THE MICE CHRONICLES | Thái Hạo [65]

A Sketch of Tháo Hạo by Nguyễn Thị Phương Trâm

An epic poem in Vietnamese by Thái Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Nguyễn Thị Phương Trâm

my mother gave birth to me one early morning by a scorching and dry Westerly wind
very same horizon
as the budding root vegetables under our bed
my father away in the rocky mountains
my mother alone with the potatoes and yams
and the mice digging their nest in our house
cries of a child thrown against the walls of Thanh Sơn
Tào Sơn, a rocky mountain
silvery blue mountain
climbing aroids and zoysia grass are no more
he’s scavenger for yams and potatoes in gloriously moonlight
digging his hands into abandoned buffalo’s footprints drinking wholly the summer night

I grew up under the shredded clouds, fields of thin harvests
skinny buffalos sneaking bites of rice at the edge of the field
very mean guards of the fields
drunk every day
took our buffalos as hostages
we followed them in tears through the bruising country at sundown
together with the screams of ravens over our heads

I grew up across windy fields
hot ember winds from the Sun
incinerate our naps beneath the trees
fields bleached white by dead fish
and the old
carried to be buried at the spine of the mountain
decimated by the tramplings of cows and buffalos
sandy soil tumulus void of green grass the entire summer

I grew up listening to my grandfather’s stories about Bác Hồ
I carried with me the stories of the saints, magical godfathers
adoration and fear
utopia
sweet golden fields at dusk
and my mother’s folklore
a winter field
chills to the bone
waiting ravens over our head
I wished for a hole like the homes for mice
to sleep out the whole winter
I craved for a nest full of hay
a sweet sweet
budding potato

I grew up
thick skinned
on my mother’s back the rice paddies sold for my books
I would cross the fields of sparse harvest
cross the mountain scattered with the ox trampled tumulus
cross the headless coconut trees decimated by lighting
cross the battered beaten wives chased by their drunk husbands
cross the corroded blackened thatched roofs
cross the stone homes for a decade without a roof
cross the glowering Sun igniting glowing amber the morning light

my return
the moon will be crystal clear at the bottom of the well
where I freed a perch once upon a time
thin and thirsty
nothing but a giant glorious head plopped on a tiny body
ravens for a while now are all gone

I grew up
left for a town far away
met the ravens of my childhood
they fly
over alleys
over college courtyards
over dark boarding houses
startling raven cries over textbook pages on dark rainy nights
raven’s cries by my window
sound in my sleep
sound through the years I dare not love her
ravens, scavengers in the streets
in their shiny shoes and long beaks
in their shimmering beaded feathers
standing there to watch the sun go down
sad and happy ravens
oblivious
hands in their pockets watching the water in the Hương Giang river
drifts away
void of a wave

returning floods in the street, days in the boarding house
drowned in red earth from the endlessly dead forest
endless forest void of shades of canopies
mice climbing out from the sewers
they stood on the offerings of wandering spirits
on the altar
damp
shivering
clasping their hands together by the ruby red led lights
mice climbing up the foot of the bed
chewing off the tips of the toes of a lad in college on campus
mice at night peeking at the students fornicating
in the dark gloomy boarding houses
tired starving mice in the rain period in Hue
no longer afraid of people
blatant on the walls
chewing on the spirit money

me moving along
beneath an illustrious Sun
followed by mice and ravens
I became a leader
few cool battles
imposing in the street
forceful wind that shook Vỹ Dạ bridge
ravens took to the sky from under the bridge
danced greeted the 21st century
brilliantly in light of a setting sun
Như Ý river as black as the night
splintered at the heart of the city
emanated the stench of time
racket of mice’s drummings resounding
in office
in glory

ravens mice and I
by the honourable Sun
by the majestic mausoleum declared
to uphold a kingdom for the king of mice
hail to the king
long live the king
once the big dream is erected
I can move on
return to the desolate red earth
to dig for budding root vegetables
as sweet as honey
bright white bloody sap of the rubber trees
upon the ground ooze profusely
by the prehistoric laterite
Mausoleums
mice invaded the graves
nest
make love
breed
dig tunnels without rest by the remains
watch men and women scraping
steal rubber sap
make lover under the rubber trees
souls forever in the thick shadows of ancient rubber forests
never seeing the Sun
skin as green as leaves
back and forth around prehistoric laterite tombs
mice with their hands clasped together standing on top of the tombs
bowing to the Sun
oblivious to
the falling dusk

I’m there composing poetry and thoughts of philosophy
by rubber sap consuming mice
by petty thievery of men and women
by the buildings and schools void of the sound of people
nothing but the scuttering sound of mice in the sewers trying to make a living

me lighting a cigarette in the afternoon
making clouds
quell my yearning of the mountains
deter the mosquitoes
mice cravings for a taste of the Sun
prayerful incantations in the shadows

ravens returned to the garbage dumps around town
left the mice behind
with their ears erect
listening to the forest rain in flickers of thunder
rips apart the southern sky
young and olde mice
prehistoric mice
same lineage as those vivid laterite tombs
losing their fur
display their muddy
wrinkly skin
wriggly maggots on their backs
searching for the Sun

thieving men and women
left the country
old villages abandoned
white reeds and water sedge across the land blinding
mice claiming they are kings
by the laterite tombs
festivals
dig up the abandoned fields search for roots of cogongrass
salty
try to grow back their malnourished fur in the shadows
mice organised an election for an emperor
to rule over the kingdom
peace on earth
viva la vida

people home in the mountains
in grass skirts
living in caves
digging for yams under a starry moonlit sky
love each other, lay eggs
against the cliffside ache for each other
I carry my books in an oxcart
in the rain
through abandoned fields
through giant rat caves
through a city in the dark
nothing but bright red massage parlours and mice standing on two feet over sewage covers
admiring the full moon
brilliant across the horizon

the forest storm never ceasing
my oxcart full of soggy books turning into muddy
shimmering
the accumulation of fallen stars
my cart through the sand dunes
illusions
precarious Sun
through stale dried up rivers
stinking mud
through a sea of blood
bleeding chemical
through men in muddy plastic sandals
chew bread by hot tar roads
rolling in sticky dust and muck
through flat chest girls hair coated with red dust
mice with their hands in their pockets
guard the garden of Eden

me moving along
my oxcart of muddy books
dripping onto the road
disintegrating
dissolved inside the howls of the people in grass skirts on the cliffside
antecedent
Garden of Eden

December 2020

_____

TRƯỜNG CA VỀ NHỮNG CON CHUỘT

[30.5.2020, Nhớ bài thơ cũ, một hoài thai đã sinh thành]

Mẹ tôi sinh tôi một sớm mùa hè gió lào
cùng với bầu trời này
Và những củ khoai mọc mầm dưới gầm giường
Bố đi vào rừng thồ đá
Mẹ một mình cùng với những củ khoai
Và lũ chuột đào hang trong nhà
Tiếng khóc chào đời văng vào núi đá
Tào Sơn
Núi xanh bạc phếch
Những cọng cỏ chân rết và cỏ lông lợn cũng đã hết
Người đi mót khoai dưới trăng lồng lộng
Và vục tay vào dấu chân trâu uống cạn đêm hè

Tôi lớn lên cùng những đám mây rách và cánh đồng lúa lép
Cùng những con trâu gầy ăn vụng lúa ven bờ
Có những ông bảo vệ đồng rất dữ tợn
Ngày nào cũng say
Và bắt trâu về hợp tác
Chúng tôi đi theo khóc bầm cả chiều quê
Cùng những con quạ liệng trên đầu

Tôi lớn lên trên đồng gió thổi
Những cơn gió thổi than đỏ từ mặt trời
Cháy tan giấc ngủ dưới bụi cây
Cá chết trắng đồng
Cùng những người già
Được khiêng đi chôn bên sườn núi
Trâu bò giẫm nát
Mộ đất cát suốt mùa hè không xanh cỏ

Tôi lớn lên nghe ông tôi kể chuyện bác Hồ
Làm tôi nhớ mãi những ông thánh ông tiên đầy phép lạ
Vừa yêu vừa sợ
Mơ hồ
Đồng chiều vàng vọt
Cùng những câu chuyện cổ tích của mẹ
Trên đồng mùa đông
Tím tái da thịt
Có những con quạ bay là là trên đầu
Tôi ước mình có một cái hang như những chuột kia
Để chui vào và ngủ hết mùa đông
Tôi thèm một cái ổ rơm
Và những củ khoai mọc mầm
Ngọt lịm

Tôi lớn lên
Da thịt chín dần
Mẹ bê thóc đi bán để mua sách cho tôi đi học
Tôi băng qua cánh đồng lúa lép
Băng qua triền núi lởm chởm những cái mả bị trâu dẫm nát
Băng qua những cây dừa bị sét đánh cụt đầu
Băng qua những người đàn bà bị chồng say rượu đuổi đánh khắp làng
Băng qua những căn nhà mái rạ mục đen
Băng qua những ngôi nhà xây bằng đá mười năm chưa lợp ngói
Băng qua mặt trời lừ lừ đốt đỏ ban mai

Tôi về
Trăng trong vắt dưới đáy giếng
Nơi con cá rô tôi thả năm xưa
Gầy khô
Chỉ có chiếc đầu là to vĩ đại gắn trên cái thân bé tí
Những con quạ đã đi đâu mất từ lâu

Tôi lớn
Đi về thành phố xa
Bỗng gặp những con quạ thủa trước
Chúng về đây
Bay trên nóc phố
Bay trên sân trường đại học
Bay trên dãy nhà trọ tối đen
Tiếng kêu làm giật mình những trang sách gió lật đêm mưa
Tiếng quạ trên cửa sổ
Kêu vào giấc ngủ
Kêu vào những năm không dám yêu em
Những con quạ đi lại trong thành phố
Với những đôi giày và những chiếc mỏ dài
Với bộ lông hạt cườm
Đứng ngắm hoàng hôn
Những con quạ buồn vui
Không biết
Xỏ tay túi quần nhìn nước Hương giang
Trôi
Không gợn sóng

Những ngày lũ về thành phố
Căn nhà trọ ngập đất đỏ từ đại ngàn đã chết
Đại ngàn không bóng cây
Những con chuột dưới cống leo lên
Đứng trong am cô hồn
Đứng trên bàn thờ
Ướt sũng
Run rẩy
Chắp tay bên bóng đèn quả nhót đỏ lòm
Những con chuột theo chân giường leo lên
Gậm nát đầu ngón chân cô bé sinh viên ở trọ
Những con chuột đêm đêm rình xem những sinh viên làm tình
Trong nhà trọ tối tăm
Những con chuột đói lả trong những tháng mưa Huế
Không còn sợ người
Ngồi thu lu trên những bức tường
Nhai những đồng tiền âm phủ

Tôi đi
Dưới mặt trời vĩ đại
Những con quạ và những con chuột cũng đi theo
Tôi thành thủ lĩnh
Có những chiến binh rất ngầu
Oai vệ xuống phố
Gió thổi rung cầu Vỹ Dạ
Những con quạ dưới gầm cầu bay vút lên
Vũ điệu chào mừng thế kỉ 21
Rực rỡ trong chiều
Sông Như Ý đen kịt
Nứt ra giữa lòng thành phố
Xông lên mùi thời đại
Những con chuột gõ trống rền vang
Nhậm chức
Huy hoàng

Tôi cùng những con quạ và những con chuột
Tuyên thệ dưới mặt trời vĩ đại
Bên những lăng tẩm uy nghi
Sẽ xây dựng vương quốc vua chuột
Muôn năm
Đời đời sống mãi
Mộng lớn xây rồi
Tôi lại ra đi
Về miền đất đỏ hoang vu
Để đào những củ khoai mọc mầm
Ngọt lịm
Máu cao su trắng toát
Chảy đầm đìa trên mặt đất
Bên những cái lăng đá ong
Tiền sử
Những con chuột đã chiếm lấy những ngôi mộ
Làm nhà
Làm tình
Sinh con
Đào địa đạo không ngừng bên những bộ hài cốt
Và nhìn những người đàn ông đàn bà cạo mủ
Vụng trộm
Làm tình bên gốc cao su
Những người suốt đời sống dưới bóng râm của rừng cao su cổ thụ
Không thấy mặt trời
Da xanh lẫn với mầu lá
Đi lại quanh những cái lăng đá ong tiền sử
Có những con chuột chắp 2 tay đứng trên nóc lăng
Vái mặt trời
Chiều rụng
Không biết

Tôi ngồi làm thơ và suy tưởng triết học
Bên những con chuột ăn mủ cao su
Bên những người đàn ông và đàn bà vụng trộm
Bên những tòa nhà và bên những trường học không bao giờ nghe thấy tiếng người
Chỉ rúc rích tiếng chuột kiếm ăn dưới cống

Tôi đốt một điếu thuốc trong chiều
Làm mây
Cho đỡ nhớ những ngọn núi
Cho muỗi đừng chích lên da
Những con chuột thèm nhai mặt trời
Đứng khấn trong bóng râm

Những con quạ đã bay về những bãi rác xung quanh thị xã
Bỏ lại những con chuột
Với đôi tai dựng đứng
nghe mưa rừng về gào trong những tia chớp
Xé nát bầu trời phương nam
Những con chuột con và những con chuột già
Những con chuột từ thời tiền sử
Cùng tuổi thọ với những cái lăng đá ong sẫm màu
Rụng lông
Phơi bộ da màu bùn
nhăn nheo
Có những con dòi lúc nhúc trên lưng
Đi tìm mặt trời

Những người đàn ông và những người đàn bà vụng trộm
Đã bỏ đi biệt xứ
Những ngôi làng cũ bỏ hoang
Lau trắng và cỏ bạc đầu bay mù xứ sở
Những con chuột xưng vương
Bên những lăng tẩm đá ong
Mở hội
Cày nát vườn hoang tìm rễ cỏ tranh
Mặn
Để nuôi lại bộ lông dưới bóng râm xanh xao
Chuột mở hội bầu thiên tử
Để trị vì vương quốc
Thái bình
Muôn năm

Người về trên triền núi
Mặc khố vỏ cây
Hang đá làm nhà
Đào củ mài dưới trăng sao
Yêu nhau và đẻ trứng
Gọi nhau buốt vào vách đá
Tôi chở sách trên chiếc xe bò
Đi dưới mưa
Băng qua cánh đồng hoang
Băng qua những cái hang chuột khổng lồ
Băng qua thị xã không có ánh đèn
Chỉ thấy những quán massage đỏ lừ có những con chuột lù lù đứng hai chân trên nắp cống
Ngắm trăng rằm
Lồng lộng đi qua bầu trời

Cơn mưa rừng không dứt
Xe bò sách của tôi nhão thành bùn
Sóng sánh
Đựng chi chít những vì sao rụng
Xe tôi đi qua những cồn cát
Ảo giác
Liêu xiêu mặt trời
Đi qua những dòng sông nằm chết thối
Trương sình
Đi qua vùng biển máu
Đỏ lừ hóa chất
Đi qua những người đàn ông có đôi dép nhựa sục bùn
ngồi nhai ổ bánh mì bên đường nhựa nóng
Hầm hập bụi cuốn
Đi qua những thiếu nữ tóc đỏ có bộ ngực phẳng lỳ
Những con chuột xỏ tay túi quần
Đứng canh gác xứ sở thiên đường

Tôi đi
Xe bò sách nhão bùn giấy
Chảy dài trên đường
Tan ra
hòa vào tiếng hú của những người đóng khố trên vách núi
Tiền sử
Thiên đường.

Thái Hạo

Tây Lạc Viên, 30.5.2020



Thái Hạo, the poet and journalist currently lives in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, born 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

I have returned to the old mountain | Thái Hạo

Harry, source: Thái Hạo's social media page

A poem in Vietnamese by Thái Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

I have returned to the old mountain
by fall the softened hay
scented in rich consumable damp clay
in light misty rain
winter barely
the barefoot three-year-old
ran for the road as though
he was flying
heading for the sky

I have returned to the old mountain
my mother counting every coin
my father’s back is an erect boulder
by Yên river by the endless breeze 
like white gems the Katuk berries
dressed the terracotta courtyard
as the mist wets
the first light

November
the grasshoppers on the tumulus of green grass 
perched watching
the red Sun
in anticipation, the storm at the end of the horizon

November 2020

Tôi về núi cũ
mùa thu đã mềm trong gốc rạ
mùi bùn thơm ngậy như có thể ăn được
mưa phùn
chớm đông
đứa cháu ba tuổi chân trần
chạy như bay ra ngõ
chạy như bay
vào trời

Tôi về núi cũ
mẹ đang ngồi đếm tiền lẻ
lưng bố như đá dựng
gió thổi lồng lộng bên bờ sông Yên
những trái rau ngót trắng như ngọc
treo bên sân gạch hồng
và sương mù
ướt đẫm nắng mai

Bây giờ là tháng 11
những con cào cào đứng trên mộ cỏ xanh
nhìn mặt trời
đỏ ối
nghe bão cuối trời


Thái Hạo, the poet and journalist currently lives in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

I slept away the afternoon | Thái Hạo [53]

A book cover knitted by a fan of Thai Hạo

A poem in Vietnamese by Thái Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

On the old sofa
I slept away the afternoon
right by the green viper
at the foot of the statue of Bodhidharma
in a corner
in knotted wires

A snake emanating the charming brushstroke of a child
slowly crawling into a dream
awakening the laughter
awakening the cries
awakening a soul in a dark
cracked terracotta crock pot
blood throbbing on red floor carpet
flies out the window
like an owl flapping its wings in the moonlight
end of a month

The sun has hidden itself behind the marble mausoleums
as I drifted through the summer
as lightly and swiftly as an old shirt

Opening my eyes
to the reverie of an unfulfilled death
while the viper was fast asleep
on the scruffy head of the master of Dharma
eyes staring out the window
as neem flowers
fell into a well

The March afternoon
Fresh hues of my youth
gone along with the snake
not a word of goodbye
the astray Dharma
in a foreign land
missing home

Tôi đã ngủ suốt chiều nay
trên chiếc sofa cũ
cùng với con rắn lục màu xanh
trên bức tượng Bồ Đề Đạt Ma
nơi góc phòng đầy dây điện

con rắn đẹp như một nét vẽ dưới bàn tay em bé
chầm chậm bò vào cơn mơ
đánh thức tiếng cười
đánh thức tiếng khóc
đánh thức linh hồn trong chiếc hũ sành tối đen
tiếng vỡ của đất nung
máu chảy
tấm thảm màu đỏ dưới sàn nhà bay vụt qua cửa sổ
như con cú đập cánh lao vào trăng mờ
cuối tháng
mặt trời đã tắt sau những chiếc lăng cẩm thạch
tôi đi qua mùa hè
nhẹ như một chiếc áo cũ

tôi thức dậy
tiếc một cái chết không thành
con rắn lục còn ngủ say
trên chiếc đầu bờm xờm của ông Đạt Ma
hai mắt trừng trừng nhìn qua cửa sổ
hoa xoan
rơi vào lòng giếng

chiều tháng ba
màu xanh đã theo con rắn ra đi
không từ biệt
Đạt Ma lưu lạc
đất khách
nhớ quê xưa

Thái Hạo


Thái Hạo, the poet and journalist is currently living in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

nirvana at the bottom of the pond | Thái Hạo [28]

Sydney botanical garden, Australia. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Thái Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

A star fell into the bamboo bushes
a communion with fireflies in the dark
holes through the heart of night
laceration, a scalpel slicing into a cadaver
swinging pickaxe
fragmented voices in search for each other
echoes bouncing back and forth against the dense darkness
the ache in the heart of summer

Night falls in a thump
hands, arms, all over each other
drenched in dew on a frog’s back wetting even the dark
drift, shift, a gasp
a frond tonight left its branches

The spade on your shoulder softened by the moonlight
bent over
burdened with both sides of the galaxy
as they collected the bones to erect a bright red tomb of Nirvana
for the lost(homeless) souls

The souls once had died in their dreams, like a vow
they died for the rivers, harvests
died for the sprouting rice at the edge of the village
wandering souls knocking on
the crumbling desolate doors of dry dying ancient trees
in the village, cracked fields
dry river beds, forgotten snakeskin

betrayed souls quietly cradling their heads in the dark
staring at each other without a word
sound windy nights, resting at the side of the road
shredded sandals for a pillow
listens to the sounding prayers from a temple
from the city rush beyond the rocky paths
to disappear at an intersection

grave diggers picking out pale white bones
wrapping them in shimmering red cloths on a gravel walkway
souls sound asleep in shredded sandals
curled up like foetuses

pickaxed calling on the Sun
rustling dry leaves
as we searched for each other
with terms of internment
wet with dew
fallen stars and the moon at the bottom of the pond
shattering light and shadow
across the pond


THIÊN ĐƯỜNG DƯỚI ĐÁY AO



Một vì sao rụng vào bụi tre
lẫn với những con đom đóm trong bóng tối đen đặc
Tạo thành những lỗ thủng và vết rách lòng đêm
Những vết rách như vết dao mổ toang tử thi
Cuốc kêu rạc
Tìm nhau vỡ giọng
Chỉ thấy tiếng mình dội vào vách đêm
rát lồng ngực mùa hè

Vò đêm
hai bàn tay ngang dọc chỉ nhàu
Rịn sương trên da ếch ướt đẫm bóng tối
Phập phồng
Hấp hối
chiếc lá đêm nay lìa cành

Người vác xà beng đi dưới trăng mờ
Lưng gù
gánh cả hai bờ ngân hà
Họ đi đào mộ đêm để nhặt những chiếc xương về xây mộ Thiên đường
đỏ chói
cho những linh hồn không nơi trú ngụ

Những linh hồn đã từng chết cho những giấc mơ, những thề nguyền
Từng chết cho dòng sông, cho đồng lúa
Chết cho cây gạo đầu làng
Giờ lang thang
Đập cửa gọi mòn hư vô bên những cây cổ thụ chết khô
bên đồng làng nứt toác
bên những dòng sông khô như xác rắn lột

Những linh hồn bị phản bội ngồi ôm trán dưới trời đêm lặng ngắt
Những linh hồn nhìn nhau không nói một lời
Đêm sâu hút gió, họ nằm trên vỉa hè nhặt chiếc dép rách làm gối
Nghe kinh vọng từ ngôi chùa trong thành phố
Lời kinh tịnh độ lao đi trên mặt đường phố rỗ đá rồi tan ở một ngã tư nào

Người đào mồ đang nhặt những chiếc xương trắng, gói vào vải đỏ óng ánh
Trên vỉa hè đầy đá dăm
những linh hồn đã thiếp đi trong chiếc dép rách
Cuộn tròn như những bào thai

Cuốc gọi mặt trời
Rạc lá khô
Người gọi nhau
Lời ướt đẫm sương mù
Ngục tù
trăng sao rụng đầy đáy nước
lay bóng
rạn mặt ao
Vỡ trắng.
————————–
TLV – cho lời cổ tích


Thái Hạo, the poet and journalist currently living in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

winter awakening | Thái Hạo [27]

source: Thái Hạo's social media page

A poem in Vietnamese by Thái Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

winter
awakening
in a sad corner of the fridge
bulbs of garlic sprouting bitter sprouts
fingers on the keyboard typing out the lines of poetry
he misses his old self
dust
the calling
the earth moaning 

through the breezy autumn hills and the white clouds 
rest simply
his head on a soft pillow 
tuck himself in the blanket
rest his back on the yellow sofa
Noah’s Vessel Drifting
sleep amongst the trees on an unnamed island

winter
weeping garlic shrubs
the old citadels under a blanket of white snow
returns the brown starling amidst the rainy night
yearning for its branches
drained by all the corroding bitterness

winter
closed doors
Bocelli singing a hymn as though he’s a lonely bird in the mountains
the garlic bulbs sadly perished overnight in the corner of the fridge
white cathedral
yellow lights
candles burning

all he wants is rest
lie down in a house full of glass panel doors and widows
watch the mountains fly by
upon the blessings of a prayer…

October 2022

thức dậy
mùa đông
trong góc tủ lạnh buồn
những cây tỏi đã mọc mầm cay đắng
anh ngồi gõ một dòng thơ cũ kỹ
nhớ mình
cát bụi
tiếng gọi nào
đất đá than van

gió đã thổi từ đồi thu mây trắng
anh thèm nằm xuống
gối chăn mềm mại
anh thèm nằm xuống đây
trên chiếc sofa màu vàng
con tàu noah trôi dạt
đang ngủ giữa cây rừng trên hòn đảo không tên

mùa đông
những cây tỏi khóc than
tuyết đã trắng trên những thành quách cũ
con sáo nâu trở về giữa đêm mưa
vì thương nhớ một cành cây
mòn chân thù hận

mùa đông
những khung cửa đóng chặt
chàng Bocelli mù hát bài thánh ca bằng giọng của loài chim một mình trong núi đá
những cây tỏi đã chết đêm qua trong góc tủ lạnh buồn
ngôi thánh đường màu trắng
và đèn vàng 
nến thắp

anh thèm nằm xuống đây
trong căn nhà nhiều cửa kính
nhìn những dãy núi bay đi 
trên lời kinh chúc tụng…

Thái Hạo


Thái Hạo, the poet and journalist currently living in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

“be thankful that we’re living in peace” | Thái Hạo [33]

A poem in Vietnamese by Thái Hạo
Translation and photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

“be thankful that we’re living in peace”
our teacher said as he threw his hands in the air
startling the poor sparrow
it dove right into a cloud of smoke in a burning field
the abandoned window left with nothing
but black steel bars
opened to welcome the spring

“cherish what you have
because you can’t go outside
you won’t have WiFi
no one can watch TV anymore”
our teacher again threw his hands in the air
cutting the fog
and there’s dawn

“sir, the pigs gets to live in peace
around a stone trough
long live peace at the animal farm
all the animals are happy
happily procreating in front of each other
rolling around in the mud
rolling off to sleep
their dreams comes in spasms
visible on each other skin

don’t talk to us about peace
on a squeaky bed
with loose screws
don’t talk to us about peace
when the microphone is not plugged in
when we’re almost in the street

long live to peace
sleeps six feet under
under the graves of those
already dead

sir, should you not talk about
how drunk Dionysus got on grape juice
tell us about
Hamlet’s death
at the point of a sword it was a glorious gift
reserved for the love of the lovely Ophelia

love
love is not a gift from a drawer of an old king
with a pointy sharp nose
who happened to pity
a broken beggar
lost at the foot of the city wall…

“Hãy cảm ơn vì chúng ta đang được sống trong hòa bình”
người thầy giáo nói
và vung tay
làm con chim sẻ giật mình lao vút vào đám khói đốt đồng mùa xuân
khung cửa sổ trống không
chỉ còn lại những song sắt màu đen

“hãy trân trọng những gì chúng ta đang có
Vì các em sẽ không thể ra đường
chúng ta sẽ mất wifi
không ai được xem tivi nữa”
người thầy giáo lại vung tay
chém vào bầu sương mai

“thưa thầy, những con lợn luôn được sống trong hòa bình
quanh cái máng đá
đó là nền hòa bình vĩnh cửu
trong nông trại
tất cả những con vật đều vui vẻ làm tình
trước mặt nhau
và lăn ra ngủ
giấc mơ co giật từng hồi trên da”

đừng nói với chúng tôi về hòa bình
trên chiếc giường lủng lẳng dây ống
đừng nói với chúng tôi
về hòa bình
khi chiếc micro bị giật ra khỏi bức tường
bên kia là đường phố

nền hòa bình vĩnh cửu
ngủ bên dưới những nấm mồ
của những người đã chết

thầy hãy nói về
cơn say của thần rượu nho Dionysus
hãy nói với chúng tôi
về cái chết của chàng Hamlet
vì mũi gươm là tặng phẩm
dành cho tình yêu của nàng Ophelia yêu kiều

tình yêu
tình yêu không phải là món quà được gửi tới từ ngăn kéo của một ông vua già có chiếc mũi nhọn hoắt
thương tình
người hành khất
cúi mặt
đi
dưới chân tường thành…

Thái Hạo


Thái Hạo, the poet and journalist currently living in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

SLEEPWALKING | Thái Hạo

Moonlight by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Thái Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

the summer rain
I’m in a hut
no walls, I can’t sleep
in search of a dream from last night, a corn seed germinating
corn kernels like someone’s front teeth
breaking through the soil
piercing the sunlight
dancing in the storm sprouting white reeds
amongst the weed

Corn kernels like the teeth
my father pulled out of my gums
thrown on the roof
thrown under the bed
call for the rustling mice in a corner
teeth sprouting from fleshy red gums
sprouting out of nowhere
white
jasmine buds

Where be those teeth
father’s eyes are now weak
teeth swaying like bamboo in the wind
at the edge of an orifice
fingernails toenails and hair
and a section of my appendix
where are they now?

Where did I go
wandering eyes
untrained ears
cogon grass blades as sharp as razor blades
tiny slices dripping drops of blood on my limps
tiny red buds on my skin

Long have I travelled
amongst the dubious
escape barely through a side lane
met the tears in my mother’s eyes

I am now amongst
the hammering nails on wood
amongst slashes of a blade on old bamboo
I hear the shouts of the dog merchant
barking dogs
mournful yelping
through metal crates

I crossed the cogon steppe white with flowers
their blades cutting into my hands and feet
dripping red blood, the field far too big
I took a shortcut through the valley
over the pebbles through a fresh clear stream
purple myrtle bushes plump with fruit
alert deer ears discerning the wind, came across a young woman
running through the goosegrass as though she was flying
her white dress attached to the clouds
I dipped both of my hands in the water
I wanted to lie down
fall asleep on the grass
till there is no summer

I opened my eyes
to glaring sunlight
long gone rain
and two puppies fast asleep
startled by something
in a dream

MỘNG DU



Trong cơn mưa trưa hè
tôi nằm giữa chiếc chòi tranh không có vách
Cố ngủ
Để mơ về những hạt bắp nảy mầm còn dang dở trong giấc mộng đêm qua
Những hạt bắp như những chiếc răng cửa
Vỡ đất
đâm thủng ánh mặt trời
đứng múa trong mưa trong gió rồi trổ cờ như lau trắng dưới chân cỏ dại

Những hạt bắp như những chiếc răng ngày xưa lung lay mà bố tôi giật văng ra khỏi chân răng tôi
Và ném lên mái nhà
Ném xuống gầm giường
Gọi chuột
Rúc rích
Những chiếc răng mọc lên từ thịt đỏ chót
Mọc lên từ hư không
Trắng
như nụ lài

Những chiếc răng về đâu
Mắt bố giờ đã mờ
Những chiếc răng lung lay như lũy tre gió thổi
Bên miệng vực
Những móng tay móng chân và tóc
cả một đoạn ruột thừa của tôi
Chúng đã đi đâu?

Tôi đi đâu
Đôi mắt lang thang
Hai tai này đi hoang
Cỏ tranh sắc như lưỡi lam
Cắt những vết máu li ti trên ống chân
Như những nhị hoa màu đỏ mọc trên thân thể tôi

Tôi đến từ một nơi nào xa lắm
Giữa những linh hồn quờ quạng
Tôi theo một lối nhỏ đi ra
Và tôi gặp mẹ tôi
Nước mắt đầm đìa

Tôi ở đây giữa những tiếng búa đóng đinh trên gỗ
và tiếng sống dao gõ vào thân tre già
Tôi nghe tiếng rao của người mua chó
Và tiếng chó sủa
Cả những tiếng rên hư hử trong chiếc lồng sắt
Tôi băng qua cánh đồng cỏ tranh nở bông trắng xóa
Lá cỏ sắc cắt vào hai chân và hai bàn tay tôi
Cánh đồng mênh mông
Nên máu rướm đỏ cả tứ chi
Tôi lội tắt để về thung lũng
Ở đó có dòng suối trong vắt chảy trên đá cuội
Có vạt sim tím trái chín béo núc
Có những con mang vểnh tai nghe gió
Cô gái chạy như bay trên cỏ bàn chầu
Váy trắng vướng vào mây trắng
Tôi vục hai bàn tay vào nước suối
Tôi muốn được nằm ở đây
Và ngủ trên đám cỏ
hết mùa hè

Tôi tỉnh dậy
Ngoài trời nắng chang
Mưa đã hết từ bao giờ
Hai con chó nhỏ vẫn nằm ngủ
Giật mình trong mơ
——————-
Tây Lạc Viên

Reeds. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Thái Hạo, the poet and journalist currently living in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Nổi tiếng trên mạng và Văn hóa like | Thái Hạo

Sketch of Thái Hạo by Nguyễn Thị Phương Trâm

Thái Hạo

February 16, 2022

Nổi tiếng trên mạng, có lẽ là không khó lắm. Nấu một nồi thịt “siêu to khổng lồ” đến nửa con lợn, thế là nổi tiếng; Lệ Rơi lên hát, thế là “đi vào lịch sử” rồi đó, livetreams chính mình trong lúc đang ngủ, thế là dậy sóng… 

Xin đừng hiểu lầm, tôi không coi thường MXH, nhất là trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại, nhưng ngược lại, có thể nó là thứ dễ mang lại những ảo tưởng nhiều nhất.

Trước kia, khi nick cũ chưa bị đánh sập, hình như tôi cũng có chút…hơi nổi tiếng trên FB. Nhưng thật lòng, khi post một stt lên, chỉ trong chốc lát dù có hàng trăm lượt like, cmt, chia sẻ tới tấp, tôi vẫn chờ một người. Nếu bài viết ấy dù có cả ngàn like với đầy những lời khen tặng hào phóng mà chưa thấy người ấy bấm like thì tôi vẫn không thể an tâm. Vì tôi coi đó là thầy mình, là người “có thẩm quyền” trong lĩnh vực ấy. Một cái like của họ sẽ như một sự xác tín, ít nhất là đối với chính tôi.

Từ cái trải nghiệm ấy, tôi tự rút ra cho mình một ứng xử: “sống có trách nhiệm” với cái like của mình. Không bấm like tùy tiện, không cả nể hay vì muốn “đẹp lòng nhau” mà chạm ngón tay vào, tất nhiên là trừ những gì vui vui, vô thưởng vô phạt.

Tôi có cảm giác, sự nổi tiếng trên mạng xã hội rất dễ khiến người ta đi lạc. “Những cái like sẽ nhận chìm bạn”. Người có ý thức sẽ tạo, xây dựng và giữ gìn “văn hóa like”. Không bao giờ dễ dãi.

Xã hội vốn có rất nhiều nhóm người với văn hóa, sở thích, quan điểm khác nhau. Trang cá nhân của bạn sẽ “chiêu cảm” những người cùng “tần số” về. Cho nên nhiều like không hẳn là điều đáng mừng nếu bạn chưa thật sự nhìn nhận đúng giá trị mà bạn chia sẻ. Vì, có thể có một đám đông vô minh đang “quạt” cho bạn bốc cháy như một vị thần!

Đừng mang tiền đến chùa để cho, chỉ vì bạn có tiền, bởi như thế là bạn đang làm hại/tiếp tay cho những người tu hành không vững đạo tâm. Cũng thế, hãy ngăn chặn người khác “ngáo Phây” bằng cách nghiêm túc và có trách nhiệm với cái like của mình. Like nghĩa là tôi thích, tôi đồng tình với anh. Đừng nên nghĩ  như nhiều người rằng like chỉ là để xác nhận rằng “tôi đã đọc” (dù tôi không thích bài anh viết), không thích thì nên “còm” vài chữ hoặc bỏ qua, đừng like.

“Tổ 10 like”, tôi có quen và rất quý cái tổ này. Mỗi stt của họ có thể chỉ lèo tèo vài cái like, nhưng tôi đã nhận được quá nhiều từ họ, nhiều hơn cả “tổ ngàn like”. Họ sống thật tình cảm, sâu sắc, thường quan tâm và nặng lòng (tất nhiên là không có “định lý đảo” nhé).

Chúng ta đang và buộc phải sống cùng internet, không thể khác được. Và internet có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển nhận thức của dân chúng trong hoàn cảnh bị kiểm soát tự do nghiêm trọng này. Nhưng VN lại đang “được” xếp vào nhóm 5 nước có hành xử xấu xí nhất trên MXH toàn cầu. Xây dựng “văn hóa mạng” là trách nhiệm của mỗi người, không ai ngoại lệ cả, vì bây giờ hầu như người Việt trưởng thành không mấy ai không xài MXH…

Đôi khi nghĩ, ngáo đá không đáng sợ bằng “ngáo Phây”, vì nó làm hỏng xã hội một cách rộng sâu hơn nhiều.

Sketch of Thái Hạo by Nguyễn Thị Phương Trâm

Thái Hạo, the poet and journalist currently living in Vietnam.