HAIR & HORN | Nguyễn Viện [chapter ONE]

Ngọc, Trâm và Viện. Ảnh Hân Lê chụp.

A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Lời giới thiệu: Sự tò mò của tôi thường đưa tôi đến những nơi tôi chưa bao giờ có ý định đến. Những cảm giác hỗn loạn sợ hãi rất vui rồi lại nhàm chán.

Đi chơi hay chơi với chữ đối với tôi không khác gì. Nhưng chữ đưa tôi đi nhiều nơi không cần phải check-in check-out mệt mỏi nhọc nhành chào đón.

– Em mai mốt đi uống cà phê với anh.

– Em không thích nhiều người.

– Ừ thì, thì đi uống cà phê với một mình anh.

– Okê anh.

Dễ ẹc ha.

Anh không uống một giọt cồn, cả buổi tối anh sai các em hầu bia cho tôi uống thay cơm. Khi tôi bắt đầu héo như hoa anh nói mình về đi em. Ừ, để em đưa anh về.

Dễ ẹc ha.

Không một lần hỏi tại sao vì ai làm gì đi đâu với ai.

Dễ ẹc vậy mà ít người làm được ngoài những câu hỏi quan tâm lạc lõng không liên quan gì đến một người lạ lạc trên quê hương.

Tôi say nhưng tôi vẫn bình tĩnh. Tôi nhớ từng cặp mắt.

Cuối năm con rắn với những bài thơ của cậu Lý Đợi. Đọc xong vài tác phẩm của cậu tôi thấy cậu ấy cũng “hơi” du côn như tôi. Tôi thấy vui. Văn Chương vui. Viết tiếng việt rất vui. Càng ngày càng viết bớt sai chính tả dù là anh hay việt. Nên quyết định học tiếp thành một quyết định dễ ẹc.

Sang năm của con ngựa tôi muốn dịch một cuốn tiểu thuyết thứ hai. Một cách tập chung hay hơn là dịch thơ rải rác mỗi ngày. Và có thể vài năm nữa tôi sẽ trở lại dịch hết truyện kiều của anh Nguyễn Du. Nhưng năm binh ngọ mỗi ngày tôi sẽ dịch một khúc tiểu thuyết của anh Nguyễn Viện cho vui nha.

Cheers,

Nguyễn Thị Phương Trâm

#vanhocngoaibien#literaturebeyond#nguyenthiphuongtram#nguyenvien


Khi ấy, một cọng lông nách của gã nông dân mù chữ thuộc làng Mơ, xứ Mận… đã bị bứt ra khỏi nơi u tối bởi một số phận đã được tiền định. Giờ Ngọ, ngày Dậu, tháng Thân, năm Tuất… theo lịch phương Đông, gã nông dân săm soi cọng lông loăn xoăn đột nhiên ngứa ngáy và nổi đỏ ấy, đưa lên miệng thổi… Cọng lông bay vào bầu trời. Gã nói: “Hãy mang cơn ngứa của tao đi khắp thế gian.”

Theo cơn gió, cọng lông phất phơ giạt vào khe cửa nhà một ông thày đồ. Ở đó, sớm tối được nghe lời thánh hiền, thấm đẫm tứ thư ngũ kinh và truyền thống dân tộc, lông biến thành sừng. Cái sừng trâu lừng lững trên vách mà ông thày đồ cũng không nhớ có từ khi nào. Cũng trong năm ấy, thiếp của ông thày đồ hạ sinh một bé trai. Ngay khi sinh ra, thằng bé đã phô trương một con cu to khác thường. Cứng và đỏ chói lọi.

Thấu cảm được sự bí ẩn trong giấc mơ thành sừng của một cọng lông, ông thày đồ đặt tên cho con là Mao Thành Giác. Mặc dù, gia phả nhà ông vốn họ Nguyễn.

Tuy là con trong gia đình thày đồ, Mao Thành Giác vẫn phải đi chăn trâu như những đứa trẻ khác trong thôn làng. Giấc mơ thành sừng của nó càng ngày càng mãnh liệt. Bọn trẻ con thích Mao Thành Giác vì nó hiện thân cho niềm vui, sự nghịch ngợm và những ước mơ bay bổng. Nó bày đủ thứ trò tinh quái từ đánh nhau đến nhìn trộm phụ nữ tắm sông, thay quần áo. Khi mới mười hai tuổi, nó đã biết mùi háng phụ nữ và làm thủ lĩnh của đám trẻ con trong làng.

Mao Thành Giác hỏi bọn nhóc: “Tụi mày biết háng con gái có mùi gì không?” Bọn trẻ con đần cái mặt ngu ngơ, chúng chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy. “Mày ngửi rồi hả?” Nó khệnh khạng: “Tao biết những điều chúng mày không thể biết.” “Làm sao mày biết được?” “Thằng nào muốn nghe thì hãy ngồi xuống.” Vài đứa vẫn đứng. Nó ra uy: “Đứa nào không muốn nghe thì đi chỗ khác.” Tất cả bọn nhóc đều ngồi xuống. “Nghe này, tao chỉ cần làm bộ vấp ngã… rồi ôm mông cô gái mà tao muốn ngửi là xong thôi.”

Mao Thành Giác lại hỏi: “Tụi mày muốn trưa nay no nê không?” Bọn nhóc khoái chí: “Muốn… muốn…”

“Theo tao.”

Nó nhìn thấy một con trâu từ phía xa. Cả bọn kéo tới, dắt con trâu về vũng nước làng mình rồi vu vạ cho thằng chăn trâu khốn khổ kia: “Mày cho trâu tắm vũng nước nhà tao, muốn chuộc thì để phần ăn của mày lại đây.”

Bắt người khác phải khuất phục là bản lĩnh và bản chất của Mao Thành Giác.

Đôi khi hứng chí, nó bộc lộ khí phách lãnh tụ nhân dân bằng cách bắt bọn nhóc công kênh như rước vua. Nó cũng thích sai một đứa nào đó bò xuống đất làm bệ đỡ để nó đạp lưng leo lên cưỡi trâu. Không đứa nào dám trái ý nó.

Có một thằng nhóc lúc nào cũng lẽo đẽo theo Mao Thành Giác chỉ để muốn biết về cái mãi mãi bí ẩn: “Háng con gái có mùi gì?” Nó bảo: “Không tả được. Nếu mày muốn biết thì tìm cách mà ngửi.” Thằng nhóc tò mò ấy sau nhiều lần bị tát sưng mặt cũng biết được háng con gái mùi gì, nó bảo: “Khai bỏ mẹ.” Đó là háng của con bé chăn vịt ngoài rìa làng. Nhưng cũng không mất nhiều thời gian, thằng nhóc được mở mang kiến thức, rằng háng phụ nữ không chỉ có mùi khai mà còn “hấp dẫn vô cùng tận”, khi nó theo đuổi con bé đẹp nhất làng mà Mao Thành Giác đã ngửi mùi trước. Khi về già, thằng nhóc này trở thành bạn tâm phúc chuyên dẫn gái cho Mao Thành Giác giải sầu.

Không có điều gì muốn mà Mao Thành Giác không làm được. Vào năm mười lăm tuổi, nó đã biết giá trị thực sự của cái sừng trong háng nó. Tất cả các bà goá trong làng đều có thể chứng thực điều này. Họ bảo: “Chưa từng có một gã đàn ông con trai nào lẫm liệt đến thế.” Một bà táo bạo kể: “Nó giống như ống sắt nung.” Một bà khác nói: “Của ngựa chứ không phải người.” Nhưng chinh phục phụ nữ không phải là niềm vui duy nhất của Mao Thành Giác, trong tận cùng nỗi khao khát thành sừng, nó muốn cả đàn ông cũng phải quì dưới chân nó. Ông thày đồ nhìn thấy ngọn lửa nhảy múa trong tâm can cậu con, vì thế, ông càng ra sức kìm kẹp Mao Thành Giác theo khuôn phép đạo nghĩa thánh hiền và truyền thống. Nhưng ngọn lửa cuồng vọng bất trị ấy đã đốt cháy tất cả các đấng thánh và chính bản thân nó.

Khi gia đình và ngôi làng trở nên quá bé nhỏ, chật hẹp với giấc mơ hùng dũng sang trọng của nó, Mao Thành Giác quyết định bỏ nhà đi. Năm ấy, nó mười bảy tuổi.

Vào thành phố, Mao Thành Giác xin được chân phụ bếp một quán nhậu để sống qua ngày. Thành phố dạy hắn hút thuốc, uống rượu, chơi gái. Song thành phố cũng dập vùi hắn trong thân phận người làm thuê. Hắn đi từ nhà hàng này đến quán ăn nọ với mọi nỗi đắng cay của bất công. Nhưng không bao giờ hắn cho phép mình tủi nhục. Cũng chính ở nơi bị bóc lột và dập vùi ấy, một Mao Thành Giác khác đã hình thành như ma đưa lối, quỉ đưa đường. Hắn muốn vươn lên làm người nấu ăn cho cả thế giới như một người yêu nghề, chân chính. Nhưng trước khi có thể trở thành người phục vụ vĩ đại, hắn đã trải qua một cuộc trường chinh vô tiền khoáng hậu từ xó bếp các con tàu lênh đênh trên đại dương đến các loại bếp của mọi kiểu nhà hàng trên khắp các lục địa.

Năm hai mươi tuổi, Mao Thành Giác đã nắm được các yếu tính âm dương của từng loại thực phẩm cũng như làm chủ được mọi gia vị. Ông khách ở nhà hàng Mộng Xanh mà hắn được biết vốn là nhà văn, nhưng lại nổi tiếng bằng những bài báo hoa mỹ về các món ăn, từ dân dã đến sang trọng. Một người biết tuốt của giới văn chương chữ nghĩa An Nam.

Ông ta khen hắn về món giò heo giả cầy: “Cậu thật công bằng.”

Hắn ngạc nhiên, lễ phép: “Thế là sao ạ?”

Ông nhà văn tợp một ngụm rượu trắng, thong thả nói: “Vì cậu vẫn giữ được phẩm giá cho heo trong khi tôn vinh mùi vị của con cầy.”

Hắn hỏi lại: “Ông quan tâm đến sự công bằng?”

Ông nhà văn không kém ngạc nhiên như hắn. Ông không giấu tò mò nhìn hắn từ chân lên đầu: “Ờ… mà cậu cũng quan tâm đến sự công bằng sao?”

Hắn nhũn nhặn: “Tôi là người nấu ăn, tôi không muốn để bất cứ một thực phẩm hay gia vị nào mất chỗ đứng của nó trên lưỡi người ăn.”

Ông nhà văn đứng lên: “Tôi mời cậu một ly được chứ?”

Hắn chần chừ rồi thưa: “Dạ… nhưng chỉ một ly thôi ạ.”

Hắn nói “xin phép” rồi bước vào trong cầm ra một cái ly nhỏ tương tự như ly của ông nhà văn đang uống.

Ông nhà văn: “Xin mời.”

Hắn cúi đầu cảm tạ rồi ngửa mặt uống cạn một hơi.

“Cám ơn.” Hắn nói. “Tôi xin phép được về chỗ của mình.”

Ông nhà văn lại nhìn hắn từ đầu xuống chân như một loại động vật quí hiếm: “Cậu có lúc nào rảnh không?”

“Dạ không.” Quả thực, không rảnh. Từ sáng sớm hắn đã phải đích thân theo bà chủ đi chợ để chọn mua thực phẩm. Và tới khi đêm tàn, quán hết khách, hắn mới được nghỉ.

Ông nhà văn tần ngần, tiếc rẻ: “Tôi muốn có dịp được mời cậu một bữa riêng tư.”

Dè dặt im lặng… rồi xin phép lui, hắn cảm thấy ông nhà văn cũng không bình thường.

“Công bằng” là một từ nhạy cảm.

Lần thứ hai Mao Thành Giác gặp ông nhà văn ở sạp báo. Khi ấy, hắn bị đuổi việc vì bà chủ đã học lỏm được nghề của hắn.

Ông nhà văn mừng rỡ: “Hôm nay cậu rảnh à?”

“Dạ… chắc là còn rảnh nhiều ngày nữa.”

“Vậy thì đi với tôi.” Ông nhà văn nói.

Hắn lẳng lặng theo ông vào một quán cà-phê.

Ông nhà văn hỏi: “Có chuyện gì nói cho tôi nghe.”

Hắn nói: “Chỉ là tôi bị mất việc, thế thôi.”

“Bây giờ cậu sẽ đi đâu?”

“Tôi cũng chưa biết. Nhưng có lẽ tôi sẽ đi học. Tôi muốn nói được tiếng Pháp.”

Ông nhà văn gật gù: “Hay đấy. Nhưng cậu học tiếng Pháp để làm gì?”

Trong thâm tâm, hắn muốn đi đây, đi đó… và nấu được mọi món ăn của các dân tộc. Nhưng hắn lại tỏ bày một điều mà chưa bao giờ hắn nghĩ đến: “Tôi muốn học để đi làm cho nhà nước.”

Ông nhà văn cười cười: “Nếu vậy, cậu nên tìm cách xin vào trường Thuộc Địa.”

Hắn cũng cười cười: “Vâng, nhưng tôi cần phải giỏi tiếng Pháp cái đã. Ông biết đấy, tôi không có tiền. Ông dạy tôi được không?”

Ông nhà văn nói: “Tiếng Pháp của tôi không đủ để dạy cho bất cứ ai. Tốt nhất là cậu nên xin việc ở một nhà hàng Pháp hay một con tàu Pháp. Việc tiếp xúc trực tiếp sẽ giúp cậu học hỏi nhanh hơn. Vả lại còn có cái để sống.”

Mặt Mao Thành Giác sáng rỡ. Chân trời đã mở ra.

Ngay hôm sau, Mao Thành Giác ra bến tàu tìm gặp những thuỷ thủ mà hắn biết mặt đã từng đến ăn tại các nhà hàng nơi hắn làm việc. Hắn nhờ họ giới thiệu một chân phụ bếp. Một tuần sau, hắn đã có mặt trên con tàu ATF của Pháp đi Marseille.

Trên tàu, Mao Thành Giác học được cách chế biến các món ăn đơn giản của Pháp. Đôi khi để thay đổi khẩu vị, hắn cũng trổ tài nấu món mì An Nam. Các thuỷ thủ thích hắn vì hắn rất An Nam. Hắn tự hào: “Mình phải thế nào người ta mới quí mình chứ”. Cái thế nào của hắn là luôn luôn giả lả để làm vui lòng mọi người, như thể người khác không vui là do lỗi của hắn. Mấy gã người gốc Châu Phi thường nói với hắn về thân phận của người dân thuộc địa và nghèo đói. Họ cũng thì thầm với nhau về cuộc cách mạng vô sản ở Nga. Mao Thành Giác chưa có khái niệm gì về các vấn đề chính trị, nhưng hắn thích những câu chuyện về cuộc đời Vladimir Ilyich Lenin và cách ông ta cướp chính quyền từ Nga hoàng. Mao Thành Giác nhìn thấy thời cuộc.

Hơn một tháng sau, tàu ATF cập cảng Le Havre. Nước Pháp làm Mao Thành Giác mờ mắt. Hắn xuống tàu và không bao giờ trở lại. Lần mò đến Paris, hắn tìm được vài người đồng hương. Họ giúp hắn kiếm tiền bằng cách đi giao báo. Họ cũng dạy hắn tiếng Pháp hoàn chỉnh và dạy cách hắn viết báo để kiếm thêm tiền. Đấy là lúc Mao Thành Giác khát khao nhất được nhận vào trường Thuộc Địa, nhưng đơn xin đặc cách của Mao Thành Giác gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa không được chấp nhận, mặc dù hắn đã thành khẩn “Tôi nguyện làm tôi tớ trung thành của mẫu quốc vĩ đại.”

Một trong những người sáng lập tờ báo Những Kẻ Khốn Cùng, cơ quan ngôn luận tranh đấu cho độc lập của các nước thuộc địa, chia sẻ với Mao Thành Giác: “Việc trước tiên và cũng khó khăn nhất là khai dân trí. Sự hiểu biết là chìa khoá cho sự giải phóng bản thân và là nền tảng cho sự tiến bộ. Do đó, chính cậu cần phải học, học, học mãi…” Mao Thành Giác chẳng những biết thế, mà hắn còn biết hơn, chính sự ngu muội của đám đông mới là tiền đề cho mọi lực lượng cách mạng.

Không vì oán giận nước Pháp không cho hắn cơ hội phục vụ, Mao Thành Giác tìm cách đến với xứ sở của Lenin huyền thoại để biết sự ngu muội được dẫn dắt như thế nào. Vào Nga bằng cách đi qua nước Đức, hắn đến Matxcơva và xin được vào trường Đại học Cộng sản Phương Đông qua sự giới thiệu của Đảng Cộng sản Pháp. Nhưng chỉ hơn một năm sau, Giác bỏ học vì ngộ ra nước Nga và cuộc cách mạng vô sản không phải là chỗ của hắn. Mao Thành Giác muốn sướng. Hắn truy tìm cái sướng, nhưng ở nước Nga Xô Viết, một mặt cái sướng bị kết án như một thứ đáng khinh bỉ của chủ nghĩa cá nhân, mặt khác cái sướng toàn thể lại chỉ là bánh vẽ của những giáo điều. Hắn nhìn ra chủ nghĩa xã hội là một nghịch lý không lối thoát. Chế độ Cộng sản đồng nghĩa với đói khổ, sợ hãi và chuồng trại. Tuy nhiên, chủ nghĩa Cộng sản đã cho Mao Thành Giác một bài học lớn, vật chất quyết định cuộc sống con người cũng như xã hội, và cụ thể hơn, cái bao tử quyết định phẩm cách con người. Điều ấy làm thay đổi cuộc đời hắn.

Các nô lệ ở thế gian đã vùng lên, nhưng bao nhiêu lợi quyền không qua tay mình như lời bài hát Quốc Tế Ca, mà các nô lệ tiếp tục là nô lệ một cách triệt để hơn, toàn diện hơn cho một ý hệ và thế lực mới. Mao Thành Giác ớn lạnh sống lưng đào thoát khỏi giấc mơ đại đồng, làm cuộc cách mạng bản thân. Quay lại Paris, hắn tiếp tục con đường định mệnh, trở thành một đầu bếp chuyên nghiệp.

Nhắm mắt hay mở mắt, Mao Thành Giác lúc nào cũng lao đi như mũi tên. Hắn tìm được chỗ trú chân trong một nhà hàng thuộc loại khá ở khu trung tâm Paris, âm mưu lật đổ mọi thứ giáo điều.

Giờ của con người đã đến, Mao Thành Giác phô trương thanh thế cái sừng đỏ chói lọi trong háng. Không thể so sánh vóc dáng với đàn ông Pháp, nhưng bù lại, hắn sở hữu một cái sừng đẳng cấp thế giới, đặc biệt có khả năng co giãn không giới hạn đáp ứng được cho tất cả thể loại hang hốc phụ nữ. Con gái Pháp mê hắn. Đàn bà mọi châu lục đến Paris du lịch cũng mê hắn. Mao Thành Giác được trả tiền để phục vụ một nửa thế giới. Hắn sống trên đỉnh vinh quang của cái sừng. Nhờ thế, lịch sử của một cu-ly thuộc địa đã được viết lại cho xứng đáng với cái sừng ngoại hạng ấy. Mao Thành Giác được tô vẽ như một thành hoàng của làng Mơ, xứ Mận huyền bí… Không một phụ nữ nào ngủ với hắn mà không ra hết nước.

Mao Thành Giác, kẻ trả thù dân tộc vĩ đại nhất mọi thời đại của An Nam nhược tiểu và thuộc địa, niềm an ủi cho mọi nỗi lưu vong và khốn cùng.

Mao Thành Giác, kẻ đáng kính trong số những người đáng kính nhất bởi những món ăn của ông ta mang đến sự viên mãn cho khát vọng hạnh phúc con người.

Những món ăn được chế biến theo công thức riêng của Mao Thành Giác bao giờ cũng lạ miệng và ngon không thể so sánh. Ăn uống với thực đơn của Mao Thành Giác không chỉ là văn hoá nghệ thuật hay sành điệu, mà còn chứng thực một giá trị cốt lõi trong dinh dưỡng, tăng cường sinh lực giới tính cho tất cả nam phụ lão ấu một cách hoàn hảo.

Việt Nam vô địch muôn năm. Tiếng vọng hoan hô ấy còn âm vang đến mấy thế hệ sau.

Mao Thành Giác lừng danh Paris. Người ta truyền tụng: “Chưa ăn món ăn của Giác nấu, chưa phải là người biết sống.” Với phụ nữ, họ bảo: “Chưa biết sừng của Giác, chưa thể gọi là biết đàn ông đích thực.” Mao Thành Giác là kỳ tích văn hoá ẩm thực và tình dục của Paris trong vài thập niên trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Paris tiêu biểu cho nền văn minh phương Tây, nhưng thủ đô ánh sáng ấy không đủ cho cái cuồng hoan bất tận vô thuỷ vô chung của Mao Thành Giác. Ở đấy, nó thiếu một bóng tối của những nỗi niềm hoang sơ cội nguồn sinh thành của cái dục. Vì thế, khi một bạn cũ người Algeria trên con tàu ATF xưa kia rủ hắn về quê hương lập nghiệp, không phải suy nghĩ nhiều, Mao Thành Giác đồng ý ôm hết vốn liếng tích luỹ được bỏ Paris qua Phi Châu huyền bí, mặc dù hắn biết người Hồi giáo không bao giờ là đối tượng của cái nghề nấu ăn như hắn, nhưng sự khắt khe của luật lệ cũng như tấm mạng che mặt của phụ nữ Hồi giáo lại kích thích hắn tột độ. Hắn muốn phá vỡ mọi giới hạn. Hắn tin rằng cái gì càng bị cấm càng dễ bị cám dỗ. Mao Thành Giác mở nhà hàng riêng và đặt tên là Pieds Noirs, trước hết phục vụ kiều dân Pháp và những hậu duệ người Châu Âu trên xứ sở ăn kiêng này.

Khi chưa kịp lật tấm khăn che mặt của bất cứ cô gái Algeria trinh trắng nào, Mao Thành Giác đã bị Malika thông minh, biết và dám phô bày vẻ đẹp của mình, từng bóc tem hơn một ngàn gã trai tơ đủ quốc tịch, tụt quần.

Ma nữ thành Paris hồi hương cố xứ nhập vai cô bé quàng khăn đỏ, hỏi: “Sao cu anh to thế?”

Con sói An Nam bảo: “Nó to vì em.”

Cô gái quàng khăn đỏ Phi Châu lại hỏi: “Sao cu anh cứng thế?”

Con sói An Nam hãnh diện: “À… Nó cứng để em biết thế nào là thần thoại phương Đông.”

Cô gái giả dạng ngây thơ hỏi tiếp: “Sao cu anh chói lọi thế?”

Con sói An Nam tự hào: “Nó chói lọi cho người đời biết bướm em đã có ngày rạng rỡ.”

Ma nữ thành Paris về hưu non cười híp mắt. Hai con mắt như hai con sâu róm. Mao Thành Giác mang đến cho cô một ấn tượng kinh dị.

Thay vì bị ăn thịt, cô bé quàng khăn đỏ Malika háo hức chiêm ngắm cái kỳ quan văn hoá phương Đông, cô mơn trớn hân thưởng nó điệu nghệ bằng đôi môi dày và cái lưỡi mềm của mình. Con sói Mao Thành Giác được dẫn dắt về rừng. Và hắn qui hồi bản nguyên hoang dã.

Linh hồn hắn bị giam giữ vĩnh viễn trong âm hộ rừng rú của thần nữ ma mị này. Cái sừng bò đỏ hung hãn điên loạn đâm vào bóng tối mù mịt và ướt át của một viễn cảnh tối thượng cho sự tồn sinh, mà bốn ngàn năm văn hiến của hắn nhập nhoà vọng tưởng. Mao Thành Giác nhìn thấy Đức Brahma sáng loà trên đỉnh ngọn cương dương sấm sét. Trí huệ mở ra. Từ đấy, ý tưởng đi Ấn Độ luôn thôi thúc trong lòng hắn.

Malika sành sỏi tình dục là em gái của người bạn thuỷ thủ. Cô đủ khôn ngoan để cùng quản lý nhà hàng Pieds Noirs với Mao Thành Giác. Cô cũng có cả một dòng họ phía sau sắp hàng nhờ vả. Vì thế, hầu hết nhân viên của Pieds Noirs là anh chị em nhà Malika. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy sụp của nhà hàng này trước khi nó bén rễ được vào lòng đất khô cằn của Phi châu.

Khi chế độ thuộc địa cáo chung, hầu hết người Pháp trở về quê hương. Đám “chân đen” lai lịch Châu Âu và “bè lũ tay sai” ôm chân đế quốc thực dân cũng chạy theo Pháp, hắn không nghĩ có thể làm ăn được với người Hồi giáo ngoan đạo nên bán tống bán táng nhà hàng tiêu điều của mình di cư qua Ấn Độ.

Nhưng con tàu lênh đênh và góc bếp thân tình với những thuỷ thủ đủ loại màu da lại một lần nữa lôi cuốn hắn. Con tàu chở hàng của Phần Lan đem Mao Thành Giác đến những bến cảng và ngôn ngữ xa lạ. Nhờ thế, Mao Thành Giác học và nói được 52 thứ tiếng. Hắn cũng trải nghiệm được mọi khẩu vị của con người khắp mặt đất.

Nghiệp chướng chồng chất khi tinh trùng của hắn rơi vãi trên những nẻo đường hoang dâm vô độ, để lại nỗi tiếc hận cho phụ nữ được hắn khai mở cùng lúc đóng lại mọi mầm mống phồn thực phiêu bồng. Nhưng cũng chính oan gia nhà hắn lại cứu hắn thoát khỏi những hệ luỵ truyền giống bừa bãi. Tinh trùng hắn loãng như nước gạo.

Hành trình tới Ấn Độ của hắn bị kéo dài đến gần mười năm.

Trước khi tìm một chỗ để kiếm ăn, hắn muốn biết Ấn Độ thực sự là gì? Mao Thành Giác đã nhìn thấy tứ khổ tràn lan trên mặt đất như Phật chiêm nghiệm. Hắn cũng nhìn thấy bát chánh đạo đâu đó qua các hành giả trầm mặc dưới bóng cây như Phật giác ngộ. Hắn cũng tự tâm soi chiếu cõi tịnh tu bất chợt của mình và chỉ thấy sự lừa mị.

Làm thế nào có thể hành động vô cầu khi lòng dục chất ngất mà không bị kẹt giữa thực tại hỗn mang hoặc chết chìm trong ảo vọng? Bài học của Xô Viết Nga trở thành chân lý. Bao tử khoẻ mạnh, tứ chi phát triển và tinh anh phát tiết. Từ xứ sở kiêng thịt heo đến xứ sở kiêng thịt bò… hắn vận dụng tư duy hoá thân của món heo giả cầy An Nam vượt qua ngã chấp. Giao cấu phi giao cấu. Nghiệp phi nghiệp.

Mút mùa mê hoặc với nghệ thuật làm tình phương Đông, Mao Thành Giác chỉ muốn tu tình. Hắn tự hỏi, làm tình có giải thoát được không? Hắn đã từng kiệt sức với châu Phi nồng nàn hoang dã. Giờ đây, hắn muốn thanh thoát với cả vũ trụ nhiệm màu. Kamasutra, chiêu thức của lạc thú trần gian hay phương cách hoá giải tâm thức và đường đi đến cực lạc giải thoát? Liệu có thể ứng dụng Bhakti Yoga với tâm tình thờ phụng và hiến dâng vào Kamasutra để đạt đến hợp nhất trong một bản thể?

Nhưng đã đến lúc bao tử lên tiếng. Một ngôn ngữ thực dụng. Một thực thể thường tại. Phẩm cách và phong thái.

Ấn Độ nghèo đói và viễn tưởng. Khí trời và phương pháp hít thở phải chăng là tiếng gọi của một bao tử trống rỗng? Bể khổ trầm luân đang ở giữa chúng sinh, cũng như ở trong hắn. Không thể trải nghiệm như một tì kheo khất thực tuỳ tâm của bá tánh, bởi khẩu vị của hắn là một thứ thần linh khác, hắn nghiêm ngặt và đòi hỏi sự hoàn hảo. Lần đầu tiên trong đời, Mao Thành Giác lan man nghĩ đến cái gọi là văn hoá ẩm thực, triết lý ăn uống hay Yoga dinh dưỡng. Các tôn giáo đều hướng đến việc ăn chay như một liệu pháp tiết chế lòng dục. Hắn cần phải đi ngược lại và tìm một nền tảng triết học cho sự thực nghiệm tâm linh kết hợp giữa chất lượng dinh dưỡng, Bhakti Yoga và Kamasutra như một lạc thú tuyệt đối của cuộc sống con người.

Mao Thành Giác đi qua các thánh tích Phật giáo và các đền đài lăng tẩm vua chúa từ Ấn Độ đến Nepal để tìm cảm hứng kinh doanh. Hắn nhận ra nền tảng của tâm linh cũng chỉ là tham vọng vật chất. Không có vật chất thì không có Thượng đế.

Cuộc tuần hoàn ăn, ngủ, đụ, ỉa của cuộc sống con người là khởi nguồn và kết thúc một sinh mệnh. Tâm linh chỉ là sự biến thái và kết quả của cuộc tuần hoàn ấy. Vì thế, ăn không chỉ là biện pháp mà còn là cứu cánh cho hạnh phúc.

Mao Thành Giác về bên sông Hằng linh thiêng lập một lữ quán, phục vụ ăn-ngủ-đụ-ỉa cho chúng sinh.

Có kẻ cầm búa đến và nói: “Tôi có một cái búa.”

Hắn từng nghe nói về người này. Cái búa để đóng đinh và nhổ đinh. Hoặc đập vỡ mặt một ai đó như người này vẫn thường làm.

Mao Thành Giác nói: “Tôi cũng có một cái búa. Ngoài ra, tôi còn có cái liềm. Ông biết công dụng của cái liềm chứ?” Vừa nói hắn vừa đưa tay lên ngang cổ cứa như cắt lúa.

Người cầm búa bỏ đi. Rồi trở lại vào hôm sau với nhiều cái búa hơn, ông ta nói: “Mi phải nộp phạt.”

Mao Thành Giác tỏ vẻ ngạc nhiên: “Sao lại phải nộp phạt cho ông?”

Ông ta nói: “Đây là lãnh địa của bọn tao. Mày chưa xin phép…”

Mao Thành Giác cười xởi lởi: “Ồ… vậy thì tốt quá. Người anh em, hãy cho người của ông đến đây. Hãy làm việc cho tôi. Các ông và cả vợ con các ông nữa. Tôi có rất nhiều thứ cho họ. Sữa, mật ong, cà-ri, vải vóc và than củi…”

Người cầm búa và thuộc hạ của ông ta qui phục Mao Thành Giác, kẻ hào phóng ban phát miếng ăn và áo ấm.

Mao Thành Giác dạy cho đàn ông cách phụ bếp nấu ăn và sự trung thành. Hắn cũng dạy cho đàn bà cách phục vụ và làm hài lòng khách hàng. Riêng món đặc sản bò giả nai nổi tiếng của lữ quán Sông Hằng, hắn chỉ truyền nghề cho những kẻ được tuyển chọn đặc biệt sau một nghi thức bí mật.

Không bao lâu, hệ thống lữ quán Sông Hằng của Mao Thành Giác đã có mặt khắp Ấn Độ và các nước Nam Á khác. Với slogan “Thụ hưởng & Giải thoát”, thương hiệu Sông Hằng mang đến cho khách hàng của mình một trải nghiệm trái nghịch nhưng hấp dẫn, vừa tràn đầy hương vị trần gian vừa thoát tục siêu phàm với những món ăn cực ngon mà không đầy bụng. Không thể tìm thấy ở đâu khác.

Thật ra, sự phát triển của hệ thống lữ quán Sông Hằng không phải lúc nào cũng êm xuôi. Mao Thành Giác từng đối diện với muôn vàn khó khăn tưởng như không thể vượt qua nổi, nếu hắn không mang theo bùa hộ mạng luôn đeo trên cổ. Đó là một miếng vải vàng to đúng ba phân vuông, trên đó thêu hình búa liềm màu đỏ và những hoa văn nhỏ máu. Bất cứ ai nhìn thấy tấm bùa này cũng tự nhiên đái ra quần. Nỗi sợ không kiểm soát được. Một bóng ma của nhân loại xuất hiện từ giữa thế kỷ 19 ở Âu Châu. Theo nó hay không theo nó, người ta đều có thể chết vì búa đập vào mặt hoặc lưỡi liềm cắt cổ. Mỗi khi đối diện với nguy cơ thất bại trước một đối thủ sừng sỏ hay một kẻ sách nhiễu khó chịu trong chính quyền, Mao Thành Giác đều sử dụng đến quyền năng của lá bùa này.

Mỗi tháng, Mao Thành Giác đều có các vị khách quý đến thăm:

Cảnh sát khu vực.

Công an kinh tế cấp quận và thành phố.

Công an hình sự cấp quận và thành phố.

Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy.

Nhân viên Phòng tài nguyên môi trường.

Nhân viên thuế vụ.

Nhân viên kiểm soát an toàn thực phẩm.

Nhà báo các loại.

Các ban ngành đoàn thể từ trung ương đến địa phương.

Càng nhiều người đến thăm, càng chứng tỏ mình như thế nào, anh cựu nông dân Mao Thành Giác tự đắc. Hắn sử dụng mặt trái của cuộc sống như thế mạnh của mình và không làm ai phải thất vọng khi ra về. Một ông chủ đích thực, hắn ban phát và gia ân. Những kẻ sách nhiễu, hắn coi như bọn ăn cắp vặt và chấp nhận như một lẽ thường tình ở đời. Nhưng ngay cả với các đối thủ cạnh tranh, trong mọi trường hợp, hắn vẫn là con người hoà bình. Thần chết còn thương lượng được huống chi con người ta, hắn vẫn nói đùa thế. Triết lý hoà bình và phương châm hành động của hắn: “Cuộc sống chỉ là một cuộc thương lượng.” Tuy nhiên, hắn không cho phép ai chiếm thế thượng phong.

Có một nguyên tắc mà Mao Thành Giác buộc mình tuân thủ, không lạm dụng hay quấy nhiễu tình dục nhân viên dưới quyền. Nhưng với cô gái lựu đạn em út của gã cầm búa, hắn đành phá lệ.

Amanat múa hát huyền hoặc. Giọng cô như tiếng vang của núi rừng. Mỗi khi cô nhảy múa, mọi loại dương vật các kiểu đều ngỏng đầu cách mạng. Bọn đàn ông phát điên. Vú cô không lủng lẳng nhưng Mao Thành Giác cảm nhận nó như hai quả lựu đạn đã rút kíp. Mông cô tròn được treo trên cặp giò suông thẳng, khiêu khích như hai quả bom. Amanat thách thức cái chết. May thay, cô vẫn còn trinh trắng. Bên cạnh cô, cái búa của ông anh luôn nhắc nhở những kẻ liều lĩnh. Mao Thành Giác biết lợi hại của cái búa ấy trước khi biết sự nguy hiểm của cô. Nhưng chẳng có điều gì mà hắn không thương lượng được. Vượt qua mọi lề luật cổ hủ Ấn Độ, Amanat trở thành của riêng Mao Thành Giác, đơn giản như nó phải thế. Khi ấy Amanat mười bảy tuổi.

Dưới tác động của chất lượng dinh dưỡng theo công thức cường dương thoát tục, Mao Thành Giác đã thực hành Bhakti Yoga trong toàn bộ các tư thế của Kamasutra với báu vật Ấn Độ. Và nàng, giống như một nữ thần uyên nguyên, đón nhận sự tận hiến của Giác suốt bốn mươi chín ngày đêm không ngừng nghỉ trong niềm hoan lạc chất ngất vô sở trú. Tất cả mọi thần linh đã chứng giám cho sự viên thành của Giác và Amanat về diệu pháp giả tướng chân như này. Món thịt heo giả cầy An Nam hay bò giả nai trên đất Ấn của Mao Thành Giác đã hoá giải mọi chấp trước của lý sự.

Amanat nói: “Tất cả mọi tế bào, tất cả máu me trong người em đều nhảy múa.”

Mao Thành Giác cũng thú nhận: “Còn hơn cả chìm xuống đáy sông Hằng, hay mất hồn trên đỉnh Himalaya, anh biến tan vào tánh không của bản thể và cái huy hoàng của vũ trụ.”

Amanat trở thành bà chúa của Mao Thành Giác. Huỷ diệt và độ lượng.

Nhưng sự giàu có do Mao Thành Giác mang lại đã nhanh chóng làm hỏng Amanat. Cô thích phô trương sự sang trọng của mình và điều ấy đã làm mất đi phần nào niềm đam mê nhục dục thần thánh vốn là bản chất và sự thu hút của cô.

Amanat biến đổi từ một con bồ câu cần mẫn ái ân thành một con công khoe mẽ.

Mao Thành Giác bỏ quên cô trong lâu đài ven sông và chú tâm vào kinh doanh.

Khách hàng muốn đến ăn ngủ trong các lữ quán Sông Hằng phải đặt chỗ trước. Người ta đồn rằng, ăn ở Sông Hằng sẽ hưng phấn như mãnh thú mùa động tình, ngủ ở Sông Hằng sẽ không mộng mị, yêu nhau ở Sông Hằng sẽ được giải thoát. Bản thân ông chủ Mao Thành Giác cũng nổi tiếng không kém khi tất cả đàn bà con gái đều kháo nhau về cái sừng đỏ không bao giờ oặt xuống của hắn.

Vào đêm rằm mỗi tháng, Mao Thành Giác mở cửa miễn phí nhà hàng của mình cho chị em không phân biệt tuổi tác, mỗi người một lần, được ăn uống thỏa thuê và uống rượu không giới hạn. Không một ai đã ăn và uống ở Sông Hằng lại không lên cơn dâm dật. Đêm ấy, Mao Thành Giác cúng dường cái sừng đỏ của mình cho mọi khát vọng phụ nữ. Và phụ nữ, không một ai không tuột hết ruột gan ra ngoài và kiệt sức trong vòng dăm ba phút. Họ đã làm chứng cho thực đơn của Sông Hằng cũng như nếm trải một kinh nghiệm không có lần thứ hai về tuyệt đỉnh khoái lạc.

Mụ vợ mông bành của người cầm búa, cũng như những bà vợ khác từng được nếm mùi chiếc sừng đỏ của Mao Thành Giác trong háng, không thể không hoài niệm niềm cực lạc siêu thoát ấy, mỗi đêm. Điều ấy làm người cầm búa nổi giận. Những ông chồng quyền lực khác ghen tức. Họ đồng lòng tố cáo Mao Thành Giác làm băng hoại luân lý và hỗn loạn trật tự xã hội. Hắn bị đưa ra trước toà án nhân dân. Những người đàn bà yêu hắn phản đối bằng cách tuyệt thực tập thể. Nhưng toà án vẫn tuyên án, Mao Thành Giác bị xử ba năm tù và đóng cửa vĩnh viễn hệ thống lữ quán Sông Hằng.

Dẫu sao, tiếng tăm của Mao Thành Giác cũng giúp hắn được biệt đãi trong tù. Hắn được đặc cách cho đi chợ nấu ăn phục vụ đám cai ngục. Bọn này vốn rảnh, giờ đây được tăng lực bởi thực đơn của Mao Thành Giác, chúng trở nên hung hãn vô độ. Tất cả đàn bà con gái trong nhà giam đều bị chúng hãm hiếp mỗi ngày.

Ngoài ba bữa nấu ăn, Mao Thành Giác không phải làm gì. Hắn có đủ thinh lặng và riêng tư để trầm tưởng về cuộc đời và ý nghĩa của nó.

Nhà tù không khắc nghiệt, nhưng cũng mất tự do, Mao Thành Giác nghĩ về cách làm lại cuộc đời. Hắn cần đổi chiêu, đổi cả thương hiệu của mình để biến thành một người khác, được kính trọng theo lẽ thường. Và biết đâu… hắn có thể làm chủ cả thế giới này. Cu-ly và vĩ nhân chỉ là một khoảng cách may rủi. Cơn mơ mộng mới ngọt ngào làm sao.

Mao Thành Giác nôn nóng ra khỏi tù. Hắn sẵn sàng đút lót bọn cai ngục để được khoan hồng giảm án. Nhưng bọn cai ngục ưa thích món ăn hắn nấu hơn tiền. Vì tiền không mua được những cơn động dục nóng bỏng và tràn trề năng lượng. Hắn ở tù đúng ba năm. Cay đắng vì uổng phí thời gian và tinh hoa của mình cho bọn súc vật.

Chán ngấy Ấn Độ, Mao Thành Giác cuốn gói sang Mỹ.

Cập cảng Boston cổ kính, hắn tìm được việc tại một nhà hàng trên đường School. Ngoài chuyện độ nhật qua ngày, hắn muốn nghiên cứu phong cách và sở thích ăn uống kiểu Mỹ. Khác với Paris, khác với Alger và khác với các thành phố nhếch nhác của Ấn Độ, Boston gợi ý cho hắn về một cuộc cách mạng ẩm thực mà hắn tin rằng chỉ có thể thành công trên đất Mỹ, nơi chấp nhận sự thay đổi.

Khi ấy, đại cách mạng văn hoá của Mao Trạch Đông bùng nổ ở Trung Quốc. Tin tức về các vụ đấu tố giết người hàng loạt cũng như cao trào huỷ diệt văn hoá truyền thống một cách điên cuồng của đám Hồng Vệ Binh làm máu trong người Mao Thành Giác sôi sục hứng khởi. Đêm tối từ phương Đông đã bao phủ địa cầu. Ngu dốt đạt đỉnh. Bầy đàn phô trương sức mạnh. Chưa bao giờ Mao Thành Giác lại cảm thấy gần gũi máu thịt với Mao Trạch Đông đến vậy. Người cầm lái vĩ đại đã ở trong hắn. Mao Thành Giác phất cờ. Hắn quyết định bỏ Boston lên New York, trung tâm của thế giới. Tại đây, hắn đọc thơ Charles Bukowski và la cà với bọn giang hồ ở khu Harlem. Nước Mỹ được nhìn từ đáy.

Mao Thành Giác, kẻ nứng cặc khôn nguôi, thích mùi của các phụ nữ đậm màu. Đêm nào không ngửi mùi cơm cháy trong háng Jane, hắn không ngủ được. Cũng như Malika, mùi bò rừng ở Algeria. Amanat, mùi dê non ở Ấn Độ. Mùi mắm của các bà goá ở quê nhà. Giờ đây Jane, đêm của đế quốc Mỹ làm hắn ngây ngất. Các em trắng ngần ở Paris không để lại một dư vị nào.

Mao Thành Giác nói với Jane: “Anh có cảm giác như cả không gian này chỉ có mùi em. Mùi hành tây, mùi thịt nướng và cả mùi bơ sữa nữa. Anh cũng ngửi thấy cả mùi mía ngọt…”

Và mùi của Jane như một khải thị từ sâu thẳm. Mùi con đực và mùi con cái bao giờ cũng mang đến một cảm thức hồi hướng cội nguồn. Mao Thành Giác đã biết cuộc cách mạng của mình bắt đầu từ đâu.

Các nhà viết sử, các nhà báo, các nhà văn và cả các nhà tư tưởng hẳn sẽ ghi nhớ sự kiện trọng đại này, cuộc cách mạng ẩm thực làm thay đổi thế giới và cảm xúc con người bắt đầu từ những đêm Mao Thành Giác úp mặt trong háng đen đủi của Jane.

New York rộng lớn, nhưng không ở đâu thích hợp hơn khu Chinatown để Mao Thành Giác mở nhà hàng ăn uống và nhà nghỉ Ánh Sáng Phương Đông của mình. Cùng với slogan “Thụ hưởng & Giải thoát” như hồi ở Ấn Độ, bảng hiệu Ánh Sáng Phương Đông còn có một ghi chú “Ăn chay nhưng không kiêng thịt”.

Trong khi các món chay ở Châu Á thường giả thịt cá bằng rau củ, đậu hũ và nấm… thì ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông, công thức chế biến hoàn toàn ngược lại, thịt cá biến thành rau củ… Vì thế, các món ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông luôn mang đến cho thực khách một cảm giác thanh tao thực vật, cũng như thấm đẫm ý vị chay tịnh đầy màu sắc tôn giáo.

Để làm được điều này, Mao Thành Giác ngâm tẩm tẩy mùi cho thịt cá rồi tạo hương vị mới bằng cách kết hợp các loại rau thơm theo các tỉ lệ khác nhau, tạo nên mùi người đủ các sắc tộc. Đặc trưng và gây nghiện. Đồng thời tẩy não người tiêu dùng thông qua các mật chú Tây Tạng và những kiến giải tâm linh. Tu tại tâm.

Mỗi món ăn mang một tên gọi như kinh cầu, mật chú hướng đến khát vọng an bình, chân tính và giải thoát, nhưng tác dụng cụ thể vào cơ chế vận hành thân xác lại trái ngược. Món “Lễ hiến tế Chúa Trời” bò nướng than có thể mang lại cảm giác muốn giết người. Hay món “Cánh chim hoà bình” bồ câu chiên nước mắm có thể tạo ra sự kích thích dâm dục. Hoặc món “Om Ah Bira Khe Chara Hum” heo tiềm thuốc bắc, tụng niệm 7 lần trước khi ăn có thể chuyển hoá thịt thành cam lồ và giải nghiệp xấu của việc ăn thịt, nhưng lại mang đến sự hưng phấn toàn diện cho người ăn. Món “Om Kuru Kulle Hri Svaha” gỏi gà xé phay, vừa ăn vừa tụng niệm sẽ giúp may mắn trong kinh doanh, đồng thời tạo ra sự thu hút, quyến rũ… cả về tinh thần lẫn thể xác.

Hiểu biết luật pháp Mỹ, Mao Thành Giác cho đăng ký bản quyền toàn bộ tên gọi cũng như công thức chế biến thực phẩm của mình.

Như thế, cuộc cách mạng ẩm thực của Mao Thành Giác đã bắt đầu bằng các tên gọi mang tính giả danh và món ăn thực chất là giả tướng.

Mỗi món ăn đều có bản hướng dẫn nghi thức tiếp nhận cũng như ý nghĩa và tác dụng của nó. Cái ăn là gốc của mọi sự. Vì thế khi ăn, không được văng tục, chửi thề. Ăn món nào, hướng tâm vào tên gọi của món ấy. Thụ hưởng và giải thoát.

Trong lúc ca tụng J. Krishnamurti, người ta cũng không quên Mao Thành Giác như một người giải phóng truyền thống và bạo lực tinh thần. Suy tôn một đức tin mới, nhưng Mao Thành Giác không tìm kiếm sự minh triết, hắn tin vào sự linh thiêng nội tại của các phẩm vật thiên nhiên mà trời đất đã ban tặng cho con người. Ăn là đạo của sự sống. Người Mỹ hoan hô hắn và họ đã đến với Mao Thành Giác như kẻ tiên tri cho một thời đại mới. Dưỡng sinh là dưỡng dục.

Cũng như mọi nhà hàng khác của Mao Thành Giác xưa nay, tất cả mọi thực khách đến với Ánh Sáng Phương Đông đều phải đặt chỗ trước và đăng ký thời gian ngồi tại nhà hàng. Đã xảy ra nhiều trường hợp như của gia đình nhà Williams gồm vợ chồng và hai con, khi tới lượt họ được mời vào nhà hàng thì ông chồng đã không thể có mặt vì đã ly dị vợ trước đó hơn một năm. Không thiếu những cặp tình nhân đặt chỗ từ lúc họ mới yêu nhau, nhưng khi có thể ung dung ngồi thưởng thức sự lãng mạn của mình trong nhà hàng thì đã phát sinh người thứ ba, đứa con mới ra đời. Những trường hợp bất khả kháng như thế, Mao Thành Giác luôn chấp nhận thiệt thòi để làm vui lòng khách đến.

Rồi Mao Thành Giác mở nhà hàng thứ hai ở Washington DC. Và trong mười năm kế tiếp, hắn đã có chi nhánh ở 52 tiểu bang nước Mỹ. Mỗi tiểu bang chỉ có một thánh đường ăn uống duy nhất mang tên Ánh Sáng Phương Đông, bởi Mao Thành Giác muốn người ta phải đến nhà hàng của hắn như một cuộc hành hương.

Có tin đồn rằng, các cựu tổng thống Mỹ đều đã từng đến ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông. Qua đấy, họ nhận thức được giá trị của cuộc sống không là vinh quang hay quyền lực mà ở sự đơn giản và chân thực. Có một cựu tổng thống đã đăng ký ăn liên tiếp một tháng mỗi năm cho đến khi ông ta qua đời. Ông coi đây là thời gian để bảo dưỡng tinh thần và điều chỉnh sức khoẻ.

Người ta cũng truyền tụng, các cặp vợ chồng hiếm muộn có thể tìm thấy hạnh phúc về đường con cái nếu được ăn uống theo thực đơn của Mao Thành Giác.

Nước Mỹ không chỉ là nơi người ta đến kiếm tiền làm giàu và thụ hưởng tự do. Nước Mỹ cũng không chỉ là nơi có thể truyền bá mọi tư tưởng, mọi lối sống. Không phải Israel mà chính nước Mỹ mới là đất hứa của Chúa. Mao Thành Giác xây cho mình một biệt phủ mô phỏng kiến trúc Tử Cấm Thành của Trung Quốc trong khu Chinatown thành phố San Francisco. Tại đây, hắn tìm hiểu cuộc đời Mao Trạch Đông và đọc các trước tác của ông này. Hắn vẫn tin rằng, hắn có máu huyết với người cầm lái vĩ đại, mặc dù hắn được sinh ra ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước tác của Mao Trạch Đông không ảnh hưởng gì đến hắn. Thậm chí, hắn còn cho rằng có thuộc lòng “Mao Chủ tịch ngữ lục” cũng không bổ ích bằng ăn một bữa tại nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông. Mao Thành Giác chỉ ngưỡng mộ con người này về cách ông ta chiếm đoạt quyền lực và vận hành quyền lực trong đời sống xã hội. Tính cách đế vương, độc tài và tàn nhẫn, sử dụng sinh mạng con người như công cụ, Mao Trạch Đông là đỉnh cao, hội tụ và điển hình cho các loại vua chúa phong kiến và vô sản. Các thông tin mang tính ngoại sử về sinh hoạt tình dục của Mao Chủ tịch càng làm cho Mao Thành Giác cảm thấy mình gần gũi hơn với ông ta.

Tại Biệt phủ Mao Thành Giác, mỗi năm cứ vào dịp tết nguyên tiêu, hắn lại tổ chức tuyển chọn một trăm gái đẹp mới cho mình, chia ra ở trong năm cung, và đặt tên theo ngũ hành. Cung Kim dành cho gái da trắng, Cung Thổ dành cho gái da vàng và nâu, Cung Thuỷ dành cho gái da đen, Cung Hỏa dành cho gái da đỏ. Hắn ở cung Mộc là màu của bầu trời và cây cỏ trên mặt đất. Mỗi đêm, hắn ngủ với bốn cô, bốn màu da khác nhau như cách giao hoà với trời đất. Hắn cho rằng, khi ngũ hành tương sinh mọi điều tốt đẹp, vì thế, không những hắn thường làm tình với bốn cô một lúc, đồng thời hắn còn cho các cô làm tình với nhau. Ngoài ra, khi ngẫu hứng vào ban ngày, hắn chơi trò “bịt mắt bắt dê”, dành riêng cho các cô thích bạo dâm.

Mao Thành Giác, cũng như mọi vua chúa ở phương Đông, tin rằng tinh anh và hơi hướng của gái trẻ có thể là một phương thuốc trường sinh bất lão.

Sảnh Thiên Đường nằm trong Cung Mộc rộng mỗi chiều bốn mươi thước, trống trơn, chỉ có hoa treo trên các vách tường. Nơi đây dành cho đêm cuối tuần. Tất cả một trăm cô đều có mặt. Họ tổ chức các cuộc thi xem ai dâm đãng nhất, làm tình kiểu cọ đẹp nhất.

Khi ấy, “Hiệp hội các Đầu bếp Thế giới” được vận động thành lập. Mao Thành Giác tham gia với tư cách sáng lập viên và ngay nhiệm kỳ đầu tiên, Mao Thành Giác dễ dàng nhận được sự tín nhiệm của toàn thể các thành viên trong chức vụ chủ tịch. Không chỉ bằng danh tiếng của mình, Mao Thành Giác còn khuất phục các đại biểu bằng một tiệc chiêu đãi trọng thể trước cuộc bầu cử tại nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông và một đêm đế vương trong biệt phủ. Không một ai, cho dù là chủ nhân của các nhà hàng danh tiếng hay những kẻ lịch lãm nhất, thoát khỏi bị rơi tõm vào cơn thảng thốt mê cuồng khi nhấm nháp thực đơn của nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông và tận hưởng sự phục vụ vô tiền khoáng hậu của một trăm cô gái được tuyển chọn trong biệt phủ.

Mao Thành Giác được gọi là Chủ tịch Mao, nhưng để phân biệt với Mao Chủ tịch của Trung Quốc, Mao Thành Giác được gọi ngắn gọn là “Mao Chủ”.

Mao Chủ tịch của Trung Quốc thích giết người, Mao Chủ cũng muốn giết người. Dưới các chính sách của người cầm lái vĩ đại Mao Trạch Đông, khoảng 45 đến 75 triệu người đã chết theo các thống kê khác nhau. Tuy nhiên, Mao Chủ không muốn hơn thua với Mao Chủ tịch về sự hung ác, hắn có cách khác. Cho dù các cuộc điều tra sau này của FBI xác nhận tất cả các cô từng ngủ với Mao Thành Giác, sau khi bị rũ bỏ đều tìm cách tự sát, nhưng FBI không thể kết tội hắn. Có một sự thật không được khám phá, ngay cả với các nhà tâm lý trị liệu, tất cả các cuộc tự sát ấy đều có cùng một nguyên nhân, thiếu cái sừng đỏ của Mao Thành Giác trong háng hoặc không còn được ăn các món ăn do Mao Thành Giác nấu. Một cảm thức tuyệt vọng và bơ vơ cùng tận. Cái chết giải phóng họ khỏi niềm hoài cảm và nỗi ám ảnh khôn khuây.

Mao Thành Giác là sự sống và cái chết.

Nếu Mao Trạch Đông với chỉ riêng phong trào toàn dân diệt chim sẻ đã khiến cho khoảng 36 triệu nông dân Trung Hoa chết đói vì mùa màng thất bát, thì Mao Thành Giác cần cho thế giới biết sự vĩ đại chân chính của mình như thế nào. Nhưng dù sao, Mao Thành Giác vẫn phải học tập Mao Trạch Đông, hắn cho phát động phong trào quốc tế “Diệt ruồi cứu nhân loại” thông qua Tổ chức Y tế thế giới WHO và sự hỗ trợ thông tin của báo chí, dưới ngọn cờ bảo vệ môi trường trong sạch, bảo vệ sức khoẻ con người. Không có ruồi, ăn ngon hơn, không bị lây nhiễm các loại bệnh bởi ruồi. Mao Thành Giác đóng góp thực tế cho phong trào bằng cách tặng mỗi hộ gia đình tham gia hai vỉ đập ruồi. Tổng số lượng vỉ đập ruồi mà Mao Thành Giác đã cung cấp lên đến hàng trăm triệu cái. Chiến tích diệt ruồi của mỗi hộ gia đình, tuỳ theo số lượng ruồi chết tích luỹ được, sẽ được tưởng thưởng bằng một huy chương “Chiến sĩ diệt ruồi” do WHO trao tặng và những xuất ăn đặc biệt cho cả gia đình do nhà hàng Áng Sáng Phương Đông đóng hộp gửi đến tận nhà.

Kết quả của chiến dịch này đã cứu được hàng tỉ người trên hành tinh thoát chết vì tiêu chảy. Mao Thành Giác trở thành “Doanh nhân Văn hoá Thế giới”, một huy hiệu cao quý do UNESCO tuyên dương. Nhưng bọn phản cách mạng hậu hiện đại vốn coi các đại tự sự chỉ là giẻ rách, nhân sự kiện này đã đặt cho Mao Thành Giác, tức Mao Chủ một hỗn danh mới, Mao Ruồi.

Lịch sử ghi nhận sự góp phần của Mao Trạch Đông cũng như Mao Ruồi trong những tác động làm thay đổi cuộc sống con người. Nhưng hậu thế sẽ không bao giờ được chứng kiến cái khí thế toàn dân Trung Quốc dưới ánh sáng soi đường của Mao Chủ Tịch quang vinh hồ hởi phấn khởi đi bẫy chim, săn chim, đuổi bắt chim như thế nào… Cũng như cảnh tượng ba phần tư nhân loại, theo sáng kiến vĩ đại của Mao Ruồi, tay cầm vỉ đập ruồi, tay cầm cái lọ hoặc bịch nylon, thi đua bắt ruồi… nó hùng dũng ra sao.

Đã từng sống ở Ấn Độ và biết đến Mahatma Gandhi, nhưng Mao Ruồi không học được gì từ triết lý bất bạo động của Gandhi. Hắn vẫn luôn ngưỡng vọng Mao Trạch Đông, kẻ bạo loạn hoang tưởng và tận kỳ lực đến dã man, theo cách của một tên hề. Trên đỉnh vinh quang hay trên ngọn cương dương sấm sét, Mao Ruồi tự coi mình là kẻ dẫn dắt. Hắn muốn thế giới thuộc về mình. Và hắn đã làm. Thành công với phong trào diệt ruồi, Mao Thành Giác tiếp tục giương cao ngọn cờ cách mạng ba sẵn sàng “Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch” vì một nhân loại văn minh hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn. Cũng với sự hỗ trợ của WHO, chiến dịch này được cổ vũ trên toàn thể các nước Á Phi và Nam Mỹ. Cũng từ đó, chuỗi nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông đã mọc lên khắp thế giới. Ánh Sáng Phương Đông, một thương hiệu toàn cầu và thêm một lần nữa, ai không một lần trong đời đến ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông chưa phải là người biết sống.

Việc ỉa sạch là một kinh nghiệm có từ miền Bắc Việt Nam với các hố xí tập thể, được doanh nhân văn hoá Mao Ruồi nâng tầm quốc sách cho các quốc gia chậm phát triển. Ăn rồi ỉa, ỉa lấy cứt làm phân bón cho ruộng đồng. Cuộc xoá đói giảm nghèo luân hồi của cứt huy hoàng tráng lệ và đầy tính nhân văn. Lại một lần nữa, ai không từng đi ỉa ở các hố xí xã hội chủ nghĩa thì chưa thể biết đủ tứ khoái và thống khổ của con người.

Mùi cứt nồng nặc. Mùi văn hoá cách mạng. Mùi thời đại. Giá trị của cứt là giải thoát và đắp bồi. Cho dù hố xí hai ngăn là môi trường tốt nhất cho ruồi sinh sôi, nhưng vì cứt, nhân dân lại càng phải ra sức diệt ruồi. Cuộc tuần hoàn Ruồi – Ăn – Ỉa trở thành một hành trình bất tận của phong trào thi đua yêu nước được các chính quyền khắp châu lục phát động theo từng quý.

Mùa xuân, chiến dịch có khẩu hiệu:

“Mừng xuân toàn dân nô nức

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa hè:

“Học sinh, sinh viên hăng hái

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa thu:

“Vì cuộc sống thân yêu, phụ nữ

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa đông:

“Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch

Thể hiện sức mạnh toàn quân”

Phong trào được tổng kết sau ba năm. Liên Hiệp Quốc ghi nhận, châu Phi đạt thành tích cao nhất, chỉ số hạnh phúc của người dân đứng đầu thế giới và tuổi thọ trung bình tăng lên 5 tuổi. Cuộc cách mạng ngoạn mục nhất trong lịch sử của lục địa này.

Đây cũng là thành tựu được công luận ghi nhận và mang đến cho người dẫn đường Mao Ruồi sự vẻ vang tột đỉnh. Tự điển danh nhân thế giới xuất hiện mục từ “Mao Thành Giác”. Trong đó, Mao Ruồi được mô tả như một chiến sĩ văn hoá, người phát động các phong trào xã hội mang tầm thế kỷ và đem lại lợi ích thiết thực cho hàng trăm triệu người. Tuy nhiên, các chiến tích về cuộc cách mạng ẩm thực và tính dục chỉ được nói ngắn gọn: “Người khởi xướng phong trào Eat to Fuck.”

Nhưng Mao Ruồi đột ngột trở về Việt Nam, giữa lúc vinh quang và giàu có. Cả FBI và CIA của Mỹ đều không lý giải được.

Tất cả tài sản sau bao năm tích cóp hắn bán hết và gửi tiền vào ngân hàng Thuỵ Sĩ. Mao Ruồi nặn ra một lý lịch mới, đóng vai kẻ thức ngộ và tự viết tiểu sử.

Just like that, an arm pit hair from an illiterate farmer from Mơ village, in the land of Mận... as predestined was pulled out from a dark damp hole. The hour of the horse, the day of the rooster, the month of the monkey, the year of the dog... according to the Lunar calendar, the farmer trying to ease an itchy inflamed lump pulled out the curly hair without much thought, brought it up to his lips and brew... The arm pit hair flew into the sky. He said: "Take my itch and pass it around the world."
In the wind, the suspended arm pit hair drifted through a gap in the door of a teacher, thầy đồ. Thầy đồ is an educated man who had failed too many exams to pass as a Mandarin scholar. Here in the gap, day and night were the sound of genteel saints, reciting the Four Books and the Five Classics, a collection of authoritative texts fundamental to Confucianism together with what were essential to the prosperity of tradition, the hair turned into a horn. Before long on the teacher's wall the imposing ox horn was proudly displayed. In that same year, his wife gave birth to a baby boy. The boy from birth was endowed with a large penis. Bright red and hard.

Fully grasping the significance of the hair aspiration of becoming a horn, the failed Mandarin named his son Mao Thành Giác. Even though, he was born into the house of Nguyễn.

Even though his father is thầy đồ, Mao Thành Giác still had to tend to their ox like all the other children in the village. His dreams of becoming a horn as the days passes by became more and more earnest. The children in the village loves Mao Thành Giác because of his likable disposition, curious nature and dreams that made them felt as though they too could fly. His mind never stopped thinking about their next mischievous adventure from fighting to peeking at girls bathing in the river, or getting change. By the time he was twelve, he could sniff out the smell of a woman's crotch and the boss of all the children in the village.

Mao Thành Giác asked the children in the village: “Do any of you know the smell of a girl’s crotch?” The children looked both stunned and stupid by the question, nothing like that have ever entered their mind. “Have you smelt it?” Prancing he announced: “I know things, none of you know about.” “How?” “If you want to know, sitting down.” Some of them did not sit down. He then said: “Get lost if you don’t want to listen.” All the children sat. “Listen, all I had to do was pretend to trip… grab onto the hip of the girl I want to smell and it’s done.”

Mao Thành Giác again asked: “Lunch today, do you guys want a feast?” The children now really excited: “Yeah… Yeah…”

“Follow me.”

He spotted an ox far away. The gang of them gathered around the ox, pulled it back to the water hole in their village to harass the poor kid who was herding the ox: “You let your ox wash in our water hole, leave your lunch here if you want it back.”

The nature and character of Mao Thành Giác amounts to his ability to force others into submission.

Sometimes, enthusiastically he would reveal the vigour of the leader of a nation by making the children carry him on their shoulders in a procession as though he was a king. He was also keen on having one of the kids on all fours on the ground so he can use them as a stool to get onto the back of his ox for a ride. The children, none of them dare go against him.

One of the smaller boys followed him every where only because he wanted to know about what was infinitely a mystery: “What does a girl’s crotch smells like?” He replied: “You can’t describe it. Find a way if you want to know what it smells like.” The poor kid after being slapped black and blue so many times eventually found out for himself the smell of a girl’s crotch, he said: “Smells like pee.” And that was the crotch of the little girl who herds ducks on the outskirts of the village. It didn’t take much time before the small boy’s mind blossomed, not only does the female crotch smells like pee but that it was “infinitely attractive”, even though Mao Thành Giác have already had the first sniff he still chased after the prettiest girl in the village. When this small boy grew up, he became the confidant, he was the one who brought girls over to console Mao Thành Giác.

There was nothing Mao Thành Giác could not do. When he turned fifteen, he was fully aware of the value of the horn in his crotch. All the widows in the village can attest to it. They said: “Never before has there been a man with such a magnificent instrument.” One daring woman recounted: “It’s hot like an iron pipe.” Another woman claimed: “It’s more horse than human.” But conquering the female disposition was not Mao Thành Giác greatest joy, within his deepest desire of becoming a horn, he also wanted the men to at his feet kneel. His father, the esteemed teacher of the village seeing the flame danced within his son’s heart, hence forth, he put more energy into taming Mao Thành Giác’s behaviour with moral principles, sage practices and tradition. But there were no cure for a fanatical flame of desire that had burned everything that were sage within him, himself included.

When his family and the village became too small, too narrow too tight compared to his heroic elegant dreams, Mao Thành Giác left his family, his home and village. The year he turned seventeen.

In town, Mao Thành Giác first job was a kitchen hand at a place where generally men go to drink, quán nhậu, he earned enough money for food and board. Town taught him how to smoke, drink, sleep with women. The condition aligned with life in town was his crushing work load as a hired help. He worked from one eatery to the next accumulating all the possible pain and injustice. But not once did he allowed himself the humiliation of pity. The actual places where he were both used and crushed, standing was the form of a different Mao Thành Giác led as though by some nefarious entity, evil force, down a dark path. He wanted to be the best chef, an inpiration to the world, as someone who genuinely loves his work. But before he could be this magnificent person of service to society, he had to surpass a payless epic journey never to be repeated by a stove in a hole on a boat across the ocean docking at all kinds of kitchens restaurants possible places serving food all over the continent.

By the time Mao Thành Giác was twenty, he had managed to grasp the delicate yin and yang nature of each ingredient in his kitchen, a master of spices. A patron of Nhà Hàng Mộng Xanh was a writer that he later discovered was a florid food critic, from street food to fine dining. A person of know-how in the world of literature in An Nam.

The writer complimented Mao Thành Giác on his special “Giò heo giả cày”, a dog stew that used pork in place of dog meat: “You are a very fair man.”

Surprised, he politely asked: “I don’t understand?”

The writer swallowed a mouth full of white wine, took his time before replying: “Because you have manage to retain the value of pork and at the same time appraised the flavour of dog meat.”

He asked again: “You care about fairness?”

Like him, the writer was no less surprised. He made no attempt to hide his curiosity, the writer eyes surveyed Mao Thành Giác from head to toe: “Sure… and is fairness something you also care about?”

With the utmost humility Mao Thành Giác replied: “I am a cook, I will not allow a single ingredient to lose its spot on the tongue of those who comsume my food.”

The writer stood up: “If it’s okay, may I invite you to join me for a drink?”

He hesitated before replying: “Yes but, just one.”

“Please, excuse me for a moment” he apolgised before turning back towards the kitchen to fetch a small glass similar to the same glass that was in the writer’s hand.

The writer: “Please.”

Respectful Mao Thành Giác bow his head before lifting his chin to swallow the alcohol in one gulp.

“Thank you.” He said. “I have to get back to my station.”

The writer eyed him from head to toe again as though he was a rare exotic creature: “When will you be free again?”

“I’m sorry, but that was it.” And it was true, there was no spare time. He accompanied his boss to the market in the morning to buy the ingredients. He can only leave after all their patrons leave, and that was pretty late into night.

The writer was quiet for a moment, somewhat disappointed: “I want to invite you for a private meal.”

Astute and quiet… was his apology before retreating, he thought the writer was not quite all there.

“Fairness” was a sensitive terminology.

The second time he saw the writer again was at a newstand. It was when, his boss had learned all his tricks in the kitchen so he was suddenly out of a job.

The writer was openly glad: “Are you free today?”

“Yes… and I will be free for many days to come.”

“Then come, come with me” the writer said.

Quietly he followed the writer into a cafe.

The writer asked: “What’s wrong, tell me.”

He replied: “I just lost my job, just that.”

“Where are you heading to now?”

“I don’t know. But I thought about going back to school. I want to learn French.”

The writter nodded encouragingly: “That’s good. But why are you learning French?”

Deep within his heart, was the desire to go places, travel… and master the cuisines of the world. But instead he revealed something that had never entered his mind: “I want to learn it so I can get a job in government.”

The writer chuckled: “In that case you should try and apply to get into École Coloniale.”

He also chuckled: “Yes, but I have to be fluent in French before I can apply. As you can see, I don’t have money. Can you teach me?”

The writer said: “My french is not enough to teach anyone. You probably get a better chance learning French if you apply for a job at a French restaurant or a French cruise ship. The one on one contact would also be the fastest way for you to learn. And a way to earn a living.”

Mao Thành Giác face lit up. The sky suddenly opened up.

The next day, at the ship dock, Mao Thành Giác searched for the sailors who were regular patrons where he used to work. He asked them if they can help him find a work as a kichen hand on their ship. A week later, he was on the AFT, a French carrier heading for Marseille.

On the carrier, Mao Thành Giác learned how to prepare simple french dishes. Sometime for a change he would reveal his talent in the kitchen by making An Nam ramen. The sailors loved him because he was very An Nam. He was very proud: “There must be something about me people like so much”. That something of his were the lies he told so people can feel good about themselves, as though if they did not feel good it was his problem. African descendants on the carrier would often tell him stories about the plight of those who have been colonized and impoverished conditions. There were whispers of a proletarian revolution in Russia. Mao Thành Giác then had no concept of any kind when it came to politic, but he loved the stories about the life of Vladimir Ilyich Lenin and how he seized power from the Tsar. Mao Thành Giác saw the times.

More than a month later, the AFT was wharfed in Havre. Blinding was France in the eyes of Mao Thành Giác. He descended the ship and never looked back. When he found himself in Paris, he stumbled upon a couple of his countryman. They helped him survive by delivering newspaper. They also taught him proper French and how to write for the paper to earn extra cash. It was then that Mao Thành Giác’s desire to get into École Coloniale most, but the application he sent to the minister of École Coloniale was denied, even though he sincerely pleaded, “I pledge to be a loyal servant of the great motherland.”

One of the founder of of The Wretched publication, media outlet fighting for independence of colonized nations, shared with Mao Thành Giác: "The first and foremost hardest task is the enlightenment of the people. Knowledge is the key to the liberation of one's identity and the foundation for progress. Hence, you must get an education, and this education is a lifetime goal..." It was something Mao Thành Giác already understood, in fact his understanding were beyond that, the ignorance of the crowd was actual premise behind all the forces of a revolution.

His resentment for France denying him a chance to serve, was the not the reason Mao Thành Giác found himself in the land of Lenin in folklore to attain the knowledge of how ignorance could be a tool used to lead people by the nose. Entered Russia through Germany, he arrived in Moscow and was accepted into The Communist University of the Toilers of the East via the recommendation of The French Communist Party. But only after a year, Giác left, realising that Russia and the proletarian revolution had no place for him. Mao Thành Giác wanted to feel good. He never stops searching for what makes him feels good, but in Soviet Russia, one hand of what makes him feel good was condemned as the contempt of individualism, on the other hand what makes him feels good were the empty promises of all those dogmata. He saw how there was no escape in socialism. How the communist regime is synonymous with starvation, fear, cages and livestock. However though Communism, Mao Thành Giác had learned a big lesson, the material gives rise to living no different to society, precisely more so, the stomach defines the attributes of the human condition. And that fact alone, changed his life.

All the slaves around the world stood up, to never hold any gains or power in their hands as promised in the National Anthem, the slaves continued to be slaves striving for efficiency, wholly bettter slaves to a new ideology and power. The spine chilling thought helped Mao Thành Giác dug his way out of this great dream of unity, a revolution of his own. Returned to Paris, he continued on his destined path, he became a chef.

Eyes opened or closed, Mao Thành Giác was like an arrow always head first moving forward. He found a place to rest his feet at a fairly decent restaurant at the heart of Paris, conspired to overthrow all dogmata.

It was his time, Mao Thành Giác flaunted the power of the bright red horn between his legs. Though could not be compared to a Fremchman, but to compensate, what he had was a world class horn, with the unique ability to rise on command fitting all kinds of holes shape and size between the thighs of a woman. It did not matter which continent these women came from they were all obsessed with him. Mao Thành Giác was paid to serviced half the population of the world. He lived at the tip of glory of his horn. And that was how, the history of a coolie from the colony was rewritten to reflect rightly such an exceptional horn. Mao Thành Giác was drawn and coloured in like Mơ village guardian deity, in the land of Mận in folklore… Not single woman who slept with him was left wet.

Mao Thành Giác, the greatest avenger of all time of a feeble and colonial nation like An Nam, a consolation for all exiles and wretched souls.

Mao Thành Giác, more respected amongst those who were most respected because his food was able to satisfied the human thirst for happiness.

The way food was prepared from Mao Thành Giác's unique recipes were always innovative and in comparatively delicious. Dining with a menu designed by Mao Thành Giác were not just art and culture or sophistication, it was an affirmation of the core of nutrition and nourishment, for both men and women of all ages faultlessly enhanced their sexual vitality.

Việt Nam vô địch muôn năm, Vietnam undefeated, long live Vietnam. The echoes of those cheers resounding still many generations after.

Mao Thành Giác was famous in Paris. The praise by word of mouth: “If one have not consume one of Giác’s creation one have not lived.” And the women, they claimed: “If one have not been consummated by Giác’s horn one will never be able to appreciate the veracity of what is means to be truly consummated by a real man.” Mao Thành Giác was a cultural phenomenon when it comes to fine dining and the art of love making for the couple of decade before and after the second world war.

Paris representative of Western civilization, but that capital city of light was not enough for Mao Thành Giác's extreme appetite for endless revelry without beginning or end. In Paris, he was missing a dark shadow, the pure root of his desire for sex. Hence, when an old friend from Algeria, they met on the AFT sometime ago asked him to go home with him and open a restaurant, without much thought it was an obvious choice, Mao Thành Giác agreed to packed up everything he had and left Paris, followed his friend to mysterious Africa, even though he was fully aware of how muslims were not the kind of patron for the cuisine served in his kitchen, but the strick laws like the burqa Muslim women must wear was an intense turn on. He wanted to break down all the barriers. He believed that temptations easily follows always what is forbidden. Mao Thành Giác opened a private restaurant, Pieds Noirs serviced expats from France and decendants from Europe in a land of fastings.

Before there was even a chance to tear off a veil of any Algerian virgin, Mao Thành Giác had already caught the eye of the clever Malika, who knew exactly how to reveal and display her beauty, more than a thousand fresh face young men new to the game from all race colour and nationality have fallen into her hands, pulled down their pants.

The demon of Paris returned to her homeland impersonating the little red riding hood, asked: “How come your penis big?”

The An Wolf said: “It’s big because of you.”

The African red riding hood again asked: “How come you penis is so hard?”

The An Nam wolf proudly announced: “Ah… It’s hard you can experience the joy of Eastern folklore.”

The girl pretending to be innocent continued: “How come you penis is so shiny?”

Swelling with pride the wolf of An Nam said: “It’s shiny to let people of this world know today is the day your vagina will shine.”

The demon of Paris on the early retirement smiled was so wide no one could see her eyes. Her eyes were like caterpillas. She was impressed by how Mao Thành Giác could make her feel absolutely petrified.

Instead of being swallowed alive, the red riding hood Malika excitely admired the wonder of Eastern culture, she caressed and savoured it skillfully with her volumptous lips and soft tongue. The wolf Mao Thành Giác was led into the forest. And he was turned back to his wild untamed ways.

His soul was trapped forever inside the wild vigina of the goddess of demons. The ferocious, frenzied red bull’s horn pierced the murky, damp darkness of an ultimate prospect for existence, for four thousand years of civilization to hime was like a blurr. Mao Thành Giác saw the radiant Brahma atop the thunderous peak of his penis. His wisdom was awakened. From then on, the idea of ​​going to India in his heart became a mission.

Malika was an expert in bed and she was his sailor friend younger sister. She was clever enough to manage Pieds Noirs with Mao Thành Giác. She also had a long list of relatives lining up behind her asking for help. Hence, nearly all of the staff working for Pieds Noirs were in way or another related to Malika. That was also the reason for the down fall of the restaurant even before it took root became apart of the barren soil of Africa.

When the colonial regime came to an end, most French people returned to France. A bunch of “black-footed” Europeans and their “henchmen” who clung to the colonial empire also followed the French. He didn’t think he could do business with devout Muslims, so he sold off what he could of his dilapidated restaurant and emigrated to India.

But the familiar tiny stove on the carrier and sailors in various colour skin once again called him. The Finnish cargo carrier exposed Mao Thành Giác to wharfs and languages all foreign to him. Hence forth in the end, Mao Thành Giác could converse in 52 languages. He was also able to experience the taste and flavours the world could offer.

The mounting karmic consequence of his sperm scattered along the paths of his unrestrained debauchery, the regret of the women he had deflowered as his body simultaneously shuts down all seeds of procreative pleasure. He was his own worst enemy , his body saved him from the consequences of indiscriminate procreation. His sperm was as watery as rice water.

His journey toward India took nearly ten years.

Before trying to find a way to make a living, he wanted to know what India was truly about? Mao Thành Giác had seen for himself how the Four Sufferings had spread around the world as Buddha contemplated. He had also seen the quiet practice of the Noble Eightfold Path in the shades of the trees here and there like they were enlightened Buddhas. All he could see from his sudden interest in meditation was deception.

How could a selfless act not feel trapped between the chaotic reality and suffocating delusions amongst all that unrestrained lust? A lesson in Russia turned gospel. A healthy gut indicates a strong constitution of both body and mind. From a land where they do not eat pork to where they do not eat beef… he employed the concept of the embodiment of “heo giả cầy”, where pork was used instead of dog meat to make the same tradition dog stew in An Nam to overcome his ego. Copulation absent of copulation. Karma absent of karma.

Endlessly obsessed with the Eastern art of love making, the only thing Mao Thành Giác wanted to do was cultivate love. He asked himself, can making love help you let go? All his energy was once spent after a wild and passionate session with Africa. Now, all he wants is to one with the wonder of the universe. Kamasutra, an animalistic act of this world or a way to reconcile the mind or a path toward the epitome of ecstasy and release? Could applying Bhakti Yoga with spiritual adoration and devotion to the Kamasutra achieve unification within one entity?

But when the stomach growls. A practical slip of the tongue. Common reality. Character and demeanor.

The poverty and utopia of India. Where the atmosphere and technique of taking a breath were possibly dependent on a completely empty stomach? Dukkha and the inherent suffering amidst all living things, and that includes him. Receiving alms and being dependent on the generosity of other people as a mendicant monk was not how he wanted to experience life, because his taste was something else entirely, he needed a different kind of divine intervention, he harvested and demanded perfection. Mao Thành Giác thought about culinary culture for the first time in his whole life, the philosophy of nutrition and Yoga diet. Denomination of all kinds veered toward fasting as both treatment and therapy for the taming of lustful desires. He wanted to go back to the basic to find the philosophical foundation for experimental spirituality between nutritional quality, Bhakti Yoga and the Kamasutra during the day to day life were the absolute pleasure for any woman or man.

Mao Thành Giác looked for what might inspired his business acumen in places like Buddhist holy sites and imperial temples from India to Nepal. He realised that the foundation of spirituality was nothing more than materialistic ambition. Without materialistic desire there is no God.

The daily cycle of eat, sleep, fuck, shit of any human was the beginning and the end of a life. Spirituality was just a peversion and result of this cycle. Therefore, eating was not just a means to an end, but also a lifeline when comes to happiness.

So by the sacred river the Ganges he opened an inn, all inclusive with the services of eat-sleep-fuck-shit to all living being.

One person turned up with a hammer and asked: “I have a hammer.”

This person was known to him. The hammer was used hammer in and pull out nails. Or to smash someone’s faces in as this person had done.

Mao Thành Giác said: “As I have in my possession a hammer, as well as a sickle. You do know dear sir, how to use a sickle?” As he spoke he raised his right hand to his throat and sliced as though he was slicing through a bundle of rice stalks.

The person with the hammer left. Came back the next day with numerous number of straw hammers, he said: “Pay up, you have been fined.”

Mao Thành Giác was openly surprised: “Why am I paying you?”

He said: “This is our territory. And you have not asked permission…”

Mao Thành Giác affectionately laughed: “Oh I see… how wonderful. We are brothers after all, send your men. They can come and work for me. Both your men and their wives are welcome. They are welcome to what I have here, milk, honey, curry, fabric cloth, charcoal…”

The person with the hammer and his men backed down, thanks to Mao Thành Giác’s generosity, providing clothes and food to those in need.

Mao Thành Giác taught the men to cook and help in the kitchen and the women how to serve and satisfy the customers, keep them happy. Except for his signature dish “nai giả bò”, where venison was used instead of beef to make the stew that Ganges River Inn was famous for, only via a secret pact he gave them his recipe.

It wasn’t long before Mao Thành Giác’s franchise of Ganges River Inn appeared everywhere across India and other Asian countries. With the slogan “Siation & Release”, even though the Ganges River brand delivered a rather conflicting experience, it was fascinating, the earthy flavours transcending, sublime culinary experience was delightful, incredibly delicious and yet not at all overwhelming. It could not be found anywhere else.


Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The madman at the bottom of the slope on Tam Đảo | Mai Thảo

Thanh Hoá, Việt Nam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

[a body of work in progress – unedited]

Người điên dưới chân sườn Tam Đảo

Thế là, giữa một buổi sáng Sài Gòn rực rỡ, tin dữ mà gia đình tôi chờ đợi thấp thỏm suốt mười năm ở bên này vĩ tuyến, đã từ bên kia vĩ tuyến mười bảy bay sang. Bà ngoại tôi, người cuối cùng của dòng họ Nguyễn còn ở lại miền Bắc đã tạ thế.

Hung tin thu gom trong mấy dòng bưu thiếp lời lẽ mơ hồ, ngày giờ và chi tiết cái chết nghìn trùng cách trở không được nói đến tường tận, nhưng tôi, tôi biết bà ngoại đã nằm xuống ở đâu, cặp mắt nhân hậu một đời nhỏ lệ xót thương kẻ khác ấy đã khép lại dưới vòm trời nào, thước đất nào đã được bà lựa chọn gửi nắm xương tàn của một tuổi già cô độc.

Thửa ruộng nhỏ nằm dưới chân một sườn đồi trọc. Đất đỏ rờ rỡ màu máu. Thửa ruộng có một thân cây lớn nghiêng bóng, kế liền với một con đường sỏi đá và cỏ bồng hoang vu, trên đầu là những đám mây trung du và đám mây của một vòm trời trung du trắng xốp như bông nõn ấy nổi chìm ở bên này và bên kia một vùng rậm rì xanh đặc là hai sườn Tam Đảo.

Từ đỉnh núi, đổ xuống một ngọn thác trắng phau nhìn xa như một sợi chỉ bạc. Từ cuối con đường hoang, vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc về chiều. Từ những xóm xa lọt vọng vào thị xã tiếng chầy giã gạo ba trăng. Tự miền cao phả về cái hơi thở âm u của núi rừng Việt Bắc. Tự miền dưới thổi lên cái hương thơm đầm ấm của lúa mạ đồng bằng. Người ta khiêng quan tài bà từ căn nhà rêu phong cổ cũ đi ra, cách hàng nghìn cây số tôi cũng hình dung thấy rõ ràng như vậy, đám táng kéo dài trên con đường lả lay cỏ bồng, chiếc quan tài in lên nền trời Tam Đảo, và nó được hạ huyệt trong thửa ruộng đó, không thể trên một thức đất nghĩa địa nào khác. Bởi vì bà tôi, nếu đã ở lại, nếu đã chối từ vượt tuyến cũng chỉ để được nằm xuống bên cạnh đứa con xấu số của bà là bác Cả Đoàn. Bác Cả được chôn ở thửa ruộng ấy, mấy giờ sau khi bác chết, cái thân thể trần truồng lỗ chỗ vừa đúng 17 vết đạn liên thanh.

*

Câu chuyện xảy ra cách đây đã mười lăm năm. Nhưng thảm kịch của người bác điên loạn, còn xảy ra lâu hơn nữa về trước, từ khi tôi còn nhỏ dại. Tôi kể lại dưới đây. Vì cái chết của người bác điên rồ là một trong những hiện tượng lạ lùng không bao giờ tôi giải thích được.

Mãi mãi tôi còn nhớ tới những chuyến về thăm quê ngoại đó, chuyến xe hàng cũ kỹ nổ máy từ tối đất nơi chân sóng rì rào của một xóm đạo vùng biển ỳ ạch chuyển mình trên những con đường liên tỉnh trải đá xanh hun hút. Những dốc đò rồi những bến phà. Dưới vành trời hắt hiu của mùa đông miền Bắc, chiếc xe cũ kiên nhẫn nuốt dần từng cây số trắng, thả lùi những xóm làng chài lưới về sau, tiến dần vào một vùng rừng núi cằn cỗi. Ngọn Tam Đảo hiện ra trong sương chiều, đỉnh núi chìm nhòe trong lớp mây xám loãng như một chiếc khăn choàng đánh đai lấy nó. Rồi là niềm vui náo nức tràn trề trong gió rừng đổ xuống khi chiếc xe trườn vào thị xã Vĩnh Yên le lói ánh đèn. Chiếc xe kéo thả mẹ con tôi xuống một căn nhà cuối tỉnh lỵ.

Cha tôi đánh điện tín từ hôm trước. Và bà tôi ngồi đó, trước thềm cửa, chờ đón chúng tôi. Bà chít khăn mỏ quạ, mặc áo bông ngắn. Mỗi năm bà mỗi già, nhưng ánh vui mừng cảm động của đôi mắt vẫn ngời lên, lấp lánh, khi tôi tự xe nhảy cẫng xuống, và mặc mẹ tôi quát mắng không được lôi bà như thế, tôi kéo bà sềnh sệch vào nhà. Bữa cơm, tôi ngồi chồm chỗm trên lòng bà, vòi quấy đủ thứ. Bà nấu chè và làm mứt dừa ngon vô cùng. Chè bà cốt, màu mật đặc quánh, mùi gừng thơm cay phảng phất trong mùi hương gạo nếp bùi ngậy. Dừa mật Vĩnh Yên nổi tiếng miền Bắc, bà nấu thành một thứ mứt dẻo quyện, trong suốt, đỏ thắm, đựng đầy trong một vò thủy tinh lớn. Những ngày về thăm bà ngoại, dạ dày tôi căng phình, đuôi mép lúc nào cũng nhuếch nhoáng màu đường màu mật. Vui thú không bút nào tả xiết. Thức dậy sau một đêm ngủ vùi vì chuyến đi mệt nhọc, buổi sáng tôi chạy ra đầu nhà, và cặp mắt của đứa nhỏ chỉ quen nhìn bãi cát và sóng biển trong tôi đã ngó nhìn đến độ bàng hoàng ngây ngất ngọn Tam Đảo hiện hình chất ngất trong buổi sáng trung du yên tĩnh, ngọn núi đứng đó, sừng sững trước mắt như một hình ảnh thần linh hoang đường, với cả một thế giới kỳ lạ, bí mật của nó ẩn kín ở sườn núi bên kia.

*

Chính là một trong những chuyến về Vĩnh Yên thăm ông bà ngoại mà tôi biết đến sự hiện hữu của bác Cả Đoàn. Lần thứ nhất ngó thấy bác, tôi đứng đờ người, mặt tái nhợt vì khiếp hãi. Đang nhảy nhót chung quanh cái bể non bộ ở khoảng sân sau, tiếng gõ loong coong làm nhịp cho một giọng hát ê a lạ tai ở căn buồng sát hông nhà bếp làm tôi ngừng nhảy, tò mò tiến lại.

Qua khung cửa khép hờ, tôi nhìn thấy một người đàn ông. Râu ria và đầu tóc người ấy xồm xoàm như một con thú. Người ấy khoác một tấm bao bố trên vai, đóng khố ngồi khoanh chân trên nền đất nhớp nhúa của căn buồng không có đồ đạc gì ngoài một tấm phản mộc. Hai chân người ấy bị xích chặt. Cái xích quấn nhiều vòng chung quanh mắt cá, đầu xích cột chặt vào một cái cọc gỗ chôn nghiêng.

Cảnh tượng người đàn ông gần như lõa thể bị cùm xích đột ngột hiện ra làm tôi rợn người, nín thở, trái tim đậm thình thình trong lồng ngực. Người đàn ông chưa nhìn thấy tôi. Hắn vẫn ngồi nguyên trong dáng điệu cũ, mắt nhắm nghiền, hai tay cầm hai mảnh que nhỏ loong coong lên đít một cái ống bơ sữa bò lật úp, miệng ê a như một thầy bùa đang tụng niệm.

Hắn cứ ê a và cứ nhắm nghiền mắt mà gõ loong coong không ngừng trên nắp ống bơ như thế một hồi lâu, thần trí như đắm chìm hoàn toàn vào một thế giới mơ hồ nào đó. Tôi tròn xoe mắt, nhìn ngắm không chớp. Tôi không biết người đàn ông cởi trần bị xích chân và đang ê a hát nhảm ấy là ai. Tại sao hắn ở trong nhà bà ngoại tôi? Tại sao hắn bị cùm xích như thế? Ông tôi, bà tôi, mẹ tôi, không một ai nói chuyện cho tôi về hắn, về sự hiện hữu của hắn trong căn nhà này, dù chỉ một lần.

Bỗng dưng, một tiếng động làm người đàn ông bừng tỉnh. Hắn mở choàng mắt, ngừng hát ngừng gõ. Thấy tôi đứng đó, hắn trợn mắt nhìn rồi thình lình hắn chỉ thẳng chiếc que vào mặt tôi, và cười nhe hàm răng trắng ởn. Tôi chỉ kịp rú lên khiếp hãi rồi quay đầu, cắm cổ chạy bay lên nhà trên.

Tôi còn nhớ khi tôi vừa thở vừa kể chuyện cho bà tôi về người đàn ông nhìn thấy dưới căn buồng hông bếp, bà tôi và mẹ tôi đã đưa mắt nhìn nhau, cái nhìn trao đổi ấy cực kỳ buồn rầu và chua xót.

Tôi níu áo bà, hỏi dồn:

“Ai thế, bà ngoại?”

Mẹ tôi trừng mắt mắng át:

“Trẻ con biết gì mà hỏi. Cấm mày không được xuống đó nữa, nghe không?”

Thấy tôi phụng phịu sắp khóc, bà ngoại kéo tôi vào lòng, vuốt tóc. Bà nói, giọng nghẹn ngào nước mắt lưng tròng:

“Cháu nó biết gì mà mắng nó! Bác Cả Đoàn đấy cháu ạ! Mẹ bảo cháu phải nghe, cháu đừng lảng vảng xuống gần chỗ bác Cả nữa nhé!”

“Tại sao thế bà ngoại?”

Bà tôi ngập ngừng nói:

“Vì bác ấy điên”.

Mãi mấy năm về sau, khi lớn khôn hơn, tôi mới được mẹ tôi nói chuyện về bác Cả Đoàn. Bác là con trưởng và là người con trai độc nhất của ông bà tôi. Theo lời mẹ tôi thuật lại, bác thông minh và hiền từ vô cùng. Ông bà tôi cho bác ra Hà Nội học, đến khi đỗ bằng cao đẳng tiểu học, bác Cả ở luôn ngoài Hà Nội, làm thư ký cho một hãng buôn lớn, thỉnh thoảng mới về Vĩnh Yên thăm ông bà tôi, thường thường là vào cuối mùa gặt để làm giúp ông tôi sổ sách về thóc lúa thu hoạch được. Gia sản của ông tôi ước chừng vài ba chục mẫu ruộng ở các miền kế cận thị xã, những thửa ruộng nằm rải rác trong những thung lũng, những chân đồi trước mặt ngọn Tam Đảo. Đường sá miền trung du gập ghềnh núi đồi cheo leo, đó chỉ là một hệ thống thiên nhiên của những lối mòn đổ xuống thung này vắt qua lũng khác, xe cộ không thể đi tới, nên mỗi lần đi thăm ruộng ông tôi vẫn phải dùng ngựa. Ông tôi có một con ngựa hồng, khi nào không cưỡi vẫn thả rông cho ăn cỏ ở khoảng đồi thấp sau nhà.

Năm đó – năm xảy ra bất hạnh – bác Cả từ Hà Nội về giữa lúc ông tôi bị đau nặng. Thế là bác Cả sáng sáng cưỡi ngựa đi thăm ruộng thay cha. Buổi sáng hôm đó, bác cũng cưỡi ngựa phóng nước kiệu ra khỏi nhà đi thăm mấy thửa ruộng gặt dở trong thung như thường lệ.

Đến nơi, bác thả ngựa cho ăn cỏ ở một bóng cây, chạy xuống chuyện trò vui vẻ với đám thợ gặt. Sự tình cờ tai hại là thửa ruộng ấy sát liền với thửa ruộng của một điền chủ khác, người này hôm ấy cũng cưỡi ngựa đến thăm ruộng mình và cũng thả ngựa cho ăn cỏ dưới cùng một bóng cây. Một lát sau, những tiếng hí vang lên. Tiếng móng đập loạn xạ. Hai con ngựa đá nhau dữ dội. Hoặc là bác Cả không biết khi hai con ngựa đá nhau như thế là cực kỳ nguy hiểm, hoặc là bác sợ con ngựa của ông bị thương – không biết – chỉ biết bác chạy lao tới, kéo con ngựa của ông tôi ra, và liền bị nó đá hậu một đá trúng giữa khoảng bụng dưới. Bác thét lên một tiếng đau đớn rồi ngã vật xuống, ngất đi.

Khi đám thợ gặt khiêng bác về nhà, ai cũng tưởng bác bị ngựa đá chết. Rờ tim, còn đập thoi thóp, nhưng bác vẫn mê man không hồi tỉnh lại được. Bà ngoại tôi cuống cuồng, kêu thóc thảm thiết. Phương kế nào cũng không làm bác tỉnh lại. Cho đến khi một người hàng xóm mách bà tôi cho bác uống mật gấu. Chất mật gấu có một tác dụng kích thích cực kỳ mãnh liệt. Chỉ mười lăm phút sau, bác Cả cựa mình và mở mắt.

Có điều là thương con quá độ, muốn cứu con mau chóng, bà tôi đã đổ vào miệng bác quá nhiều mật gấu. Sau tai nạn, bác khỏe mạnh như người thường. Nhưng một năm sau, chất mật gấu bắt đầu phá phách cơ thể và thần trí: bác Cả Đoàn phát điên. Bà tôi đau đớn ra tận Hà Nội đón đứa con điên loại về Vĩnh Yên, nhất định không chịu để người ta đưa bác vào nhà thương Vôi, là nhà thương người điên ở miền Bắc thời bấy giờ.

Sự buồn thảm như một đám mây đen tối đổ dồn vào mái nhà êm ấm, biến nó thành địa ngục và nhà mồ. Ông tôi giết con ngựa phản chủ, suốt ngày ngồi lặng lẽ trên góc phản, khuôn mặt u uất rắn lạnh như chưa thôi đau đớn trước một thất đức tiền kiếp nào đó, bây giờ hiện thân thành trừng phạt mà người phải gánh chịu qua chứng điên loạn của người con. Bà tôi thì cả ngày vật vã khóc lóc. Nhà có người điên nên bạn bè thân thuộc cũng xa lánh dần dần. Sự thật là ông tôi đóng kín cửa không chịu tiếp ai, trong nỗi đau âm thầm có pha lẫn một niềm tủi hổ mà sống người để bụng, chết người mang theo, vĩnh viễn không bao giờ xóa bỏ được.

Căn nhà chứa lúa dưới hông bếp không dùng làm gì nữa – ông tôi đã bán rẻ hết ruộng đất sau tai họa – biến thành cái thế giới lưu đầy bé nhỏ cho bác Cả sống với những hình ảnh quái dị nhảy múa trước mắt, nơi sự tỉnh táo sáng suốt chỉ còn là những vùng thư thái thu hẹp như những giọt nắng thoi thóp cuối cùng của một vòm trời bão giông. Căn bệnh không thuyên giảm, ngày một trầm trọng thêm mãi cho đến khi mọi phương sách cứu chữa tuyệt vọng đều uổng công.

Mấy tháng đầu, cơn điên chập chờn trong một trạng thái mất trí hiền lành. Bác Cả cười khóc rồi lăn ra ngủ. Bác ngủ suốt ngày suốt đêm, đầu ghếch lên một góc tường, tay chân co quắp, như một con chó ốm. Sau, chứng bệnh nặng dần. Cái thế giới bệnh hoạn ngột ngạt nung nấu biến con vật hiền lành thiêm thiếp thành một con thú dữ tợn, mỗi lần nổi cơn là một lần đập phá gào thét khủng khiếp. Tóc bạc mọc dài ra, râu ria xồm xoàm. Rớt rãi sùi trắng hai bên mép. Con mắt trợn trừng đỏ rực màu máu. Đêm đêm tiếng gầm rú của người điên vang động khắp khu phố, như lan xa tới vách Tam Đảo và vang trở lại, gợi trong nó cái âm thanh rùng rợn của một con hổ vằn tử thương tru rống từ một đáy rừng sương.

Một buổi chiều nóng nực, bác Cả phát cơn điên đã chạy lên nhà đập phá loạn xạ. Rồi vớ được một gióng cửa gỗ lim, bác thẳng cánh quất xuống đầu ông tôi máu chảy lênh láng. Từ đó, mặc dù bà tôi phản đối, ông tôi cho xích bác lại. Người điên khỏe lạ lùng. Cái dây xích lớn thế, cái cọc đóng sâu vào nền đất như thế mà nhiều lần bác thét rồi vươn tay nhổ phăng cọc, cứ trần truồng ôm xích mà chạy túa ra đường. Bác vừa chạy vừa hò hét, cứ nhắm hướng Tam Đảo tiến vào. Phải hàng chục người trai tráng trong phố mới chế ngự được bác sau một cuộc vật lộn dữ dội.

Người độc nhất mà bác còn nể sợ là bà tôi. Đang gào thét, chửi rủa, đập phá, chỉ cần bà tôi đến ngó bác bằng cái nhìn đẫm lệ và dịu dàng nói: “Cả, làm gì thế con?” là bác im ngay, bác từ từ ngồi xuống, cái nhìn nem nép cúi gằm như một đứa nhỏ phạm tội. Tình thương đó của bà tôi là dòng ánh sáng duy nhất còn chiếu soi được vào vùng tối đặc mê mẩn, là trận mưa duy nhất còn đổ xuống và thấm lắng được vào thần trí bác như một vùng đất đai khô cằn, làm nở lên những bông hoa. Nhưng tình thương đó chỉ là một liều thuốc an thần chốc lát. Căn buồng chứa thóc ngày trước ở hông bếp là một địa ngục vĩnh viễn giam cầm bác Cả tôi trong cái thế giới cô độc của kẻ mất trí, cái thế giới rùng rợn của người điên.

*

Từ ngày biết rõ chuyện bác Cả như thế, tôi vẫn được mẹ tôi hằng năm cho về thăm bà ngoại. Tôi sợ, nên chỉ quanh quẩn trên nhà, đôi khi lảng vảng xuống khoảng sân sau cũng chỉ dám đứng ngó bác thấp thoáng trong căn buồng mờ tối từ xa. Cho đến khi cuộc chiến tranh đột ngột bùng nổ, cắt đứt đường về thăm quê ngoại. Hai năm trôi qua như thế, rồi là một tin buồn từ ngọn Tam Đảo vượt qua nghìn trùng cách trở xuống với gia đình tôi ở dưới biển: ông ngoại tôi tạ thế. Mẹ tôi khóc ngất, thương cha chết một phần, thương người mẹ già một thân một mình lủi thủi kéo lê cái tuổi già buồn thảm dưới bóng núi xa đến mười phần.

Tôi còn nhớ năm đó là một mùa đông cực kỳ buốt lạnh. Sau một đêm bàn bạc, cha tôi bằng lòng để mẹ tôi tìm đường lên Vĩnh Yên đón bà ngoại xuống ở với gia đình tôi. Mọi đường giao thông trên bộ đã bị gián đoạn hết, phải chuyển vận bằng thuyền. Vì chuyến đi nguy hiểm gian lao, tôi phải năn nỉ vòi vĩnh mãi mới được mẹ tôi cho phép đi theo. Ngày đi đêm nghỉ, chiếc thuyền nan ngược dòng, vượt nhánh sông này tới nhánh sông khác, len lỏi qua các mặt trận, tránh xa những vùng súng đạn, ròng rã đúng vào nửa tháng mới tới được cái bến đá hẻo lánh dưới chân ngọn Tam Đảo.

Bấy giờ, từ mạn cầu Đuống tràn ngược lên qua Hương Canh, Phúc Yên, cánh quân mở đường của Pháp đã tiến dần đến thị xã. Chúng tôi đặt chân vào căn nhà rêu phong cổ cũ đúng ngày bà ngoại tôi đang sửa soạn tản cư vào núi. Đứa trẻ đã lớn, đã biết nhận xét ở tôi, chuyến cuối cùng về thăm quê ngoại đó, thu vào tầm mắt nó những hình ảnh cực kỳ buồn thảm. Bà tôi đã già, già lắm. Bà vẫn đội cái khăn mỏ quạ, mặc cái áo bông ngắn như cũ, nhưng ánh lửa nhân hậu sưởi ấm những tháng ngày thơ dại của tôi đã tắt trong cặp mắt nhòe mờ, khuôn mặt tươi cười thuở nào chỉ còn là một vùng héo hon đầy những nếp nhăn, in hằn những đường rãnh nước mắt không thôi chảy ròng từ ngày đứa con trai độc nhất bị ngựa đá thành điên. Cùng với tiếng súng của một thời loạn lạc ầm ĩ dội tới từ đầu thị xã, buổi tối mùa đông dầy đặc khí núi thổi lùa từng đợt lạnh căm căm vào căn nhà le lói ánh đèn, nơi mẹ tôi và bà tôi ngồi thao thức bên đống hành lý gói buộc sẵn sàng trong đêm dài kinh hoàng, chờ buổi sáng tới để chạy ẩn vào hang núi. Những tiếng thở dài não nuột phát ra từ hai cái bóng âm thầm. Bỗng mẹ tôi hỏi:

“Còn bác Cả”.

“Mẹ cũng chưa biết tính sao đây, bà ngoại vừa khóc vừa nói. Nó điên loạn như thế cùm xích bao nhiêu năm rồi, bây giờ tháo xích đưa nó đi theo, biết nó chịu đi không? Nó nổi cơn lên thì làm thế nào chứ! Mà để nó ở lại thì thà mẹ ở lại đây cho lính Tây nó bắn chết còn hơn”.

“Hồi này bệnh tình anh con ra sao? Mẹ tôi hỏi”.

Bà tôi gạt nước mắt nhìn xuống phía nhà bếp:

“Mỗi ngày một nặng thêm. Trước nó còn chịu nghe mẹ, bây giờ mê loạn hoàn toàn rồi, bảo gì cũng không chịu nghe nữa”.

Tôi cứ nằm nghe tiếng đại bác ầm ì và tiếng nói chuyện rì rầm như thế rồi ngủ đi trên gối bà lúc nào không hay. Khi mẹ tôi lay vai đánh thức dậy, trời đã tảng sáng. Tiếng súng lớn vọng tới trong đêm giờ đã biến thành tiếng liên thanh tặc tặc réo réo từng hồi, thật gần, rõ mồn một, tưởng như đã nghe thấy tiếng giầy đinh, tiếng sì sồ của quân Pháp ở ngay đầu phố.

Mẹ tôi và bà đeo khăn gói lên vai hấp tấp đi xuống căn buồng bên hông nhà bếp. Phút quyết liệt đã tới. Bà tôi mở cánh cửa gỗ, mẹ tôi rón rén đi theo, cùng tiến vào chỗ bác Cả Đoàn nằm. Tôi nín thở, đứng nép sau lưng bà. Cái bao bố rách tơi tả phủ lên một thân hình gầy đét đến xương, bác Cả nằm nghiêng, quay mặt vào tường, sợi dây xích đen nhảy căng thẳng từ cổ chân bác tới đầu cọc. Mùi cứt đái xông lên nồng nặc khiến tôi nôn ọe bịt vội mũi lại. Cái ống bơ và hai thanh tre, thú tiêu khiển và cũng là bạn bè độc nhất suốt một đời của người điên – tôi nhìn thấy ở nguyên chỗ cũ, dưới chân bác. Bác nằm, nhưng không ngủ. Tiếng nôn ọe của tôi làm bác bất thần quay ra và ngồi vụt dậy. Tôi hoảng hốt không giữ được tiếng thét sợ hãi. Mọi người chờ đợi những tràng dài quát tháo nguyền rủa nổi lên. Nhưng không, bác lùi vội lại một bước như con thú dữ thu mình, tròn xoe mắt, nhìn bà tôi không chớp. Mẹ tôi gạt nước mắt đứng yên. Bà tôi ngồi xuống. Bằng một giọng nói hết sức dịu dàng, rành rọt từng tiếng một, bà tôi cắt nghĩa cho bác là quân Pháp đã tràn vào thị xã, chúng tôi phải bỏ nhà tản cư vào núi và xuống đây đem bác đi theo.

“Con bằng lòng đi theo mẹ không?”

Bác Cả nín thinh, rồi cái nhìn vụt chuyển thẳng từ bà tôi tới tôi khiến tôi thất thần lạnh toát người đi.

“Con giai em con đó, mẹ con nó lặn lội từ dưới bể lên thăm con đó”.

Bà ngoại quay lại tôi:

“Cháu chào bác Cả đi. Bác yêu cháu lắm. Cháu chào bác đi”.

Tôi nhợt người, ấp úng mãi mới nói được với người điên:

“Lạy bác ạ!”

Bác vẫn nín thinh trong dáng điệu thủ thế cũ. Bà tôi ngồi xích lại gần bác, nghẹn ngào:

“Con thế này, sống cũng như chết rồi, mẹ chẳng muốn đưa con ra khỏi chỗ này làm gì, nhưng Tây nó đến, mẹ bỏ con lại không đành, con nghe lời mẹ, con đừng giận dữ, con đi theo mẹ nhé!”

Bác vẫn nín thinh và nhìn ngó trừng trừng. Bà tôi ngọt ngào dỗ:

“Bây giờ mẹ cởi xích cho con”.

Miệng nói bà tôi thò tay vào chân bác. Bác Cả rút phắt chân lại. Dây xích căng thẳng, tiếng kêu loảng xoảng trong căn buồng tối nhờ nhờ. Nhưng tình thế nguy ngập không thể chùng chình được nữa.

“Mẹ cứ cởi xích cho con rồi con có giết chết mẹ, giết chết em, giết chết ngay lập tức, mẹ cũng đành, nhưng mẹ không thể bỏ con ở lại một mình được, mẹ phải cứu con, mẹ phải đưa con đi, mẹ con ta sống chết phải có nhau”.

Bà tôi vừa khóc sướt mướt, vừa mếu máo tra cái chìa vào ổ khóa. Rồi mẹ tôi và tôi cũng ôm mặt khóc theo. Tiếng khóc vang đầy căn buồng hòa lẫn với tiếng đạn liên thanh tặc tặc nổi dậy, mỗi phút một gần thêm mãi. Vòng xích cuối cùng đã tháo hết, bác Cả như một con thú dữ bị gông cùm bao nhiêu năm qua vừa được thả lỏng. Giây phút cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi cứng người, chờ bác chồm dậy, thét lớn, vung xích quật xuống.

Nhưng lạ lùng, nhưng kinh ngạc xiết bao! Bác Cả từ từ đứng dậy. Và trong một dáng điệu hết sức từ tốn, đĩnh đạc, bác tiến lại trước mẹ tôi, giơ cánh tay trần khẳng khiu đặt lên vai mẹ tôi, cử chỉ thân mật âu yếm của một người anh đối với người em gái lâu ngày mới gặp:

“Cô Hai đấy ư? Bây giờ cô chú xuống làm ăn dưới biển ư? Chú ấy vẫn mạnh đấy chứ?”

Sự kinh ngạc làm mẹ tôi mãi mãi mới trả lời được hai tiếng ngắn cộc:

“Vâng ạ”.

Mà không riêng gì người, bà tôi và tôi đều cùng sững sờ trong kinh ngạc tột điểm. Bao nhiêu năm điên loạn, thốt nhiên, trong giây phút thập tử nhất sinh này, bác Cả đã tỉnh dậy, như tỉnh dậy sau một giấc ngủ bằn bặt, như sống lại sau một cái chết dài.

“Ông mất rồi, tôi bệnh hoạn như thế này, bà già yếu không còn ai nương tựa, chỉ còn mình cô chú. Cô chú thay tôi chăm sóc bà nhé!”

Mẹ tôi giàn giụa nước mắt gật đầu.

Bác Cả quay lại, mỉm cười tiến đến trước mặt tôi, cái bao bố kéo lệt xệt trên nền đất.

“Tên cháu là gì?”

Phút đó tôi vẫn khiếp hãi, nhưng sự khiếp hãi không còn như trước nữa. Tôi nhìn cái khuôn mặt râu ria xồm xoàm, nhớp nhúa, tiều tụy nhưng đầy những nét đẹp cân đối, tôi nhìn cái thân hình giơ xương, cái mái tóc màu tro phủ xuống kín gáy, rồi tôi nuốt nước bọt, cố gắng chế ngự sự hồi hộp, dõng dạc trả lời bác:

“Thưa bác, tên cháu là Đăng”.

Bác Cả nhoẻn miệng cười, xoa đầu tôi, nhắc đi nhắc lại:

“Tốt lắm, tốt lắm, tốt lắm”.

Cuối cùng, bác quay sang bà ngoại mà nỗi mừng vui xúc động mãnh liệt vừa bật thành tiếng khóc nức nở.

“Con không điên nữa đâu. Bây giờ con không điên đâu. Mẹ đừng sợ, mẹ đừng khóc nữa”.

Qua khung cửa, trời bật sáng rõ. Cùng với ngày vừa lên, tiếng giầy đinh rầm rập, tiếng xì xồ quát tháo lạ tai của toán lính Pháp hung dữ nhất tề nổi lên ở đầu phố.

Bác Cả lắng tai nghe ngóng. Mắt bác sáng quắc. Bác nhảy vọt một bước ra sân, vơ lấy cái gióng cửa dựng ở bên thành bể non bộ, cái gậy mà trong một cơn điên ngày nào bác đã đánh ông tôi chết ngất. Theo tiếng gọi của bác chúng tôi líu ríu ra khỏi nhà, lếch thếch chạy ngược về phía chân núi. Ngọn Tam Đảo mờ mờ trong sương sớm. Ra đến đầu tỉnh chúng tôi đặt chân vào con đường dẫn lên đồi còn ướt đẫm sương. Chúng tôi vừa chạy vừa thở hổn hển, chân cẳng run bắn muốn ríu lại, muốn té quỵ, vì ở phía sau lưng những tiếng đạn, tiếng giầy, tiếng xì xồ vẫn đuổi theo rất gấp. Những đám người chạy cùng với chúng tôi khi nhìn thấy bác Cả, mình đeo khố tải, tay cầm gậy lớn, đều kêu lên thất thanh: “Người điên! Người điên!” và chạy tán loạn về phía khác. Tôi chạy tưởng chừng sắp muốn đứt hơi. Bà tôi mấy lần lảo đảo chỉ muốn ngã sấp xuống. Bác Cả đi tập hậu, cứ kéo lết bết cái bao tải như thế, vừa chạy vừa ngoái cổ lại. Trên con đường vắng tanh, lởm chởm, chỉ còn bốn bà cháu chúng tôi cuống cuồng, lếch thếch trước những tràng đạn đuổi theo veo véo trên đầu.

Bỗng tiếng bác Cả cất lên:

“Chúng nó! Chúng nó!”

Chúng tôi rú lên, cùng ngoái cổ nhìn lại. Thấp thoáng ở xa xa, đầu con đường đầu tỉnh, những đầu lưỡi lê nhấp nhổm, sáng loáng. Cùng lúc đó, bà tôi kiệt sức, ngã vật xuống. Bác Cả chạy đến, xốc bà ngoại dậy. Bà tôi vừa khóc vừa thở:

“Thôi đành là mẹ con ta chết ở đây. Mẹ không chạy nổi nữa, con ơi!”

Tôi thấy bác Cả đẩy bà ngoại cho mẹ tôi đỡ lấy, bác nghển cổ nhìn tứ phía, rồi bác chỉ tay cho mẹ tôi nhìn thấy một con đường nhỏ chạy tắt xuống thung lũng um tùm.

“Cô đưa bà và cháu chạy xuống dưới kia”.

Mẹ tôi còn ngơ ngác do dự bác đã giục hối hả:

“Mau lên. Chạy xuống ẩn dưới đó đi”.

“Còn bác?”

Bác Cả lần lượt nhìn cả ba chúng tôi bằng một cái nhìn lạ lùng, một cái nhìn chứa chan, nồng nàn, như gửi vào đó tất cả những thương yêu một đời, rồi bác mỉm cười nói:

“Tôi chạy theo sau mà. Mau lên, trời ơi, mau lên”.

Mẹ tôi quẳng vội khăn gói, một tay dìu bà, một tay dắt con, cắm đầu chạy xuống con đường nhỏ. Đạn nổ đinh tai nhức óc. Chạy tới một vùng cỏ dại cao ngang tầm người, mẹ tôi vấp kéo theo bà tôi và tôi cùng ngã xuống.

Nhìn lên, mẹ tôi kêu lên một tiếng sợ hãi. Thì ra bác Cả không chạy theo chúng tôi, mà từ con đường cao, bác chạy sang phía bên kia, bác chạy thẳng lên đỉnh đồi.

Suốt đời, tôi còn nhớ thân đến cái cảnh tượng lạ lùng, kinh dị đó. Thân hình bác Cả nổi lên nền núi xanh thấp thoáng nắng sớm, cái khổ tải lất phất như một cánh bướm, như không phải là bác đang chạy mà đang là là bay. Điều kỳ dị là bác chạy dềnh dàng, chuệnh choạng, chân nam đá chân xiêu, như người sau rượu. Điều kỳ dị nữa là bác vừa chạy như thế, vừa vung tít cái gậy trên đầu, vừa ngoái cổ lại, gật gù như vẫy như gọi bọn lính đuổi theo, miệng thì ca hát ê a, tiếng ca hát ê a tôi đã từng nghe thấy trong những cơn điên của bác.

Bà tôi và mẹ tôi cùng thét lên:

“Trời ơi! Lại nổi cơn điên rồi”.

Nhưng không phải thế đâu. Bác Cả không điên. Bác Cả chỉ đang cứu chúng tôi thoát khỏi ba cái chết thảm khốc. Sau này, càng nghĩ càng nhớ đến cái nhìn cuối cùng của bác, cái nhìn chan chứa yêu thương không nói, tôi càng tin là đúng, là chỉ có thể như thế, là lần duy nhất trong đời, điên đã tỉnh rồi, đã giả bộ múa hát điên điên dại dại, để dụ quân Pháp về một hướng khác, đánh lạc đường chúng đuổi theo chúng tôi.

Và bác đã thành công, toán lính đuổi tới chỗ bà tôi ngã, đứng khựng lại trước cảnh tượng kỳ quái đang diễn ra trước mắt chúng trên ngọn đồi trọc. Tới đỉnh đồi, bác Cả quay lại, hoa chân múa tay, miệng vẫn hò hát, như thách thức đám lính đuổi theo. Một tràng đạn xé tan không khí. Từ đám cỏ hồng, tôi thấy bác Cả lảo đảo, cái gậy trong tay bác hạ xuống, bác loạng choạng đi trở xuống, tay ôm ngực. Một tràng đạn thứ hai nổi lên. Bác Cả ngã vật xuống. Quân Pháp chụm đầu bàn tán, ý chừng còn thảng thốt trước sự xuất hiện quái đản của người khùng. Rồi chúng quay trở lại, kéo nhau về thị xã.

Chúng tôi thoát chết.

Khi bà tôi lên tới đỉnh đồi và nức nở quỳ xuống, bác Cả đã tắt thở từ lâu. Con mắt một nửa đời người vẩn đục màu máu điên loạn chỉ còn là một khối đồng tử bất động. Cái bao tải phủ ngang thân thể bác như một màn vải liệm. Chiếc gậy lớn vẫn cầm lăm lăm trong tay. Bác Cả nằm nghiêng nghiêng, nét mặt hiền hòa, cái nhìn ngước lên như hướng tới đỉnh núi Tam Đảo cao ngất bây giờ đã rực rỡ dưới nắng.

Bà tôi vuốt mắt cho bác. Buổi trưa hôm đó bà tôi xõa tóc, đi theo xác con đến tận bờ huyệt đào ngay trong thửa ruộng chân đồi, dưới bóng cây, nơi khi xưa, bác Cả Đoàn đã bị con ngựa hồng của ông tôi đá một phát vào bụng dưới thành điên.

***

Trở về căn nhà rêu phong cũ, bà tôi quét dọn lại căn buồng chứa lúa ngang hông nhà bếp, dọn giường chiếu xuống đó, sống những ngày già yếu cuối cùng của đời bà ngay trên thước đất nơi bác Cả bị xiềng xích ngày trước. Chỉ còn một thân một mình nhưng bà tôi nhất định ở lại nơi này, trong căn buồng của người con điên, và bỏ luôn ý định xuống miền biển, sống với gia đình chúng tôi, mẹ tôi năn nỉ thế nào, khóc xin đến mấy cũng không lay chuyển được. Ngày sắp di cư vào Nam, cả thầy mẹ tôi cùng lên Vĩnh Yên, đón bà cùng đi. Nhưng bà tôi không chịu. Và bà đã ở lại. Bà bảo mẹ tôi:

“Mẹ già rồi, không đi đâu nữa. Mẹ ở lại chờ chết trong căn buồng này là nơi thằng Cả nó đã sống, đêm đêm mẹ vẫn mơ thấy nó hiện hồn về”.

Trên cái bàn thờ nhỏ của bác Cả Đoàn được thiết lập ở một góc buồng, bà tôi dựng cái gậy bác Cả còn cầm ở trong tay cho đến lúc chết. Và trên bàn thờ, dưới ánh khói hương, là cái ống bơ sắt cũ và đôi gậy tre là những dấu tích cuối cùng của một cuộc đời điên loạn.

*

Bây giờ bà tôi đã chết. Tấm bưu thiếp ngắn ngủi từ bên kia vĩ tuyến không nói rõ bà tôi nằm xuống ở đâu, trút hơi thở cuối cùng trên thước đất nào. Nhưng tôi, tôi nhìn thấy rõ ràng cái chết nghìn trùng cách trở ấy. Người bà ngoại nhân hậu vì quá thương con, cho con uống quá nhiều mật gấu đến nỗi thành điên, đã khép mắt trong căn buồng ấy, nơi mãi mãi phảng phất tiếng ê a lạ tai và tiếng đũa gõ loong coong đêm ngày trên nắp cái ống bơ lật úp của người điên đã chết cho những người thân yêu được sống. Phải, bà ngoại tôi chỉ có thể chết trong căn buồng ấy. Không thể chỗ khác. Và người ta cũng chỉ có thể chôn cất bà ở chỗ ấy, cho người mẹ già được ngủ giấc ngủ nghìn đời với người con điên trong thửa ruộng dưới chân đồi nhìn lên một sườn Tam Đảo. Không thể ở chỗ khác.

Có một điều là: sau bao nhiêu năm, tôi vẫn ngạc nhiên và vẫn tự hỏi về cái hiện tượng lạ lùng là sự thức tỉnh sáng suốt cuối cùng và đột ngột của bác Cả Đoàn. Tiếng súng đạn đinh tai nhức óc đã làm bác chợt tỉnh cơn điên loạn triền miên? Hay là vì những giọt nước mắt hãi hùng của chúng tôi trong buổi sáng thập tử nhất sinh đó? Hay vì tôi, vì cái khuôn mặt thơ dại của đứa cháu vô tội? Không biết. Có thể là vì những nguyên nhân huyền bí, siêu hình nào đó đã cấu tạo thành linh hồn và sự thật dị thường không khám phá nổi, niềm bí mật nghìn đời ẩn giấu của thế giới người điên.

Chỉ biết rằng, buổi sáng hôm đó, trước cái chết đến gần, bác Cả Đoàn đã tỉnh dậy. Và nhờ sự sáng suốt độc nhất, chốc lát, của cuộc đời điên loạn ấy mà tôi còn được sống đến ngày nay.

Just like that, one bright morning in Saigon, the crazy news my family have been waiting for anxiously for ten years this side of the parallel, flown in from the other side of the 17th parallel. My maternal grandmother, the last member of the Nguyễn family left behind in the North just passed away.

Bad news condensed in a few surreal lines on a postcard, date time of an unreachable death thousands and thousands of miles away scarcely mentioned, but I, I knew where my maternal grandmother laid down her life, wise eyes and a lifetime of benevolent tears for others have closed up under which firmament, which patch of earth had she chose for the keepsake of her withered bone in old age alone.

The small acre field lies at the foot of a grassless hill. The clay soil was eerily red like blood. The shade of a huge tree in the field right by a path of pebble and reeds in their natural habitat, above them were cumulus clouds, a firmament of white fluffy cotton balls, clouds with flat bottoms that looked like cauliflowers floating on this side and on the other side was a dense green thicket were the two slopes of Tam Đảo.

The white water poured from the top of the mountain and from far away the water fall looked like a silver cotton thread. Rising was the echo of a horse galloping from the end of an over grown path in the afternoon light. Escaped from distant villages the odd sound of rice being pounded in a mortar and pestle three moons after the harvest. Returned from the Northern highlands of the Vietnam the sombre dark air of the trees and mountain. Carried in the wind from the low plains was the warm smell of paddy seedlings. They carried her coffin out from an old moss covered house, a thousand miles away and I can still see it clearly, the funeral procession stretched out along on a path through sea of grass swaying in the wind, the coffin was an imprint across the horizon of Tam Đảo, and it was lowered in to the ground in the middle of that acreage of land, and not just any soil or cemetery. Because my grandmother, stayed, refused to cross the demilitarized zone so she could be buried next to her unfortunate son, my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. My uncle Cả was buried in that acreage of land, a few hours after he died, his body riddled holes exactly 17 bullets form an automatic rifle.

*

It happened fifteen years ago. The tragedy of my crazy uncle, it began long before that, when I was still knew nothing and small. Me retelling the story. Because my uncle’s crazy death was a mystery I could never explained.

I will never forget the trips to mother’s family home, the rickety old truck noisy exhaust rattling from the dark rippling water edges of the small church village by the sea lazily moving along the roads through the province lined with infinite blue gravel. Climbing hills after hills before the ferry dock. In the bleak light of the Northern winter, the ancient vehical patiently swallowing one white mile at a time, leaving the withdrawing fishing villages behind, heading deeper and deeper into the ruggedness of the mountain and jungle. Tam Đảo mountain appearing slowly through the afternoon mist, the tip of the mountain a blurr sinking into a layer of grey clouds thinned out like a chiffon sash wrapped around it. Then again joy and excitement of the jungle overwhelming in the wind came falling down as the truck slips down towards the flickering lights in the streets of Vĩnh Yên. The toll truck drop my mother and I at a house at the far end of the provincial capital.

The day before my father sent a telegram. And my grandmother sat there on the steps of the front door, waiting for us. She wore a headscarf, cropped quilted jacket. Older by the year, but all the joy lit up in her eyes, the sparkle, when I jump out of the truck, and my mother’s worried face to not to drag my grandmother like that into the house. During our meal, I was on my grandmother’s lap, demanding all kinds of stuff. My grandmother made the best chè and mứt dừa. My grandmother’s chè was thick and rich the colour of honey, the ginger fragrant with the slightest hint of heat through the nutty scent of sticky rice. Honey coconut from Vĩnh Yên famous in North, my grandmother would turn it into soft chewy, translucent, deep red, fruit candy with a bite kept in a large glass jar. The days I spent with my grandmother my stomach was always stuffed. My lips, the corner of my mouth was always sticky with honey and coloured candy. The kind of happiness that could never be completely noted by a pen on paper. Waking up after a long sleep after an exhausting long journey, running to the front of the house first thing in the morning, sand and waves in the bewildering eyes of a child full of wonder inside me staring at the overwhelming peak of mount Tam Đảo in the midland morning, the mountain stood there imposing, loomed before us like some mythical, divine manifestation, with an entire strange, secret world hidden on the other side of the mountain.

*

It was actually on one of those trips to Vĩnh Yên to see my ông bà ngoại that I became aware of my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. The first time I saw him, I stood there stunned, the blood drained from my face, I was terrified. Dancing around a rock pool in the backyard, the rythmic clanging setting the tempo for the chanting of a song oddly out of place coming from a room right next to the kitchen stopped me midway through a jump, curiously I was drawn to the sounds.

Through the slightly ajar door, I saw a man. His unkept hair and beard made him looked akin to a wild animal. Loinclothed, and over his shoulders like a cape was a canvas bag, he sat on the filthy floor in a room without any thing except for a low raised wood deck. Both of his legs were securely chained. The chains wrapped over and over again around his ankles, the end of the chain was securely fastened to a wooden stake buried at an angle.

The images of the condition of the barely clothed man in chains gave me goose bumps, I held my breath, the surprised thumping of my heart inside my ribcage. The man was unaware of my presence. He continued to sit there with his eyes tightly shut, with a small stick in each hand clanging on a the lid of a sealed can of cow’s milk powder, his lips constantly moving as though he was shaman chanting an incantation.

He continued to chant with his eyes closed as his hands continued to tap on the lid of the empty milk can for quite a while, body and spirit completely immersed in a world somewhere in his mind. Unblinking, my eyes were round and wide opened staring at him. The chained chanting naked man was unknown to me. Why was he in my grandmother’s house? Why was he chained like that? My grandfather, my grandmother, my mother, none of them ever said a word to me about him, about his presence in this house, not even once.

Sudden clamour, snapped him out of his trance. He opened his eyes, stopped tapping on the lid of the can. Seeing me standing there, he opened his eyes wider as he pointed a stick at my face, grinned widely baring his scary white teeth. All I could manage was a yelp before I turned around and ran, head for the main house.

I can still remember the regretful sad look, my grandmother and mother had exchanged with each other, as I breathlessly told them about the man I saw in the room next to the kitchen at the back of the house.

I grabbed onto my grandmother’s sleeve, insisted:

“Grandma, who is that in the kitchen?”

My mother looked at me angry snapped:

“It’s nothing a child should worry about. You are never to go back there again, understand?”

Seeing the tears in my eyes, my grandmother pulled me into her arms, pushed aside the stray hair in my eyes. She said, the words came from the back of her throat full of tears:

“He’s a child, it’s not his fault he can’t understand! Child, that was uncle Cả Đoàn! But you should listen to your mother, you are to never wander down there where uncle Cả is again understand!”

“Why is that grandma?”

My grandmother hesitated:

“Because he is mad”.

It was years later, older and wiser, my mother finally told me about uncle Cả Đoàn. He was my grandparents oldest child and only son. According to my mother, he was smart and very kind. He was sent to Hanoi to study by my grandparents, after attaining his elementary school diploma, uncle Cả stayed in Hà Nội, he was a secretary for a large merchant there, and would now and then come home to Vĩnh Yên to see my grandparents, usually at the end of the harvest to help my grandfather with the books in regards to inventory and rice harvest. My grandfather's estate was estimated to be several dozen acres of farmland in the areas around town, scattered in the valleys and foothills in front of Tam Đảo mountain. Access to the midland was governed by the nature of mountainous slopes, the rise and fall down and up one valley to another, with no access to motorized vehicles, hence, each of my visits to my grandfather's fields was on horse back. My grandfather had a chestnut horse, when we were not riding it, it was left to roam and munch on grass on a small hill at the back of the house.

That year – that unfortunate year – uncle Cả returned home from Hà Nội and my grandfather was very ill. Every morning my uncle would ride the horse to survey the fields for his father. That morning, As usual, he rode his horse at a gallop out of the house to check on the half-harvested rice fields in the valley.

On site, my uncle would fasten the horse to a tree in the shade to munch on grass, before rushing into the field to chat and joke with the harvesters. The unplanned misfortune was that the particular acreage he visited that day was right next to another land owner, he was also on horse back there to check on the harvest on his land and he had also secured his horse on the same tree. It wasn't long before there were the sound of snorts and squeals. Stamping horse hooves. The horses kicked each other, trying to assert dominance. May be my uncle was unaware of how extremely dangerous it was when horses kicked each other like that, or that he was worried that my grandfather's horse might get hurt – no one will ever know – the only thing we do know was that he did not have a second thought except for to pull my grandfather's horse away from the other horse, and was kicked instantly by it in the lower part of his stomach, My uncle screamed in pain just before he fell over, and was unconscious.

When the harvesters carried my uncle home, they all thought he was kicked to death by my grandfather’s horse. Feeling his chest, there was still a murmur of a heart beat, but my uncle was still unconcious and they couldn’t wake him. My grandmother was frantic, screaming and crying. They did everything the could but he refused to wake up. Until one of the neighbour told my grandmother about bile from a bear. The bile from a bear was suppose to be a strong stimilant. It was barely fifteen minutes and there was moment, my uncle opened his eyes.

The only problem was that, because of a mother’s love for her child, my grandmother poured too much of the bear’s bile into her son’s mouth. After the accident, he was back to normal, healthy and strong. But a year later, the bile from the bear began to affect both his mind and body: uncle Cả Đoàn lost his mind. My grandmother travelled all the way to Hà Nội to collect her crazy child, take him back home in Vĩnh Yên, definitely not back to Vôi, a mental institution in the North at the time.

Sadness like a dark cloud descended upon the warm and peaceful home, turned it into hell and a tomb. My grandfather killed the horse that betrayed its master, he spends his days on a corner of the low raised wood deck, not talking, his face solemn and sad was as though he was carrying centuries of transgressions and pain, for the moment he had to bear the punishment of a crazy son. Friends and family slowly avoided any kind of visit because of the presense of someone crazy in the house. Though more true was how my grandfather’s doors were completely shut, he didn’t want to see anyone, inside the silent pain was the humiliation those who were alive hold it tightly in their heart, take it with them to their grave, something that could never be erased.

The back house where there was a kitchen and storage for the harvest was no long used – all his farming land were sold at a loss after the accident – turned into a tiny contained world for uncle Cả to live out his life with all his imaginary images played out in front of him. where lucid awareness were condensed into last breathless drops of light in the sky after a storm. The sickness did not get better, it went down hill until there were no way back and any effort was a waste of time.

The first few months, it seemed as though he had merely lost his memory. Uncle Cả would laugh before he would cry himself to sleep. My uncle slept day and night, his head propped up on one corner of the wall, curled up like a sick dog. After that, his symptoms were slowly worst. The sickly suffocating world where the man slipped away into oblivion as the animal took his place, the ferociousness of his anger destroyed everything around him. His grey hair grew out faster and longer, his beard beastly thick and wild. Saliva dried white on both corners of his lips because of the constant drooling. His blood shot eyes opened wide. At night fall through the trees the villagers could hear the howls of a wild animal, as though the sound had reached the cliffs of mount Tam Đảo before coming back, carried with it in the wind the frightful sound of a wounded tiger from the depths of the fog swamped jungle.

One hot afternoon, during one of his rage, he shoved his way into the main house banging and smashing whatever was in front him. Ripping the solid teak door from its hinges he slamped it on my grandfather’s head the blood was every where. From that point on, against my grand mother’s wishes, my grandfather chained him. The mad are exceptionally strong. The chain was thick, and the stake pinning him down was hammered excetionally deep into the earth and yet more than often my uncle had scream pulled the stake out, ran naked into the street holding onto his chains. He screamed as he ran, always heading for mount Tam Đảo. It took a dozen strong men in the street to catch and subdue him.

The only person he left alone and was scared of was my grandmother. In the middle of his screaming and tantrums, all my grandmother had to do was looked at him with her eyes full of tears as she gently said: “Cả, what are you doing son?” and he would immediately sat down slowly, looked down at his hands as though he was a naughty child in big trouble. My grandmother’s love was the only thing that was able to shine a light into the darkness of this madness, a kind of rain that could nourish and wet the barren soil that was the state of her son’s mind, where the flowers could bloom. But that love was a drug that only had a limited effect, it was short lived. The storeroom used for the harvest next to the kitchen became uncle Cả’s prison and hell for the rest of his life alone with his lost mind, a frightful world of the mad.

*

That day onward, after finding out about uncle Cả's condition, my mother continued to yearly take me back to visit my grandmother. Scared, so I would spend my time around the vincinity of the main house, now and then I would play in the backyard to take a peek of uncle Cả from afar somewhere in the dark store room. Until the war broke out, and suddenly the road to visit my mother's parents were completely severed. Two years passed by just like that, and there was sad news from mount Tam Đảo surpassing the endless miles of separation arrived at our home down by the sea: my grandfather had passed away. My mother passed out from crying, partly because of the loss of her father, but ten times more so because of how her aging mother will be left alone with all her sadness in the shadow of a looming mountain she can not reach.  

I can still vividly remember that it was a particularly cold winter. After weighing up all the possibilities, my father agreed that my grandmother should from now on live with us, the had to find a way for my mother travel to Vĩnh Yêm to collect my grandmother. The traffic disrupted by all the road blocks on land, my mother would have to go by boat. Because it was a tough and dangerous journey, I had to beg my mother again and again before she let me go with her, We travelled during the day and we rested at night, the bamboo boat struggled against the tide, crossing one branch of a river one after the other, meandered one war zone after the other, tried to avoid the stray bullets, relentlessly it took a full half month to reach the remote rocky pier at the foot of Tam Đảo Mountain.

Moving steadily and slowly around the same time from Đuống bridge up and over Hương Canh, Phúc Yên, the Frence Avant-garde had almost reached the city centre. Our feet were on the steps of the old moss covered house on the very day my grandmother was preparing to evacuate to the mountains. As the child in me stepped into his formative years, knew within him, in that last trip to his maternal grandparent’s home, through his eyes were profoundly the saddest images ever. My grandmother had aged, she was very old. She wore her usual headscarf, usual cropped quilted jacket, but the fire of wisdom and benevolent that had bathe my childhood with warmth had been quelled by blinding cataract, that face full of joy once upon a time was now a collection of shadows, wrinkly tired lines and permanent furrows formed by the same rolls of tears the had began the day her only son had gone mad after being kicked by their horse. Together with the chaos of gun fire coming from the other side of town, the winter month was thick with the air of the mountain descended in persistent bouts of cold wind through the doors of the house and the small lonely flame, where my mother and my grandmother sat by a pile of belongings packed and ready during the long terrifying night waiting for the morning to head for a cave in the mountain. Deep, mournful sighs emanated from the two silent figures. Suddenly, my mother asked:

“Uncle Cả?”.

"I don't know, my grandmother sobbed as she spoke. We chained him because we can't control him for so long, it's been years, if we take them off now to take him with us, I don't if he'll go? What are going to do if he does go beserk! And I can't imagine the idea of leaving him behind I would rather stay and let the French shoot me".

“My brother’s condition, lately has there been any change? My mother asked”.

My grandmother eyes fell in the direction of the kitchen as she wiped away her tears:

“It gets worst by the day. Before there were times when he would listen to me, but he had withdrawn so much into his mind, it doesn’t matter what I say anymore he will not listen”.

Lying there on my grandmother’s pillow I fell asleep listening to the cannon fire and their quiet exchange. When my mother shook my shoulder to wake me up, there were already light in the sky. The boom boom deep echo of cannons in the middle were replaced with the rat-tat-tat-tat of machine guns, the sound grew louder and louder after each round, you could almost hear the sound of nail boots, and the oft guttural sound of French troops in the street.


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

là một câu chuyện kể lại, từ lưỡi của một kẻ ngốc – MACBETH | William Shakespeare

Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem by William Shakespeare
A translation into Vietnamese by Nguyễn Thị Phương Trâm

MACBETH
Khóc à?
Chuyện gì mà phải khóc?

SEYTON
Dạ thưa bệ hạ, nữ hoàng đã về với Chúa.
Bệ hạ thưa ngài nữ hoàng đã chết.

MACBETH
Nàng chết thì sao ai rồi cũng phải chết.
20
Dành sao đủ thời gian để nói những gì cần phải nói.
Ngày mai, và ngày mai, và ngày mai mãi,
Nhỏ mọn lén lút từ ngày này sang ngày khác
Cho đến âm tiết cuối cùng nhanh nhất,
Và lịch sử của chúng ta đã là ánh sáng soi đường cho những kẻ ngu ngốc
25
Con đường đến cái chết bụi bặm. Tắt đi, tắt đi, ngọn nến phù du!
Cuộc đời chỉ là một cái bóng biết đi, tha nhân ăn chơi tồi tệ
Kiêu căng và lo lắng trong giờ phút của mình trên sân khấu
Và rồi không còn được nghe thấy nữa. Là một câu chuyện được kể lại
Từ lưỡi của một kẻ ngốc, la hét giận dữ,
30
Vô nghĩa.

MACBETH
Wherefore was that cry?
What was the cause of that cry?

SEYTON
The queen, my lord, is dead.
The queen is dead, my lord.

MACBETH
She should have died hereafter.
20
There would have been a time for such a word.
Tomorrow, and tomorrow, and tomorrow,
Creeps in this petty pace from day to day
To the last syllable of recorded time,
And all our yesterdays have lighted fools
25
The way to dusty death. Out, out, brief candle!
Life’s but a walking shadow, a poor player
That struts and frets his hour upon the stage
And then is heard no more. It is a tale
Told by an idiot, full of sound and fury,
30
Signifying nothing.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

William Shakespeare [1564-1616] was an English playwright, poet and actor. He is regarded as the greatest writer in the English language and the world’s pre-eminent dramatist. He is often called England’s national poet and the “Bard of Avon”.

Một cân thịt – Người Buôn từ Venice | William Shakespeare

Em lo anh nhớ em Em làm bài thơ thèm Như nụ hôn anh ngọt Và ướt như cà rem Happy New Year anh nhé :))

A poem by William Shakespeare
A translation into Vietnamese by Nguyễn Thị Phương Trâm

Phần thịt đó ngươi chuẩn bị chưa để cắt nó.
Nhưng ngươi nên nhớ, không được đổ một giọt máu, chớ cắt hơn hay bớt
Chỉ một cân thịt: nếu ngươi cắt nhiều hơn
Hoặc ít hơn một cân đúng
Làm cho nó nhẹ hoặc nặng hơn,
Hoặc chỉ bằng một phần hai mươi
Của một chút xíu, thậm chí nếu cán cân nghiêng
Chỉ bằng một sợi tóc,
Ngươi sẽ chết và tất cả tài sản của ngươi sẽ bị tịch thu.

Therefore prepare thee to cut off the flesh.
Shed thou no blood, nor cut thou less nor more
But just a pound of flesh: if thou cut’st more
Or less than a just pound, be it but so much
As makes it light or heavy in the substance,
Or the division of the twentieth part
Of one poor scruple, nay, if the scale do turn
But in the estimation of a hair,
Thou diest and all thy goods are confiscate.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

William Shakespeare [1564-1616] was an English playwright, poet and actor. He is regarded as the greatest writer in the English language and the world’s pre-eminent dramatist. He is often called England’s national poet and the “Bard of Avon”.

“đi đêm” | Lê Vĩnh Tài [490]

Nguyễn Thị Phương Trâm

Thơ Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

the poem walking in the night
on a path deficient of light
absentminded like the old and the way they absentmindedly
take off their socks before going to bed

each step is a switch
turning on
sadness

the wind has nothing left to do
even the moon can’t be bothered
to keep track
and I’m ahead of my shadow

at home
night folds itself
like a poem
without the need for a finally

Oh and, “đi đêm”
it’s not some kind of deception
and during the day there are too many straight forward people
standing in line for how much they have been wronged

“đi đêm”
in order to see
how things during the day
pretends to be light

deception means we still believe
the night hides things
while I’m the wind walking in the night
since the dark never make promises

bài thơ đi trong đêm
con đường bị rút bớt ánh sáng
như người già cởi bỏ trí nhớ như đôi vớ
trước khi ngủ

mỗi bước chân
là một công tắc
bật lên nỗi buồn

gió không còn việc để làm
trăng cũng thôi theo dõi
chỉ có bóng tôi
đi chậm hơn tôi

về đến nhà
đêm gập mình lại
như một bài thơ
không cần kết thúc

à, đi đêm
không phải mánh khoé đâu
chỉ là ban ngày quá đông người ngay thẳng
đứng chật lối oan sai

đi đêm
để nhìn rõ hơn
những thứ ban ngày
giả vờ là ánh sáng

mánh khóe là khi ta còn tin
đêm sẽ che giấu được gì đó
còn tôi và gió đi đêm
vì bóng tối không hứa hẹn


NB. Ba em nói thơ của anh buồn nhưng không có cái cảm giác mà mình chỉ muốn nhảy xuống sông. Bi quan đến bao nhiêu cũng có ánh sáng. Còn về phần thưởng thì ba nói những người đã được lên sân khấu, người đưa hay nhận thường đã từng đi đêm với nhau.. Cụm từ “đi đêm” em thấy hay á. Anh viết bài thơ giải thích thêm cho em nha. Please ..


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

where people are being born | Lê Vĩnh Tài [482]

Buon Ma Thuot, Nguyễn Thị Phương Trâm

Thơ Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

when one see a mute man dancing
in a rock garden, will his eulogy be at all
discernible?

read
when he is dumb
when they say he is deaf

but he was born to discern
how the world is falling apart
where everything had drifted away
forgotten and was lost

at the side of a mountain where the internet did not reach
just a hand written poem that could break
one’s heart

even the deaf can read
knows that time waits for no one

choked up because of those eyes
even though he is dumb and deaf
discernible still is the world through his eyes

does the world not have eyes?
does the world not have ears?

where people are being born
welcoming their new soul
at a funeral parlor
who will come back?

trong một khu vườn toàn đá
có một người đàn ông câm
đang nhảy múa
chúng ta biết gì về bài văn tế lễ tang
ông ta đang đọc?

đọc
vậy có lẽ ông không bị câm
người ta nói ông bị điếc

ông không sinh ra để nghe
thế giới đang bùng nổ
từ một nơi trôi dạt
đã bị lãng quên

bên sườn núi không có internet
chỉ bài thơ chép tay còn ẩn dụ một tin tức
ngực

vì người điếc vẫn biết đọc
cảm nhận thời gian không ai chờ đợi

cái nhìn
lên màn hình nghẹt thở
người đàn ông dù câm và điếc
vẫn có đôi mắt nhìn ra thế giới

có đôi mắt trên thế giới này không?
có đôi tai trong thế giới này không?

nơi mọi người vẫn đang được sinh ra
chào mừng linh hồn của họ
tại nhà tang lễ
vậy còn ai sẽ quay về?


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

MY LIFE | Lê Vĩnh Tài [484]

Sông Hương, Huế, Việt Nam Winter 2025. Photography Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Since the day she had left for the sea, I have lived on a mountain, all roads lead to one gate, it is always locked with a sign at the top: “My life.”

Each morning, I find myself in front a mirror that no longer has a reflection of me. In the mirror I see her flying away into the horizon. I would lift my finger to touch the thick film of dust on the mirror. People say: it’s not her at all, it was my memory trapped inside the shards of glass.

I did try to find “My life” else where, not in the mirror. Say the identification papers, citizenship, electric or water bill… but “My life” no matter where it might be have been separated into a series of numbers, a mindless data. I met the man who separates these series of numbers as a profession, he has a scanty black beard, he said:

– You told her your life was more important right? I nodded.

– Then you should live up to your word, forget the small stuff. From this day on, you should live up to the shadow of that life.

I asked:

– And her?

The man with the scanty beard smiled:

– She is your life. You were the one who had given it away.

I understood then that I didn’t have a choice. Convicted, I had no choice but to live my life without her. In the dark room, I heard her small voice:

– You are right, but the truth can not save you. I opened my eyes. There was no one there. When she left, I understood that my life had left with her, left behind was a body that breathes.

She left.
I stayed.
Both had taken with them “my life.”

CUỘC ĐỜI TÔI

Từ ngày nàng về biển, tôi sống trên một ngọn núi, mọi con đường đều dẫn về một cánh cổng khép kín, phía trên treo tấm bảng: “Cuộc đời tôi.”

Mỗi buổi sáng, tôi ngồi trước gương nhưng tấm gương không còn phản chiếu hình ảnh của tôi. Trong gương tôi thấy em đang bay về phía chân trời. Tôi đưa tay ra chỉ chạm được vào lớp bụi dày trên gương. Người ta bảo: đấy không phải hình ảnh của em, mà là ký ức của tôi bị chính tôi giam giữ trong những mảnh thủy tinh.

Tôi cũng thử đi tìm “Cuộc đời tôi” ở nơi khác, không phải ở trong gương. Ví như trong giấy chứng minh nhân dân, trong hóa đơn điện nước… nhưng “Cuộc đời tôi” dù ở bất kỳ đâu cũng đã bị người ta tách riêng ra thành một dãy các con số, một dữ liệu vô tri. Tôi gặp người đàn ông chuyên tách các dãy số, ông ta có hàm râu thưa màu đen, ông ta nói:

– Anh bảo với người con gái ấy rằng cuộc đời anh quan trọng hơn, đúng không? Tôi gật đầu.

– Vậy thì anh hãy sống đúng như lời mình nói đi, cứ quanh quẩn tìm kiếm cái không quan trọng làm gì. Từ nay trở đi, mỗi ngày anh sống là cái bóng của chính cuộc đời ấy.

Tôi hỏi:

– Thế còn cô ấy?

Người đàn ông râu thưa màu đen mỉm cười:

– Cô ấy chính là cuộc đời anh. Và anh đã tự tay giao nó đi mất rồi.

Tôi hiểu mình không còn quyền lựa chọn. Tôi bị kết án, bị buộc phải đi qua vô tận những ngày không còn em. Trong căn phòng tối, tôi nghe giọng em thì thầm:

– Anh nói đúng, nhưng đúng là sự thật không cứu được anh đâu. Tôi mở mắt. Không còn ai ở đó. Khi em rời đi, tôi nhận ra cuộc đời tôi đã đi cùng em, còn lại chỉ là xác thân biết thở.

Em bước đi.
Tôi ở lại.
Cả hai đều mang theo “cuộc đời tôi.”


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

HEART BOUND IS AN EPIC TALE OF THE SEA | Lê Vĩnh Tài [487]

Thơ Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

“your name missing from the sea calls you home…”

1.
“your name missing from the sea calls you home…”
but instead of calling that one person
the sea calls forth an aging civilization
wheezy
& senile

you see that I’m drifting
like a breathless lullaby
the last of humanity’s symphony

clouds after clouds pulling each other along
without the refrain verses of a song
across the sky
after a century of war
revolutional and counter-revolutional ideologies
hollow promises like seashells sunbaking in the sun

your thoughts about angels were much like your thoughts about what’s missing from the sea
vast once upon a time
now just a sound
crashing waves and delusions

2.
once upon a time, angels were messengers of God
the sea also a messenger
of the origin, of the infinite, of silence

now the angels have lost their vernacular
sea lost its green hue
novels lost turned history
angels lost because of bleeding verses of poetry
slogans are all that’s needed by humanity

angels searching for humanity as though they’re searching for their lover
“Is it worth living in such a world?”
a question like an old song
drifts away, salty, soaked by the rain
soaked by the tears beyond its expiry date

but humanity no longer has the ability to reply
since in the reply faith is a requirement
now at the bottom of the ocean
actors acting as boat people acting as lovers acting at seminars
as though they have never starved, been close to death or dying
Trùng Dương on the verge of a romantic outburst

but after a thousand years of history the vernacular
is nothing but the clanking of empty cans
at some beach in the dark
forgettable people

the dumb searching for the deaf
the deaf searching for the blind
the blind searching for who?
no one knows

the sea knows
the sea always knows
but sea can’t be bothered with a reply

3.
the sea placing the stethoscope on its chest
not to listen to its heart beat
but history

history sound like soft murmurs
like the long sigh of someone just waking up
after a long fight to a point where no one remembers why

a sound as sad as Trịnh
but as sharp as Nguyễn
and as cold as the lastest population estimate
unfathomable number of human bodies
when floods follows the correct “procedure”
when human life is no different to mental arithmetic

philosoplers claiming
“humans are an end in themselves”
but history claiming
“humans are the means”
as life in a whisper say
“humans are the unexpected cost”

echoes like crashing waves
crashing against eroding banks of sand
enough about angels
more should be said about the people
but the people are now on the other side of memory
who are these people?

these inventors of a nation
to then bury such a nation under a mountain of debt
these inventors of community
to then destroy such a community with exhausting individualism
inventing fire to set fire to the jungle
travelled to the moon and yet on earth
the poor continues to sleep in the shadow of history

Trịnh sang once:
“humanity curled up like animals in winter”
and history continues to justify itself
with the political winters that will never dissolve

4.
like the songs drifting in the night out at sea
the angels have lost their messages
remain is the sea
quietly, tired, patient
beholding the words we will dare not say

as we continue to hang around
as though we’re the author of humanity’s last song
the truth appears as quietly as the moon would late into the night
us both for each other
angel and sacrifice

if there’s a rebellion worth singing about
then it’s a rebellion against
the smooth ruthlessness
that humanity has to get used to like the salty taste of the sea

and each day that we are able to get over it
get washed up into the forbidden zone of our humanity
the way waves get washed up on an eroding sand bank

5.
the sea in the dark tonight lies there like a wound
not sure who was at fault
a million reasons for the sea to be sad
it remembers that it was green once
waves soothing gently edges of the horizon
torn apart like exhausted lovers
knocking on a memory we have dropped somewhere

we follow the shoreline
as though we are following the length of history
each wave is a century
and each century in our hand is each salty lick of a wave

once upon a time, the sea was where the gods delivered their blessings
in present time, the sea is where humanity delivers its transgression

not once did the sea speak up
but its silence is the forgotten verse
Trịnh had left behind
on a beach in the dark
the shadow of humanity from so many centuries ago
he waits not for war
waits not for peace
waits not for a single promise from history
he waits merely for the easing of his sadness
a night when he can sleep and not dream of tidal waves

he understands that the sea will always come home
when humanity may not
a voice as tender as chalk dust
as sad as a wave disappearing
all revolution in the end
wants to find a place where humanity may be human
the sea heard what was said but it will not reply
while the waves retreat into the distance like a long sigh

the waves said:
freedom is the fate of humanity
and yet tonight the sea said:
freedom is something humanity tend to drop as they
running away from themselves

the sound of the sea is as clear as the sound of a person
when it’s near, when it’s far
when it’s earnest to the point that it could burn and blister
when it’s lonely to the point of weeping

“your departure hereafter, your name missing from the sea calls you home”
and the sea thought:
if humanity were to leave the sea forever
will the sea call humanity home?

or is the sea too tired, all it wants to do is sleep?
sleep through the centuries where humanity
continues to fail at how to love for each other

I bent down, picked up a shell
it’s empty, but the sound in it
sounds like angels void of messages
washed up here

the sea is just a witness to what is missing from the sea
everything missing from the sea
including what humanity wants to forget

these are the words of a song
not reserved for the next generation
it is reserved just for the sea
the last entity
to miss humanity

BÀI TRƯỜNG CA CỦA BIỂN TRONG LỒNG NGỰC

1.
“Biển nhớ tên em gọi về…”
nhưng thay vì gọi về một người
biển gọi về một nền văn minh đã già
đã cạn hơi
đã mất trí nhớ

bạn thấy tôi đang trôi
như người hát ru đứt hơi
buổi hòa nhạc cuối của loài người

những đám mây kéo nhau đi
như những câu hát không còn điệp khúc
trôi qua bầu trời
sau cả một thế kỷ chiến tranh
các chủ nghĩa cách mạng và phản cách mạng
những lời hứa bị rỗng như vỏ ốc phơi khô

bạn nghĩ về các thiên thần như nghĩ về biển nhớ
ngày xưa mênh mông
giờ chỉ còn lại âm thanh
va đập sóng và ảo tưởng

2.
ngày xưa, thiên thần là thông điệp
biển cũng là thông điệp
của khởi nguyên, của vô tận, của lặng im

giờ đây thiên thần đã lạc ngôn ngữ
biển thì lạc màu xanh
tiểu thuyết lạc thành lịch sử
những câu thơ ứ máu lạc thiên thần
con người chỉ cần khẩu hiệu

các thiên thần tìm con người như tìm người tình cũ
“Thế giới này còn đáng sống không?”
câu hỏi như câu hát cũ
trôi dạt, đầy muối mặn, đầy mưa
đầy những giọt nước mắt đã quá hạn

nhưng nhân loại không còn khả năng trả lời
vì muốn trả lời, người ta phải tin vào một thứ
đã chìm dưới đáy đại dương
những vai diễn thuyền nhân vờ yêu nhau giả vờ hội thảo
như chưa bao giờ đói, chết hay bị thương
trùng dương đang cương lên cơn lãng mạn

nhưng ngôn ngữ sau nghìn năm lịch sử
chỉ còn tiếng va đập của vỏ lon
trên bờ biển mỗi đêm
của những người đã quên

người câm tìm người điếc
người điếc tìm người mù
người mù tìm ai?
không ai biết

biển biết
biển luôn luôn biết
nhưng biển không còn muốn trả lời

3.
biển đặt ống nghe lên ngực
không phải nghe những nhịp tim
mà câu chuyện thuộc về lịch sử

lịch sử là tiếng rên khe khẽ
như tiếng thở dài của người vừa tỉnh dậy
sau cuộc chiến dài đến mức quên tên

tiếng ấy buồn như Trịnh
nhưng sắc như Nguyễn
và lạnh như báo cáo số lượng dân số
những thân xác vô hình
khi những cơn lũ vẫn cứ đúng “quy trình”
khi người ta xem mạng người như số học

những triết gia nói rằng
“con người là mục đích tự thân”
nhưng lịch sử lại nói rằng
“con người là phương tiện”
còn cuộc sống thầm thì
“con người là chi phí phát sinh”

những âm vang như tiếng sóng
đập vào bờ cát đã xói mòn
nói về các thiên thần như vậy đủ rồi
hãy nói về nhân dân
nhưng nhân dân đã qua bên kia bờ ký ức
nhân dân là ai?

là những người phát minh ra quốc gia
và chôn nó dưới núi nợ
là người phát minh ra cộng đồng
và phá tan bằng chủ nghĩa cá nhân mệt mỏi
phát minh ra lửa chỉ để đốt rừng
đi tới Mặt Trăng nhưng ngay trên mặt đất
những người nghèo vẫn nằm ngủ dưới bóng của lịch sử

Trịnh từng hát:
“người nằm co như loài thú khi mùa đông về”
và lịch sử tiếp tục chứng minh
bằng những mùa đông chính trị không bao giờ tan

4.
như tiếng hát trôi trên biển đêm
thiên thần đã mất thông điệp
chỉ còn lại biển
âm thầm, mỏi mệt, bất chấp
ôm lấy những điều ta không dám nói

khi chúng ta tiếp tục loanh quanh
như người viết ca khúc cuối của nhân loại
sự thật hiện ra im lặng như trăng khuya
chúng ta vừa là thiên thần
và là kẻ hiến tế cho nhau

nếu có cuộc nổi loạn nào đáng để hát
thì đó là nổi loạn chống lại
sự trơn tru tàn nhẫn
mà loài người phải quen như quen vị mặn của biển

và mỗi ngày, ta bước qua nó
trôi vào vùng cấm của chính nhân tính mình
như sóng trôi vào bờ cát đang tan

5.
biển đêm nay nằm như một vết thương
không còn nhớ ai đã gây ra
một triệu nỗi buồn của biển
biển chỉ nhớ mình đã từng xanh
tiếng sóng vỗ vào mép bầu trời
rách ra như người tình mệt mỏi
gõ cửa một ký ức mà ta đã đánh rơi

chúng ta đi dọc bờ biển
như thể đang bước dọc lịch sử
mỗi con sóng là một thế kỷ
và mỗi thế kỷ trôi qua để lại một vết muối mặn liếm trên tay

ngày xưa, biển là nơi thần linh gửi xuống phước lành
ngày nay, biển là nơi con người gửi xuống tội lỗi

biển chưa từng cất tiếng
nhưng chính sự im lặng của biển
một ca khúc Trịnh bị bỏ quên
trên bờ biển đêm
một bóng người từ bao nhiêu thế kỷ
anh ta không chờ chiến tranh
không chờ hòa bình
không chờ bất kỳ một lời hứa nào từ lịch sử
anh ta chỉ chờ nỗi buồn tan bớt
để có thể ngủ một đêm không mơ thấy sóng thần

anh ta biết biển vẫn trở về
còn con người thì không
giọng nhẹ như bụi phấn
buồn như một con sóng vừa tan
mọi cuộc cách mạng rốt cuộc
đều muốn tìm một chỗ để con người được làm người
biển nghe câu ấy và không trả lời
nhưng sóng biển lùi xa như tiếng thở dài

những con sóng nói:
tự do là số phận của con người
nhưng đêm nay biển thì thầm:
tự do là thứ con người luôn đánh rơi
trên đường chạy khỏi chính mình

tiếng biển rõ như tiếng của một người
lúc gần, lúc xa
lúc tha thiết đến bỏng tay
lúc cô độc đến muốn khóc

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…”
và biển nghĩ:
nếu nhân loại rời biển mãi mãi
liệu biển có gọi về không?

hay biển mệt rồi, biển chỉ muốn ngủ?
ngủ qua những thế kỷ mà loài người
vẫn chưa học được cách yêu nhau

tôi cúi xuống, nhặt một vỏ sò
nó rỗng, nhưng âm thanh trong đó
giống như tiếng những thiên thần không còn thông điệp
đã trôi dạt về đây

biển chỉ là nhân chứng

biển nhớ
biển nhớ tất cả
cả những điều nhân loại muốn quên

đây là lời hát
không dành cho thế hệ sau
chỉ dành cho biển
kẻ cuối cùng còn chịu nhớ
về loài người

Mai Khao Beach, Phuket, Thailand. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

6.
baby, this century
rising from the ashes of dreams
because of a gust of wind
fire and decimation

my lullaby is that long sigh
a civilization that is no more
green was the sea once
now evident in pages of fiction

did you know baby, the philosophy of this century
no one has the answer to the question
pages of a book turning by itself in the wind
spoke about the things where history is too tired
where no one want to note or copy

truth is not something humanity is looking for anymore
they look for what will not hurt them
truth like roots in the wilderness
trees and more trees salty and alive in memory
“blanket me with the salt of the land
my bullet wound steeped in the salt where I land
stings the flesh the bone stings those who had lay down their life”

we holding onto this century
as though we’re holding onto an orphaned child
the face of millions and millions of missing people
migrations are it’s teardrops
in boats, through the storms
in time with the footsteps tripping over each other in the street
knowing not whether they’re rushing toward the future
or trying to escape the past

the century sitting right up the odd night
asking the simplest of questions:
“why is there not a long left in humanity ?”

hearafter we will forget
the nameless fights
this orphaned century
as painful as half a song
harmonies sinking to the bottom of the sea

I want to sing to it a lullaby
with the voice of a street seller
this century can sleep in the end
sing to it to keep it alive
because it’s still a child with the burden
our karma

7.
softy to you baby, to the sea, I will sing
souls who have not found a home
I will tell you about those
who were left behind in the history of humanity
after the longest withdraw

they don’t want to live off the sun
since the sun is nothing but a memory
embers were the source of their survival
smoulders deep in the earth
as though the last glimmer of life
lies in death

embers sustained them
history like a book
with its first page ripped out
and lines across the last page
in disarray
footnotes and question marks
without an answer

did you know baby this century
light reserve just enough ember
to light the way for each other

since too much light can burn us
and we have chosen embers
a kind orphaned light
without a keeper
in windy nights
we huddle together
the way people long ago
learn how to let go of a world that was falling apart
without lost of identity

some were once wariors
now knows off by heart the harmony
how to put children to sleep with their lullaby
because easy was murder
because leaving each other alone was harder

some are poets
out of touch at the time
now just as out of touch
but humanity in the end
need to sing
need a song to confirm their existence
so they hold on to him
even when his poems no longer rhymes
just heavy breathing
like wind through abandoned homes

you can say baby that they are weak
but they are the last proof
that humanity can still have light
when there’s nothing left to set on fire

in their shadows from afar
see in each one of them
a sadness as beautiful as a song
so sad that it can be
turn into something call hope
because only those with sadness
can remember what it’s like to be human

baby, those who live off embers
innovation is beyond them
they simply hold on to each other
so they won’t fall off the edge of the world

sometimes, it’s as simple as that
born heroes
and the whispers of the sea out there
no one can quell the light of such embers
they know how to remember each other

8.
tonight
on a hill where they erect the tombstones
breeze through the rows and rows of trees
as though through the husky throat of a century

from damp soil, grass as soft as songs as soft as memory
lullabies used to put a nation to sleep through a war
through peace, through hope
and afternoons no one can remember
each person turning up quietly one at a time
as though they do not want themself to wake up

those who have called upon their name
to settle with the realization that
all those names as they say are
no more

they turn up not to cry
they’re here to listen
since only in silence
humanity can hear the right questions it wants to ask

each person with the burden of a name
gathered in a circle as in ritual
from the centre of the circle, rise a song
“one lover after the other they leave us like small rivers”

herein rise in a song
each one of us in the circle
as though to remember one thing
very much like a name
not a name on their ID card
but the name their mother’s used to call them
while they’re in her arms, the name they’ve lost
dropped somewhere at the market in the crowd

a little girl claimed
the fragility of my name
an elderly woman echoed
through a toothless smile
mine is much the same

night
it is full of these names in the dark
returning slowly
a name
standing in front of a song
that will never die

6.
em ơi, thế kỷ này
lớn lên từ tro than của giấc mơ
vì bầy gió đã luồn vào
đốt sạch

anh ru nó bằng tiếng thở dài
của những nền văn minh không còn
tiếng của biển đã từng xanh
giờ chỉ còn trên những trang tiểu thuyết

em biết không, triết học của thế kỷ này
là câu hỏi không người đáp trả
những trang sách tự lật trong gió
nói những điều mà lịch sử đã mệt
không còn ai muốn chép

con người không đi tìm sự thật nữa
họ chỉ tìm thứ không làm họ đau
còn sự thật như đám rễ hoang
sống trong ký ức rừng ngập mặn
“đắp cho anh nắm đất mặn xứ này
nơi anh ngã muối ngấm vào vết đạn
xót thịt xót xương xót người nằm xuống”

chúng ta ôm lấy thế kỷ này
như ôm một đứa trẻ mồ côi
có khuôn mặt của hàng triệu người đã biến mất
nó khóc bằng những cuộc di dân
trên thuyền, trong bão
ngay khi giữa phố đầy những bước chân
không ai biết mình đang chạy tới tương lai
hay thoát khỏi quá khứ

có đêm thế kỷ ngồi dậy
hỏi một câu rất giản dị:
“tại sao con người không còn hát?”

ngày mai chúng ta sẽ quên
những cuộc chiến không tên
thế kỷ mồ côi này
đau như một bản nhạc bỏ dở giữa chừng
mọi hợp âm đều rơi xuống biển

anh muốn ru nó
bằng giọng của người hát rong
cuối cùng để thế kỷ ngủ
ru để nó đừng chết
vì nó vẫn là một đứa trẻ
mang nghiệp của chúng ta

7.
anh hát khẽ thôi, cho em, cho biển
những linh hồn chưa tìm được ngôi nhà
anh nói với em
về những kẻ còn sót lại
sau cuộc rút lui dài nhất của nhân loại

họ không sống bằng mặt trời
vì mặt trời chỉ còn là một ký ức
họ sống nhờ những đốm tàn tro
âm ỉ trong lòng đất
như thể mầm sống cuối cùng
lại nằm trong cái chết

những kẻ sống nhờ ánh tàn tro ấy
lịch sử giống như một cuốn sách
đã bị xé mất trang đầu
và trang cuối
ngổn ngang những đường gạch chéo
những chú thích và những câu hỏi
chưa có ai trả lời

em biết không một thế kỷ
ánh sáng chỉ giữ lại chút tro tàn
để soi đường cho nhau

vì nếu ánh sáng quá mạnh sẽ đốt cháy chúng ta
chúng ta chọn tàn tro
thứ ánh sáng mồ côi
không thuộc về ai
trong những đêm gió nổi
chúng ta tụ lại quanh nhau
như bầy người cổ xưa
học cách rời bỏ một thế giới đang sụp đổ
vẫn không đánh mất mình

có người từng là chiến binh
giờ nằm thuộc lòng
bản hòa tấu ru cho trẻ con ngủ
vì giết nhau quá dễ
còn để cho nhau yên thì mới khó

có người là thi sĩ
đương thời bị xem là lạc điệu
giờ vẫn lạc điệu như thế
nhưng bầy người cuối cùng
cần một tiếng hát
để thấy rằng mình còn tồn tại
nên họ giữ anh ta lại
dù thơ anh chẳng còn gieo vần
chỉ còn những tiếng thở
như gió lùa qua những ngôi nhà hoang

em có thể nghĩ họ yếu đuối
nhưng họ là bằng chứng cuối cùng
rằng con người biết thắp sáng
ngay cả khi không còn gì để đốt

từ xa nhìn vào bóng họ
thấy trong từng người
là một nỗi buồn đẹp như bài hát
buồn đến mức
thành một cách để mà hy vọng
vì chỉ ai còn nỗi buồn
mới nhớ cách làm người

em ơi, những kẻ sống bằng ánh tàn tro
không làm nên cuộc cách tân nào
họ chỉ giữ lấy nhau
để không rơi khỏi thế giới

đôi khi, chỉ thế thôi
đã là một anh hùng
và biển ngoài kia thì thầm
không ai tắt được ánh sáng
của những tàn tro biết nhớ nhau

8.
đêm nay
trên ngọn đồi nơi người ta đặt những tấm bia đá
gió thổi qua những hàng cây
như thổi qua cổ họng của thế kỷ đã khàn tiếng

mặt đất ẩm, cỏ mọc mềm như ký ức những bài ca
từng ru một dân tộc qua chiến tranh
qua hòa bình, qua hy vọng
và những buổi chiều không ai còn nhớ
mỗi bóng người đến một cách lặng lẽ
như thể họ không muốn đánh thức chính mình

những người từng gọi tên mình
rồi một ngày nhận ra
tất cả những cái tên ấy
không còn

họ đến không phải để khóc
đến để nghe
vì chỉ trong im lặng
con người mới nghe được những câu hỏi thật của mình

mỗi người mang theo một cái tên
quây thành vòng tròn như một nghi lễ
từ giữa vòng tròn, một giọng hát cất lên
“từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ…”

và khi câu hát cất lên
từng người trong vòng tròn
như nhớ lại được một điều
rất giống cái tên
nhưng không phải tên trên chứng minh thư
mà là tên mẹ gọi khi ôm họ vào lòng
tên mà họ đánh rơi
giữa chợ đời chen lấn

một cô bé bỗng nói
tên tôi là mong manh
một bà lão đáp lại
bằng nụ cười không còn răng
tên tôi cũng vậy

đêm
nó đầy ắp những cái tên
đang từ từ quay trở lại
một cái tên
khi đứng trước một bài ca
không bao giờ chết

Sea, waves, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

9.
baby, listen
a dazzling city once
like the imaginative mind of humanity in its youth

the glass windows used to reflect those intimate moments now blurry under a layer of dust
intersections eyewitness to people in a rush
to be in time for work, be in time to love each other, in time to break up
now nothing but puffs of grey smoke
stretched out as though memory is being buried alive

but there’s still a bright light
a lonely flame
in a room on the third floor
paint peeled wall
peeling pieces of disappointment of the twenty first century
that can not be healed

the window still opened, breaths of the wind
carries with it the sound of a distant sea
lingered echoes of a song
the days humanity still cared for each other
help those in need

baby, you ask: this flame, who lit it?
all I can do is shake my head
maybe it was the first person who left
left it burning because they forgot to blow it out
maybe it’s a soul
wanting to leave a sign for thoses to come
also maybe it is destiny
denying darkness its victory

that flame choking the way mother’s caution is caught
in her throat during each yearly flood
where’s there’s light
there’s still a way to come home

for those from the jungle
those from the sea
those who had given up from the East
those with nothing to lose from the West
could altogether call what’s over there home

that night, the first person to step through the door was
not a hero
not a philosopher
just a very sad soul
looking for somewhere to sit down
to catch their breath and sing

then through the door was the second
then third person
“the welcome embrace of trees and mountain
visit, the booby traps and machetes…”

no one said any thing
no one said any thing
they simply sang in that dim weak light
as though they all had an understanding
the only thing they need to keep safe
was not their life
but their humanity
already as fragile as a piece of paper
but still as pure as a verse of a song
sang in the middle of the day
gleaming blue steel

that was when I understood dear love:
that flame there, it was not waiting for redemption
nor was it waiting for a miracle
or a change in history
it’s waiting only for one thing:
It’s waiting for evil doers to feel the shame of their actions
feel sad when they see the pain of blood and skin colour of other people
other than them

10.
we understand that
declarations
begins always with light

it only ends
with the things people cannot
straight away see
sentences
hanging in the square
each time a new ideal is born
the call for freedom
written in a tone of an edict

the declaration
written with bare arms
and read in a thick husky voice
of those who once upon a time
had too much faith in big dreams

“Us that is
what is left of us
declare that we have no faith
in declaration.”

because we inderstand
all the big stuff
must be announced in a soft voice
resolution is unnecessary when it comes to kindness
strategy does not equate to caring
it’s simply a hand reaching out at the right time

we believe in the small things
a glass of water for a stranger
a shelter from the rain
a timely apology

we chose to withdraw
so we won’t step on each other

someone asked:
“you guys think you can change the world
with tenderness?”

11.
we meet the people
sitting around mending the sky

they’re not saints
not poets, philosophers
or heroes
just ordinary people
sick from waiting for a miracle
from someone else

they sit waiting on the roof in the flood
crumbling bell towers
bridges to nowhere
holding onto nothing but old songs
and the glimmer of old memories

they asked:
the sky did not tear by itself
the hole in the ozone layer is man made
they bend over, pick up the humanity’s sorrows
a forgotten war
an unofficial migration
a misplaced promise of peace
the death of a love in infancy
the last look between two people
the blameless card dealt

all picked up by them, wiped clean
placed in the empty spots across the horizon
as though they’re stars
someone accidently dropped

one of them looked up
we’re mending the sky
so it won’t fall on the children
who will definitely come this way

another person added
we’re mending the sky
because no one lifts their chin to look up anymore

the last person said
we’re mending the sky
because if we do not, the night will swallow all of us whole

I watched them my love, the souls who quietly worked
and history will never remember them
but then again for that reason
it is worth the effort

sound of wind through the holes and tears
cry out like the notes played on a broken keyboard
attentively they listen nodding:
the sky is in a lot of pain
we should be more tender

like someone’s claw marks through time
each shimmering row of thread high in the sky
each small thread of hope
returned to the earth

you asked my love:
what will they do after they finish mending the sky?

I smiled:
only then will they lie down and rest
leave us with
a sky though not perfect
but enough to keep us warm in this orphaned century

9.
anh kể em nghe
một thành phố từng rực rỡ
như trí tưởng tượng của con người khi còn trẻ

những cửa kính từng soi bóng các cuộc tình đã mờ lớp bụi
những ngã tư từng chứng kiến người ta rất vội
kịp làm việc, kịp yêu nhau, kịp bỏ nhau
giờ đây chỉ còn những vệt khói xám
kéo dài như ký ức bị chôn sống

nhưng một ngọn đèn vẫn sáng
ngọn đèn cô độc
trong tầng ba của một căn phòng
bức tường bong tróc
như những mảng thất vọng của thế kỷ hai mươi mốt
không chữa lành

cửa sổ vẫn mở, gió thở
mang theo tiếng của biển rất xa
dư âm của lời ca
những ngày người ta còn biết thương nhau
qua cầu không rút ván

em hỏi: ai thắp ngọn đèn ấy?
anh chỉ biết lắc đầu
có thể của một người ra đi từ lâu
nhưng quên tắt
có thể là một linh hồn
muốn để lại dấu hiệu cho kẻ đến sau
cũng có thể là định mệnh
chưa muốn bóng tối chiến thắng

ngọn đèn ấy, nó nghẹn lại
như lời mẹ dặn trong mùa mưa lũ
ở đâu còn ánh sáng
ở đó còn đường về

cho những ai từ rừng
cho những ai từ biển
những kẻ tuyệt vọng từ phương Đông
những kẻ không còn gì để mất từ phương Tây
đều lặng lẽ được về phía ấy

tối hôm ấy, người đầu tiên bước vào căn phòng
không phải anh hùng
không phải triết gia
chỉ là một kẻ buồn quá
tìm chỗ để ngồi xuống
thở và hát

thêm một người thứ hai
một người thứ ba
“rừng núi dang tay
đi thăm, hầm chông và mã tấu…”

không ai nói gì
không ai hỏi ai
họ chỉ hát trong ánh sáng yếu ớt ấy
như thể tất cả đều hiểu rằng
điều duy nhất họ phải giữ
không phải là mạng sống
mà là nhân tính
đã mỏng như tờ giấy
nhưng vẫn đẹp như một câu hát
được hát giữa trưa
xanh ngời ánh thép

đó là lúc anh hiểu:
ngọn đèn kia không chờ cứu viện
không chờ phép lạ
không chờ lịch sử thay đổi
nó chỉ chờ một điều duy nhất:
chờ những người còn biết xấu hổ khi làm điều ác
và biết buồn khi thấy người khác đau
máu đỏ da màu

10.
chúng tôi đã hiểu rằng
những lời tuyên ngôn
luôn bắt đầu bằng ánh sáng

nó chỉ kết thúc
bằng những điều
người ta không chịu nhìn thẳng
những hàng chữ
được treo lên quảng trường
mỗi lần có một lý tưởng mới chào đời
những lời kêu gọi tự do
bị viết bằng giọng ra lệnh

bản tuyên ngôn
được viết bằng cánh tay trần
và đọc bằng giọng khản đặc
của những người đã từng
tin quá nhiều vào những giấc mơ lớn

“Chúng tôi,
những kẻ còn sót lại,
tuyên bố rằng,
không còn tin vào tuyên ngôn.”

vì chúng tôi đã hiểu
rằng mọi điều lớn lao
phải được nói bằng một giọng nhỏ nhẹ
rằng tử tế không cần biểu quyết
rằng yêu thương không phải chương trình
chỉ đơn giản một bàn tay chìa ra đúng lúc

chúng tôi tin vào những điều nhỏ bé
một chén nước cho người lạ
một mái hiên trú mưa
một lời xin lỗi kịp lúc

chúng tôi chọn lùi lại
để không dẫm lên nhau

ai đó hỏi:
“các người nghĩ thế giới sẽ thay đổi
bằng sự dịu dàng sao?”

11.
chúng tôi gặp họ
những người ngồi vá lại bầu trời

họ không phải thần thánh
không phải nhà thơ, triết gia
cũng chẳng phải anh hùng
chỉ là những con người bình thường
đã quá mệt với việc chờ đợi phép màu
từ tay của kẻ khác

họ ngồi trên những mái nhà bị ngập
những tháp chuông gãy
những cây cầu không dẫn đến đâu nữa
trên tay chỉ có những câu hát cũ
và những mảnh ký ức lấp lánh

họ nói:
bầu trời không tự rách
chính con người làm nó bị thủng
họ cúi xuống, nhặt nỗi buồn của nhân loại
một cuộc chiến bị lãng quên
một cuộc di cư không ai ghi chép
một lời hứa hòa bình đã mất
một tình yêu chết trẻ
ánh mắt lần cuối giữa hai người
cái thẻ bài vô tội

tất cả đều được họ nhặt lên, lau sạch
đặt vào khoảng trống của vòm trời
như thể chúng là những ngôi sao
kẻ nào đó lỡ đánh rơi

một người trong nhóm ngẩng lên
chúng tôi vá lại bầu trời
để nó đừng rơi xuống đầu những đứa trẻ
thế nào cũng đi qua đây

một người khác tiếp lời
chúng tôi vá lại bầu trời
vì không còn ai biết cách ngẩng đầu nữa

người cuối cùng
chúng tôi vá lại bầu trời
vì nếu không, đêm sẽ nuốt hết chúng ta

anh nhìn họ, những người thầm lặng
đang làm việc mà lịch sử sẽ không bao giờ nhớ
nhưng có lẽ vì vậy
nó mới đáng làm

gió thổi qua những lỗ thủng còn dang dở
kêu như những phím đàn vỡ
những người ấy lắng nghe, rồi gật đầu:
bầu trời vẫn còn đang đau
nhẹ tay hơn một chút

như móng tay ai cào vào thời gian
cứ mỗi đường chỉ khâu lấp lánh trên cao
là một chút hy vọng
lại trở về trên mặt đất

em hỏi:
rồi họ sẽ làm gì khi bầu trời đã vá xong?

anh mỉm cười:
khi ấy, họ sẽ nằm xuống nghỉ
để lại cho chúng ta
một bầu trời dù không hoàn hảo
nhưng đủ để che một thế kỷ mồ côi

Phú Quốc, Việt Nam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

12.
when history closes a door
they embrace the spring in their arms
they fly beyond time

without anyone holding them back
they leave history behind
birds refusing to fly North
because they know the cold would destroy what’s left of memory

they walk away in silence
without fire
without a map
on them they carry the smallest slice of spring
wrapped in a handkerchief
like the glass marbles kids used to hide
worried their mothers might take them away

that slice of spring, it’s not a flower
not sunlight
those who do not believe in the concept of “enlightenment”
since they see that even light could be injured

like the residual heat left behind on a chair
when you stand up
they have gone beyond history
where there are no issues
just a silence space across the sky
where literature is free from judgment
like the fear of waking
history fast asleep at the bottom of a hill

one of them said:
I left history behind
only because I want to love again
without people watching me

and in that village, history
may have perhaps made other people feel less afraid

the oddest thing
the only thing they had to do was breathe
and the world feels less scary

sometimes looking back at the old sky
they see history continues to
spill blood
struggle
libel
build
pull down
more bloodshed

they don’t need acknowledgement
saving just enough warmth for humanity
when everything has turned cold

and history is nurtured
with tenderness beyond reason
held high by those who makes no promises
suddenly the only thing left
when history have no one left to note their name

14.
when the sound of a bomb takes away
a breath

when the smoke of war
lingers still on the clothes on our back

guns no longer speaking
still burning slowly in the ground

because we still do not want to forget
we can all still see
a blade of grass
not tall
not green to perfection
not standing tall against the wind
just a fragile thread
shyly poking it’s head out from a crack in a burning cement wall

where there has been fire
where humanity have withdrawn
where history thought
there is no life
but grass does not need history
to grow

at such a point
some might kneel down beside it
to say a prayer
the first line “teach us to love one another as You have loved us”

– the prayer of a survivor coming home

pray O blade of grass
you are softer than any philosophy
and yet you stand up faster than all kinds of pain and sorrow

you’re oblivious of the past
nor are you bothered about the future
and yet at this very moment
you have done
what humanity have forgotten:

thank you
for growing where people believe there’s nothing left to grow
country is not just land
it is the return of things thought to be dead

gosh O green grass, aching at the end of the horizon
falling through the heart
into the soil budding still as grass

– a child’s prayer

knows nothing about war
knows its mother’s silence
it asking:
grass, does it hurt there?

to no reply
but those who heard feels
the pain more more painful for longer

– prayer of a person who had taken up arms

both hands familiar with the sound of explosions
and your conscience could slowly sit down:
– my bullets have entered the places where the grass will grow
the earth shrivelled up from fear
and yet the grass continued to grow
fragile to the point I wanted to cry

my apologies to the seasons of spring
who had missed my bullet

my apologies for not believing
in miracles

but if there were miracles
then it would be like green commas
in a dejected sentence

they stand around the small blade of grass
like standing around a small flame during
the funeral of a century

no one singing, but the wind to replace them
no one crying, but the dust playing in the light
the cause of red eyes and tears

O grass, we are the cause of the tear in the sky
we are the decay in memory
stamping out the light of what is left of the spring
burning to ashes our soul

comes the day we stop, stand to face
a blade of grass, and still knows how to stay silent
know how to breath slowly
how to reach out and touch another living thing

and it will be
amidst the bombs and munition of the world
rise the last prayers
not to justify or ask for anything
we are all hurt
but like grass each wound knows how to be green again

12.
khi lịch sử khép lại cánh cửa
họ lặng lẽ ôm mùa xuân trên tay
bay ra thời gian

nhưng không ai giữ lại
họ đã rời khỏi lịch sử
những bóng chim từ chối bay về phương Bắc,
vì biết trước gió lạnh sẽ giết chết ký ức

họ đi trong im lặng
không mang theo lửa
không mang theo bản đồ
chỉ mang một mùa xuân nho nhỏ
giấu trong khăn tay
như bọn trẻ từng giấu viên bi thuỷ tinh
sợ mẹ lấy mất

mùa xuân ấy, không phải là hoa
không phải nắng
những người không tin vào khái niệm “khai sáng”
vì họ đã thấy ánh sáng cũng bị thương

như hơi ấm còn sót lại trên ghế
khi bạn vừa đứng dậy
họ ra ngoài lịch sử
nơi không còn biến cố
chỉ có khoảng trời câm lặng
để văn chương không cảm thấy bị xét xử
như nỗi sợ đánh thức
lịch sử đang ngủ vùi dưới chân đồi

một người nói:
tôi rời khỏi lịch sử
chỉ vì tôi muốn yêu trở lại
mà không bị ai cảnh giác

và trong ngôi làng, lịch sử
có thể làm cho người khác cảm thấy bớt sợ

kỳ lạ thay
chỉ cần họ thở
thế giới đã bớt sợ hãi thêm một chút

đôi khi nhìn về chân trời cũ
họ thấy lịch sử vẫn tiếp tục
đổ máu,
tranh giành,
mạt sát,
xây đắp,
sụp đổ,
rồi lại đổ máu.

họ không cần ai công nhận mình
chỉ giữ lại chút hơi ấm cho loài người
khi mọi thứ còn sót lại đã nguội

và lịch sử
được nuôi bằng sự dịu dàng không lý thuyết
được giữ bởi những người không hứa hẹn
bỗng trở thành điều duy nhất sót lại
khi lịch sử chẳng còn ai để ghi tên

14.
khi tiếng bom vừa dứt
một nhịp thở

khi khói chiến tranh
vẫn còn vương trong kẽ áo

khi mặt đất vẫn âm ỉ sức nóng
của những khẩu súng đã ngừng nói

vì chúng chưa chịu quên
mọi người vẫn còn nhìn thấy
một ngọn cỏ
không cao
không xanh màu xanh trọn vẹn
không đứng thẳng trước gió
chỉ là một sợi mỏng manh
rụt rè trồi lên từ vết nứt của lớp bê tông tường thành đang cháy

nơi mà lửa đã đi qua
nơi mà con người đã lùi bước
nơi mà lịch sử nghĩ rằng
sẽ không bao giờ có sự sống
nhưng ngọn cỏ không cần lịch sử
nó mọc

chính lúc ấy
có người quỳ xuống bên nó
để đọc bài kinh cầu nguyện
lời đầu tiên “người biết yêu người”

– bài kinh của kẻ còn sống sót trở về

lạy ngọn cỏ
ngươi mềm hơn mọi triết lý
nhưng ngươi cũng đứng dậy nhanh hơn mọi đau thương

ngươi không biết quá khứ
cũng chẳng màng tương lai
nhưng ngay lúc này
ngươi đã làm điều
mà loài người quên mất:

cám ơn
vì ngươi mọc từ nơi không ai nghĩ chẳng còn gì để mọc
quê hương không chỉ là đất đai
mà là sự trở lại của thứ tưởng như đã chết

ôi cỏ xanh ngươi buốt tận chân trời
ngã xuống xuyên giữa ngực
tan vào đất đâm chồi vẫn cỏ

– bài kinh của một đứa bé

không hiểu chiến tranh là gì
nhưng hiểu nỗi im lặng của mẹ
nó hỏi:
cỏ ơi, chỗ này có đau không?

không ai trả lời
nhưng mọi người nghe thấy
đau hơn và lâu hơn

– bài kinh của người từng cầm súng

hai tai đã quen tiếng nổ
và lương tâm người vẫn ngồi xuống thật chậm:
– tôi đã bắn vào nơi cỏ sẽ mọc
đã làm mặt đất co lại vì sợ
vậy mà cỏ vẫn mọc lên
mỏng manh đến mức làm tôi muốn khóc

tôi xin lỗi
cho những mùa xuân tôi đã bắn hụt

tôi xin lỗi
vì tôi không tin vào phép màu

nhưng nếu có phép màu
thì nó như dấu phẩy màu xanh
trên câu văn tuyệt vọng

họ cùng đứng quanh ngọn cỏ
như đứng quanh một ngọn nến nhỏ
trong tang lễ của thế kỷ

không ai hát, nhưng gió hát thay họ
không ai khóc, nhưng bụi bay trong ánh sáng
khiến đôi mắt đỏ lên như khóc

ngọn cỏ ơi, chúng ta đã làm rách cả bầu trời
làm mục nát ký ức
dập tắt mùa xuân
đốt cháy linh hồn của chính mình

nếu một ngày chúng ta còn đứng lại
trước một ngọn cỏ, còn biết lặng im
còn biết thở chậm
còn biết đưa tay chạm vào một sinh linh

và thế là
trên nền đạn bom của thế giới
những bài kinh cuối cùng được đọc lên
không để cầu xin, không để chứng minh
tất cả chúng ta đều bị thương
nhưng mọi vết thương đều biết cách xanh như cỏ

Sea Cliff Bridge, NSW, Australia. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A HYMN OF TENDERNESS
FOR THOSE WHO ARE DISAPPEARING
BECAUSE OF THEIR MEMORY OF A WAR


love, this verse that I wrote
like a small offering
on the forehead of those eroding
like pebbles beneath the feet of this century

those who had survived the war
dying in the afternoons tainted with smoke
lost in the middle of peace
as though they are walking through a field long forgotten

where each step echoes the sound of an explosion
a past that refuses to leave them alone
as though the call of street sellers
were the sound of alarms and sirens

like a prayer
read over and over again
to snap you out of a nightmare

love, this verse that I wrote
I wrote it so the blue sky may be less cold
when it passes over their old shoulders

love, this verse that I wrote
I wrote it so that the sea may be less sad
seeing people standing around for so long
not knowing why they want to cry

love, this verse that I wrote
like lighting a candle
placing it in the middle of a room amid all that trembling
only a small candle flame
but enough for them to see that
darkness will never triumph over a flame that knows how to listen

and if war
continues to pump through their vein
then this hymn
will be the water in a brook that will clean their hands
shaken from so many years without the touch of tenderness

love, this verse that I wrote
for those who are slowly disappearing
because of the memory of a war
like sand through fingers
so I can tell them that
no one is born to then disappear
no one is born to then fade in memory

tonight, the most tender of hymns is written
in their thinnest of breaths
rising still, flying
like an apology turning up late
written for the hearts
that had safeguard the world

with a cost that no one
could ever repay

no echo or rising applaud
just silence
so all those exhausting memory could be placed down on the ground
like a soldier’s backpack
returning from a battle
that had lasted a lifetime

all they have to do is sit still
give themself the permission to believe
that the world will also slow down
wait for them

some place a hand on their chest
feels that their heartbeat
no longer sound like the fire of artillery

they are called by their name
in a world that had in the end
learned how to listen
to pain and not
turn it into folklore


BẢN THÁNH CA DỊU DÀNG
CHO NHỮNG NGƯỜI VẪN ĐANG BIẾN MẤT
VÌ KÝ ỨC CHIẾN TRANH


anh viết khúc này
như một lời tụng nhỏ
đặt lên vầng trán của những người
đã mòn đi như viên sỏi dưới chân thế kỷ

những người không chết trong chiến tranh
mà chết trong những buổi chiều còn sót mùi khói
những người đi lạc giữa hòa bình
như đi giữa một cánh đồng bị bỏ quên

nơi từng bước chân vang lên tiếng nổ
của cái quá khứ không cho họ bình yên
như thể tiếng rao hôm nay của người bán hàng rong
cũng thành còi báo động

như một lời kinh
đọc đi đọc lại
để bẻ gãy một cơn ác mộng

anh viết khúc này
để trời xanh bớt lạnh
khi đi qua vai họ

anh viết khúc này
để biển bớt buồn
khi nhìn thấy những bóng người đứng rất lâu
mà không biết vì sao mình muốn khóc

anh viết khúc này
như thắp lên một ngọn nến
đặt giữa căn phòng đầy những cơn run rẩy
ngọn nến nhỏ thôi
nhưng đủ để họ biết
bóng tối chưa từng thắng một ngọn lửa biết lắng nghe

và nếu chiến tranh
vẫn còn đang chảy trong mạch máu của họ
thì bản thánh ca này
sẽ là dòng suối rửa sạch đôi bàn tay
đã run lên từ quá nhiều năm không được chạm vào sự dịu dàng

anh viết khúc này
cho những người đang mất dần
vì ký ức chiến tranh
như cát đang rơi khỏi lòng bàn tay
để nói với họ rằng
không ai sinh ra để tan biến
không ai sinh ra để ký ức phai đi

đêm nay, bản thánh ca dịu dàng nhất
được viết bằng hơi thở rất mỏng
của họ, vẫn sẽ bay lên, bay lên
như một lời xin lỗi muộn màng
gửi tới những trái tim
đã từng bảo vệ thế giới

bằng cái giá mà không ai
trả lại được cho họ

không có tràng pháo tay nào vang lên
chỉ có sự im lặng
để những ký ức mệt mỏi
được đặt xuống như balô của người lính
vừa trở về sau một cuộc hành quân
kéo dài cả đời

họ chỉ cần ngồi yên
cho phép mình tin rằng
thế giới này cuối cùng cũng chịu chậm lại
để đợi họ

có người đặt tay lên ngực
nghe thấy nhịp tim mình
không giống tiếng súng

họ được gọi tên
trong một thế giới
cuối cùng, cũng học được cách
lắng nghe nỗi đau
mà không biến nó thành huyền thoại

Dawn, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.