùn ùn cuồn cuộn lao ra đỡ lấy. Hắn dắt bầy chữ đi trong sương núi cuối thu. Hắn vừa đi vừa hát ru như đạo sĩ niệm chú, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… Hình như sợi dây đã đứt, nhưng có hề gì. Hắn nói to, chúng ta đi thôi, cả trái đất chòng chành, cả nhân loại ngả nghiêng chứ riêng gì chúng ta đâu. Bầy chữ thôi không kêu khóc nữa, chúng vịn tay nhau bước đi dưới trăng. Bóng chữ bóng người gầy guộc đổ dài, kéo từ bên này qua bên kia thung lũng, như những bóng ma hời từ thế kỷ trước hiện về. Quá nửa đêm thì chữ và người lên đỉnh núi rồi mất hút trong thăm thẳm mù sương.

Ở dưới chân núi Chư Mang, lâu lâu người ta vẫn nghe tiếng ai đó ca hát và khóc than trong sương, những âm thanh quỷ quyệt kéo dài từ phía kẻ chợ rồi lướt qua thảo nguyên hoang vắt rủ nhau chạy vòng quanh đỉnh núi. Những buổi trời trong, thấy rõ ràng hai bên lối đi lên núi còn vương vãi những vệt máu khô thơm mùi có dại.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ về thôi về với núi thôi… Khóc mà như ru, ru mà như hát, hát mà như than.

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Faces of familiar spirits

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

People say: “Write something nice!”.

Writing a nice sweet story isn’t hard, but the story of Mount Chư Mang has never ceased to haunt me. Fervently, I went searching for an adventure much like the sad tale of Don Quixote in the autumn of his life, in search of a knight’s honour armed with a blunt sword in rusted armour. But the rivers are long and the mountains vast. The joy of chasing pretty familiar spirits left me in a paradox of affliction and intoxication.

Sweet is the meaningless reality in dreams; the ability to love an ethereal angelic face tainted with evil.

Each night, the darkness fell like a waterfall. These beautiful familiar faces appeared on the window sill: “Come to the mountains”, “What are you afraid of, coward…” There, they’ve returned, the familiar spirits. They asked me to follow them to the mountains if I do not, they implore, they beg, and I would always give in and follow them, to continue the dream.

I went searching for the green eyes, and ruby lips amongst the towering old trees — a sad lumbering knight in search of “the” dream at the end of his life. Yes, sometimes there was a glimpse of bright dark eyes, yes, sometimes the heat of those red lips. But, like anything determined by fate, it’s a fleeting moment before those eyes’ lips flit away, and disappear into the dark black starry night.

When the moon and stars were spent, on blades of grass past the be-witching hour the spirits dissolve, they were lulled to sleep between the rocks. I would cry: “Stay play, keep playing, morning is not yet near!”. In a state of half-wakefulness and sleep, their laughter fell free from the higher branches, breaking into a swarm of autumn fireflies. I would hug the fresh silk sheath abandoned in my arms, and inhale the lingering addictive intense scent, like remnants of precious fossils from a million years ago.

You asked: “Where do those familiar spirits come from?”. I’ve no idea; I first met them the day I set foot on Mount Chư Mang. Amusing himself with a game of hiding and seeking fate, looking for happiness. A knight discarded by society.

Bright nights wandering in the mead, one hand with a fist full of clad silk, one hand cupping the smile of a pretty demon. Me in shredded ill-fitting clothes from top to toe, decrepit, like a scarecrow at the end of a season. At sunrise, the soulful smiles would grow delicate wings before they would fly away, those fragrant robes also flew, left behind a man with ludicrous laughter steeped in the evening dew, like some guy stomping on a lifeless creel all day all night.

I consoled myself, fine, starting tomorrow I won’t go there, starting tomorrow. But by sunset, falls always the thrilling sweet sound of a far-off dream!

You say it’s a time of diminished dharma, ghouls and demons were everywhere, sightings atop mountains, valleys, be careful! I, for long, have forsaken my virtue. In tattered armour, I carried a broken sword in search of adventures, I carried with me the jeering laughter of a fool, even in the most despairing defeat. Though in all those endless dreams, this village knight had never once fulfilled his desire. The more he chased, the more those beautiful demonic faces and their stirring laughter flew further away.

Now there isn’t a place on Mount Chư Mang I’ve not walked. I traveled the nights basking in moonlight wrapped in stars, nights battered by rain-soaked hail and mist. All those beloved familiar faces were flickering far far away, sometimes this side of the mountain, sometimes way there in the mead. Sometimes I am so tired, that I would fall asleep in their soft embrace and tender caress, dreaming those dreams, I’m soaring in the sky, heading for the heavenly blue clouds. Sometimes I’m so tired, that I would find myself sitting on the ground hugging my knees, always with me was the blunt broken sword, and a smile drenched in blood basking in the moonlight.

I’m okay, don’t worry. So many years of my youth were spent nurturing delusions, to bury them now, here. By nightfall, I would again sing the songs of tall mountains and deep valleys. So long as I’m entertained, so long as all those beautiful familiar faces of angels never leave this mountain. I will continue to hunt, and embrace tightly the big dreams of my youth, aren’t we all the same! Till we no longer have our youth, till mouldered is our armour, till the eyes are blurry and our feet slower, as the sound of those inviting laughter rises I will take to the road.

“To the mountains, I go…”.

There, can you hear? Outside, like the call of a trumpet during a funeral march, the golden shadow of humanity falls in sorrow. I have to go; I must prepare for the continuance of my dream, the same continual dream, of life crashing like ocean tides, rhythmic for a hundred years, for a lifetime.

Again I must go!

[October 2019]

Những gương mặt linh miêu

Bạn nói: “Hãy viết một câu chuyện ngọt ngào đi?”.

Bịa ra một câu chuyện ngọt ngào thì có gì là khó? Vấn đề là câu chuyện về núi Chư Mang vẫn chưa khi nào thôi ám ảnh. Tôi mải mê đi tìm một ảo ảnh về tình yêu, như chàng hiệp sĩ cuối mùa tội nghiệp Don Quixote, tìm cách chinh phục thế giới bằng một lưỡi gươm cùn và bộ giáp trụ rách nát. Mà núi thì quá cao xanh, mà sông thì quá rộng dài. Trò chơi trốn tìm với những nàng linh miêu xinh đẹp thì đầy cám dỗ nhưng cũng đầy trắc trở.

Có gì là ngọt ngào không khi bạn yêu một gương mặt đẹp tựa thánh thần lẫn ác quỷ, mà chỉ xuất hiện trong mơ thôi chứ chưa gặp mặt bao giờ?

Mỗi đêm về, bóng tối tràn qua như thác đổ, những gương mặt đẹp ma mị lại xuất hiện bên cửa sổ: “Lên núi chơi thôi”, “Sợ gì chứ, đồ nhát gan”… Đó, linh miêu lại về đó. Họ rủ tôi lên núi chơi, nếu không đi, họ năn nỉ, họ khiêu khích, thế là tôi lại ra khỏi nhà, tham dự vào trò mộng du miên viễn.

Tôi đi tìm những mắt xanh môi thắm giữa bạt ngàn cổ thụ. Chàng hiệp sĩ cuối mùa xộc xệch thảm hại đuổi theo giấc mơ vĩ đại của đời mình. Ờ, cũng có khi bắt được một ánh mắt long lanh, ờ, cũng có khi bắt được một bờ môi ấm nóng. Nhưng, như một trò đùa được số phận mặc định, chỉ sơ sẩy thoáng chút thôi là mắt là môi lại vụt bay, mất hút giữa vực thẳm sao trời lãng đãng…

Khi trăng sao đã mệt nhoài, những vệt lân tinh thôi không còn thắp sáng đầu ngọn cỏ, thì bầy linh miêu rủ nhau đậu lên vách đá và thiu thiu ngủ. Tôi hét lớn: “Chơi nữa đi, chơi tiếp đi, trời đã sáng đâu!”. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, tiếng cười của họ rơi tự do từ trên cành cao xuống đất, vỡ vụn ra như bầy đom đóm mùa thu. Tôi ôm mảnh xiêm y màu xanh còn lại trong tay, hít lấy hít để hương thơm ma mị cõi bồng lai còn phảng phất, tưởng như tinh túy sơn khê triệu năm còn lưu dấu trên tay. 

Bạn hỏi: “Bầy linh miêu ấy từ đâu đến?”. Tôi có biết đâu, từ khi tôi bước chân lên đỉnh Chư Mang thì đã gặp họ rồi. Gã hiệp sĩ bị thế gian chối bỏ mải miết tìm vui trong trò chơi trốn tìm định mệnh, để tìm vui…

Có những đêm, khi trời sáng bạch, tôi vẫn còn loay hoay trên núi, tay níu áo xiêm, tay còn lại thì cầm một nụ cười của linh miêu xinh đẹp. Nhìn lại mình thì áo quần xộc xệch, rách từ dưới rách lên, nhếch nhác lôi thôi, như một hình nộm cuối mùa ngơ ngác. Mặt trời lên, nụ cười của linh miêu mọc thêm đôi cánh mỏng và bay đi mất, xiêm áo thơm lừng cũng vỗ cánh bay đi, để lại mình tôi tẽn tò với tiếng cười ướt đẫm sương đêm, như một gã đánh dậm ướt ròng thâu đêm suốt sáng với chiếc giỏ không lăn lóc dưới chân!

Tôi tự nhủ, thôi, từ ngày mai không thèm lên chơi nữa, thôi kể từ ngày mai…

Nhưng rồi, khi mặt trời lặn, tiếng nhặt tiếng khoan ngọt như một giấc mộng xa xăm lại mời gọi lên đường!

Bạn nói, thời mạt pháp, ma quỷ đầy đường, hiện hình ngay cả trên núi cao rừng thẳm, bảo trọng nhé! Tôi thì từ lâu đã không còn quan tâm đến an nguy cho bộ trang phục ngoan ngoãn của mình. Tôi mang gươm cùn giáp rách theo đuổi cuộc chơi, là biết cách trang bị cho mình tiếng cười ngạo nghễ, ngay cả khi thất bại ê chề. Chỉ hiềm một nỗi là trong những cơn mộng du vô tận, gã hiệp sĩ nhà quê chưa khi nào hoàn thành ước nguyện của mình. Càng đuổi bắt thì những gương mặt linh miêu xinh đẹp có tiếng cười ma mị lại càng hun hút xa xăm.

Bây giờ thì trên núi Chư Mang không có chỗ nào tôi chưa đặt chân tới. Tôi đi trong những đêm trăng sao ngà ngọc, trong những đêm mưa gió mịt mùng. Những gương mặt thân thương xa ngái thoắt ẩn thoắt hiện, lúc thì ở sườn núi bên này, lúc ở tận mạn bên kia. Có khi mệt quá, tôi ngủ quên trong vòng tay mềm mại móng vuốt của linh miêu, rồi mộng mơ đủ chuyện, vẽ ra những đường bay hão huyền lên tận mây xanh. Có khi mệt quá, tôi ngồi bó gối, bên cạnh là giáo cùn gươm gãy giáp rách, và nụ cười rớm máu dưới trăng.

Tôi không sao đâu mà, đừng lo cho tôi nhé. Bao nhiêu năm tuổi trẻ đã nuôi lớn ảo mộng, rồi sẽ chôn vùi cũng sẽ đúng nơi đây. Tôi vẫn hát bài hát của núi thẳm non cao mỗi lúc đêm về. Miễn là tôi còn trò chơi thú vị, miễn là những gương mặt linh miêu đẹp tựa thiên thần không rời bỏ núi mà đi. Tôi sẽ đuổi theo cho kỳ được, và ôm thật chặt trong tay những mộng mơ kỳ vĩ, tuổi trẻ, ai mà chẳng thế! Cho đến lúc không còn trẻ nữa, khi giáp trụ tan hoang, khi mắt mờ chân chậm, tôi sẽ vẫn lên đường mỗi khi tiếng cười mời gọi cất lên.

“Lên núi chơi thôi…”.

Đấy, bạn có nghe thấy gì không? Ngoài kia, bóng chiều vàng vọt của cõi người bắt đầu đổ xuống u buồn như tiếng kèn đưa đám. Tôi phải bắt đầu thôi, sửa soạn cho giấc mơ nối tiếp của mình, những giấc mơ trùng điệp, như sóng vỗ, giữa nhịp đập trăm năm của kiếp người.

Tôi lại phải đi đây!

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: