Nets

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

Truyện ngắn                       

Mắt lưới 

Tôi bắt đầu nhìn thấy nó ở khắp mọi nơi. 

Những chốn tôi đã từng dừng chân trú ngụ hoặc chỉ tạm thời thăm viếng dăm ba thời giờ nào đó rảnh rỗi. 

Lần này, tôi lại phải khẳng định thêm nữa, rằng nó không phải là giấc mơ hoặc thứ tưởng tượng chập chờn trong trí não. Tôi đã nhìn thấy nó. Rõ ràng, không một chút mờ ảo, khuất tất. Nó sống động hệt như hình ảnh ba chiều. Tôi không nhìn nó bằng mắt. Nó nằm trong não. Tôi nghĩ, nên tập nhìn mọi thứ xung quanh mình bằng não thay vì mắt thường. Não, hẳn sẽ sáng suốt hơn. Nhưng rồi, tôi không còn nhìn thấy nó nữa. Nó đã rời bỏ tôi. Nó đã biến mất khỏi trí não đầy mộng mị của tôi. Nó rời bỏ tôi không một chút thương xót. Những mắt lưới xanh xao, kết nối bầu trời và các vũ trụ song song hiện thể. Những mắt lưới hiển hiện đằng sau cánh cửa vừa mở toang ra nơi lòng biển mà tôi nhận thấy.  

Rồi, bất giác, tôi trở nên chán ghét việc phải suy tưởng về chúng, những mắt lưới lạc lõng đu bám ẩn hiện trên các đốt ngón tay xương gầy uốn lượn, vươn ra tứ phía chỉ để bíu với một niềm tin vô hình về sự hiện hữu của chính mình. 

Tôi, quyết, sẽ rời bỏ những mắt lưới, để nghĩ nhiều hơn về những giấc mơ. 

Hẳn nhiên rằng, tôi phải thường xuyên nghĩ về những giấc mơ. Bởi, một lẽ xác đáng, tôi biết, đó cũng là một thế giới. Giữa tôi và chúng luôn có sự kết nối rất đỗi gũi gần, quen thuộc khó lòng tách rời. 

Tôi bắt đầu mơ về nó. 

Khi tất cả mọi giác quan của tôi chìm dần vào những cơn mê, nó xuất hiện, chĩn chện cười cợt trêu đùa với tôi. 

Thỉnh thoảng, nó biến mất một cách lạ lùng, khiến tâm trí tôi hỗn độn như mớ bòng bong rối loạn, không rõ hình thù, màu sắc. 

Tôi nghĩ đến việc ghét bỏ mọi giấc mơ. 

Những giấc mơ thường chết đột ngột như khi nó đến không cần báo trước. Tôi chẳng còn nhìn thấy nó nữa. Sau một vài cơn va quệt nhẹ với các loại tường. Chúng, những bức tường dựng lên sừng sững ngăn cách tôi và nó; tôi và giấc mơ; tôi và cả chính tôi nữa. Kẻ siêu nhiên lẩn nấp, khuất dạng phía sau những giấc mơ đã bị ảo hóa bởi rất nhiều hình khối, thanh âm giả trá. 

Tôi cần nó xuất hiện đều đặn trong giấc ngủ của mình. Dù rằng, chỉ là một góc tối vụn vặt. Ai đó thường tìm cách thì thào những lời khó hiểu vào tai tôi, trước khi tôi chợp mắt: “mày cần một góc tối. mày cần phải chui ngay vào cái góc đó và ẩn nấp”. Khả dĩ, tôi chiều lòng và quyết định lắng nghe những lời ám thị đó bên tai mỗi đêm, cũng bởi tôi cần, rất cần đến cái góc tối ấy. Tôi phải tìm ra nó, để hỏi một vài câu ngớ ngẩn: “Vì sao, nó có mặt trên thế gian này?”

Một địa điểm không thể tối hơn được nữa so với bầu trời đêm nay. Tôi cần nó xuất hiện và nhốt tôi vào đó. Tôi muốn chạy trốn những mắt lưới. Chúng có màu đỏ, chúng thường xuyên chơi trò vờn đuổi, rồi sau, chụp xuống đầu tôi một cách bất ngờ. Chiếc lưới khổng lồ. Tôi nhớ, mình luôn phải tìm cách chạy trốn chúng, cái mắt lưới biết cười, biết nhễu nhại nhếch mép hoặc thè lưỡi dài ngoẵng đỏ lòm huênh hoang. Thi thoảng, tôi tự trấn an rằng, sẽ chẳng bao giờ sợ chúng. Ấy thế, tôi vẫn cảm thấy thật khó lòng rời bỏ nỗi sợ hãi này, bởi những mắt lưới quỷ ám, chúng, hình như vẫn đang bị cầm nắm, điều khiển bởi một vài bàn tay lấp lửng, vô hình. Tôi thử nghĩ, hẳn là “những kẻ bí ẩn giấu mặt, vẫn thường xuyên tìm cách kết nối với tôi, bằng cách chơi trò đan bện những sợi tơ nhền nhện hòng thít chặt và ràng buộc không – thời gian của riêng tôi lại với nhau, khiến tôi nghẹn thở”. 

Tôi vẫn đang tìm kiếm những nơi có thể cho tôi được quyền trốn nấp. Vì, ít ra, vào lúc này tôi sẽ bớt được những cơn hãi hùng sợ sệt mơ hồ vô lí, khiến đôi chân tôi thi thoảng run lên bần bật. Thế giới bỗng trở nên khó hiểu và bất an hơn những gì tôi biết từ khi mới mở mắt chào đời. Thế giới như những mắt lưới chằng chịt. Xung quanh tôi, sự ích kỉ ngập tràn trong từng con mắt liếc dọc liếc ngang. Họ ngấm nguýt nhau. Họ nheo mắt nhìn nhau một cách cà khịa, ghét bỏ. Họ gầm gừ, đe dọa lẫn nhau mỗi ngày trôi qua đến phát chán trước mặt tôi. Những lần tôi hờ hững lạnh lùng, với nỗi buồn ngập sâu và dậy sóng một cách hồn nhiên trong lòng mình là khi mọi cảm giác đều lặng lẽ chuồi khỏi tâm hồn tôi và lần lượt tắt ngóm, chết dần chết mòn đến thê thảm. 

Chiều nay, tôi không cần cái không gian sang trọng đủ đầy trong căn phòng quét vôi trắng, và phản chiếu bởi ánh đèn màu mờ ảo mà tôi yêu thích nữa. Tôi quyết định hướng ánh mắt mình về phía sân phơi, nơi có chiếc bếp lửa đun củi từ thời tối tăm mù mịt khói. (đến bây giờ vẫn tối tăm mù mịt khói). Tôi nghĩ về góc phòng mẹ dùng làm kho bé nhỏ chỉ để vừa vài chiếc thùng carton ở cuối dãy nhà này. Hóa ra, trong những thứ lớn lao, bấy lâu nay tôi vẫn thường ngẫm ngợi, lại có sự tồn tại của những điều nhỏ bé rất cần thiết. Chúng an toàn hơn nhiều so với cái mắt lưới sắc nhọn đang cố tình vây bủa xung quanh tôi và thế giới này.

Nhưng, chính vì vậy, lại khiến tôi không thể nào thoát khỏi cái mắt lưới ấy. 

Phía sau ngọn núi. Đứng từ lan can này, tôi có thể nhìn thấy hết thành phố. Chiều xuống tự lâu lắm rồi, và đêm đã bắt đầu làm cái công việc thay thế. Nhưng, đêm nay, tất thảy đều ảo mờ trong đáy mắt tôi. Những âm u lên ngôi. Chúng xoạc cẳng, vung tất thảy các mắt lưới khổng lồ ra thâu tóm toàn bộ thung lũng, và thân phận của rất nhiều kẻ mù lòa hoặc cố tình mù lòa. Những mái nhà chỉ là nơi neo buộc tạm thời cho sự sống và cái chết. Có gì để người ta hào hứng khoa trương khoe khoang sự ốm yếu, nhợt nhạt hiển hiện trên khuôn mặt xám ngoét kia. Ngay lúc này, giữa hàng đống thanh âm bộn bề, hỗn tạp, tiếng kèn đám ma bên hông nhà tôi, sát sườn núi càng rõ rệt, thê lương. 

Thời gian trôi đi khá nhiều năm lắm rồi, vậy mà cái mắt lưới ấy vẫn bám riết, ám ảnh và trói buộc tôi không chịu buông rời. Thỉnh thoảng chúng chơi trò xoay chuyển không gian. Nhưng, thật ra cũng chỉ là những bức tường vôi áp vào nhau hòng lừa đảo mỗi người trong căn nhà này từng khoảnh khắc. Chúng len lỏi vào mắt tôi, vào tim tôi, trườn bò lên môi tôi như những giọt mặn từ biển khơi bắn tung tóe không ngơi nghỉ mỗi đêm khuya về khi lên cơn nghẹn sóng. Sóng cũng mắc nghẹn như nỗi đau mắc vào vai áo, dính nhèm nhẹp lên từng sợi vải chẳng thể nào tẩy xóa đi được. Kí ức của tôi, có khi chúng như những giấc mơ tôi đã từng thấy người ta thay nhau leo lên các nhành cây yếu ớt ngoài cơn bão chỉ để buộc chùm khăn tang trong đêm sâu thăm thẳm. 

Ai đó vừa nhắc tôi đi ngủ. 

Tôi cúi đầu. Im lặng. Hẳn là người nhắc tôi đi ngủ sẽ chán ngay thôi. 

Tôi chẳng thể chợp mắt nếu như, chúng: cái đêm sâu thăm thẳm này không chịu chết phứt đi, cái đám hình nhân ảo ảnh này không chịu biến mất đi, hoặc là giả vờ nấp lén đâu đó trong chốc lát thôi cũng được. Tôi sẽ không ngủ, nếu ngoài kia trời vẫn tối, mưa vẫn à ơi ru hời các linh hồn nằm dưới mộ cỏ. Tôi sẽ không ngủ, nếu sau thung lũng này vẫn nhập nhoạng tiếng bọn mèo hoang khóc la thảm thiết. 

Tiếng kèn đám ma bên hông nhà tôi vẫn khò khè kéo rê theo tiếng mưa rơi rả rích trên mái tôn, rớt xuống hiên. Tôi khoanh chân ngồi nghe, như nghe tiếng kinh cầu của núi rừng và của từng nóc nhà u ám dưới những bóng đèn đủ màu nhấp nháy phía thành phố. 

Ai đó lại tiếp tục nhắc tôi đi ngủ. 

Họ thì biết làm sao được về những cái mắt lưới này. Họ luôn luôn tìm cách bắc loa ở các cột điện và nhắc nhở mọi người đi ngủ. Tôi quyết định thức trắng đêm, để xem, những cái mắt lưới bướng bỉnh kia còn định giở trò gì hòng quấy nhiễu giễu cợt tôi như ý muốn của chúng. Người đàn ông ấy lại vừa nhắc tôi đi ngủ. Rõ ràng, người đã nhắc tôi đi ngủ luôn luôn là ông ấy, chẳng phải ai khác. Vậy mà, tôi lại nhìn thấy những cái bóng lúc ẩn lúc hiển hét toáng vào tai tôi át hẳn giọng trầm của người đàn ông quen thuộc. Chẳng có cái mắt lưới nào biết nói. Tiếng kèn đưa đám tiếp tục kéo rê lê thê giai điệu não nề. Tôi không thể nhắm mắt. Người chết thì phải nhắm mắt. Chết mà không nhắm mắt, hẳn đáng sợ lắm. 

Lại tiếng ba tôi lẩm bẩm một mình ngay lan can cầu thang tối: “bầu trời ban đêm như tấm lưới bủa vây”. Tôi giật mình, bên tai tôi lại vang vọng tiếng ai đó nhắc nhở tôi đi ngủ. Lúc này, tôi không thể nào chịu đựng được sự rền rỉ bám riết dai dẳng của cái thứ vô hình đằng sau bóng đêm ấy nữa. Tôi mong trời sáng. Có lẽ khi trời sáng, sẽ mang lại một chút ít cảm giác vượt thoát khỏi những bức bối lặng lẽ của đêm. 

Bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, tiếng kèn đám ma vẫn thổi ò í e dưới chân núi, ngay bên hông nhà tôi. Có thể, kẻ sống quá tiếc thương mà không chịu di dời kẻ chết rời khỏi thế giới này. Hoặc giả, kẻ sống muốn hoài niệm mãi mãi với những xác thịt đang dần dần thối rữa trong chiếc quan tài? Có lẽ, họ sẽ chẳng bao giờ chịu chôn cất cái chết. 

Thung lũng chìm sâu hơn khi những vì sao bắt đầu nhấp nháy như những mắt lưới khổng lồ. Tôi vẫn không thể nào chợp nổi mắt vào ban đêm. Vì vậy, tôi luôn mong mỏi bình minh lên. Căn nhà của tôi lọt thỏm chính giữa thung lũng, như một con mồi vừa lọt vào những mắt lưới của bầu trời ảo diệu. Khe sắt từ các khung cửa sổ len lỏi vài ngọn gió. Có khi, nó chính là dấu hiệu của một sự đổi thay. Tôi so vai lại, đầu nặng trĩu, máu chạy hai bên thái dương tưởng chừng ai đó cầm búa gõ từng nhịp. Buốt như một tiếng chuông. Bên ngoài cánh cổng sơn màu sẫm tối của buổi chiều mưa, tôi nhìn thấy những tia sét. Có thể, chúng sẽ xé toạc cái mắt lưới ấy, kể cả chân mây phía cuối con đường rẽ lối đến mái vòm của chiếc cổng ánh sáng. 

Tôi mơ màng nghe tiếng người đàn ông quen thuộc đang gọi từ phía cửa nhà bếp. Hóa ra, đêm qua, tôi đã lẻn vào góc phòng tối của mẹ và đánh một giấc dài chập chờn đầy mộng mị như kẻ mê hoang bị lạc trong mắt lưới của chính mình. Những chiếc loa phường chễm chệ ngay đầu phố nhà tôi, đến hẹn lại lên. Chúng thường xuyên chăm chỉ phát một bản thông báo ngắn mỗi sáng sớm, chỉ để nhắc nhở mọi người về việc đi ngủ. 

Nets

I started seeing them everywhere.

In places I’ve lived or where I may have spent a few hours.

This time, I had to make sure it was not a dream or passing hallucination. I definitely saw them. Clearly, vividly, it was no surprise. They were  as tangible as though they were in 3-D. I didn’t see them with my eyes. I saw them clearly in my head. I thought, I should practice viewing my surroundings through my mind instead of conventionally through my eyes. The brain is more attentive. But then suddenly, I could no longer see them. They have left me. They were missing from a mind full of dreams. Mercilessly they have abandoned me. The sickly pale bluish nets, the connection between the sky and a parallel universe. The nets just there behind the wide opened door to the heart of a sea that was apparent in my mind.

Then again, when they were around, I would grow increasingly sick of the sight of them in my head, they seemed out of place, around these bony fingers were these twisted nets, stretched across everything, holding onto the intangible faith of their existence.

I, decided, to abandon the nets to embark on finer dreams.

Which means, I had to actively conjure up such dreams. Since, in truth, I knew, there was another world, another plane of existence. Between them were these intimate familial connections, hard to separate.

I began to dream about them.

When all my senses were fully on in these trances, they appeared, round and plump, giggling and playful, ready for action.

Then sometimes, they would irritatingly disappear, my mind was then left in a jittery mess, like Japanese ferns trying to climb up a wall without any kind of discipline or order, undefined in form and colour.

I thought of completely abandoning all my dreams.

The dreams perished the way they appeared without notice. I can no longer see them. After a couple of times gently hitting a few walls. They, the walls erected in my way and they; me and the dreams; and also I and myself. The unsung superhero, hidden behind the dreams, the apparitions, the hallucinations of sounds and voices.

I wanted it to consistently appear in my sleep. Even if it’s in a crumbling dark corner of existence. It was difficult to work out, but someone was trying to tell me something, before I was able to blink: “you need a dark corner. you need to crawl into it and hide”. The reason I continued to give in to the voices every night was probably because I needed that very dark corner. I need to find it, to ask the most oblivious question ever: “Why,  why were there such things in this world?”

A place that couldn’t be darker compared to the sky tonight. I needed it to show up so it may confine me. I wanted to hide from the nets. They come in red, they would often chase me, to then capture me. A giant net. I had to remember, remember to hide from them, from the nets that had a mind of their own, they knew how to laugh, tease, stick out their gruesome long red tongues, and made fun of me. Now and again, I would try to put my foot down, stand my ground, I refuse to be threatened by them. Still, it felt as though at times it was impossible to escape the fear, the demonic nets, it felt  as though someone or something had a hold on them, invisible hands were manipulating them, they were like marionettes. I thought, clearly “they deliberately hid their identity, but wanted to connect with me, by weaving a web that would slowly confine and trap me, eating up my time, squeeze the life out of me”.

I’m still looking for a place to hide. Especially, since, at a time like this I needed to find a way to dampen the unexplained fear that sometimes causes my legs to shake uncontrollably. The world has suddenly become more difficult to understand and more unstable compared to what I’m used to since the day I came into this world. The world is now more like these nets. All around me the overwhelming selfishness in every pair of wary suspicious eyes. They climbed on top of each other. The lingering sardonic faces, the hate. In front of me, they growl, they bicker, they threaten each other, and I’m sick of it. Sometimes carelessly I would shrug off such laden sound-sadness in blows awaken my heart, naturally once all that I may feel were stripped away painstakingly slowly in the most pathetic pitiful way possible from my very core, to then perish completely.

This afternoon, I have no need for my stylish white washed walls, nor did I need the unearthly lights I used to adore.  I wanted my vision to focus on the yard where we hung our laundry, where resides an ancient wood stove blackened in layers of smoke and ash. (still blackened and charred with layers of smoke). It made me think about the tiny storage my mother housed everything in at the very back of the house. As it turned out, all the small things are the things which truly count. They are more of a sure thing than those sharp pointy nets constantly trying to entrapped me and my world.

But because it is what it is, it was impossible for me to escape it.

Back against the mountain. From the veranda where I’m standing, I could see the entire city. Dusk was long gone, and night had taken over. But tonight everything was surreal in my eyes. Sadness ruled. They stretched their legs, throwing nets all over the valley, and those oblivious to the world or rather deliberately oblivious. Home, a temporary place housing life and death. What’s there at all for people to show off or be boastful and excited about. The sad, pale and sickly condition was evident on their faces. Presently, the imposing noise and chaos piling on top of each other, the noisy sound of funeral pipes in the alley by our house, the vivid dreariness against the spine of the mountain.

Time has washed away so many years, the nets continued to hold on tightly, manipulating, confining me. Now and then they would change their tactic, change the conditions. Nothing, but whitewashed walls merging over each other periodically deceiving the tenants in them. They push their way into my field of vision, into my heart, slipping and crawling on my lips like the endlessly exploding droplets of salty sea water night after night without rest returned over the choking, crashing, overwhelming waves. Waves could be as choked up as pain is choked up latching onto the lapel on your shoulders, the sticky mess latching onto every fibre, with no way of ever being completely removed. My memories, sometimes, were like the dreams where people climbed on top of each other onto these flimsy trees bending with the wind in a storm only to wrap themselves in mourning shrouds, only to sink into the chasm of night.

Someone was telling me to go to sleep.

I lowered my head. Remained silent. Whoever it was will eventually get sick of it and stop.

I couldn’t breathe if, they: these pits of darkness refuse to completely die, these phantom entities refuse to disappear, or simply pull back into a corner somewhere even for a moment. I refuse to sleep if it’s still dark outside, and the rain persists in these lullabies in light of the soul within these tumulus. I will not sleep, as long as the echoes of desperate cat cries continue to persist in the valley. 

The sounds of the funeral pipes right by the side of our house dragging on and on with the rhythmic beating of rain on the tin roof, out on the veranda. I sat with my legs crossed, listened, it was like an incantation of prayers from the forest and every sombre home caved in by city lights.

Someone was telling me to go to sleep, again.

They don’t know about the nets. They were preoccupied with installing public speakers on every electrical pole to remind people to go to sleep. I decided to stay up the entire night, and see, what those stubborn nets had instored for me, how they intend to poke and prod me. Again the man reminded me to go to sleep. It was clear, the same man had been telling me to go to sleep, no one else but him. Yet, sometimes present and sometimes hidden were these shadows of a man screaming into my ears in a familiar deep voice. The nets didn’t know how to talk. The sound of the funeral pipes continues to drag out its agonising melodies. I can not close my eyes. Dead people must close their eyes. The dead with eyes open were clearly,  rather scary.

I could hear my father mumbling alone by the stairways in the dark: “the night sky is like an overwhelming net”.  I jumped, as someone screamed into my ears telling me to go to sleep. This time, I could no longer bear the agonising pull of something that was shapeless and intangible in the dark. I was eager for the morning light. Maybe dawn might bring with it an escape from the annoying silence in the night.

Four days, five days, six days, seven days, the wailing of the funeral pipes trailed along the foot of the mountain, right by our house. Perhaps, the living can’t let go of the dead. Or maybe, the living wants to forever hold onto the nostalgia of the slowly rotting corpse inside the coffin? Perhaps, they never want to bury death.

The valley seemed to retreat deeper into the earth as the stars began to appear as though they were the makings of a giant net. I still could not close my eyes at night. Thus, I would constantly find myself earnestly waiting for the sunrise. Our house was at the centre of the valley, like an animal bait that had slipped through a magical net of the night. Like the odd breeze escaping through the gaps in the metal frames of the window sill. Sometimes, it is the heralding of change. Pulling my shoulders back, my head was heavy, the blood pumping through my temples felt like the synchronised slamming of a hammer. The ache resounded in a single ring of a bell. Outside at the gate, a gate painted in the sombre hues of an afternoon storm, I saw the flashing strips of lighting. Perhaps, they will tear to shreds the nets, as well as the clumps of clouds at the end of the path that leads to a dome over the gate of light.

I was half dreaming when I heard the familiar voice of a man calling me from the kitchen. Last night, as it turned out, I was tucked away in a dark corner of my mother’s room and had fallen into a long sleep full of lucid dreams of people going crazy, they were trapped inside the nets of their own making. The council’s speakers at the end of our street were again making an announcement. They make these announcements without fail, usually a short message early in the morning, only to remind those who have just returned from work to go to sleep.

August 2021

Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The doorway in my ear

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

THE DOORWAY IN MY EAR

1.

“When will the case be ready for trial?”.

Mumbling, I wriggled my left ear. No one heard me. Since, there was no reply. I wriggled my left ear again. Sometimes it’s blocked, buzzing oddly. Sometimes it sounded as if someone was laughing. (H. Ha. Ha ha ha). Or it sounded as though some creature with a crisp dry voice was singing. Over and over again. Monotonous and annoying. 

The sun flashes over my face. Its shadow threw me up in the air and left me there hanging. Rather cruelly. For the last couple of months, it feels as though I’ve fallen into a suspended state between the reality in my right ear and the delusions in my left ear. I wanted to repeat the first question the moment I had returned from a city with a mist-covered bridge connecting at both ends, places of grievance. Each time I opened my mouth, there were these uncomfortable odd sounds in my left ear. 

With my stubborn nature, without fail, I could not/would not let go of anything until I’d found the answer to any of my questions, and the questions came, one after the other. “How could a name induce such fear in people?”, for instance.

Silence.

For the last few days, this strain of thought has plagued me. If only I knew how to stop the questions. Since no one could answer these questions for me. All around me, people were not happy, stupefied by their tiny world. They were unaware of the fact that they were prisoners in their small world. 

“Maybe there’s a doorway in my ear?”. I recited it again to myself. There was a buzzing static sound of a song playing on a giant screen, trying to force its way into my ear. The sound was choking. Sometimes it’s the kind of music I want to listen to so I could simply disappear. “The way up the lonely mountain”, I tapped on the keyboard slowly. I found myself mellowing, lost in the guy’s deep soothing voice on the screen. The doorway, in my ear, slowly and deliberately shuts. Shutting out all the noise of the world on the outside, all I could hear was a buzzing sound in my head. They were making fun of me, picking on me, messing up my strains of thoughts. “Not a ghost.” It’s the letter K. They like to laugh out loud ha ha ha. Grinning. Their faces were hidden, laughing. A gummy mouth that could devour a pathetic, sorry forest. The world will not dare utter a chilling keen word like the letter K, mostly silent. The sun will continue to shine, even when it’s alone, someone did say. 

I should persist with this monologue, a description of the existence of K. A name which begins with a character drawn first with one vertical stroke and two slanted lines running in opposite directions yet still manage to hold on to each other. Exactly like the tragic tale of Romeo and Juliet. That particular character in the alphabet haunts me. They’re present everywhere in dark corners, pits, and caverns. They’re in the air. They fall to the ground. They rise from the bottom of the deep dark ocean. They hang from atop the silvery waves giggling, laughing, and crying. They dangled from the bottom half of the crescent moon. They casually turn back time to then crawl into the eyes hidden beneath the thick eyebrows of a bearded woman, her body scattered with scars born nineteen 07. I’ve witnessed them persistently turning back time, going back further and further, to appear on the gaunt faces of men born a hundred years ago. 

I have no idea why, why anyone would be afraid of a name, an innocent character of the alphabet. I’ve chosen it for a game most people dare not start. (or perhaps, they don’t have the capacity to endure it, or they’re afraid, the way I was afraid and fearful of it). It is a gift. Even though I continued to question the existence of the creator, “who is this freak anyway?” Or the existence of a doorway in my left ear.  

Day after day, fleeting was the sun in my ears. Time quietly passed by. Time laughing at my delusions. But persistently, I played with the letter K. A character emulating a picture of humanity. I was overwhelmed by sadness. A sadness I could not evade. I tucked myself away in a world full of painful memories. Was it her? My first love. The mention of her on my lips felt like an illusion I had burned to ashes after that night. (I should never talk about that night again?). The truth is I could not recall a single memory of that night. My deteriorating memory had betrayed me, the way I had betrayed her with unjustifiable reasons. 

Today is no different from any other day. I’m at a cafe near the green and red light intersection opposite the mist-covered bridge for the mere purpose of kick-starting my brain, to wake me up from the drowsiness of dawn. Yet, I’m unable to escape the eyes of those who enjoy laughing at me. They are in my face, wondering whether the seeing part of my eyes lies merely on the surface or the back of my head? Or whether my eyes are whole with the usual cornea and iris? I have an odd talent, in view of such critical assessments, I’m able to look straight into their eyes and deceive them with anything other than what I could truly see, my irises are tucked away, and the only thing they are able to see is the cold fluffy cloudy white part of my eyes. I’ve seen a few stops in their tracks, nauseated by fear. People can be rather nauseating, man, yes you, sucking on the pipe, but your name is the letter S. And as it turned out, you alone have not such a character, the character which has haunted me even in my dreams.

2.

On days it’s so cold, and you’re chilled to the bone, I feel the need to stay at the cafe even longer than normal. People in general could never bear such plain stubbornness, and most would leave before me. My advantage is that, I have plenty of time on my hands. I’m not in a rush to leave any place. Neither do I have the desire to run back and forth around town. Working at a desk, and shuffling around paperwork would be even worse. It’s impossible to recount all the boring jobs in the world. I let people pay for my time. I would sit with them somewhere, anywhere. Since all they need is someone to listen to them. When their time is up, they will pay me. If they want me to continue to listen to them, the price would increase by the hour after the appointed slot. Sounds like nothing, but if I was to put it in simpler terms, my humble earnings parallel the earnings of a government official. And I don’t have to turn up at the office the way they have to eight hours a day. All I have to do is sit and listen, and be attentive to what they are talking about. In this world, people are always lonely.

More on the topic of being afraid of a name. Clearly, I’m talking about the guy with the name starting with that particular character. I don’t understand why anyone should be afraid of a name, like for instance “someone everyone knows”. Dare I say, I’ve never stood amongst the grey clouds or dark shadows. I prefer the warmth of the sun. I prefer the fragrant pristine fresh light of leaves and foliage. Hence, to me, a name with such an interesting character should emulate goodwill and positivity. And, I truly hope that, each time someone sits down next to me, they will find that their way ahead shall with ease spread out to no end, and of course, it shall be full of flowers and wildlife, bird songs, and fluttering butterflies. Lately, I must admit, my forgetfulness has been invaluable when it comes to my current job. I could be listening to what they had to say today, (or that I had the need to listen to something). Retaining a few facts beyond my existence isn’t so important. Hence, I welcome their troubles, to then allow their troubles to freely fall away through me as though it had never existed. Hence then, I’m able to continue working as a listener, taciturn, and harmless to everyone.

The doorway in my ear is a good thing. I’ve come to terms with the existence of this doorway, as the days passed by, the noise from it grew louder, and my left was no longer so sensitive to all the different sounds, in fact, it refused to listen to what my client had to say instead. Unarguably for the best. Otherwise, I’m a ticking bomb ready to explode at any given moment, a human trigger, a danger to all around me. Thoughtlessly, that day, the day I had an appointment with a stranger, he ripped off a page of the calendar on the wall, and it happened to be a Friday, at that very same moment, I felt a pair of eyes on me from the shadow the whole time. Like the eyes of an Asian barred owlet. “Those who like to watch me, people who have nothing else to do”, I thought. They could never do what I do, a unique job that requires a unique set of skills, hence their spiteful envy. Spiteful envy is the source of all kinds of sins.

Today was a depressing day. The city was cold beneath a blanket of familiar grey mist. And it was obvious how I’m boxed in by my surroundings. I arrived at the cafe as predicted. The undefined grey light across the horizon brought me little peace. I ordered a serving of coffee. In this world, coffee is an indispensable beverage. The owner didn’t care about greeting his customers, he put all his attention and energy into dispensing his coffees, before carefully placing on my table, one shot of espresso, one small glass of fresh milk, and a glass of water. His eyes always down, always on his serving tray, he mumbled, “where’s the guy who likes to rip pages off the calendar on the wall?”. (The cafe owner was not at all curious as to why his customer likes to rip pages off the calendar on the wall in his shop). There’s no need to get into the business of strangers. The guy who likes to rip off the calendar sits with me, but he has no intention of hiring me to listen to him.

He then asked about the doorway in my ear. I was suddenly taken aback, “weird, how could he possibly know about that doorway?”. I returned his question with a curious look. He looked past me then as though he wanted to ask, “so, have you shut this door yet?”. I remained silent. He continued, “I want to book you to listen to me today, but first you have to close that door”. Rather an inconvenience for me, since at the moment, all I want to do is flung all the doors wide open, including this intangible door (in one form or another) inside my ear. “Look boss, at the moment I can’t close that door, I need to know what’s happening in the world, otherwise I might just disappear, my world, my loneliness is distended and swollen like a ball flying high in the air, at the moment in mid-flight.”

The owner of the cafe said nothing, quietly he walked over to the wall with the calendar scattered with images of still life. He had definitely worked out why his customer likes to rip off the pages of the calendar on the wall. He had not turned up today. So the owner volunteered to do it instead. His eyes were brooding somewhat. I made up my mind for the moment to definitely not listen to whatever he had to say. 

3. 

I had an appointment. A rather rushed appointment. A returning client. A lanky sensitive guy. Tall and thin, deep set eyes, framed by dark shadows, (probably from many sleepless nights). Habitually, I would assess people the first time I meet anyone. I like to capture the basic features of their face, general charisma. The first feature I’ve always gravitated towards was their ears. Perhaps because I’m a fairly curious person. The truth is, I am curious like people who are curious about things that may involve them. But, I’m mostly curious about people’s ears. Because the doorway is my priority. I tend to wonder if it has a doorway there like mine or not?

I had an appointment with a poet. He was finally ready to tell his story. He arrived in a commotion. Before he sat down next to me, his first order of activity was to walk over to the wall, through the scattered tables and chairs and whatever patron sitting in the cafe, and with purpose, rip off a page of the calendar on the wall. On it was a new painting of still life. I quickly took a snapshot of the emotions on his face, deep hollowed eyes. His hair was like the clouds outside. A generalised picture of a poet perhaps, with a head full of thick unkempt wavy hair. He was oblivious to my assessment of him, and that I was ready and waiting for his stories. (With the one condition, I must have a doorway in my ear). Oddly, we all want someone to listen, but demand it has to be in confidence. What pertains to the secrecy of a poet’s word? Beyond a sky full of poetry. What I do know for sure is that, the poet is someone who loves poetry, he enjoys the fun side of poetry. Then what was there left to hide in poetry? Yet, here we are, he has an appointment with me, paid with the meagre royalty fee of a poem, so I could listen to him talk. He spoke of his vegetable garden with creeping vines of butterfly pea with blooming purple flowers (though the vegetable garden was destroyed by a recent storm). He spoke about the roses he had recently planted in the garden at the front of his house, the roses thriving, blooming in the periodic visits by the sun. Yes, that was pretty much the gist of it and he had paid me to listen to it. What he had told me that day was like poetry, hence, I didn’t want to shut the doorway in my ear. Enthusiastically I soaked up every fresh detail, every ounce of his lust for life. The poet with the deep set eyes, who likes to rip off pages of the wall calendar each day at the cafe about the same age as the owner of the cafe, was called Ocean.

4.

I rarely meet up with a client more than once. Each person has but one story. The newspaperman was a tad more favourable to me, he was by nature more subdued. Not because I enjoy listening to how he describes the streets where he likes to jog. But, more than how he would ease into his session in a warm steady voice, I was able to vividly discern how my world has slowly opened up. It was as though I was allowed to leave the tight and cramped space inside my mother’s sac, I was free to venture out on a brand new adventure. I could imagine a place where I would have no need for a doorway in my ear, where I have to securely lock up. Or for instance, how I was suddenly an innocent child again. A child without a single stain on his white shirt. A happy child in the middle of a meadow, amongst the colours of spring, amongst flowers and fresh green leaves. Plus, there was another reason why I liked his steady warm voice. I had mentioned this to someone once, I had this recurring dream of the only man in the household reading a fairy tale to me before kissing me on the forehead and wishing me sweet dreams, before I fell asleep. This was why I liked him so much, why I had allowed him to see me more than the others, not just once, so he could tell me about his runs up the lonely mountain.

If only I had just listened and not looked up, if only I had not looked into his eyes. On his face were these misplaced haunting eyes. A pair of eyes that were different from the eyes of the poet, this pair of eyes were brilliant, bright like sunlight. When he opens his mouth. The door in my ear would be flung open, ready to welcome the breeze, the gale. “Where is this lonely mountain?”. I thought, curious. And of course, he was unaware of how much I wanted to know about the way up “the lonely mountain”. My imagination and dreams of fairy tale places have always been my salvation in any given moment, time and space. That is, the time I’ve reserved for his appointments was never monetary. My soul has its own universe, ready to be discovered. But, I like to return to what was at hand, with living, with my main purpose. My job was to “listen”.

A couple of times I’ve met up with other people, for instance, a young man who was a translator. I spoke mainly about buying clothing and shoes. Oddly enough. I had to immediately shut the door in my left ear. Honestly though, as soon as there was a hint of his voice, the doorway was in no time tightly shut, before I was aware of it being shut. 

I had another client, he was a teacher. Another mixed up person, he’s married, but they seem to be rather separated? He likes to talk about things his wife couldn’t be bothered about. And of course, I was apt for the job as his listener, his stories will be safe with me. I had assumed, before our appointment, a teacher might cheer me up with talks of school antics. But instead, my left ear, during my appointment with the teacher was strangely enough, completely unblocked. The familiar doorway had disappeared completely. So, I was fairly sure I will get to hear about his schemes on how to make extra cash after hours. The reveries of my school days disappeared in a puff of smoke, and I was left with nothing but an overwhelming feeling of disappointment.

5.

K. That guy, the writer, sat there scanning each letter, taking apart each and every ideal, philosophical thought, and or refined skill expertly, but never had enough money to make rent. He booked me today, with his meagre royalty fee. One hour. But he has been talking for more than an hour. The money he has left will not be enough to pay for the next hour. Yet enthusiastically, he continued to share his ideas for the next piece, something like a poisonous wind or a case that will not go to trial or will never get a day in court. If only he knew, I had a doorway in my ear, will it be different? I waved my hand, “your time is up, if you want me to listen, you have to pay”. Upset, he shuts up, and pulls out a crumbled silver note from his pants pocket, places it on the table before pushing it towards me, mumbling, “I want to talk about love, about kindness”. My lips moved, took the money, stood up and left the cafe.

Just like that, like tonight, after a week of living in someone else’s world, I’m the guy who is now trying to find the doorway in my ear, (a door I’ve never seen). I wanted to open it up, remove it, completely and finally. I took the bag full of the cash I had earned from trying to listen to people last week. I went looking for him, K, the writer, the guy who talked more than he should. Then, I threw the bag of money at him before saying: “I want you mate, to sit down, keep your mouth shut, and listen to me. There’s enough money here for a few months’ rent.”

“Well, do you want it or not, are you a listener or not?”.

The writer patted the bag of cash eagerly, not meeting my gaze. I opened my mouth and told him my story. What was it? How did it start? I’ll tell him about the middle aged man, who lived next door. What I saw. What had haunted my childhood. On one bright moonlit night. Yes, it was definitely a brilliant moonlit night. The middle aged man had ordered a pitiful woman and all the children in what one might call a home full of dreams to lay down in a muddy trench outside one rainy windy night, to satisfy his sudden blood thirst. I wanted to tell K how much I had wanted a gun in my hands at that moment. (Dare I place a wager with K, if I was the oldest kid there, I would have also wanted a gun in my hand).

“I was a bit over ten then, and the oldest kid was around my age.” By this point, I shut up completely. Telling your story is never easy, harder for a stranger like K. I realised, but I had already paid him, so I continued. K, today mate, you will be the listener. You don’t have a door in your ear. You have to learn to be a good listener. I will be your first client. You must remember this very day and I mean this job. You’ll never know, you might be able to make a living out of it. And you’ll never know, you might never have to depend on your writing for money again. You can stop writing. “That guy, the poet”, I paused, visualising the vague form of a guy pushing a barrow full of dirt. I continued, the poet, he’s not just talking about turning over the soil to plant flowers. He told me about his life, and the lives of those who enjoy writing poetry like him. But look, you don’t have to put up with the details, there’s no point. All you need to know is that he had once dreamed of becoming a calendar on a wall, instead of having to rip off a page of the calendar on the cafe wall which belonged to the guy named Ocean. He counts time, or was he counting the lines edged on his sad tragic face? If only he had never bothered with poetry. If only his parents had banned him from a young age from reading poetry the way my mate had told his daughter without much thought not to read poetry in front of him. Then again mate, his father was also a poet. What is poetry anyway? Is poetry like a forest full of scented flowers and sweet fruit, bird songs and fluttering butterflies or just an aching forever hidden in your deep sound eyes.

There’s more, want me to tell you about the newspaper guy? Ahumn, nothing much, nothing that’s worth mentioning. I reckon, there was a time I was obsessed with the paths full of flowers and ripe fruit, the paths he used to run up the lonely mountain. Correct, I have been taken by an imaginary world. Now if it weren’t for these dreams, how was anyone able to survive this world? Every time, my appointment with the newspaper guy, would always leave a knot in my stomach. I would worry about the existence of the doorway in my left ear. I’m filled with delusions of the paths the newspaper guy listlessly uses day in and day out every afternoon.

When I’m busy, I have tried to lock up the doorway in my ear. But his voice always manages to infiltrate the locked door, and I’m forced to fully discern the dreamy aspect of all these lovely running paths. More than once, I thought of punching him in the face, so he can shut up. But I couldn’t do it. Violence is the resolution of extreme anger. Hence, I had to let it go. I thought about the gun the year I was a bit over ten, now it felt more like something I had made up, a trauma that would unexpectedly surface. Moonlit nights were commonly reserved for wolves in the highlands. Sometimes, all I want to do is take his money and then completely seal up the doorway in my left ear, so I can stop dreaming about his lonely mountain. And to tell you the truth, I know he has lots of money. I can’t work out how he’s so comfortable. While all he talked about were the runs up a foggy mountain, a lonely mountain.

“What about that translator with the thick glasses and a head full of hair?”. K cut in suddenly, right in the middle of my tirade. 

“Ah, so you’re that guy, puffing away like a chimney in the corner, watching all my appointments?” I snapped. 

K didn’t reply. And it was possible I had forgotten his icy cool face in the dark corner. A kind of face you only have to see once and be traumatised by it, exactly like the face of the drunk man I had hidden from in a dark corner of the house, corner of a room, corner of a wall. I had to fight to overcome such fear, so I could escape my own darkness. Even though years after such thoughts were stripped away, the desire of wanting a gun. But as I grew up, I learned that violence only gives birth to violence.

K quickly cut in, in the middle of trying to listen to me, “then why are you here, why are you telling me why you had wanted a gun?”. I didn’t know how to answer that. I was silent before I changed the topic, “The translator, let me see if I can remember rightly, honestly, all he spoke about was buying stuff every day. I’ll never be able to understand why such a respectable translator would have nothing else to talk about but buying shoes and clothes. Don’t you find that weird? I’ve never heard him mention anything to do with translating. I’ve never heard him boast about any particular draft he was working on like other translators.

“Look, forget it, I don’t care about how the translator spends his money. I’m more curious about the teacher, he seems pretty well off”. K, the writer interjected. No, the teacher was not well off, not as far as I remembered it. He’s alright, nothing about him strikes me as impressive. A simple person. It’s true. Why are you so interested in him anyway? All I can remember is how much he was obsessed with how to make more money. Then again, he didn’t skim on paying for an hour of my time, all I did was sit there with him, sipping coffee, then we would go our separate ways after that. And of course, he would insist on paying for my coffee. I was never curious about how much he made. How much would a teacher make? I thought.

“Then, what is it you want to tell me, for the money you gave me?” K snapped. What’s the matter with this K guy, I deliberately told him about the doorway in my left ear, I had deliberately told him about how much I had wanted a gun? Is he dim witted or just pretending to be stupid? His looming Asian barred owlet eyes in the shadow, I’ve seen before, as bright and brilliant as flood lights. They angered me suddenly. It had been more than an hour. I didn’t want to share anything else with him. I couldn’t figure out how a writer could be so ignorant. If you were a bit quicker witted, you’ll be able to pick up so many new ideas for your next story, you might be able to earn more royalty for pieces published in the Sunday paper. Before you can be a writer, you must learn to be a good listener.

Then I remembered what had slipped my mind. The poet sent me a photo of a painting he had just finished, (before he was a poet, he was an artist), the painting was of a man sitting in front of an easel, his left hand holding a revolver with the barrel pointing at his temple right by his left ear. On the floor was a door. I lifted my left arm and touched my left ear without much thought. I’m not sure if the doorway in my ear was still there? K, the writer stared at my left ear. He walked over to his work desk in the corner, he pulled open a drawer. What was he looking for? I was curious, but instead I got to my feet and left via the front door. A loud noise exploded in the tiny room. It was the last sound I heard clearly in both of my ears.

“I wanted to tell her, my first love, about the door in my left ear. I need to tell her the reason I had left and why I had betrayed her. And of course, I still wanted to tell her about the paths up the lonely mountain, how they were full of the colours of a fairy tale”.

The young man in front of the room the writer K was renting felt nothing as he closed his eyes. A bright red door fell out of his left ear. There was little more the investigators were able to learn about the cafe owner named Ocean. The listener’s case finally had a hearing.

 

Truyện ngắn

CÁNH CỬA TRONG LỖ TAI

1. 

“Vụ án bao giờ mới được xét xử?”. 

Tôi lắc tai bên trái, lẩm bẩm. Chẳng có ai nghe tôi nói. Bởi thế, không ai trả lời. Tôi lại tiếp tục lắc tai bên trái. Thỉnh thoảng nó ù đặc tắc nghẽn, và lao xao một thứ âm ngữ kì quái. Có khi là tiếng cười. (K. Ka. Ka ka ka). Có khi chỉ là tiếng con gì trong đêm tối hát ca ráo hoảnh. Lặp đi lặp lại. Buồn chán. 

Trời sượt qua mặt tôi. Bóng của mặt trời ném tôi lên không trung rồi buông tay hờ hững. Rõ là ác. Mấy tháng nay, tôi hệt như đang bị rơi vào một trạng thái lơ lửng giữa thế giới thực bên lỗ tai phải và một thế giới ảo bên lỗ tai trái. Tôi rất muốn lặp lại câu hỏi đầu tiên từ khi tôi trở về thành phố có chiếc cầu mù sương cô đơn nối hai bờ than thở. Mỗi lần tôi định mở miệng, lỗ tai trái của tôi bắt đầu khiến tôi khó chịu bởi những âm thanh lạ ấy. 

Đương nhiên, với cá tính ngang bướng và cố chấp, tôi không thể/ không muốn buông bỏ việc tìm kiếm câu trả lời cho mình, hết câu này đến câu khác. “Có điều gì khiến thế giới sợ một cái tên?”, chẳng hạn thế.

Im lặng.

Đã mấy ngày, tôi bị cái ý nghĩ này làm phiền lòng. Giá mà tôi biết cách ngừng đặt những câu hỏi. Bởi vì chẳng ai trả lời được cho tôi. Nhìn quanh, tôi thấy có vài khuôn mặt người nhăn nhó, chăm chú vào khoảng không gian bé nhỏ. Chẳng ai nhận ra mình đang bị giam cầm một cách vô hình.

“Có một cánh cửa bên trong lỗ tai tôi thì phải?”. Tôi lại nói. Một mình. Bản nhạc rì rào phát ra từ cái màn hình lớn đang cố nhét vào tai tôi. Chúng làm tôi phát nghẹn. Thỉnh thoảng tôi mong muốn những bản nhạc như thế nên biến mất. “Đường lên đỉnh núi cô đơn”, tôi gõ bàn phím một cách chậm chạp. Giọng trầm của gã đàn ông trong bản nhạc khiến tôi trở nên bị động và lạc lối. Cánh cửa đó, trong lỗ tai tôi đang cố tình đóng lại từ từ. Tôi chẳng nghe thấy bất cứ âm thanh nào khác ở thế giới này, ngoài những tiếng vo ve trong não. Chúng gây phiền nhiễu cho tôi, chúng khiến tôi bị xáo trộn tư duy, mạch suy nghĩ. “Không phải là một con ma.” Chữ K đấy. Chúng thích cười ha ha ha. Nhăn răng mà cười. Cười giấu mặt. Hàm răng ấy bạnh ra hệt như muốn ăn hết cả một cánh rừng bị lỗi. Thế giới vẫn không dám nhắc đến chữ K sắc lạnh và khá lặng lẽ. Mặt trời sẽ luôn luôn tỏa sáng kể cả khi chỉ có một mình, hình như ai đó nói vậy.

Tôi nên tiếp tục chơi trò độc thoại, mô tả sự tồn tại của K. Một cái tên bắt đầu bằng ký tự bởi một gạch dọc hai gạch chéo ngược nhau mà vẫn bám dính lấy nhau. Hệt như tình yêu vĩnh cửu và chết chóc của chàng Romeo và nàng Juliet. Tôi nghĩ khá nhiều đến cái ký tự ấy. Chúng có mặt ở khắp mọi nơi tận cùng hang hốc. Chúng ở trên trời. Chúng rơi xuống mặt đất. Chúng nhoài ra đại dương sâu thẳm. Chúng bám trên những con sóng bạc khóc cười. Chúng lơ lửng trên vầng trăng nửa vành. Chúng bình thản ngược dòng thời gian chui vào đôi mắt nấp dưới hai hàng lông mày rậm kỳ quái của người đàn bà có râu, thân mang đầy thương tích sinh năm một chín không bảy. Thậm chí tôi còn thấy chúng tiếp tục ngược dòng thêm lần nữa, xa hơn xa hơn, để nằm lại trên khuôn mặt gầy gò của người đàn ông cách tuổi của tôi phải chừng một trăm năm. 

Tôi chẳng hiểu tại sao, người ta lại sợ một cái tên, một ký tự vô hại. Tôi chọn nó để bắt đầu cuộc chơi mà đa phần kẻ khác không bao giờ dám bứt phá để bước chân vào. (hoặc giả, họ không đủ khả năng, hoặc là họ sợ hãi, như tôi đã từng sợ hãi và căm ghét). Công việc này hệt như một món quà. Dù rằng tôi vẫn thường tự vấn về việc tồn tại của thượng đế, “hắn là cái lão quái gàn dở nào thế?” Hoặc sự tồn tại của một cánh cửa bên trong lỗ tai trái của tôi. 

Mặt trời vẫn sượt qua tai tôi hàng ngày. Thời gian dịch chuyển một cách thầm lặng. Thời gian cười cợt chế giễu sự huyễn hoặc của tôi. Nhưng tôi thì vẫn chật vật chơi đùa với chữ K. Một ký tự khắc họa đủ đầy chân dung nhân loại. Tôi cảm thấy buồn. Tôi lẩn tránh. Tôi giấu mình trong một thế giới tràn đầy những hồi ức đau thương. Có phải là nàng không? Người tình đầu tiên của tôi. Tôi nhắc nhở đến nàng như một ảo ảnh mà tôi đã châm lửa đốt sạch sau cái đêm hôm ấy. (tôi không nên nhắc đến cái đêm hôm ấy nữa nhỉ?). Thật lòng tôi chẳng thể lưu giữ nổi một chút hình ảnh nào của cái đêm hôm ấy nữa. Trí nhớ suy tàn đã phản bội tôi, như tôi đã từng phản bội nàng vì một lý do lãng xẹt. 

Hôm nay cũng như mọi ngày khác, tôi đến quán cà phê gần ngã tư đèn xanh đèn đỏ đối diện với cây cầu sương mù, chỉ vì một lý do duy nhất là tôi cần một thứ kích thích cho não tôi làm việc và bớt cơn buồn ngủ buổi sáng. Ấy thế mà, tôi vẫn không thể nào thoát nổi ánh mắt săm soi của những con người thích cười. Họ soi vào ánh mắt tôi, họ muốn biết trong mắt tôi lòng đen nằm ở phía bên nào chăng? Hay là, mắt tôi có đủ lòng đen lòng trắng không? Tôi có biệt tài khá lạ, bất cứ khi nào tôi thấy ghét ánh mắt soi mói của một vài kẻ khác, tôi sẽ nhìn trực diện vào mắt họ và bắt đầu thực hiện kỹ xảo giấu biệt lòng đen trong mắt mình, chỉ còn lòng trắng bồng bềnh như mây lạnh. Vài lần tôi thấy thần thái của họ tan biến đột ngột, thay vào đó là một vẻ mặt sợ hãi đến độ phát buồn nôn. Con người thường xuyên đáng buồn nôn như vậy đấy anh chàng ngậm tẩu, mà tên anh là một chữ S. Và hình như cũng chỉ có anh không mang thứ ký tự đó, ký tự ám ảnh tôi trong cả những giấc mơ.

2. 

Vào những ngày mùa đông lạnh buốt thịt da xương tuỷ, tôi lại càng muốn ngồi lâu hơn ở quán cà phê. Một vài kẻ không chịu nổi kiểu trơ lỳ như tôi nên rời đi trước. Tôi thì khá rảnh rỗi. Tôi chẳng cần phải gấp gáp di dời khỏi nơi này. Tôi cũng chẳng muốn chạy qua chạy lại trên phố. Làm việc ở những văn phòng bàn giấy tôi càng cảm thấy buồn chán hơn. Câu chuyện buồn chán của thế giới hẳn là không thể nào đếm xuể. Tôi cho người ta thuê thời gian của tôi. Tôi chỉ ngồi cùng họ ở đâu đó. Vì họ cần ai đó để lắng nghe. Tôi chỉ việc im lặng. Tôi không đưa ra lời khuyên, tôi không được phép lên giọng phán xét. Bộ phận hoạt động nhiều nhất trên cơ thể tôi lúc này là đôi tai, ánh mắt, và thỉnh thoảng gật đầu ra vẻ đồng tình với câu chuyện của họ. Hết thời gian, họ sẽ trả tiền cho tôi. Nếu muốn tôi nghe tiếp, họ phải tăng số tiền lên theo giờ. Ấy thế, nói khiêm tốn một chút chứ số tiền tôi kiếm được có khi bằng mức lương của một công chức nhà nước. Tôi chẳng cần phải đến công sở như họ, mỗi ngày tám tiếng. Tôi chỉ cần ngồi xuống và im lặng, lắng nghe họ nói. Loài người trong thế giới này thật là cô đơn. 

Quay lại việc người ta sợ một cái tên. Hẳn là tôi đang nói đến một ai đó có tên bắt đầu bởi ký tự ấy. Chẳng hiểu sao lại phải sợ một cái tên, hệt như “kẻ mà ai cũng biết đó là ai” vậy. Tôi dám khẳng định rằng, tôi chưa bao giờ đứng về phía những đám mây màu xám đen hoặc bóng tối. Tôi thích mặt trời ấm áp. Tôi thích thứ ánh sáng tinh khiết thơm tho của cây lá xanh non. Bởi thế, tôi nghĩ, cái tên có ký tự đặc biệt ấy sẽ mang lại sự nhiều điều tốt lành. Và, tôi thực sự mong muốn rằng, mỗi lần một ai đó ngồi xuống bên cạnh tôi, họ sẽ thấy con đường càng đi càng rộng mở thênh thang, dĩ nhiên có nhiều hoa thơm cỏ ngọt chim ca bướm lượn rập rờn. Lúc này, tôi chợt nhận ra, chính trí nhớ suy tàn của tôi đã giúp tôi làm được cái công việc này. Tôi có thể nghe họ nói hôm nay, (hoặc là tôi chẳng cần nghe bất cứ điều gì). Chuyện lưu giữ thêm một vài dữ liệu bên ngoài cuộc sống của tôi, có khi không thật cần thiết lắm. Bởi thế, những câu chuyện của họ cứ thản nhiên đến, rời đi khỏi tôi như chưa bao giờ tồn tại vậy. Vì lẽ ấy, nên tôi mới tiếp tục làm được công việc của một kẻ lắng nghe, kiệm lời, và vô hại đối với mọi người.  

Kể ra trong tai tôi có thêm một cánh cửa cũng tốt. Tôi nhận thấy sự tồn tại của cánh cửa đó, khi càng ngày những âm thanh vo ve xuất hiện càng nhiều, và lỗ tai trái của tôi không còn nhạy bén với các loại âm thanh, thậm chí nó từ chối cả việc lắng nghe những câu chuyện của các vị khách. Tôi nghĩ như vậy là tốt nhất. Nếu không, một khi tôi biến thành quả bom mà kíp nổ là những ẩn ức của con người, hẳn sẽ rất nguy hiểm cho thế giới này. Bất giác, hôm đó, cái hôm mà tôi có hẹn với một vị khách lạ, anh ta xé tấm lịch tường ngày thứ sáu, thì đồng thời, tôi lại nhìn thấy một ánh mắt khác trong bóng tối. Hệt như cú vọ. “Những kẻ thích chơi trò quan sát tôi, thật ra cũng chỉ là bọn dở hơi”, tôi nghĩ vậy. Chúng không làm được cái công việc đặc biệt như tôi nên khả năng là chúng đố kỵ ghét bỏ. Sự đố kỵ của con người là căn nguyên đầu tiên của mọi tội lỗi. 

Hôm nay là một ngày u ám. Thành phố này lạnh lẽo nấp dưới làn sương mù xám quen thuộc. Tâm trạng tôi cũng bị cái khung cảnh ấy đóng nẹp, chi phối rất rõ rệt. Tôi đến quán như thường nhật. Ánh sáng từ phía bầu trời nhàn nhạt màu xám lạnh khiến tinh thần tôi không thể nào ổn định. Tôi gọi cà phê, một loại thức uống không thể thiếu được của thế giới. Gã chủ quán không buồn ngước mặt lên chào khách, gã chăm chú với việc pha chế, sau đó cẩn trọng đặt xuống bàn tôi, một espresso, một tách sữa tươi nhỏ, một cốc nước. Gã vẫn cúi gằm, miệng lẩm bẩm hỏi, “người đàn ông thích xé lịch tường đâu rồi?”. (Gã không thắc mắc tại sao, vị khách đó lại thích bộ lịch tường mà gã treo ở quán). Chẳng việc gì phải tò mò về sở thích của người lạ mặt. Người đàn ông thích xé tấm lịch tường vài lần ngồi cùng tôi, nhưng anh ta chưa có ý định thuê tôi lắng nghe câu chuyện của mình.

Sau đó, gã hỏi tiếp về một cánh cửa trong lỗ tai. Tôi giật mình, “quái lạ, sao gã biết tôi có cánh cửa ấy nhỉ?”. Tôi nhìn gã dò xét. Gã lúc bấy giờ mới liếc mắt qua vai tôi như muốn hỏi, “thế mày đóng cánh cửa trong lỗ tai chưa?”. Tôi im lặng. Gã tiếp tục, “tao muốn thuê mày làm người lắng nghe hôm nay, nhưng mày phải đóng cánh cửa ấy lại”. Thật khó chịu cho tôi, vì lúc này, đúng lúc này tôi lại muốn mở toang mọi cánh cửa, kể cả nó, cánh cửa vô hình (hoặc có hình dạng nào đó) đi chăng nữa trong lỗ tai mình. “Ông chủ quán, tôi không thể đóng cánh cửa ấy bây giờ, tôi cần phải lắng nghe thế giới, nếu không tôi sẽ chết mất. Thế giới của tôi, nỗi cô đơn của tôi đang căng lên như một quả bóng bay vậy.”

Gã chủ quán làm thinh, lặng lẽ đến gần bộ lịch tường có in những bức tranh tĩnh vật. Gã hẳn là đã đoán ra lý do vị khách lạ lần trước vẫn thích xé những tấm lịch tường. Hôm nay anh ta không đến. Gã làm thay công việc ấy, một cách tự nguyện. Ánh mắt gã trầm tư. Tôi thì vẫn dứt khoát từ chối lắng nghe câu chuyện của gã lúc này. 

3. 

Tôi có hẹn. Một cuộc hẹn khá vội vã. Vị khách hàng đã từng ngồi cùng tôi. Anh ta trông thật là mảnh khảnh. Cái dáng cao lênh khênh, đôi con mắt sâu hoắm, (chắc nhiều đêm mất ngủ). Thói quen của tôi mỗi khi tiếp xúc với ai đó, việc đầu tiên là quan sát. Tôi muốn nắm bắt được những đường nét cơ bản trên khuôn mặt họ, thần thái. Điểm tôi thích lướt qua trước bao giờ cũng là cái lỗ tai. Có lẽ, tôi tò mò. Thật tình tôi cũng là kẻ khá tò mò như những kẻ tò mò khác khi săm soi thế giới xung quanh. Tôi thì chỉ săm soi cái lỗ tai thôi. Bởi, thứ tôi quan tâm là một cánh cửa. Liệu họ có một cánh cửa bên trong tai giống như tôi hay không? 

Tôi hẹn với anh thi sĩ. Cuối cùng anh ấy cũng đã quyết định kể câu chuyện của mình. Anh đến, ồn ào ngồi xuống ghế. Việc đầu tiên của anh, là tiến đến bộ lịch tường, xé một tờ. Trên đó là một bức tranh mới. Tôi quan sát nhanh khuôn mặt anh, đôi mắt sâu hoắm của anh. Mái tóc anh hệt như mây. Chắc hình dáng mái tóc của các của thi sĩ đều thế. Hẳn là anh không biết tôi đang săm soi anh, và chờ đợi để nghe anh kể chuyện. (Với điều kiện, tôi là người có một cánh cửa trong lỗ tai). Thật kỳ lạ, tôi thấy ai cũng muốn kẻ khác lắng nghe, nhưng lại đòi hỏi việc giữ kín những câu chuyện bí mật đó. Anh thi sĩ có gì phải giữ kín nhỉ? Ngoài một bầu trời đầy thơ. Theo tôi biết, anh thi sĩ kia cũng chỉ là kẻ yêu thơ, biết chơi đùa với thơ. Thế thì có gì bí ẩn ở bên trong câu chuyện của thơ nữa? Ấy vậy mà có, đấy, như hôm nay, anh ta hẹn tôi, thuê tôi một giờ bằng số tiền nhuận bút thơ ít ỏi để được kể chuyện. Anh ta kể về vườn rau có cây hoa đậu biếc nở bông tim tím (mà vườn rau đó hình như vừa bị vùi tan nát sau những cơn bão). Anh ta kể về một vườn hoa hồng vừa vun trồng ở khoảnh đất trước nhà, hoa nở bừng nhiều sắc màu khi mặt trời ghé qua. Đấy, chỉ có chừng đó thôi mà anh ta cũng phải bỏ tiền ra để thuê tôi, để bắt tôi lắng nghe. Những thứ anh ta kể như một bài thơ đẹp, nên tôi, hôm ấy không muốn đóng cánh cửa trong lỗ tai mình lại. Tôi tranh thủ đón bắt mọi cảm giác tươi tắn yêu đời từ câu chuyện của anh ta. Nhà thơ có đôi mắt sâu hoắm và thích xé những tờ lịch tường mỗi ngày ở quán cà phê của gã đàn ông trung tuổi có tên Ocean. 

4.

Tôi ít khi gặp ai lần thứ hai. Mỗi người có thể kể cho tôi một câu chuyện. Anh nhà báo thì lặng lẽ hơn, và tôi ưu ái anh ta hơn một chút. Chẳng phải vì tôi thích nghe anh ta kể về những con đường chạy bộ. Nhưng, khi anh ta bắt đầu bằng chất giọng trầm ấm thì tôi biết thế giới của tôi đang mở rộng. Tôi được phép bước chân ra khỏi cái vỏ bọc co quắp như hình dạng chiếc bào thai của mình và bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới mẻ. Tôi có thể tưởng tượng ở nơi chốn ấy tôi không cần phải lắp một cánh cửa bên trong tai, sau đó khóa kín lại. Hoặc là tôi hoá thành một đứa trẻ hồn nhiên chẳng hạn. Một đứa trẻ không hề bị dính một vết bẩn nào trên chiếc áo sơ mi trắng. Một đứa trẻ luôn tươi cười rạng rỡ giữa những cánh đồng, giữa những sắc màu của mùa xuân đầy hoa lá xanh non. Và, tôi thích nghe giọng trầm ấm của anh ta vì một lý do khác nữa. Có lần tôi nói với ai đó rằng, tôi từng mơ ước trước giờ đi ngủ, tôi được nghe người đàn ông lớn duy nhất trong nhà tôi kể một câu chuyện cổ tích và đặt một nụ hôn lên trán tôi cùng lời chúc ngủ ngon. Bởi lý do ấy, mà tôi ưu ái anh ta, cho phép anh ta gặp tôi nhiều hơn, không chỉ một lần, để anh ta được kể về những con đường chạy bộ lên đỉnh núi cô đơn của mình. 

Giá như tôi chỉ lắng nghe và đừng ngước lên nhìn vào mắt anh ta. Trên khuôn mặt đó, lại có thêm một đôi mắt thẳm sâu khác ám ảnh lấy tôi. Nhưng, đôi mắt của anh có điểm khác với thi sĩ, đôi mắt anh sáng lấp lánh, mạnh mẽ như ánh mặt trời. Khi anh ta bắt đầu mở miệng. Cánh cửa trong lỗ tai trái của tôi lại muốn mở toang chờ đợi những cơn gió. “Đỉnh núi cô đơn ấy ở đâu?”. Tôi thắc mắc. Dĩ nhiên anh ta không biết rằng tôi đang muốn biết đường lên “đỉnh núi cô đơn” đó đến dường nào. Trí tưởng tượng và những giấc mơ về một thế giới cổ tích trẻ thơ luôn cứu rỗi lấy tôi mọi nơi mọi lúc. Thế đấy, việc tôi dành cho anh ta những cuộc hẹn, không phải vì tôi cần tiền của anh ta. Tâm hồn tôi cũng là một vũ trụ thẳm sâu cần được khám phá. Nhưng, tôi muốn quay trở lại với cuộc đời thực, với công việc chính của mình. Tôi là kẻ làm nghề “người lắng nghe”. 

Có mấy bận tôi hẹn với những vị khác khác, chẳng hạn như, một cậu dịch giả. Cậu ta chỉ nói về chuyện mua sắm quần áo và giày dép. Kỳ quái thật. Tôi phải chủ động đóng gấp cánh cửa bên lỗ tai trái của tôi lại. Mà thực tình, chỉ cần cậu ta cất giọng, lỗ tai tôi đã tự khép lại từ bao giờ.

Một khách hàng khác của tôi là anh nhà giáo. Thêm một kẻ rỗi hơi, anh ta đã có gia đình, nhưng hình như giữa họ có một vài khoảng cách thì phải? Anh ta rất muốn chia sẻ những câu chuyện nào đó của riêng mình mà vợ anh ta không muốn nghe. Và dĩ nhiên, tôi là sự lựa chọn phù hợp. Tôi đã nghĩ, trước đó rằng, có khi tay nhà giáo này sẽ khiến cho tôi cảm thấy vui vẻ chút ít bằng những câu chuyện ở học đường. Ấy vậy, mà ngược lại, lỗ tai trái của tôi, cái hôm hẹn với anh nhà giáo nó dường như thông suốt kỳ lạ. Cánh cửa quen thuộc biến đâu mất tích. Bởi thế, tôi chắc chắn phải nghe anh ta kể lể về những mánh lới kiếm chác thêm tí mắm muối bên ngoài giờ dạy. Câu chuyện học đường như tôi mơ hồ tưởng tượng về thời tuổi trẻ của mình bỗng chốc chỉ còn là một nỗi thất vọng tràn trề. 

5. 

K. Cái thằng nhà văn, hắn ngồi soi chữ, bàn về những tư tưởng, triết thuyết, nghệ thuật cao cả, nhưng hắn lại không thể trả nổi tiền trọ mỗi tháng. Hôm nay hắn thuê tôi, bằng vài đồng nhuận bút ít ỏi của hắn. Một giờ. Nhưng hình như hắn đã nói hơn một giờ. Số tiền hắn có sẽ không đủ để trả cho tôi một giờ tiếp theo. Vậy mà hắn vẫn thao thao bất tuyệt kể lể những ý tưởng hắn sẽ viết, chẳng hạn câu chuyện về một cơn gió độc hoặc về một phiên toà không được kết án. Giá mà hắn biết rằng, trong tai tôi có một cánh cửa nhỉ? Tôi ra hiệu cho hắn, 

“đã hết giờ làm việc, nếu mày muốn tao tiếp tục nghe thì phải trả tiền”. Hắn hậm hực ngậm miệng lại, dù vẫn kịp lôi trong túi ra vài tờ giấy bạc đã cũ đẩy về phía tôi vừa lẩm bẩm, “tao còn muốn nói về tình yêu, về lòng nhân ái”. Tôi nhếch mép, cầm tiền, đứng dậy rời khỏi quán. 

Ấy thế, tối nay, sau một tuần ở một thế giới khác, tôi lại là kẻ quyết định thử tìm kiếm cánh cửa trong lỗ tai mình, (cánh cửa mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy). Tôi muốn mở nó, muốn tháo gỡ nó ra, triệt để. Tôi cầm cái bọc tiền mình kiếm được sau bảy ngày tôi tự thử thách mình, làm người lắng nghe. Tôi đến tìm hắn, K, gã nhà văn nhiều chuyện. Đấy, tôi ném bọc tiền về phía hắn và nói: “Tao muốn mày ngồi xuống, im lặng và lắng nghe. Chừng này tiền có thể đủ cho mày trả tiền trọ vài tháng đấy.” 

“Nào nói đi, mày muốn gì hả người lắng nghe?”. 

Tay nhà văn mân mê bọc tiền, mắt không nhìn tôi. Tôi mở miệng và bắt đầu kể câu chuyện của tôi cho hắn. Như thế nào nhỉ? Phải bắt đầu từ đâu nhỉ? Tôi phải kể về một người đàn ông trung tuổi, gã ở sát bên cạnh nhà tôi. Cái hoạt cảnh mà tôi đã vô tình nhìn thấy. Chúng ám ảnh tôi suốt cả tuổi thơ. Trong một đêm trăng sáng. Phải, chính xác là trong một đêm trăng sáng. Người đàn ông trung tuổi ấy đã ra lệnh cho tất cả những đứa trẻ cùng với người đàn bà tội nghiệp của ông ta phải bước ra khỏi căn nhà méo mó những giấc mơ và nằm xuống con mương đất bên ngoài trời mưa gió, chỉ để thỏa mãn một cơn say máu. Tôi phải nói cho K nghe về việc tôi đã từng muốn có trong tay một khẩu súng như thế nào. (Tôi dám cá cược với K rằng, nếu tôi là đứa trẻ lớn nhất, tôi chắc chắn cũng rất muốn có trong tay một khẩu súng). 

“Khi đó, tao không hề biết đến sự tồn tại nữ thần công lý Athena, nhưng quý bà ấy bây giờ cũng chỉ là một bức tượng đá”. Tôi nói và tiếp tục nói. Hệt như tôi chưa bao giờ được nói vậy. Hắn thừa biết là tôi muốn được nói hơn bao giờ hết. Cái nghề làm người lắng nghe này cần phải có một trái tim thật lớn mới đủ dung chứa mọi đau khổ phiền muộn trên đời. Không biết phải thuê hắn bao nhiêu giờ để tôi có thể kể lể hết câu chuyện của tôi. Nhưng tôi mặc kệ, bọc tiền của tôi hắn đã cầm, vì thế, hắn bắt buộc phải tiếp tục nghe tôi nói. Trong lỗ tai của hắn không hề có cánh cửa nào như tôi, chắc hẳn hắn sẽ khá mệt mỏi. Những câu chuyện không đầu không cuối, rả rích rót vào tai gã nhà văn K. 

“Tao nhớ năm đó tao chỉ mới hơn mười tuổi, và đứa lớn nhất trong đám trẻ ấy cũng bằng tuổi tao.” Tôi nói đến đó, rồi bất chợt im bặt. Kể một câu chuyện đối với tôi quả thật không đơn giản chút nào, nhất là cho kẻ lạ mặt như K. Tôi biết thế, nhưng tôi đã trả tiền cho hắn rồi, bởi vậy, tôi nói tiếp với hắn. K, hôm nay, mày hãy là người lắng nghe. Mày không có bất kỳ cánh cửa nào trong lỗ tai cả. Mày hãy tập làm người lắng nghe đi. Tao sẽ là khách hàng đầu tiên của mày. Mày nhớ cái ngày hôm nay và cả cái nghề này. Biết đâu mày sẽ sống được với công việc mới. Biết đâu mày không cần phải chật vật kiếm ăn bằng nghề viết. Đừng viết nữa. “Tay nhà thơ kia”, tôi ngập ngừng hình dung ra hình ảnh một người đàn ông gầy gò đẩy chiếc xe cút kít đi chở đất. Tôi nói tiếp, tay nhà thơ kia không chỉ nói về việc cuốc đất trồng hoa đâu. Tao nhớ, có lần hắn đã kể cho tao về cuộc đời hắn, cuộc đời của những người thích làm thơ như hắn. Nhưng thôi, mày không cần phải nghe chi tiết nhiều làm gì. Mày chỉ cần biết là hắn đã từng mong muốn biến thành một cuốn lịch tường, thay vì phải xé rời nó xuống mỗi ngày ở quán cà phê của ông Ocean. Hắn đếm thời gian, hay đếm những nếp nhăn trên khuôn mặt khắc khổ trầm luân của hắn? Giá như hắn đừng làm thơ. Giá như cha mẹ hắn cấm cản hắn làm thơ từ bé như anh bạn trẻ có lần vô tình dặn dò con gái nhỏ không được đọc thơ trước mặt hắn vậy. Nhưng mày ạ, cha hắn cũng đã làm thơ. Thơ là cái thứ gì thế mày? Có phải thơ là một khu rừng đầy hoa thơm trái ngọt, chim ca bướm lượn hay thơ chỉ là một nỗi đau luôn luôn được giấu kín trong đôi mắt sâu hoắm. 

Còn nữa, mày có muốn biết những câu chuyện của thằng nhà báo không? Chao ôi, chán chết. Tao nghĩ, tao đã từng bị thu hút với những con đường đầy hoa thơm cỏ ngọt mà hắn kể mỗi lần chạy bộ lên đỉnh núi cô đơn. Phải, chính tao cũng biết rằng tao bị quyến rũ bởi thế giới rộng mở của trí tưởng tượng. Ấy vậy, nếu không có những giấc mơ, tao thật chẳng hiểu làm thế nào để sống? Sau mỗi lần gặp thằng nhà báo, tao có hồ nghi về bản thân mình, hồ nghi sự tồn tại của cánh cửa bên lỗ tai trái. Tao tự huyễn hoặc những gì thằng nhà báo kể về những con đường nó đã chạy bộ mỗi chiều từ ngày này sang ngày khác là những thứ nhảm nhí, nhàm chán. 

Có bận, tao cố gắng khoá thật chặt cánh cửa trong lỗ tai trái. Ấy thế mà cái âm lượng từ miệng của nó vẫn cứ đều đều xuyên qua cánh cửa, rồi bắt tao phải thấu nhận hết sự mơ mộng về những con đường chạy bộ. Đã nhiều lần, tao nghĩ đến việc đưa nắm đấm lên làm một phát vào mặt nó, cho nó im hẳn. Nhưng tao không làm được. Bạo lực chỉ là một giải pháp tức thời trong cơn bĩ cực. Vì thế, nên thôi, tao nghĩ về khẩu súng đó năm tao hơn mười tuổi, giờ thì nó hệt như một giấc mơ, một sự ám ảnh đầy ẩn ức bất chợt. Những đêm trăng sáng nhiều khi chỉ dành riêng cho loài sói trên thảo nguyên. Đôi lúc, tao nghĩ tao nên lấy tiền của nó và đóng chặt cánh cửa bên lỗ tai trái lại, để không cần phải mơ mộng về đỉnh núi cô đơn nữa. Và thật tình, tao biết nó có rất nhiều tiền. Tao chẳng hiểu tại sao nó lại có nhiều tiền đến vậy. Trong khi nó chỉ có những câu chuyện liên quan đến mấy con đường chạy bộ lên đỉnh núi mù sương, đỉnh núi cô đơn. 

“Vị dịch giả có mái tóc lởm khởm với một đôi mắt kính dày cộp thì sao?”, K bất ngờ cắt ngang mạch kể của tôi. 

“A, hoá ra mày chính là cái gã đi giày da ngồi trong bóng tối rít thuốc và quan sát những cuộc hẹn của tao đấy hả?, tôi hỏi vặn lại. 

K không trả lời. Và dễ thường tôi quên chắc cái khuôn mặt lạnh như tiền của hắn trong bóng tối. Khuôn mặt khiến ai nhìn lướt qua một lần cũng ám ảnh, hệt như tôi từng thấy khuôn mặt của người đàn ông say nào đó những năm tôi bé nhỏ hãi sợ lẩn trốn trong góc nhà, góc phòng, góc tường. Tôi phải tự đấu tranh để vượt qua nỗi sợ hãi đó, để bước ra khỏi cái bóng tối của chính mình. Dù rằng những năm sau này tôi đã dần dần tước bỏ cái ý nghĩ, cái ước muốn có được một khẩu súng. Thời điểm ấy quả thật tôi khá hoang mang, sợ hãi, và yếu đuối. Tôi không biết cách kháng cự lại những cảm giác ẩn ức từ việc nhận diện khái niệm về tình yêu, lòng nhân từ, hay hình ảnh độc ác mà tôi đã chứng kiến đó trong tuổi thơ của mình ngoài việc nghĩ đến một khẩu súng. Nhưng, càng lớn tôi càng hiểu rằng, bạo lực thường chỉ sinh ra bạo lực. 

K chen vào, khi đang nghe tôi nói, “thế tại sao bây giờ mày lại chạy đến và nói với tao rằng mày cần một khẩu súng?”. Tôi không trả lời được. Tôi im lặng và đánh lạc hướng hắn, “Dịch giả, để tao nhớ lại, thực tình thì vị đấy chỉ nói với tao về việc mua sắm hàng ngày. Tao chẳng thể nào hiểu nổi, tại sao một con người như vị dịch giả đáng kính kia chỉ có mỗi nhu cầu duy nhất là kể lể về việc mua sắm. Mày thấy lạ không? Tao chưa bao giờ nghe gã nhắc đến những công trình dịch thuật. Tao chưa bao giờ nhìn thấy vị ấy khoe những bản thảo như một vài kẻ khác. 

“Thôi thôi tao không muốn nghe về công việc mua sắm nhảm nhí của gã dịch giả ấy. Tao tò mò về anh nhà giáo, hình như anh ta khá giả lắm nhỉ?”. Nhà văn K nói. Không, anh nhà giáo, để tao nhớ xem. Anh ta cũng bình thường thôi, chẳng có gì ấn tượng. Một con người đơn giản. Thật đấy. Mày tò mò gì về anh ta? Tao chỉ nhớ rằng, anh ta chưa bao giờ có nhu cầu chia sẻ bất cứ điều gì thú vị hơn, ngoài chuyện kiếm cơm. Tuy nhiên, anh ta vẫn bỏ tiền ra, thuê tao một giờ, chỉ để thỉnh thoảng được lặng yên, bắt tao ngồi nhấp cà phê với anh ta, sau đó mỗi đứa một đường. Đương nhiên, tiền cà phê anh dành trả. Tao cũng chẳng mấy quan tâm đến số tiền mà anh ta kiếm được. Nhà giáo thì kiếm được bao nhiêu? Tao nghĩ thế. 

“Vậy, cuối cùng cái thứ mày cần tao lắng nghe, để xứng đáng với số tiền mày trả cho tao là gì?” K hỏi gắt. Thằng nhà văn này kỳ khôi thật. Tôi đã cố tình kể cho hắn nghe về một cánh cửa bên lỗ tai trái, tôi đã cố tình nói cho hắn biết về việc tôi từng mong ước có một khẩu súng như thế nào? Hắn kém cỏi hay giả vờ khờ khạo nhỉ? Con mắt cú vọ của hắn trong bóng tối, tôi đã từng thấy, sáng như ánh đèn pha. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ khá điên rồ. Hơn một giờ đồng hồ đi qua. Tôi không muốn chia sẻ thêm với hắn bất cứ điều gì nữa. Chao ơi, thằng nhà văn kém cỏi. Giá mày nhanh nhạy một chút, mày đã có hàng đống ý tưởng cho một câu chuyện hư cấu, biết đâu mày sẽ kiếm thêm được ít nhuận bút từ số báo ngày chủ nhật. Mày muốn muốn trở thành nhà văn, trước hết mày phải là người biết lắng nghe. 

Tôi nhớ ra mình còn việc phải làm. Tay nhà thơ tối qua hình như có gửi cho tôi hình ảnh chụp bức tranh anh ta vừa mới hoàn tất, (trước khi là thi sĩ, anh ta đã từng là một hoạ sĩ), trong bức tranh là người đàn ông ngồi trước giá vẽ, tay trái cầm một khẩu súng và chỉa lên thái dương ngay bên cạnh lỗ tai của mình. Dưới đất có một cánh cửa. Bất giác, tôi đưa tay sờ lên lỗ tai trái. Chẳng biết cánh cửa của tôi liệu có còn ở đó? Thằng nhà văn K nhìn chằm chằm vào lỗ tai trái của tôi. Hắn đi tới góc làm việc, tay hắn kéo hộc bàn. Thứ gì trong đó nhỉ? Tôi tò mò, nhưng cũng đồng thời đứng dậy rất nhanh lao ra khỏi cửa. Một tiếng nổ toang vang lên trong căn phòng nhỏ. Chỉ là một âm thanh mà lần cuối cùng tôi được nghe thấy rõ ràng bằng cả hai tai của mình.

“Tôi cần phải kể cho nàng, tình yêu đầu đời của tôi về một cánh cửa bên lỗ tai trái, tôi cần phải nói với nàng lý do tại sao tôi rời bỏ và phản bội nàng. Dĩ nhiên, tôi còn muốn mô tả cho nàng những con đường lên đỉnh núi cô đơn, tràn ngập sắc màu của thế giới cổ tích”. 

Đôi mắt người đàn ông trẻ trước căn phòng trọ của nhà văn K hờ hững khép lại. Có một cánh cửa màu đỏ sậm rớt ra từ lỗ tai bên trái. Chẳng ai biết gì thêm về câu chuyện của gã chủ quán cà phê tên Ocean. Vụ án của người lắng nghe bây giờ mới thực sự bắt đầu. 

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Beneath the mountains

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

There’s a person under these mountains.

He lifted his legs, and in long strides, he headed down the length of the grassy slope down towards the foot of the hill. The scene was like a dream. He squinted. The silvery white mountains were piled on top of each other and then shrivelled up into a rather odd structure. Not once were they silent. The mountains, they have legs it seemed. He watched them move, zig-zagging, weaving into one another as though they were dancing. Suddenly he didn’t want to move. He wanted to sit down, he wanted to test something, experiment. Exactly like how he used to play these shooting games with friends as a child in the moonlight, wherever he went the moon would follow, the sound of his laughter would bounce across the playground when he stopped to listen and the moon would then tip its head towards the earth and lit his face up. This time, he wants to test it out with the mountains. He sat down on a lush green patch of grass. The mountains also settled down behind the clouds and stopped moving. It occurred to him that, nothing was moving, he was the only moving entity present in this animation.

Deliberately he had shifted his surroundings around. Deliberately he had placed tranquillity in his eyes with happy dance steps, singing from deep within the earth. He wanted to stand up, and leave. The mountain is now steeped in the redness of dusk. The sun was just there and didn’t have much of a choice as the stand-in artist painted each stroke at a time, colouring in the light and dark of the night, creating nature’s masterpiece. There was no longer a need for him to go home. The art tools he brought with him for this field trip became superfluous. He might as well go home. Leave this place. Dreaming too much at the foot of the mountain he’ll end up falling into the maze of all that inception.

Clambering, he gathered up the paint brushes and other stuff scattered all around him, and continued to follow the grassy spine down to the parking lot. He had no intention of turning around for the last look, to try and capture the moment as he did in the past. But the wind sounded peculiar in his ears. Curious, he turned and searched for the oddness in the wind. But there was nothing but mountains illuminated with the last rays of daylight. 

Beneath the mountains, there were clearly a lot of green grass

“Where heaven might be, no one knows for sure right”?

“Sure”                                                                                                         

“But they can see the hell in front of them”

“Not necessarily”

K mumbling right there into my ear, annoyed me. If only he would leave me alone to enjoy the book I’ve brought along for this weekend, to read in peace on this very soft green patch of grass. I saw past his glasses, it felt like something was moving, dancing. Not fire. Not waves. Mountains. I saw the mountains in layers piled up in K’s contemplative musing. 

He was no longer there. I was certain. The thoughts, had carried his spirit away from me. And, he will no longer bother me. Sometimes, when he does this I get quite upset. Sometimes, I’m jealous. Because even as I breathe I will never be able to allow my soul to be carried away. I dropped the book on the lawn. Viewed the sky through K’s glasses. “There’s a herd of cattle”, K whispered, and continued without my input on those cows, “they’ve been branded with numbers”. I asked, “why would the cows being numbered bother you?”. K didn’t answer. He continued at length, “the last time we’re here I didn’t see them, I saw mountains dancing, I saw a red sun, I saw the dark clouds, I saw only…”, he stopped midway through the long sentence, looked down at the book I’ve closed up and no longer read. K’s spirit had returned to his body. I asked about the branded cattle. He was quiet and didn’t explain. It was like that almost every time. Each time he provoked my curiosity, he would shut up and force me to come up with my own answer.

The sky was now a deeper colour of darkness. The moon had risen. He said simply, “let’s go”, “you haven’t drawn anything today?”. He lifted a hand to his face and pushed the glasses up the bridge of his nose, and looked at me, “I’m done”. I knew he would say that. I looked up at the hazy moon at the foot of the horizon, then bend down to pick the book on the lawn and packed it away in the backpack, and casually announced, “next weekend I’m busy”, “I can trek the mountain alone”, he added as he reached for my hand to help me up.                                             “Tell me what you saw beneath those mountains, not about the branded cattle.”

Beneath the mountains, there is no human inhabitant

The moonlit week quickly passed by. He remembered his date, with a client he has yet met. The client wanted his latest painting. The artwork he paints from memory with his rather odd imagination.

He left the apartment block. Brought the painting with him to where they were to meet. It was a cafe with the architecture of an older era on top of a small hill near the War Memorial. He really loves this place. The War Memorial is a magnificent white building. He finds himself often right in front of it, but never goes in. He figured, he had no desire to find out more about what was supposed to signify death and the stupidity of it all. War is a stupid man-made game. He could more than imagine what they would display in a museum like that. 

Parking the car, besides the minor hindrance he carried the painting into the cafe trying to find a secluded corner somewhere by the window, where he could watch the ins and outs of his surroundings, including the stranger who was about to buy the painting he had only finished last night. He ordered a cup of coffee, the exact thing he needs to consume in order to wake up. Nothing but a shot of espresso. He sipped a small sip at a time, and the hot beverage slowly steamed up his glasses. He took his glasses off, and using his thumb and index finger over the thin napkin, he slowly wiped off the condensation. The rising foggy steam was like the grey clouds over those mountain peaks. He waited for thirty minutes, then forty minutes, and there was still no sign of his client, the guy with a name abbreviated as just K, the guy who was supposed to buy the painting. He figured he should wait a bit longer, clearly, the guy had to travel a long way to get here than him. Fifty minutes, anxiously he looked at his watch. Sixty minutes later, he unwrapped the painting slowly, and carefully. He looked at the painting. A couple patrons were also curious, and took a peek at the painting which looked as though it had been divided into two halves, one side black and the other side white. The top half was painted with all the entities of the sky, scattered smudging of reds amidst the light and the dark. The bottom half was dotted with flowers and branded cattle.

Sixty minutes. No one showed up to ask him about the painting in front of him. His phone lightly vibrated, and a reminder note appeared on the screen “I will buy my own painting. K”. Last Friday he told his wife about painting something in the moonlight with her. He then locked himself up in the studio with the painting. His wife did not bother him. She understood, presently, that his spirit is still with her, unlike the times they were together on the fresh green grass at the foot of the mountain.

Awkwardly he left the cafe, with the painting “the branded cattle beneath the moonlight”. He walked over to the white building – the War Memorial, stopped, thoughtfully contemplating. He headed for the shut front door of the Memorial, left the painting leaning on the wall and left. 

Dusk was as red as a blending of blood. The moon was nowhere in sight. He drove past the hill he had once pondered. There were no branded cattle there anymore. His wife will no longer have to hear about them ever again. All she has to do is take care of their children, cook and read the books she likes on all the smooth flat surfaces and planes of this world.

May 2022

—–

Truyện ngắn

Ở dưới những ngọn núi

Có một con người ở dưới những ngọn núi này.

Hắn, nhấc chân sải bước theo triền cỏ xuôi xuống phía dưới chân đồi. Khung cảnh như mộng. Hắn nheo mắt. Những ngọn núi màu trắng bạc xếp chồng lên nhau rồi thu lại thành một hình hài thật kỳ lạ. Chúng không hề tĩnh lặng. Dường như những ngọn núi có chân. Hắn thấy chúng đang di dời dịch chuyển, đan xen vào nhau hệt như một điệu nhảy chào đón hắn ở nơi này. Hắn bất giác không muốn đi nữa. Hắn muốn ngồi xuống, để làm một thử nghiệm nhỏ. Hệt như hồi bé hắn cùng với đám bạn chơi trò đuổi bắt dưới trăng, hắn đi đâu trăng đi đó, hắn dừng lại cười vang cả góc sân trăng cũng dừng theo ngó nghiêng xuống mặt đất, tỏa sáng trên mặt hắn vậy. Lần này, hắn muốn thử nghiệm với những ngọn núi. Hắn ngồi xuống một vạt cỏ xanh mướt. Những ngọn núi cũng lặng lẽ ẩn nấp trong mây không dịch chuyển nữa. Hắn chợt hiểu, chẳng có thứ gì chuyển động, chỉ có hắn là một thực thể chuyển động hiện hữu trong hoạt cảnh này.

Hắn đã cố tình gán ghép chi phối sự chuyển động của thế giới xung quanh hắn. Hắn cố tình gán ghép cả những mộng tưởng hoà bình vào con mắt hắn bằng việc mơ mộng về những điệu nhảy vui tươi, những tiếng hát sâu thẳm cất lên từ dưới lòng đất. Hắn muốn đứng dậy, rời đi. Ngọn núi đã nhuốm màu ráng đỏ của chiều tối. Mặt trời đã hoá thành một tay hoạ sĩ bất đắc dĩ quét những lớp sắc độ đậm nhạt của bóng tối và ánh sáng để tạo thành một bức tranh hoàn hảo của thế giới tự nhiên. Hắn không cần phải vẽ gì nữa. Những họa cụ hắn mang theo bên người cho buổi đi vẽ thực địa này trở nên thừa thãi. Hắn phải về thôi. Rời khỏi nơi đây thôi. Mộng mơ dưới những chân núi quá nhiều sẽ khiến hắn lọt thỏm trong mê lộ của khối hình hài tạo hoá kia.

Hắn lỉnh kỉnh xốc lại các thứ mang theo trên người rồi tiếp tục xuôi theo triền cỏ sóng sánh thướt tha xuống nơi đỗ xe. Hắn không định ngoái lại đằng sau để lưu giữ thêm vài hình ảnh như những lần khác. Nhưng hắn nghe tiếng của gió thổi thật kỳ lạ. Hắn tò mò ngoảnh mặt tìm kiếm. Chẳng thấy gì ngoài một sự đơn độc của những ngọn núi dưới ánh sáng cuối ngày.

Ở dưới những ngọn núi hẳn là có rất nhiều cỏ xanh

“Không ai dám chắc nơi nào đó là thiên đường”?
“Dĩ nhiên”
“Nhưng hẳn là người ta sẽ nhìn thấy địa ngục trước mắt” 
“Không chắc” 
Những lời K lảm nhảm bên tai tôi lúc này khiến tôi bực mình. Giá chàng cứ lặng yên mộng mơ ngắm nghía thế giới thiên nhiên tươi đẹp của chàng và để yên cho tôi đọc nốt quyển sách mang theo trong ngày cuối tuần ở trên bãi cỏ xanh mướt này. Tôi liếc nhìn qua mắt kính của chàng, hình như có thứ gì đó đang chuyển động, nhảy múa. Không phải lửa. Không phải sóng nước. Những ngọn núi. Tôi thấy những ngọn núi xếp lớp trong sự trầm ngâm suy tư của K.

Chàng đã rời đi. Tôi biết thế. Những lúc suy tư, linh hồn chàng đã rời đi, khỏi tôi. Và, chắc chắn tôi sẽ chẳng bị chàng gây phiền nhiễu nữa. Đôi khi, tôi khá giận chàng vì điều đó. Đôi khi, tôi ghen tỵ. Vì tôi không thể khiến cho linh hồn mình được phép phiêu du ngay cả khi đang còn thở. Tôi buông quyển sách xuống mặt cỏ. Ngắm bầu trời qua đôi mắt kính của K. “Hình như ở đó còn có những đàn bò”, K cất tiếng thì thào, rồi tiếp tục không cần tôi định hình điều gì về những đàn bò, “chúng đã bị đánh số”. Tôi hỏi, “tại sao chàng băn khoăn về những con bò bị đánh số?”. K không trả lời tôi. Chàng nói tiếp một hơi dài, “lần trước đến đây anh không nhìn thấy chúng, anh chỉ nhìn thấy những ngọn núi nhảy múa, anh chỉ thấy một mặt trời đỏ, anh chỉ thấy những đám mây màu tối, anh chỉ thấy…”, chàng bỏ lững câu dài, nhìn xuống quyển sách tôi đã gập lại không đọc nữa. Linh hồn K đã trở lại với thân xác chàng. Tôi hỏi K về những con bò bị đánh số. Chàng im lặng không giải thích. Hình như lần nào cũng thế. Mỗi lần chàng khơi gợi ra vấn đề nào đó khiến tôi tò mò, chàng lại lặng im bắt tôi tự tìm kiếm câu trả lời.

Trời đã chuyển sang màu thăm thẳm của đêm tối. Trăng cũng đã lên. Chàng buột miệng rất gọn, “về thôi”, “hôm nay anh chưa vẽ gì cả?”. Chàng đưa tay nhích mắt kính lên, nhìn tôi, “anh vẽ xong rồi”. Tôi biết, chàng sẽ nói thế. Tôi nhìn lên ánh trăng mờ mờ phía chân trời, rồi cúi xuống cỏ nhặt quyển sách cho vào balo, thủng thẳng nói, “cuối tuần sau em bận”, “anh sẽ leo núi một mình”, K tiếp lời, rồi chàng nắm tay tôi đỡ tôi đứng dậy. 
“hãy nói cho em biết anh đã nhìn thấy gì dưới ngọn núi ấy, không phải là về những con bò bị đánh số.”

Dưới những ngọn núi không có con người

Thời gian một tuần trăng nhanh chóng qua đi. Hắn nhớ, hắn có hẹn với một khách hàng lạ. Tay đó muốn có bức tranh mới nhất mà hắn vừa vẽ xong. Một bức tranh hắn vẽ bằng ký ức và trí tưởng tượng quái đản của hắn.

Hắn rời khỏi toà nhà lớn. Mang theo bức tranh đến điểm hẹn. Đó là một quán cafe mang phong cách kiến trúc cổ khá cổ kính nằm trên ngọn đồi nhỏ gần bảo tàng chiến tranh. Hắn rất thích nơi này. Bảo tàng chiến tranh là một toà nhà lớn màu trắng rất đẹp. Nhiều lần đến đây, nhưng hắn chưa bao giờ bước chân vào bên trong. Hắn nghĩ, hắn không cần phải biết về những thứ mang dáng dấp của cái chết và sự xuẩn ngốc. Chiến tranh là một trò chơi xuẩn ngốc của loài người. Hắn có thể tưởng tượng được người ta sẽ trưng bày những gì trong các bảo tàng như vậy.

Hắn dừng xe, lịch kịch mang bức tranh vào quán cafe tìm một góc ngồi khuất gần cửa sổ, từ đó hắn có thể quan sát những chuyển động trong không gian này, kể cả việc chờ đợi sự xuất hiện của gã khách lạ dặt mua bức tranh mà hắn vừa hoàn thiện đêm hôm trước. Hắn gọi cafe, thứ thức uống hắn cần. Không gì khác ngoài một tách espresso. Hắn nhấp từng ngụm nhỏ, mắt kính hắn bị mờ bởi khói từ trong tách cafe tỏa ra. Hắn lấy mắt kính xuống, dùng khăn giấy mỏng di di ngón tay chậm rãi trên mặt kính. Hơi nước mù mịt hệt như những đám mây màu xám trên đỉnh núi. Hắn đợi ba mươi phút, rồi bốn mươi phút, vẫn không thấy gã khách lạ có tên viết tắt là K đã hẹn hắn mua tranh xuất hiện. Hắn nghĩ có lẽ nên đợi thêm một chút nữa, hẳn là gã ấy ở xa nơi này hơn hắn. Năm mươi phút, hắn nóng ruột nhìn đồng hồ. Sáu mươi phút, hắn mở lớp giấy bọc bức tranh ra một cách chậm rãi, từ tốn. Hắn nhìn bức tranh. Một vài vị khách trong quán tò mò nhìn vào bức tranh chia thành hai nửa đen trắng. Phía trên là những thực thể của bầu trời, rải lem nhem sắc đỏ giữa ánh sáng và bóng tối. Phía dưới là những con bò đốm hoa bị đánh số.

Sáu mươi phút. Không có bất cứ ai xuất hiện trước mặt hắn để hỏi về bức tranh cả. Điện thoại hắn rung nhẹ, một note nhỏ hiện lên với dòng ghi chú nhắc nhở “tôi sẽ mua chính bức tranh của tôi. K”. Ngày thứ sáu tuần trước hắn đã nói về việc sẽ vẽ một cái gì dưới trăng với vợ. Sau đó hắn tự nhốt mình trong phòng với bức tranh. Vợ hắn không làm phiền hắn. Nàng hiểu, lúc này, linh hồn hắn ở lại, không rời đi như khi ngồi ở những triền cỏ xanh mượt kia.

Hắn lững thững rời khỏi quán, cùng với bức tranh “những con bò bị đánh số dưới trăng”. Hắn đi qua tòa nhà trắng – bảo tàng chiến tranh, dừng lại, trầm ngâm mặc tưởng. Hắn tiến đến trước cánh cửa chính đã đóng của tòa nhà, dựng bức tranh bên cạnh bức tường và rời đi.

Chiều đỏ như máu pha. Trăng khuất dạng. Hắn lái xe qua ngọn đồi lần trước mà hắn đã đến. Chẳng có con bò nào bị đánh số còn ở đó nữa. Vợ hắn sẽ không cần phải nghe về chúng. Nàng chỉ cần chăm con, nấu cơm và đọc những quyển sách mà nàng thích trên các mặt phẳng êm ái của thế giới này.

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Animal Sacrifice

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

Truyện ngắn

Vật tế

1.

Mù sương.

Không lửa. 

Khói.

Có khói. Khói bỏng mắt. Cay môi. Xồng xộc chạy theo cuống phổi vấp ngã trong thanh quản. Những âm thanh đùng đục thoát ra từ cuống lưỡi rồi bục thẳng vào khói. Như một khối ung nhọt, bị dồn nén lâu ngày được bung vỡ sung sướng. Trời vẫn mù sương khi ánh sáng đã lọt xuống, thủng cả một khoảng trắng trong không gian kì quặc này. 

Một lũ người quỷ ám hình dạng mờ ảo thoắt ẩn thoắt hiện trong sương mù. Hẳn sẽ nắng gắt lắm đây. Xuân thứ ba mươi mấy, năm của những con giáp bị người ta vặt lông làm vật cúng tế chào đón thời gian không chút thương xót. 

2.

Đợi đám đông di tản, nới rộng vòng tròn vây phủ, những người lạ mặt (tôi gọi đó là những người lạ mặt, vì họ có những khuôn mặt rất lạ, không giống mặt người) mới tiến gần lại giàn lửa thiêu. (trên giàn không có củi, không có chất dẫn cháy, không đuốc lửa cầm tay). Đám đông vừa mới nới rộng vòng tròn, lại tiếp tục dồn vào địa điểm ấy, tò mò hướng những ánh nhìn về phía vị trí chứa vật tế. Tôi, đứng giữa đám đông, tôi di dời theo đám đông. Và, chính tôi, cảm thấy mệt mỏi chán chường cuộc di dời lặp đi lặp lại của đám đông. Vây bủa, tản ra, rồi lại vây bủa, tản ra. Hò hét. Câm lặng. Rồi lại hò hét. Đám đông luôn luôn kì quặc đến mức không thể nào chịu nổi, theo như tôi nghĩ. Ấy vậy, tôi vẫn bị lôi kéo vào những cuộc chơi của đám đông, chỉ vì sự tò mò hồn nhiên của mình. 

Dẫu thế, ngay khi tôi hồn nhiên hùa theo cuộc chơi của đám đông trong buổi mù sương tờ mờ này, thì chính nó, những hiện cảnh kì quặc trên giàn tế ấy đã gợi một thứ cảm giác nào đó chơi vơi, buồn rơi nước mắt. Tôi có thể thấy những giọt nước mắt không nhỉ? Nó giống sương không nhỉ? Làm sao để tôi nhận ra đâu là nước mắt, đâu là sương là khói?

Tôi quyết định rời bỏ đám đông. (Tôi không thuộc về họ). 

Tôi là tôi. Ngay chính khi này, tôi vẫn muốn khẳng định rằng tôi phải là tôi. Một cá thể riêng biệt, buồn bã, đầy rẫy nỗi niềm sầu muộn ư? 

Tôi là tôi. Kẻ bị ruồng bỏ trong một ngày mù sương, đầy khói mà tôi biết, tôi nhớ. Thứ mù sương lạnh lẽo. Thứ mù sương hãi hùng cơn mê ẩn nấp những nguy cơ chết chóc, mất mát nào đó đã được dự báo trước. Ở giữa đám đông, tôi vẫn là tôi. Đám đông không chạm được vào tôi. Nhưng, tôi thì chạm được vào họ. Bằng tiếng thét, bằng những không gian ảm đạm, bằng chính cuộc chơi kì quặc của họ, và bằng chính sự vô hình của tôi. Dù rằng, lúc này, tôi cũng đang rất tò mò về sự biến kì quặc trước mặt mình trong sương khói vây phủ của sáng hôm nay. 

Một quang cảnh trống rỗng, cùng với một đám đông diễn trò bao vây, rồi sau đó tản ra, và lại ùa vào hét lên những tiếng bùng bục trong cổ họng. Tất cả chỉ có thế. Tôi chẳng hề thấy thứ gì hiển hiện hữu hình và ắt phải cầm nắm tóm bắt được. Ấy vậy, buổi tế vật dường như vẫn sẵn sàng ngay trước mắt tôi một cách đầy hứng khởi. Vài người khoác bộ cánh chỉnh tề tay cầm những tệp giấy có chữ (chắc chắn phải có chữ, nếu không họ sẽ phải làm gì cho việc bắt đầu buổi tế?). Một gã trẻ măng khệnh khạng từng bước chân đi chính giữa các vị ấy, đưa cao tệp giấy lên soi dưới mặt trời. Tệp giấy nghiêng nghiêng rồi phụt khói. 

Sương đã tan. Nắng đã bắt đầu gắt và bốc lửa. Nắng xuyên qua chữ. Những cái bóng in lên mặt đất. Bóng người chập choạng va đập vào nhau. Bóng chữ oằn xuống cong vẹo các kí tự viết tắt mà tôi kịp thấy chúng rơi tuột ra khỏi một trang giấy. Tôi nhìn theo bọn kí tự dưới đất. Chúng nhảy độp độp, như gõ lên nền đất thịt những thanh âm kì lạ. “có phải chúng đã vượt thoát”, (như tôi). Tôi nghi ngờ, rồi tự khẳng định lạc quan, rằng: “chúng sẽ vượt thoát sớm thôi, nhanh chóng thôi, chúng sẽ rời khỏi những trang giấy vô nghĩa làm nên các loại chuẩn tắc không kiềm giữ nổi căn tính của giống loài”.

Những kí tự vẫn tiếp tục rơi xuống, một vài chữ trong số chúng nằm lặng yên trên mặt cỏ đẫm sương như nước mắt và không hề có ý định nhúc nhích, rời đi. “Cỏ khóc đêm thâu. Mộ phần nằm sâu không chôn chặt được cái chết nổi trôi lên mặt đất”. Tôi lẩm bẩm, trong cơn mê mộng, đưa mắt nhìn về phía giàn tế trống rỗng một lần nữa. Đám đông vẫn tiếp tục vây bủa nhau, rồi tản ra, rồi hò hét, rồi câm lặng. Khói vẫn cuộn tròn phả lên đến tận mây xanh. 

3.

Tôi đăm chiêu quan sát những kí tự rơi vãi. Chúng vẫn nằm yên, tuyệt nhiên không hề động đậy. Tôi rời xa đám đông, đứng về một phía không có nắng. (Tôi sợ nắng. Tôi sợ mặt trời. Tôi sợ lửa. Tôi sợ cả khói). Một loạt những nỗi sợ hãi trào dâng lên trong lòng tôi cuồn cuộn như cơn sóng đập rộn rã ngoài khơi. Tôi nhớ sóng. Nhớ rằng tôi có lần đã được nằm nghe tiếng sóng rất thật qua nhịp tim của mẹ. Vậy mà, trong lúc này, khi tôi đang tò mò dấn thân vào một cuộc tế lễ kì quặc thì tôi lại thấy tiếng sóng bất giác trở thành một nỗi sợ hãi bám riết dưới ánh mặt trời. 

Tôi trở về với không gian trải ra trước đôi mắt trong như giọt sương sớm, ngắm nghía những kí tự rơi vãi. Chúng bắt đầu có động thái nhúc nhích. (Hẳn chúng cũng hào hứng với cuộc tế lễ kì quặc này). Tôi vừa dõi theo chúng, vừa nghĩ ngợi tiếp về mẹ, về sóng. Mẹ ở đâu nhỉ? Sao mẹ lại xuất hiện ngay chính khi tôi đang bận bịu rong chơi giữa mùa xuân, với những cuộc phiêu lưu kì thú trong vài hiện cảnh nhập nhoạng sáng tối của thế gian nhỉ? Tôi nghĩ về chữ Mẹ. Kí tự M. (Có thể là mẹ. Hoặc không). Dù gì tôi cũng chưa thấy mẹ bao giờ. Tôi chỉ biết mẹ qua tiếng sóng. Nhịp tim của tôi. Máu của tôi. Máu của mẹ. Máu của đại dương ngờm ngợp đêm sâu. Rồi, tôi lại nghĩ về một ý nghĩa khác của chữ M. (có thể là máu. Hoặc không). Máu tràn lênh láng sau cuộc sinh nở của một người đàn bà chẳng hạn. Tôi nghĩ về tôi. Là tôi trong một đêm sương lạnh chưa đủ hình hài. 

Bất giác những tiếng hét bùng lên, vỡ ra rồi câm bặt. Tôi giật mình, rời bỏ dòng ý nghĩ miên man không ai hay biết, tiếp tục hướng về cuộc chơi của những con người đủ hình hài kì quặc. 

Đám đông, cùng với những kẻ có khuôn mặt quái dị và giàn tế (không củi, không lửa, không thấy vật tế) vẫn đang tiếp tục trò chơi. (thôi, tôi gọi là trò chơi, chẳng ai dạy tôi gọi nó là một buổi tế lễ). Có thể nó chỉ là sự hình thành từ thứ nhận thức bất chợt. “Cuộc chơi của họ là gì thế nhỉ?”, nghĩ mãi, tôi cũng không hiểu, tại sao chỉ có một đám đông, một giàn tế không củi, không lửa, không cả vật tế. Ấy thế mà buổi tế vật vẫn kiên quyết diễn ra đầy sôi nổi, hắc khí đen nghịt quấn riết những đám mây một ngày nắng đẹp. Bỗng dưng, tôi thấy chán. Cơn chán chường này thường xuyên đến với tôi, mỗi lần tôi không còn hào hứng với trò chơi mà tôi chỉ vừa mới nhập cuộc. Chúng ngờm ngợp trong hơi thở vô hình của tôi. 

4.

Một ngày nắng đẹp. 

Tôi nghĩ, tôi phải rời đi, tôi phải rời khỏi nơi này ngay khi còn có thể chịu đựng cơn chán chường đầy nghịch lí này. Tôi rời bỏ giàn tế, tôi rời bỏ đám đông, tôi rời bỏ những tiếp diễn của một buổi lễ kì quặc mỗi mùa xuân ở phía trước. Tôi muốn tách biệt hẳn khỏi đám đông để được lặng yên ngồi trên những mộ cỏ suy tư về những điều tôi thấy. Mộ cỏ trầm uất từ đêm tối đến giờ khi tôi rời đi để rong chơi một mình. Mộ cỏ đẫm sương đã bị nắng gắt làm héo khô mất vẻ tươi xanh ẩm ướt. 

Dù đã rời bỏ giàn tế, nhưng tôi, dường như tâm trí tôi vẫn không rời bỏ khỏi những thứ tôi đang tưởng tượng. Cuộc chơi ấy sẽ diễn ra như thế nào nhỉ? Họ sẽ làm gì tiếp theo với một giàn tế không củi, không lửa, không vật tế, chỉ có một đám đông, một nhóm người hành lễ mang khuôn mặt kì quặc mà tôi lần đầu tiên được thấy trên đời. Tôi lại nghĩ về mẹ, về tiếng sóng. Tôi không biết khuôn mặt của mẹ. Tôi chỉ nghe và nhớ tiếng sóng. Hẳn là hình dạng khuôn mặt của mẹ giống như sóng. Là sóng. Có khi nào mẹ là sóng. 

Trên mộ cỏ khô héo, tôi ngồi trên mộ cỏ khô héo cách xa không gian buổi tế lễ một khoảng ngắn, tôi nhận ra những kí tự, chúng đã rớt khỏi từ tệp giấy của những người hành lễ và đang tiến về phía tôi. Chúng vừa nhảy độp độp, vừa thở hổn hển trên mặt đất. Chúng lết đến bờ cỏ khô héo dưới ánh nắng mặt trời bỏng rát. Hiện thực rõ ràng nhất. Ấy thế, mắt tôi vẫn mong tưởng về những mảng cỏ tươi xanh đẫm nước (đó là tôi mường tượng, chẳng có bờ cỏ xanh mượt nào còn ướt mềm sương dưới mặt trời nửa buổi). Những mong tưởng của riêng tôi luôn luôn mâu thuẫn, đối nghịch với hoài nghi. Tôi hoài nghi chính tôi. Tôi hoài nghi mặt trời. Tôi hoài nghi ánh sáng. Tôi hoài nghi những cuộc chơi kì quặc của đám đông nọ. Vậy mà, tôi vẫn muốn được tham gia, muốn biết điều gì xảy ra trong cuộc chơi đó. Lạ kì thật. Bất giác, tôi cảm thấy một nỗi buồn vô hạn xâm chiếm lấy linh hồn bé bỏng ngây thơ và thèm khát khám phá thế giới này. 

Tôi không tiến gần đến đám đông, đến giàn tế nữa. Tôi muốn ngồi đây để quan sát đám kí tự vượt thoát khỏi tệp giấy kia xem cuộc chơi của chúng. Kí tự C chổng ngược vành chữ thành hình cánh cung, trên mây có một con chim lạc bầy liệng chấp chới hoang mang rồi rớt phịch xuống mặt đất, ngay cạnh tôi. Tôi nâng cánh chim non bị thương lên, vài giọt máu rỏ xuống, mộ cỏ héo khô bỗng dưng tươi xanh trở lại như vừa đẫm sương. Chim non đã chết. 

Tôi cúi mặt tìm các kí tự khác. Hẳn là sẽ còn những kí tự khác thoát ra từ tệp giấy. Kia rồi, L chậm chạp không thể nhảy lộp độp như C, đang tiếp tục tiến về phía tôi. L dừng lại, nằm xuống vệ cỏ và khóc. Tiếng khóc như giun như dế, như ong như ve, như muỗi vằn giữa đêm khuya lên cơn khát máu. Tôi biết đó là một tiếng khóc, tiếng khóc câm. Chúng nén chặt trong cổ họng tôi, khiến tôi đau đớn. (Tôi chưa được khóc thành tiếng bao giờ). Dù vậy, lúc này, tôi lại nghĩ về tiếng sóng. Có khi đó là tiếng khóc của tôi. Rồi, tôi lại bận lòng đuổi theo những suy nghĩ, những ám ảnh về các vòm cổng vào nhà hình chữ L. Chúng chỉ mang lại sự chết chóc. 

Mải mê với những kí tự đang hiển hiện xung quanh mình, tôi quên mất đám đông và giàn tế hồ như vô hình trước mắt. Hiện tại của tôi là những kí tự kia, những chữ cái đã rơi ra khỏi các trang giấy trắng ngờ nghệch. Tôi muốn biết sẽ còn kí tự nào khác tiếp tục cuộc chơi vượt thoát đặc biệt này. Dưới lòng bàn chân tôi, nhồn nhột, (ấy là tôi tưởng tượng, những ngón chân tôi không đủ hình hài tròn trịa của tôi), chúng cựa quậy, rồi một thứ gì đó hơi cộm lên. Tôi nhích bàn chân khỏi mộ cỏ, tháo rời xác thể mây khói ra khỏi mọi ràng buộc để cảm nhận rõ hơn sự tồn tại của một thứ kì lạ mà lần đầu tiên tôi biết rằng nó có thực trên đời. Tôi cúi xuống thấp hơn, một chữ V góc cạnh, chỉa thẳng lên, chạm vào hình dáng ngón chân lớn nhất của tôi. (ngón chân lớn nhất của tôi). Chữ V không biết bằng cách nào đã tiếp cận được tôi. Chữ V khiến tôi buồn. Nỗi buồn dưới lớp da không hiển thị. Lớp da chưa kịp thành hình thành dạng như bao kẻ khác. Nỗi buồn luồn sâu vào phía trong, thấm nhanh vào máu thịt ảo ảnh. Rõ ràng, tôi đã cố tình bỏ quên những vấn đề liên quan đến sự tồn tại khả hữu của bản thân mình. Vậy mà tôi vẫn chẳng thể nào ngừng đặt một dấu chấm hỏi về tôi, về mẹ, về những tiếng sóng chập chờn thoắt ẩn thoắt hiện trong từng lớp ký ức ảo diệu.

Tôi nhặt chữ V lên, tôi ngắm nghía nó dưới ánh nắng vừa lẻn xuống từ những đọt mây xám trên đầu. Bất chợt từ trong đám đông ở phía giàn tế những tiếng thét thất thanh đau đớn như có kẻ bị đốt chết. Không, giàn tế vẫn lặng im chưa thắp lửa. (không có củi, không vật tế, không chất dẫn cháy), làm sao cơn đau vang vọng tới tấp đến như thế được. Tôi tò mò, (rồi, có khi tôi cũng phải tò mò về sự hiện diện của vô khối thứ kì quặc tồn tại xung quanh mình). 

5. 

– Lửa. (đã bắt đầu có lửa)
Ngọn lửa từ trên núi vừa ào xuống. Chúng tuôn ra. Chúng chảy tràn ra như suối. Lửa biến thành biết các hình khối đặc quánh, lửa hóa gió, nhanh như gió nung đốt mọi thứ trên đường tuôn chảy của chúng. Lửa trồi lên, sụt xuống. Rồi hất tung những bó hoa lửa về phía đám đông, tạt vào giàn tế không củi, không chất dẫn cháy. Và cháy. Lửa bủa vây tạo hình thành một vòng tròn. Đám đông dạt hẳn ra khỏi vành lửa. Đám đông bắt đầu hát. Những kẻ lạ mặt tề chỉnh xiêm y bắt đầu gọi tên vật tế.
– nước.
Nước. [đám đông đáp lời]
– đất.
Đất. [lầm lũi đáp]
– cây [đám đông cướp lời]
Trăm năm bật gốc.
– biển
Cá khóc lên bờ [đám đông đáp lời]
– lúa
Lúa đương thì con gái. [đám đông lại đáp lời]
– ớt
Cay. [đám đông dụi mắt đáp lời]

Đốt.
Đốt.
Đốt.

Đám đông vốc rồi lại ném. Vốc rồi lại ném. Ném vào trong lửa. Ném vào giàn tế. Đám đông hào hứng ném. Lửa hừng hực cháy. Những con người kì quặc căng giọng ra quát và hét. Lửa càng cháy mạnh. Đám đông càng vốc vội các vật tế được gọi tên và ném cật lực cho đến khi kiệt sức. 

Gã trẻ măng cầm tệp giấy mà tôi nhớ có dáng đi khệnh khạng ấy vừa tiếp tục cất giọng gọi tên một vật tế khác. Lòng bàn tay tôi nắm chặt mẫu tự V. Tôi căng tai lắng nghe, dõi theo buổi tế kì quái ấy. Tiếng của đám đông gào lên mạnh hơn. Họ vừa gọi tên vật tế nào thế nhỉ? Hình như là nó, chữ V, (tôi câm lặng nhìn ngắm chữ V đã làm cho những ngón chân tôi biết đến cảm giác đau đớn sung sướng ấy)

Chữ V cựa quậy bật khỏi lòng bàn tay vô hình của tôi và rơi xuống đất. Chữ V nhảy độp độp thật nhanh về phía giàn tế, về phía đám đông và lũ người quỷ ám. Tôi đuổi theo chữ V, hòa vào đám đông, nhìn thật gần giàn tế. (vẫn không củi, không lửa, không thấy vật tế nào hiện hữu). Tôi ngơ ngác nhìn những cái bóng vây quanh mình đang hò hét, gào thét tên vật tế cuối cùng, “máu”.
Không một thanh âm nào bật lên đáp lại. Tôi nghe những tiếng máu rần rật chảy đâu đó, như thác, như lũ, như mưa. 

Ở phía giàn tế, máu xối xả được tạt vào trong lửa.
Máu chảy tràn xuống nằm dưới chân tôi. Chữ V bật nảy lên và nhanh chóng lao về phía đám đông, nhảy xổ thẳng vào giàn tế. Máu đang sôi. Mặt đất lênh láng máu và lửa như những dòng nham thạch từ trên núi đổ xuống. 

Chân tôi bết máu. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)
Chân tôi bết đất. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)
Chân tôi dính chặt vào nhau không tài nào tách rời ra được. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)

Tôi muốn đi. Tôi bất giác muốn đi. Chập chững tập đi. 

(đi về đâu?)

Đi về nơi có tiếng sóng. Đi về nơi có mẹ. Mẹ tôi là sóng. 

Tôi muốn ê a đọc chữ. Từ chữ đầu tiên cho đến chữ V. (Chữ V tan biến) 

Tôi tan biến. (như chưa bao giờ xuất hiện). 

Tôi là một hình hài chỉ được nghe tiếng sóng qua nhịp tim của mẹ chưa đủ chín tháng mười ngày. Tôi không phải là tôi. Tôi là vật tế cho cuộc chơi của những người lớn. 

Giàn tế thực ở đó, ngay vạt đất đỏ đó vẫn còn sót lại vài dấu vết nhỏ. Máu khô. Đen. Và bám đều lên từng cành cây nhánh cỏ khô và héo dưới ánh nắng mặt trời gắt gỏng bỏng lửa xung quanh ngọn núi hoang buồn bã, cô độc. Đám đông cũng dần tan biến mất. Linh hồn tội lỗi di trú trong không gian cũ kỹ, lạnh lẽo. Linh hồn đáng thương nấp sau mộ cỏ đẫm sương như nước mắt lặng câm không được phép cất tiếng chào đời. 

Chiều tà, bóng phủ. Một màu đen kịt hào phóng buông thả thứ hắc ám quen thuộc lên bất kì vật tế nào mà nó thích. Đám gà trống cẩu thả gáy như điên loạn trong bóng tối. 

Giá mà ngày mai trời sẽ sáng. 

Animal Sacrifice

1.

Foggy.

Fire, no.

Smoky, yes.

The smoke. Burning the eyes. On lips, bitterness. The chase was on and the bronchioles were tripping over the larynx. The deep dense sound escaped from the foot of the tongue pointedly penetrated the smoke. Like an oozing ulcer, bubbling away for a long time to suddenly explode in a release of joy and glory. The sky hid behind the fog as the light filtered through, holes through the ghostly whiteness.

A group of devilish looking people emerged from the eerie fog. It’s going to be a very sunny and hot day. The thirtieth something spring, the year for those destined to have their feathers plucked and offered up as a sacrifice to time, without an ounce of sympathy.

2.

Waiting for the crowd to dissipate, the circle of onlookers widened, the strangers (I call them strangers, because they were very strange, their faces devoid of humanity) drawn to the sacrificial fire. (on the pyre there was no firewood, no fire starter, no torch). The same circling crowd edged their way towards the same spot, their curious eyes focused on the sacrificial altar. I was amongst the crowd, moving with the crowd. And, I was tired, and the repeated movement amongst the crowd was exhausting. Crowding together, to then dissipating, to again crowding, dissipating. Screaming. Silence. The crowd was persistently confounding to a point that it was unbearable, I thought. Yet here I was again, pulled back into the crowd due to the nature of my curiosity. 

Despite it being a matter of fact for me to run with the crowd, inside this undecipherable fog, the whole thing in itself, the strange things that took place on the sacrificial altar brought to the surface a state of emptiness, a sadness like crying. I wonder if I could see the teardrops? Do they look anything like dew drops? How will I be able to tell the difference between a drop of dew and a tear, smoke or the fog?

I made a conscious decision to leave the crowd. (I didn’t feel like I belonged).

I am me. Right at this very moment, I want to make sure I am myself. An individual, sad, full of sadness?

I am me. Someone who was abandoned in a fog one day, fully aware of the smoke, the memories. A chilling fog. A mesmerising frightful fog filled with hidden death traps, predestined loss. Amidst the crowd, I was still me. The crowd can not touch me. But, to me they were not intangible. Through the shrieks, the bleakness, through their strangeness, my shapeless existence. Even though, momentarily, I’m distracted by an odd curiosity wrapped up in a blanket of fog which took place in front of me this morning.

An empty space, with a bunch of people hovering, spreading out, to then again be in a hovel pushing and shoving, howling grunts from the back of their throats. It is just that. I have never witnessed anything so simple right in front of me. Yet in front of me, was an elaborate sacrifice. A couple of the official celebrants wore wings and held scrolls of written letters (there definitely has to be letters in them, otherwise how would they start the ceremony?). An awkward young man walked at the centre of the group of celebrants, lifting the scrolls high towards the sky awashed in sunlight. The scrolls shifted a little before it began to emit smoke.

The mist dissipated. The sunlight was now harsh and burning. The sunlight pierced the letters. Their shadows were imprinted on the ground. The flickering human shadows momentarily joined together. The shadows of each word stretched out intertwined with one another, the abbreviated characters on the page fell to the ground before I could even catch a glimpse of them actually falling. I watched the letters on the ground. They were jumpy, bouncing on the earth’s flesh giving off an unusual sound. “have they escaped”, (as I did). I was at first wary, then decided on being more positive, that: “sooner or later, they would have to, escape, they would have left those useless pages the making of some sophisticated language that could never hold up the identity of the species”.

The letters continued to fall, a few words amongst them lay silently on the grass damp with dew like tears with no intention of ever moving again, remained. “The grass wept through the night. The deep tombs couldn’t bury the death floating above ground”. I mumbled, dazed, and for the last time lifted my eyes toward the empty altar. The crowd continued to rub against each other, to then leave, to then shout, to then be silenced. Reaching the blue sky, the smoke continued to curl and rise in a spire merged with the clouds.

3.

I was mesmerised by the scattered letters. They lay there unmoving, not a single twitch. I’ve gone far away from the crowd, standing on the side, away from the sunlight. (I’m fearful of the sunlight. I’m fearful of the Sun. I’m fearful of fire. I’m also fearful of smoke). Sometimes the fear overwhelms me like the endless pounding ocean waves. I missed the waves. I remembered once how I was able to listen to the pounding waves, the same rhythm as my mother’s heartbeat. But, right now, my focus was caught up in this odd sacrifice and the sound of waves suddenly turned into a fear I couldn’t escape from under the glaring sunlight.

I returned to what was unravelling in front of my two eyes as clear as drops of morning dew, I admired each and every fallen scattered character. They appear to be moving ever slightly. (It was clear they were also excited by the same sacrifice). My eyes followed them, as I thought about my mother, and the waves. I wondered where my mother was right now at this very moment? Why did the thought of her appear out of nowhere in the middle of my busy schedule, in the middle of spring, when it’s time for games and frolicking, amongst these strange adventures within an undefined light and darkness of this world? I thought about the word Mother. The letter M. (It may represent the word mother. Or it may not). Since I’ve never seen my mother. I only know my mother through the sound of waves. My heartbeat. My blood. My mother’s blood. The blood of an ocean pulsating through the sound night. Then, I thought of a different meaning for the letter M. (It could be My blood. Or maybe not). The blood all over Me after My Mother gave birth to Me for instance. I thought about Myself. Me being formless on a cold foggy night.

Suddenly, there was a scream, all were silent. Startled, I abandoned the long strand of thought unbeknown to anyone, and continued to head towards the bizarre materialising human forms through the fog.

The crowd, and the demonic faces in front of the sacrificial altar (no wood pyre, no fire, no animal for sacrifice) waiting to see how everything might play out. (so sure, I called it a game, no one had told me it was ceremonial sacrifice). It could be some sort of perceived idea that had suddenly taken shape. “What is their game?” I pondered, and there was no answer, why was there only one crowd, one altar and no wood, no fire, no sacrificial animal. Yet the sacrifice went ahead with pomp and ceremony, the black gas continued to wrap itself around the clouds in the brilliant sunlight. Then just like that, I was bored. Such boredom often followed, after the exciting beginning of any of my new games. It’s always there hovering in my formless breath.

4.

One lovely sunny day.

I believed I had to leave, I must leave this place when I can still bear such spasmodic boredom. I walked away from the altar, I walked away from the crowd, I walked away from the activities of the sacrifice in preparation for the coming spring. I wanted to set myself apart so that I was able to sit on the barrow and ponder what I saw. The tumulus then became more sombre since the night I had left to be alone, to humour myself. The tumulus steeped in dew then was now arid in light of the harsh sun, devoid of its damp green freshness.

Even though I was no longer an attendant of the sacrifice, my mind was continuously drawn to it. How will the game unravel? What will they do with an altar without firewood, without fire, without animal sacrifice, nothing but a crowd, a couple devilish looking celebrants that in my entire life have never seen. I thought then of my mother, and the waves. I don’t know what my mother looks like. I could only recall hearing the sound of waves. Clearly my mother’s face was a picture of waves. Actual waves. What if the waves were actually my mother?

On the dry and withered barrow, I sat not far away from the ceremonial sacrifice, I was able to watch the letters, and saw what happened after they fell onto the ground from the scrolls in the celebrants’ hands, they were making their way towards me. The letters popping like popcorn on the ground, breathless. Under the blistering sun, they dragged themselves towards my mound of dead dry grass. What took place was as clear as day. Yet still, my eyes were dreaming of moist green grass (all of course in my imagination, there is no such thing as a patch of wet grass at noon). I was inflicted constantly with these incongruous dreams, the opposite to what was supposedly true. I was suspicious of myself. I was suspicious of the Sun. I was suspicious of the light. I was suspicious of the game those people were playing. Yet still, I wanted to participate, wanted to know how everything might turn out. The strangest thing. Then out of nowhere, an endless sadness overwhelmed me, I was a tiny pure soul thirsting for more and more of the world.

Again, I head towards the altar and the crowd. I wanted to watch the letters fall out of the scrolls and see what they might do next. The letter C stretched out like bowstrings pointing at the sky, swaying ever slightly, a startled bird flying far from its flock fell, kerplop to the ground, right next to me. I lifted the bird’s wing and a few drops of blood fell out, and the dry grass was suddenly green again, moist with dew. The tiny bird was dead.

Bending low, closer to the ground, I looked for more of these letters. More letters must have fallen from the scrolls. There was the slow and lethargic L, not energetic like C, was making its way towards me. L stopped, broke down on top of the grass, and started to cry. Its cries were much like that of tiny critters, like worms and crickets, like cicadas, like bees, like the blood-thirsting mosquitos in the dark. I was also fully aware that the cries were silent. The kind that gets choked up in my throat, the painful kind. (I have never audibly cried). Yet, there I was, thinking about the sound of those waves. Perhaps it was me who was actually crying. I would then chase these thoughts, these obsessions on the arched entrances of those L-shaped houses. They brought nothing but death.

Hypnotised by the letters around me, I forgot about the crowd and the sacrifice, indefinitely in front of me. I was momentarily distracted by the letters, by all the capital letters fallen from those baffling white pages. Wondering what other letters will fall out in this interesting game. I felt something tickling the pad of my feet, (all of this was in my head of course, my undefined toes, not fully formed roundly in my mind), they were wriggling, then I could feel there was actually something there. I shifted my feet on the tumulus, unravelling each smoky corpse at a time, confirming the possible existence of an encounter with the strange phenomenon for the first time ever in my whole life. I had a closer look, the pointy tip of the letter V, was pointing straight up, touching the bottom of what looked like my big toe. (my big toe). The letter V didn’t know what to make of me. The letter V made me sad. The sadness skin deep beneath my imaginary skin. The skin yet formed like everything else. The sadness penetrated deeper, infiltrating my imaginary bloodstream. It was clear, I had deliberately abandoned anything that has to do with my possible existence. And I did not pause for a moment to question my existence, my mother’s, or the reality of those quivering waves hidden in every layer of my awe-inspiring memory. 

I picked up the letter V, I admired it beneath the escaping light through the black clouds overhead. Suddenly from the crowd and the altar was a speechless shriek, it was as though some living thing was being burned alive. But no, the altar was in complete silence void of any kind of fire. (no firewood, no animal offering, nothing to kindle the fire), how could there be such an incredibly painful cry. I was now really curious, (like, anyone would be curious about anything which was strange around them).

5.

– Fire. (now there’s fire)
The fire descended from the mountain. An escalating flash fire. Overflowed like water in a spring. The fire taking up all forms, sometimes thick, sometimes much like the wind, a scorching wind which consumed everything in its path. The fire rose and then died out. Spitting amber rosettes at the crowd, sweeping over the pyre void of wood, void of fire starters. And it burned. The surrounding fire formed a circle. The crowd moved completely away from the circle of fire. The crowd began to chant. The strangers in ceremonial dress began to call out the names of what will be sacrificed.
– water.
Water. [the crowd replied]
– earth.
Earth. [the crowd replied all at once]
– trees [the crowd took the words out of the celebrants’ mouths]
Hundred-year-old uprooted.
– sea
Weeping fish out of water [the crowd replied]
– harvest
If not the harvest then the virgins.  [the crowd replied all at once]
– chilies
Hot. [the crowd replied as they rubbed their eyes]

Burn.  
Burn. 
Burn.

The crowd was picking and throwing. Picked and threw. Throwing whatever they could into the fire. Throwing whatever they could at the sacrificial altar. The crowd enthusiastically threw at the fire. The fire burned with passion. The strange-looking celebrants were shouting. The fire was burning even stronger than ever before. The crowd rushing picked and threw each item of sacrifice faster and faster with all the strength they could muster to the very moment they were spent.

The young guy with the awkward stride continued to call out each item of sacrifice one after the other. I tightened my grip on the letter V. Intently I listened for the next sacrifice, following every step of this strange sacrifice. The crowd was now screaming even louder. What was the last sacrifice they called out? It might be it, the letter V, (silently I admired the letter V that had brought so much pain and joy to my toes)

The letter V wriggled itself out of my shapeless hands and fell to the ground. The letter V hopped quickly towards the altar, the crowd and the devilishly possessed people. I chased after the letter V, merged with the crowd, eyes focused on the altar. (still with no firewood, no fire, no actual sacrifice). Confused, I surveyed the screaming people around me as they screamed out the last sacrifice, “blood”.

There was not a single reply. Then somewhere was the sound of blood gushing, poured like a waterfall, like flood water, like torrential deluge.

Blood was then thrown at the fire, at the altar of sacrifice.

The blood overflowing met my feet. The letter V quickly jumped, headed straight for the crowd, right onto the altar. The blood was boiling and bubbling away. The ground was glossy with sticky blood and the fire was like a flow of volcanic lava.

My feet were sticky with blood. (my unformed toes)

My feet were sticky with blood. (my unformed toes)

My feet were stuck together and there was no way of separating them. (my unformed toes)

I wanted to walk. I suddenly wanted to walk. I wanted to learn how to walk.

(walk to where?)

Walk towards the sound of waves. Walk to where my mother might be. My mother was the waves.

I want to learn how to ee a read the letters. Beginning with the first letter, which happened to be the letter V. (The disintegrating letter V)

I was disintegrating. (as though I was never there).

I was a manifestation that could hear the sound of waves through my mother’s heart yet fully nine months and ten days. I was not yet me. I was the sacrifice for a bunch of adults playing a game.

The real sacrificial altar, right at that patch of red earth, right where there were still remnants of evidence. Dried blood. Black. An even spatter on the branches and blades of withered dry grass under the scorching sunlight surrounding a sad, desolate and lonely mountain. The crowd gradually also disintegrated, disappeared. The sinful souls presiding in this ancient, chilly place. The pitiful soul hiding behind the tumulus damp with dew much like tears silent without ever being allowed to utter a word, to ever be born.

The late afternoon was a blanket of shadows. Something soundly black generously threw upon whatever sacrifice they deemed fit a familiar darkness. Within the chaos of the dark the roosters were frantically crowing.

Will there be light. Tomorrow.

July 2021

Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The wall inside a bottle of Tequila

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh
Published May 2020 on LITVIET 

https://litviet.wordpress.com/2020/05/23/tran-bang-khue-buc-tuong-trong-chai-tequila/?fbclid=IwAR2Pl-pgIcyYgbjwEpXjBhyV3mCPlTZYtGyvW3P7azsVGnyWq42r1HgWN_E

Bức tường trong chai Tequila

Trần Băng Khuê

1.

Gã có thói quen mỗi buổi sáng thức dậy, gã thường tợp một ngụm Tequila và nhìn chăm chăm vào bức tường. Sau đó mới rời khỏi nhà, đến công sở. Nơi nào gã đến cũng có một bức tường tương tự như thế. Chỉ thiếu mỗi Tequila. Những bức tường xuất hiện ở khắp mọi nơi. Chỉ Tequila là không thể. Gã phải đến quán rượu. Ghé quầy bar của lão họa sĩ già. 

Gã đã cố suy nghĩ xem, tại sao, người ta dựng nó lên thành các loại hình dạng. Vuông, chữ nhật, tam giác, và rồi tự nhốt chặt chính mình vào trong đó. Hoặc là, họ quá khờ khạo. Hoặc là, họ quá u mê. Hoặc là, họ chẳng thể nào đủ dũng cảm đập bỏ nó đi. Bạn gã đến nhà, nhìn thấy bức tường quái đản ấy, chỉ cười trừ, rồi lầm bầm trong cổ họng những âm vực trầm đục như tiếng của địa ngục vượt thoát lên từ lỗ hổng nào đó trên mặt đất: “một tấm gương không cần soi vẫn có thể thấy được những hình thù của quá khứ và tương lai”. 

Gã cần gì tương lai? Gã muốn biết cái thứ hiện tại này có thể khiến gã hài lòng hay chưa? Những bức tường, chúng thật sự rất chập chờn, đầy mộng tưởng huyễn hoặc đối với cư dân ở xứ sở này. Gã nghĩ vậy. Họ cũng chẳng khác gì gã. Họ chỉ là những con trâu ngoan ngoãn lầm lụi đi theo những luống cày từ lúc mặt trời lên đến khi tối mịt. 

2. 

Quán rượu của lão họa sĩ già cũng có những bức tường. Chúng được quết một màu xám xịt như tro than. Mỗi lần bước chân đến quán, sau khi nốc một cốc Tequila, gã bắt đầu lảm nhảm về thứ gì đó không thể thoát ra khỏi cổ họng. Nhưng, lão họa sĩ vẫn nghe được: “những mặt phẳng tù đọng”. 

Những mặt phẳng, gã thừa biết, nó tồn tại sừng sững như một sự hiển nhiên, một sự thách thức lì lợm, từ lâu lắm rồi. Gã không thể làm gì được. Phải, cũng chẳng ai dám làm gì, bởi trong tay họ không một tấc sắt. Rõ ràng, khi người ta muốn đập bỏ thứ gì đó, ít nhất họ phải có vật dụng cứng hơn. Ai chẳng hiểu điều ấy. Gã chỉ là một gã đàn ông, tay không tấc sắt. 

Hôm qua, khó khăn lắm gã mới lặng lẽ mở cửa bước chân ra khỏi nhà. Gã tính sẽ đi tìm một vài thứ cứng hơn bức tường. Chẳng hạn, những thanh sắt, hoặc chiếc búa tạ. Chúng có thể giúp gã đập bỏ những bức tường đó. Gã đến quán rượu quen thuộc. Gã ngồi xuống chiếc ghế cao của quầy bar. Gã gọi Tequila. Và hỏi lão họa sĩ già về một thanh sắt. Lão ậm ừ mân mê chai rượu, rót thêm một cốc nữa. Gã nốc hết. Rồi, tiếp tục lẩm bẩm hỏi. Vẫn là về thanh sắt hoặc chiếc búa tạ. Lão rền rền giọng: “lại Tequila chứ?”. Vừa nói, lão vừa rót tiếp ra một cốc khác. Lão uống. Tequila nóng bừng, cháy từng ngụm trong cổ họng gã. Như ai đó đổ một lốc thuốc độc đang tan rửa dần đến dạ dày. Men rượu xộc lên mũi. Gã không nghe mùi Tequila. Bất giác, gã nhớ cái hương cafe. Chúng thơm nghẹn con đường trẻ dại ngày xưa mỗi lần gã đạp xe đi về. Bây giờ, gã chỉ ngồi tưởng tượng về nó như một khối hình hài không đầu không cuối, không định lượng được chiều thời gian đi tới hay lùi. Gã nhớ đứa con gái mắt cười lúng liếng, tóc dài ngang lưng đã từng thề nguyền cùng gã. Nàng rời xa gã chưa bao lâu thì phải. Khoảng cách chỉ là một chiều thời gian. Gã biết, những chiều thời gian chưa bao giờ chết. 

Những bức tường màu xám. Bất cứ điểm đến nào, ánh mắt gã cũng chỉ xoáy vào những bức tường màu xám. Tequila là thứ dư vị khiến gã cảm thấy có một chút hứng thú, mộng mơ. Hóa ra, gã đã từng nhảy những giai điệu mambo trong cơn cuồng say của thời trai trẻ. Một cốc Tequila biến gã thành một người đàn ông đầy tràn tình yêu và sức sống. Hai cốc Tequila, ba cốc Tequila, gã chết chìm trong những bức tường màu xám. Gã vẫn ngồi trong một quán rượu nhỏ, nơi chỉ có những bức tường màu xám vây quanh mình. 

Vài nơi khác, gã đến, những bức tường không giống với quán Tequila hoặc ở nhà gã. Chúng lồ lộ tô trét đủ loại màu sắc lòe loẹt. Gã nghĩ có lẽ nó chỉ đang cố tình lừa đảo nhãn quang hời hợt của kẻ khác. Nhưng, với gã, tất cả chúng đều là màu xám. Tất cả những ẩn giấu đều nhân danh màu xám. Sự thật ở bên trong vài hình khối cơ bản mà người ta cố tình tạc dựng nên. Hoặc vốn dĩ nó đã nằm phía sau những bức tường màu xám. Chẳng hạn như tối nay, tại quán rượu này, gã đã nhìn thấy nó qua thứ ánh sáng mờ ảo của những bóng điện hình trái ớt. Bức tường lập lòe. Bức tường nhảy nhót. Bức tường say mèm men rượu Tequila. 

Tối nay, gã không uống Tequila. Gã gọi bia. Chúng nhạt thếch. Không đủ chếch choáng. Choang. Một tiếng vỡ rơi xuống nền nhà. Lão họa sĩ già cười hềnh hệch, cầm chai Tequila chỉ còn vài giọt dưới đáy lên tu nốt. Sau đó, lão ném về phía bức tường màu xám. Những âm thanh rơi xuống nền nhà. Vỡ. Bức tường bết thêm màu vàng chanh của Tequila. Gã hoa mắt. Gã nhìn thấy cái thứ chết chóc linh nghiệm từ nhiều thế hệ đang quét lên bức tường màu xám của mình, như một vận mệnh hoặc sự ám ảnh nào đó từ trong tiềm thức quen thuộc. 

Gã lảo đảo đứng dậy, rời khỏi quán. Đêm lảo đảo trong cơn giông rạch xé ngang trời, dù rằng vẫn có sao và trăng. Lẽ dĩ nhiên, gã chẳng thể nào tìm được một thanh sắt, hay một chiếc búa tạ để mang về. Gã cần phải đập bỏ bức tường ở nhà gã. Chúng vẫn lõa lồ chờ đợi gã mỗi đêm. Hoặc quét qua mắt gã sự phản chiếu bởi mặt trời buổi sáng tràn vào những ô cửa kính. Nhàm chán. Ý thức của gã cũng chỉ là một bức tường bị phong kín. Chúng được tạo nên từ máu và những sợi neuron thần kinh. Bức tường này, cũng đang cần được cứu rỗi, cần bị phá bỏ. Gã không cần biết lí do. Gã chỉ thấy rằng, nó cần được phá bỏ. Dù sao, điều đó giúp gã quên đi những ám ảnh từ bức tường trong tâm tưởng. Chúng đã tồn tại lâu quá rồi. Nhưng, gã vẫn chỉ là một thằng đàn ông tay không tấc sắt. 

3.

Sáng nay, gã không ra khỏi nhà. Gã nghỉ việc. Dù là ngày đầu tuần. Dù sếp của gã là một mụ đàn bà mắt hí, môi dày, đầu rất to, chỉ biết gào thét, rất hay nhìn đồng hồ, và chăm chăm theo dõi các nhân viên qua chiếc camera mới lắp. Gã không ghét bỏ gì cái con người ấy. Gã chỉ thấy buồn, thấy hài hước mai mỉa thay, xung quanh gã còn bao nhiêu kẻ bị những bức tường như thế ngăn cách và ràng buộc hàng ngày hàng giờ bởi một vài chiêu trò ủy mị kém cỏi? Gã đã cố tình nghỉ việc. Gã sợ gì sự ghét bỏ, dập vùi của kẻ khác. Gã sợ gì mụ đàn bà ấy. Gã từng hỏi bà ta về một cái chày bằng sắt. À, gã hỏi vu vơ. Và bà ta, dĩ nhiên cũng ngu ngơ nhìn gã chằm chằm như người từ hành tinh khác xuống. Gã không định giết người bằng cái chày sắt. Gã muốn đập bỏ bức tường trong phòng làm việc của gã. Kể cả những chiếc bàn giấy, chúng chiếm hết phần lớn không gian và được kê sát tường. 

Gã chưa bao giờ cảm thấy mình nên dành một yêu mến nào đó với những người đàn bà. Thi thoảng, gã nhíu mày khi nghĩ đến vợ. Nàng cũng là một người đàn bà, người đàn bà đang ở trong những bức tường cùng gã. Vậy mà, từ khi cưới nàng về, gã chỉ là một bức tường màu xám lạnh lẽo đối với nàng. Cuộc sống của gã và nàng nằm trong một vòng tròn khép kín, đơn điệu, nhàm chán. Buổi sáng, nàng đưa con gái đi học. Chiều gã đón về. Công việc được chia đều theo lịch ngày và tuần. Thời gian ở nhà, gã với nàng mỗi người một góc, như hai cái bóng quay lưng lại với nhau. Nàng không nói. Gã không mở miệng. Mối quan tâm chung của gã và nàng là đứa bé ba tuổi hồn nhiên líu lo kể chuyện về những gì diễn ra nơi ngôi trường của nó mỗi ngày. 

Những ngày cuối tuần, nàng và con về ngoại. Gã thường làm vài việc khá kì quặc. Gã sơn lên bức tường đó một màu đỏ quạch như phù sa châu thổ. Chán, gã lại đợi đến cuối tuần, vợ con đi khỏi, tiếp tục đổi màu bằng cách tẩy xóa nó đi. Màu sắc có thể gây nên sự phấn chấn và kích động khối não bắt nó phải làm việc, phải sáng tạo, phải tìm đường. Gã vẫn thường mơ về những thanh sắt. Chúng có thể đập vỡ bức tường của gã. Vài lần, vợ gã cũng để ý đến bức tường ấy. Nàng không nói một tiếng nào. Nàng xem đấy là thứ trò chơi kì dị của chồng. Nàng tôn trọng điều đó. Gã thầm biết ơn nàng. Nhưng, giữa nàng và gã vẫn có một khoảng cách rất lớn. 

Con gái gã bốn tuổi. Gã với nàng vẫn cách nhau một bức tường trong căn hộ thuê. Con gái gã khá xinh và ngoan. Nó giống mẹ. Chỉ có gã, chẳng giống ai. Ngày gã ra đời, những người đến thăm đều thì thào với mẹ: “nó chả giống ai”. Mẹ gã khóc ướt gối mỗi lần bà nội chì chiết: “nó chả giống ai”. Gã vào tuổi dậy thì, bà vẫn bảo: “nó chả giống ai”. Gã chẳng thể nào hiểu nổi. Bố gã nghiện rượu Tequila. Những lần bố uống say khướt, bò lết về nhà, và lải nhải với mẹ bằng những thanh âm lên men mà gã nghe thấy: “nó chả giống ai?”. Gã nhốt mình trong phòng. Gã tạo ra một bức tường kín mà không một kẻ nào có thể bước chân qua được. 

Gã chẳng thể giống ai. Rõ ràng là thế. Khuôn mặt này, từ đâu đến, gã phân vân đi tìm câu trả lời mòn mỏi gần như nửa đời. 

4. 

Gã quyết định rời xa nàng một thời gian, để tìm cách xóa bỏ những bức tường màu xám. Gã chuyển công tác. Nơi gã đến là một thành phố khá trầm, buồn. Sếp của gã cũng không phải là một mụ đàn bà sồn sồn mắt hí và môi dày, suốt buổi nhòm đồng hồ, lấm lét liếc dọc liếc ngang nhìn ngó vào chiếc camera để xem nhân viên của mình có trốn công sở hay chăng? Gã cảm thấy một chút hưng phấn nơi mảnh đất này. Có điều, những bức tường vẫn dựng lên trước mặt gã hàng ngày. Chúng mỗi lúc một cao ngất, đến mức ngập mặt gã. Đẩy gã chúi xuống tận cùng, khiến gã trở nên nhỏ bé như một lũ kiến. 

Gã nghĩ về người đàn ông độc thân. Cái thời gã nhiều mộng mê nhất, nhiều lí tưởng nhất. Cái thời gã ngây thơ hát vang những lời nhảm nhí trên giảng đường. Gã nghĩ về bức tường trong căn phòng của gã. Gã nhớ quán rượu Tequila của lão họa sĩ già.

Gã ít liên lạc với vợ, nhưng vẫn gọi điện đều đặn cho con gái. Cô bé kể về bức tường, kể về một vài thứ sắc màu mới mẻ, kể về một người đàn ông già thường xuyên đến nhà. Gã im lặng, như bức tường màu xám của gã vậy. Gã nghĩ, có lẽ cũng đã đến lúc phải đập vỡ nó. Gã muốn biết phía sau là thứ gì? Tâm hồn màu xám hay những ẩn ức giấu kín? Gã không thể hèn nhát mãi được. Bản năng của con người như những đợt sóng ngầm. Chúng chỉ giả vờ hiền lành, lặng lẽ và đợi chờ thời điểm để hóa thành cơn bão lớn, cuốn trôi tất thảy xuống đáy sâu vĩnh viễn. 

5. 

Mùa hè. 

Gã về thăm con gái. 

Sau đó sẽ là quán rượu Tequila. Vợ gã đã sơn lại bức tường. Chúng có màu vàng chanh. Như màu Tequila. Bất giác, gã thấy lòng mình dịu lại một chút. Cái màu vàng chanh khiến gã hào hứng với thứ cảm xúc khác lạ đang chảy tràn đâu đó. Gã hỏi con gái về một người đàn ông. Vợ gã im lặng. Gã nhìn thấy những bức tranh mới mẻ hình như vừa được treo lên tường. Bức vẽ chai Tequila và một cái cốc đập vào mắt gã. Trong chai Tequila là một bức tường màu xám xịt. Gã vẫn chỉ là một thằng đàn ông tay không tấc sắt. Nhưng, gã đã biết cách để đập vỡ những bức tường. Chúng sẽ hóa thành tro bụi sớm thôi. 

Gã đến quán rượu của lão họa sĩ già. Gã hỏi về bức tranh vẽ chai rượu Tequila. Lão rót một cốc đưa gã và nói: “Cậu nên đập bỏ chúng, sau khi uống nốt giọt cuối cùng”. Hóa ra, lão ấy biết gã muốn gì. Hóa ra, trong chai Tequila của lão là bức tường màu xám mà gã mong muốn được đập vỡ nó. 

Gã vẫn biết ơn nàng. Người vợ buồn khổ đáng thương của gã. Nhưng, lúc này, gã sẽ làm cái công việc ấy. Thay vì, đi tìm một thanh sắt, gã sẽ nhốt một bức tường vào chai Tequila và ném xuống sàn nhà.

The wall inside a bottle of Tequila

1.

He has a habit of downing a shot of Tequila each morning, to then stare at the wall. Before leaving the house for the office. Wherever he’s at, there’s a wall like that. Missing only the Tequila. The walls appear in all sorts of places. Except for the Tequila. He has to go to a bar. He would drop into a bar owned by an old artist.

He sat puzzling over, why, people would erect them in all shapes and sizes. Square, rectangle, triangle, and then lock themselves inside them. Maybe, they’re rather naive. Maybe, they’re rather dim-witted. Maybe, they don’t have enough courage to knock it down. A mate dropped by his place, seeing the freaky wall, chuckled, mumbling something ominous coming from the back of his throat, as though some sort of thick hellish resound escaped from a hole somewhere around the globe: “a mirror that does not reflect could still reveal the past and the future”.

Does he need a future? Does he like to know if the present is satisfying enough for him? The walls, they’re precarious, full of fantastical common delusions adopted by the natives of this land. He thought. They’re no different to him. They are dutiful oxen ploughing, quietly following each and every furrow from the sunrise till dark.

2.

The bar owned by the old artist also has these walls. They’re entirely plastered with a deep ash grey. Each time stepping into the bar, after a shot of Tequila, he starts to incoherently mumbles about something that fails to escape his throat. But, the old artist could still work out: “those flat smooth incarcerated faces”.

The flat smooth faces, he’s more than know, like some matter-of-fact rude existence, some kind of obstinate test, for a long time now. There’s nothing he could do. Yes, and neither could anyone dare to act, because within their grasp not an inch of iron. Clearly, when people want to destroy and get rid of anything, to the very least they need something hard. We all know that. He’s nothing but a man, hands devoid of iron.

Yesterday, only with great difficulty he opened the door to leave his house. He decided to look for something harder than the wall. For instance, iron rods, or a sledgehammer. They will help him break down the wall. He dropped into the familiar bar. He sat down on the stool at the bar. He called for a shot of Tequila. Then asked the old artist for an iron rod. The old man mumbled as he caressed the bottle of Tequila, pouring another shot. Downing it. Then, asked under his breath. Still about the iron rod or the sledgehammer. His words slow, stretched out: “Tequila again?”. As he spoke, he poured another shot. Downing it. The Tequila was hot, and each shot burning ran down his throat. As though someone was slowly pouring poison, the hot cleansing liquid dissipating disappeared gradually down into his intestines. The spirit assaulted his nostrils. But he couldn’t detect the taste of Tequila. Unconsciously instead, he detected the scent of coffee. It overwhelmed the alleys of his childhood, days riding home on his bike. Now remained are vivid hallucinations of a past without a beginning nor end, without a definitive movement of ever going back or moving forth. He remembered his daughter’s eyes smiling, hair a length across her back had once sworn to him. She’s left him for a while since he thinks. Separation is nothing but a mere afternoon in time. He knows, those afternoons shall never die.

The grey walls. No matter where he’s at, his eyes would be drawn to those grey walls. A fantastical excitement is induced in him through the flavour of Tequila. It turns out, he had once danced the mambo in a youthful bout of drunkenness. One shot of Tequila can turn him into someone passionate and full of life. Two shots of Tequila, three shots of Tequila, he’s drowning inside the grey walls. Still, he sits in the tiny bar, subdued by the grey walls.

The other places he’s been to, their walls were different from the Tequila bar and his house. They’re gaudy in exaggerated hues. He thought they were just trying to deceive their guests. But, to him, they’re all in grey. All hiding the underlying grey. The truth within some deliberately erected edifices was deceitfully deflected. Or perhaps they’re simply hidden behind grey walls. For instance, like tonight, here in this bar, he’s witnessed it for himself through the hazy light of the lamps in the shapes of chillies. The walls were bleeding colour. The wall dancing. The walls were drunk with Tequila.

Tonight, he won’t drink Tequila. He ordered a beer. Extremely bland and tasteless beer. With barely enough of a punch. Weak. A sound of something shattered on the floor. The old artist laughed hysterically, holding up the bottle of Tequila with a few drops left at the bottom of it before he took the last sip. Before he threw it at a grey wall. The noisy assault spread rudely across the bar room floor. Shattering. Adding a lemon Tequila yellow smudge on the wall. His eyes were blurry. He saw death like a curse released from generations long gone in a stroke across his grey wall, from within a knowing subconsciousness a possessed destiny.

Swaying, he stood up, and left the bar. The night swaying amidst a storm tearing across the sky, though the Moon and stars had made their appearances. And of course, he couldn’t find a single iron rod, nor a single sledgehammer. He needs to knock down the wall in his house. They were also very obviously waiting for him every night. Or were there across his eyes reflective strokes of morning light via the window pane. Boring. His consciousness is simply sealed walls. A creation of bloody neurons and nerve fibres. This wall also needed to be decimated, to be free. He does not require a reason. He just knows that it needs to be destroyed. No matter what, it has been in existence for too long. But, he’s still a man without an inch of iron.

3.

This morning, he didn’t leave the house. He took a day off even though it was the start of the week. Even though his boss is a woman with no eyelids, thick lips, big head, knows only how to shout not talk, continuously checking her watch, and fastidiously watches her staff through the new state-of-the-art security system. He has no time for those kinds of people. He thinks it’s sad, and hilarious, all around him are people closed in and divided by the walls every day every hour of the day by such small acts of limited sentiments? He deliberately took the day off. He’s not afraid of humiliation or abandonment. He’s not afraid of women like her. He has once asked her about attaining a steel pestle. Yes, an off-hand thoughtless query. The stupefied woman stared at him like he was from another planet. It’s never his intention to kill anyone with the steel pestle. He just wanted to smash the wall inside his office. Even the office table, it took up most of the room though it’s set against the wall.

He has no desire or affection for women. His brows would furrow with the sporadic thought of his wife. She’s also a woman, a woman living with him inside the walls. Yet, from the day they were married, he’s nothing but a grey wall to her. Their life is inside a closed circle, dull, monotonous. Each morning, she takes their daughter to school. Each afternoon he would pick the child up. The errands were fairly divided equally by the clock each week. At home, they’re both at their corner, two spectres with their back to each other. She does not speak. He never opens his mouth. They share one single concern, the chatter of an innocent three-year-old with stories of what happened at school each day.

At the end of each week, she and the child visit her parents. He would be up in his odd ways. He paints his wall with a bright red delta alluvial hue. Bored, he would wait till the end of the week, after his wife and daughter left, he continues to change the colour by erasing the latest colour. Colours induce in a person’s mind the desire to function, create, seeking release. He often dreams of the metal rods. They have the power to destroy his wall. A couple of times, his wife did glance at the wall. She never utters a word. She sees it as his odd hobby. She respects it. And he’s quietly thankful. But, the separation between them is rather extensive.

Their daughter is now four. He’s separated from her by a wall in the rental property. His daughter is rather pretty and obedient. Like her mother. But for him, he’s nobody. When he was born, people visiting his mother would note quietly: “he doesn’t look like anyone”. His mother would weep miserably each time her mother-in-law complained: “he doesn’t look like anyone”. He will never get it. His father can’t live without Tequila. Each time his father was so drunk, he staggered home, always blabbering something incoherent, but to him, it sounded like: “he doesn’t look like anyone?”. He would then lock himself in his room. He’s built a wall so thick; no one could surpass it.

He’s a nobody. It’s clear. This face came from where he puzzled over it, looking for an answer it seems for nearly half of his life.

4.

He made up his mind to leave her for a while; he wants to find a way to destroy the grey wall. He moved to a different branch. His new office was in a rather sombre, and sad town. His boss is no longer an overweight middle-aged woman with single eyelids and thick lips, constantly looking at her watch, constantly looking sideways at the security screens, watching her employees trying to skip work or not? He was a little excited about the new surroundings. Except, the walls kept appearing in front of him every day. They’re sometimes so big, to an extent where they overwhelmed his entire line of vision. Impelling him down a level, that made him feel like an ant.

He ponders about being single. The peak of his aspirations, was when he was the most inspired. A time when he innocently sang out loud lumbering nonsense in the middle of the road. He thought of the wall in his room. He misses the Tequila bar owned by the old artist.

He hardly spoke or contacted his wife, though he would regularly ring and talk to his daughter. The little girl mentioned the wall, spoke about the new colours on the wall and spoke of regular visits from an old man. He was as silent as his grey wall. He thought, maybe it’s time he breaks it. Does he want to know what’s behind it? The greying spirit or hidden regrets? He can not be a coward forever. The human instinct is like an underwater current. They’re only pretending to be calm, but are quietly waiting for the moment to turn into a tsunami, pulling along with it everything into the depths of forever.

5.

Summer.

He returned to visit his daughter.

Then dropped by the Tequila bar. His wife has repainted the walls. They’re now a lemon yellow. Like the colour of Tequila. Not knowing, allowed him to feel that bit calmer. Out of nowhere an odd excitement overwhelmed him in light of the lemon yellow. He asked his daughter about the man. His wife was completely silent. There were various fresh paintings hanging on the wall. A painting of a bottle of Tequila and a shot glass smack bang caught his eye. Inside the bottle of Tequila was a dark grey wall. He’s still a man without an inch of iron. But, he now knows how to destroy the walls. They shall all soon turn into ash.

He dropped into the bar owned by the old artist. He asked about the painting with the bottle of Tequila. The old man poured him a shot and said: “Son, you should destroy them, after swallowing this last drop”. It turns out, the old man knew. It turns out, inside the old man’s bottle of Tequila was a grey wall that he had wanted to destroy. 

He’s indebted to her. His beloved wife. But, for the moment, he has to act. Instead of trying to find an iron rod, he will lock the wall inside a bottle of Tequila and smash it on the tile floor.

(May 2020)


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

there was something at the bottom of the lake

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

“Fish that thing out from the bottom of the lake”. I mumbled as I stepped onto the grass. What were they supposed to be? I’ve never heard anyone talk about them, not even once. Yet, they’re using them as an excuse to manipulate me. They pulled at my hair. They’ve thrown me onto the grass. The clumps of grass desiccated and burnt. Rough and scruffy.

The grass burned in the middle of summer, right by the lake. Glaring, they snapped: “you better fish that thing out from the lake”. The corners of my lips drooped as I mumbled: “but, what’s down there in the lake?”. There was no reply. Not a single sound, not a threat. The overwhelming silence was spread across the glassy surface of the lake. My knees gave way, I collapsed on the grass, my hands were behind my head as though at gunpoint, I had to surrender. Even then, I had no idea what was at the bottom of the lake. They were as mysterious as the surface of the water. They were just as glaring as the face of the lake. They were as deceptive as the waters in the fall. Who is manipulating me? Who had forced me to kneel? Who made me put my hands behind my head and forced me to stare powerlessly at the seemingly peaceful body of water. I don’t know. I was completely removed. Even if I had the sense to work out who the enemy was, I couldn’t turn around and grab their hair, tide them up, or bind their hands. There was no one behind me. Definitely no one behind me.

At an hour, when there was not a single light on. Only those who had lost their mind were in the street. I have no desire to roam the street. But, there I was clearly on the sidewalk. It was nuts. I was on the sidewalk hovering in the dark, in the darkest part of town in the middle of the night. But, I was definitely not any madman. I have never once lost my mind. I clearly remember being on my bed watching an American movie. At this time, I had no desire to leave the house, run around in the alleyway, chase after ghosts.

Yet, there I was, maybe I’d been kidnapped. Not a single finger on my hair. Not a single thud on the ground or audible footsteps. No one screamed, tied me up. And, there was not one shadow following me from behind. Then, why, why was I able to discern all of it, the invasive orders in red ink, the whispers in my mind? Who were these people? Were they human? Ah, if they were not human then they must be demonic. If not demons, then they may turn out to be angels. If not angels then they were nothing of consequence. Too many choices made it hard for them to be saintly, or demonic, they were simply human. Human beings are fearful creatures. Saints and demons are the manifestations of humankind. Heaven and earth exist only in the human mind. Most are destined for a living hell. All must walk across hot coals, in divine acclimation for the right to pray, and a chance of redemption. No one is spared from prayers of redemption. Since sins were born from the garden of Eden. I won’t judge. But does God have the right to judge? 

I thought about what was defined as sin. I have definitely committed a sin. Hence, they’re punishing me right now? But what sin have I committed? I looked down at the burned grass for an answer in the dark. I lifted my eyes unblinking towards the watery surface, and wondered whether there was an answer deep within the lake like depths of the universe. There was not one reply. The lake was as still as the night. Though the lake will not stay still that way like the night. Since, no matter how much light there is anywhere, it will always be very dark to me.

“Just take a step forward and fish out what’s at the bottom of the lake”. This time, the moaning voice was firm. My shoulders drooped. My hands were still behind my head. I shuffled forward slowly on my knees. The surface of the water remained placid. The water was sound with the colours of the universe. So, what’s at the bottom of the lake? Why did I have to listen to these formless voices, pulling my hair, screaming inside my head?

Something was at the bottom of the lake                                                          Something was at the bottom of the lake                                                                              Something was at the bottom of the lake

The water began to bubble as soon as I reached it. Plop, plop, plop. The drops grew faster gushing like a waterfall over the lake. But, nothing came up from the bottom of the lake. My hands were still restrained at the back of my head. I was still on my knees on the burned grass. What was I supposed to fish out from the bottom of the lake, and how was I going to do it?

The sound of whatever was dropping stopped. And, a huge shadow gradually emerged from the lake. A water monster maybe? Or maybe my ancestors? Oh, it was just a turtle. I’ve seen it somewhere before, possibly? It was just an ancient turtle, a thousand years old. Maybe my ancestry could be traced back to this old turtle? How was I supposed to fish anything from the lake with my hands bound behind my head?

I scanned the old paper articles this afternoon. Apparently, last night they trapped all the light in a huge glass jar and threw it into the lake. While they sat in a secluded room, exchanging the secrets we all know about.

I will fish the light from the lake. I will fish out the redemptions slowly sinking in layers at a time to the bottom of the lake, seemingly placid like this country’s night sky.

April 2022

—–

thứ gì đó ở dưới đáy hồ

“Cần phải vớt cái thứ dưới đáy hồ ấy lên”. Tôi vừa đi vừa lẩm bẩm khi đặt chân đến bãi cỏ. Chúng được gọi tên là gì ấy nhỉ? Chẳng ai nói với tôi về chúng cả. Vậy mà, họ vẫn luôn luôn điều khiển tôi bằng mọi cách. Họ túm tóc tôi. Họ đã ném tôi vào bãi cỏ. Những luống cỏ khô và cháy. Rất thô ráp. 

Bãi cỏ khô cháy giữa mùa hè, ngay bên cạnh hồ nước. Họ trừng mắt và quát: “mày hãy nhặt cái thứ dưới đáy hồ đó lên”. Tôi thì thào, hai khóe miệng bắt đầu méo xệch: “thứ gì ở dưới đáy hồ vậy?”. Không một ai trả lời. Không một thanh âm rền giọng nào thốt lên gầm gừ đe dọa. Sự im lặng choáng ngợp cả mặt nước. Đầu gối tôi thụng xuống, hai tay chắp sau gáy như tư thế của một kẻ vừa phải buông súng đầu hàng. Dĩ nhiên, tôi vẫn chẳng thể biết được thứ gì đang nằm dưới đáy hồ. Chúng bí ẩn như mặt nước. Chúng dữ dằn như mặt nước. Chúng lừa gạt tôi rất giỏi như mặt nước mùa thu vậy. Ai đang dẫn giải tôi? Ai đang bắt tôi quỳ gối? Ai đang bắt tôi chắp hai tay sau gáy và bất lực nhìn vào mặt nước hồ tưởng chừng khá yên ả đó. Tôi không biết. Tôi mù tịt. Giả dụ tôi có trực giác tinh nhạy để nhận ra kẻ thù đi chăng nữa, tôi cũng không thể quay đầu lại để nắm lấy tóc nó, trói quặt hai tay nó. Chẳng có một ai ở sau lưng tôi. Chắc chắn là thế rồi. 

Thời điểm này, chẳng còn một ngôi nhà sáng đèn. Chỉ có những thằng điên đi dạo. Tôi cũng không hề muốn đi dạo. Nhưng, rõ ràng tôi đang đi dạo trên những vỉa hè. Thật quái đản. Tôi đang bước trên vỉa hè trong đêm tối, trên một khu phố rất tối. Nhưng, chắc chắn rằng, tôi không phải là một thằng điên. Tôi rõ ràng chưa bao giờ bị điên. Tôi nhớ là mình vẫn đang nằm trên giường và theo dõi một bộ phim của Mỹ. Thời điểm này, tôi không hề muốn bước chân ra khỏi nhà, chạy rong ngoài đường để đùa giỡn với những bóng ma. 

Vậy mà, tôi, dường như tôi vừa bị bắt cóc thì phải. Không hề có một bàn tay nào chạm vào tóc. Không hề có một bước chân nào nện xuống đất thậm thịch. Không hề có ai la hét, trói nghiến tôi lại. Và, cũng không hề có bất cứ cái bóng nào đang lẽo đẽo đi sau lưng tôi. Vậy, tại sao, tại sao tôi vẫn nghe những thanh âm, những khẩu ngôn ra lệnh chưa được in dấu đỏ đang cố tình chen lấn, thì thào trong não mình? Bọn họ là ai ấy nhỉ? Bọn họ có phải là người không ấy nhỉ? À, không phải người thì là quỷ sứ. Chẳng muốn là quỷ sứ, thì biến thành thiên thần. Chẳng là thiên thần thì họ cũng chẳng là cái gì sất. Chỉ vì có quá nhiều sự lựa chọn khiến họ không thể là thần thánh, hay quỷ sứ, mà đơn giản họ là người. Những con người mới đáng sợ làm sao. Có người mới có thần thánh và quỷ sứ. Có người mới có thiên đàng và địa ngục. Đa số đều phải sống trong địa ngục. Tất cả đều phải đi trên than lửa, rồi hô vang những khẩu hiệu thần thánh để xin phép được cầu nguyện, được ơn cứu rỗi. Đằng nào con người chẳng phải cầu nguyện để xin ơn cứu rỗi. Vốn dĩ tội lỗi ra đời từ thiên đàng. Tôi không phán xét. Chúa liệu có quyền phán xét? 

Tôi chợt nghĩ về những thứ gọi là tội lỗi. Nhất định tôi đã phạm phải một tội gì đó. Và vì thế, họ đang áp giải tội chăng? Mà tôi phạm tội gì nhỉ? Tôi cúi mặt xuống đất hỏi bãi cỏ khô héo trong đêm. Tôi ngước mắt nhìn về phía hồ hỏi mặt nước đăm đăm chìm trong thẳm sâu của vũ trụ. Không một tiếng trả lời. Mặt hồ vẫn yên ả như đêm. Mặt hồ rồi sẽ hết yên ả như đêm. Bởi, nơi nào dù có ánh đèn, tôi vẫn thấy mờ mịt và tất nhiên rất tối. 

“Hãy tiến về phía trước và vớt cái thứ dưới đáy hồ ấy lên”. Lần này, giọng nói rền rỉ mạnh hơn. Hai bờ vai của tôi chùng xuống. Đôi tay vẫn đang để sau gáy. Tôi lết hai đầu gối, nhích từng chút một. Mặt hồ vẫn yên ả. Nước vẫn thẳm sâu màu vũ trụ. Vậy, thứ gì ở dưới đáy hồ nhỉ? Tại sao tôi phải nghe lời những kẻ vô hình đang túm tóc mình, hét vào trong não mình? 

Thứ gì đó ở dưới đáy hồ
Thứ gì đó ở dưới đáy hồ
Thứ gì đó ở dưới đáy hồ 

Mặt nước bắt đầu sôi lên sùng sục khi tôi vừa lết tới gần. Một tiếng rơi, hai tiếng rơi, ba tiếng rơi. Rồi hàng loạt những tiếng rơi ào ạt như thác đổ đang ùa xuống mặt nước. Và, tôi chẳng hề thấy thứ gì đó nổi lên. Đôi tay tôi vẫn đang bị khống chế sau gáy. Đầu gối tôi vẫn phải thụp xuống bãi cỏ khô cháy. Tôi phải vớt thứ gì đó ở dưới đáy hồ lên bằng cách nào nhỉ?

Những tiếng rơi đã ngừng lại. Và, tôi nhìn thấy một cái bóng lớn đang trồi dần, nhô dần lên khỏi mặt hồ. Con thủy quái chăng? Hay tổ tiên ta chăng? À, không chỉ là một con rùa. Tôi đã thấy nó ở đâu rồi ấy nhỉ? Chỉ là một con rùa già đã nghìn năm tuổi. Có thể tổ tiên của tôi, dòng giống của tôi là từ con rùa già này? Làm sao tôi vớt được thứ gì đó từ dưới đáy hồ lên bằng đôi tay đã bị khống chế? 

Chiều nay, tôi vừa lướt qua tờ tin tức cũ mèm của buổi sáng. Nghe đâu, tối hôm qua họ đã nhốt hết tất cả ánh sáng vào một cái lọ thủy tinh lớn và ném xuống mặt hồ. Còn họ hình như đang cùng nhau ngồi trong một căn phòng rất kín, để kể những câu chuyện mang tên là bí mật mà hẳn nhiên ai cũng biết. 

Tôi sẽ vớt ánh sáng lên. Tôi phải vớt những ơn cứu rỗi đang chìm dần vào từng lớp nước tưởng chừng yên ả như bầu trời đêm ở xứ này.

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The Last Rites

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

1.

Came summer.

And to leave this heartless life a person took their last breath.

On the damp mouldy bed, his face blue drained of colour, he opened his eyes awkwardly to meet mine, with not a word. It felt like he wanted to announce his impending death.

Morning. It rained as usual.

On rainy days, I never leave the house. I hate the rain. To affirm unequivocally, the rain is an extremely inconvenient condition for me. Hence, it’s best I stay inside the four walls, and make sure I won’t get wet. The raincoat is nothing but a layer of plastic. They can only give short term protection. Then, they would rip soon enough. Nothing lasts forever. The raincoat would eventually deteriorate and perish.

I know, that when I step outside, and leave the grey concrete walls, I will take with me the crazy thoughts. And it always has something to do with destruction. Death, to be exact. First and foremost, I would ponder on my own deterioration. Then, after that the annihilation of bigger things. But, how does annihilation come about. How is the most tranquil way achievable on departure. 

I often ponder the idea of existence and non-existence. A couple of times I’ve felt the presence of death. A couple of times it felt like nothing at all. It’s obvious that I’m alive, eager to explore the chaos outside, beyond the door. I thought about these fallacies. One way, I could in the simplest way, explain the contradiction of to be or not to be in my heart: “perhaps, it’s yet my time”. So, all I can do is continue to live.

“What is death anyway”, the odd voice in my ear whispered, as the rain fell in larger droplets. The constant rain. The summer persists in one wet storm after the other. A soulful rain. I called it a soulful rain. Rain weeping for the trapped souls that will never escape, will never be free.

In the room in front of me, was the portrait of a man with a pale grey face in an old bed. I asked myself, “how long before he’s dead I wonder?”. On rainy days, instead of waiting to welcome the sunlight, we would wait for the impending coming death, or the exhausting lengthy act, the Last rites.

2.

Many in my neighbourhood came, they carefully viewed the portrait of the pale grey man on his old death bed, then wordlessly they left. Clearly, “they were also waiting for some kind of last rites”. Though death would eventually present itself, but, will it erase, wash away the stench, the tired cold dead air, gloomy hues. While for me, it was no longer a surprise. Everyday I would stare at the same portrait, I’m fully aware, that soon or later it would arrive. The death of the man with the pale grey face on his deathbed shall come to be. With certainty, his death will bring a kind of cathartic release to those who viewed his dying portrait. They don’t want to witness such stagnant prolonged dying. Death sometimes enjoys putting on a ridiculous vicious drama at the end. He could quickly sever the dying man’s last breath and spirited his soul away, to end the exhausting long last breath of a battered body. But, He refused to act upon such powers when the living desires them.

One morning, heavier than usual the rain came spilling through the doorway. The gloomy horizon no longer wants to be the lord of light in bestowing the tiniest of grace upon the earth on these summer days. All I needed was the smallest amount of sunlight, so I could leave the house, meander the streets and search for the colourful shards of light. Perhaps, I could piece them together into a portrait for the wall in the house, perhaps the tiny shards of light may bring life back to the dying portrait. But, no. Definitely a no go. The man who wrote “the prayer for the unborn child”, which I’d read a while back made me suddenly shout “no” in protest from the opening paragraph. Now, he’s dead, and, I need to wait for the sunlight again. The rain continued to cover the back of the mountain in a misty silver, and around our house, gathered the dark grey clouds. One side of the mountain is the home of the dead. The cold tired graves dotted the sterile cliffside. The trees and bushes were sparse and feral.

I waited for the Sun. I waited for Death, the damn mischievous entity who is never appropriately on time. I, quietly plead and curse as I watch the laden dark clouds drift by through the iron bars on my window, “He needs to be here, as soon as possible. Nausea came from the pit of my stomach, each time I received the news of a fake death, a clinical death”.

3.

In the end, obstinately he had his day on the red carpet. I believe, he’s an amazing silent actor, he knows how to embody death. Seeing it, with one’s eyes the breathlessness of impending death, the heaving chest, and the gripping emotion was a treat. Though, it was clear, off stage, I knew for sure, that he would be laughing and talking with other people as though flowers were blooming in the meadows.

Tonight, I’m heading out, securely locking up the house and not allowing any kind of invasion of anxiety. Plus, furthermore, I don’t want anyone to stop by and visit the long winded last rites hanging on my wall tonight.

I headed for the theatre. There’s a new silent drama advertised all over the city. On the first thing this afternoon, I tuned in to all the commotion of “Death’s Last rites”. 

I like silent plays. The actors don’t have to talk. They express themselves through expression and body language and that’s enough. I was curious about the last rites, played out right in front of me, not like that peculiar painting full of hidden meanings hanging in a tiny room full of my books.

The drama was rather strange. They, threw him out onto the stage in an old tattered bed. His hands and feet were tied to the bedpost. There were no other actors on stage. He performed alone from behind the sheer stage curtain, light, and audio. Ah, and the accompanying sound was his heartbeat. They pinned a microphone directly onto his right chest, before leaving him alone on stage. “What can a dying man do?”, patiently I followed the last rites unraveled gradually on the bed, and there was definitely no other actor besides the accompanying weak heartbeat of the performer who was trying to adjust his expression, his body, breathing together with the background sound effects.

“He’s not going to untie himself?”, I mumbled to myself. A few people were already making their way towards the exit. They left like the curious people who had left after viewing “the last rites” portrait in my room. They were not bothered with further details of the impending death? Or what was behind the sheer curtain, the man taking his last breath? I smiled, “he is them, they don’t have the courage to face death”. People are always fearful of death.

On the stage, he was the only performer. In the auditorium, I was the only person attentive to his heartbeat. The stage lights were all pointed towards him, making him stand out further against the white linen. Out of nowhere from beneath the stage was a billow of dark grey smoke, the spreading smoke surrounded him, climbing up the sheer white curtain. His figure eventually was engulfed in the smoke, his heart beating faster as he freed himself from the constraints of the ropes tying him to the bedposts. He stood up, and nodded his head in my acknowledgment. The extremely short play, ended. As it turned out, the performance was for me alone. Behind the closing curtains. He was still alive. He does not want to die yet. It was just a performance, why would an actor have to die from fake last rites. I thought about the portrait in my room. There seemed to be a connection between the actor and the guy in the portrait. They resemble each other, they were very much alike. Last rites without an ending. Thoughtlessly I was alone under the sky each morning, searching for death in the last rites as the rain blanketed the tip of the mountain, inside a room stuffy with my sadness.

I left the stage as the light came on, infiltrating all corners and crevices of the theatre. My footsteps felt as though they did not touch the ground, as though I was sleepwalking. It was still early, but there was no one in the street. Clearly, deep sleep has whisked them away from the streets, and hid them inside concrete walls.

“Who is prepared to throw it into the black hole of the universe?”. 

“The Last rites”.

Definitely not me.

4.

On the way home from the theatre, I have to cross a rather depressing bridge. Under the bridge, a river ran black the reflection of a constellation from somewhere far away. No one wants to think about the last rites at this very moment. And that was obvious. Thoughtlessly, I stared at the water. I wanted to know, if there were any fish in the water maybe? Stumbling on any kind of body of water, children are always curious, like an aquarium, or a river, the first thing they do is look for fish. They like watching the fish swim back and forth in the water. Children know nothing at all. Children look at fish and animals differently in nature as though they’re their friends. But adults do not.

Adults like to eat and drink and destroy.

I stopped on top of the bridge, and looked down.

The water was seemingly agitated by tiny ripples on the surface. It was clear the fish were nibbling on the waves. Fish in the river. “Or”. A frightening thought ran down my spine, “or, the fish were nibbling on something”. What is this something? In the gorgeous deep part of the river, they often find bloating corpses. The kind of death that could never move on. The kind of death without the proper last rites in the land of the living.

The water surface was still rippling under the light of the murky stars. I didn’t want to ponder about death anymore. I wanted to see things through the eyes of a child again, attracting the fish to the surface with biscuit crumbs, and inviting them to share my biscuit. But instead, he popped into my head, the solitary actor in the silent drama this evening. Thoughtlessly, another idea popped into my head: the play should have a more appropriate title, like “the last rites of a delusional man”. Death, can not die. It’s impossible.

Me, all of us, we live in poverty, in an impoverished city that craves light waiting always for these shiny panels to appear, to display lively performances under brilliant stage light like any other big city. Then as it happened, they did bring them. They brought along panels of advertisements to hang up high. But, different from the circus, the cute animals, wisdom was locked up in an iron cage, loaded with speakers, and read the advertisements out loud over many days to attract gullible children and their parents.

I remember, when I left the theatre. The stage aids, it seemed, did not close the curtains. It was deliberate, they left the red side background panels on the stage alone from the beginning to the end of the play. I have again been plagued with the images of the dying man placed carefully on the decrepit old bed on the stage, deliberately trying not to make a sound. (the delusional man lay there silent). The solo performance was also acted out in complete silence. Sound was an unmoving death in the spotlight. I left my seat, when there was no one left in the theatre. The rows of empty seats leaning, crooked, bent over collapsed in the eerie darkness. (an obstinate sort of darkness that did not care for light).

My footsteps wrapped inside the fragility of my thoughts, and before I knew it, I was already at the top of the incline down to our house. At the door, fiddling with the keys in its hole, I thought of my father’s last rites. It was a feeling I could never forget. The minutes before he died, we were not allowed near our father, during his last rites. I was by my mother’s side, peeking through the kitchen door. A celebrant was holding an oil lamp waving it over my father’s face. Another celebrant shifted an ornamental leaf between the pages, began to read slowly from a book in his hand. Now and then, he would make a few strange gestures, from my father’s forehead down to his nose, passing his lips down to his heaving chest. Another holding my father down, stopping him from moving around, the last painful struggle of a human being in the world of the living. My mother collapsed on the bare floor. On their wedding bed, was my father, with the last breaths of a foot soldier in his house after the discovery of cancer a few months back.

5.

The door was already open. I leaned in and pressed the doorbell. The wall was cold and damp. The rain soaked walls had yet a chance to dry up due to the lack of sunlight. I looked up to the right of the wall. Beside the portrait of the dying man that a friend of mine had painted for me not long ago, was a larger portrait. It was a portrait of my father. Bright eyes. In his hand was a cigarette. A brilliant smile. This man, the cause of my long deep remembrance. Odd. Inside the room adjacent to the kitchen. The sound of my mother turning alone in her wedding bed, without him. Outside it began to rain. The raindrops were heavier and heavier. The month of rain. A couple gusts of gentle breeze gave me the chills. My footstep was heavier with every step up the stairway to my room. Light bled onto the portrait from the egg shaped bulb inside my room. Drifting across my mind was a dark grey cloud that had been hiding came to, spilling from my lips: “how great would it be if we were able to shoot each paranoia down, one at a time, until they all perish and completely disappear from this lovely world”.

This morning, the sky dried up.

I again left the house. Walked across the bridge painted in silver.

I stopped for a few minutes in the middle of the bridge, and wordlessly searched the entire river. The shimmering light scattered evenly across the surface of the water. The fish were nibbling on the waves, pop up for a gulp of air before dipping back into the water. Without much thought I headed for the theatre, it’s opposite a large busy department store. Recently there was a rumour, the department store had changed owners. The customers, they seemed to be very interested in the new owner. My feet stopped in front of the theatre. In front of my face, an advertising panel printed with the title of last night’s play. A few characters have fallen off because of the rain. They were bleary, ugly beneath a naked death, grey with only a few readable words: “The Last rites”.

Truyện ngắn           

Hấp hối

1.

Mùa hè sắp hết. 

Và cơn hấp hối của kẻ sắp rời khỏi thế gian bạc nhược. 

Trên một chiếc giường cũ kỹ ẩm mốc, gã đàn ông mặt nhợt nhạt tái xanh, gượng mở đôi mắt mệt mỏi nhìn về phía tôi, không một lời. Dường như anh ta muốn thông báo về một cái chết sắp đến. 

Buổi sáng. Nơi này thường có mưa. 

Những ngày mưa, tôi không bao giờ bước chân ra khỏi nhà. Tôi ghét mưa. Phải khẳng định bất tuyệt rằng, mưa là thứ trạng thái thời tiết khiến tôi cảm thấy bị làm phiền ghê gớm. Vậy, tốt nhất tôi không nên rời khỏi bốn bức tường này, để chắc chắn mình không bị ướt. Áo mưa, cũng chỉ là một lớp che chắn bên ngoài được làm từ chất liệu ni lông. Chúng có thể chống mưa trong chốc lát. Nhưng, chúng cũng có thể rách nát sau một thời gian ngắn. Chẳng có thứ gì bất tử. Chiếc áo mưa cũng phải mục ruỗng và chết. 

Tôi biết, khi tôi không bước chân ra đường, rời khỏi những bức tường bê tông xám ngoét này, tôi sẽ có nhiều suy nghĩ quái đản lắm. Chúng đều liên quan đến sự tuyệt diệt. Cái chết, nói thẳng ra chính là nó. Đầu tiên, tôi sẽ nghĩ về sự tuyệt diệt của chính bản thân tôi. Và, tiếp sau đó hẳn sẽ có những sự tuyệt diệt khác lớn hơn nữa. Nhưng, làm cách nào để tuyệt diệt. Làm thế nào để rời khỏi thế gian này một cách bình thản nhất. 

Tôi vẫn thường nghi ngờ về sự tồn tại và không tồn tại. Vài lần tôi cảm nhận được sự tồn tại sau cái chết. Vài lần không. Điều rõ ràng nhất đối với tôi, là cơ thể tôi vẫn tràn đầy sinh lực, háo hức xông pha với cuộc mưu tồn của thế giới nhiễu nhương bên ngoài cánh cửa ấy. Tôi nghĩ về sự ngụy biện. Một cách, để tôi tự lí giải về mâu thuẫn tồn tại hay không tồn tại trong lòng mình một cách đơn giản rằng: “có lẽ vận số của tôi chưa tới”. Vậy, tôi phải sống tiếp thôi. 

“Chết thế nào được”, một giọng nói lạ lẫm vọng vào tai tôi, khi cơn mưa bắt đầu nặng hạt hơn. Mưa không dứt. Mùa hè ở đây vẫn thường có những cơn mưa dầm dề dai dẳng. Mưa âm hồn. Tôi gọi đó là mưa âm hồn. Mưa khóc thương cho những kẻ hồn vía không chịu siêu thoát. 

Trong căn phòng trước mặt tôi, vẫn là bức tranh về một gã đàn ông có khuôn mặt tái xám đang nằm trên chiếc giường được tô màu cũ kỹ. Tôi tự hỏi, “chẳng biết bao giờ gã mới chết nhỉ?”. Những ngày mưa, thay vì đón nắng, chúng tôi sẽ đón chờ một cái chết sắp đến, hoặc một cơn hấp hối kéo dài mệt mỏi. 

2. 

Một vài kẻ khác xung quanh tôi, rất nhiều lần đến ngắm nghía bức tranh về gã đàn ông có khuôn mặt tái xám nằm trên chiếc giường bệnh cũ kỹ, rồi sau đó họ rời đi không một lời bình phẩm. Hẳn là, “họ cũng đang chờ đợi cơn hấp hối nào đó kết thúc”. Dù cái chết sẽ đến, nhưng ít ra, có thể tẩy rửa bớt tử khí tanh hôi, rệu rã với những sắc màu lạnh lẽo, u ám. Tôi thì không còn mảy may lấy làm kinh ngạc lắm. Hàng ngày, tôi phải đối diện với bức tranh ấy, tôi rõ ràng đã biết, trước sau gì nó cũng đến. Cái chết của gã đàn ông có khuôn mặt tái xám nằm trên chiếc giường bệnh cũ kỹ dứt khoát sẽ đến. Hẳn nhiên, việc cái chết ấy đến khiến cho những người xem bức tranh này hài lòng. Họ không muốn chứng kiến một cơn hấp hối ẩm ương. Lão thần chết đôi khi cũng thích bày trò nghịch ngợm quỷ quyệt. Lão có thể ngắt cái hơi thở u uất kia và bắt linh hồn kẻ chết đi, để nó được chấm dứt cuộc kịch biến kéo dài của một cơn hấp hối khi thể xác đã thực sự mệt mỏi rã rời. Nhưng, lão vẫn quyết không bày biện quyền năng của mình vào lúc người sống cần lão thực hành ngay lập tức. 

Một buổi sáng khác, cơn mưa khá lớn lại đến và hắt vào song cửa. Bầu trời u ám cũng chẳng còn muốn trở thành một vị quan tòa sáng suốt ban phát chút ít ân huệ xuống mặt đất những ngày mùa hè này. Tôi cần chút nắng, để rời khỏi nhà, đi lang thang nhặt nhạnh những mảnh gương ánh sáng đầy màu sắc. Có thể, tôi sẽ ghép nối nó vào bức tranh trên tường nhà mình, có thể một chút ánh sáng phản chiếu từ phía không gian khác sẽ đem lại sinh khí và làm cho kẻ hấp hối hồi lực. Nhưng, không. Chắc chắn không. Người đàn ông viết câu chuyện “kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời”, mà tôi đọc cách đây khá lâu đã làm tôi bật ngửa với tiếng “không” phản quyết ngay từ những dòng đầu tiên vào truyện. Giờ, ông ta đã chết, và, tôi không cần phải đợi nắng nữa. Mưa, vẫn phủ kín phía sau lưng đỉnh núi bạc mờ ảo, và kéo mây xám về tụ lại gần nhà tôi. Một bên sườn núi là nhà của những kẻ chết. Những nấm mồ lạnh lẽo nằm thoai thoải trên vách núi trọc lốc. Cây cối hoang tàn thưa thớt. 

Tôi không đợi mặt trời. Tôi đợi lão thần chết, chết tiệt quỷ quyệt giở trò nghịch ngợm chẳng hề đúng lúc vào lúc này. Tôi, lầm bầm nguyền rủa giọng van nài khi nhìn bóng mây mờ mịt nặng trĩu qua song sắt, “Lão phải đến đấy, đến càng sớm càng tốt. Cơn buồn nôn đang bắt đầu trào ngược lên từ dạ dày tôi, mỗi lần những kẻ như tôi phải nhận thông báo đó chỉ là cái chết giả, cái chết lâm sàng”. 

3.

Cuối cùng hắn vẫn ngoan cố diễn trò trên thảm đỏ. Tôi nghĩ, hắn là một diễn viên đóng kịch câm rất khá, hắn biểu đạt cảm xúc chết chóc rất tốt. Nhìn xem, thật thú vị khi tận mắt thấy một khuôn mặt chết chóc thấp thỏm dưới vòm ngực thở từng hơi yếu ớt kia. Mặc dù, rõ ràng, sau khi rời sân khấu, tôi biết chắc chắn, hắn sẽ cười nói như hoa nở với những người khác. 

Tối nay, tôi rời nhà, khóa cửa thật chặt để không bị nỗi muộn phiền nhiều ngày mưa chiếm giữ. Và, thêm lí do khác nữa, ấy là tôi không muốn một ai ghé thăm cơn hấp hối trên bức tường nhà tôi vào đêm nay. 

Tôi đến nhà hát. Người ta vừa thông báo ra rả ngoài phố đầu giờ chiều về một vở kịch câm, khiến tôi phải chăm chú lắng nghe “cơn hấp hối của thần chết”. 

Tôi thích kịch câm. Các diễn viên không cần phải nói gì nhiều. Chỉ cần thể hiện bằng ngôn ngữ cơ thể là đủ. Tôi tò mò về một cơn hấp hối khác diễn ra rõ ràng, sống động trước mắt tôi, chứ không phải trong một bức tranh quái đản nhiều ẩn nghĩa đang treo trong căn phòng nhỏ đầy sách của tôi.

Vở kịch khá kì lạ. Người ta, ném hắn ra sân khấu cùng với một chiếc giường bệnh cũ kỹ. Tay chân hắn bị trói chặt vào thành giường. Không có thêm một diễn viên phụ nào khác trên sân khấu. Hắn tự diễn với bức màn sân khấu, với ánh sáng và âm thanh. À, vẫn còn những hồi âm thanh vang động theo từng nhịp tim của hắn. Người ta gắn microphone vào phía bên ngực phải hắn, rồi rời khỏi sân khấu. 

“Kẻ hấp hối có thể làm được gì?”, tôi vẫn kiên nhẫn theo dõi cơn hấp hối từ từ diễn ra trên chiếc giường, nhưng tuyệt nhiên chẳng có thêm một diễn biến nào khác ngoài những nhịp tim yếu ớt của một gã diễn viên đang cố điều chỉnh nét mặt, cơ thể, hơi thở của mình cùng với giàn âm thanh chêm xen phụ họa. 

“Hắn sẽ không cố gỡ những sợi dây rợ xung quanh người hắn đấy chứ?”, tôi thì thào một mình. Vài người đến xem đã rời khỏi khán đài và bước chân về phía cửa ra vào. Họ rời đi như những vị khách đến nhà tôi xem bức tranh “hấp hối” vì tò mò vậy. Họ không buồn tìm hiểu, cơn hấp hối có gì thú vị? hoặc phía sau bức màn của một cơn hấp hối là cái gì? Tôi cười mỉm, “hẳn là họ không đủ can đảm để đối mặt với cái chết”. Con người luôn luôn sợ chết. 

Trên sân khấu, mỗi mình hắn độc diễn. Dưới khán đài mỗi mình tôi dõi theo từng nhịp thở của hắn. Đèn sân khấu tụ lại về phía hắn, hòng làm hắn nổi bật trên nền vải trắng. Bất chợt từ phía dưới sân khấu, hắt lên một đụn khói xám xịt, loang ra xung quanh hắn, vờn đuổi trên bức màn trắng. Bóng hắn mờ dần, quả tim của hắn rộn nhịp và những sợi dây xung quanh hắn bị bứt tung ra. Hắn đứng dậy, cúi đầu chào tôi. Vở kịch ngắn ngủn, kết thúc. Hóa ra, đêm diễn này chỉ dành riêng cho tôi.

Sau bức màn chéo của sân khấu. Hắn chưa chết. Hắn chưa chịu chết. Chỉ là một vở diễn, cớ gì kẻ hấp hối giả phải chết. Tôi lại mường tượng về bức tranh trong phòng mình. Giữa người đàn ông trong bức tranh và hắn dường như có một sự kết nối. Họ giống nhau, rất giống nhau. Ở một cơn hấp hối không có sự kết thúc. Chỉ mỗi tôi ngờ nghệch mò mẫm tìm kiếm cái chết từ một cơn hấp hối dưới bầu trời mỗi sáng sớm mưa phủ trên đỉnh núi và trong căn phòng u uẩn nỗi buồn của mình.  

Tôi rời khỏi sân khấu khi ánh sáng loang khắp nhà hát kịch. Những bước chân của tôi mông lung như kẻ mộng du. Giờ này vẫn còn sớm, nhưng chẳng còn ai đi trên phố nữa. Hẳn là, cơn ngủ mê đã rủ rê họ rời khỏi phố phường và ẩn nấp trong những bức tường bê tông kia. 

“Ai đó sẵn sàng ném nó vào hố đen của vũ trụ nhỉ?”. 

“Cơn hấp hối ấy”. 

Chắc chắn không phải tôi rồi.

4.

Từ nhà hát trở về, tôi phải đi qua một chiếc cầu buồn. Dưới cầu, con sông đen ngòm lấp lánh những ánh sao mờ phản chiếu từ phía nào đó cao tít tắp. Chẳng ai muốn nghĩ về một cơn hấp hối lúc này. Rõ ràng là vậy. Bất giác, tôi muốn nhìn xuống mặt nước. Tôi muốn biết, ở dưới sông có cá hay không? Những đứa trẻ con vẫn thường tò mò khi đi ngang một mặt nước nào đó, một cái bể sinh thủy, hoặc một con sông, việc đầu tiên của chúng là tìm những con cá. Chúng rất thích nhìn cá bơi lội tung tăng trong nước. Trẻ con thì biết gì. Trẻ con xem cá và những con vật khác trong thế giới tự nhiên này như bạn bè của mình. Chỉ người lớn là không. 

Người lớn thích ăn uống và chơi trò hủy diệt. 

Tôi dừng lại trên thành cầu, nhìn xuống. 

Mặt nước sông lăn tăn gợn từng cơn sóng nhỏ. Hẳn là cá đang đớp sóng. Cá sông. “Hoặc”. Một ý nghĩ rờn rợn chạy dọc sống lưng tôi, “hoặc, cá đang rỉa mồi”. Mồi là gì nhỉ? Giữa lòng con sông sâu hoắm đẹp đẽ này, người ta thường thấy xác chết nổi lên. Những cái chết không chịu siêu thoát. Những cái chết không được trải qua một cơn hấp hối bình thường của kẻ sống khi sắp lìa khỏi thế gian. 

Sóng nước vẫn lăn tăn gợn dưới ánh sáng của những ngôi sao mờ đục. Tôi không muốn mường tượng thêm về cái chết nữa. Tôi muốn nghĩ về cá như mắt những đứa trẻ hồn nhiên gọi cá lên và rải một ít bánh quy xuống nước, mời chúng ăn. Nhưng, tôi lại nhớ về hắn, tay diễn viên độc diễn vở kịch câm lúc tối. Bất giác, tôi nghĩ về một ý tưởng khác, vở diễn ấy lẽ ra phải có tên, “cơn hấp hối của một gã hoang tưởng” thì đúng hơn. Thần chết, làm sao chết được. Đó là điều bất khả. 

Tôi, chúng tôi, ở nơi nghèo nàn, một thành phố nghèo nàn khát thèm ánh sáng vẫn luôn mong chờ những tấm pano này xuất hiện, để được trực diện các vở diễn sống động dưới ánh đèn sân khấu như các thành phố lớn. Rồi, người ta mang chúng đến thật. Người ta mang những tấm pano quảng cáo đến và treo lên. Nhưng, khác với đoàn nghệ thuật xiếc thú, những con thú dễ thương, khôn ngoan bị nhốt trong chiếc lồng sắt, rồi vác loa, đọc quảng cáo ra rả nhiều ngày để câu kéo trẻ em và phụ huynh ngây thơ cả tin.

Tôi nhớ, khi tôi rời khỏi nhà hát. Nhân viên phục vụ nhà hát, hình như không kéo màn. Họ dứt khoát, để nguyên trạng tấm phông màu đỏ hai bên rìa sân khấu ngay cả lúc bắt đầu cũng như khi kết thúc. Tôi lại miên man suy nghĩ về cảnh người đàn ông nằm trên một chiếc giường cũ kỹ và được nhẹ nhàng đặt xuống nền sân khấu một cách khéo léo, cố không tạo thành tiếng động. (gã hoang tưởng nằm im). Sự độc diễn cũng lặng im trên sân khấu. Âm thanh chỉ còn là một cái chết không thể động cựa dưới ánh sáng của chiếc đèn chiếu. Tôi rời đi, khi chẳng còn một ai khác trong nhà hát nữa. Những hàng ghế trống ngả nghiêng, xiêu vẹo, cúi gập xuống trong bóng tối kì quặc. (thứ bóng tối lì lợm không chịu đón nhận ánh sáng). 

Mải mê bước trong luồng suy nghĩ mông lung, tôi đã đến ngay đầu dốc nhà mình từ lúc nào chẳng hay. Đến cửa nhà, tôi vừa tra chìa khóa vào ổ, vừa mường tượng lại cơn hấp hối của bố. Đó là cảm giác tôi không thể nào quên được. Những giây phút ấy, chúng tôi không được phép lại gần bố, khi bố chuẩn bị hắt ra hơi thở cuối cùng. Tôi đứng bên cạnh mẹ, len lén nhìn qua song cửa nhà bếp. Một vị cầm chiếc đèn dầu đã được thắp lửa lắc qua lắc lại ngay trước mặt bố. Một vị nhích mục kiểng, chậm rãi đọc từng chữ trong quyển sách nhỏ cầm tay. Thi thoảng, làm vài dấu hiệu kì quặc, từ trán xuống mũi, qua miệng và tiếp tục trôi xuống lồng ngực đang thoi thóp thở mạnh những hơi của bố. Vị khác giữ chặt lấy thân hình gầy gò của bố, hòng tránh cơn động cựa, quẫy đạp đau đớn cuối cùng ở trên đời của một con người. Mẹ tôi ngồi bệt xuống nền nhà trống rỗng. Trên chiếc giường cưới, bố nằm đó, và đang rời khỏi thế gian cùng với cơn hấp hối của một người lính trận tại nhà mình sau vài ba tháng phát bệnh ung thư. 

5. 

Cửa phòng đã mở. Tôi lách vào và bấm chốt. Bức tường lạnh lẽo ẩm ướt. Nước mưa thấm vẫn chưa kịp khô vì thiếu nắng. Tôi ngước nhìn lên phía bên phải bức tường. Ngoài bức tranh về một gã đàn ông hấp hối mà anh bạn họa sĩ tặng tôi cách đây không lâu, còn có một bức ảnh lớn. Bố tôi ở đó. Đôi mắt sáng. Tay cầm điếu thuốc lá. Miệng tủm tỉm cười. Người đàn ông này, đã khiến tôi phải lưu nhớ lâu trong kí ức thẳm sâu đến thế. Thật lạ lùng. Phía trong phòng giáp nhà bếp. Tiếng trở mình của mẹ trên chiếc giường cưới độc mộc, vắng người đàn ông ấy. Bên ngoài trời bắt đầu mưa. Những cơn mưa nặng hạt dần. Tháng của mưa. Một vài cơn rét nhẹ kèm theo khiến tôi rùng mình. Bước chân tôi nặng trĩu, leo lên từng bậc cầu thang để về phòng. Ánh sáng leo lét từ bóng đèn quả ớt hắt lên bức tranh trong phòng tôi. Bất chợt một thứ suy nghĩ thoáng qua như đám mây xám xịt u uẩn nấp lén từ lâu trong não tôi bật thốt trên môi: “giá có thể bắn vào những hoang tưởng từng phát một, cho đến khi nó chết hẳn và biến mất thực sự khỏi thế giới tươi đẹp này”.

Sáng nay, trời tạnh ráo. 

Tôi lại rời khỏi nhà. Đi qua chiếc cầu sơn màu bạc. 

Tôi dừng chân dăm phút giữa thành cầu, nhìn ngơ ngác khắp dòng sông. Ánh nắng lấp lánh rải đều trên mặt nước. Những con cá đớp sóng, ngoi lên thở rồi lặn xuống. Tôi bất giác muốn đến nhà hát, nó nằm đối diện với một siêu thị lớn khá đông khách mua sắm. Nghe đâu, siêu thị vừa đổi chủ. Những người mua sắm, họ cũng quan tâm lắm đến những ông chủ thì phải. Bước chân tôi dừng lại ngay trước cổng nhà hát. Tôi thấy, tấm pano quảng cáo in tên vở kịch đã bị tróc mất vài kí tự sau cơn mưa tối qua. Chúng nham nhở, xấu xí dưới hình hài của một cái chết trần truồng, màu xám và chỉ còn lại hai từ: “Hấp hối”. 

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

AQUA

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Aqua is published on Masticadoresindia: https://masticadoresindia.wordpress.com/2022/07/05/aqua/

“Trần Băng Khuê and Nguyễn Thị Phương Trâm have created a wonderful story of introspection. The eternal question that often plagues any human being – Why am I here? What is the purpose? And the constant urge to leave it all and simply disappear. I love the voice and pace of this writing. A beautiful effort by the writer and the translator. Often the painful realization of death makes one rethink and appreciate the significance of one’s life. The pandemic has brought many of us to our knees and the fortunate have risen again to reassess and move on.” Terveen Gill


1.

There were only wolves on the moon.

The wolves live on the moon.

Then, what will you find in the forest?

Aqua. Aqua. Aqua.

Someone’s soundless voice cut across the darkness. The fifteenth. The full moon or a blood moon at this time of the month? Two thousand twenty one. Chilled to the marrow staring at the icy moon, in passing time chilled to the very major five organs. Lungs? Breathing, the thought of breathing, reminded me suddenly of my breath. Was my breath real? Or was it something I used to have. Or ever at all. Breathlessly gasping for air once upon a time in my first kiss. I thought I was talking about breathing. Instead I was curled up in agony that particular autumn. They have all disappeared. My private autumn. The fall I was sixteen. The fall I was seventeen. The autumn I was eighteen. The fall mobbing my tears upon someone’s turned back. Yet here I am, ceaselessly to this day searching still for them. Two thousand and twenty one. My breath was nowhere to be found. In the forest. At the bottom of the sea. On the moon. Or some other place, some other plane of existence, my breath hid from me. The kind of breath, an air of love, blue sky. (But, the human race has no true understanding of love).

I am here, I clearly see myself as the embodiment of existence, and that’s the truth. I don’t have time to make fun of other people. I’m fully aware that, I am here, I can see myself, right there in front of me. Certainly in front of me there’s neither any kind of light or darkness. Since light and darkness are useless to me at the moment. As for the proof of my existence. Gosh all of us are real at various levels in one form or another. But we deny our existence, we find ways to disappear. How can one truly disappear? My hands, feet, eyes nose mouth, stomach heart liver are all there. Presently how could I possibly disappear, when I have barely left my mother’s womb, I’m still a child, a teenager, a woman, and with certainty, one day I will be a wrinkly older woman.

No, I don’t want to disappear. Even though I’m fully aware, sometimes in our youth we did simply disappear. Youth. I have never needed a glimpse of my youth as much as I do now, to confirm that I’m unable to ever disappear. Those in their middle age desire their youth just as much. And the elderly want their middle age, or if they were more greedy, want to be a teenager again, dream of their youth, turn back the clock, perhaps to the point of non-existence?

Still, the disappearance unravelled, right in front of me, I deliberately made an

effort not to look, not to study it. I deliberately deny my disappearance, like everything else. Like on a walk, I passed a garden right by Huong river, people were trying to save a hundred year old tree from dying. They wrapped it up, held it down, diligently water it every day. A few months after approaching the park, it was already spring, and it was budding with new shoots. The ancient tree was revived to live another life and will never again disappear. Ironically ever present is the rebirth of the universe. Dying to live again. I’m fully acquainted with the cycle of life, but at this moment I do not want to disappear. Like when I was young, I wanted to disappear as soon as I turned fifty two, then after a long time, after I was married, at twenty eight I wanted to disappear.

Spring, ten years later, after the familiar September-October tropical storm the ancient tree was thriving with copious new shoots, I lost the desire to disappear. In truth, at the time, the summer was mourning the loss of so many lives across the globe, the summer burned hot with the cremation of so many bodies amidst the pandemic, the summer overwhelmed by freshly dug graves and littered piles of red earth and crosses, I no longer wanted to disappear. I thought about the autumn spent at Wanaka lake. I thought about Albert Park. I dreamed of Prince street. Memories of the lanes through Queen City. I missed the charming evergreen at the university on the other side of the ocean. All of it was revived in my dreams day after day, by the minute, by the hour. I will, with certainty, never deny my existence.

The idea of disappearing makes no sense. I thought, there was a time I wanted to disappear, I was in a dark place. And the world in the name of humanity was rather ridiculous. But now, in front of me is a pitiful humanity of death and separation. Hence, I must survive, I must be something of value. I’m fully aware of the fact that, often I would find myself indefinitely cut off, oblivious to the blandness of humanity, but then again, I must admit, I had to learn how to love if I am to survive. Death was just a part of the life cycle of the universe. One day this universe will also disappear, replaced by another. But right now, I must allow myself the right to exist in the embodiment of a miracle of a universe condensed in a self that is me, eyes nose mouth hands feet, heart liver stomach lungs thousands and thousands of pulsating veins alive and connected to make up the person that is me.

2.

The dying atmosphere. 

Honestly, I couldn’t breathe on such days. The opening in my ears would slowly shut down. I would shut my ears to the sad stories of the world. Thus, in the end, all I was able to hear was myself mumbling incoherently. It was difficult to make out clearly the sound out there in the world, including what the man right by my side was saying. I wanted to know more about the idea of losing one’s breath. But right now, I have to deal with the odd sound forcibly trying to invade my ears. 

My nose is still there, it is still sensitive to the touch. But my breath was not to be found. The walls of the room looming, surrounded me. My view, the overwhelming sunlight, a horizon thick with the grey smoke of May. Smoke from the burning fields. The golden fields bearing seed. The golden fields bearing life. And the golden fields red with fire like the choking fires of dead bodies across India at the height of the pandemic. Death layered between the prayers. The Ganges. No, I’m down South of the Perfume River as the city of Hue was under siege. 

I am still unable to breathe.

I thought I had completely shut down the opening to my left ear. But no, I could still hear someone whispering in the dark. Aqua. Aqua. Aqua.

What was I supposed to do with this Aqua? In my tiny room, scattered with white canvas, paint brushes, and various random tubes of coloured paint. What was I supposed to do with this Aqua? Who was Aqua? Who was Aqua? I didn’t know. Or did I deliberately deny this fact? Like right now, loneliness plagued me, the complete emptiness. Aqua was gone. There was no sign of Aqua. Including the laughter and cries clearly instinctive of a child. The scattered canvas remained as plain and white as anyone’s lungs. Breathing had a white hue. I’ve confirmed that my presence could never be wrong. The whiteness of breathing. I’ve pondered the idea of it. The fantastical sadness. But, the pain was evidently clear, lucid. Including loneliness. There were nights when Aqua was at the centre of my dreams. It was a very different world. It’s not paradise or was it ever anything of this world, even less, hell. Gosh this middle of nowhere was the epitome of desolation. Aqua was alone there. The only tree, standing tall on an endlessly vast meadow, exactly like a painting I’m obsessed with, the Wanaka tree haunted me. The lonely tree. It was there in the middle of nowhere, out of place in the middle of a lake. The ridiculousness of it being there was what made it so sad. It induced an overwhelming unexpected curiosity from those who had happened upon it. Humanity is an enigma of contradiction. When even loneliness was an issue. 

At the height of this stuffiness, boiling heat mid-summer, I had to, I was determined in trying to find out what these odd sounds were about, the sound which had invaded every corner of my mind. There was a full moon last night. Round and beautiful. Bright and clear. Like when I was fifteen, sixteen years old.

3.

I took Aqua to a forest full of soothing leaves and lullabies. I took Aqua to my forest that particular day, the forest bed was thick with fallen leaves. But as they continued to dig and search for taller trees to chop down, the leaves became more unreachable, as I retreated further and further away from my forest. What was left of my daydreams, what was left of my forest?

“Don’t cry Aqua”, I soothed. The wind will return. The rain will sing. The sunlight will dance upon the layers of rotting leaves welcoming the fall. But Aqua continued to cry.

March. Secured in my arms, I took Aqua to a place full of clouds. The clouds were endlessly drifting. I ran, and I ran. I thought I would run until the clouds would stop drifting, until the clouds would stop wandering. It’s March, Aqua stop, stop crying. I lifted my hand and ran a finger down the bridge of its nose. A drop of sweat moistened the centre of my palm. A drop of sweat rolled down Aqua’s innocent baby face. What will stop Aqua from crying? I laughed bitterly. My laughter cut through the forest, cutting across the spring, piercing the horizon and the clouds. But it could not drown out Aqua’s crying.

Aqua kept crying.

Hence, after a while I became addicted to Aqua’s crying. I stopped trying to stop the crying. I let Aqua cry as much as it wanted, to its heart’s content. Aqua’s cry permeating the air, scattered mournfully like falling water drops, like old love affairs retreating into the back of a brilliant meadow strewn with fresh golden light.

Keep crying Aqua. The cries formed rivers of refreshing springs which ran across the land, reaching every nook and cranny of the mountain and rivers. From the river, it ran straight out towards the sea. “The sea is very lonely right now Aqua”, I said. The kid stopped crying suddenly, started to laugh like “chú cuội” , the guy always there alone at the foot of the banyan tree on the moon. It was hard to believe, I spent so much time trying to coax him into stopping crying, but he continued to cry as though someone was trying to hurt him. Yet, when I said, keep crying, the sea is very lonely he stopped crying instantly and like a waterfall drowned me with laughter. As it turned out, crying and laughter were not things I was able to by my own volition control. If only we were like a gift, two opposing pieces of a puzzle paralleled to each other? If only they were strange things from some far away place. From the forest, from the mountain. From a spring in the ground, from a lonely sea of the universe. 

At a time like this, all I wanted to do was to hold Aqua tightly in my arms. I was worried Aqua will simply disappear from my hands. I was afraid the Aqua in front of me would no longer be of flesh and bone. My love for Aqua was boundless and unconditional, and it existed only in this autumn forest with Aqua. I wanted to sing a lullaby of the forest and rivers, lulled Aqua into a peaceful sleep. But sometimes, I truly believe, there was a time I wanted to be the moon, drifting across forests, across the seas.  But as it turned out, I have never once turned into the moon to ever drift across the land of time flipping over and over again like a coin knowing only how to completely destroy darkness, returning light, returning life via the songs of tiny flower-peckers.

Aqua was fast asleep. While I was unready in my reverie. I don’t remember Aqua’s father. He was perhaps my first love at sixteen? Can’t be. No. I knew nothing at that age. Or was he the man in passing at the peak of my youth? Can’t be. No. I was still afraid of motherhood at that age. Was he the one who used to meander the paths though the lush meadows? No. It was not possible.

Maybe Aqua’s father was a wolf. There were only wolves in the forest. Then again even wolves were something in fairy tales. I will pay more attention to the moon, see if I might find a wolf instead of chú cuội at the foot of the bayan. On the moon there were only wolves and chị Hằng, or the icy goddess Artemis. I don’t want to think about Aqua’s father anymore. I don’t want to ponder about those eyes and lips which never smiled, the images which had only brought me pain and suffering. I will leave and take Aqua with me. I had made up my mind to look for a forest elsewhere, where only I will exist, only Aqua and the obsession with the long golden winding paths lit up by sunlight, or the canopies descending along with the sound aching afternoon somewhere other than here.

4.

I allowed my imagination to roam free for a while, by leaving the current numbing emptiness around me, a silent air with no crying, no children’s laughter. I dreamed of a room the summer I was seventeen or eighteen years old, where I was constantly bugged day and night by swarms of cicadas, and there was no way my ears could shut down or block out the noise. Truly surprising, the cicadas from those summers ago were instigators for a bright melodious period of inspired moments. Until they together with the other critters took turns laying eggs in April and May, all I wanted to do was lock them up in glass jars so the sky could attain some semblance of peace. Luckily that April and May, something inside had saved me. I knew that, if I give this forest of vibrant greens, yellows, orange, cumin and reds any thought, it will eventually permeate every fibre of my mind, it may come back screaming silently like a desire perched atop a pile of dry dead leaves like in Pin on Jan’s on an arrow from a city for instance. The remnants of March marked by the blooming of red feijoa, in bunches, some bursting with tiny fruits coated still with white pollen, I could picture the wall of Ivy changing colour in readiness for autumn.

I’m dreaming, in the dark I’m playing with a string where both ends were my memories of April, May. A summer in the forest here and an autumn in another city. Aqua’s sleeping peacefully. Startled by something or another, hastily I searched for Aqua’s eyes. What if Aqua will never wake up again? This morning, Aqua was still laughing and talking, playing, and in late noon it would cry sulking like any other child, as I tried to calm it as best I could as its cry echoed through the mountain – forest – rivers – streams. But at the moment Aqua’s not making a sound. As it got darker later in the afternoon, Aqua shrieked for the last time outside in the yard. Aqua’s tears were a mixture of blood and water. The blood shed did not stop. Dear God, “the queen of the night”, it was what made Aqua cry so loud and persistent; it’s the reason Aqua’s completely quiet right now in the dark. Where’s Aqua’s father? My tears were stuck in my throat. My cries severed the forest, the mountain, pierced the streams, crevices. My cries reached the other side of the ocean. Aqua’s father did not come back. Aqua’s father will never come home, even after Aqua had stopped laughing and crying. 

I was no longer brave enough to pursue dreams of leaves falling and autumn.

Aqua. Aqua. Oh Aqua. There are wolves in the forest. There is a moon in the forest. And in the forest there’s also a strange creature called Rhabdophis subminiatus.

5.

Last night, I couldn’t close my eyes. I left my bed, headed for the kitchen, and found a knife with a small black handle, placed it next to a lemon yellow bottle of alcohol and a red apple on the table. I didn’t peel the apple, I slashed my finger. A drop of blood left my finger, a drop of blood that knew how to laugh and cry. My man was still fast asleep dreaming his nth dream of autumn. I took the drop of blood over to the blank canvas from the moonlit night before and painted a stroke with the blood, like I did once last year when I couldn’t draw a sound, made any kind of noise. I was facing a red drop, nothing besides a red drop, I placed Aqua right next to the painting. Where resided was my breath, the breath of humanity. And Aqua’s breath. Aqua was no longer a part of that forest.

One winter morning, leaving that dark room, crossing the threshold of the door, I ran towards Wairoa river and took in a deep breath of the pungent grassy banks and the cold air. I could feel the hovering emptiness of the souls at the centre of loneliness, not ready to let go of their earthly attachments and with little desire to head towards paradise. If only I was able to view and touch Aqua in the flesh for the last time. If only I had never loved Aqua’s father so soundly within the forest, deep amongst the trees, beneath the looming mountains, so that he would abandon Aqua and me just like that. Falling clumps of snow from upon the branches fell through my fingers. A fresh drop of red blood. Aqua, is it you? Aqua, are you fire or water, or just a water drop that caused the glass to overflow?

I said, “Now Aqua is the ice, the white snow, the air”.

Light and darkness flickered in my mind. An icicle is a perfect murder weapon. I could sense Aqua’s form in my breath. But suddenly Aqua’s form morphed into a horrible virus covered with sharp spikes. It’s definitely not Aqua. My child is innocent, pure. I looked at my watch. I looked at the cut on my finger now dry. Soon, the court will be in session to decide who had stolen my Aqua in one blood thirsty moonlit night. I wish I had an icicle in my hand right now. The perfect weapon.

What can be found in the forest? (Aqua is in the forest)

What can be found on the moon? (On the moon there are only wolves).

What can be found in the soil? (In the soil there are only corpses of dead people)

MARCH 17, 2022

Truyện ngắn 

Aqua

1. 

            Trên mặt trăng chỉ có sói. 

             Sói ở trong mặt trăng.

             Còn trong rừng có gì? 

Aqua. Aqua. Aqua.

Tiếng một ai đó thất thanh xuyên thấu bầu trời đêm. Mười lăm. Trăng rằm hay là trăng máu mùa này? Hai ngàn không trăm hai mươi mốt. Những năm tháng nhìn lên trăng chỉ thấy hơi lạnh tỏa ra buốt tận xương tủy tim gan và phổi. Phổi ư? Hơi thở, nhắc đến hơi thở, bỗng dưng tôi nhớ hơi thở của tôi. Nó có tồn tại không nhỉ? Như đã từng có. Như đã từng không. Như đã từng gấp gáp và vụt trôi đi mất trong nụ hôn đầu đời. Tôi tưởng tôi đang nói về hơi thở. Ấy thế mà thân thể tôi lại co quắp đau đớn khi nhớ mùa thu năm ấy. Chúng biến mất hết rồi. Những mùa thu của riêng tôi. Mùa thu tôi mười sáu. Mùa thu tôi mười bảy. Mùa thu tôi mười tám. Mùa thu tôi gạt nước mắt biệt ly bao nhiêu lần, sau lưng ai đó. Thế mà tôi vẫn chưa thôi, chưa ngừng tìm kiếm hơi thở của mình cho đến thời điểm này. Hai ngàn không trăm hai mươi mốt. Hơi thở mất tích. Trong rừng. Dưới đáy biển. Trên mặt trăng. Hoặc một nơi nào khác, ở một nơi nào khác, hơi thở đang chơi trò ẩn nấp. Thứ mà hơi thở muốn là một tình yêu, là một bầu trời xanh. (Nhưng, đến cả loài người còn chưa biết yêu là gì).

Tôi là một thực thể, rõ ràng là một thực thể đang tồn tại mà tôi thấy chính tôi ngay bây giờ, thật thế. Tôi chẳng có thời gian đùa giỡn hay trêu ngươi kẻ khác làm gì. Tôi biết rằng tôi, ở đó, trước mắt tôi, phía trước tôi. Hẳn nhiên phía trước tôi không phải là bóng tối hay ánh sáng gì cả. Đừng bận lòng phân biệt ánh sáng và bóng tối. Vì chúng chẳng có tác dụng gì đối với tôi lúc này. Về việc chứng minh tôi tồn tại. Chao ơi con người cũng là một thực thể. Nhưng chúng ta cứ muốn chối từ chính mình, và học đòi làm cách nào đó để mình biến mất. Sao có thể biến mất được nhỉ? Tay tôi đây, chân tôi đây, mắt mũi miệng lòng mề tim gan tôi đây. Biến mất thế quái nào được trong thời điểm này, khi tôi vừa mới chào đời, khi tôi ấu thơ, khi tôi thành thiếu nữ, khi tôi hoá ra đàn bà, và hẳn nhiên, một ngày nào khác tôi chỉ là một mụ già xấu xí nhăn nheo. 

Không, tôi không muốn biến mất. Dù rằng tôi biết, thỉnh thoảng một vài sự biến mất cũng có thể xảy ra khi bạn còn trẻ tuổi. Tuổi trẻ. Tôi chưa bao giờ khát khao được nhìn thấy tuổi trẻ như lúc này, để khẳng định rằng tôi không thể nào biến mất đi được. Những người trung niên cũng đang thèm khát tuổi trẻ. Những người già nua thì chỉ mong muốn mình hãy còn trung niên, hoặc giả họ tham lam hơn là sẽ tiếp tục khát thèm tuổi trẻ, mơ mộng tuổi thơ, vặn ngược chiều kim đồng hồ, có thể cho đến khi biến mất hoàn toàn chăng? 

Đấy, cuối cùng tôi vẫn thấy trò chơi biến mất diễn ra, chúng đang diễn ra trước mắt tôi, tôi cố tình không muốn nhìn, không muốn quan sát. Tôi cố tình chối bỏ sự biến mất của chính tôi, của vạn vật. Nhưng có lần, tôi đi qua công viên nằm bên cạnh bờ sông Hương, tôi thấy người ta đang cố gắng cứu chuộc một cái cây đã trăm tuổi có thể sẽ biến mất. Họ băng bó, trì níu chằng buộc, chăm chỉ tưới nước mỗi ngày. Dăm ba tháng sau mùa Xuân, tôi chạy qua công viên đó, thấy những chồi non đâm trổ. Cây cổ thụ già nua đã được hồi sinh và không bao giờ biến mất. Kỳ lạ thay sự hồi sinh vẫn tồn tại trong vũ trụ. Chết đi và sống lại. Tôi biết quy luật tuần hoàn đó, nhưng ngay lúc này tôi không muốn biến mất. Như thời ấu thơ, tôi đòi biến mất năm mươi hai tuổi, rồi sau đó một thời gian khá lâu, sau khi cưới chồng, tôi lại tiếp tục đòi biến mất năm hai mươi tám tuổi. 

Mùa Xuân mười năm sau, chứng kiến một thân cây già cỗi đầm chồi nảy lộc non khi vừa trải qua cơn bão quen thuộc vào tháng chín tháng mười, tôi không còn ý nghĩ muốn biến mất nữa. Và thật tình, thời điểm này, khi mùa hè tang tóc tràn ngập khắp thế giới, mùa hè đỏ lửa lò thiêu xác chết trong cơn bĩ cực của đại dịch, mùa hè ngập ngụa những mộ phần còn tươi màu đất và xộc xệch thánh giá, tôi không còn muốn biến mất nữa. Tôi nghĩ về mùa thu ở hồ Wanaka. Tôi nghĩ về Albert Park. Tôi mơ về con đường mang tên Hoàng tử. Tôi nhớ những lối đi dọc ngang của phố Nữ Hoàng. Tôi tương tư bức tường thường Xuân quyến rũ ở gần một trường đại học lớn. Tất cả những hình ảnh đó đang ở bên kia đại dương. Tất cả những thứ đó đang hồi sinh giấc mơ tôi từng ngày từng giờ. Tôi, dĩ nhiên, không bao giờ muốn chối từ sự tồn tại. 

Việc biến mất thật là vô lý. Tôi nghĩ, trước kia tôi đã từng muốn biến mất vì những vùng thương tổn tối xám. Và thế giới mang tên loài người thật là vớ vẩn. Nhưng bây giờ, tôi thấy rằng, thế giới loài người thật đáng thương, bởi chúng chỉ toàn ly biệt và chết chóc. Vì vậy, tôi nên tồn tại, nên hiện hữu như một thực thể có giá trị. Tôi biết, đôi khi tôi cực kỳ ghét bỏ sự nhàm chán nhạt nhẽo của thế giới loài người, nhưng sau đó, tôi nhận ra, tôi nên học cách yêu để tồn tại. Biến mất chỉ là một khái niệm tuần hoàn của vũ trụ. Một ngày nào đó vũ trụ này cũng sẽ biến mất, và thay thế bằng một vũ trụ khác. Nhưng ngay lúc này, tôi phải cho phép tôi được tồn tại bằng chính thực thể kỳ diệu dưới hình hài một vũ trụ thu nhỏ là chính con người tôi đây, mắt mũi miệng chân tay, tim gan lòng phổi cùng hàng ngàn huyết mạch đang kết nối cơ thể sống động của mình. 

2. 

Không khí đang biến mất. 

Thật tình, những ngày này tôi không thể nào thở được. Cánh cửa trong lỗ tai tôi hình như chúng đã bắt đầu khép dần. Tôi sẽ không còn nghe nhiều câu chuyện khổ đau của thế gian. Và, lẽ dĩ nhiên, tôi chỉ nghe giọng của tôi thì thào trong tai tôi. Chẳng thể nào nghe được tiếng của thế giới bên ngoài một cách rõ ràng, kể cả người đàn ông bên cạnh. Tôi rất muốn biết về việc biến mất của hơi thở. Nhưng bây giờ, việc mà tôi cần phải lý giải là tại sao một vài âm thanh lạ cố gắng lên lỏi vào tai mình. 

Chiếc mũi của tôi vẫn đang tồn tại, vẫn sống sờ sờ ra đó. Nhưng hơi thở thì chẳng thể nào tìm thấy. Căn phòng và những bức tường vây kín lấy tôi. Nhìn thử xem, nắng rất đầy, còn bầu trời đặc nghẹt màu xám của khói tháng năm. Khói đốt đồng. Những cánh đồng vàng cho hạt. Những cánh đồng vàng cho sự sống. Và những cánh đồng vàng đỏ lửa hệt như xứ Ấn mùa bão dịch ngợp ngụa mùi tử khí. Cái chết ẩn nấp trong những câu kinh cầu nguyện. Sông Hằng. Không tôi đang ở phía bờ Nam con sông Hương những ngày Huế phong thành. 

Tôi vẫn không thể nào thở được.  

Tôi tưởng rằng tôi đã khoá chặt một cánh cửa bên lỗ tai trái. Nhưng không, tôi lại nghe ai đó thì thào trong bóng tối. Aqua. Aqua. Aqua. 

Tôi phải làm gì với Aqua đây nhỉ? Căn phòng chật hẹp của tôi, nhập nhoạng những tấm canvas trắng, cùng với giá vẽ, và các tuýp màu vương vãi. Tôi phải làm gì với Aqua đây nhỉ? Aqua là ai? Ai là Aqua? Tôi không biết. Hay tôi cố tình không biết? Nhưng ngay lúc này, nỗi cô đơn đang chiếm hữu lấy tôi, trống rỗng trọn vẹn. Aqua đã biến mất. Chẳng còn bất cứ một dấu vết nào của Aqua. Kể cả tiếng khóc tiếng cười là sự hiện hữu rõ rệt nhất về sự tồn tại của một đứa trẻ. Những bức canvas vẫn trắng xoá như phổi. Hơi thở cũng có màu trắng. Tôi xác nhận hình dung của tôi không thể nào sai lạc được. Hơi thở màu trắng. Tôi nghĩ ngợi về nó. Nỗi buồn mơ hồ. Nhưng, nỗi đau thì hiển hiện rất rõ. Kể cả nỗi cô đơn nữa. Có đêm tôi nằm mơ thấy Aqua ở cái khoảng giữa. Nó là một thế giới rất khác. Nó không phải là thiên đường cũng chẳng hề là mặt đất, địa ngục lại càng không. Chao ơi cái khoảng giữa mênh mông này mới cô độc làm sao. Chỉ có mỗi Aqua đang ở đó. Chỉ có những cánh đồng dài bất tận và một cái cây lớn duy nhất, hệt như bức tranh quen thuộc mà tôi bị mê hoặc, ám ảnh, Wanaka tree. Cây cô đơn. Nó nằm chĩn chện, ngạo nghễ giữa một hồ nước. Nhưng mà sự ngạo nghễ của nó mới đáng buồn làm sao. Nó khiến con mắt người tò mò, vây hãm. Thế giới loài người thật là mâu thuẫn. Đến cả nỗi cô đơn cũng bị làm phiền. 

Tôi dứt khoát phải tìm ra thứ âm thanh lạ kỳ xuyên thấu tâm trí tôi những ngày hè ngột ngạt, nóng bức. Đêm qua là mùa trăng rằm. Tròn và đẹp. Sáng và trong. Như tôi năm mười lăm, mười sáu tuổi. 

3. 

Tôi sẽ mang Aqua đến khu rừng nhiều lá và hát ru. Rừng của tôi, lá đã rụng khắp nơi trong khu rừng của tôi hôm đó. Thế mà người ta vẫn cố tình sục sạo tìm kiếm những thân cây to cao để hạ nó xuống, để lá rời xa tôi, để tôi rời xa rừng. Những năm tháng thơ mộng của tôi ngày xưa còn đâu, rừng của tôi còn đâu? 

“Aqua đừng khóc”, Tôi nói. Gió rồi sẽ quay trở lại. Mưa rồi sẽ cất lên tiếng hát. Nắng sẽ vui vẻ nhảy nhót trên những tầng lá mục mùa thu. Aqua vẫn khóc ri rỉ. 

Tháng ba. Tôi bế Aqua chạy qua những bầu trời đầy mây. Mây không dừng lại. Tôi vẫn chạy, và chạy. Tôi sẽ chạy cho đến khi nào mây ngừng trôi, mây không còn muốn đi chơi nữa thôi. Tháng ba rồi, Aqua ơi nín đi, đừng khóc. Tôi đưa tay vuốt dọc sống mũi. Giọt mồ hôi thấm ướt lòng bàn tay tôi. Giọt mồ hôi rớt xuống khuôn mặt non nớt, ngây thơ của Aqua. Làm cách nào để Aqua ngừng khóc? Tôi bật cười cay đắng. Tiếng cười của tôi xuyên qua rừng, xuyên qua khe suối, xuyên thủng cả bầu trời và những đám mây. Ấy vậy, vẫn chẳng thể nào át được tiếng khóc của Aqua. 

Tôi nghe tiếng Aqua khóc mãi. 

Bởi thế nên, tôi bắt đầu nghiện nghe tiếng Aqua khóc. Tôi không dỗ Aqua nữa. Tôi để cho Aqua khóc tràn bến bờ, khóc tràn mây núi bạt ngàn. Tiếng khóc buồn lang thang như những giọt nước tình tang, như những cuộc tình của tôi đã lùi lại phía sau lưng một ngọn đồi đầy nắng vàng tươi. 

Hãy cứ khóc đi Aqua. Tiếng khóc của Aqua rồi sẽ như một dòng nước mát chảy khắp mọi nơi, mọi lau lách núi rừng, sông suối. Hoặc là, chảy thẳng ra biển lớn. “Đại dương hẳn đang rất cô đơn đấy Aqua ơi”, tôi nói. Thằng bé bất giác ngưng bặt tiếng khóc và cười sằng sặc như chú cuội ngồi gốc cây đa. Thật tình khó mà tin được, tôi đã mất biết bao công sức dỗ dành nó, vậy mà nó vẫn khóc lớn tiếng như kiểu ẩn ức nhiều lắm. Thế nhưng, khi tôi nói, thôi hãy cứ khóc đi, đại dương cô đơn lắm thì nó lại cười như thác đổ ầm ầm. Hoá ra, tiếng cười và tiếng khóc là những thứ tôi không thể nào cầm nắm điều khiển trong lòng bàn tay mình được. Phải chăng chúng là một món quà, là hai mảnh đối lập song song? Phải chăng chúng cũng chỉ là một thứ kì quái đến từ nơi nào đó xa thẳm. Từ trong rừng, từ trong núi. Từ dưới suối khe, từ đại dương cô đơn của vũ trụ. 

Đêm tối xuống dần. Tôi không còn nghe Aqua khóc. Tôi cũng chẳng nghe Aqua cười. Lòng tôi buồn. Lòng tôi sầu thảm. Lòng tôi nặng trĩu. Lòng tôi chông chênh một nỗi cô độc tận cùng. Tôi co rúm hình hài của tôi lại trong bóng tối. Tôi lấy hết can đảm thở dài một lần. Bóng tối buốt lạnh. Bóng tối đưa tay ra ve vuốt tôi. Bóng tối thấy nghe tiếng khóc tiếng cười của Aqua, thủ thỉ kể về những cái chết. Trời ơi, tôi phải thu người lại thêm nữa. Bóng tối không biết tôi sợ hãi thế nào khi nhắc về những cái chết. Đau đớn. Kinh khủng. Những khu rừng bị cháy. Rừng phía nam. Rừng phía bắc. Những xác chết trong lửa. Những cơn đau trong lửa. Quằn quại cùng với trí tưởng tượng của tôi. Bóng tối vẫn tiếp tục mô tả về những cái chết của đứa trẻ sơ sinh mới hai tháng tuổi ở khu rừng phía nam, hình hài ba tháng tuổi chưa kịp lớn lên ở khu rừng phía bắc. Và ở chính giữa những khu rừng, ngay tối hôm qua bóng tối đã hét lên với tôi về một cái chết của người đàn bà quét lá cô độc. 

Tôi muốn ôm Aqua thật chặt lúc này. Tôi sợ Aqua sẽ biến mất trong vòng tay tôi. Tôi sợ Aqua không còn hiện diện bằng xương bằng thịt trước mặt tôi nữa. Lòng tôi trào dâng niềm yêu thương vô hạn với Aqua, và chỉ với Aqua trong khu rừng mùa thu. Tôi muốn cất giọng sông suối, giai điệu của non ngàn hát ru cho Aqua yên giấc. Nhưng có khi, thật sự tôi đã nghĩ rằng, tôi từng muốn hóa thành mặt trăng, trôi qua những cánh rừng, trôi qua những đại dương. Nhưng hoá ra, tôi chưa từng biến thành mặt trăng bao giờ để trôi qua miền thời gian luôn chơi trò sấp ngửa như đồng tiền hai mặt chỉ để giết chết hết bóng tối, đem ánh sáng trở về, đem sự sống trở về bằng tiếng hót của những chú chim sâu nhỏ bé. 

Aqua đã say giấc. Tôi thì lững thững mơ mộng về ký ức. Cha Aqua là ai tôi đâu có biết. Chàng ấy chắc hẳn có thể là người tình đầu tiên của tôi năm tôi tròn trăng? Không. Không phải đâu. Khi đó tôi đã nào biết gì. Hay chàng ấy có thể là người đàn ông đi ngang cuộc đời tôi năm tôi quá tuổi trăng rằm? Không. Không phải đâu. Khi đó tôi vẫn còn hãi sợ việc trở thành một người mẹ. Chàng ấy liệu có phải là kẻ lang thang cùng tôi trên những chân đồi xanh mượt cỏ? Không. Không phải đâu. 

Có khi cha Aqua là sói. Trong rừng thì chỉ có sói thôi. Hoặc có khi sói cũng chỉ còn là một huyền thoại. Tôi sẽ hướng mắt lên mặt trăng để tìm sói, không phải chú cuội ngồi gốc cây đa nữa. Trên mặt trăng chỉ có sói và chị Hằng, hoặc là nữ thần lạnh lùng Artemis. Tôi chẳng muốn nhớ đến cha của Aqua nữa. Tôi cũng không muốn hình dung ra đôi mắt và khuôn miệng ít cười đã làm tôi nhớ những đau khổ tột cùng của người đàn ông ấy. Tôi sẽ mang Aqua rời đi. Tôi có ý nghĩ rời đi để tìm kiếm một khu rừng khác, nơi đó chỉ có tôi, chỉ có Aqua và sự mê hoặc của những cung đường trải dài mùa vàng bởi nắng, hoặc các vòm cây rớt xuống theo chiều thăm thẳm trong một cơn đau quặn thắt đâu đó. 

4. 

Tôi quyết định cho phép mình đi lạc bằng trí tưởng tượng đôi chút, bằng việc rời bỏ thực tại bên cạnh sự im ắng của một không gian trống, một không gian không có tiếng khóc, tiếng cười trẻ con lúc này. Tôi mơ về một căn phòng mùa hè những năm tôi mười bảy mười tám, nơi luôn bị đám ve sầu gây phiền nhiễu từ lúc sáng sớm, mà tôi không biết làm cách nào để đóng cánh cửa trong lỗ tai mình lại. Thật đáng kinh ngạc thay, đám ve sầu từ những mùa hè nào đó thời tuổi trẻ cũng đã từng khiến tôi mơ mộng hát ca đầy hào hứng. Rồi cho đến khi chúng cùng lũ sâu bọ thay nhau đẻ trứng vào tháng tư tháng năm, tôi chỉ muốn nhốt hết chúng trong các hũ thủy tinh để bầu trời bình yên trở lại. May mắn thay tháng tư, tháng năm ở một nơi nào đó trong tâm tưởng tôi đã cứu rỗi lấy tôi. Tôi biết, thể nào thì khu rừng đầy sắc màu xanh, vàng, cam, phơn phớt nghệ và đỏ ấy cũng chiếm hữu mọi ngóc ngách khi tôi nghĩ về nó, nhớ về nó, gào thét câm lặng một mong ước nằm trên đám lá khô ở Pin on Jan’s của thị trấn mũi tên chẳng hạn. Khi tháng ba chưa dứt, mùa quả feijoa hoa đỏ từng chùm kia mới bắt đầu nhú trái non còn bám phấn trắng, tôi đã hình dung ra bức tường đầy lá thường Xuân hẳn đang đổi màu chờ đón mùa thu rồi.

Tôi đang mơ, trong bóng tối tôi đang chơi đùa với một sợi dây mà cả hai đầu đều là ký ức của tháng tư, tháng năm. Mùa hè ở khu rừng này và mùa thu ở một thị trấn khác. Aqua của tôi vẫn đang ngoan ngoãn say giấc. Tôi bất giác giật mình, rờ rẫm đôi mắt Aqua, có khi nào Aqua không thức dậy với tôi nữa? Sáng nay, Aqua vẫn cười vẫn nói, vẫn chơi đùa, và xế trưa dĩ nhiên Aqua vẫn còn khóc lóc kiểu trẻ con, tôi phải dỗ dành mãi mà tiếng Aqua không ngớt vang vọng khắp núi – rừng – sông – suối. Nhưng, lúc này thì không có bất cứ âm thanh sống động nào của Aqua. Chiều tối, Aqua đã khóc thét một lần cuối cùng ngoài sân. Nước mắt Aqua lẫn với máu. Máu chảy không ngừng. Trời ơi, nó, “nữ hoàng bóng đêm”, chính nó đã làm Aqua khóc lớn, không dứt; chính nó đã khiến Aqua của tôi im bặt lúc này trong bóng tối. Cha Aqua ở đâu? Tiếng tôi khóc nghẹn. Tiếng tôi xuyên qua rừng, qua núi, qua suối, qua khe. Tiếng tôi xuyên qua cả bờ đại dương bên kia. Cha Aqua không về. Cha Aqua sẽ không bao giờ về, kể cả khi Aqua đã ngừng khóc và cười. 

Tôi nào dám mơ tiếp về một mùa thu lá rơi. 

Aqua. Aqua. Aqua ơi. Trong rừng có sói. Trong rừng có trăng. Và trong rừng còn có cả một loài quái vật cổ đỏ mang tên Rhabdophis subminiatus. 

5. 

Đêm qua, tôi không thể nào chợp mắt được. Tôi rời khỏi giường, xuống bếp, tìm con dao nhỏ cán đen, đặt bên cạnh chai rượu màu vàng chanh cùng với một quả táo đỏ. Tôi không gọt táo, tôi cắt vào ngón tay của mình. Một giọt máu rời khỏi tôi, một giọt máu biết khóc và biết cười. Người đàn ông của tôi vẫn ngủ say trong giấc mơ mùa thu thứ n. Tôi mang giọt máu chảy ra từ ngón tay quẹt lên tấm canvas trắng vẫn trống rỗng từ đêm trăng năm trước, năm trước nữa khi tôi chẳng thể nào vẽ nổi một âm thanh, một tiếng gọi. Trước mặt tôi là một giọt nước màu đỏ, không có thêm bất kỳ thứ gì khác ngoài một giọt nước màu đỏ, tôi đặt tên bức tranh là Aqua. Nơi đó có hơi thở của tôi, hơi thở cả loài người. Và cả hơi thở của Aqua. Aqua của tôi không ở trong khu rừng ấy nữa. 

Một buổi sáng mùa đông, khi tôi rời khỏi căn phòng bóng tối, bước chân ra ngoài cánh cửa, tôi chạy về phía con sông wairoa hít hà mùi thơm và lạnh của bờ cỏ. Tôi mường tượng về cái khoảng giữa cô độc của những linh thể lơ lửng, chưa chịu rời khỏi mặt đất cũng chẳng muốn đi về phía thiên đường. Giá như tôi được nhìn thấy Aqua bằng xương bằng thịt một lần sau cuối. Giá như tôi không yêu cha của Aqua ở nơi chốn rừng sâu núi thẳm, sau đó để hắn rời bỏ tôi và Aqua hồn nhiên như vậy. Một mảnh băng tuyết từ trên cành cây rớt xuống sượt qua tay tôi. Một vệt máu đỏ tươi. Aqua đấy ư? Aqua là nước hay lửa, hay chỉ là một giọt nước vừa làm tràn ly? 

Tôi nói, “Aqua bây giờ là băng, bây giờ là tuyết trắng, bây giờ là hơi thở”. 

Ánh sáng và bóng tối nhập nhoạng trong trí não tôi. Chỉ một mảnh băng tuyết cũng có thể giết người. Tôi nhìn thấy hình bóng của Aqua trong hơi thở của mình. Nhưng bỗng chốc hơi thở có chứa hình hài của Aqua biến thành con virus quái đản kỳ dị có rất nhiều gai nhọn sắc. Chắc chắn không phải Aqua. Đứa bé của tôi ngây thơ lắm, trong trẻo lắm. Tôi nhìn đồng hồ. Tôi nhìn vết xước đỏ đã khô trên cánh tay. Chỉ một lát nữa thôi, người ta sẽ mở phiên toà xét xử kẻ đã cướp Aqua của tôi trong một đêm trăng say máu. Giá tôi có thể giữ mảnh băng nhọn. Chúng có thể là thứ vũ khí hoàn hảo nhất.

Trong rừng có gì? (Trong rừng có Aqua)

Trên mặt trăng có gì? (Trên mặt trăng chỉ có sói).

Dưới đất có gì? (Dưới đất chỉ có xác người) 


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
%d bloggers like this: