To me

A poem in Vietnamese by Nguyễn Đức Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

To me

Girls, you see

They’ll sit and pee

On The World to then

Never be seen again

—–

April 2022

Tôi thấy

Con gái

Ngồi đái

Trên Trái Đất

Rồi đi đâu mất

 

thơ Nguyễn Đức Sơn


Nguyễn Đức Sơn, the poet was born on November 18, 1937, in Du Khanh village, Thanh Hai district, Ninh Thuan province, originally from Thua Thien Hue. He began writing poetry very early with the pen name Sao Trên Rừng, and other pen names like Sơn Núi. On the morning of June 11, 2020, passed away at the age of 83.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Yeah, something like that

A poem in Vietnamese by Nguyễn Đức Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

Yeah, something like that

 

Nearly sixty

Writing poetry like a twenty year old

A mystic mountain surrounded by orangutans

I’ve been searching for people all day

Your hair was light in the breeze that time

The abandoned hut lay there dreaming of two hands pulling down its pants

—–

April 2022

Ừ, vậy đó

 

Đã gần sáu chục tuổi rồi

Làm thơ trắc nết như hồi hai mươi

Núi thần vây bủa đười ươi

Lang thang tôi kiếm con người hôm nay

Gặp em thuở tóc đang bay

Chòi hoang nằm mộng hai tay tuột quần

 

thơ Nguyễn Đức Sơn


Nguyễn Đức Sơn, the poet was born on November 18, 1937, in Du Khanh village, Thanh Hai district, Ninh Thuan province, originally from Thua Thien Hue. He began writing poetry very early with the pen name Sao Trên Rừng, and other pen names like Sơn Núi. On the morning of June 11, 2020, passed away at the age of 83.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Upon the precipice of nothingness

A poem in Vietnamese by Nguyễn Đức Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

A starry night in the trees

In a race to fall upon humanity

A celebration of trees and spirit

On the verge of tears were the boundless dreams

A golden age a river of dreams a sky filled with poetry

I am a man upon my death at the precipice of nothingness.

—–

April 2022

Trên bờ hư không

Một đêm sao ở trên rừng

Đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian

Hồn tôi cây cối liên hoan

Rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ

Tuổi vàng suối mộng trời thơ

Lớn lên tôi chết trên bờ hư không.

Thơ Nguyễn Đức Sơn 


Nguyễn Đức Sơn, the poet was born on November 18, 1937, in Du Khanh village, Thanh Hai district, Ninh Thuan province, originally from Thua Thien Hue. He began writing poetry very early with the pen name Sao Trên Rừng, and other pen names like Sơn Núi. On the morning of June 11, 2020, passed away at the age of 83.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Idol

A poem in Vietnamese by Nguyễn Đình Toàn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

Idol

 

Oh idol of the past

All of that loving to thee I’ll return

Together with those shiny dying monuments

I’m naught but a decrepit moss strewn field 

 

The verses of poetry and song to thee I’ll return

The honeymoon of a bygone era

As I return to the darkness of my soul

By the yellowing grass the herald of my regret

 

I loved thee, the innocence of impending death

My poor tired arms, tried to flick off the love

The sad memories, the silent tears

Fervently trying to sooth my pride

 

I loved thee with the sacred love of the gods

So I bore the loneliness 

(loneliness synonymous with contempt)

The lack of pride turned into bitterness

 

I consoled myself in silence

The whinging, meaningless

But what else could there be said

Shattered is my body and spirit

 

There’s nothing left for you to take

The days drifted by, the dreams washed away

The sulking, the pitiful silence

Eventually will fizzle out like a dying flame

 

The sad verses couldn’t lift the injured soul

I’m reliant on the crutches of love for support

You’re far away so all is far away

And all is naked with absence

 

I don’t know why I’m listless

Why I’m sad

Why I love you

Why we’re apart

Why you cry

Why you laugh

Why I am so old in my twenties

Why I don’t know how to hold on to you so I could be happy

We’re further and further apart by the second, the minute

Losing each other by the day – by the month – by the year

In complete silence – but completely as sure as our feet

Taking the one step at a time out of a dream

The beckoning shattered amongst the crashing ocean waves

(the intangible sea and the intangible sail)

How could anyone fathom such depth

But you understood didn’t you(em)?

Don’t broach each other like acquaintances

Leave each other alone (the begging is a voluntary volition) in a state of peace

Neither of us left hence neither of us has the need to seek

Naturally we would meet again, that’s just life

Probably won’t love each other as we do love the moments

(dearest)

Then to be out of sight like those who have died

Life will go on, it will never end

People will come to understand that there’s nothing better than love

Hence, I regret nothing, not even the pain

Composing poetry as a bird would listen to its song

The birdsong is sad because of the its pitiful heart

My poetry is sad because I love you

 

Farewell to the memories!

Farewell to you, my love!

 

(December 2021)

_____



Thần tượng

 

Hỡi thần tượng của lòng tôi quá khứ

Trả lại người đầy dĩ vãng yêu thương

Với điện đài xưa hoang phế u buồn

Tôi chỉ là sân rêu mòn đổ nát

 

Trả lại người đây lời thơ tiếng hát

Của tuổi hoa ngày mật đã qua rồi

Tôi trở về với đêm tối hồn tôi

Lấy cỏ úa đăng quang niềm hối tiếc

 

Tôi yêu người thơ ngây như đợi chết

Tay rã rời không vuốt kết nhớ mong

Kỷ niệm sầu tư, nước mắt âm thầm

Đem tha thiết để dỗ lòng kiêu hãnh

 

Tôi yêu người bằng tình yêu thần thánh

Nên bằng lòng gánh chịu nỗi cô đơn

(Sự cô đơn đồng nghĩa với rẻ khinh)

Chẳng đủ kiêu sa, biến thành cay đắng

 

Tôi hoài nhủ lòng tôi xin nín lặng

Có nghĩa gì đâu lời thở than này

Nhưng bây giờ tôi biết nói sao đây

Cả thể xác cả hồn tôi đã vỡ

 

Hết cả rồi em còn mong gì nữa

Ngày đã trôi qua, mộng đã trôi qua

Những tủi hờn, những câm nín xót xa

Rồi sẽ lụi như ngọn đèn sắp tắt

 

Thơ buồn không đỡ nổi hồn què quặt

Anh chống tay vào chiếc nạng tình yêu

Em xa rồi tất cả cũng xa theo

Và tất cả còn trơ niềm trống vắng

 

Nào anh có hiểu tại sao anh chán nản

Tại sao anh buồn

Tại sao anh yêu em

Tại sao mình xa nhau

Tại sao em buồn

Tại sao em khóc

Tại sao em cười

Tại sao anh già giữa tuổi hai mươi

Tại sao anh không biết giữ em cho đời anh hạnh phúc

Để đến nỗi xa nhau từng giây từng phút

Rồi mất nhau từng ngày – từng tháng – từng năm

Rất âm thầm – nhưng rất chắc – tựa những bàn chân

Đi từng bước ra khỏi hồn của mộng

Tiếng gọi với vỡ tan vào biển sóng

(biển vô hình con tàu cũng vô hình)

Đắm đuối ấy làm sao người ta biết được

Nhưng mà em hiểu được phải không em?

Đừng nhắc đến nhau như nhắc những người quen

Hãy để yên nhau (ý van xin cũng là lời tự nguyện) trong vùng yên lặng

Chúng mình không ai bỏ đi vì không ai tìm đến

Việc gặp nhau tự nhiên như sự có mặt giữa cuộc đời

Cũng chẳng yêu nhau như khoảnh khắc

(em ơi)

Rồi khuất đi như những người đã chết

Cuộc đời còn và sẽ không bao giờ hết

Người ta sẽ hiểu rằng không gì hơn là được yêu nhau

Nên anh chẳng tiếc gì kể cả những đớn đau

Và làm thơ như con chim một mình nghe tiếng hót

Giọng chim buồn vì lòng chim đau xót

Thơ anh buồn vì anh yêu em

 

Thôi giã từ kỷ niệm!

Thôi giã từ nhé em!


Nguyễn Đình Toàn was first penned under Tô Hà Vân, born September 6th, 1936 at Gia Lâm, by the Red River, outside of Hanoi. Left for South Vietnam in 1954, there he became actively involved in the arts, literature, poetry, plays, and music, in association with literary magazines like Văn, and Văn học. He collaborated with Trần Phong Giao for many years in the selection of literature for Văn Magazine. He took up the position as the editor of Saigon Radio after that and became known for the Music program in the early seventies. He was captured twice after 1975 and was imprisoned in a re-education camp for nearly six years. He and his wife, Madame Thu Hồng, settled in the United States of America at the end of 1998. A retiree, he currently resides in Southern California with his family.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

an independent creative thought

A poem in Vietnamese by Hoàng Xuân Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A N I N D EP E N D E N T C R E A T I V E T H O U G H T

[uhm, Nguyễn Thị Phương Trâm]

hair so white
as though in jest upon the afternoon
the clouds whitening soundly
an era of untainted history

more than white
a heart like the rain
the forgotten blurry pages of a book
steeped in ancient hallow

resounding
the chills of yearning
softer
calms the heat of such ramblings

an uncommitted vernacular
holding hands
to let go
in the completion of a day of vacuity

how is the heat in the yeast rightfully considered
an inebriation steeped entirely
in the perfect curves
the meaning of the words

here and there
the passing cocktails
the people leaving
the absent friends
to be alone imagine
(that)

August 2021

H Ư C Ấ U V Ề M Ộ T N I Ề M K H Á I
[à Nguyễn Thị Phương Trâm]

chiều nay tóc trắng như đùa
với mây trắng hết cả mùa uyên nguyên,

trắng trắng.
lòng như mưa.
quên
nhòe trang sách cũ ướt rền linh xưa

vang vang. khúc lạnh mong chờ
dịu. xoa niềm nhiệt của thơ [thẩn] này

chữ hợt hờ.
như nắm tay
buông ra cũng hết một ngày tịnh không

làm sao biết men đủ nồng
cho say ngấm hết vàng mông của tờ

du du. cuộc rượu ơ hờ
người đi.
bạn vắng.
còn tơ tưởng mình

h o à n g x u â n sơ n
11 tháng tám năm 2021
[mùa Covid biến thể]


Hoàng Xuân Sơn 

A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh… 

Hometown: Vỹ Dạ, Huế.

Lý Thường Kiệt Primary  

Bán Công High School and Quốc Học Huế High School

Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn. 

Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.

After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.

The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn  Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề,  Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn,  Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ. 

Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.

Published work:

Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)

Huế Buồn Chi (thơ,93)

Lục Bát (thơ, 2005)

Ref: vanchuongviet.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The hue of time

A poem in Vietnamese by Đoàn Phú Tứ
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

The hue of time



Upon dawn is the crystal clear sound of birdsongs

Inside the cool tones of the wind 

Carried gently is the warm scent of a spring yearning

 

The days of old are no longer cold, the Qin consort

To her we offer our quiet offerings

A cloudy sky lightly steeped in time

 

The hue of time is not cool

The hue of time is a soothing purple

The scent of time is lightly scented

The scent of time is a limpid tone

 

Hair is like clouds like a golden dagger

In reticence seclusion she served the emperor

To rather betray his desire

Than him to have seen her ravaged by time

 

A fateful hundred year is severed

In the lingering scent of an old love

The scent of time is a limpid tone

The hue of time is a soothing purple




(October 2021)

—–

 

Màu thời gian



Sớm nay tiếng chim thanh

Trong gió xanh

Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình

 

Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi

Ta lặng dâng nàng

Trời mây phảng phất nhuốm thời gian

 

Màu thời gian không xanh

Màu thời gian tím ngát

Hương thời gian không nồng

Hương thời gian thanh thanh

 

Tóc mây một món chiếc dao vàng

Nghìn trùng e lệ phụng quân vương

Trăm năm tình cũ lìa không hận

Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng

 

Duyên trăm năm dứt đoạn

Tình một thuở còn hương

Hương thời gian thanh thanh

Màu thời gian tím ngát

 

Source: thivien.net

 


Source: thivien.net

Đoàn Phú Tứ, the poet, playwright, and translator, was born and died (1910-1989) in Hanoi, Vietnam. He graduated high school in 1932 and left halfway through a law degree to pursue a career in newspapers like Phong hoá, Ngày nay, Hà Nội báo, and Tinh Hoa. He was the core advocate at the time for an unconventional literary movement. Đoàn Phú Tứ was a prolific playwright, the stage was his main source of creativity and thus rarely composes poetry, he was also the translator for the works of many renowned Western authors.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The poet does nothing

A poem by Cố Thành
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

THE POET DOES NOTHING

(Gu Cheng Poetry)

 

The job is nothing, it is but a takeaway container

The poet does nothing,

Does not need the small knife

To cut a slice at a time each month

From a generous loaf of bread,

Yet, strange enough continued to live,

Continued to write ceaselessly happily.

 

People say to him

Why would anyone write so much

Too much, it will end up like sludge.

The poet’s reply thus

It is sludge

But with sludge, the flowers will bud.

 

The poet continued to write incessantly

The poet does nothing,

Does not use the small knife

Nothing but an empty takeaway container.

 

March 2020

_____

 

NHÀ THƠ, CHẲNG LÀM VIỆC GÌ

(thơ Cố Thành poetry)

 

Việc làm, chẳng phải việc làm, chỉ là hộp đựng thức ăn

Nhà thơ, chẳng làm việc gì,

Chẳng có lấy một con dao nhỏ

Để mỗi tháng cắt một khoanh mỏng

Từ cái bánh mì dân dã thật to,

Thế mà, thật lạ lùng, vẫn cứ sống,

Vẫn viết lách không ngừng, vẫn hạnh phúc.

 

Bao nhiêu người bảo anh ta

Đừng viết nhiều như thế

Nhiều quá, sẽ hoá thành bùn cả thôi.

Nhà thơ trả lời

Thì đúng là bùn đấy

Nhưng bùn sẽ khiến cho hoa đâm chồi.

 

Nhà thơ, vẫn cứ viết liên hồi

Nhà thơ, chẳng làm việc gì cả,

Chẳng có lấy một con dao nhỏ

Chỉ là hộp đựng thức ăn rỗng không.

Cố Thành, Gu Cheng, the modern poet, essayist, and novelist born in 1956 in Beijing, China, died in 1993 in Auckland, New Zealand. 

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The innumerable poets

A poem in Vietnamese by Nguyễn Quý
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

The innumerable poets

continuous production of poetry

overloading the publishers

The readers aren’t so eager

dare not spare

the change

to buy them

Poetry is scattered and exhausted

all over the floor

in all the bookstores.

May 2022

—–

Nhà thơ nhiều vô kể

Thơ ra liên tục

Nhà xuất bản quá tải

Độc giả không dám bỏ tiền mua

Trong nhà sách

Thơ nằm la liệt.

May be an image of ‎text that says "‎KHOA HỌC XÃ LẦM HỌI HAN ااام VIET VIỆN 0 NAM TIẾN TIẾN IGÂN SÁCH TIẾN THẠC THẠC THẠC SCIENCES TIẾN TIẾN SĨ THẠC ACADEMY OF ۔CIAL SI DMD YYW22‎"‎


Nguyễn Quý, the poet is currently an electrician in Ban Me Thuot, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: