live and write like people in exile

A critical assessment in Vietnamese by Nguyễn Hưng Quốc
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm


Vietnamese literature in exile is more or less the result of us constantly looking back; “In search of lost time” like Proust, letting go of a rich culture “miệt vườn” is no way easy task, it requires conviction and aptitude.

When Vietnamese literature overseas is treated as an extension of South Vietnamese Literature prior to 1975, whether it’s a reality or not, it’s still a precarious disposition.

Number one, the most obvious precarious disposition specifically is that it’s extremely difficult to accept what is new no matter how objective, we’re so privileged with all the means that doing nothing still leaves our compatriots in Vietnam drooling. Yet there are no pioneering writers amongst Vietnamese overseas, a soccer game with only defenders and lots of goalkeepers is a bizarre and despairing disposition.

We are full of contradictions: we adore the West but are afraid of being tarnished; we are proud of our cultural heritage but we are endlessly critical of the colourful segregated Vietnamese communities scattered around the globe, Bolsa in the States, District 13 in France, Footscray and Cabramatta in Australia.

We are unduly suspicious and too quick to disregard the great writers in Vietnamese who are more or less influenced by the West, and more curious about young writers who write in English or French with no promise of true talent.

Literature void of excellence is of little value except for it being published in scattered publications. 

Thus, being on the sidelines means the writer is in a position furthest from their readers, “fame” is then an illusion, we’re at best “famous” in a small community or amongst friends and acquaintances.

The answer is already there in Nguyen Mong Giac’s question. When he was a writer in Vietnam, the constant resounding response from readers had the ability to create “wonderful (or bizarre) resounding responses which had the ability to take both the author and the work on a new adventure.” While overseas there are no such resounding responses? Overseas, publishing an article in a newspaper or published book, it’s like talking down a disconnected telephone line. The silence. Not a single sound, not a word of criticism, or even a curse. Complete silence.

Writing, in the past, was a title; later, it became both title and profession, but in reality, there is no title in the end. Writing overseas has become an impotent and powerless venture./.

October 2021

 NB.

  1. Looking back, not being able to let go, and the resistance and acceptance of the change.                                                    
  2. Contradictions: The West’s influence versus retaining our cultural Eastern heritage. Great Vietnamese authors are being marginalised by a “banana” generation of writers, praised with no guarantee of success.
  3. Literature void of excellence has no future. 

Sống và viết như những người lưu vong

Nguyễn Hưng Quốc

Trong tập Du côté de chez Swann của Marcel Proust, mặc dù nói là đi tìm thời gian đã mất (A la recherche du temps perdu), nhân vật chính chỉ loay hoay tìm kiếm mãi hình ảnh một cái làng, làng Combray. Bởi vậy, nghĩ cho cùng, văn học lưu vong nào cũng ít nhiều mang tính chất “miệt vườn”. Giũ bỏ tính chất “miệt vườn” ấy bao giờ cũng là một thách đố lớn cần nhiều quyết tâm lớn và tài năng lớn.

Từ kinh nghiệm này, chúng ta không nên khinh thường nhận xét đã được nhiều người phat bleu: văn học hải ngoại là cánh tay nối dài của văn học miền Nam trước năm 1975. Nêu điều đó chưa phải là một hiện thực thì ít nhất nó vẫn là một nguy cơ.

Nguy cơ rõ nhất và cụ thể nhất là việc tiếp nhận cái mới trở thành vô cùng khó khăn dù về phương diện khách quan, chúng ta có đầy đủ tất cả những điều kiện cần thiết khiên những người trong nước phải thèm thuồng. Ngoái về quá khứ, cac cây bút lưu vong ít khi đóng được vai trò tiên phong. Nêu ví nên văn học hay văn nghệ hải ngoại nói chung VỚI một trận bóng đá,’ thì đó là một trận bóng thường chỉ có các hậu vệ và thật nhiều thủ môn, đó chiến thắng được tính bằng những lần bắt bóng chứ không phải bằng những lần làm bàn. Một trận đấu kì dị. Quái gở. Và tuyệt vọng. 

Chúng ta đầy mâu thuẫn: chúng ta vừa sùng bái Tây phương lại vừa sợ bị Âu hoá; chúng ta vừa hết lời ca ngợi truyền thống văn hoá dân tộc lại vừa không ngớt đay nghiến, bỉ thử nếp sống đậm màu sắc truyên 

thống của cộng đồng người Việt khu Bolsa bên Mỹ, khu Paris 13 bên Pháp hay khu Cabramatta và Footscray úc; 

…Chúng ta thường nghi kỵ một cách quá đáng những nhà văn viết bằng tiếng Việt chịu ít nhiều ảnh hưởng của Tây phương dù đó là những tài năng lớn trong khi chúng ta lại vồ vập một cách quá đáng một số cây bút trẻ viết thẳng bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, dù chưa có gì hứa hẹn đó sẽ là những tài năng thực sự. 

Đi vào một sinh hoạt văn học không phải của dân tộc mình, người ta, nếu không phải là một đỉnh cao thì rất dễ có khả năng sẽ không là gì cả ngoài cái việc được đăng tải và được xuất bản. 

Sự kiện đứng bên lề và sự kiện xa cách tuyệt đối với độc giả khiến khái niệm “danh vọng” trở thành hão huyền: ngay cả những người xuất sắc nhất trong chúng ta cũng chỉ “nổi tiếng” trong một phạm vi thật nhỏ, chủ yêu với một nhóm bạn bè và những người quen biết.

Trong câu hỏi của Nguyễn Mộng Giác đã có sẵn câu trả lời. Thời ông cầm bút Việt Nam, những tiếng vọng liên tục từ phía độc giả có khả năng tạo nên những “dư âm kỳ thú (hay kỳ dị) đưa cả tác giả lẫn tác phẩm vào một cuộc phiêu lưu mới.” Còn hải ngoại thì làm gì có những tiếng vọng như thế? hải ngoại, đăng một bài viết trên báo hay in một cuốn sách, nhiều lúc ngỡ chừng như nói vào ống điện thoại chưa nối đường dây. Lặng ngắt. Không nghe gì cả, kể cả một lời chê, một tiếng chửi, cũng không có. Hoàn toàn lặng ngắt. 

Viết văn, ngày xưa, là một danh phận; sau này, vừa là một danh phận vừa là một nghề nghiệp. hải ngoại, viết văn không thể là một nghề nghiệp mà trên thực tế, cũng không còn là một danh phận. Viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực ở hải ngoại hiện nay. 

Sydney Opera House, Australia

Nguyễn Hưng Quốc, born Nguyễn Ngọc Tuấn in 1957, in Quang Nam, Vietnam. The linguist, critic, writer, and poet is currently living in Victoria, Australia.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

909 TERCET

A BOOK OF POEMS in Vietnamese by Nguyễn Hưng Quốc
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Congratulations (I know it sounds ostentatious, but bear with me, I am unapologetic) to anh Nguyễn Hưng Quốc and Pháp Hoan ( Mai Cong Lap ). Your books of poems will be the very first two books of poems published in English on nguyenthiphuongtram.com.

It will be a constantly evolving piece of living text. A piece of living art I’m very excited and proud to announce and share with my readers.

You have given me an unexpected goal in completing the translation of your books of poetry.

I am momentarily on cloud nine.

Quý mến,

Nguyễn Thị Phương Trâm

September 19, 2022


909

BÀI THƠ

BA DÒNG

1.
A leg in Vietnam, a leg in Australia
Between the legs
The drifting clouds

Một chân ở Việt Nam, một chân ở Úc
Dưới háng là
Mây bay

2.
Poetry is born
From the exile imperial chamber
Of every (forbidden) rose

Thơ ra đời
Từ lãnh cung
Của những đóa hoa hồng

3.
When the two abdomens collide
The mountains part to avoid
One falling leaf

Khi hai phần hạ thể đụng vào nhau
Ngọn núi nghiêng mình tránh
Một chiếc lá rơi

4.
For every person who passes away
Flying is heaven and earth offering
A grain of dust

Mỗi người ra đi
Trời đất phúng điếu bằng
Một hạt bụi bay

5.
Each flower
A translation of Eve’s beauty
In the garden of Eden

Mỗi đóa hoa là một bản dịch
Nhan sắc của Eva
Lúc còn ở vườn địa đàng

6.
Love is
An altered form
Of fire

Tình yêu là
Một biến tấu
Của lửa

7.
One hundred of *Thị Nở’s children
Each and everyone of them
Have their own colour flag

Trăm đứa con Thị Nở
Mỗi đứa
Một màu cờ

*Thị Nở is a character representing
humanity’s compassion
in Van Cao short story

8.
The falling leaves
Left not a single
Testament

Những chiếc lá rơi
Không để lại
Di chúc

9.
Utmost apologies to the moonlight: The curtains must be drawn
The lady does not want anyone to witness
The married couple putting each other to sleep

Xin lỗi ánh trăng: Phải kéo màn cửa lại
Nàng không muốn ai nhìn thấy
Chuyện vợ chồng ầu ơ

10.
The poet
Drops his pen
Upon the embodiment of Buddha

Nhà thơ
Buông ngòi bút xuống
Thành Phật

11.
I adore the chins held high
Unyielding against
The drops of evening dew

Tôi yêu những cái đầu ngẩng cao
Bất khuất trước
Những giọt sương khuya

12.
The quivering red leaves beneath the sunlight
Chilled by the wind
An Autumn ignited by the residing young woman

Những chiếc lá đỏ run rẩy dưới nắng
Gió thốc lạnh
Người thiếu phụ ngồi cháy cả mùa thu

13.
I’ve been chasing my entire life
The clouds
Without a country

Cả đời tôi cứ rượt theo hoài
Những làn mây
Vô tổ cuốc

14.
The greenest of lawns
Agreed upon signing
The rain’s manifesto

Những bãi cỏ xanh ngắt
Đồng ký tên vào
Bản tuyên ngôn của mưa

15.
The treetops reaching for the blue sky
To note the charter
For the ground

Những ngọn cây rướn cao lên trời xanh
Để viết hiến chương
Cho mặt đất

16.
The leaves as pretty as flowers
A reminder:
Nothing last forever

Những chiếc lá đẹp như hoa
Nhắc nhở:
Đừng tin vào vĩnh cửu

17.
All those faraway stars cast their eyes
Upon the earth night after night
Looking for a misplaced poet

Các vì tinh tú xa xăm
Đêm đêm dõi mắt nhìn địa cầu
Tìm một nhà thơ thất lạc

18.
The moon green with morning sickness
Dreams of having a child
With a poet

Vầng trăng xanh ốm nghén
Mơ có con
Với một nhà thơ

19.
He wanted to tide the knot with a dream
The dream assassinated
He lived on as a widow

Hắn muốn kết hôn với một giấc mộng
Giấc mộng bị ám sát
Hắn ở goá

20.
In the middle of heaven is hell
I chose what is in the middle:
Earth

Giữa thiên đàng là địa ngục
Tôi chọn cái ở giữa:
Trần gian

21.
Religious leaders loves humanity to the point
When they are ready
For deceit

Các giáo chủ yêu loài người đến độ
Họ sẵn sàng
Nói dối

22.
A woman’s charm depends on her laughter
But in terms of depth
She needs her tears

Người phụ nữ có duyên nhờ tiếng cười
Nhưng sâu sắc
Nhờ nước mắt

23.
Poets are the kind of people
Who likes to fight with
Nothingness

Nhà thơ là những kẻ thích
Gây sự với
Hư không

24.
Not just anyone could
Grasp the idea of loneliness
Endured by those rivers widowed

Không phải ai cũng hiểu được
Nỗi cô đơn của
Những dòng sông góa chồng

25.
The lake lay naked upon dawn
Baring its chest waiting for
A blanket of fog

Sáng sớm hồ nước ở trần
Phơi ngực cho đám sương mù
ấp ủ

26.
So many poems dying young
Because the letters have
Given up

Nhiều bài thơ chết yểu
Vì các chữ
Quyên sinh

27.
The sea composes thousands and thousands of verses of poetry a day
To then
Self destruct

Mỗi ngày biển viết hàng ngàn bài thơ
Rồi
Tự xoá hết

28.
The spring, a startling moment for poetry
Discerning
The budding bounty

Mùa xuân, ngày thơ giật mình
Nghe tiếng cành cây
Nẩy lộc

29.
The autumn could through music and poetry discern
From the branches, the leaves letting go
Falling so so

Mùa thu, nghe thơ nhạc nhắc
Lá buông cành
Rơi

30.
You left me
With your scent
Hanging me by the neck from the ceiling

Em đi rồi
Mùi hương
Treo cổ anh


31.
He’s been looking for a poem that has been disbanded
It’s hidden somewhere
In the moonlight
--
Hắn ngơ ngác đi tìm một bài thơ thất tán
Nó trốn đâu đó
Dưới ánh trăng

46.
Poets are baptised
By
Poetry

Các thi sĩ được rửa tội
Bằng
Thơ

49.
The moonlight soft and dreamy so much so
The uncountable widows
Now with child

Ánh trăng dịu dàng và thơ mộng đến nỗi
Làm bao nhiêu góa phụ
Mang thai

51.

61.

71.

81.

91.

101.

111.

121.

131.

137.
A mountain is an accent
And the river connects
While I’m the accented connection to you

Ngọn núi là vần trắc
Vá dòng sông vần bằng
Còn anh bằng trắc em

141.

142.
In the end, all the love intrigue shall pass by
Left behind
Are the anecdotes

Cuối cùng, mọi mối tình đều đi qua
Cái còn lại là
Những giai thoại

144.
When you bend over darling
The spirits altogether
Disappear

Khi em chổng mông lên
Mọi thần linh đều
Biến mất

149.
The gust of wind through her hair
Set free a strand
Plastered across the sky

Ngọn gió thổi tung mái tóc em
Một sợi rơi
Dính trên nền trời

151.
160.
Your smile dear
The awakening scent
An entire meadow of roses

Nụ cười em
Làm dậy hương
Cả cánh đồng hoa hồng

161.

171.
The wind resents the leaf: It’s set on throwing the leaf on the ground
The leaf unafraid of death
Continues to idly fly

Gió thù lá: Nó quyết ném những chiếc lá xuống đất
Lá vẫn nhởn nhơ bay
Không sợ chết

172.
In poetry, there’s no warning sign
Nothing is forbidden
As long as it’s not lousy

Trong thơ, không có bảng cấm
Mọi sự đều được phép
Miễn đừng dở

173.
With eyes closed love
The heart does not need to be right
Spelt out correctly

Hãy nhắm mắt lại khi yêu
Trái tim không cần đúng
Chính tả

174.
Now and then
We would have peace
When the cannibals are on a hunger strike

Thỉnh thoảng những kẻ ăn thịt người tuyệt thực
Chúng ta có
Hoà bình

175.
A poet is the interpreter of the dark
So light may understand
The heart of night

Nhà thơ là kẻ phiên dịch bóng tối
Để ánh sáng hiểu được
Trái tim đêm

176.
History no matter where
Is full of
Postscripts

Lịch sử nào
Cũng đầy
Tái bút

177.
In the East Sea, a fish was executed
For illegally swimming
In someone else’s water

Trên Biển Đông, một con cá bị xử tử
Vì bơi lạc
Vào hải phận một nước khác

178.
They’re piled on top of each other
The fibre of the night was shredded
By their moaning

Họ chồng lên người nhau
Màn đêm bị những tiếng rên
Xé rách

179.
Most pitiful are bunches of flowers on the graves
Always withered
Before it’s time

Thương nhất là những bó hoa trên các nấm mộ
Bao giờ cũng
Già trước tuổi

180.
I like the poems stripped bare
So the readers may see
The veins

Tôi thích những bài thơ ở trần
Để người đọc thấy được
Gân guốc

181.
Composing poetry is a wrestle with words
When the words wins
The author wins

Làm thơ là đánh vật với chữ
Khi chữ thắng
Tác giả cũng thắng

182.
The songs of the nightingale from his childhood
Chased him
Like sleep and poetry

Tiếng sơn ca từ ngày thơ ấu
Đuổi theo hắn
Như bài thơ giấc ngủ

1́83.
She stuck a smile on her lips
In order to show off
One beautiful dream

Nàng dán nụ cười trên môi
Đẻ khoe
Một giấc mộng đẹp

184.
Spring past by, she lost
The password to
Her heart

Mùa xuân đi qua, nàng đánh mất
Mật khẩu
Trái tim mình

1́85.
The flowers
They know the incantation to open up poetry
But they prefer to keep it a secret

Hoa biết thần chú mở cánh cửa thơ
Nhưng chúng giữ
Bí mật

186.
Love is the ruins
In
The garden of Eden

Tình yêu là phế tích
Của
Vườn địa đàng

1́87.
Poetry is nothing but an old whore
Admiring the moon
While she waits for her next client

Thơ chỉ là cô điếm già
Đứng ngắm trăng
Trong lúc chờ khách

188.
Without an interpretation
He could still discern
The confiding admissions of the wind

Không cần phiên dịch
Hắn cũng hiểu
Những tâm sự của gió

189.
Listen. Listen. Listen
Just listen quietly to each sound
Each sound shall in turn, turns into music

Lắng nghe. Lắng nghe. Lắng nghe
Chỉ cần im lặng lắng nghe
Mọi tiếng động đều thành âm nhạc

1́90.
Kissing her for the first time
He could discern a familiar scent
Of an earlier life(an old soul)
—Lê Vĩnh Tài
Lần đầu tiên hôn nàng
Hắn nhận ra mùi hương quen thuộc
Từ tiền kiếp

191.
There are full of people in heaven
Sitting around reminiscing
On the past

Trên thiên đường đầy những người
Ngồi luyến tiếc
Quá khứ

1́92.
Humans are free
In the Creator’s
Blind spot

Tự do của con người là
Những điểm mù của
Thượng Đế

193.
Half of her shadow falls over
The flowers
In menopause

Nửa cái bóng nàng ngả trên
Những đóa hoa
Mãn kinh

1́94.
Each human life is a sketch by the Creator
Pity
The majority of them are so clumsy

Mỗi đời người là phác thảo của Thượng Đế
Tiếc
Phần lớn đều vụng về

195.
He’s been composing poetry
Since the day u Cơ* hit puberty
For thousands of years still
—*Legendary Mother of Vietnam
Hắn làm thơ từ thời u Cơ mới dậy thì
Suốt mấy ngàn năm
Vẫn

1́96.
When it comes to singing, people need lots of listeners
While poetry need
Just a set of ears

Khi hát, người ta cần nhiều người nghe
Còn thơ
Chỉ cần một người

197.
Each author is a mother
A poem
Has no father

Mỗi tác giả là một người mẹ
Bài thơ
Không có cha

198.
There are thorny sharp jagged words
Keen in
The larynx of all those love poems

Có những chữ lởm chởm gai sắc
Làm buốt
Thanh quản những bài thơ tình

199.
Some nights I do not sleep
The words do not sleep
Both hopelessly watching poetry sleep

Có những đêm tôi không ngủ
Chữ cũng không ngủ
Cả hai tuyệt vọng nhìn thơ ngủ

200.
The day he married his wife, he was given
Ten dreams
Free of charge

Cưới vợ, hắn được tặng
Mười giấc mơ
Miễn Phí

201.
Within the foundation of the revolution of poetry
The flowers bloom
From the piles of rubble

Trong nền thơ cách mạng
Hoa nở
Từ những đống xà bần

202.
Many poets have passed away leaving behind a portrait
Carefully framed
The frame prettier than the picture

Nhiều nhà thơ qua đời để lại bức chân dung
Đóng khung thật kỹ
Cái khung đẹp hơn bức họa

203.
The waves rising higher and higher
Swallowing whole
The full moon

Những ngọn sóng chồm lên chồm lên
Nuốt chửng
Ánh trăng rằm

211.

221.

222.
The eyes hid
An unsent
Love letter

Bức thư tình chưa gửi
Vẫn còn giấu
Trong mắt
225.
On the deserted beach
I heard the splashing of the Sun
Set

Trên bờ biển vắng
Tôi nghe tiếng mặt trời
Lặn
226.
She goes
The wind follows
A whirlwind of boundless leafy yellows
(LVT)

Nàng đi
Ngọn gió theo sau
Cuốn theo bao nhiêu là lá vàng

231.
Poetry, the kisses
Discreet
Surpassing geography

Thơ là những nụ hôn
Kín đáo
Xuyên địa lý
233.
In a display of affection
He composes poetry
As she loses her virginity

Để bày tỏ tình yêu
Hắn làm thơ
Còn nàng thì mất trinh
235.
After love making
She left
Behind a few hair

Làm tình xong
Nàng ra đi
Để lại mấy sợi tóc

241.

251.

261.

271.

281.

283.
Sperm is all
Poetry needs
Tears are unnecessary

Thơ không cần nước mắt
Thơ chỉ cần
Tinh trùng

291.

301.
309.
Waves are the signature of the sea
On a lonely
Page of scripture

Sóng là chữ ký của biển
Trên tờ kinh
Quạnh hiu

311.

321.

324.
Poetry
The sacrament of marriage
In between the words

Thơ
Bí tích hôn phối
Giữa các chữ

325.
You are the fevered words
On the crumbling lustful page
A poem swollen with testosterone

The poem is very male (direct translation)
A poem pumped with Viagra

Em làm các con chữ phát sốt
Trên trang giấy nhàu nát dục tính
Bài thơ rất đực

326.
All books are unfinished
They wait for the rays of sunshine
To shed light

Mọi cuốn sách đều dang dở
Chúng chờ những giọt nắng
Viết tiếp

327.
The bottom of my soul is you
Surrounds you
The sediment of the memory of us

Dưới đáy hồn anh là em
Chung quanh em
Là trầm tích của kỷ niệm

331.
Poetry: Stolen letters
Fallen from the holey pocket
Of a dream

Thơ: Những chữ bị đánh cắp
Bởi một giấc mơ
Thủng đáy

332.
Poetry is the whisper
Of the first morning dew
Not once screwed

Thơ là tiếng thì thầm
Của những giọt sương mai
Chưa mất trinh

341.

351.

361.

371.

381.

391.

401.

411.

421.

424.
He hanged himself
Not by nailing himself to the cross
But with love poems
—(translation by Viet Pham)
Hắn tự treo mình trên thánh giá
Không có đinh
Chỉ có những bài thơ tình

426.
The poet listens and interprets
The conversations between
The grass and the dew

Nhà thơ lắng nghe và phiên dịch
Các cuộc chuyện trò giữa
Cỏ và sương

429.
Your seductive scent
The like of an apple
With the bite of Adam

Mùi hương của em quyến rũ
Giống mùi trái táo
Adam từng cắn

431.

441.

444.
She left
The snake follow suit
Spitting venom into every dream

Nàng ra đi
Con rắn theo sau
Phun nọc độc vào mọi giấc mơ

St. Joseph Cathedral, Hanoi, Vietnam

451.

461.

464.
Eva left her breasts in the apple tree
After a few thousands years
Adam managed to get them back

Eva bỏ quên cặp vú trên cành táo
Mấy ngàn năm sau
Adam mới lấy lại được

471.

481.

491.

501.

510.
After consuming the forbidden fruit
Adam was finally
Truly free

Sau khi ăn trái cấm, Adam mới
Thực sự
Tự đó

511.

521.

524.
The poem masturbating
A ritual
Of the word

Bài thơ thủ dâm
Trong nghi lễ
Của chữ
526.
Your disappearance(em)
Widowed
The afternoon

Em đi mất
Buổi chiều trở thành
Góa phụ
529.
The poet likes to perform his monologue
Only in front of the confessional
Of nothingness

Nhà thơ chỉ thích độc thoại
Trước tòa giải tội
Của hư vô

531.

534.
Oblivion is something
He has learned
From the river

Hắn học được
Từ dòng sông
Sự quên lãng

541.

551.

554.
There are the poems
Consumed
By words

Có những bài thơ
Bị chữ
Thủ tiêu

561.

564.
Vast forest fires
Everyone’s afraid
Only the wind applauds the flames

Cháy những cánh rừng bạt ngàn
Mọi người đều sợ
Chỉ có gió là hoan hô lửa

565.
The poem was caught making love with
A perforated
Condom

Bài thơ bị bắt quả tang đang làm tình với
Một cái condom bị
Thủng

571.
You teased me in a dream
It woke me
While you were still dreaming
—(Translation by Lê Vĩnh Tài)
Trong mơ, em khều anh dậy
Anh dậy
Em vẫn còn mơ

581.

588.
Each poet
Is
A cemetery

Mỗi nhà thơ
Là một
Nghĩa trang

591.
598.
She’s impressionable. Hers tears fell into
Her ovaries
Hatched into poetry

Nàng mẫn cảm. Nước mắt nàng chảy vào
Buồng trứng
Nở ra thơ

599.
The sweet wind blew in memory
Reliving warm kisses
A long time ago

Gió ngọt ngào thổi vào trí nhớ
Sống lại những nụ hôn ấm
Một thời xa lắc

600.
The gentle sea waves
Wrote on the sand for water
A love letter

Sóng biển êm ái
Viết lên cát
Bức thư tình của nước

Dã Quỳ by Như Hoài

601.
Holding her, leaning in for a kiss
Half a century later
His lips barely touched hers

Ôm nàng, hắn cúi xuống
Nửa thế kỷ sau
Môi hắn vẫn chưa đụng tới môi nàng

602.
Humanity can not escape the vernacular
Since even silence
Is a comma

Con người không thể thoát khỏi ngôn ngữ
Ngay cả sự im lặng
Cũng là một dấu phẩy

603.
I like the poems composed after midnight
Each word is loaded with
Hesitation

Tôi thích những bài thơ viết sau 12 giờ đêm
Mỗi chữ nặng trĩu một nỗi
Trăn trở

604.
Each living soul
A tomb
Of oblivion

Mỗi người sống
Một nấm mộ
Lãng quên

605.
The earth is an abandoned chapel
God and Buddha
Evacuated

Trái đất là một nhà nguyện bỏ hoang
Chúa và Phật
Đã được di tản

606.
Fired up by the beauty
He composes poetry
The pen’s a force of nature

Rạo rực trước cái đẹp
Hắm làm thơ
Ngòi bút là sinh thực khí

607.
It seems everyone in Eden is a poet
All regretting
What is ephemeral

Trên thiên đường hẳn ai cũng là thi sĩ
Tất cả đều nuối tiếc những sự
Phù du

608.
Each river is a sanctuary for water
A place for the preservation of unexplained
Sadness

Mỗi dòng sông là một thánh đường của nước
Nơi cất giấu
Những nỗi buồn bâng quơ

611.
Flowers lower their heads
To avoid the forward kisses
Of sunlight

Những đóa hoa cúi mặt
Tránh những nụ hôn sàm sỡ
Của nắng

614.
In his dream he was lost
Inside the sleep
Of a rose

Hắn nằm mơ thấy mình đi lạc
Trong giấc ngủ
Một đóa hoa hồng

615.
The statue of Buddha looks down
On the bed where two people are making love
The room bubbling to
the boiling point of breathlessness

Trên chiếc giường hai người làm tình
Tượng Phật ngó xuống
Căn phòng sôi tiếng thở

620.
Your sadness(em)
Shimmering within
The teardrops of sunlight

Nỗi buồn em
Long lanh trong
Những giọt nước mắt của nắng

621.

624.
At the heart of the wind
The adulterous
Woman

Trong trái tim của gió
Có một người đàn bà
Ngoại tình

631.

641.

644.
Her vagina
A store
Full of memories

Cửa mình nàng
Đựng đầy
Kỷ niệm

651.

661.

671.

674.
Poetry, need most
The air
Since even poetry needs to breathe

Trong thơ, cần nhất là
Dưỡng khí
Thơ cũng cần thở

678.
The leaf is as red as
The lure of painted
Red lips

Chiếc lá đỏ như
Đôi môi son
Khiêu khích

680.
Like the pauses in a sentence
The teardrop is a full stop on
A love affair

Giọt nước mắt như dấu câu
Chấm hết
Một chuyện tình

681.

685.
The crying
Greying
Even the light of the full moon

Tiếng khóc
Làm bạc tóc
Cả ánh trăng rằm

691.

701.

705.
Night leaned in to kiss him
He looked up
Saw the moon weeping

Đêm cúi xuống hôn hắn
Hắn ngước mặt lên
Thấy trăng ứa nước mắt

711.

721.
Thank the Lord: All women
Are
Beautiful

Tạ ơn Chúa: Người đàn bà nào
Cũng
Đẹp

722.
Desire
The abrasion upon
Sleep

Nỗi nhớ
Làm trầy trụa
Giấc ngủ

731.

741.

744.
Her vagina is wet: A sign
His penis is erect: Another sign
There’s nothing to be bashful about

Nàng âm hộ ướt: Một ký hiệu
Hắn dương vật ngỏng: Một ký hiệu khác
Đâu có gì thẹn thùng



749.
Regardless of how often jealous is the wind
The tulip consistently, chin high
Faces the sunlight

Bất kể những cơn ghen của gió
Hoa tuy-líp lúc nào cũng
Ngửa mặt nhìn nắng


751.

761.

771.

781.

791.

801.

811.

821.

831.

841.

851.

861.

871.

881.

891.

901.

Nguyễn Hưng Quốc, born Nguyễn Ngọc Tuấn in 1957, in Quang Nam, Vietnam. The linguist, critic, writer, and poet is currently living in Victoria, Australia.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Viet Pham, the translator from Vietnam is currently living in Canada.

%d bloggers like this: