necropolis

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

 NECROPOLIS 

Separated by a small path, a park suddenly popped up next to a Necropolis of zombies. The best architects were hired to take care of the new development. Innumerable exotic flora and fruit trees were bought. Including ancient trees from various forests and jungles, and precious rock boulders from exotic places. The flowers bloomed with rippling streams and birds singing. The playground was glorious, it was a beautiful poem!

On the other side of the path, a few steps away were the quivering writhing zombies living in decay. The existing dead followed each other in ankle-deep mud. Fully covered, they exchange words through shemaghs. Their bony arms flapped in the eerie cold wind. A stark contrast to the playground full of joy. An orchestra complete with all kinds of instruments played unending symphonies. The smell of incense danced with the fragrance of jasmine and ripe fruits, effusing sweetly throughout the day and night.

A playground was for the dead, and Necropolis was for zombies.

All along the dividing path were guards patrolling year-round — guns aimed at the dead zone. From the cemetery, now and then a few zombies might catch smells of incense, and the seeping fragrance would overwhelm them with madness, the zombies ram themselves into the line of guards. Of course, no zombie could ever escape the scum! Gleaming knives welcomed them; they only needed to advance a bit for the blade to cut through barely any flesh, before they hit bone. Their bodies were immediately cleared, and thrown back into the cemetery as though it was nothing. It was just another day to the guard.

There were daily funeral processions at the park of the dead. Just yesterday, a burial went ahead. The deceased was a butcher, he was slaughtered by another butcher. So people say, the body was no longer whole, severed in pieces due to profoundly ingrained resentment. Along the whole funeral procession, they were throwing flowers and white confetti like a snowstorm. The burial of the butcher was a result of another butcher’s slaughter, indeed beside his friends and family, both sides were in attendance. They lowered their eyes or turned away; they didn’t meet each other’s gaze. Hands on their belts were carving knives ready for a fight. Incense infused the length of the road. The hoard of zombies over in the graveyard relished excitedly, the renewed inhalations of the smoke and perfume, filling their starved lungs. Their deep hollow dark eyes were dazed with fresh dreams of a paper-thin cover of spring.

All at once, a total of four burials took place that particular day — four people in the same family, from an unknown cause. Despite how good we are to each other, death is inevitable. Four graves amalgamate into one, four times the opulence. Flags were flying like butterflies in the middle of spring, and people lend their voices to anthems as they sent the dead to their final resting place. The zombies came out to ogle, drooled, sniff, soaked up the smoke and incense: famine and the cold desiccated their bodies, they were the definition of savagery. Day after day the road widened; the guards also grew in power, their artillery cold, their shiny blades glaring.  There was no way to pass the divide, the zombies wallowed and wept taking turns spitting.

As you already know, spit is the last weapon of defense when there was nothing left. When the sky was overwhelmed with more doom and darkness, the zombies viciously rose; hence, the volume of the split overflowed, like a river! No matter how much brutality was shown by the guards; slaughter didn’t stop the spitting. A million pools of spit propelled skyward, no different from any torrential downpour. The spitting storms continued to overwhelm the park.

So much money was vested in erecting opulence, now facing risks of bankruptcy. The shimmering coffins covered in blooms were now drenched in excrement. So they built a tall brick wall to separate the playground from the graveyard. They also commissioned a vast army of professional cleaners to clean the tombs and gardens. The workers were covered from head to toe in protective gear, vigilantly working into the night. They were scrubbing in the sun, in the rain, in the prolonged cold nights. The Park of the dead was the epitome of a graveyard. Its original poetic beauty was now in a layer of noxious zombie saliva was devastating. The saliva formed dripping trails, oozed, the tombstones rotted, and the green grass and the white flowers fell into decay. The rats from the necropolis drawn to the smell scrambled over the top of each other, scratched, and gnawed at the freshly buried flesh, and bones, and the stench had spread to tens of thousands of miles outside the boundary of the once opulent cemetery.

[January 2019]

_____

Trong thành phố vừa mọc lên một Công viên người chết bên cạnh Nghĩa trang xác sống. Nghĩa trang và công viên ngăn cách nhau bằng một con đường nhỏ. Những kiến trúc sư giỏi nhất trong thiên hạ được triệu về xây dựng công viên. Vô vàn cây xanh hoa lạ trái quý trong thiên hạ được đem về trồng tỉa, đắp điếm. Cả những cổ thụ rừng sâu, cả những tảng đá quý nơi núi xa đều được chuyển tới. Hoa nở và chim hót và nước chảy róc rách. Công viên đẹp như một bài thơ!

Bên kia con đường là nghĩa trang. Nơi những xác sống vật vờ tựa bóng ma hời xuôi ngược. Chỉ vài bước chân mà cảnh vật trái ngược, điêu tàn, bụi bặm. Lũ xác sống dắt díu nhau đi trên những con đường bùn ngập ống chân. Họ chào hỏi nhau bằng lời nói phát ra sau tầm màn khẩu trang che kín hết mặt. Bàn tay gầy vẫy nhau trong gió rét điêu linh…

Phía bên nghĩa trang thê lương bao nhiêu thì ngược lại, phía bên công viên lại nhộn nhịp trù phú bấy nhiêu. Những dàn nhạc với đủ các loại nhạc cụ và nhạc công diêm dúa ngày đêm hòa tấu không ngừng nghỉ. Mùi hương trầm lẫn với mùi hoa ngọc lan và mùi trái chín, lan tỏa ngọt ngào suốt ngày đêm…

Xin được nhắc lại lần nữa: Công viên dành cho người chết, còn Nghĩa trang dành cho xác sống!

Suốt dọc con đường ngăn cách hai bên, đội canh gác túc trực bốn mùa không nghỉ. Họ đứng quay lưng về phía Công viên và chĩa súng tuốt lưỡi lê về phía bãi tha ma. Từ bên nghĩa địa, thỉnh thoảng có những xác sống bị tà ma hiển nhập, ngửi thấy mùi nhang trầm và hương hoa thơm ngát phía bên kia đường, bèn nổi cơn khùng điên lao qua giới tuyến hòng thoát thân khỏi bầu khí quyển bụi bặm, đến với thế giới minh hồ lồng lộng. Dĩ nhiên là không bóng ma nào thoát được! Lưỡi lê sáng quắc đang chờ, chỉ cần họ lao tới là cắm phập vào xương cốt, xuyên thấu tận lưng, giãy đành đạch bên đường. Xác sau đó được dọn sạch, đổ về bên phía nghĩa địa, như chưa hề có cuộc tẩu thoát nào vừa mới xảy ra.

Công viên người chết hầu như ngày nào cũng diễn ra tang lễ rình rang. Mới hôm qua, một đám ma to vừa được cử hành. Người chết là một gã đồ tể bị một gã đồ tể khác làm thịt. Nghe người đời kể lại, xác không còn nguyên vẹn, thậm chí bị băm ra nhiều khúc vì ân oán quá thâm sâu. Suốt con đường di quan, hoa và giấy bạc vứt trắng trời như mưa tuyết. Đám tang của một gã đồ tể bị một gã đồ tể phanh thây, dĩ nhiên là ngoài người thân thích họ hàng, sẽ còn rất nhiều tay chân của cả hai phe tham dự. Họ cúi mặt hoặc ngẩng mặt đi trong đoàn người đưa đám, tay vẫn lăm lăm giữ lấy thắt lưng, nơi có con dao mổ cất sẵn. Hương trầm thơm ngát suốt quãng đường dài. Lũ xác sống bên phía bãi tha ma hít hà khói hương đầy những lồng ngực lép. Những hố mắt sâu đen thăm thẳm ngẩn ngơ trông vời mơ áo giấy mùa xuân…

Ngày hôm nay cùng một lúc đưa đám bốn người. Bốn người trong một gia đình, chết chưa rõ nguyên nhân. Dù sao, nghĩa tử là nghĩa tận. Bốn đám tang nhập lại thành một đám tang to gấp bốn lần. Cờ phướn rợp trời như bướm lượn sang xuân, nhạc véo von tiễn các vong về nơi an nghỉ. Bọn xác sống ở phía bên kia đường lại ra đứng hóng, hít hà khói nhang, thổn thức thèm thuồng. Đói và rét làm cho những bộ hài cốt gầy xọm đi, trông thảm hại vô cùng. Con đường ngăn cách ngày càng được mở rộng ra, đội canh gác cũng được tăng cường nhiều hơn, súng ống lạnh lùng, lưỡi lê sáng quắc. Không còn cách nào để bước qua ranh giới ấy, lũ xác sống đứng bên này than khóc và thi nhau nhổ nước bọt qua phía bên kia. Bạn biết rồi đấy, nước bọt là vũ khí cuối cùng của những ai không còn vũ khí. Khi bị bầu khí quyển u ám tối đen vây bủa, lũ xác sống trở nên hung dữ, vậy nên, lượng nước bọt nhỏ về phía bên kia ngày càng nhiều, tương đương một dòng sông! Bọn lính canh dù hung hãn và tàn ác đến đâu cũng không thể giết hết bầy xác sống đông đúc bầy đàn ô hợp, càng không thể ngăn hàng triệu bãi nước bọt bắn lên trời, không khác những trận mưa. Dòng sông nước bọt vẫn mỗi đêm mỗi ngày chảy qua phía công viên…

Bao nhiêu tiền của được bỏ ra để xây đắp nên Công viên lộng lẫy, bây giờ, đang đứng trước nguy cơ phá sản. Những cỗ quan tài bằng pha lê nằm giữa những khóm hoa khoe sắc bây giờ được tẩm ướp thêm một lớp nước bọt nhầy nhụa. Người ta dựng thêm một bức tường cao dày dọc con đường để ngăn cách Công iên với bãi tha ma. Nhưng làm sao mà ngăn được nước bọt nhổ ra từ mồm của những bóng ma? Người ta cử nguyên một đội quân đông đảo đến hàng vạn người, chuyên làm công việc dọn dẹp lau chùi mộ địa. Họ mặc đồ bảo hộ bịt kín, cặm cụi làm việc bất kể ngày đêm. Và rồi, nhìn từ xa, Công viên bây giờ lại tràn ngập những hình nhân cắm cúi đi lại lau chùi trong nắng, trong mưa, trong cả những đêm dài giá lạnh. Bây giờ thì, Công Viên Người Chết ấy lại nhìn hao hao giống bãi tha ma, thậm chí, tệ hơn, vì những bài trí đẹp đẽ nên thơ ấy lại bị phủ một lớp dày nước bọt tanh tưởi. Nước bọt chảy thành dòng, phá lở những nấm mồ cỏ xanh hoa trắng, làm lở loét những cỗ quan tài, để rồi bầy chuột từ bên phía bãi tha ma tràn qua đục khoét, moi thịt, gặm xương, mùi hôi tanh lan rộng ra hàng vạn dặm…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

All the little children

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Photography: Nguyễn Thị phương Trâm

Beyond the sunny days, rainy days, beyond the days without the sun without the rain, we would appear whole again to all the little children. We have danced, we have destroyed, sang and swore and screamed raucously like lost children. But do you know who we are? Please let us know as well? As for us, we won’t and will never know. Hence, we can be anybody, someone of importance?

The adults usually are much wiser than us. They eat, they speak, they make love, and their empty laughter runs past us. In the depth of the night, they would quietly plot the coming days. As for us, at the age of eating and sleeping, we don’t know how to be deceitful.

How could anyone know that every night, we dream, those gentle dreams so calm, so sweet? If in our dreams, our forehead sweaty, we would see the fairy godfather fanning us, his beard white like the foot of spring. If in our dreams, our stomachs were empty, there would be the fairy godmother bringing bread breaking off pieces to feed us, her hair long like the spring breeze. If in our dreams, we were sad, immediately the fairies would appear to sing cheerful melodies, their pale skin as white as the spring clouds.

We live depending on those precious dreams. Without such notions, perhaps, we may have perished long ago!

Don’t give us those twisted grand excuses; we don’t want to hear it. Life is complicated; adults are a thousand times more complicated. Our only wish is to be full, to be nurtured, even though it’s in our dreams.

There are those long days, we asked each other: “Hey, how come the night comes so slowly?” We pine for the night, we pine for those dreams, the sooner they come the better. No different from those little boys and girls yearning for their birthdays to eat cake with their friends and to get presents from their parents. Daylight is too glaring, too bright; our eyes are never unaccustomed to the light. Hence, we walk holding onto each other’s shirt sleeves, holding tightly to each other’s hands when we dance and play. Otherwise, we will lose each other, we will be altogether lost.

“Dragons slithering on a cloud through the rows of cabbages, asking if the owner were home?”. That’s how we play; you can see right, how fun it is? The crowd splits up into two sides so we can capture the goat blindfold. My friend couldn’t remember the rhyme, chanting rubbish, but who cares, as long as it’s fun right?

In the crowd at the side of the road, there were grey hair elders, not like the fairy godfather or mother in our dreams. These elders’ faces were all wrinkled, skin rough and scaly, mandibles caved in with no teeth, pathetic! My friend kicked a basket of cabbages from under the arms of an old woman. Oh, the old woman wept! Funny yeah? Open your eyes and look at us, we’ve never shed a tear!

All the little children have never shed a tear! Very strange right? A child should be allowed to cry, but we were not placed into this world to weep but to sing the glorious anthems of scorching heated dreams. Though, we will never be able to “grow up” in the meaning of the word literally and figuratively. But in truth, does anyone actually wants us to grow up? No! Reason being? Truly, is there even a need for an explanation? Those children will die, those pure, innocent souls will die, right inside those dreams, right in the middle of putting their clothes on, while they’re eating, playing with their fairy godfather and mother, they are happy, what more could they want? Such blessings are unattainable by adults, no matter how great they are at scheming.

Now, as always, invariably, we dream; all the innocent little children are dreaming. Dreams the makeup of nightmares: Fairies changing suddenly, eyes protruding baring fangs no different from witches. Their tongue was slimy on our necks as they cackled. In the dream, we shook with fear. We were wrapped in a red blanket soaked in black magic. We were all red like the harrowing blood of winter! The veins in our eyes popping out, bloodshot, glowing! 

Now the days are like the nights, we dance we cream, till we’re exhausted, till we are dead on the side of the road, in the field, in those hot, cramped rooms. Our one wish: When we are dead, each one of us will have a small pretty burial plot, not thrown somewhere like a public bathroom or between the rows of cabbages. We’re afraid of the dogs getting a scent of our corpses.

And on our tombstone, please engrave on our tombstone – all the little children who should never have been born…!

[Edited July 2022]

Những hài nhi bé bỏng

Sau những ngày nắng, sau những ngày mưa, sau những ngày không nắng không mưa, chúng tôi lại hiện lại nguyên hình là những hài nhi bé bỏng. Chúng tôi từng nhảy múa, từng đập phá, hát hò và chửi thề và hô vang nhiệt liệt như những đứa con hoang. Bạn biết chúng tôi là ai không? Nói cho nghe với? Còn chúng tôi, không và sẽ không bao giờ biết mình là ai. Vậy thì, là ai cũng được, là ai thì có quan trọng gì đâu?

Những người lớn thường khôn hơn chúng tôi nhiều. Họ ăn, họ nói, họ làm tình và cười trơ trẽn phóng xe qua mặt chúng tôi. Rồi trong những đêm sâu, họ âm thầm bàn bạc âm mưu cho những ngày kế tiếp. Còn chúng tôi, tuổi ăn tuổi ngủ, nào đã biết lọc lừa…

Bạn không biết được đâu, hàng đêm, chúng tôi vẫn thường nằm mơ, những giấc mơ rất đỗi êm đềm, dịu ngọt. Nếu trong giấc mơ, trán chúng tôi đẫm mồ hôi, thì sẽ thấy một ông tiên cầm quạt ngồi bên quạt mát, râu ông tiên trắng như cước mùa xuân. Nếu trong giấc mơ, bụng chúng tôi đói cồn cào, thì sẽ có một bà tiên mang bánh đến bóc cho ăn, tóc bà tiên dài như gió mùa xuân. Nếu trong mơ, chúng tôi buồn bã, thì có ngay những nàng tiên da trắng như mây mùa xuân đến hát múa tưng bừng.

Chúng tôi sống nhờ vào những giấc mơ giàu có ấy. Nếu thiếu giấc mơ, có lẽ, chúng tôi chết lâu rồi!

Đừng nói với chúng tôi những lí luận dài dòng rối rắm, chúng tôi không muốn nghe. Đời phức tạp, bọn người lớn lại ngàn lần phức tạp hơn. Chúng tôi chỉ mong được ăn no, được vỗ về, dù chỉ trong mơ.

Có những ngày dài, chúng tôi hỏi nhau: “Này, sao hôm nay đêm đến chậm thế nhỉ?” Chúng tôi mong đêm, chúng tôi mong giấc mơ đến càng nhanh càng tốt. Không khác gì những bé trai bé gái mong nhanh đến ngày sinh nhật để được ăn bánh cùng bạn và nhận quà tặng từ bố mẹ. Ban ngày, nói thế thôi chứ chói lóa quá, rực rỡ quá, mắt chúng tôi không quen. Vì vậy, chúng tôi phải bám áo nhau mà đi, níu tay nhau mà nhảy nhót, nếu không, dễ bị lạc…

“Rồng rắn lên mây có cây cứt chó, hỏi ông chủ có nhà hay không?”. Chúng tôi đang chơi đấy, bạn thấy không, cũng vui chứ nhỉ? Khán giả dạt ra hai bên để chúng tôi chơi bịt mắt bắt dê. Bạn tôi không nhớ lời, hát tầm bậy, kệ, miễn vui là được chứ gì?

Trong đám khán giả lôi thôi bên vệ đường, có những cụ già tóc bạc, nhưng không phải là ông bụt bà tiên trong giấc mơ đâu. Những cụ già này, mặt nhăn, da dẻ sần sùi, mồm lại móm vì rụng hết răng, chán lắm! Bạn tôi co chân đá bay rổ rau bà lão đang cắp nách. Ô, bà lão khóc! Buồn cười chưa? Mở to mắt nhìn chúng tôi này, chưa bao giờ biết khóc!

Những hài nhi chưa bao giờ biết khóc! Lạ lắm phải không? Khóc thì đứa trẻ nào mà chẳng làm được, nhưng chúng tôi có mặt trên đời này không phải để khóc than mà là để hát hò ngợi ca những giấc mơ cháy bỏng. Có điều, chúng tôi không bao giờ “lớn lên” được, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. Có ai muốn chúng tôi lớn lên không? Chắc chắn là không! Lí do ư? Không cần phải nói nhiều. Những đứa trẻ sẽ chết, những linh hồn trong trắng sẽ chết, ngay trong lúc ngủ mơ, ngay trong khi đang chơi đùa ăn no mặc đẹp với những ông bụt bà tiên, còn gì hạnh phúc hơn nữa? Người lớn làm sao có diễm phúc đó, mặc dù họ có đủ âm mưu, có đủ lọc lừa lươn lẹo để đối đáp với nhau.

Bây giờ thì như thường lệ, chúng tôi vẫn đang mơ, những hài nhi bé bỏng vô tội đang mơ. Những giấc mơ thực sự kinh hoàng: Những ông bụt bà tiên bỗng dưng thay hình đổi dạng, trợn mắt nhe nanh không khác gì phù thủy. Họ cầm lưỡi hái kề vào cổ mỗi chúng tôi và cười khành khạch. Trong mơ, chúng tôi giãy giụa. Người chúng tôi bị trùm lên một tấm khăn choàng màu đỏ đã nhúng bùa phép. Cả bọn chúng tôi đỏ như máu mùa đông, ghê lắm! Mắt đứa nào cũng vằn lên dễ sợ, long lanh!

Bây giờ thì như thường lệ, khi mặt trời lên, chúng tôi lại rồng rắn lên mây, hò hét cười đùa và văng tục chốn đông người, đạp tung rổ rau của mụ già chậm chạp, nhổ nước bọt vào mặt những lão già lừ đừ đáng ghét trong công viên. Chúng tôi không mong đêm đến nữa. Đêm bây giờ là nỗi ám ảnh kinh hoàng với những giấc mơ màu máu.

Bây giờ thì ngày cũng như đêm, chúng tôi nhảy nhót thét gào, cho đến lúc kiệt sức, rũ xuống và chết dọc đường, chết trong công viên, chết trong những căn phòng chật hẹp và nóng bức.

Chúng tôi chỉ ước có một điều này: Sau khi chết đi, mỗi đứa đều được có một ngôi mộ xinh xinh, chứ không bị vứt đâu đó trong nhà vệ sinh hoặc trong vườn rau cải. Chúng tôi sợ bọn chó ngày sẽ đánh hơi thấy ngay…

Và trên bia mộ, xin hãy ghi: Mộ của những hài nhi bé bỏng sinh nhầm…!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Just like that, I had managed to chase away the cloud

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Just like that, I had managed to chase away the cloud

The cloud came, not sure from where it turned up one lovely sunny day. The garden was full of freshly bloomed flowers and locks of dreamy soft vines. I was busy digging up the weeds around them, watching the sunlight dance on the blades of grass and out of nowhere came this looming presence, it hovered in the middle of the sky, right over my patch of garden. Naturally, I looked up, a grey cloud from the North was just there,right over my head, obscuring half of the lovely autumn sunlight. 

Popped straight into my head was the question: How am I going to get rid of this cloud, so the garden can be lovely and sunny again?

The answer was: There was no way!

As for my garden. It was the best thing my father had left me when he passed away, he said: I had to work very hard all my life just to finally get it. I’ve lived here for forty years, tending to every tree and blade of grass. Now it’s yours, don’t lose it my son! The tears came, as I pondered the lifetime my father had spent working on the land to give me this life. Happiness is not so easily attained, harder for a man orphaned without any roots like my father. When he was a labourer at the rice mill, he stole a fist full of rice here and there, hiding it at the bottom of the yoke baskets covered with hay, and he was caught. They locked him up for a whole day and night before they allowed him to go home. And of course they made an example of my father, he was humiliated in front of everyone. 

The chairman of the cooperative enthusiastically announced loudly:

“Cooperative rice belongs to the common people. The compatriots are hungry, the soldiers at the front are hungry, so we shouldn’t take what isn’t ours to take, remember that?”

“But for more than a day now, my son has not even had a meal of watery rice!” – Dumbly, my father uttered.

I sat pant-less in the yard in front of the mill, watching my father cry. I grew up still, the kind of upbringing paid with the sweat and tears of others, salty and bitter. The garden is attached to all the memories of my childhood. My brother and sisters and I would play all day in the garden when our mother was at the district market. We play hide and seek amongst the bamboo shrubs and banana trees. I would play but always watched for the first sign of our mother. My little brother, too busy playing sometimes, ends up falling asleep amongst the clumps of banana trees. My father after ploughing in the fields would tie the ox to the base of the star fruit tree, before gathering my sleeping brother into his arms and putting him to bed on the wooden platform in our house, he would wake up screaming: mummy, I’m hungry! From this very garden, I saw the girl next door left for school and both of us would walk to school together. The days when the bombings did not stop, in the middle of the war, I joined the army. Returning after the war, without a job, this very same garden fed me. I grew a lot of vegetables, before dawn we would take the vegetables to the market to sell. As he fumbled his way to the market, my father’s form was more and more bent over, curled up like a question mark in the hazy first light.

The cloud was just there like a challenge throughout the heartbreaking memories of my father. I was a little stunned, I sat down in a bundle at the foot of the star fruit tree in the middle of the garden looking over, guarding the entire garden. In truth, the cloud was not very big, but it was enough to hide my garden and a few other homes nearby from the sun. It was just there, not moving, a grey cloud. I looked at it, and it was looking down at me with seemingly watery eyes, pungent and salty. I forced myself into imagining what it might be, but it was too hard. I’m terrible when it comes to things like that, you have to be intelligent to have an imagination, but I’m not anywhere near that level.

It, the cloud was irregular, not round, not oval, more like a deteriorating haystack left outside for too long, it was uneven, thick here, and thin there. Yes, It was very much like a haystack, but it was not a haystack. It strained my eyes as I studied it, the more I looked at it the more it looked like it had the face of a mastiff, yep, a huge growling mastiff. Its fur was knotted, ruffled and angry. I was more and more worried about my little garden. The cloud was hovering just there, covering up the sunlight, the flowers would not survive, they would wither and die, and it was a fact. I said: hey you, clump of hay, go away! It didn’t move. I said: Hey you, mastiff, go away! It was silent. 

It refused to budge! I felt small and powerless. The endearing little garden was clearly mine but I didn’t know how to protect it, there was nothing more humiliating! My poor garden, the sad purple flowers were droopy with sadness, unsmiling. Even the ground beneath them was silent, an indescribable sadness. For them, I needed to act quickly. I sat down next to a patch of lapis lazuri, I tried to lift their fragile petals, soothing them, consoled them as best I could: “it’s going to be okay, the cloud will eventually leave, the sky will be blue and brilliant with sunlight again!”. The clump of flowers remained silent, they looked as though they didn’t believe me. Flowers usually never listen to such frivolous words, my father had taught me that. Helplessly I sat there on the ground, the ground just as silent. Beneath the leaves, something stirred, it was a tiny speck of a caterpillar! After some careful inspection, I discovered an entire army of caterpillars beneath the cockscomb leaves, grey grey, brownish. They were busy diligently chomping on the leaves. The leaves were spindly and rough, the stem of the leaves swelling up, burning. The sudden anger took over my every thought, I said: You little critters, who gave you permission to gnaw and eat away my garden? They were too busy to grace me with their reply. Hey, I’m the boss. They remained silent. I was on all fours, picking out each and every tiny tiny caterpillar, but there were too many of them and it was impossible to catch all of them. I gave up after a while. 

The cloud looked as though it had no intention of moving on. There was hardly a breeze at the beginning of autumn, and for reasons unbeknownst to me. There were changes in the formation of the cloud. The mastiff’s face expanded, elongated, it was more squiggly. Ey, just go away, there’s no point changing what you look like. It ignored me, its body stretched out longer and longer, curling in sections. Wow, it’s a dragon now! Fine, whatever you want to look like it doesn’t matter, what matters more is that your respect for others, you need to move on along, you need to disappear. It refused to leave, instead it descended, now closer, it was just above my head, right above the garden. There were raindrops. I thought. It was definitely raining. I held out my hands to collect the newly fallen raindrops.

“Where did you come from?”.

“Don’t know really, close your eyes and relax, then you will find yourself flying”.

“I want to fly to where you were before, above the clouds, could I do that?”.

Well, you could try.

Relaxing my shoulders, breathing in and then out deeply, I closed my eyes. My body became lighter and lighter. I was floating. What will I do when I get there? I had no idea. But I knew it was something I had to do. And I could feel myself slowly rising from the ground. After ten breaths, I slowly opened my eyes. Looking down at my feet, on the ground my neighbours were outside, they were talking all at once, pointing at the sky. The commotion echoed across the horizon, reaching me.

“What’s that?”.

“He’s flying!”.

“How could he be flying?”.

“No idea!”.

“Maybe he’s possessed by a god?”.

“Come down, you’ll break your neck, idiot!”.

I laughed, shouting:

“I’m fine, I just need to get rid of this cloud, then I’ll come straight down”.

The crowd on the ground was growing bigger and bigger by the moment, bobbing up and down on top of each other like ants. The ants were screaming and shouting over each other, some excitedly jumping up and down, some picking up clumps of soil from the ground and throwing them in my direction. I ignored them. I had to climb higher. And I did finally arrive at where I wanted to be. I climbed onto the back of the ash grey dragon, and shouted:

“Why do you want to attack my garden?”.

“What garden?” – it asked me in return.

“The one right there at your feet”.

“I don’t know what you’re talking about, I don’t even know you, I’m not trying to harm anyone. The land at my feet, the water at my feet, belongs to no one”.

“But all this time I thought. But what are you supposed to be anyway, a haystack, a mastiff, or a dragon?”.

“Depends.”

“But I don’t want you to hang around my garden”.

It did not dignify me with an answer, it seemed like it was shaking, trying to throw me from its back. It was very strong. I didn’t know what to do, I have never gone this far, this high in the sky, even in my dreams. I was shaking, I couldn’t control my bladder. I peed right there in my pants. It was a bad habit I couldn’t shake. Suddenly from somewhere within the watery misty dragon came echoing, a deep voice:

“Son, how did you end up here?”.

It was a very familiar voice, it was my father’s voice, there was no mistaking it.

I shouted:

“Father!”.

My father answered:

“Don’t be afraid son, if you’re afraid you’ll end up in hell!’.

“Why are you here father, on this stupid dragon?”.

“It’s not a dragon son, it’s just a cloud of water vapours, and blood, the blood of a thousand years that will not disappear. There are many eyes here. When you die you’ll be able to see them. Here, it’s neither heaven nor hell. It’s the last resting place for the birds before they fly to their final destination”. 

“I want to get rid of the cloud hovering over your garden father” – I shrieked in the middle of the blinding cloud.

“It won’t be easy, you can’t do it alone son. Take this home son, and place it at the foot of the star fruit tree, so when the cloud sees it, it will try and avoid it”. 

“But I can’t see you father?”

“Close your eyes and you’ll see”.

I closed my eyes. My father slowly emerged from the salty watery mist. Dear God, he was nothing but a white skeleton! Only his eyes looked familiar, like when he was alive, they never changed. He said: Don’t be afraid son, I’m like everyone around me, we’re all the same, white is bone, black is blood! Only the eyes see the truth. I studied everything carefully, dear god, so many eyes. The sorry eyes stared at me unblinking. There were eyes so old they were all wrinkly on the edges. There were innocent eyes of children who could have brought you to tears, and all you wanted to do was to kiss them. There were the sad thoughtful eyes of women. There were eyes which were quite familiar, as though I’ve seen them somewhere, sometime ago. The eyes were like stars, like drifting leaves all around me. Where were Ngọc’s eyes, the little girl who died right by the ferry during the bombing those years ago? Where were the eyes of my little brother who had lost his life at the border in seventy-nine? I looked and looked for them but I was unable to pinpoint them. There were too many eyes, too many stars, and too many leaves, and they would move around dancing continuously, ceaselessly. How long have they been here, what happened to them? It was impossible for me to know for sure. My father gave me something smooth and round:

“Place it in the garden, and maybe when they see it they’ll stay far away”.

I held the object in my hands, but couldn’t work out exactly what it was supposed to be, I thought, what does this have to do with the cloud? Does father know what he’s talking about? Was he trying to trick me? But I didn’t have the time to muck around. The watery mist was now all soggy and soft. Father disappeared, dissolving completely into the dense foggy mist. There was never a chance for another question. I slipped slowly off the dragon’s back and felt the squishy water seeping through my trousers.

And from there began my return to the ground. The army of ants gradually grew larger, and larger. By the time I had worked out who was whom, thud, I was already a pile on the ground, in my hands was the round smooth object. The children in the village cheered excitedly. Shouted enthusiastically:

“Brilliant, genius!”.

“Awesome, cool!”.

“It’s superman!”.

My neighbours crowding around me were very curious about the object in my hand:

“Gold, or maybe it’s black Corinthian bronze?”.

I said I didn’t know what it was and placed it right in the middle of the garden, at the foot of the star fruit tree, and sat down heaving, exhaling short breaths. I was really tired. More tired than that business with the wife. The one-eye guy next door stared at the odd object and asked:

“Sell it to me”.

“No”.

He approached the object, touched it, feeling it for a while. He announced confidently in the middle of the crowd, as an expert on antiques:

“It’s a bullet, the tip of a black Corinthian bronze bullet to be exact, at least three hundred years old! You better take good care of it”. 

After that, many came to check it out, each with their own conclusion, some said it was a piece of meteorite, lately, the planets seemed to be all over the place, slamming into each other, breaking, bits and pieces flung left right and centre. Some wriggled their nose and pulled faces, saying it was just a rock, so many con artists tried to trick people with black Corinthian bronze. I couldn’t be bothered with all that commotion, what’s the point of trying to define this round object. What’s important was that, ever since it was placed at the foot of the star fruit tree, no grey cloud had ever bothered my garden again. The sunlight was even more mellifluous than before. The dahlias, cockscomb thrived showing off their full blooming brilliant colours. The army of caterpillars seemed to have disappeared. Each time I stepped into the garden the lapis lazuri would laugh and giggle. The discerning golden chrysanthemums weaved together with rays of sunlight earnestly and lovingly eyed me. I would sit with my back leaning on the trunk of the star fruit tree, legs stretched out, relaxed, blowing into the tobacco bong. The white smoke would glide across the patches of chrysanthemums morphing into a gorgeous fragrant blue. I can’t remember the last time I was able to admire such beautiful blue smoke. The first time I believe it was the smoke from our kitchen when I turned sixteen. My mother was cooking dinner, and I was standing in the shade of a tree saying goodbye to Ngọc on my way to the front line. The second time was from the barrel of a submachine gun when I had used up an entire magazine of bullets aimed at Đắk Xút jungle after burying the last person in my unit.

I had succeeded in chasing away the cloud and got rid of the overwhelming sadness over the garden. But from that point on I developed a strange habit. Now and then on the road, I would have this aching desire to fly, but never once succeed, in the end, it would always look as though I was jumping around like a kangaroo, rather funny looking! The kids who followed me snaking through the village shouted: One two three fly! Fly, baby fly… No matter how often I tried, I had never succeeded in flying again.

The cloud in the shape of the haystack, the mastiff, and the dragon was no more. Now and then, like a dream in a painting, there might be a layer of thin mist like a veil of silk over the garden. Always to my surprise, I would find in them my father’s eyes and so many others watching me from within the refreshing clean mist. 

[April 2022]

Bằng cách đó tôi đã đuổi được đám mây

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Đám mây, không biết từ đâu bay đến, vào một ngày nắng đẹp. Khu vườn đầy hoa tươi và những lọn tóc tiên xanh mượt. Tôi đang loay hoay nhổ cỏ gốc cho chúng và nhìn những tia nắng nhảy nhót trên các lá cỏ thì chợt cảm thấy có một nỗi ám ảnh mơ hồ nào đó chụp xuống từ phía bầu trời. Theo phản xạ tự nhiên, tôi ngẩng đầu lên và phát hiện ra ngay đám mây màu xám từ phương bắc trôi xuống đột nhiên đứng lại, che mất phần ánh nắng nhẹ của một ngày đầu thu. 

Ngay lập tức xuất hiện một câu hỏi: Làm sao để đám mây này bay đi, trả lại nắng đẹp cho khu vườn?

Câu trả lời là: Không có cách gì cả!

Trở lại với mảnh vườn của tôi. Đó là thứ tài sản vô giá và duy nhất mà cha để lại cho tôi với lời dặn dò trước lúc lâm chung: Cha cặm cụi một đời cày cấy mới tậu được nó. Bốn mươi năm cha sống ở đây, giữ gìn từng gốc cây ngọn cỏ. Bây giờ để lại cho con, đừng để mất đi con nhé! Tôi giàn giụa nước mắt, nghĩ đến quãng đời cay cực cha cuốc cày nuôi tôi lớn. Hạnh phúc không hề đơn giản mà có được, càng không thể dễ dàng với một gã đàn ông mồ côi lưu lạc quê người như cha. Cha đi trục lúa ở sân kho hợp tác, ra về còn cố giấu một ít thóc dưới gánh rơm, người ta bắt được. Người ta nhốt cha vào gian kho hết một ngày một đêm mới thả. Tất nhiên sau đó sẽ “được nêu gương” trước bà con tập thể. Chủ nhiệm hợp tác xã hăng hái truy vấn:

“Thóc hợp tác xã là của chung nhân dân. Đồng bào đang đói, chiến sỹ ngoài mặt trận đang đói, thế mà ông nỡ ăn cắp là sao?”.

“Nhưng từ chiều hôm kia tới rày con tui mới được có một bữa cháo loãng!” – Cha lí nhí.

Tôi cởi truồng ngồi bệt dưới sân kho nhìn lên thấy cha ròng ròng nước mắt. Thế mà rồi tôi cũng lớn khôn, thứ lớn khôn được đổi bằng mồ hôi nước mắt của người khác, mặn chát. Mảnh vườn ấy gắn liền với bao kỷ niệm ấu thơ. Những ngày mẹ đi chợ huyện, anh em tôi chơi tha thẩn trong vườn. Chúng tôi chơi trốn tìm sau bụi chuối, khóm tre. Tôi vừa chơi vừa hóng ra ngõ ngóng mẹ về. Thằng em trai mải miết chơi trốn sau bụi chuối rồi ngủ luôn lúc nào không hay. Cha đi cày về buộc trâu vào gốc khế rồi bế nó vào nhà đặt lên phản, nó choàng dậy gào: mẹ ơi, con đói! Cũng từ trong mảnh vườn này bước ra, tôi gặp cô bé hàng xóm trên đường đến lớp và cả hai cùng sánh bước. Những ngày chiến tranh bom đạn mịt mù, tôi vào bộ đội. Hết chiến tranh quay về, không nghề ngỗng, lại mảnh vườn này nuôi tôi. Tôi trồng thật nhiều rau, sáng sớm tinh mơ hai cha con đạp xe chở rau xuống chợ bán. Dáng cha già lọm khọm cong cong hình dấu hỏi nhạt nhòa trong sương sớm. 

Trong khi tôi đang thổn thức nghĩ về người cha thân yêu thì đám mây vẫn đứng đó như một lời thách thức. Tôi hơi hoang mang, ngồi thụp xuống cạnh gốc khế giữa vườn quan sát. Đám mây này không lớn lắm, thực tế thế, nhưng nó đủ che mất quầng sáng mặt trời trên khu vườn của tôi và một ít diện tích mấy nhà bên cạnh. Nó đứng đó, màu xám. Tôi nhìn nó, hình như nó cũng nhìn lại tôi bằng con ngươi mọng nước, thứ nước mặn mặn, tanh tanh. Tôi cố vắt trí tưởng tượng của mình để thử hình dung xem nó giống cái gì, nhưng thật là khó khăn, tôi vốn rất dốt món này, giàu trí tưởng tượng phải là những người thông minh, mà tôi lại không ở trong số đó. 

Nó, đám mây ấy, là một đám lổn nhổn, không tròn, không phải bầu dục, gần giống đụn rơm để lâu ngày ngoài vườn bị mục ra, vương vãi, chỗ dày, chỗ mỏng. Đúng rồi, nó hao hao giống đụn rơm, nhưng nó không phải là đụn rơm. Tôi căng mắt quan sát, lại thấy nó gần giống mặt một con chó ngao, ừ, con chó ngao thật lớn đang nhăn mặt gầm gừ. Những đám lông xù lên dữ tợn. Tôi thấy lo cho mảnh vườn của mình quá. Đám mây sẽ đứng lại ở đây, che mất ánh mặt trời, thì những bông hoa, chúng sẽ héo mất, nhất định thế. Tôi nói: Đụn rơm kia, mày đi chỗ khác chơi! Nó vẫn không nhúc nhích. Tôi nói: Con chó ngao kia, mày đi chỗ khác chơi! Nó vẫn im lặng. 

Không có cách nào khác! Tôi thấy mình nhỏ bé và bất lực quá. Mảnh vườn thân yêu rõ ràng là của mình mà không bảo vệ được nó, còn gì bất lực và nhục nhã bằng! Chỉ tội nghiệp cho mảnh vườn của tôi, những cánh hoa tim tím buồn cúi mặt xuống, không cười. Đất dưới chân chúng cũng im lặng, một nỗi u ám không tên. Tôi thấy mình cần có một hành động gì đó với chúng. Tôi ngồi xuống bên khóm lưu ly, đỡ những cành hoa mảnh khảnh lên, an ủi, vỗ về: “Không sao đâu, rồi đám mây sẽ trôi qua, bầu trời sẽ xanh và nắng sẽ đẹp thôi mà!”. Khóm hoa vẫn im lặng, hình như chúng không tin tôi thì phải. Những bông hoa thường không tin vào những lời nói suông kiểu cách, cha từng dạy thế. Tôi ngồi bệt xuống đất, đất vẫn lặng im. Chợt có một đốm trắng bạc ngọ nguậy dưới lá cây, à, là một con sâu! Chăm chú quan sát mới phát hiện ra dưới tán lá mào gà kia có cả một đám sâu, nâu nâu, xám xám. Chúng tất bật làm công việc gặm nhấm của mình. Những chiếc lá sần sùi, cuống lá nổi u, đau xót. Tự dưng có cảm giác bực tức chen lấn vào, tôi nói: Lũ sâu kia, ai cho chúng mày gặm nhấm vườn tao? Chúng không thèm trả lời. Tôi nói, tao là chủ ở đây. Chúng nó vẫn im lặng. Tôi gò lưng lật từng tấm lá để bắt sâu nhưng sâu nhiều quá, bắt không xuể. Bắt được một lúc, nản quá lại thôi.

Đám mây hình như vẫn chưa có ý định bay đi. Trời đầu thu ít gió, hoặc có một nguyên nhân nào khác nữa mà tôi không thể biết. Đám mây đang bắt đầu có sự thay đổi. Cái mặt con chó ngao từ từ duỗi ra, dài ra, ngoằn ngoèo. Ừm, mày biến đi, thay hình đổi dạng mà làm gì. Nó vẫn không nghe và tiếp tục dài ra, uốn khúc. Ô hay, bây giờ nó lại giống con rồng! Được, con gì cũng thế, nhưng mày nên biết điều mà biến đi. Nó không biến mà sà thấp xuống, ngay trên đầu tôi, trên mảnh vườn. Hình như có vài hạt mưa đã bắt đầu rơi xuống, đúng mưa thật rồi. Tôi đưa tay ra đỡ lấy hạt mưa vừa rơi xuống.

“Bằng cách nào mày xuống được đây?”.

“Không biết, thả lỏng cơ thể và nhắm mắt lại, thế là bay”.

“Tao muốn bay lên chỗ mày vừa ở, trên đám mây, được không?”.

“Không biết, thử xem sao”. 

Ờ, thì cứ thử xem sao.

Tôi vận khí, giữ nhịp thở thật bình thản, rồi nhắm mắt lại. Thấy cơ thể mình nhẹ bẫng. Thế là có thể bay lên được rồi. Lên đến nơi rồi sẽ làm gì? Chưa biết. Nhưng phải lên bằng được. Và tôi thấy mình đang từ từ bay lên. Được khoảng mười nhịp thở thì tôi từ từ mở mắt ra. Nhìn xuống dưới chân, hàng xóm đã đứng chen chúc dưới đất, họ nhìn lên, chỉ trỏ, bàn tán. Tiếng ồn ào vọng lên cao. 

“Cái gì thế?”.

“Nó bay!”.

“Làm sao mà bay được?”.

“Không biết!”.

“Hay thánh nào về nhập?”.

“Xuống đi, ngã gãy cổ, thằng tâm thần!”.

Tôi cười, nói vọng xuống:

“Không sao, tôi đi đuổi đám mây, đuổi xong xuống liền”.

Đám đông dưới đất mỗi lúc lại càng đông, lổn nhổn như một lũ kiến. Lũ kiến la hét ỏm tỏi, có con nhảy choi choi lên thích chí, có con nhặt đất ném theo. Tôi mặc kệ chúng. Tôi phải lên cao. Và tôi đã lên đến nơi mình muốn đến. Ngồi lên lưng con rồng nước màu xám tro, tôi hét to:

“Tại sao mày muốn làm hại khu vườn?”.

“Nhưng khu vườn nào?” – Nó hỏi lại

“Dưới chân mày đó”.

“Không biết nó, cũng không quen mày, không làm hại ai cả. Đất dưới chân, nước cũng dưới chân, đều không của riêng ai”.

“Thế mà tao cứ tưởng. Nhưng mày là đụn rơm hay con chó ngao hay là con rồng?”.

“Tùy”.

“Nhưng tao không muốn mày lượn lờ trên khu vườn”.

Nó không thèm trả lời tôi, hình như nó đang rùng mình, đang muốn hất tung tôi xuống. Nó có sức mạnh ghê gớm. Tôi hoang mang, chưa bao giờ tôi lên đến độ cao này, kể cả trong mơ. Tôi run, mót tiểu. Tôi tè luôn ra quần. Tôi có cái tật xấu ấy không sao bỏ được. Bỗng có tiếng nói trầm đục vang lên đâu đó từ trong đám hơi nước trên mình con rồng:

“Con của ta, mày lên đây bằng cách nào?”.

Giọng nói rất quen, đúng là giọng của cha, không thể nhầm được. 

Tôi gọi to: 

“Cha ơi!”.

 Cha nói: 

“Đừng sợ, nếu sợ hãi con sẽ rơi xuống địa ngục!”.

“Làm sao mà cha ở đây, trên lưng con rồng chết tiệt này?”.

“Không phải rồng đâu, nó là đám mây bằng hơi nước, bằng máu nữa, máu của hàng nghìn năm chưa tan hết. Có rất nhiều con mắt trên này. Chết rồi con sẽ biết. Đây không phải là địa ngục, cũng không là thiên đường. Đây là nơi trú ngụ cuối cùng của đàn chim trước khi bay về đến đích”. 

“Con muốn đuổi đám mây ra khỏi khu vườn của cha” – Tôi hét giữa mây mù.

“Khó đấy, một mình con thì không đủ sức. Con hãy cầm cái này về đặt cạnh gốc khế, nó thấy sẽ tránh”.

“Nhưng con không nhìn thấy cha?”

“Hãy nhắm mắt lại con sẽ thấy”.

Tôi nhắm mắt. Cha từ từ bước ra trong đám hơi nước tanh tanh. Trời ơi, chỉ là một bộ xương trắng hếu! Chỉ thấy đôi mắt là rất quen, như ngày cha còn sống, không hề thay đổi. Cha nói: Con đừng sợ, xung quanh cha, ai cũng như nhau, trắng là xương, đen là máu! Chỉ có con mắt nhìn là sự thật. Tôi quan sát kỹ, trời ơi, bao nhiêu là mắt. Những đôi mắt trân trối nhìn tôi không chớp. Có những đôi mắt già nua với những nếp nhăn tua tủa xung quanh. Có những đôi mắt trẻ thơ nhìn muốn khóc, muốn hôn. Có những đôi mắt phụ nữ đắm đuối trầm tư. Có những đôi mắt nhìn quen quen, ngờ ngợ như đã gặp một lần nào đâu đó. Những cặp mắt như sao, như lá trôi quanh tôi. Đâu là đôi mắt của Ngọc, cô bé láng giềng chết vì bị bom trên bến phà năm ấy? Đâu là đôi mắt của em trai tôi hy sinh trên trận địa biên giới năm bảy chín? Tôi cuống cuồng tìm kiếm nhưng không thể xác định được. Nhiều mắt quá, nhiều sao và lá quá, chúng lại chuyển động vần vũ không thôi. Họ lên đây từ khi nào, trong những hoàn cảnh nào? Tôi làm sao biết được. Cha đưa cho tôi một vật tròn tròn, nhẵn nhẵn:

“Hãy đặt nó trong vườn, có thể chúng nó sẽ sợ mà tránh xa”.

Tôi cầm lấy, không xác định được nó là cái gì, trong bụng nghi hoặc, cái này thì liên quan gì đến đám mây kia? Liệu cha có nói thật không nhỉ? Nhưng tôi không có đủ thời gian để thắc mắc thêm nữa. Hơi nước đã mềm nhũn. Cha tan biến vào đám hơi rối rắm ấy. Đôi mắt tan biến như lá mùa thu vừa bay liệng vừa chìm nghỉm trong sương mờ. Không kịp nói thêm lời nào nữa. Tôi tuột dần khỏi lưng con rồng, nghe nước thấm vào đít quần rin rít.  

Và bắt đầu trở lại mặt đất. Đàn kiến to dần, to dần. Đến khi phân biệt được từng người thì cũng là lúc tôi ngã oạch xuống đất, trong tay vẫn khư khư giữ lấy vật tròn nhẵn. Lũ trẻ trong xóm hoan hô cực lực. Có bao nhiêu sức chúng hét thành tiếng hết:

“Thiên tài, thiên tài!”.

“Trên cả tuyệt vời!”.

“Siêu nhân!”.

Mấy bà hàng xóm chăm chăm nhìn vào tay tôi, hỏi dồn:

“Cái gì đó? Vàng hay đồng đen phải không?”. 

Tôi trả lời không biết và đem cái vật lạ ấy đặt giữa khu vườn, bên cạnh gốc khế rồi ngồi thở dốc. Quả là rất mệt. Mệt hơn cả làm chuyện ấy với vợ. Gã hàng xóm mắt chột nhìn trân trối vào vật lạ, hỏi: 

“Bán cho tôi nhé!”.

“Không”.

Hắn ta lại gần và sờ nắn rất lâu. Hắn nói với mọi người, giọng tự tin của một tay chuyên gia buôn đồ cổ:

“Đó là một viên đạn, chính xác là một đầu đạn làm bằng đồng ít nhất là từ ba thế kỷ trước! Ông giữ cẩn thận nếu không là mất đấy”.

Sau đó có rất nhiều người đến xem, mỗi người kết luận một kiểu, người bảo nó là mảnh thiên thạch, dạo này các hành tinh trong vũ trụ hay chạy lung tung, va vào nhau vỡ ra rơi vãi tung tóe khắp nơi. Cũng có người bĩu môi nhăn mũi bảo, đó là cục đá, bọn lừa đảo dạo này rất thích dùng chiêu lừa đồng đen. Tôi không cần biết đó là cái gì, biết làm gì cho mệt. Chỉ biết, từ khi đặt nó dưới gốc khế thì những đám mây u ám không còn lởn vởn trên khu vườn nữa. Nắng chan hòa hơn cả nắng ngày xưa. Lũ thược dược, mào gà tự tin vươn cành khoe sắc. Bọn sâu cũng lủi đâu mất. Mỗi lần bước chân ra vườn, lưu ly cười hớn hở, hoa cúc vàng lẫn vào ánh nắng thiết tha, trìu mến nhìn tôi. Tôi ngồi dựa vào gốc khế, xoãi chân kéo điếu thuốc lào. Làn khói trắng vương vào khóm cúc chuyển sang màu xanh thơm ngời ngợi. Lâu lắm rồi tôi mới được thấy lại một làn khói xanh đẹp đến thế. Lần đầu tiên là làn khói trên chái bếp nhà tôi năm mười sáu tuổi. Mẹ nấu cơm khi tôi đang đứng dưới gốc cây bên nhà chia tay Ngọc lên đường ra trận. Lần thứ hai là làn khói trên nòng khẩu tiểu liên khi tôi vừa kéo hết một băng đạn vào phía cửa rừng Đắk Xút sau khi chôn xong đồng đội cuối cùng. 

Thế là tôi đã đuổi được đám mây, xua đi nỗi u ám bủa vây khu vườn. Nhưng kể từ đó, tôi mắc phải một hội chứng lạ. Thỉnh thoảng đang đi trên đường tôi lại muốn bay lên, nhưng không bay được, thành ra vừa đi vừa nhảy choi choi kiểu kangaroo, đến là khổ! Lũ trẻ trong xóm đi theo rồng rắn đồng thanh hét vang: Một hai ba bay lên! Bay lên nào, em bay lên nào… Thế mà tôi vẫn không tài nào bay được. 

Đám mây hình đụn rơm hình con chó ngao và con rồng không còn nữa. Thỉnh thoảng chỉ thấy một dải hơi sương mỏng như làn khăn voan lượn qua khu vườn, đẹp như trong một bức tranh. Tôi chợt sững người khi nhìn thấy trong làn sương tinh khiết ấy đôi mắt quen thuộc của cha và nhiều đôi mắt khác nhìn đăm đắm.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

HORSES, PEOPLE, WHITE CLOUDS

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I fell asleep on the patio dreaming of people on white horses riding through the trees, atop the canopy. They hovered for a bit before they quietly left, the jittery horses stayed behind, cantering, and dug their hooves into the top of the trees. The horses also never wanted to stay for longer than a moment, since staying, meant they had to put up with the unbearable coolness of the spring breeze. In the morning their hoofprints would stay as fresh as those footprints left behind in the alleyway at the back of the house. But once the horses were gone, in the canopy, where the horses used to be was a grumpy gecko, mumbling, oh for heaven’s sake. Grinding teeth, just a tad upset: “Why didn’t you wake me? Which direction did the horses go?”. The gecko continued grumpily, mumbling, “It’s your fault for sleeping faced down!”. I wanted to throw a rock at it but I stopped myself. I slept with my face in the pillow; I was annoyed, but I must admit I can’t blame anyone else but myself!

I picked out seven seed-bearing fruits and conscientiously planted them in each human and hoof print, covering the holes with dirt and dust, then I waited.

I thought once the seedlings began to show, I would then go home. Those seven seeds, couldn’t all be duds, couldn’t possibly, my life, can’t be that unlucky! I chased the gecko away: “Go! I don’t want to listen to your pathetic whining”. Determined, I grabbed the tail of a silver cloud and begged: “Hey, please rain for me, right over here!”. The cloud left leaving behind its disdain. Recklessly, I took a hold of an amber ray of sunlight: “Hey, bless us with your light over here, please!”. The vain, lazy beam of light just shrugged itself from my grasp, got up, and left.

It didn’t stop me. Alone, I will make it rain, and alone I will make my light. My sweat will be the rain, my eyes the source of light, my breath the wind. The seedlings will germinate.

It felt as though the laden tiresome dreams came nearly every night, it would begin with the sound of footsteps and then the clatter of beating hoofs. And then unexpectedly, I can’t remember exactly when the green leaves broke through, they popped their heads through the earthy soil cap, and they were greener than hope. I fell back, right onto my backside, laughing out loud, I proceeded to sing a glorious melody of love.

But, the taller the tree grew, the more gangly it became, and towards the end, it was more like a bunch of knotted vines stretching for the sky.

I persisted. Even when the tree began to show no promise, alone I toiled to make it rain and light. When it comes to love and devotion I would wait another year, I could wait till next January!

The very first petals finally bloomed, they were white with hints of pink, and they were in the shape of a horse’s shoe, like the shape of perfumed lips, remnants of laughter.

I was wandering around the house, idled, dying for a drink, but I was too afraid to leave the house, I get to be a happy drunk but I might miss the people and their horses — the hoofs were like stilettos dancing on the tin roof.

Waking up day after day as though I was sleepwalking, I would automatically look for those hoofed petals. The flowers were always there, perched like they have just fallen from the sky, delicate new blooms full of anxiety.

As spring passed us by, the wind rolled across the meadow, chafing our lips. One morning after the Sun was finally awake, I stepped outside, as usual looking for my flowers, to find them gone. I suspect the wind had whisked them away like an accidental appropriation or collusion flipped over, deliberately abandoned me. 

It was evident! But there was nothing I could do, the flowers were gone. I was again left alone to make rain and light, but this time, I refused to stay and wait alone. This time I wanted another person to keep me company, another person to wait with me.

But there was no one, it made sense since I am a loner, I am unsociable! Solus, me, myself, and I was playing a dangerous game of hiding and seeking. Through the passing comments – I laughed, insults – I smiled, what kind of flower is a hoofed-shaped flower, you’re a fool – as though in a state of incapacitated childishness I laughed. I will never disclose my secrets to anyone. As the hoofprints and footprints of those visitors, they were still fresh, in my foggy web of memory.

In the middle of the night, night after night I found myself waiting for the neighing of those horses in the trees, I waited for some shadowy mirage to attend to my grave, buried dreams, anxiously I pondered if there was anyone out there like me? Carefully, I packed my bag and waited for spring, then I will head for the road, I will leave. The gecko was outside in the alley, as though he was waiting for me the whole time, its eyes followed my every step. I said, stop, stop with your cranky mumbling, especially in the middle of such lonely nights, it’s done, the horses are gone, and they will never come back. The gecko was motionless, but its eyes followed me as though it was trying to tell me something. Then there it was, the strangest thing, on the mouldy skin of the reptile, there were these white petals with hints of pink, they looked exactly like those hoofed flowers, evidence of some kind of celebration!

But what of it, the world is a big place, the sky is high, and the horizon is wide, so forget it I must, I must move on. There was something odd in the air, the wind was pungent with the scent of new grass. Hello, spring!

Ngựa, người, mây trắng

Chiều qua ngủ quên mơ thấy có người cưỡi ngựa trắng về đậu trên tán cây rộp rộp ngoài hiên rồi lại lặng lẽ đi. Người đi rồi, còn ngựa trắng thì ở lại bồn chồn gõ móng. Rồi ngựa cũng không chịu đợi lâu, vì đợi lâu, chắc là không chịu nổi gió xuân mơn mởn nên đã đủng đỉnh đi rồi. Sáng ra thấy vết chân còn mới như in ngoài ngõ. Trên vòm cây rộp rộp, chỗ đêm qua người ngựa đứng chờ, bây giờ đã có một con thằn lằn nằm im chép miệng, trời ơi…

Tôi đay nghiến: “Sao không đánh thức tao? Ngựa đi về phương nào?”. Thằn lằn chép chép chẹp chẹp mãi không thôi: “Ai bảo mày ngủ sấp!”. Tôi nhặt một hòn đá toan ném nhưng rồi lại thôi. Thì tại tôi ngủ úp mặt vào gối, đúng rồi, còn trách ai được nữa! Nhưng mà ấm ức, nhưng mà xót xa.

Tần ngần, tôi nhặt bảy hạt quả rộp rộp bỏ vào dấu chân người, dấu chân ngựa rồi lấy đất bụi lấp lại, ngồi chờ…

Tôi nghĩ, khi nào hạt nở xanh cây thì về. Những bảy hạt, không lẽ toàn là hạt lép, không lẽ, đời mình, chỉ toàn xui xẻo không thôi! Tôi đuổi thằn lằn: “Thôi mày đi chỗ khác dùm!”. Tại vì tôi không thích thở than ẽo uột. Tôi cả quyết quờ tay bắt một đám mây màu bạc: “Này, làm ơn mưa dùm vào chỗ này với!”. Đám mây khinh khỉnh bỏ đi. Tôi liều lĩnh quờ tay bắt một tia nắng mặt trời màu đỏ: “Này, làm ơn rọi dùm vào chỗ này với!”. Tia nắng kiêu kỳ lúng liếng bỏ đi…

Đã vậy, tôi cũng không cần. Tôi một mình làm mưa làm nắng, kệ tôi. Thì mồ hôi sẽ là mưa này, thì mắt nhìn sẽ là nắng này, thì hơi thở sẽ là gió này… Nào, hãy nảy mầm đi, đâm cành xanh lá đi…

Hình như đêm nào, trong những giấc mơ nặng nhọc, tôi cũng nghe thấy tiếng bước chân và tiếng gõ móng bồp bộp bên thềm. Sáng ra, thấy hạt đã nảy mầm, lòng hân hoan rạng rỡ. Rồi một ngày, không còn nhớ rõ ngày nào, những chiếc lá xanh đội đất nhú lên, xanh hơn cả niềm hi vọng. Tôi ngồi bệt xuống, vừa cười vừa hát, một bài hát yêu thương.

Nhưng không hiểu làm sao, cây càng lớn thì càng khẳng khiu, và cuối cùng thì hoá thành chùm dây leo rối rắm vươn thẳng lên trời…

Không dễ gì tôi bỏ cuộc đâu, tôi bướng lắm mà kiên trì lắm lắm. Nếu đã tin yêu rồi sẽ chờ cho đến ra giêng! Dù cây khẳng khiu, dù một mình phải làm mưa làm nắng.

Thế rồi những cánh hoa đầu tiên cũng nở, trắng phơn phớt hồng, nhưng hình móng ngựa, như hình môi thơm, như dấu vết của tiếng cười…

Những ngày qua, tôi thơ thẩn trước nhà, dù rất thèm rượu nhưng không dám đi, sợ khi mình say rồi thì người ngựa lại về đứng đợi bên hiên vắng. Đến cả trong mơ cũng còn nghe tiếng móng gõ như tiếng guốc khua giòn, náo động.

Mỗi lần tỉnh giấc, tôi lại một mình mở cửa ra nhìn những cánh hoa rộp rộp, như người mộng du. Hoa vẫn đó, như từ trời cao đậu xuống, mong manh như vừa mới lột, đầy lo âu…

Thế rồi sắp sửa sang xuân, gió cuộn mình lăn tròn qua trảng cỏ, rát mặt. Buổi sáng khi mặt trời thức giấc, tôi bước ra nhìn thì hoa không còn nữa. Tôi nghi, gió đã cuốn đi rồi, như một sự tình cờ chiếm đoạt hoặc thông đồng lật lọng bỏ tôi đi.

Dấu vết còn rành rành ra đấy! Mà thôi, dù sao cũng đã đi rồi. Giờ thì vẫn còn lại một tôi, tiếp tục làm mưa làm nắng, nhưng tôi sẽ không ngồi chờ nữa. Tôi sẽ kéo theo một ai đó, cùng chờ…

Nhưng không hề có ai cả, phải rồi, xưa nay tôi có chơi với ai đâu! Tôi một mình một cõi, tôi một mình với một trò chơi trốn tìm mạo hiểm. Ai đó đi qua, khen, tôi cười cười, ai đó đi qua, chê, tôi cũng chỉ cười, ai đó hét vào mặt, hoa rộp rộp là hoa gì, đồ ngớ ngẩn, tôi cũng chỉ biết cười, như bọn trẻ thiểu năng. Tôi không nói ra đâu, bí mật của đời tôi đó, dấu chân ngựa và người đến thăm tôi bữa nọ, vẫn còn mới nguyên trong kí ức mịt mùng…

Chỉ một tiếng ngựa hí trong đêm thôi mà chờ đợi, chỉ một bóng hình về thăm thẳm trong mơ thôi, mà nôn nao thương nhớ, có ai như mình không nhỉ? Chắc là không, vậy thì mình giống ai? Chắc chắn cũng không. Tôi xếp hành lí xong rồi, chỉ chờ gió xuân cất cánh, là đi. Vừa ra khỏi ngõ thì thấy thằn lằn nằm đợi, nhìn theo. Tôi nói, thôi, mày đừng chép miệng trong đêm vắng, dù sao thì ngựa cũng không về. Thằn lằn vẫn nhìn theo. Mà lạ chưa, trên da thịt mốc meo của loài bò sát, thấy còn in rõ ràng sắc trắng phơn phớt hồng của cánh hoa rộp rộp hôm nào, như dấu vết một cuộc giao hoan! Không lẽ là…?

Nhưng mà thôi, trời cao lồng lộng, mà thôi, gió lạ thơm mùi cỏ đã nôn nao. Chào nhé, mùa xuân!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A bunch of Lunatics

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

A bunch of Lunatics

There are contagious illnesses, like madness for instance. It may begin with the smallest of annoyance. He stood up suddenly from his seat, pulled his pants down and started to scratch himself. The curious neighbours watched, annoyed by the inconvenience of having to witness such a sight, it worried them. It didn’t take them long before they began to openly laugh at him. The contagious laughter grew louder and louder, heheh, haha, they were almost choking with laughter. A bunch of people began to chase after him. The streams of piss zig zagging across the footpath. The entire neighbourhood followed each other, snaking through the streets and alleyways. They were all out of their minds…

What happened, of course, was reported to the authorities, and of course, whoever was involved were admitted into a mental institute for treatment. But, nearly most of the patients didn’t want to be treated in such a peaceful, mundane manner. They prefer a more cheerful place than the hospital. They found ways to climb the fence or break the locks to their rooms. The whole process of chasing and capturing these patients was tedious and time consuming. So after a few days, there was hardly anyone left in the mental facility. The patients were running freely in the street. They skipped along clapping, singing one happy tune after the other. The craziest of the lot, after he was sick of singing, came up with a brilliant idea. He shouted: “Come, come on! Quick! Line up! Turn around!”. “What! Why?”. “Go home, get your knives, your machetes, your saw, or whatever, we must get ready to welcome our statesmen, our leaders, the politicians!” …

It was not long before the whole city was turned into an arena, the festivity spread across the city in full drive to “clean up the city”. A noisy clamouring of chainsaws, and broken branches. The craziest of them shouting orders like: “Quick, faster, the pollies are coming!”. The lunatics chopped down the trees along the boulevard like madmen. It was a mess, it was crazy!

After a couple of days, the city was a warzone. Lunatics they may be, they’re human, they tire, so you would find them resting and sleeping on piles of leaves, some sat there reciting poetry and or belting out folk songs. Not one of them had a piece of clothing on.

At home, these mad women would serve dinner to their husband, children, neighbour, naked, letting all their bits hang out loosely and freely for each other to see, without an ounce of shame or embarrassment. There was no order or social etiquette. They would cover themselves up with random leaves as it was in the prehistoric era. Some turned large fronds into funnels to use as loudspeakers, howling like monkeys through them, in the middle of the street, in full hot daylight.

The doctors were ordered to capture all the patients and return them to the hospital. But it was no use. The patients oblivious to the situation ended up pulling the doctors along with them, the doctors holding hands with their patients singing and dancing in a circle in the middle of the street. Not long after that they would also take off their clothes, pick up pickaxes, chop down the trees like any proper woodcutter.

After chopping down all the trees the leaders were still nowhere in sight. But no one was bothered about it anymore. They had already forgotten their initial plan. Then one of them found a nest in the rubble with a few dead birds. They panicked, screaming at each other, stop, stop everything, there’s been an accident! A solemn memorial was arranged right on top of the crumbling rubble. The most imposing of the crazy lot stood up, with eloquence and due affirmation, recited a verse of remembrance: The red-whiskered bulbuls have given their lives for the sake of the nation. Lips were quivering long before the speech ended. The tears came, pouring. The entire city was in complete silence, respectfully bowing…

The funeral was like fresh fuel for all the lunacy. The leader of the madmen shouted into the loudspeaker: “Look here my brothers and sisters, because of the heroic acts of these feathered warriors, we must continue to work harder than ever before. For our country, for humanity’s enduring peace and prosperity!”. The resounding cheers travelled across the excited crowd. The gathered nudists all followed each other, they headed for the river.

Dear God, they want to fill up the river with soil!

Two madmen running alongside each other, expressed their joy. The first guy said: “I bet you don’t know why we’re trying to fill up the river?”. The second guy replied: “Eh, easy man, we’re filling up the river so we can plant trees!”. “Then why did we chop down the other trees then?”. “Man, you’re stupid, we chop down the trees to commemorate the red-whiskered bulbul birds!”. Then they both chanted: red-whiskered bulbul, red-whiskered bulbul, red-whiskered bulbul. The bloke in front with his pointer and thumb flicked a painful blow at a red-whiskered bulbul perched on the guy behind him, before they both proceeded to head for the river as though they were soldiers prepared to sacrifice their life in battle.

While I was trying to quickly write every I saw down, the lunatics had already finished filling up the river. They returned from the river passing the alley where I lived, swearing, shouting out slogans, the echo of their scream overflowing, covered the entire horizon. I rushed to the front gate to watch. One guy pointed at me and shouted: “We haven’t chopped down the tree on your head!” I shouted back: “There’s nothing there you crazy dumb ass!”. He pulled a couple of guys aside, unreservedly laughed. One of them said: “He’s crazy, he’s got all this clothes on, with a tree on his head like that, what an idiot! Take his clothes off, rip the tree off that idiot’s head!”. They dragged me into the street, one guy pulled at my hair, twisting my neck as he pulled out the tree on my head. The other two pulled at my clothes. When they were done, they pulled faces, made fun of me as they ran off. I chased after them, but they were faster, they were way ahead of me, slapping their pantsless butt swinging their lewd bits, jeering, cackling.

I also ran, sang and laughed.

I thought as I laughed and sang, no one knows who I am anyway!

So that was how it all came to be, we all ran, we all sang, and laughed together, slapping out butts now and then, naked, idiots.

A bunch of lunatics.

[August 2021]

Lũ người điên

Truyện ngắn của Nguyễn Văn Thiện

  Có những căn bệnh rất dễ lây lan, như bệnh điên chẳng hạn. Lúc đầu, chỉ là cảm giác bứt rứt khó chịu từ một người. Hắn đang ngồi, tự dưng đứng phắt dậy, tuột quần ra gãi. Miệng cười méo mó, đái một vòng tròn quanh sân, rồi bắt đầu bước ra đường. Hàng xóm nhìn theo, tò mò, e ngại, lo lắng. Sau đó thì họ cười. Tiếng cười lây lan và mạnh dần, hi hi, hô hố, rồi sằng sặc. Cuối cùng, một số người đứng dậy, chạy theo hắn. Những vệt nước đái vẽ ngoằn ngoèo trên mặt đường. Cả xóm rồng rắn kéo nhau đi. Điên hết rồi…

  Sự việc, đương nhiên sẽ đến tai chính quyền, và cũng đương nhiên, các đối tượng sẽ được đưa vào bệnh viện tâm thần chữa trị. Nhưng, hầu hết những người điên đều không thích được điều trị theo một phương pháp nhẹ nhàng đến nhàm chán. Họ thích chỗ ồn ã tươi vui hơn là bệnh viện. Họ tìm cách trèo bờ rào hoặc bẻ khóa ra ngoài. Việc đuổi bắt rất phức tạp. Vậy nên, sau mấy ngày, bệnh viện lại vắng hoe. Bệnh nhân lại chạy đầy đường. Họ vừa đi vừa vỗ tay hát bài gì đó vui đáo để. Gã điên nhất sau khi hát mỏi mồm bèn nảy ra sáng kiến mới toanh. Gã hét to: “Sắp hàng nhanh! Đằng sau quay!”. “Làm gì?”. “Về nhà lấy dao, ai có dao dùng dao, ai có rựa dùng rựa, ai có cưa dùng cưa, dọn dẹp thành phố để đón lãnh đạo về thăm!”…

Cả thành phố bỗng dưng trở thành công trường, nháo nhác vì chiến dịch “dọn dẹp thành phố”. Tiếng cưa rầm rầm, tiếng cành gãy răng rắc. Gã điên nhất vẫn luôn mồm quát: “Nhanh lên, lãnh đạo sắp về thăm!”. Những gã điên chặt cây như điên. Ghê thật!

  Chỉ sau mấy ngày, thành phố không khác gì một bãi chiến trường. Lũ điên cũng có khi mệt, vậy nên, chúng nằm dài ra trên đám cành lá lộn xộn làm thơ và hát quan họ. Không đứa nào còn một manh quần manh áo..

  Từ trong những ngôi nhà, những mụ điên cởi truồng mang cơm nước ra cho chồng, cho con, cho hàng xóm, tồng ngồng, thỗn thện. Chả còn ra thể thống gì nữa. Họ còn bày đặt bẻ lá cây che quanh mình làm như đang ở thời kỳ nguyên thủy. Có đứa lấy lá cây bàng cuốn thành loa đưa lên mồm hú như vượn hú giữa trưa nắng chang chang.

  Các bác sĩ được lệnh xông ra bắt bệnh nhân quay về. Nhưng không ăn thua. Họ bị bệnh nhân quây lấy ngay giữa phố rồi nắm tay lại dắt chạy vòng quanh rồi hát hò. Một lúc sau thì các bác sĩ vui tính cũng cởi hết quần áo nhảy múa và vồ lấy rìu chặt cây như những gã tiều phu thứ thiệt. 

Chặt xong cây rồi mà lãnh đạo vẫn chưa thấy đến thăm. Nhưng không ai thắc mắc về điều này cả. Hình như họ quên mất lý do chính đáng ban đầu rồi. Một gã tìm thấy trong đống đổ nát một tổ chim có mấy con chim chết. Thế là chúng hò hét nhau, dừng tay, dừng tay, có tai nạn nghiêm trọng! Một lễ truy điệu nghiêm trang được tổ chức ngay trên mặt bằng bề bộn đổ nát. Gã điên vạm vỡ nhất đứng lên đọc diễn văn truy điệu, hùng hồn khẳng định rằng: Những chú chim chào mào đã hy sinh tính mạng vì lợi ích quốc gia. Bao nhiêu cái miệng cùng méo xệch sau khi bài diễn văn kết thúc. Bao nhiêu dòng nước mắt cùng nhỏ xuống một lúc. Cả thành phố lặng đi, kính cẩn nghiêng mình…

Sau lễ tang bất ngờ ấy, lũ người điên càng bị kích động tợn. Gã điên nhất hét vào loa: “Hỡi quần chúng anh minh, vì những chiến sĩ chim vừa hi sinh oanh liệt ban nãy, chúng ta phải tiếp tục hành động. Vì đất nước, vì hòa bình của toàn nhân loại!”. Tiếng hò reo vang dội hưởng ứng. Cả đoàn người trần truồng kéo ra phía bờ sông. 

  Trời ơi, chúng nó đi lấp sông!

  Hai gã điên vừa chạy cạnh nhau vừa vui vẻ trò chuyện. Một gã nói: “Tao đố mày, ta lấp sông để làm gì?”. Gã kia đáp: “Trời ơi, hỏi dễ quá, lấp sông để trồng cây!”. “Thế ta vừa chặt cây để làm gì?”. “Mày hỏi ngu thế, chặt cây để truy điệu chim chào mào!”. Rồi cả hai cùng cười và hát vang: chim chào mào, chim chào mào, chim chào mào. Thằng chạy trước thò tay ra búng một phát vào chim chào mào thằng chạy sau rồi cả hai lao xuống sông như những cảm tử quân xông trận.

Khi tôi đang viết những dòng này thì bọn người điên đã lấp xong sông. Chúng kéo về qua ngõ nhà tôi, hò hét, văng tục và hô khẩu hiệu vang trời. Tôi chạy ra trước cổng dòm. Một gã chỉ tay vào tôi nói: “Trên đầu mày có cái cây chưa chặt kìa!”. Tôi nói: “Không có đâu, đồ điên!”. Gã kéo thêm mấy thằng khác đứng lại, nhìn tôi cười ngặt nghẽo. Một đứa nói: “Cái lão điên này, mặc quần áo như thật, trồng cây trên đầu như thật, ghét thế! Lột quần, nhổ cây của nó đi chúng mày!”. Thế là bọn chúng vật tôi ra đường, vò tóc, bẻ cổ tôi để nhổ cái cây trên đầu. Hai thằng khác lột hết quần áo tôi. Xong xuôi, chúng nó chạy, vừa chạy vừa lêu lêu. Tôi đuổi theo, nhưng chúng chạy nhanh hơn, chúng chạy trước, tuột quần ra vỗ vỗ ra chiều trêu ngươi thích thú.

Chúng vừa chạy vừa hát vừa cười.

Tôi nghĩ, có khi mình cũng phải cười và hát, có ai biết mình là ai đâu!

Thế là chúng tôi vừa chạy vừa cười vừa hát, thỉnh thoảng lại vỗ vỗ vào mông, trần truồng, ngớ ngẩn.

Như một lũ người điên.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A Vicious Circle

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

A VICIOUS CIRCLE 

We were born in the middle of a storm, hence, we worship power. Both you and I are aware of this but neither of us will ever speak of it, neither will admit to this fact. We don’t know how to walk, don’t know how to run, but would often bang our heels on the ground, as though it’s some kind of peculiar ritual. The Creator has given us the sole job of chasing and capturing monsters with a tail. In the middle of the night, you and I would drag our heels around the mouth of a bottomless chasm in search of these monsters. Down there, the monsters practised their mystical arts, they swallowed knives and fire to later spit them out in thousands and thousands of broken bits of sharp pointy shards…

Our heels over time grew longer and longer, digging into the ground, grazing these sharp pointy shards, hence they’re always slimy with blood. The paths around the mouth of the chasm were always dripping in fresh blood, like the first few drops of blood the first time in consummation, like the petals of royal poinciana at the start of summer beneath the hems of graceful pale maidens. Sometimes we would catch a glimpse of the jaws of these monsters, healthy gums, straight and even, like the teeth of politicians in paintings from the East. From the get go, no one has ever seen a monster’s tail. You asked me: “Do they have tails at the front or the back?”. Heck, if they have tails at the front or back then they’re not monsters. Sometimes, a tail would grow from the chest, possibly! On moonlit nights, the bottom of the chasm was more visible, their jaws were more visible and they were full of blood, many were too frightened to even move let alone keep up with the search. But I kept at it, since we unfortunately worshipped power. To me blood is a nutritious food, full bodied and full of flavour.

Now and then a clump of fur would float up from the bottom of the chasm, some were as white as clouds, some were black like our hair, some were sun bleached yellow like someone’s beard. Some say it’s the monsters’ beard. But I was adamant it was not true. The truth was that around here, we had no faith in each other, no one believed in anyone else’s word. You and I and everyone else for a while now were trained oddly to think one way, but what we say is the opposite, say it this way, but act differently. Basically here the truth is non-existent, it’s surrounded by layers of foggy deception.

Now and then someone would open their hands, pretend they’re holding something and say: “I got hold of the tail of that monster, but it fought back, viciously, it slipped away, all I managed to get was this clump of fur”. We all looked at each other, sighing audibly, we all knew he was lying. We continued to meander the precipice of the chasm. Our mouths grew longer and longer over time, like the beaks of a chicken, or the bill of a duck. Taking advantage of our situation we would stick hoses in our backs and our butt to suck up the fresh blood. This person sucked the blood of the other, equal opportunity for everyone, the overwhelming liberation, no one missed out, no one disadvantage, everyone had the same chance to suck as much blood as the other. Yet there were still people who were fatter, thinner, some even died during this painful adventure.

But, even after death they continued to move, following the cycle of convention, as though it was their fate. Their spirit followed us. Now and then, the spectres would say, in ghostly echoes in the wind: “Where else can we go, beside this circle, around these five colour clumps of hair, flying…”. Even the heels of these spectres bled, over time you would find leeches hanging off them, blistering, black and blue bruises. Too afraid to stop, I would pee on the feet of the people in front, like me everyone continued to move forward. The people in front had their legs peed on by the person behind them, inspired by our situation we would sing: “We’re on the road moving forward…”. I screamed: “No, we’re going around in circles!”. Right at that very moment my bottom itches, I knew then, someone had just stuck a hose in it to suck my blood.

We were born in the middle of a storm, so none of us were ever dry. We’re wet from head to toe, always cold. I would now and then try to hug the person next to me but it’s always too slippery, like trying to hold onto a cod swimming in a pond. Now and then someone would also try to grab hold of me but of course they would alway miss. My body was slippery like I’ve been lubed with lard. The hoard continued to meander the mouth of the pit, sucking each other’s blood, trying to grab hold of each other and miss, cry, then laugh, it was a lot of fun! At the head of our pack, the leader continuously chants repeatedly the same thing until it is meaningless: it’s nothing, it’s nothing, it’s nothing… 

Yeah, it was nothing, but if we keep walking like this it would be extremely boring! So I came up with a new game. We would tag the person in front with a dab of blood, I painted my face with it, gave myself a beard. My beard was the colour of blood, a full beard around my mouth. When I laughed, it must look exactly like the jaws of a tiger cub, bright red from inside to out. As I walked I laughed, people stared at me, as they walked they watched they fell out of line, they fell into the chasm and disappeared.

Amongst the people snaking around the chasm stomping their heels, many were like me, they also wanted a bit of fun, they poke and prodded. They use blood to paint their own beard, bright red. Each time they smile, their smiles would be oozing with blood. All the mucking around escalated into almost a riot, until the guy at the lead had to scream: it’s nothing, it’s nothing… One day, not sure which day exactly, and for what season, that year, I lost my vision. In the beginning, it was a little blurry because of the rain and smeared blood, eventually I was completely blind, I couldn’t see a thing. I told the guy next to me, and he said, keep banging on your heels, keep going! Of course we had to continue, what blind person wants to sit still? Then one day or another, someone behind me cried: “My eyes!”. I reassured him: “It’ll be okay, keep going!”. And of course we continued to slam our heels on the ground. Then there were more and more similar cries of anguish, maybe, blindness was contagious. We were blind, but we were definitely fine, we leaned on each other as we moved along, the person in front led the person walking behind them, how can anyone possibly get lost? If we were lost we would all be lost together, what is there to worry about! People only worry about being lost when they’re alone! While we snake around together, playing as we move forward, slamming our heels as we sing, it was always a party.

You’re blind, you’re just having fun, everything should be fine, but if you wanted to find anything, it would still be hard, right? While the creatures we’re looking for were cunning and hid themselves well, while we were always full of suspicion, whether it was talk, or action, the disparity widened further over time, like the lies in the rhetorical word play used by avant garde writers and poets. While, all our heels were drenched with blood. What else was there, to do?

Many questions have no answers, hence, all we do is argue with each other, swear, plus now and then poke each other’s eyes out. It was no longer fun, but I would never give up so easily. Deliberately I would avoid any kind of arguments, dodge the vicious attacks around me. The truth is they are just like me, just as blind, just as angry. In the saddest moments, an eerie echoes would rise from the depth of the chasm. We anxiously asked each other: “Maybe the monsters are dying?”. No one had the answer, the leader no longer chants, he was now somewhere amongst the tired crowd, lost, or perhaps slipped and fell into the chasm and no one had noticed.

I was tired, my feet hurt, I couldn’t move. I sat down right at the edge, ignoring the people who continued to snake around the rim of the chasm. I had no blood left, the people around me to the last drop have taken all of it. From the moment I was blind, in front of my eyes appeared a distant foreign sun. Though the more you stared at it, the more you saw the darkness in the night. I sat down, watched the vengeful light shine straight down the dark pitiful pit. From the depth of the chasm, clumps of hair rose up, they were flying, ripped across the sky like thousands slashes of a blade, millions and millions of chilling arrows, forming a blanket of silvery light, like snowflakes in the middle of winter./

[October 2021]

CHƠI TRÒ VÒNG QUANH

Truyện ngắn của Nguyễn Văn Thiện 

Chúng tôi sinh ra giữa một cơn giông, vậy nên, chúng tôi tôn thờ bạo lực. Cả bạn và tôi đều biết rõ điều đó nhưng không ai nói ra, không ai thừa nhận. Chúng tôi không biết đi, không biết chạy, mà thường xuyên lấy gót chân nện xuống đất, như một nghi lễ kỳ bí. Nhiệm vụ Thượng đế giao cho chúng tôi là phải đuổi theo và bắt cho được một con quái vật có đuôi. Nửa đêm, tôi và bạn phải mò mẫm bằng gót chân quanh miệng vực sâu không đáy. Dưới đấy, con quái vật đang chơi trò ảo thuật nuốt dao và nuốt lửa, sau đó phun ra hàng vạn mảnh vỡ sắc nhọn…

Gót chân chúng tôi, sau những tháng ngày dài nện sâu xuống đất, gặp những mảnh vỡ sắc nhọn, đã đầm đìa máu. Con đường quanh miệng vực in dấu bao nhiêu là máu tươi, như những giọt máu đầu tiên, như những cánh phượng đầu hè dưới tà áo trắng thướt tha thiếu nữ. Thỉnh thoảng chúng tôi có nhìn thấy miệng con quái vật ngoi lên, răng chắc, đều, như răng các lãnh tụ phương đông trong tranh vẽ. Từ bấy đến nay, cũng chưa ai nhìn thấy đuôi quái vật bao giờ. Bạn hỏi: “Nó có đuôi đằng trước hay đằng sau?”. Chịu, nếu là đuôi đằng trước hay đằng sau thì nó không còn là quái vật nữa. Có khi, đuôi mọc trên ngực, cũng nên! Những đêm trăng, nhìn xuống đáy vực, thấy miệng nó nhô lên, toàn là máu, có người sợ không dám bước tiếp. Nhưng tôi vẫn đi, vì chúng tôi trót tôn thờ bạo lực. Đối với tôi, máu là thức ăn bổ, đầy thi vị.

Từ dưới miệng vực, thỉnh thoảng có một chùm lông bay lên, khi màu trắng như mây, khi màu đen như tóc, khi màu vàng như râu. Có người bảo, đấy là râu quái vật. Tôi thì không tin. Thực ra trong chúng tôi ở đây, không ai tin ai hết. Từ lâu tôi và các bạn đã luyện được một thói quen kỳ lạ là nghĩ một đằng, nói một nẻo, và nói thế này, nhưng làm lại khác. Cái gọi là sự thật không hề tồn tại ở đây, nó bị che đậy bởi lớp sương mù giả dối vây quanh.

Thỉnh thoảng, có người giả bộ chìa một vật gì đó trong tay mình ra và nói: “Tôi đã nắm được cái đuôi con quái thú khủng khiếp ấy, nhưng nó giãy tợn quá, lại trượt mất rồi, chỉ còn một nhúm lông đây”. Mọi người nhìn nhau, thở dài, biết tỏng cái trò láo toét ấy. Chúng tôi vẫn di chuyển bằng gót chân vòng quanh miệng vực. Miệng chúng tôi dài ra theo năm tháng, như mỏ gà, mỏ vịt. Chúng tôi tranh thủ cắm vòi vào lưng vào mông đồng loại của mình để hút máu tươi. Người nọ hút máu người kia, công bằng lắm, tự do lắm, cuối cùng, có ai thiệt đâu, ai cũng được hút như nhau. Vậy nhưng vẫn có người đẫy đà béo tốt, có người ốm nhom, có người gục chết ngay trong cuộc hành trình đau đớn. 

Nhưng, dù chết rồi họ vẫn tiếp tục di chuyển, theo vòng tròn quy ước, như là định mệnh. Âm hồn họ lết theo chúng tôi. Thỉnh thoảng, họ nói, như tiếng ma hời vang vọng: “Thì biết đi đâu được nữa, ngoài ra, trong vòng tròn này, những chùm lông ngũ sắc, đang bay…”. Gót chân ma hời cũng tứa máu, lâu ngày đỉa vắt bám vào, tua tủa, tím bầm. Tôi không dám dừng lại, tôi tè vào chân người đi trước, trong khi tôi và mọi người vẫn điềm nhiên bước tới. Người bước phía trước, được nước tiểu tưới vào chân, cao hứng hát: “Chúng ta đang đi tới trên đường…”. Tôi hét toáng lên: “Không phải, đi vòng quanh chứ bộ!”.  Đúng lúc đó, cảm giác ngứa ran sau mông, tôi biết, có người vừa cắm vòi vào đít tôi để hút máu.

Chúng tôi sinh ra giữa cơn giông, nên không ai còn khô ráo. Chúng tôi bị ướt từ đầu đến chân, lạnh buốt. Thỉnh thoảng tôi quờ tay ôm người bên cạnh nhưng không được vì trơn, trượt, như vồ một chú cá lóc bơi trong bể nước. Thỉnh thoảng cũng có người vồ lấy tôi nhưng đương nhiên là vồ hụt. Người tôi trơn như bôi mỡ. Đoàn người đi vòng quanh miệng vực, hút máu nhau, vồ hụt nhau, rồi khóc, rồi cười, vui đáo để! Kẻ dẫn đầu chúng tôi vẫn luôn mồm niệm chú, những câu nói quen thuộc đến vô nghĩa: không có gì, không có gì, không có gì… 

Ờ, không có gì thì là không có gì, nhưng cứ đi đứng lòng vòng thế này thì oải quá! Tôi bày thêm trò để chơi. Thò tay chấm một vệt máu trên lưng người đi trước, tôi quệt vào mặt mình, vẽ râu. Râu tôi màu máu, mọc lên quanh miệng. Khi tôi cười, chắc chắn giống miệng cọp con, đỏ lòm bên trong ra bên ngoài. Tôi vừa bước vừa cười, mọi người ngoái đầu nhìn tôi, có người vừa bước vừa mải xem tôi diễn trò, ngã luôn xuống vực, biến mất. 

Trong bầy người rồng rắn bám nhau nện gót, cũng có nhiều người như tôi, họ muốn vui, muốn đùa, muốn chọc. Họ lấy máu bôi quanh miệng làm râu, đỏ lòm. Rồi họ cười, những nụ cười đầy máu. Đội hình bắt đầu rối loạn vì những trò tai quái, đến nỗi người dẫn đầu phải liền mồm hò hét: không có gì, không có gì…

Một hôm, không rõ là vào ngày nào, mùa nào, năm nào, mắt tôi bị mờ. Thoạt đầu, chỉ hơi nhòe vì nước hoặc vì máu, sau đó thì mù hẳn, không còn thấy gì nữa. Tôi nói điều này với người bên cạnh, hắn bảo, cứ nện bước tiếp! Tất nhiên là vẫn phải bước, có người mù nào chịu ngồi yên một chỗ đâu? Một ngày khác, người phía sau tôi kêu lên não nùng: “Ôi, con mắt của tôi!”. Tôi nói chắc: “Không sao đâu, vẫn lết tiếp!”. Tất nhiên là vẫn nện gót tiếp. Rồi nhiều tiếng kêu tương tự, có khi, bệnh mù cũng dễ lây. Chúng tôi bị mù, nhưng chắc chắn là không sao, chúng tôi bám vào nhau mà di chuyển, người trước dẫn người sau mà bước, làm sao có thể lạc đường? Mà nếu có lạc đường thì lạc nguyên một đám, lo gì! Người ta sợ lạc đường khi chỉ có một mình thôi! Chúng tôi lại vừa rồng rắn kéo đi, vừa bước vừa chơi, vừa nện gót vừa hát, vui như trẩy hội.

Bạn bị mù, bạn chỉ đi chơi thôi, sẽ không sao, nhưng nếu muốn tìm một vật gì đó, chắc chắn là khó khăn, phải không? Trong khi, vật mà chúng tôi phải tìm lại là một con quái vật tinh ranh khó lường thoắt ẩn thoắt hiện, mà chúng tôi thì bụng đầy nghi hoặc, giữa nói, làm và nghĩ ngày càng khác xa nhau, như những phép tu từ điêu luyện vẫn được các nhà văn nhà thơ tráo trở ưa dùng. Trong khi, gót chân ai cũng đã đầm đìa máu. Làm sao bây giờ?

Nhiều câu hỏi không có lời đáp, vậy nên, chúng tôi quay ra cằn nhằn nhau, chửi rủa nhau, và có đôi khi móc mắt nhau nữa. Cuộc chơi đã mất vui, mà tôi, chỉ là một kẻ ham vui. Tôi cố tránh xa những cuộc cãi vã, né ngay những đòn thù thâm ác của những người đi cùng. Thực ra, họ và tôi, đều là những kẻ mù lòa như nhau, nông nổi như nhau. Giữa lúc buồn bã nhất thì bỗng nhiên từ dưới vực sâu vọng lên những âm thanh ma quái. Mọi người nháo nhác hỏi nhau: “Hay là quái vật sắp chết?”. Không ai trả lời, người dẫn đường từ lâu đã không còn niệm chú, lẫn lộn vào giữa đám đông mệt mỏi, ngây dại, hoặc là đã trượt chân lao đầu xuống vực mà không ai biết.

Tôi mỏi rồi, chân đau lắm, không lết nổi nữa. Tôi ngồi bệt bên lề, mặc cho đoàn người rồng rắn bước tiếp. Tôi hết máu rồi, những người bên cạnh đã hút đến giọt cuối cùng. Kể từ lúc mắt bị mù, trước mắt tôi lại sáng rực một mặt trời xa lạ. Mà càng nhìn vào, càng thấy đêm đen. Tôi ngồi xuống, nhìn ánh mặt trời rực rỡ oan khiên chiếu thẳng xuống vực sâu tăm tối ấy, mà thương. Từ dưới vực, những chùm lông lại bay lên, rạch ngang dọc giữa bầu trời như hàng vạn nhát dao, hàng triệu mũi tên lạnh cóng, rồi kết thành một tầng màu ánh bạc phủ kín , như hoa tuyết mùa đông./


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Faces of familiar spirits

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

People say: “Write something nice!”.

Writing a nice sweet story isn’t hard, but the story of Mount Chư Mang has never ceased to haunt me. Fervently, I went searching for an adventure much like the sad tale of Don Quixote in the autumn of his life, in search of a knight’s honour armed with a blunt sword in rusted armour. But the rivers are long and the mountains vast. The joy of chasing pretty familiar spirits left me in a paradox of affliction and intoxication.

Sweet is the meaningless reality in dreams; the ability to love an ethereal angelic face tainted with evil.

Each night, the darkness fell like a waterfall. These beautiful familiar faces appeared on the window sill: “Come to the mountains”, “What are you afraid of, coward…” There, they’ve returned, the familiar spirits. They asked me to follow them to the mountains if I do not, they implore, they beg, and I would always give in and follow them, to continue the dream.

I went searching for the green eyes, and ruby lips amongst the towering old trees — a sad lumbering knight in search of “the” dream at the end of his life. Yes, sometimes there was a glimpse of bright dark eyes, yes, sometimes the heat of those red lips. But, like anything determined by fate, it’s a fleeting moment before those eyes’ lips flit away, and disappear into the dark black starry night.

When the moon and stars were spent, on blades of grass past the be-witching hour the spirits dissolve, they were lulled to sleep between the rocks. I would cry: “Stay play, keep playing, morning is not yet near!”. In a state of half-wakefulness and sleep, their laughter fell free from the higher branches, breaking into a swarm of autumn fireflies. I would hug the fresh silk sheath abandoned in my arms, and inhale the lingering addictive intense scent, like remnants of precious fossils from a million years ago.

You asked: “Where do those familiar spirits come from?”. I’ve no idea; I first met them the day I set foot on Mount Chư Mang. Amusing himself with a game of hiding and seeking fate, looking for happiness. A knight discarded by society.

Bright nights wandering in the mead, one hand with a fist full of clad silk, one hand cupping the smile of a pretty demon. Me in shredded ill-fitting clothes from top to toe, decrepit, like a scarecrow at the end of a season. At sunrise, the soulful smiles would grow delicate wings before they would fly away, those fragrant robes also flew, left behind a man with ludicrous laughter steeped in the evening dew, like some guy stomping on a lifeless creel all day all night.

I consoled myself, fine, starting tomorrow I won’t go there, starting tomorrow. But by sunset, falls always the thrilling sweet sound of a far-off dream!

You say it’s a time of diminished dharma, ghouls and demons were everywhere, sightings atop mountains, valleys, be careful! I, for long, have forsaken my virtue. In tattered armour, I carried a broken sword in search of adventures, I carried with me the jeering laughter of a fool, even in the most despairing defeat. Though in all those endless dreams, this village knight had never once fulfilled his desire. The more he chased, the more those beautiful demonic faces and their stirring laughter flew further away.

Now there isn’t a place on Mount Chư Mang I’ve not walked. I traveled the nights basking in moonlight wrapped in stars, nights battered by rain-soaked hail and mist. All those beloved familiar faces were flickering far far away, sometimes this side of the mountain, sometimes way there in the mead. Sometimes I am so tired, that I would fall asleep in their soft embrace and tender caress, dreaming those dreams, I’m soaring in the sky, heading for the heavenly blue clouds. Sometimes I’m so tired, that I would find myself sitting on the ground hugging my knees, always with me was the blunt broken sword, and a smile drenched in blood basking in the moonlight.

I’m okay, don’t worry. So many years of my youth were spent nurturing delusions, to bury them now, here. By nightfall, I would again sing the songs of tall mountains and deep valleys. So long as I’m entertained, so long as all those beautiful familiar faces of angels never leave this mountain. I will continue to hunt, and embrace tightly the big dreams of my youth, aren’t we all the same! Till we no longer have our youth, till mouldered is our armour, till the eyes are blurry and our feet slower, as the sound of those inviting laughter rises I will take to the road.

“To the mountains, I go…”.

There, can you hear? Outside, like the call of a trumpet during a funeral march, the golden shadow of humanity falls in sorrow. I have to go; I must prepare for the continuance of my dream, the same continual dream, of life crashing like ocean tides, rhythmic for a hundred years, for a lifetime.

Again I must go!

[October 2019]

Những gương mặt linh miêu

Bạn nói: “Hãy viết một câu chuyện ngọt ngào đi?”.

Bịa ra một câu chuyện ngọt ngào thì có gì là khó? Vấn đề là câu chuyện về núi Chư Mang vẫn chưa khi nào thôi ám ảnh. Tôi mải mê đi tìm một ảo ảnh về tình yêu, như chàng hiệp sĩ cuối mùa tội nghiệp Don Quixote, tìm cách chinh phục thế giới bằng một lưỡi gươm cùn và bộ giáp trụ rách nát. Mà núi thì quá cao xanh, mà sông thì quá rộng dài. Trò chơi trốn tìm với những nàng linh miêu xinh đẹp thì đầy cám dỗ nhưng cũng đầy trắc trở.

Có gì là ngọt ngào không khi bạn yêu một gương mặt đẹp tựa thánh thần lẫn ác quỷ, mà chỉ xuất hiện trong mơ thôi chứ chưa gặp mặt bao giờ?

Mỗi đêm về, bóng tối tràn qua như thác đổ, những gương mặt đẹp ma mị lại xuất hiện bên cửa sổ: “Lên núi chơi thôi”, “Sợ gì chứ, đồ nhát gan”… Đó, linh miêu lại về đó. Họ rủ tôi lên núi chơi, nếu không đi, họ năn nỉ, họ khiêu khích, thế là tôi lại ra khỏi nhà, tham dự vào trò mộng du miên viễn.

Tôi đi tìm những mắt xanh môi thắm giữa bạt ngàn cổ thụ. Chàng hiệp sĩ cuối mùa xộc xệch thảm hại đuổi theo giấc mơ vĩ đại của đời mình. Ờ, cũng có khi bắt được một ánh mắt long lanh, ờ, cũng có khi bắt được một bờ môi ấm nóng. Nhưng, như một trò đùa được số phận mặc định, chỉ sơ sẩy thoáng chút thôi là mắt là môi lại vụt bay, mất hút giữa vực thẳm sao trời lãng đãng…

Khi trăng sao đã mệt nhoài, những vệt lân tinh thôi không còn thắp sáng đầu ngọn cỏ, thì bầy linh miêu rủ nhau đậu lên vách đá và thiu thiu ngủ. Tôi hét lớn: “Chơi nữa đi, chơi tiếp đi, trời đã sáng đâu!”. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, tiếng cười của họ rơi tự do từ trên cành cao xuống đất, vỡ vụn ra như bầy đom đóm mùa thu. Tôi ôm mảnh xiêm y màu xanh còn lại trong tay, hít lấy hít để hương thơm ma mị cõi bồng lai còn phảng phất, tưởng như tinh túy sơn khê triệu năm còn lưu dấu trên tay. 

Bạn hỏi: “Bầy linh miêu ấy từ đâu đến?”. Tôi có biết đâu, từ khi tôi bước chân lên đỉnh Chư Mang thì đã gặp họ rồi. Gã hiệp sĩ bị thế gian chối bỏ mải miết tìm vui trong trò chơi trốn tìm định mệnh, để tìm vui…

Có những đêm, khi trời sáng bạch, tôi vẫn còn loay hoay trên núi, tay níu áo xiêm, tay còn lại thì cầm một nụ cười của linh miêu xinh đẹp. Nhìn lại mình thì áo quần xộc xệch, rách từ dưới rách lên, nhếch nhác lôi thôi, như một hình nộm cuối mùa ngơ ngác. Mặt trời lên, nụ cười của linh miêu mọc thêm đôi cánh mỏng và bay đi mất, xiêm áo thơm lừng cũng vỗ cánh bay đi, để lại mình tôi tẽn tò với tiếng cười ướt đẫm sương đêm, như một gã đánh dậm ướt ròng thâu đêm suốt sáng với chiếc giỏ không lăn lóc dưới chân!

Tôi tự nhủ, thôi, từ ngày mai không thèm lên chơi nữa, thôi kể từ ngày mai…

Nhưng rồi, khi mặt trời lặn, tiếng nhặt tiếng khoan ngọt như một giấc mộng xa xăm lại mời gọi lên đường!

Bạn nói, thời mạt pháp, ma quỷ đầy đường, hiện hình ngay cả trên núi cao rừng thẳm, bảo trọng nhé! Tôi thì từ lâu đã không còn quan tâm đến an nguy cho bộ trang phục ngoan ngoãn của mình. Tôi mang gươm cùn giáp rách theo đuổi cuộc chơi, là biết cách trang bị cho mình tiếng cười ngạo nghễ, ngay cả khi thất bại ê chề. Chỉ hiềm một nỗi là trong những cơn mộng du vô tận, gã hiệp sĩ nhà quê chưa khi nào hoàn thành ước nguyện của mình. Càng đuổi bắt thì những gương mặt linh miêu xinh đẹp có tiếng cười ma mị lại càng hun hút xa xăm.

Bây giờ thì trên núi Chư Mang không có chỗ nào tôi chưa đặt chân tới. Tôi đi trong những đêm trăng sao ngà ngọc, trong những đêm mưa gió mịt mùng. Những gương mặt thân thương xa ngái thoắt ẩn thoắt hiện, lúc thì ở sườn núi bên này, lúc ở tận mạn bên kia. Có khi mệt quá, tôi ngủ quên trong vòng tay mềm mại móng vuốt của linh miêu, rồi mộng mơ đủ chuyện, vẽ ra những đường bay hão huyền lên tận mây xanh. Có khi mệt quá, tôi ngồi bó gối, bên cạnh là giáo cùn gươm gãy giáp rách, và nụ cười rớm máu dưới trăng.

Tôi không sao đâu mà, đừng lo cho tôi nhé. Bao nhiêu năm tuổi trẻ đã nuôi lớn ảo mộng, rồi sẽ chôn vùi cũng sẽ đúng nơi đây. Tôi vẫn hát bài hát của núi thẳm non cao mỗi lúc đêm về. Miễn là tôi còn trò chơi thú vị, miễn là những gương mặt linh miêu đẹp tựa thiên thần không rời bỏ núi mà đi. Tôi sẽ đuổi theo cho kỳ được, và ôm thật chặt trong tay những mộng mơ kỳ vĩ, tuổi trẻ, ai mà chẳng thế! Cho đến lúc không còn trẻ nữa, khi giáp trụ tan hoang, khi mắt mờ chân chậm, tôi sẽ vẫn lên đường mỗi khi tiếng cười mời gọi cất lên.

“Lên núi chơi thôi…”.

Đấy, bạn có nghe thấy gì không? Ngoài kia, bóng chiều vàng vọt của cõi người bắt đầu đổ xuống u buồn như tiếng kèn đưa đám. Tôi phải bắt đầu thôi, sửa soạn cho giấc mơ nối tiếp của mình, những giấc mơ trùng điệp, như sóng vỗ, giữa nhịp đập trăm năm của kiếp người.

Tôi lại phải đi đây!

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A Nation Gang Raped

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

A Nation Gang Raped

In today’s play, the main character is a bright young corseted femme fatale in a wide brim traditional woven hat. Her appearance on the stage caused a stir in the crowd: “Wow, she’s so pretty! Lovely! Gosh The Nation is so beautiful!”.

Her footsteps were so light it looked as though she was riding on top of a wave, her smile was that of a flower about to bloom. Down below, the audience applauded in appreciation. A mother whispered into daughter’s ear: “See there child, the young woman there represents our country. Can you make out the shape of our Nation? Curvy, pretty, see, see that…”. Young children are impressionable, they of course believe everything they see, clapping enthusiastically… And of course, the character’s name is The Nation.

The Nation sang, The Nation danced, The Nation laughed. The screen in the background were images of pretty gardens with flowers in full blooms, avenues lined with shady trees. The Nation would then sit down by the flower beds, picking flowers, one for her hair and a bunch to hold over her heart. It seemed The Nation was thinking of someone, or thoughtful of a bright future, or perhaps a flighty verse of poetry… Then there was the sound of rising cheerful music, the sound of a warm bright voice of a man singing in praises of The Nation. The audience settled, snapping open packets of condiments, snacking on their roasted salted melon seeds, their hearts lifted as though it was new year’s day. The Nation was at peace. 

In the middle of it, the light changed, the light turned red, blaring. The audience was less inebriated. All eyes were on the stage. What happened?

Invariably in barely moments, The Nation hugged her chest, dropped to her knees. The lights flashed on her for a moment before everything was in complete darkness. It sounded like thunder ripping across the stage. The Nation was flat on the ground, amongst the flower beds. Crawling from the stage wing were thieves all in black, their faces hidden under their bucket hats, surrounded The Nation. The audience screamed: “God, what are they doing to our beloved Nation?”

With their uncut sharp fingernails, they began to grab and clawed at The Nation. One guy grabbed the wide brim traditional hat and chucked it on the floor, then proceeded to step on it. The other thieves ripped at her clothes, her silk pants. They laughed as they clawed at her clothes, their laughter audible through the constant thunderous sound. The Nation’s exposed flesh in the tattered clothes was lit up by the spotlight, as fair as pear blossoms, as red as one’s flesh and blood.

The audience was terrified, torn. The babies were crying and screaming. Their mothers wept. Gosh, poor beautiful Nation, how could something like this happen!

The black shadows in turn held The Nation down, gang raped her. The electricity was all of a sudden cut. The theatre was in pitch black darkness, on the stage as well as down where the audience sat waiting. There were cries for help, swearing, sounds of kicking and punching, crying mixed in with lewd laughter. It was no longer possible to differentiate between the audience and the stage. The maddening chaos. Someone shouted: “What happened to the light!”. “An electricity’s cut!” – someone shouted in reply.

The lights were suddenly on. Everyone’s eyes opened even wider, and looked at each other. The patrons looked at each other as though they’ve met for the first time. On the stage, The Nation after the assault was dragging herself around the stage, leaving a long trail of blood behind her, she was black and blue and was as bruised and bloodied as the apocalyptic sun. The villains stood by, in all corners of the stage, laughed, rowdy and vile in their intent, proud of their detestable achievement.

Their lewdness caused a growing anger in the crowd. Someone shouted: “Get them!”. The strongest and most heated of the group climbed onto the stage. Shouting and screaming as they tried to climb onto the stage. But the depraved animals were prepared, they barricaded the stage by standing neatly side by side at the edge of the podium. Any one who has managed to climb up, were kicked in the head, fell back. But the wave of people climbing on top of each other continued. Someone shouted: “Security guards, where are the security guards!”

The guards came running, some with knives, some with batons, some with guns. Something terrible was about to happen. Angry patrons on the one side and on the other side were a bunch of professional performers, a war, weapons ready.

What happened felt as though it was planned, smoke spilled out from both sides of the stage wings, a red spotlight illuminating the stage swung randomly across the stage. The play was reaching its climax. A bunch of people with lumps and bruises on their heads, bled. The patrons had nothing to defend themselves with, defenseless, frozen. A number of young men kicked their seats, breaking their seats, and armed themselves with the feet of the chairs. Gosh, what was happening?

The protagonist continued to drag herself around the stage, leaving a coil of blood trail behind her, not unlike a war in the middle ages.

Crazy right?

There were blackbirds, beaks extremely sharp, screaming, no knew exactly where they came from at all. Eagerly, they followed the blood trail. Black wings the colour of death drew sickening circles on the victim’s head. In their bloodthirst, they were oblivious of the rowdy crowd down in the auditorium. They poked and tore at the opened wounds, ripping out bits of ruby red flesh. The Nation shrieked in agony.

Not sure when the door was left open but a lot more people showed up. The opportunists picked the pockets of those around them in the chaos, alleviating patrons of their phones. A loud inviting voice broke through the pandemonium: “Fresh sugarcane juice anyone, refreshments, intermission, anyone wants a drink!”.”We also have banh mi, hot bread rolls!”…

The black and blue bruised bodies on the ground were trampled by the hoard in the theatre. The screaming continued. A person managed to steal a baton from one of the guards, randomly assaulting the people around them. A patron managed to reach the victim in the middle of the stage, and had attempted to pick the victim up. As soon as he was bent over he was kicked in the backside, when flying head-on into one side of the stage, and altogether disappeared.

It was hard to keep up. The audience and the performers all looked the same. The stage and life piled on top of one another, crammed in amongst each other, could not be separated. The theatre at the moment, to put it simply, was no different to a merciless soccer field, there, the players can chase and fight each other, the fans were allowed to assault the players, even the referee was not left alone, nor were the security team, ending ultimately with the fans fighting each other! There was no difference between them, you couldn’t tell who was whom…

While the star of the play, The Nation, continued to moan in pain, dragging herself around endlessly in a vicious circle. Overhead, the vultures continued to circle, continued to eagerly drool, transfixed, hypnotised.

[March 2021]

Đất nước bị cưỡng hiếp

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Trong vở kịch của ngày hôm nay, nhân vật chính là một cô gái thắt đáy lưng ong nón thúng quai thao trẻ trung rạng rỡ. Khi cô xuất hiện trên sân khấu, lập tức khán giả ồ lên: “Đẹp quá! Cô gái đẹp quá! Đất nước mình đẹp quá!”.
Cô đi nhẹ như người ta lướt sóng, miệng cười chúm chím như hoa sắp nở. Ở dưới, khán giả vỗ tay tán thưởng. Một người mẹ nói vào tai con gái: “Con thấy không, cô gái ấy là hiện thân của đất nước mình đó. Thấy dáng đứng của Đất nước chưa? Cong cong, xinh xắn, đó, đó…”. Các cháu bé, dĩ nhiên là sẽ tin, và vỗ tay phấn khởi… Đương nhiên rồi, nhân vật ấy có tên là Đất nước.

Đất nước hát, Đất nước múa, Đất nước cười. Màn hình phía sau hiện lên những khu vườn đầy hoa, những con đường cây xanh rợp bóng. Rồi đất nước ngồi xuống đưa tay ngắt bông hoa cài lên tóc, ấp vào ngực. Hình như đất nước đang nghĩ đến một ai đó, hoặc nghĩ về một tương lai tươi sáng, hoặc về những vần thơ bay bổng…
Nhạc vui vẻ nổi lên, một giọng ca nam ấm sáng cất lên ngợi ca Đất nước.
Khán giả yên tâm móc hạt dưa ra cắn, lòng lâng lâng sướng vui như tết. Đất nước thanh bình. 

Giữa lúc đó, ánh sáng thay đổi, đèn chuyển sang màu đỏ, lóa mắt. Khán giả thôi không lâng lâng nữa. Tất cả mọi cặp mắt đổ dồn lên sân khấu. Có chuyện gì?

Trong tích tắc, Đất nước ôm lấy ngực, khuỵu xuống. Có những tia chớp vụt chiếu vào Đất nước rồi lại vụt tắt. Những âm thanh kinh động tựa sấm sét. Đất nước nằm xuống, ngay giữa vườn hoa. Từ trong cánh gà chui ra những tên cướp mặc đồ đen, bịt mặt bằng mũ đen, vây lấy Đất nước. Khán giả khóc thét lên: “Trời ơi, chúng nó định làm gì Đất nước thân yêu?”.

Những móng tay sắc nhọn bắt đầu cào cấu. Một tên giật lấy chiếc nón quai thao dẫm bẹp dí. Những tên khác xé áo tứ thân, xé quần lụa lĩnh. Chúng vừa xé vừa cười sằng sặc trong tiếng sấm sét liên hồi. Ánh sáng từ tia chớp chiếu thẳng vào da thịt lõa lồ của Đất nước, trắng như hoa lê, đỏ như máu đào!

Khán giả kinh hoàng, trân trối. Những em bé khóc ré lên. Những bà mẹ nức nở. Ôi, Đất nước xinh đẹp ơi, sao lại thế này!

Những bóng đen đè nạn nhân xuống và thay nhau hãm hiếp. Điện phụt tắt. Rạp tối om, cả trên sân khấu lẫn dưới hàng ghế khán giả. Tiếng kêu cứu, tiếng chửi thề, tiếng đấm đá, tiếng khóc và tiếng cười man dại trộn lẫn vào nhau. Không còn phân biệt được đâu là sân khấu, đâu là khán giả nữa. Điên loạn mất rồi. Tiếng ai đó hét: “Bật đèn lên xem nào!”. “Mất điện!” – có tiếng trả lời.

Đột nhiên, đèn bật sáng. Mọi người mở to mắt nhìn. Khán giả nhìn nhau như mới gặp lần đầu. Trên sân khấu, Đất nước đang lết đi sau trận cưỡng hiếp kinh hoàng, để lại phía sau một vệt máu dài, đỏ bầm như mặt trời ngày tận thế. Những kẻ thủ ác bây giờ đang đứng ở các góc sân khấu, cười hả hê, sảng khoái.

Hình như vở diễn đã kích động người xem, đến mức không thể chịu nổi nữa. Tiếng ai đó hét lên: “Bắt lấy chúng nó!”. Những khán giả khỏe mạnh và nóng tính liều lĩnh trèo lên sân khấu. Họ vừa lao lên vừa hò hét điên loạn. Những kẻ thủ ác mặc áo đen bịt mặt đã lường trước điều này, chúng dàn hàng ngang ngay mé đài. Hễ có người leo lên, là chúng đạp ngã nhào xuống. Sóng người vẫn tràn lên. Có tiếng hét: “Bảo vệ đâu, bảo vệ đâu!”.

Bảo vệ xông ra, đứa cầm dao, đứa cầm gậy, đứa cầm cả súng. Có vẻ như sắp sửa xảy ra một trận chiến không cân sức. Một bên là đám khán giả bị kích động cao độ và bên kia là những diễn viên lành nghề, thiện chiến, vũ khí sẵn sàng.

Hình như đã có sắp đặt trong kịch bản, từ hai bên cánh gà, khói trắng phun ra, đèn đỏ quét liên tục. Màn kịch đến đoạn cao trào nhất. Đã có người bị bươu đầu, chảy máu. Khán giả tay không, lại hoàn toàn bị động, nên lâm vào thế yếu. Một số thanh niên hung hãn đạp phăng thành ghế, lấy chân ghế làm vũ khí. Trời đất ơi, sao lại thế này?

Nhân vật chính vẫn lết từ từ, vòng quanh trên sân khấu, vẽ những đường tròn bê bết máu, không khác gì đấu trường thời trung cổ. 

Ghê chưa?

Những con chim màu đen, mỏ nhọn hoắt, không biết từ đâu bay ra kêu váng. Chúng lần theo vết máu một cách say sưa, hào hứng. Những đôi cánh màu đen chết chóc vẽ những đường tròn khủng khiếp trên đầu nạn nhân. Chúng say máu đến nỗi quên cả biển người đang hăm hở hỗn chiến phía dưới. Chúng dung mỏ mổ vào vết thương, rứt từng thớ thịt đỏ lòm. Đất nước hét lên đau đớn!

Không biết cửa mở từ lúc nào mà xuất hiện thêm rất nhiều người. Có người tranh thủ tình trạng hỗn loạn, thò tay móc túi và trộm điện thoại. Người nào đó lớn tiếng rao: “Nước mía đi, siêu sạch đi, nghỉ tay uống nước đã nào!”. “Bánh mì nè, bánh mì nóng nè!”…

Có những thân thể bị giẫm đạp nát bét. Tiếng hò hét không ngừng. Một người liều lĩnh cướp được cây gậy của bảo vệ, nhảy lên quật túi bụi vào đối phương. Một người khác liều mình nhảy lên chính giữa sân khấu, định cúi xuống ôm nạn nhân lên. Nhưng hắn vừa khom người xuống thì bị ngay một đạp vào mông, ngã cắm đầu vào trong cánh gà rồi biến mất.

Tình hình không thể kiểm soát nổi nữa. Khán giả và diễn viên lẫn lộn, không phân biệt được. Sân khấu và cuộc đời chồng chéo, đan xen, không thể tách rời. Cả nhà hát bây giờ, nói cho bạn dễ hiểu, không khác gì một sân bóng đầy bạo lực, trong đó, cầu thủ rượt đánh nhau, khán giả đánh cầu thủ, đánh luôn cả trọng tài, đánh cả bảo vệ, và cuối cùng là khán giả đánh nhau với khán giả! Không biết phe nào với phe nào…

Trong khi đó, nhân vật chính của vở kịch, Đất nước, vẫn rên rỉ, quằn quại lết đi theo một vòng tròn oan nghiệt. Trên đầu, lũ kền kền diều quạ lượn vòng, hào hứng, say mê.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: