The one who stayed

A poem in Vietnamese by Tô Thùy Yên
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

Released us from the old promises

The agony of biting one’s tongue

You stayed, you actually stayed

Palings stuck in the middle of the running creek of life

Blamed me, blamed life

Dredging up old resentments, contented we were once upon a time

Loved each other more

Despite it all there’s still no love lost

A tattered flower beyond its prime

You will manage

Rain hail or shine fading in each recollection

Unrecognizable like a headless statue, limbless

Oh just when we thought we were familiar with all facets of life

The irony, life had changed

Learning to live the day anew 

Loose and temporary like a borrowed shirt

The bustling city, crowded in every direction

Red light green light, the fifth the seventh intersection…

Who should one trust?

You poor thing, lost amongst the traffic 

Cycling up the steep hill

More than a few times in one day

Feeling sorry for yourself

The stench of the black creek was like stale blood

Rarely do you look up at the sky

Does sorrow make one bow so low?

Oh how could you be so faithful to me

There’s nothing left but a shadow?

Straight home after work

There’s nowhere to go…

Is there any joy left in life?

Steadfast, your determined footsteps 

The disturbing meals alone

The silent physiology

The calendar untouched

Even amidst sadness was your ambivalence 

Let it go, mourn not the long rope

As though it’s some kind of vigil by the dried up well?

Stand up, move the furniture around

Stop staring at a sadness that is forever present 

The nightly weary moments

In an infinite cycle of restlessness

The silence measured

The terrifying terminate insomnia

The broken sleep

Pulling out a hair at a time 

The restless legs at this odd age

Heading for the streets in the middle of the night

The endless loyalty lost, now more lost

Can be but a falling star at the end of a sound horizon

Doomed to the end to never meet again?

The dog barking no matter the moon phase, the persistent melancholy

(December 2021)

—–

Người ở lại

Tháo giải cho nhau lời hứa cũ

Đau như cắn lấy lưỡi mình

Em ở lại, thôi thì em ở lại

Như thân cừ cắm giữa lạch đời trôi

Bỏ lỗi cho anh, bỏ lỗi cho đời

Nhớ chuyện trước, coi như từng mãn nguyện

Thương nhau hơn

Sau trước vẫn là thương

Đóa hoa quá thời ra rác rưởi

Rán lên em

Tin mưa nắng phôi pha từng nỗi nhớ

Chẳng nhìn ra như tượng gẫy đầu, tay…

Ôi ngay lúc tưởng chừng quen được mặt đời

Trớ trêu chưa, đời đã đổi thay

Ta tập mới ngày ngày cung cách sống

Tàm tạm thôi như áo mượn tròng qua

Thành phố chòng chành, chen chúc ngược xuôi

Đèn đỏ đèn xanh, ngã năm ngã bảy…

Biết tin ai?

Thương em đi ngỡ ngàng xe cộ

Đạp lên dốc cầu cao

Ngày mấy bận

Tủi phận mình

Con rạch đen nồng như máu chết

Rất ít khi em ngẩng nhìn trời

Có phải người buồn hay ngó xuống?

Ôi lẽ nào chung thủy với mình

Chỉ có bóng mình sao?

Chiều tan sở, thẳng về nhà

Vì chẳng biết đi đâu…

Đời còn chỗ nào vui?

Chân bước không qua ngưỡng ngần ngại

Những bữa cơm một mình ăn quấy quá

Thiếp lặng tiềm sinh

Tập lịch lâu ngày không gỡ tới

Thờ ơ giữ đủ cả âu sầu

Thôi, em tiếc thêm chi cái sợi dây dài

Để đến nỗi ngồi hoài bên giếng cạn?

Hãy đứng lên, thử dời đổi tủ, bàn

Đừng ngó miết một nỗi buồn bất biến

Những đêm tối thời gian nhích uể oải

Trên vòng tròn vô tận chán chường kia

Đo đạc âm thầm

Bãi hạn kinh hoàng cơn mất ngủ

Những giữa khuya đứt giấc chiêm bao

Nằm nghe tóc rụng

Chiếu chăn bức bối tuổi lưng chừng

Những toan dậy đi ra ngoài phố lộng

Vô thủy lạc rồi, nay lạc nữa

Đành như sao rụng dưới trời sâu

Tàn đời mạt kiếp liệu còn gặp?

Dai dẳng sầu, chó sủa nguyệt lu

1988

Nguồn: Tô Thùy Yên, Thơ tuyển, Minnesota, 1995


Tô Thuỳ Yên (1938-2019) real name was Đinh Thành Tiên, born in Go Vap, Gia Dinh, Vietnam, an alumnus at Petrus Ký and Đại học Văn khoa Sài Gòn. He was a teacher and journalist in Saigon, a Major in the Vietnam Army prior to 1975. After 1975 served 13 years in re-education camps, in 1993, he moved with his family to the United States as a former political prisoner.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Alienation

Alienation is demoralising, the isolation crushing, especially under all the moist damp spit and pity. What can one do? Sit and cry, sure, I’ve done that. I’ve wept so often that I wonder if it is menopause or post traumatic stress syndrome from a war that’s almost half a century buried in oblivion. I ask myself daily why I do anything at all. Why? 

I am from a lost generation ignorant of my roots and culture. The garbage generation. I am accused of not being able to read and write my native language, I am accused of not being able to spell in my adopted country. I am accused of living in the past. I am accused of drowning in my own pity, let alone more pity from any privileged outsider. How do I identify myself? If I can not, what will happen to my children, the making of my flesh and bone? Pity is reserved for those who relish in dishing out pity. 

Don’t get confused between pity and kindness. Kindness is an act of love without words. Kindness is a joke to make someone laugh in the darkest hour. Kindness is to ignore someone’s poverty and simply listen. I am the recipient of such kindness. It is a love that is undefined by words. 

If you are in the mood to be charitable, be kind, and help a child(like me) learn to read and write. Then maybe one day they will be your boss, they will build your schools, your hospitals, the pavement you walk on every day.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

ego consoling self

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I’ve come to terms with how my face feels, but I was still unsure of its shape, an estranged spirit busking at a flea market, a samurai waving a knife gutting himself for fun, or some deranged fool arranging words dreaming of becoming a poet? Shrouded by a cloud of smoke and mist of desolation, I considered the placing of my face. Each time there was an itch, I took a glimpse at the mirror, it was a sad, defiant stranger.

I reside to feel my feet, but I was unsure if they belonged to me or to someone else. Whose feet tirelessly climbed dunes to reach the sea, whose feet entangled in the long grass dreaming of laying abandoned beneath the bluest the biggest sky? Whose feet chose to set foot on a path through such deserted ravines? Someone else or mine away on an off-beaten path lost moving back and forth with neither foot conforming to the expectations of society?

I reside to feel my stomach, but I was unsure if it belonged to me or to someone else. Whose gut was so changeable through the sun and rain, through the anguish, full of hunger and desire. So ordinary or some evolved empathetic being? In the middle of the night yearned for a faraway soul, my confused gut churning with lies and deceit.

I reside to continuously feel my heart, but I was unsure if it was mine. Whose heart was arrhythmic without rest? Whose heart each night was by the moonlight, rising and falling with the tide, in constant heat? My soul or someone entwining red and blue palindromic heated haemoglobin? Someone or mine that at times were breathlessly drowning, lost, and exhausted in this dull, sad life?

I reside to rub my shoulders, but I was unsure if it was mine. Whose shoulders bore the burden and constant scrambling for food and shelter, drenched in sweat, not once relieved by a breeze, ripped through the jungle for a living amongst the thorns and brambles? Exhausted because of me are the wings of a bird at the end of the horizon? Whose shoulders saw the starkness of the seasons alone at the side of the mountain, ready to embrace a breeze that never turned up? My shoulders or theirs on which were the fallen leaves, barely touched before in haste, flown away without a promise?

Crawling through my body was some kind of sickness. There to see here and hither a ghoulish four realm of heaven and earth when I have resided to rub my eyes. Mine or theirs to only see worms and maggots devouring holes in all places, weeping battered eyes? My eyes or theirs that those familiar features will never be identified? Whose eyes closed could see the mangled fate of humanity on this planet? Whose eyes were as wild as grass in a dry season upon everything ignites in torturous flames?

There were afternoon naps when sleep had evaded me; I would rub my back, rubbed the length of it up then down not sure if it was mine! Whose back was so long, a waste of good cloth, my lumbar or an eroded boulder amongst the sparsely scattered weed? Whose back failed after forty years of cultivation missed out on the season of their dreams, covering one side to expose the other? You have left me in a fog, cut short was the path you betrayed when you turned your back on me.

Was there anyone out there like me, to be that far from myself, finds after searching through all the crevices and troubled parts of his anatomy to be equally frightfully estranged? Am I me or some other being in these inconvenient troublesome clothes? If not me then where lies the meaning of life, who will shoulder the burden of these struggles for me amid this world for thirty-six thousand days? If one was unable to recognise oneself then who?

Often, ego was found consoling self.

Mình tự xoa mình

Nhiều khi ngồi xoa mặt mình mãi, vẫn chưa thể định hình mình là ai, là kẻ vong thân hát cuồng giữa chợ, một mình múa dao đồ tể toan làm tráng sĩ rạch bụng coi chơi, hay chỉ là gã xếp chữ huênh hoang mơ làm thì sĩ? Mặt mình hay mặt ai mà khói sương che phủ hang hốc hoang vu? Mặt của ai hay mặt của mình mà mỗi lần nhìn vào gương đều bắt gặp một kẻ xa lạ u hoài ngang ngạnh?

Nhiều khi ngồi xoa chân mình mãi, vẫn chưa thể định hình chân mình hay chân ai. Chân ai mà miệt mài lên xuống đi về đầu non cuối bể, chân ai mà rối ren hoa cỏ sợi ngắn sợi dài mơ ngày nằm choãi ra dưới trời xanh lồng lộng? Chân ai mà chọn đường chọn lối nơi cheo leo vực thẳm mà đi, chọn độc đạo một mình mình mà bước? Chân mình hay chân ai mà trước lẫn sau đều không có bàn chân nào đồng hành như nhân gian mong đợi?

Nhiều khi ngồi xoa bụng mình mãi, vẫn chưa thể định hình bụng của mình hay bụng của ai. Bụng ai mà cồn cào thương nhớ giận hờn đói no thất thường mưa mưa nắng nắng, là tiểu nhân tầm thường hay kẻ biết phân ưu cộng lạc với thiên hạ khổ đau? Bụng ai mà nửa chiều đổ mưa bỗng thấy bâng khuâng về những quanh co gian dối, mà nửa đêm bỗng cồn cào vì một người ở xa thật là xa?

Nhiều khi nằm xoa tim mình mãi vẫn chưa định hình nổi tim mình hay tim ai. Tim ai mà loạn nhịp liên hồi không ngủ? Tim ai mà rạo rực theo từng nhịp thủy triều lên xuống, mà giãn nở thất thường mỗi khi đêm về thăm thẳm bóng trăng treo? Tim mình hay tim ai mà chằng chịt đỏ đen xuôi ngược hồng cầu rộn rã? Tim ai hay tim mình mà có khi đắm đuối muốn đứt hơi trong quên lãng kiếp người quá mệt mỏi hoang vu?

Nhiều khi ngồi xoa vai mình mãi vẫn chưa minh định nổi, là vai của mình hay vai của ai. Vai ai mà đòn tre chín dạn gánh gồng cơm áo xiêng viêng, vai ai mà hổn hển mồ hôi trưa hè gió quạt, mà lá cắt gai cào xé lối băng rừng tìm nẻo mưu sinh? Vai ai hay vai mình mà nhiều khi mỏi mệt, như cánh chim quạt gió cuối trời? Vai của mình sao mấy mùa sừng sững vách núi cô đơn đón đợi gió ngàn qua chưa thấy? Vai của mình hay vai của ai mà chiếc lá vừa rơi, vừa đậu xuống đã vội vã vụt bay đi không hẹn quay về? 

Hình như có căn bệnh gì đó đang bò trong người mình. Nhiều lúc ngồi xoa mắt mình mãi rồi nhìn ngược nhìn xuôi, thấy đất trời điêu linh bốn cõi. Mắt mình hay mắt ai mà nhìn đâu cũng thấy mọt gặm sâu ăn thủng lỗ chỗ, dột nát tứ bề? Mắt ai hay mắt mình mà mình nhìn mình cũng không nhận ra nét thân thuộc? Mắt ai mà càng nhắm lại càng thấy rõ ràng rối ren của kiếp người nơi trần thế? Mắt ai mà nhìn vào cái gì thì cái đó bốc cháy ngùn ngụt như cỏ dại mùa khô?

Có những buổi trưa khó ngủ nằm xoa lưng mình mãi, xoa tới xoa lui vẫn chưa dám chắc là lưng ai hay chính lưng mình! Lưng ai mà dài lưng tốn vải thư sinh giá áo, lưng mình sao mà như tảng đá trùi trũi bên đường cỏ mọc lau thưa? Lưng ai mà hơn bốn mươi năm gieo gặt mất mùa chiêm bao thất bát, hễ che bên này lại lạnh phía bên kia? Người đi bỏ mặc phong sương, quay lưng phản bội con đường lêu đêu…

Có ai như mình không, cảm thấy mình xa lạ với bản thân mình đến thế, tìm hết mọi bộ phận mọi ngõ ngách phiền hà của cơ thể đều thấy xa lạ đến kinh hoàng. Ta là ta hay ta là tha nhân trong áo quần phiền hà rắc rối? Ta không phải là ta thì ý nghĩa cuộc đời nằm ở đâu, rồi ai sẽ gánh chịu cho ta những công tội nhọc nhằn giữa thế gian ba vạn sáu ngàn ngày? Ta không nhận ra thân thuộc chính mình thì còn ai có thể nhận ra ta nữa?

Nhiều khi, mình tự xoa mình…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

don’t say

A poem in Vietnamese by Hoàng Xuân Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

D O N’T   S A Y 

.

What’s accidentally revealed in one’s eyes

actions have always spoken louder than words

don’t. don’t say it

be still.

even as shining brilliant stars 

the promises were already broken

upon the tip of the garden post, fireflies

the noctilucent clouds lighting up who’s sad face

*

hunched over still.

.

(December 2021)

_____

Đ Ừ N G   N Ó I

.

Trong con mắt lỡ xói mòn

hình vóc xưa đã hoa ngôn cùng đời

đừng.  em đừng nói

im.

thôi.

tiếng thề đã vỡ cùng thời trăng sao

điểm lân tinh mút ngọn sào

dạ quang chiếu sáng mặt nào âm u

*

người vẫn ngồi với thu lu.

//

@hxs.5december21


Hoàng Xuân Sơn 

A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh… 

Hometown: Vỹ Dạ, Huế.

Lý Thường Kiệt Primary  

Bán Công High School and Quốc Học Huế High School

Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn. 

Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.

After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.

The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn  Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề,  Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn,  Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ. 

Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.

Published work:

Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)

Huế Buồn Chi (thơ,93)

Lục Bát (thơ, 2005)

Ref: vanchuongviet.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Uống rượu, tập đánh vần

My daily writing exercise in Vietnamese. 
Trâm.

Anh à, 

Tại sao anh phải khổ như vậy chứ. Tình yêu ta sẽ bốc mùi như mắm mốc đi cả thời gian. Em sợ gì chứ, sự cô đơn như mắm tôm để em ngấm tình yêu ta, như bánh đúc bà ngoại em hấp nóng hổi những năm ba em phải học tập cải tạo. 

Anh nghĩ sao cũng được, em sẽ chấp nhận tất cả. Vì khi sống, chúng ta phải sống đúng cách, để chúng ta khi đến ngày bắt buộc phải đón chuyến đò cuối cùng đó, chúng ta cùng có thể nhắm mắt lại, thiếp đi. Em trong vòng tay anh, trong một giấc ngủ nghìn thu. 

ngày thương nhau em đâu có biết
phút chia tay lặng lẽ bình thường...
(bài này chưa dịch)
hôm đó mưa mặt trời mầu xám
trưa tháng tám mù mờ tình thương

—-

Anh yêu,

Anh quá chậm, là tình yêu ư? Anh muốn yêu em ư? Anh nghĩ yêu em dễ vậy sao? Anh phải biết đúng cách yêu em. Biết yêu em, anh phải giữ gìn tổ ấm hạnh phúc gia đình của mình và người thân, khác gì sức khỏe và tinh thần?

Anh quá chậm, không có gì lãng mạn bằng chiến tranh giết người chia ly và tuyệt vọng. Thơ tình ư? Dịch xong Khúc Thụy Du em thật sự rất thất vọng với những lời đã được phổ nhạc. Thơ tình ư? Những con chữ vĩ đại ư?

Là hơi thở, là sống sót, tình yêu chỉ là một món mồi cho cuộc sống.

Viết thư, riêng tôi là một cách thoát những nỗi niềm u tối, từ nhỏ tôi rất thích, mới đây là đã cho Chinh. Mực và giấy. Dịch thơ khác một chút ở chỗ không chỉ được thoát hiện tại mà còn là một cách học.

Nghĩ lại thì một cô bé người công giáo như tôi bao giờ dám nghĩ đến văn của Henry Miller. Chỉ vì sự tò mò của tôi qua hành trình đọc thơ văn Việt tôi mới hiểu “vần ồn” là gì. Nhiều lúc thấy mình thật xấu hổ vì suy nghĩ và hiểu biết của mình năm mươi mà vẫn còn quá hẹp.

Nhờ Henry Miller, tôi chú ý nhiều đến những chi tiết khi viết hay làm thơ. Cách tôi dịch tự nhiên khác hẳn. Chính xác hơn, ổn hơn. Đây chỉ là một ví dụ. Tôi tưởng tôi đã đọc nhiều, nhưng anh Tài còn đọc nhiều hơn tôi, không cách nào so sánh nổi. Hiểu thôi tại sao tôi mang ơn ảnh.

Tôi như con cóc vừa trong hang, nhảy ra ngoài.

Anh yêu,

Em nhớ, chấp nhận đúng hơn, từ nhỏ em đã mê đàn ông, đàn bà cũng có, nhưng không nhiều bằng đàn ông. Sự thu hút thần thái không chỉ vì những vị quyến rũ, màu sắc da thịt của họ, mà là chớm trong họ là một mùi cô đơn trí tuệ?

Tại sao em yêu anh? Câu hỏi vô duyên anh không nghĩ sao? Vì sự cô đơn trí tuệ? Vì anh biết trước khi cặp mắt ta nhận ra nhau? 

Em ngốc ghê, nhưng anh vẫn kiên nhẫn đợi em. Anh đã không quên những cánh tay giây đồng hồ, cả chục cái đồng hồ trên góc tủ của anh. Tích tách ngày đêm, anh không quên đếm một giây, ôi hỗn loạn ồn ào, ôi êm ái ào ạt những cơn sóng đập vào bãi bờ em. Những hạt cát…

Mau thật, ngoài việc làm, tôi tự nhốt mình trong nhà và bạn thân nhất của tôi nàng Shani(the dog) đã  ra đi, một thời gian chỉ với rượu, giờ cuối năm với chàng Lucifur(the cat).

Gặp vài lần đứa cháu chưa đầy một tuổi, tiễn đưa một bố của bạn tôi về miền đất bên kia. Là thời gian tâm sự nhiều nhất với ba má tôi.

Thời gian còn lại là hoàn toàn trên blog. Cỡ 300 bài thơ và truyện ngắn tôi chưa edit lại, vẫn còn format cũ.

Mấy tuần vừa qua tôi thấy mình không cần phải dịch nữa, tôi không nhớ việc dịch chữ như gần nửa trục năm qua. Việc học tiếng Việt vẫn còn nguyên vẹn một con đường dài vun vút, chắc chắn là sẽ không bao giờ hoàn hảo như mong muốn của tôi, nhưng sự hoàn hảo tôi tin rằng trong đời tôi sẽ chỉ là những giây phút hai đứa con tôi đã chào đời.

Cuối cùng là tôi đã có nhiều thời gian để đọc. Và tôi rất vui khi đã khám phá ra càng ngày càng nhiều người dịch văn Việt ra nước ngoài như Anh, Pháp.. v.. v. dù rằng so với những tác phẩm dịch sang tiếng Việt thì vẫn còn quá ít. Nhưng tôi vẫn vô cùng vui, tôi mong là sẽ thành một phong trào thú vị để chia sẻ ngôn ngữ của đất nước mẹ đẻ của mình.

Nghĩ đến một phong trào như vậy làm tôi thấy bỗng nhẹ người hơn. Tôi chúc các bạn ấy đạt được những đam mê như tôi đã. Tôi chúc các bạn như tôi luôn luôn thành công, đây là niềm vui của một cánh đồng chữ tôi giữ mãi mãi trong tôi. Tôi mong họ sẽ nhận được sự hỗ trợ của những nhà văn nhà thơ như tôi, nhất là trong những ngày đầu.

Tôi sẽ giành cuối năm Tân Sửu để sửa tiếp những tác phẩm còn lại. Còn lại là những tác phẩm của nhà thơ Lê Vĩnh Tài và những bài tập làm thơ và những hư cấu vụn của dược sĩ.

Tôi đọc lại những kỷ niệm cũ, tôi thường ngồi cười tôi. Thú thật là tôi nghĩ sẽ không có độc giả, tôi nghĩ rằng chỉ mình tôi đọc những bài dịch của mình. Vui.

Chúc các bạn mọi sự an lành.

Trâm 

December 29th, 2021


Dược sĩ khoe áo jacket từ thập niên 80 nha, khoe thêm việc con Ba Thiêm được anh Nguyễn Hưng Quốc gọi là dịch giả nha.

😁

Lông mày tô cũng đẹp nữa kìa.


Anh yêu,

Bó hoa giống em ghê, đã khô cằn, nhưng vẫn còn xinh chán.

Người con gái hôm nay hồn gợn sóng
vì bóng đêm gần gụi thích hơn ngày
sáng và tối cùng cưu mang một bóng
và lạnh ngoài là rượu nóng bên trong

Vũ Hoàng Thư
[nhại “Người con gái mặc quần” – Bùi Giáng]

Cả ngày tôi đã phải bán toa thuốc cho người điên. Trong vòng sáu tháng họ như những người bình thường, bình thường đây có nghĩa là họ có thể trở lại với quần chúng. Họ có thể đi làm lại, đạt được những quan hệ ý nghĩa trong thế giới của họ.

Trên mạng xã hội, tôi cũng gặp rất nhiều người như vậy. Tôi xin miễn dành những thời gian ở thế giới này cho họ. Tôi quá mệt với việc làm, tôi chỉ muốn viết thư tình, dịch văn, và đọc thơ.

Tôi đến tuổi này, không tham vọng gì cả. Tôi không muốn làm một anh hùng gánh sông núi trên vai. Tôi chẳng thèm gì nàng thơ. Tôi cũng chẳng thèm ai hiểu tôi. Một ai đó cười cùng hay không cũng ổn.

Tôi, cuối cùng là một con người riêng tư ích kỷ. Mau chán, đi kiếm mãi trò chơi để đốt thời gian.

Tôi hay xóa vì quá nhiều thứ thật chán, dở, và nham nhở, không đem gì tốt cho hạnh phúc hay sự ổn định của gia đình và người thân trong thế giới của tôi.

Tôi không phải là thánh, thần, hay thiên thần. Gần với bóng đêm hơn là ánh sáng. Rất lạnh và rất mát.


Anh yêu, 

Ganh làm chi chứ, anh là beer, họ chỉ là mồi. 
Anh bỏ cái tính xấu đó đi. 
---

Anh yêu,

Em giải thích làm sao chứ? Tại sao em yêu anh? Tại sao em yêu thơ? 

Em hỏi ba hôm đó 

– ba, Thái Hạo là ai ba? 

– cậu này một thời gian là nhà báo

– à thì ra, tại cậu ta hỏi con giống như đang interview con vậy, tại sao con thích thơ của cậu, cậu không phải là nhà thơ.

Anh, thơ của Thái Hạo như bức thư tình của đêm. Em bị cuốn theo những cánh đồng thơm ngát mùi hương của lúa, những con côn trùng tích tách ráng sống, những nụ hoa bắt buộc phải nở nóng hổi mùa hè. Cậu ta gửi đi những con chữ vào bóng tối rì rào vào những hàng cây không cần ai nghe, có lẽ cho những chú mèo dưới chân giường nghe chăng? 

Anh yêu, em nhớ anh, cặp mắt gì buồn, không dám nhìn em.

---
Yêu anh như ăn mì gói
Xơi hoài em vẫn thấy đói anh ơi

Em xơi em lại đầy hơi
Đầu đuôi thoát ra khơi khơi tình mình
---

Recap. 

Những tác giả tôi đã sửa xong trong hơn 500 tác phẩm:

An Thu, Bạch Diệp, Benedict Smith, Bùi Giáng, Bùi Kim-Anh, Choé, Cố Thành, Du Tử Lê, Dư Đằng Duy, Dương Diên Hồng, Đặng Tiến, Đinh Thị Như Thúy, Đinh Trường Chinh(chưa xong), Đoàn Phú Tứ, Đoàn Xuân Cao, Đỗ Khiêm, Đỗ Trung Quân, Hieu Kien, Hoàng Xuân Sơn, Hồ Minh Tâm, Huy Cận, Hứa Hiếu, Inra Sara, Kiều Maily, Lê Vĩnh Tài(chưa xong), Linh Phương, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Lãm Thắng, Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Quý, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Thị Phương Trâm(sẽ không bao giờ xong), Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Gia, Nguyễn Văn Thiện(chưa xong), Niê A Dũng, Phạm Công Thiện, Phạm Hiền Mây, Phạm Thái Lê, Phan Nhiên Hạo, Sấu Mã, Tạ Xuân Hải, Tản Đà, Thanh Dang, Thanh Tâm Tuyền, Thảo Nguyên, Thảo Phương, Tô Thùy Yên, Trần Băng Khuê(chưa xong), Trần Duy Trung, Trần Huyền Trân, Trần Mộng Tú, Trần Quốc Toàn, Trần Thiên Thị, Trúc Thông, Vàng A Giang, Vũ Hoàng Thư, Vũ Ngọc Giao, Vũ Trọng Quang, Xuân Diệu.

Chưa edit:

E. E. Cummings, Emily Dickinson, Kipling, Nikita Gill, Nguyễn Hưng Quốc, Pháp Hoan, Phương Anh, Rumi, Thái Hạo, Trịnh Công Sơn, William Shakespeare.


Anh yêu, 

Sao anh lại gọi em là mục hạ vô nhân? Anh chậm quá, quyến rũ nhất là một bộ não trí tuệ.

Tôi lâu lâu rất sến và vô cùng bolero, dịch thơ tình là tôi nghĩ đến liền những nàng trong tranh vẽ giữa đêm của Chinh as he burns the midnight oil…


Anh yêu, 

Em nhớ anh lắm kìa. Chịu không nổi luôn. Em kiếm ai đó, để em bớt nhớ anh được không? 

Mình chốt nhé. 


Không có chỉ trích làm sao có phê bình? Không có sự khôn ngoan thì làm cách nào để đạt được trí tuệ? Không có con đường thì làm gì có mục đích? Không có mục đích thì làm sao sống nổi? Không có cái tôi thì bản ngã từ đâu ra? Không có con gà thì trứng chỉ là giấc mơ? 


Cuối tuần uống rượu với ba.

Ba: bạn của con nhiều đứa có vẻ ngây thơ. 

Ds: đúng là ba con có máu nhà văn có khác. Ý ba là con chơi với toàn là những đứa ngu à, năm mươi mấy mà còn ngây thơ thì chỉ đem dục thùng rác. 

Tiếng Việt quá hay đúng không các tình yêu?


Tôi thấy muốn chán luôn, sửa đi sửa lại hoài mấy năm nay những bài dịch mà những con chữ nó cứ vẫn ngang phè phè. Tui đem giục một đống chữ vào thùng rác. Giận. Ghét.

Mà nè, hôm nay cả ngày sửa lại thơ của ông professor ở Huế thấy hơi phê, tự nhiên, vì “con tim đã yêu trở lại”?

Tôi nhớ lại những ngày dịch những tác phẩm của ông thầy, tôi dịch một vèo ba chục bài, những bức tranh u buồn đẹp tuyệt vời đẫm niềm tin tình yêu bất hạnh và hy vọng, có lúc đến mức trầm cảm trầm trọng tôi phải ngưng đọc.

Nhưng tôi đã yêu chữ từ lúc khám phá ra nó. Nó trong mạch máu tôi. Không có chữ, thì sống làm chi cho mệt.

À mà nè những tình yêu ạ, trong hiện tại những tác phẩm tôi dịch xong luôn luôn hay và đẹp, lúc nó thành những bài dịch của quá khứ chưa chắc sẽ còn hay và đẹp khác gì người tình mới của bạn đúng không? Mới như tuần trăng mật.

Tác phẩm nào trong hiện tại đều hoàn hảo tuyệt vời. Nên bạn đừng bỏ cuộc cứ dịch cứ viết cứ sáng tác đi ạ. Vì một ngày nào đó bạn sẽ luôn sống trong hiện tại. Và hiện tại sẽ là thiên đường của bạn.

Tin tôi đi.

Mà nè, tôi thường không tin những ai hay nói “tin tôi đi” nhé. Khổ.


Anh yêu,

Tình yêu vô hạn anh ạ, với những người đàn ông.


Anh yêu,

Sống để làm gì nếu em không biết cách yêu anh? Chuyện mình mơ hồ như cổ tích à, em là công chúa ư, mà anh quá nhẹ nhàng với da thịt em? Nắng thời gian héo cả những giây phút ta yêu nhau, ơ kìa, em bạc cả đầu. Trách anh ư? Không, làm sao em dám trách anh, em giận em hơn, ngôn ngữ của không đủ để yêu anh.


Anh yêu,

Khổ ghê, em spam Chinh cả nhày hôm qua nên hôm nay anh Mark muốn gây sự. Không lẽ cả ngày chỉ thư và thơ tình cho anh thì mới ổn? Em viết cho anh hằng ngày kìa, mà anh cứ làm thinh, anh xem em như mây khi em chỉ thèm mưa?

Anh đâu? Vào đuổi anh Mark giùm em nha? Cả đời em, em phải tránh những anh Mark, những anh xem em như cục thịt. Họ cắt em ra từng lát một, họ sào nấu, họ ăn tái, họ băm em ra xào với xốt, lâu lâu họ thẩy em vào nồi nước sôi sùng sục, hầm em mềm, đủ để họ xé em ra từng sợi, họ nhâm nhi thêm muối thêm mắm, ôi khắm. Em là mắm ruốc ư, anh kìa, không thèm em sao? 

Anh, anh đâu rồi, em có bị sai chính tả không? Anh yêu, ngữ pháp của em có ổn không, tốt rồi ư?


7 stages of grief 

WTF

block

láo

còn ai để block nữa không 

buồn ghê lại hết bạn 

đến rồi đi thôi 

xong


Anh yêu,

Khó quá, họ ganh tị với em, anh bị ghét lây kìa, em xin lỗi. Em chỉ mong họ được một ngày nào đó nhú lên như một nụ bình minh, như cánh diều hồi nhỏ mong đợi làn gió nâng cao, như lần đầu tiên anh dạy em cách yêu anh. Trong sương mịt mù bao vây, thấm từ từ da thịt em, mát rười rượi những giọt lệ óng ánh của tình yêu anh, em còn biết gì là ngày đêm.


Anh yêu,

Em không thích, một là anh hiểu, hai là anh không, sao cũng ổn mà. Anh biết tại sao chứ? Anh chậm quá, tại vì em yêu anh chứ sao, sao trên trời chứ làm chi dưới đất, em hiểu, lóng lánh trong mắt em nữa, cũng chỉ vì em yêu anh thôi. Anh chậm thật luôn. Em không muốn giải thích, lập đi lập lại, thời gian của em thà để dành ngồi thơ thẩn nhớ anh.. Đơn giản vậy mà cũng không hiểu, tự dưng làm em giận anh ghê.


Nhà thơ Vũ Trọng Quang và Nguyễn Thị Phương Trâm at Norfolk Mansion, Saigon, Vietnam

Tôi, thường xuyên dẫn cả gia đình về thăm quê hương, gia đình tôi may mắn là được định cư hết ở Úc. Tôi không thích làm phiền ai, tính cả Thiện và Chip. Anh Quang thì lại thật là dễ thương, “no” không có ý nghĩa gì đối với ảnh.

Tôi không phải là minh tinh hoa hậu, nhưng đứng cạnh ảnh thì lại tự nhiên xinh, hơn cả diễn viên.

Cám ơn anh Quang nhiều nhiều.


Nhà văn Trần Băng Khuê và Nguyễn Thị Phương Trâm in Buon Ma Thuot

Ba tôi đọc xong cuốn này rồi của Chip – Tiếng nói, cách viết rất mới.

Chip thật đáng yêu, có thể là điên hơn tôi một chút. Tôi đeo theo đít nàng như người tình. Lúc say không còn nhớ gì, nàng là người dẫn tôi đi vệ sinh, bắt tôi về phòng ngủ.. Tôi bắt đầu yêu nàng từ lúc nào không biết luôn, không muốn biết luôn cả chồng nàng..


Nguyễn Quý và Nguyễn Thị Phương Trâm in Buon Ma Thuot

Bất ngờ nhất là khi được gặp ông chủ Mật Nhân Đỏ ở phố núi nha. Cậu này một trăm phần trăm không ăn ảnh, ngoài đời có duyên và bảnh trai hơn rất nhiều, một trăm phần trăm “type” của tôi nha. Ông thợ điện này lại có một tài năng ngâm rượu ngon hơn Macallan, uống xong tha hồ hứng, vì vậy mà tôi phải xin phép về sớm. 


Ông bạn tôi chưa bao giờ lấy vợ, có yêu một cô, là đàn em của tôi, rất dễ thương, nàng lấy một anh nàng không yêu, họ hiện giờ rất hạnh phúc. Còn ông bạn tôi thì hiện giờ là boss của dòng tên Úc Châu. Ông ta có một giọng nói nhẹ nhàng, ánh mắt luôn luôn trong sáng, hôm kia, chắc cũng lâu rồi, ngồi uống rượu ổng nói – cãi lộn la hét đi nữa vẫn là một cách đối thoại, ác hơn là sự im lặng. Vì vậy chăng ông bỏ luôn chuyện lập gia đình?

Tôi ít chửi thề, chỉ vì sự khủng hoảng của ông chồng tôi, chồng tôi rất hiền, không chửi thề với vợ bao giờ – We swear playing golf all the time, but it’s nothing.. but when you swear honey, when you use the word “fuck” it’s scary, I don’t recognise you, it looks like you want to rip someone apart, you mean murder… 

Chấp nhận vậy, trong một hội chiến, giết người cũng là một cách đối thoại.


Khi tôi đã đánh mất sự tôn trọng và niềm tin của bạn. Tôi không mong ngày về. Vì Ngài đang đợi tôi.


Ồ, từ “tương” hay quá

Từ tương tác thành tương giao tương đương với tương ngộ tương phùng tương kiến trong tương lai tương cảm ái tình tương tư.


Nguyễn Quý, Nguyễn Thị Phương Trâm, Lê Vĩnh Tài và Nguyễn Văn Thiện (source: LVT social media page)

Thiện is exactly the person he portrays in social media, what you see is all you will get, no more, no less. The writer is sincere, reserved, and steadfast in every action and reaction. He is a good father, loyal friend, and protective lover. He is a rock, a friend you want by your side, Tài is fortunate to have such a friend and confidant. 

Thiện chính xác là con người anh ấy miêu tả trên mạng xã hội, những gì bạn thấy là tất cả những gì bạn sẽ nhận được, không hơn, không kém. Nhà văn thật chân thành, kiệm lời, kiên định trong mọi hành động và phản ứng. Anh ấy là một người cha tốt, một người bạn trung thành và một người luôn luôn bảo vệ người mình yêu. Anh ấy là một tảng đá, một người bạn mà bạn muốn ở bên cạnh, Tài thật may mắn khi có được một người bạn tri kỷ như vậy.


Anh yêu,

Sự sống là gì? Con chuột mun co ro trong một góc tủ thối rữa, sau cái máy computer khủng lồ của một thập kỷ đã quá cũ, nó chết một mình sau những cơn đau. Nó nghĩ gì trước khi nó chết anh nhỉ? Nó nghĩ đến miếng ăn vụn ư? Hay vọng về từ ổ là những lời lo lắng nhỏ nhẹ của mẹ nó trong bóng tối – con yêu của mẹ, cẩn thận con nhé, con người, chúng rất tham, chúng có nhiều đồ ăn nhưng chúng thà vất đi chứ không nhường cho người khác. Không đến phiên mình đâu con ạ. Em nghĩ đến ổ bánh mì em ăn không hết, em nghĩ đến mẹ của nó trong ổ, giữa đống rác, bụng đầy những đứa con. Em nhớ những ngày em đã sống với đứa con đã chết trong bụng em…


Traditional Dak Lak brunch

Nói gì đây về anh Tài, tôi ganh với Thiện chút chút vì luôn luôn được ở bên cạnh chàng với cốc cà phê hay lon Heineken bạc. Tôi thua Thiện xa, vài giọt Robusta thôi mà tôi đã bị say sẩm hết nửa ngày, chưa nhắc đến rượu. 

Lần đầu tiên gặp các ngài, tôi trước đó đã quyết định phó thác linh hồn của tôi cho các ngài. Là vì tôi luôn lắng nghe trực giác của mình, như chàng đã viết? Một trăm phần trăm. 

Người say rượu không nên nhớ lại những gì mình làm trong những cơn say, xấu lắm, tôi chỉ biết qua lời của những người thân là tôi rất trẻ con, hay khóc, hay ôm, hay – I love you, khi tôi say. 

Sáng hôm sau tỉnh giấc, tôi không nhớ gì, nhưng lâng lâng trong tôi là một hạnh phúc lạ thường, các ngài đã lo cho tôi như một đứa trẻ lên ba. 

Cám anh Tài, và hai em Thiện và Chip.

Coffee at the long house, Dak Lak

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, born 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The wind twisted in agony above them.

A poem in Vietnamese by Đinh Thị Như Thúy
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Her friends were all slowly melting and drifting away under the sunlight.

The first regretfully threw a bunch of flowers on the pavement in a cloud of dust.

The second hesitated for a second before throwing it out.

The third threw it away without a thought.

The fourth chucked it away in a fit of anger.

Head held high, they crossed the road and merged with the crowd.

They all looked exactly like each other.

(They were all a copy of each other.)

They were an image of power. 

The wind twisted in agony above them. 

WHERE IT’S WINDY ON A WINTER’S DAY

June 2022

_

Những người bạn của nàng đang tan chảy và đổi khác dưới ánh mặt trời.

Người thứ nhất tiếc nuối ném những bông hoa xuống con đường lầm bụi.

Người thứ hai lưỡng lự chút ít rồi ném.

Người thứ ba thờ ơ ném.

Người thứ tư ném trong sự phẫn nộ.

Họ bước sang bên kia đường ngẩng cao đầu đứng vào đám đông.

Trông họ giống hệt nhau.

(Họ là bản sao của nhau.)

Trông họ đầy sức mạnh.

Gió cuồng nộ đau đớn xoáy tròn trên họ.

NƠI NGÀY ĐÔNG GIÓ THỔI


Đinh Thị Như Thuý, born 16-9-1965 in Hue,Vietnam. The Vietnamese poet attended high school in Danang, and university in Dalat, then was a literature teacher in Krong Pac district, Dak Lak province. Currently, she works at the Union of Literature and Arts of Da Nang city. She also used the pseudonyms Như Thuý, Như Dã Quỳ.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Saigon, a nameless memory

A poem in Vietnamese by Nguyễn Đình Toàn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

Những ngày nghỉ giữa tuần, tôi hay thăm ba má tôi (gốc bắc, lớn lên ở miền nam, nên chúng tôi được gọi hai ngài là ba má). Những cơ hội ngoài vườn uống trà hay nhâm nhi rượu. Tôi hay nhắc đến những bài thơ con cóc của tôi, và những bài dịch. Nhờ vậy mà các ngài có cơ hội kể lại những chuyện xưa.

Tôi không biết là ba má tôi có bao giờ nghi ngờ sự cứng đầu cố tình của tôi không. Mỗi lần trò chuyện, là những lần tôi muốn moi ra những vết thương cũ, không bao giờ lành – nhạc ông bà KL đó cũng là những suy nghĩ và trăn trở của những người như ba má!!!!! Quá buồn….nên nhiều khi muốn “trốn thực tại “. Sự chấp nhận nó to lớn hơn những gì chúng ta có thể tưởng tượng.

Hy vọng có chứ, ở nước ta, những nhà văn nhà thơ, dịch giả “trẻ” sau 1975. Ông bà ngoại của con tôi đã mọc rễ ở quê người đã được 40 năm, không còn mong ước những bước chân trên quê hương. Nỗi buồn của các ngài tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ hiểu hết được. Nhưng tôi muốn hiểu thêm, sự mong muốn của tôi là một niềm vui, niềm hy vọng nho nhỏ của hai ngài.

Bài dịch thứ hai của Nguyễn Đình Toàn, tôi không được vui lắm. Nhưng tôi muốn giữ lại kỷ niệm này ở đây.

Trâm.

April 1st, 2021

Saigon, a nameless memory

Saigon, 

I’ve lost you as though you’ve lost your name

A river of wandering sadness

Walking away faceless, abandoning one’s heart

I wonder if you will remember

Saigon,

Gone to where are the days of exhilarations through the streets

The joy of each greeting

Glorious is life soaked in boundless colours

Now what is there left

Who is left yearning for the rows of ancient tamarind

Yellow flower petals scattered across the parks over monuments

Gone are the unreachable dreams

Drifted long gone with the streams of life

Saigon

Gone where are the seasons rugged up walking in the rain

Hand in hand the sweet whispers of nothing

Gone where are the bunches of flowers and music seeping through the dying light

Gone where is Khánh Ly’s enthralling voice

Saigon

Gone are the days by each other through songs

Where are Phạm Duy’s sad love ballads

The tears at the beginning

What is there left

Who is left yearning for the rows of ancient tamarind

Yellow flower petals scattered across the parks over monuments

Left us yearning for the tender caress of long gone

What is there left

Saigon

I’ve lost you as though you’ve lost your name

Like the row of trees, its red leaves watchful and waiting

The sunlight illuminating the petite sweet silhouette 

Pouting lips sulking in silence

Saigon

I’ve lost you as though you’ve lost your name

As though the cold tombstone has the scent of a curse

As though the unreachable horizon had abandoned the land

Left is what

—-

Sài Gòn niềm nhớ không tên

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên

như giòng sông nước quẩn quanh buồn

như người đi cách mặt xa lòng

ta hỏi thầm em có nhớ không

Sài Gòn ơi

Đâu những ngày khi thành phố xôn xao

Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào

Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu

Nay còn gì đâu

Ai ra đi nhớ hàng me già

Thu công viên hoa vàng tượng đá

Thôi hết rồi mộng ước xa xôi

Theo dòng đời trôi

Sài Gòn ơi

Đâu những ngày mưa mùa khoác áo đi

Tay cầm tay nói nhỏ câu gì

Đâu quầy hoa quán nhạc đêm về

Đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly

Sài Gòn ơi

Thôi hết rồi những ngày hát bên nhau

Đâu Phạm Duy với tình ca sầu

Mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu

Còn gì đâu

Ai ra đi nhớ hàng me già

Thu công viên hoa vàng tượng đá

Ta tiếc thời âu yếm xa xưa

Nay còn gì đâu

Sài Gòn ơi

Ta mất người như người đã mất tên

Như hàng cây lá đỏ trông tìm

Mặt trời soi dáng nhỏ dịu hiền

Đang ngậm ngùi trên môi lắng im

Sài Gòn ơi

Ta mất người như người đã mất tên

Như mộ bia đá lạnh hương nguyền

Như trời xa đã bỏ đất liền

Còn gì đâu


Nguyễn Đình Toàn first penned under Tô Hà Vân, born September 6th, 1936 at Gia Lâm, by the Red river, outside of Hanoi. Left for South Vietnam in 1954, there he became actively involved in the arts, literature, poetry, plays, and music, in association with literary magazines like Văn, Văn học. He collaborated with Trần Phong Giao for many years in the selection of literature for Văn Magazine. He took up the position as the editor of Saigon Radio after that and became known for the Music program in the early seventies. He was captured twice after 1975 and was imprisoned in a re-education camp for nearly six years. He and his wife, Madame Thu Hồng, settled in the United States of America at the end of 1998. A retiree, he currently resides in Southern California with his family.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Upon the precipice of nothingness

A poem in Vietnamese by Nguyễn Đức Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

A starry night in the trees

In a race to fall upon humanity

A celebration of trees and spirit

On the verge of tears were the boundless dreams

A golden age a river of dreams a sky filled with poetry

I am a man upon my death at the precipice of nothingness.

—–

April 2022

Trên bờ hư không

Một đêm sao ở trên rừng

Đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian

Hồn tôi cây cối liên hoan

Rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ

Tuổi vàng suối mộng trời thơ

Lớn lên tôi chết trên bờ hư không.

Thơ Nguyễn Đức Sơn 


Nguyễn Đức Sơn, the poet was born on November 18, 1937, in Du Khanh village, Thanh Hai district, Ninh Thuan province, originally from Thua Thien Hue. He began writing poetry very early with the pen name Sao Trên Rừng, and other pen names like Sơn Núi. On the morning of June 11, 2020, passed away at the age of 83.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: