Bạn là ai? Tôi chẳng phải là ai! | Emily Elizabeth Dickinson

Bạn là ai? Tôi chẳng phải là ai!
Bạn cũng – chẳng phải là ai – luôn sao?
Là ta đã là một cặp! Đừng cho ai hay nha!
Không thì bạn biết đấy – họ sẽ tống ta ra!

Tiêu điều ôi – khi ta là – Một ai đó!
Thật công khai – như chú Ếch –
Ộp ộp tên bạn – tháng sáu mùa hạ chí –
Trước sự ngưỡng mộ của một cái vũng đầm lầy!


Emily Elizabeth Dickinson [1830-1886] là một nhà thơ người Mỹ. Ít được biết đến trong suốt cuộc đời, bà đã được coi là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong nền thơ ca Mỹ. Dickinson sinh ra tại Amherst, Massachusetts, trong một gia đình danh giá có mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

MISSING SAIGON | Hoàng Xuân Sơn

Sipply coffee, Saigon, Vietnam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Hoàng Xuân Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

morning in the old saigon (1)

early morning coffee, stools spilling into the street
a whirlpool estuary gateway to the sea
in a single drop of black coffee
a sip of life in barely awaken footsteps like a dream

so addictive is. the animation
chatter from the floating market
and above all that life and movement
the gentle opening of a door to contentment

no other light could ever dim or
shift such longing, like the scent of
a fresh pressed crisp linen shirt
a memory edged in one’s mind

dead silent waters down boundless rivers
streaks of alluvium garments of red clouds
sombre purple of water hyacinth
hid in waves of emptiness

drilled in is the morning chill
a dreamy knock on the door
sudden flood sudden rain
like sediment is life. why disturb it?

S À I G Ò N N H Ớ T H Ư Ơ N G
[ h o à n g x u â n s ơ n, v i ế t t h ơ
1983 – 2015]


b u ổ i s á n g s à i g ò n c ũ

___________________________________
sáng sớm ngồi cà phê quán cóc
giọt đen lênh láng biển thần phù
ngụm đời một ngụm chưa tỉnh thức
vẫn còn trong mộng bước du du

ghiền lắm. cái lao xao hàng quán
tiếng kêu ơi ới của thương hồ
và trên tất cả nguồn sinh động
mở cửa an bình nhẹ cổng vô

làm sao một ánh đèn leo lét
có thể khơi lan nhớ tận nguồn
áo đã xanh rồi phiên trúc nhã
kỷ niệm in vào trí tượng suôn

nước trôi bình tịnh qua sông ngát
phù sa vệt đỏ áo mây hồng
tím buồn trên sóng bèo hoang lục
giữ kín đời mình một khoảng không

sáng sớm nghe hàn trong cái rét
bàn tay ai gõ tiếng mơ hồ
rồi bỗng tuôn ào chương thuỷ vũ
đời chầm. xao động mấy vi lô?

3 juin 2019

s à i g ò n 3 đ o ạ n (2)
_______________________

đi qua cống bà xếp
những chiếc bánh bông hường
trên lầu cao tọa tháp
chiếc răng cời dễ thương
*
sài gòn xếp bằng ngồi
nhà sư châm lửa đốt
khói trời và hoang loạn
nửa ngày mây bay đi
*
khúc bánh mì hòa mã
cà phê đậm thái chi
bánh xe chiều rụng nắng
trôi xuống ngõ vàng quỳ
*
3 tháng 11/2020

**



Viết thêm, tặng Vũ Hoàng(3) Thư :
&

Và cà phê cô hồng
tóc thả dài ngang lưng
tiếng hát riêng bóng tối
bay thơm khói xanh lừng


s à i g ò n b ỏ l ử n g (4)
_______________________

bước ra đường cái đụng xe ôm
lết đi trên vỉa phố lồm cồm
về ngang phường cũ đèn chấp chóa
nhà dính nhà xâu một mũi đinh
,
người dính người như xâu chim mía
chiều lụng rồi nhậu đi chú hai
chục ly cối dập đầu lôi ký
trễ mẹ phà rồi chu mẹc ơi . . .


b ộ h à n h (5)
_________________

nhà và cây
đường và người
chuyến xe lú giữa
ngày mai
bữa rày
miệng trời
khựng giữa hai tay
làm sao vốc được
nụ ngày của đêm
vì hương đã chết
rất mềm

26,27 oct. 2015


d z ô (6)
__________

Vô sâu chút xiú. vô thêm nữa
mấy con súc sắc nhảy leng keng
cậu chàng khách trú cười cười bảo
ngộ thắng rồi, nị trả hai vziên


h a i m ả n h (7)
______________

tờ bạc mà xé làm hai
thối đêm một nửa
chung ngày rợp vui
sáng đạp xe theo đường đời
nghe thơm một quãng mắt môi người tình
một hôm
phố xá
thình lình
xóa tên kẻ mất
đóng đinh người còn!

11 Apr 2021


b u ổ i s á n g x e b u ý t. v à t h i ế u n ữ (8)
___________

buổi sáng sáo nhồng
thiếu nữ
những cái nguýt lườm
sinh sự chuyến xe buýt thành đô
lờ mờ đầu óc chật hẹp
thèm một chút nắng trong
những chiếc dép vẫn lép xép trên lối mòn
lẹp xẹp
quanh quẩn hàng rào dẫm nát
phố phường tay đôi
buổi sáng cân nhắc mình
va đụng ngọn phi lao
trần xe lúng liếng
những viên sỏi rù rì ôm bọc cách
chiếc bóng bẹp dí
nơi góc đường


v à m à u b ụ i (9)
____________

màu bụi có khi rất đẹp
buổi trưa nắng xám. trong
mầu đơm không gian cổ hanh. mềm
cái háy mắt cong
và mi đen

nhớ những trưa nồng đô thị
phin nõn
mồ hôi hồng
hương ngai ngái. tóc
và măng tơ
dưới vòm lung linh trứng cá
vắt vẻo cành gió
trắng muốt búp sen cười
và chụm môi
thổi đầu mắt bụi

tháng 11 năm 11


s à i-g ò n l â u (10)
____________

[tặng nguyễn đăng thường]

ra phố đứng một chân
nghe cửa nhà đè nặng
một cái hố dự phần
dăm con đường lấn cấn

chui nách áo mồ hôi
gột hoài không sạch bụi
một tàn cây nằm chui
trong ý đồ vặt trụi

ra phố lượn mấy vòng
mà lối về chỉ một
công trình ôi công trình
bị mắt mình thui chột

bị tim mình đánh thót
lâu hung lắm. sài-gòn
nhằm nhò chi hòn ngọc
rớt xuống. nằm trong lon

)(
hoàng xuân sơn
1983 – 2015



Hoàng Xuân Sơn 

A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh… 

Hometown: Vỹ Dạ, Huế.

Lý Thường Kiệt Primary  

Bán Công High School and Quốc Học Huế High School

Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn. 

Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.

After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.

The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn  Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề,  Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn,  Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ. 

Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.

Published work:

Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)

Huế Buồn Chi (thơ,93)

Lục Bát (thơ, 2005)

Ref: vanchuongviet.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

one bastard grain of rice | Hoàng Xuân Sơn

Sydney Autumn 2025 [Nguyễn Thị Phương Trâm]

A poem in Vietnamese by Hoàng Xuân Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

leave me alone
give me room to breathe
take what you need
but take not even the sidewalk
the curve, the words
the letters spinning
all I want in to clandestinely
carve out a small piece of the sunset just for me
please

you won’t be able to see
in the dying light
the last of drop of my seed
at the precipice is a noisy cuckoo’s nest
their cries never cease the pests

my eye
blinded by a stye
all I can do is hop
please spare me a brick
be kind and add a screw or a spring

jump, jump higher now grasshopper
cause a crackle a pop a wave
the pots might be cracked
the crockery may had its day
don’t throw them away
late I might be but it is still my
one bastard grain of rice

HẠT CƠM RƠI


Để yên cho tôi thở
Xin đừng choáng hết lề đường
Bài múa chóng mặt những con chữ
Tôi đang khắc lậu một tà dương

Bạn không nhìn thấy đâu tia nắng kém cỏi
Giọt tinh gắng gượng tuổi chiều
Bên bờ rào lu loa tổ chim tu hú
Không giây phút nào ngừng nghỉ kêu rêu

Tôi mắc bệnh váng mù mắt đậu lẹo
Đi tới đâu cũng nhảy lò cò
Hãy nhường cho tôi một viên gạch
Để thương tình đặt chiếc lò xo

Búng lên búng cao lên cào cào châu chấu
Để tanh tách vi sóng cuộc đời
Đừng quẳng hết bát cùn tô mẻ
Tôi muộn màng một hạt cơm rơi

16 mai25
@hxs


Hoàng Xuân Sơn 

A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh… 

Hometown: Vỹ Dạ, Huế.

Lý Thường Kiệt Primary  

Bán Công High School and Quốc Học Huế High School

Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn. 

Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.

After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.

The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn  Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề,  Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn,  Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ. 

Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.

Published work:

Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)

Huế Buồn Chi (thơ,93)

Lục Bát (thơ, 2005)

Ref: vanchuongviet.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

HEART BOUND IS AN EPIC TALE OF THE SEA | Lê Vĩnh Tài [487]

Thơ Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

“your name missing from the sea calls you home…”

1.
“your name missing from the sea calls you home…”
but instead of calling that one person
the sea calls forth an aging civilization
wheezy
& senile

you see that I’m drifting
like a breathless lullaby
the last of humanity’s symphony

clouds after clouds pulling each other along
without the refrain verses of a song
across the sky
after a century of war
revolutional and counter-revolutional ideologies
hollow promises like seashells sunbaking in the sun

your thoughts about angels were much like your thoughts about what’s missing from the sea
vast once upon a time
now just a sound
crashing waves and delusions

2.
once upon a time, angels were messengers of God
the sea also a messenger
of the origin, of the infinite, of silence

now the angels have lost their vernacular
sea lost its green hue
novels lost turned history
angels lost because of bleeding verses of poetry
slogans are all that’s needed by humanity

angels searching for humanity as though they’re searching for their lover
“Is it worth living in such a world?”
a question like an old song
drifts away, salty, soaked by the rain
soaked by the tears beyond its expiry date

but humanity no longer has the ability to reply
since in the reply faith is a requirement
now at the bottom of the ocean
actors acting as boat people acting as lovers acting at seminars
as though they have never starved, been close to death or dying
Trùng Dương on the verge of a romantic outburst

but after a thousand years of history the vernacular
is nothing but the clanking of empty cans
at some beach in the dark
forgettable people

the dumb searching for the deaf
the deaf searching for the blind
the blind searching for who?
no one knows

the sea knows
the sea always knows
but sea can’t be bothered with a reply

3.
the sea placing the stethoscope on its chest
not to listen to its heart beat
but history

history sound like soft murmurs
like the long sigh of someone just waking up
after a long fight to a point where no one remembers why

a sound as sad as Trịnh
but as sharp as Nguyễn
and as cold as the lastest population estimate
unfathomable number of human bodies
when floods follows the correct “procedure”
when human life is no different to mental arithmetic

philosoplers claiming
“humans are an end in themselves”
but history claiming
“humans are the means”
as life in a whisper say
“humans are the unexpected cost”

echoes like crashing waves
crashing against eroding banks of sand
enough about angels
more should be said about the people
but the people are now on the other side of memory
who are these people?

these inventors of a nation
to then bury such a nation under a mountain of debt
these inventors of community
to then destroy such a community with exhausting individualism
inventing fire to set fire to the jungle
travelled to the moon and yet on earth
the poor continues to sleep in the shadow of history

Trịnh sang once:
“humanity curled up like animals in winter”
and history continues to justify itself
with the political winters that will never dissolve

4.
like the songs drifting in the night out at sea
the angels have lost their messages
remain is the sea
quietly, tired, patient
beholding the words we will dare not say

as we continue to hang around
as though we’re the author of humanity’s last song
the truth appears as quietly as the moon would late into the night
us both for each other
angel and sacrifice

if there’s a rebellion worth singing about
then it’s a rebellion against
the smooth ruthlessness
that humanity has to get used to like the salty taste of the sea

and each day that we are able to get over it
get washed up into the forbidden zone of our humanity
the way waves get washed up on an eroding sand bank

5.
the sea in the dark tonight lies there like a wound
not sure who was at fault
a million reasons for the sea to be sad
it remembers that it was green once
waves soothing gently edges of the horizon
torn apart like exhausted lovers
knocking on a memory we have dropped somewhere

we follow the shoreline
as though we are following the length of history
each wave is a century
and each century in our hand is each salty lick of a wave

once upon a time, the sea was where the gods delivered their blessings
in present time, the sea is where humanity delivers its transgression

not once did the sea speak up
but its silence is the forgotten verse
Trịnh had left behind
on a beach in the dark
the shadow of humanity from so many centuries ago
he waits not for war
waits not for peace
waits not for a single promise from history
he waits merely for the easing of his sadness
a night when he can sleep and not dream of tidal waves

he understands that the sea will always come home
when humanity may not
a voice as tender as chalk dust
as sad as a wave disappearing
all revolution in the end
wants to find a place where humanity may be human
the sea heard what was said but it will not reply
while the waves retreat into the distance like a long sigh

the waves said:
freedom is the fate of humanity
and yet tonight the sea said:
freedom is something humanity tend to drop as they
running away from themselves

the sound of the sea is as clear as the sound of a person
when it’s near, when it’s far
when it’s earnest to the point that it could burn and blister
when it’s lonely to the point of weeping

“your departure hereafter, your name missing from the sea calls you home”
and the sea thought:
if humanity were to leave the sea forever
will the sea call humanity home?

or is the sea too tired, all it wants to do is sleep?
sleep through the centuries where humanity
continues to fail at how to love for each other

I bent down, picked up a shell
it’s empty, but the sound in it
sounds like angels void of messages
washed up here

the sea is just a witness to what is missing from the sea
everything missing from the sea
including what humanity wants to forget

these are the words of a song
not reserved for the next generation
it is reserved just for the sea
the last entity
to miss humanity

BÀI TRƯỜNG CA CỦA BIỂN TRONG LỒNG NGỰC

1.
“Biển nhớ tên em gọi về…”
nhưng thay vì gọi về một người
biển gọi về một nền văn minh đã già
đã cạn hơi
đã mất trí nhớ

bạn thấy tôi đang trôi
như người hát ru đứt hơi
buổi hòa nhạc cuối của loài người

những đám mây kéo nhau đi
như những câu hát không còn điệp khúc
trôi qua bầu trời
sau cả một thế kỷ chiến tranh
các chủ nghĩa cách mạng và phản cách mạng
những lời hứa bị rỗng như vỏ ốc phơi khô

bạn nghĩ về các thiên thần như nghĩ về biển nhớ
ngày xưa mênh mông
giờ chỉ còn lại âm thanh
va đập sóng và ảo tưởng

2.
ngày xưa, thiên thần là thông điệp
biển cũng là thông điệp
của khởi nguyên, của vô tận, của lặng im

giờ đây thiên thần đã lạc ngôn ngữ
biển thì lạc màu xanh
tiểu thuyết lạc thành lịch sử
những câu thơ ứ máu lạc thiên thần
con người chỉ cần khẩu hiệu

các thiên thần tìm con người như tìm người tình cũ
“Thế giới này còn đáng sống không?”
câu hỏi như câu hát cũ
trôi dạt, đầy muối mặn, đầy mưa
đầy những giọt nước mắt đã quá hạn

nhưng nhân loại không còn khả năng trả lời
vì muốn trả lời, người ta phải tin vào một thứ
đã chìm dưới đáy đại dương
những vai diễn thuyền nhân vờ yêu nhau giả vờ hội thảo
như chưa bao giờ đói, chết hay bị thương
trùng dương đang cương lên cơn lãng mạn

nhưng ngôn ngữ sau nghìn năm lịch sử
chỉ còn tiếng va đập của vỏ lon
trên bờ biển mỗi đêm
của những người đã quên

người câm tìm người điếc
người điếc tìm người mù
người mù tìm ai?
không ai biết

biển biết
biển luôn luôn biết
nhưng biển không còn muốn trả lời

3.
biển đặt ống nghe lên ngực
không phải nghe những nhịp tim
mà câu chuyện thuộc về lịch sử

lịch sử là tiếng rên khe khẽ
như tiếng thở dài của người vừa tỉnh dậy
sau cuộc chiến dài đến mức quên tên

tiếng ấy buồn như Trịnh
nhưng sắc như Nguyễn
và lạnh như báo cáo số lượng dân số
những thân xác vô hình
khi những cơn lũ vẫn cứ đúng “quy trình”
khi người ta xem mạng người như số học

những triết gia nói rằng
“con người là mục đích tự thân”
nhưng lịch sử lại nói rằng
“con người là phương tiện”
còn cuộc sống thầm thì
“con người là chi phí phát sinh”

những âm vang như tiếng sóng
đập vào bờ cát đã xói mòn
nói về các thiên thần như vậy đủ rồi
hãy nói về nhân dân
nhưng nhân dân đã qua bên kia bờ ký ức
nhân dân là ai?

là những người phát minh ra quốc gia
và chôn nó dưới núi nợ
là người phát minh ra cộng đồng
và phá tan bằng chủ nghĩa cá nhân mệt mỏi
phát minh ra lửa chỉ để đốt rừng
đi tới Mặt Trăng nhưng ngay trên mặt đất
những người nghèo vẫn nằm ngủ dưới bóng của lịch sử

Trịnh từng hát:
“người nằm co như loài thú khi mùa đông về”
và lịch sử tiếp tục chứng minh
bằng những mùa đông chính trị không bao giờ tan

4.
như tiếng hát trôi trên biển đêm
thiên thần đã mất thông điệp
chỉ còn lại biển
âm thầm, mỏi mệt, bất chấp
ôm lấy những điều ta không dám nói

khi chúng ta tiếp tục loanh quanh
như người viết ca khúc cuối của nhân loại
sự thật hiện ra im lặng như trăng khuya
chúng ta vừa là thiên thần
và là kẻ hiến tế cho nhau

nếu có cuộc nổi loạn nào đáng để hát
thì đó là nổi loạn chống lại
sự trơn tru tàn nhẫn
mà loài người phải quen như quen vị mặn của biển

và mỗi ngày, ta bước qua nó
trôi vào vùng cấm của chính nhân tính mình
như sóng trôi vào bờ cát đang tan

5.
biển đêm nay nằm như một vết thương
không còn nhớ ai đã gây ra
một triệu nỗi buồn của biển
biển chỉ nhớ mình đã từng xanh
tiếng sóng vỗ vào mép bầu trời
rách ra như người tình mệt mỏi
gõ cửa một ký ức mà ta đã đánh rơi

chúng ta đi dọc bờ biển
như thể đang bước dọc lịch sử
mỗi con sóng là một thế kỷ
và mỗi thế kỷ trôi qua để lại một vết muối mặn liếm trên tay

ngày xưa, biển là nơi thần linh gửi xuống phước lành
ngày nay, biển là nơi con người gửi xuống tội lỗi

biển chưa từng cất tiếng
nhưng chính sự im lặng của biển
một ca khúc Trịnh bị bỏ quên
trên bờ biển đêm
một bóng người từ bao nhiêu thế kỷ
anh ta không chờ chiến tranh
không chờ hòa bình
không chờ bất kỳ một lời hứa nào từ lịch sử
anh ta chỉ chờ nỗi buồn tan bớt
để có thể ngủ một đêm không mơ thấy sóng thần

anh ta biết biển vẫn trở về
còn con người thì không
giọng nhẹ như bụi phấn
buồn như một con sóng vừa tan
mọi cuộc cách mạng rốt cuộc
đều muốn tìm một chỗ để con người được làm người
biển nghe câu ấy và không trả lời
nhưng sóng biển lùi xa như tiếng thở dài

những con sóng nói:
tự do là số phận của con người
nhưng đêm nay biển thì thầm:
tự do là thứ con người luôn đánh rơi
trên đường chạy khỏi chính mình

tiếng biển rõ như tiếng của một người
lúc gần, lúc xa
lúc tha thiết đến bỏng tay
lúc cô độc đến muốn khóc

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…”
và biển nghĩ:
nếu nhân loại rời biển mãi mãi
liệu biển có gọi về không?

hay biển mệt rồi, biển chỉ muốn ngủ?
ngủ qua những thế kỷ mà loài người
vẫn chưa học được cách yêu nhau

tôi cúi xuống, nhặt một vỏ sò
nó rỗng, nhưng âm thanh trong đó
giống như tiếng những thiên thần không còn thông điệp
đã trôi dạt về đây

biển chỉ là nhân chứng

biển nhớ
biển nhớ tất cả
cả những điều nhân loại muốn quên

đây là lời hát
không dành cho thế hệ sau
chỉ dành cho biển
kẻ cuối cùng còn chịu nhớ
về loài người

Mai Khao Beach, Phuket, Thailand. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

6.
baby, this century
rising from the ashes of dreams
because of a gust of wind
fire and decimation

my lullaby is that long sigh
a civilization that is no more
green was the sea once
now evident in pages of fiction

did you know baby, the philosophy of this century
no one has the answer to the question
pages of a book turning by itself in the wind
spoke about the things where history is too tired
where no one want to note or copy

truth is not something humanity is looking for anymore
they look for what will not hurt them
truth like roots in the wilderness
trees and more trees salty and alive in memory
“blanket me with the salt of the land
my bullet wound steeped in the salt where I land
stings the flesh the bone stings those who had lay down their life”

we holding onto this century
as though we’re holding onto an orphaned child
the face of millions and millions of missing people
migrations are it’s teardrops
in boats, through the storms
in time with the footsteps tripping over each other in the street
knowing not whether they’re rushing toward the future
or trying to escape the past

the century sitting right up the odd night
asking the simplest of questions:
“why is there not a long left in humanity ?”

hearafter we will forget
the nameless fights
this orphaned century
as painful as half a song
harmonies sinking to the bottom of the sea

I want to sing to it a lullaby
with the voice of a street seller
this century can sleep in the end
sing to it to keep it alive
because it’s still a child with the burden
our karma

7.
softy to you baby, to the sea, I will sing
souls who have not found a home
I will tell you about those
who were left behind in the history of humanity
after the longest withdraw

they don’t want to live off the sun
since the sun is nothing but a memory
embers were the source of their survival
smoulders deep in the earth
as though the last glimmer of life
lies in death

embers sustained them
history like a book
with its first page ripped out
and lines across the last page
in disarray
footnotes and question marks
without an answer

did you know baby this century
light reserve just enough ember
to light the way for each other

since too much light can burn us
and we have chosen embers
a kind orphaned light
without a keeper
in windy nights
we huddle together
the way people long ago
learn how to let go of a world that was falling apart
without lost of identity

some were once wariors
now knows off by heart the harmony
how to put children to sleep with their lullaby
because easy was murder
because leaving each other alone was harder

some are poets
out of touch at the time
now just as out of touch
but humanity in the end
need to sing
need a song to confirm their existence
so they hold on to him
even when his poems no longer rhymes
just heavy breathing
like wind through abandoned homes

you can say baby that they are weak
but they are the last proof
that humanity can still have light
when there’s nothing left to set on fire

in their shadows from afar
see in each one of them
a sadness as beautiful as a song
so sad that it can be
turn into something call hope
because only those with sadness
can remember what it’s like to be human

baby, those who live off embers
innovation is beyond them
they simply hold on to each other
so they won’t fall off the edge of the world

sometimes, it’s as simple as that
born heroes
and the whispers of the sea out there
no one can quell the light of such embers
they know how to remember each other

8.
tonight
on a hill where they erect the tombstones
breeze through the rows and rows of trees
as though through the husky throat of a century

from damp soil, grass as soft as songs as soft as memory
lullabies used to put a nation to sleep through a war
through peace, through hope
and afternoons no one can remember
each person turning up quietly one at a time
as though they do not want themself to wake up

those who have called upon their name
to settle with the realization that
all those names as they say are
no more

they turn up not to cry
they’re here to listen
since only in silence
humanity can hear the right questions it wants to ask

each person with the burden of a name
gathered in a circle as in ritual
from the centre of the circle, rise a song
“one lover after the other they leave us like small rivers”

herein rise in a song
each one of us in the circle
as though to remember one thing
very much like a name
not a name on their ID card
but the name their mother’s used to call them
while they’re in her arms, the name they’ve lost
dropped somewhere at the market in the crowd

a little girl claimed
the fragility of my name
an elderly woman echoed
through a toothless smile
mine is much the same

night
it is full of these names in the dark
returning slowly
a name
standing in front of a song
that will never die

6.
em ơi, thế kỷ này
lớn lên từ tro than của giấc mơ
vì bầy gió đã luồn vào
đốt sạch

anh ru nó bằng tiếng thở dài
của những nền văn minh không còn
tiếng của biển đã từng xanh
giờ chỉ còn trên những trang tiểu thuyết

em biết không, triết học của thế kỷ này
là câu hỏi không người đáp trả
những trang sách tự lật trong gió
nói những điều mà lịch sử đã mệt
không còn ai muốn chép

con người không đi tìm sự thật nữa
họ chỉ tìm thứ không làm họ đau
còn sự thật như đám rễ hoang
sống trong ký ức rừng ngập mặn
“đắp cho anh nắm đất mặn xứ này
nơi anh ngã muối ngấm vào vết đạn
xót thịt xót xương xót người nằm xuống”

chúng ta ôm lấy thế kỷ này
như ôm một đứa trẻ mồ côi
có khuôn mặt của hàng triệu người đã biến mất
nó khóc bằng những cuộc di dân
trên thuyền, trong bão
ngay khi giữa phố đầy những bước chân
không ai biết mình đang chạy tới tương lai
hay thoát khỏi quá khứ

có đêm thế kỷ ngồi dậy
hỏi một câu rất giản dị:
“tại sao con người không còn hát?”

ngày mai chúng ta sẽ quên
những cuộc chiến không tên
thế kỷ mồ côi này
đau như một bản nhạc bỏ dở giữa chừng
mọi hợp âm đều rơi xuống biển

anh muốn ru nó
bằng giọng của người hát rong
cuối cùng để thế kỷ ngủ
ru để nó đừng chết
vì nó vẫn là một đứa trẻ
mang nghiệp của chúng ta

7.
anh hát khẽ thôi, cho em, cho biển
những linh hồn chưa tìm được ngôi nhà
anh nói với em
về những kẻ còn sót lại
sau cuộc rút lui dài nhất của nhân loại

họ không sống bằng mặt trời
vì mặt trời chỉ còn là một ký ức
họ sống nhờ những đốm tàn tro
âm ỉ trong lòng đất
như thể mầm sống cuối cùng
lại nằm trong cái chết

những kẻ sống nhờ ánh tàn tro ấy
lịch sử giống như một cuốn sách
đã bị xé mất trang đầu
và trang cuối
ngổn ngang những đường gạch chéo
những chú thích và những câu hỏi
chưa có ai trả lời

em biết không một thế kỷ
ánh sáng chỉ giữ lại chút tro tàn
để soi đường cho nhau

vì nếu ánh sáng quá mạnh sẽ đốt cháy chúng ta
chúng ta chọn tàn tro
thứ ánh sáng mồ côi
không thuộc về ai
trong những đêm gió nổi
chúng ta tụ lại quanh nhau
như bầy người cổ xưa
học cách rời bỏ một thế giới đang sụp đổ
vẫn không đánh mất mình

có người từng là chiến binh
giờ nằm thuộc lòng
bản hòa tấu ru cho trẻ con ngủ
vì giết nhau quá dễ
còn để cho nhau yên thì mới khó

có người là thi sĩ
đương thời bị xem là lạc điệu
giờ vẫn lạc điệu như thế
nhưng bầy người cuối cùng
cần một tiếng hát
để thấy rằng mình còn tồn tại
nên họ giữ anh ta lại
dù thơ anh chẳng còn gieo vần
chỉ còn những tiếng thở
như gió lùa qua những ngôi nhà hoang

em có thể nghĩ họ yếu đuối
nhưng họ là bằng chứng cuối cùng
rằng con người biết thắp sáng
ngay cả khi không còn gì để đốt

từ xa nhìn vào bóng họ
thấy trong từng người
là một nỗi buồn đẹp như bài hát
buồn đến mức
thành một cách để mà hy vọng
vì chỉ ai còn nỗi buồn
mới nhớ cách làm người

em ơi, những kẻ sống bằng ánh tàn tro
không làm nên cuộc cách tân nào
họ chỉ giữ lấy nhau
để không rơi khỏi thế giới

đôi khi, chỉ thế thôi
đã là một anh hùng
và biển ngoài kia thì thầm
không ai tắt được ánh sáng
của những tàn tro biết nhớ nhau

8.
đêm nay
trên ngọn đồi nơi người ta đặt những tấm bia đá
gió thổi qua những hàng cây
như thổi qua cổ họng của thế kỷ đã khàn tiếng

mặt đất ẩm, cỏ mọc mềm như ký ức những bài ca
từng ru một dân tộc qua chiến tranh
qua hòa bình, qua hy vọng
và những buổi chiều không ai còn nhớ
mỗi bóng người đến một cách lặng lẽ
như thể họ không muốn đánh thức chính mình

những người từng gọi tên mình
rồi một ngày nhận ra
tất cả những cái tên ấy
không còn

họ đến không phải để khóc
đến để nghe
vì chỉ trong im lặng
con người mới nghe được những câu hỏi thật của mình

mỗi người mang theo một cái tên
quây thành vòng tròn như một nghi lễ
từ giữa vòng tròn, một giọng hát cất lên
“từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ…”

và khi câu hát cất lên
từng người trong vòng tròn
như nhớ lại được một điều
rất giống cái tên
nhưng không phải tên trên chứng minh thư
mà là tên mẹ gọi khi ôm họ vào lòng
tên mà họ đánh rơi
giữa chợ đời chen lấn

một cô bé bỗng nói
tên tôi là mong manh
một bà lão đáp lại
bằng nụ cười không còn răng
tên tôi cũng vậy

đêm
nó đầy ắp những cái tên
đang từ từ quay trở lại
một cái tên
khi đứng trước một bài ca
không bao giờ chết

Sea, waves, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

9.
baby, listen
a dazzling city once
like the imaginative mind of humanity in its youth

the glass windows used to reflect those intimate moments now blurry under a layer of dust
intersections eyewitness to people in a rush
to be in time for work, be in time to love each other, in time to break up
now nothing but puffs of grey smoke
stretched out as though memory is being buried alive

but there’s still a bright light
a lonely flame
in a room on the third floor
paint peeled wall
peeling pieces of disappointment of the twenty first century
that can not be healed

the window still opened, breaths of the wind
carries with it the sound of a distant sea
lingered echoes of a song
the days humanity still cared for each other
help those in need

baby, you ask: this flame, who lit it?
all I can do is shake my head
maybe it was the first person who left
left it burning because they forgot to blow it out
maybe it’s a soul
wanting to leave a sign for thoses to come
also maybe it is destiny
denying darkness its victory

that flame choking the way mother’s caution is caught
in her throat during each yearly flood
where’s there’s light
there’s still a way to come home

for those from the jungle
those from the sea
those who had given up from the East
those with nothing to lose from the West
could altogether call what’s over there home

that night, the first person to step through the door was
not a hero
not a philosopher
just a very sad soul
looking for somewhere to sit down
to catch their breath and sing

then through the door was the second
then third person
“the welcome embrace of trees and mountain
visit, the booby traps and machetes…”

no one said any thing
no one said any thing
they simply sang in that dim weak light
as though they all had an understanding
the only thing they need to keep safe
was not their life
but their humanity
already as fragile as a piece of paper
but still as pure as a verse of a song
sang in the middle of the day
gleaming blue steel

that was when I understood dear love:
that flame there, it was not waiting for redemption
nor was it waiting for a miracle
or a change in history
it’s waiting only for one thing:
It’s waiting for evil doers to feel the shame of their actions
feel sad when they see the pain of blood and skin colour of other people
other than them

10.
we understand that
declarations
begins always with light

it only ends
with the things people cannot
straight away see
sentences
hanging in the square
each time a new ideal is born
the call for freedom
written in a tone of an edict

the declaration
written with bare arms
and read in a thick husky voice
of those who once upon a time
had too much faith in big dreams

“Us that is
what is left of us
declare that we have no faith
in declaration.”

because we inderstand
all the big stuff
must be announced in a soft voice
resolution is unnecessary when it comes to kindness
strategy does not equate to caring
it’s simply a hand reaching out at the right time

we believe in the small things
a glass of water for a stranger
a shelter from the rain
a timely apology

we chose to withdraw
so we won’t step on each other

someone asked:
“you guys think you can change the world
with tenderness?”

11.
we meet the people
sitting around mending the sky

they’re not saints
not poets, philosophers
or heroes
just ordinary people
sick from waiting for a miracle
from someone else

they sit waiting on the roof in the flood
crumbling bell towers
bridges to nowhere
holding onto nothing but old songs
and the glimmer of old memories

they asked:
the sky did not tear by itself
the hole in the ozone layer is man made
they bend over, pick up the humanity’s sorrows
a forgotten war
an unofficial migration
a misplaced promise of peace
the death of a love in infancy
the last look between two people
the blameless card dealt

all picked up by them, wiped clean
placed in the empty spots across the horizon
as though they’re stars
someone accidently dropped

one of them looked up
we’re mending the sky
so it won’t fall on the children
who will definitely come this way

another person added
we’re mending the sky
because no one lifts their chin to look up anymore

the last person said
we’re mending the sky
because if we do not, the night will swallow all of us whole

I watched them my love, the souls who quietly worked
and history will never remember them
but then again for that reason
it is worth the effort

sound of wind through the holes and tears
cry out like the notes played on a broken keyboard
attentively they listen nodding:
the sky is in a lot of pain
we should be more tender

like someone’s claw marks through time
each shimmering row of thread high in the sky
each small thread of hope
returned to the earth

you asked my love:
what will they do after they finish mending the sky?

I smiled:
only then will they lie down and rest
leave us with
a sky though not perfect
but enough to keep us warm in this orphaned century

9.
anh kể em nghe
một thành phố từng rực rỡ
như trí tưởng tượng của con người khi còn trẻ

những cửa kính từng soi bóng các cuộc tình đã mờ lớp bụi
những ngã tư từng chứng kiến người ta rất vội
kịp làm việc, kịp yêu nhau, kịp bỏ nhau
giờ đây chỉ còn những vệt khói xám
kéo dài như ký ức bị chôn sống

nhưng một ngọn đèn vẫn sáng
ngọn đèn cô độc
trong tầng ba của một căn phòng
bức tường bong tróc
như những mảng thất vọng của thế kỷ hai mươi mốt
không chữa lành

cửa sổ vẫn mở, gió thở
mang theo tiếng của biển rất xa
dư âm của lời ca
những ngày người ta còn biết thương nhau
qua cầu không rút ván

em hỏi: ai thắp ngọn đèn ấy?
anh chỉ biết lắc đầu
có thể của một người ra đi từ lâu
nhưng quên tắt
có thể là một linh hồn
muốn để lại dấu hiệu cho kẻ đến sau
cũng có thể là định mệnh
chưa muốn bóng tối chiến thắng

ngọn đèn ấy, nó nghẹn lại
như lời mẹ dặn trong mùa mưa lũ
ở đâu còn ánh sáng
ở đó còn đường về

cho những ai từ rừng
cho những ai từ biển
những kẻ tuyệt vọng từ phương Đông
những kẻ không còn gì để mất từ phương Tây
đều lặng lẽ được về phía ấy

tối hôm ấy, người đầu tiên bước vào căn phòng
không phải anh hùng
không phải triết gia
chỉ là một kẻ buồn quá
tìm chỗ để ngồi xuống
thở và hát

thêm một người thứ hai
một người thứ ba
“rừng núi dang tay
đi thăm, hầm chông và mã tấu…”

không ai nói gì
không ai hỏi ai
họ chỉ hát trong ánh sáng yếu ớt ấy
như thể tất cả đều hiểu rằng
điều duy nhất họ phải giữ
không phải là mạng sống
mà là nhân tính
đã mỏng như tờ giấy
nhưng vẫn đẹp như một câu hát
được hát giữa trưa
xanh ngời ánh thép

đó là lúc anh hiểu:
ngọn đèn kia không chờ cứu viện
không chờ phép lạ
không chờ lịch sử thay đổi
nó chỉ chờ một điều duy nhất:
chờ những người còn biết xấu hổ khi làm điều ác
và biết buồn khi thấy người khác đau
máu đỏ da màu

10.
chúng tôi đã hiểu rằng
những lời tuyên ngôn
luôn bắt đầu bằng ánh sáng

nó chỉ kết thúc
bằng những điều
người ta không chịu nhìn thẳng
những hàng chữ
được treo lên quảng trường
mỗi lần có một lý tưởng mới chào đời
những lời kêu gọi tự do
bị viết bằng giọng ra lệnh

bản tuyên ngôn
được viết bằng cánh tay trần
và đọc bằng giọng khản đặc
của những người đã từng
tin quá nhiều vào những giấc mơ lớn

“Chúng tôi,
những kẻ còn sót lại,
tuyên bố rằng,
không còn tin vào tuyên ngôn.”

vì chúng tôi đã hiểu
rằng mọi điều lớn lao
phải được nói bằng một giọng nhỏ nhẹ
rằng tử tế không cần biểu quyết
rằng yêu thương không phải chương trình
chỉ đơn giản một bàn tay chìa ra đúng lúc

chúng tôi tin vào những điều nhỏ bé
một chén nước cho người lạ
một mái hiên trú mưa
một lời xin lỗi kịp lúc

chúng tôi chọn lùi lại
để không dẫm lên nhau

ai đó hỏi:
“các người nghĩ thế giới sẽ thay đổi
bằng sự dịu dàng sao?”

11.
chúng tôi gặp họ
những người ngồi vá lại bầu trời

họ không phải thần thánh
không phải nhà thơ, triết gia
cũng chẳng phải anh hùng
chỉ là những con người bình thường
đã quá mệt với việc chờ đợi phép màu
từ tay của kẻ khác

họ ngồi trên những mái nhà bị ngập
những tháp chuông gãy
những cây cầu không dẫn đến đâu nữa
trên tay chỉ có những câu hát cũ
và những mảnh ký ức lấp lánh

họ nói:
bầu trời không tự rách
chính con người làm nó bị thủng
họ cúi xuống, nhặt nỗi buồn của nhân loại
một cuộc chiến bị lãng quên
một cuộc di cư không ai ghi chép
một lời hứa hòa bình đã mất
một tình yêu chết trẻ
ánh mắt lần cuối giữa hai người
cái thẻ bài vô tội

tất cả đều được họ nhặt lên, lau sạch
đặt vào khoảng trống của vòm trời
như thể chúng là những ngôi sao
kẻ nào đó lỡ đánh rơi

một người trong nhóm ngẩng lên
chúng tôi vá lại bầu trời
để nó đừng rơi xuống đầu những đứa trẻ
thế nào cũng đi qua đây

một người khác tiếp lời
chúng tôi vá lại bầu trời
vì không còn ai biết cách ngẩng đầu nữa

người cuối cùng
chúng tôi vá lại bầu trời
vì nếu không, đêm sẽ nuốt hết chúng ta

anh nhìn họ, những người thầm lặng
đang làm việc mà lịch sử sẽ không bao giờ nhớ
nhưng có lẽ vì vậy
nó mới đáng làm

gió thổi qua những lỗ thủng còn dang dở
kêu như những phím đàn vỡ
những người ấy lắng nghe, rồi gật đầu:
bầu trời vẫn còn đang đau
nhẹ tay hơn một chút

như móng tay ai cào vào thời gian
cứ mỗi đường chỉ khâu lấp lánh trên cao
là một chút hy vọng
lại trở về trên mặt đất

em hỏi:
rồi họ sẽ làm gì khi bầu trời đã vá xong?

anh mỉm cười:
khi ấy, họ sẽ nằm xuống nghỉ
để lại cho chúng ta
một bầu trời dù không hoàn hảo
nhưng đủ để che một thế kỷ mồ côi

Phú Quốc, Việt Nam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

12.
when history closes a door
they embrace the spring in their arms
they fly beyond time

without anyone holding them back
they leave history behind
birds refusing to fly North
because they know the cold would destroy what’s left of memory

they walk away in silence
without fire
without a map
on them they carry the smallest slice of spring
wrapped in a handkerchief
like the glass marbles kids used to hide
worried their mothers might take them away

that slice of spring, it’s not a flower
not sunlight
those who do not believe in the concept of “enlightenment”
since they see that even light could be injured

like the residual heat left behind on a chair
when you stand up
they have gone beyond history
where there are no issues
just a silence space across the sky
where literature is free from judgment
like the fear of waking
history fast asleep at the bottom of a hill

one of them said:
I left history behind
only because I want to love again
without people watching me

and in that village, history
may have perhaps made other people feel less afraid

the oddest thing
the only thing they had to do was breathe
and the world feels less scary

sometimes looking back at the old sky
they see history continues to
spill blood
struggle
libel
build
pull down
more bloodshed

they don’t need acknowledgement
saving just enough warmth for humanity
when everything has turned cold

and history is nurtured
with tenderness beyond reason
held high by those who makes no promises
suddenly the only thing left
when history have no one left to note their name

14.
when the sound of a bomb takes away
a breath

when the smoke of war
lingers still on the clothes on our back

guns no longer speaking
still burning slowly in the ground

because we still do not want to forget
we can all still see
a blade of grass
not tall
not green to perfection
not standing tall against the wind
just a fragile thread
shyly poking it’s head out from a crack in a burning cement wall

where there has been fire
where humanity have withdrawn
where history thought
there is no life
but grass does not need history
to grow

at such a point
some might kneel down beside it
to say a prayer
the first line “teach us to love one another as You have loved us”

– the prayer of a survivor coming home

pray O blade of grass
you are softer than any philosophy
and yet you stand up faster than all kinds of pain and sorrow

you’re oblivious of the past
nor are you bothered about the future
and yet at this very moment
you have done
what humanity have forgotten:

thank you
for growing where people believe there’s nothing left to grow
country is not just land
it is the return of things thought to be dead

gosh O green grass, aching at the end of the horizon
falling through the heart
into the soil budding still as grass

– a child’s prayer

knows nothing about war
knows its mother’s silence
it asking:
grass, does it hurt there?

to no reply
but those who heard feels
the pain more more painful for longer

– prayer of a person who had taken up arms

both hands familiar with the sound of explosions
and your conscience could slowly sit down:
– my bullets have entered the places where the grass will grow
the earth shrivelled up from fear
and yet the grass continued to grow
fragile to the point I wanted to cry

my apologies to the seasons of spring
who had missed my bullet

my apologies for not believing
in miracles

but if there were miracles
then it would be like green commas
in a dejected sentence

they stand around the small blade of grass
like standing around a small flame during
the funeral of a century

no one singing, but the wind to replace them
no one crying, but the dust playing in the light
the cause of red eyes and tears

O grass, we are the cause of the tear in the sky
we are the decay in memory
stamping out the light of what is left of the spring
burning to ashes our soul

comes the day we stop, stand to face
a blade of grass, and still knows how to stay silent
know how to breath slowly
how to reach out and touch another living thing

and it will be
amidst the bombs and munition of the world
rise the last prayers
not to justify or ask for anything
we are all hurt
but like grass each wound knows how to be green again

12.
khi lịch sử khép lại cánh cửa
họ lặng lẽ ôm mùa xuân trên tay
bay ra thời gian

nhưng không ai giữ lại
họ đã rời khỏi lịch sử
những bóng chim từ chối bay về phương Bắc,
vì biết trước gió lạnh sẽ giết chết ký ức

họ đi trong im lặng
không mang theo lửa
không mang theo bản đồ
chỉ mang một mùa xuân nho nhỏ
giấu trong khăn tay
như bọn trẻ từng giấu viên bi thuỷ tinh
sợ mẹ lấy mất

mùa xuân ấy, không phải là hoa
không phải nắng
những người không tin vào khái niệm “khai sáng”
vì họ đã thấy ánh sáng cũng bị thương

như hơi ấm còn sót lại trên ghế
khi bạn vừa đứng dậy
họ ra ngoài lịch sử
nơi không còn biến cố
chỉ có khoảng trời câm lặng
để văn chương không cảm thấy bị xét xử
như nỗi sợ đánh thức
lịch sử đang ngủ vùi dưới chân đồi

một người nói:
tôi rời khỏi lịch sử
chỉ vì tôi muốn yêu trở lại
mà không bị ai cảnh giác

và trong ngôi làng, lịch sử
có thể làm cho người khác cảm thấy bớt sợ

kỳ lạ thay
chỉ cần họ thở
thế giới đã bớt sợ hãi thêm một chút

đôi khi nhìn về chân trời cũ
họ thấy lịch sử vẫn tiếp tục
đổ máu,
tranh giành,
mạt sát,
xây đắp,
sụp đổ,
rồi lại đổ máu.

họ không cần ai công nhận mình
chỉ giữ lại chút hơi ấm cho loài người
khi mọi thứ còn sót lại đã nguội

và lịch sử
được nuôi bằng sự dịu dàng không lý thuyết
được giữ bởi những người không hứa hẹn
bỗng trở thành điều duy nhất sót lại
khi lịch sử chẳng còn ai để ghi tên

14.
khi tiếng bom vừa dứt
một nhịp thở

khi khói chiến tranh
vẫn còn vương trong kẽ áo

khi mặt đất vẫn âm ỉ sức nóng
của những khẩu súng đã ngừng nói

vì chúng chưa chịu quên
mọi người vẫn còn nhìn thấy
một ngọn cỏ
không cao
không xanh màu xanh trọn vẹn
không đứng thẳng trước gió
chỉ là một sợi mỏng manh
rụt rè trồi lên từ vết nứt của lớp bê tông tường thành đang cháy

nơi mà lửa đã đi qua
nơi mà con người đã lùi bước
nơi mà lịch sử nghĩ rằng
sẽ không bao giờ có sự sống
nhưng ngọn cỏ không cần lịch sử
nó mọc

chính lúc ấy
có người quỳ xuống bên nó
để đọc bài kinh cầu nguyện
lời đầu tiên “người biết yêu người”

– bài kinh của kẻ còn sống sót trở về

lạy ngọn cỏ
ngươi mềm hơn mọi triết lý
nhưng ngươi cũng đứng dậy nhanh hơn mọi đau thương

ngươi không biết quá khứ
cũng chẳng màng tương lai
nhưng ngay lúc này
ngươi đã làm điều
mà loài người quên mất:

cám ơn
vì ngươi mọc từ nơi không ai nghĩ chẳng còn gì để mọc
quê hương không chỉ là đất đai
mà là sự trở lại của thứ tưởng như đã chết

ôi cỏ xanh ngươi buốt tận chân trời
ngã xuống xuyên giữa ngực
tan vào đất đâm chồi vẫn cỏ

– bài kinh của một đứa bé

không hiểu chiến tranh là gì
nhưng hiểu nỗi im lặng của mẹ
nó hỏi:
cỏ ơi, chỗ này có đau không?

không ai trả lời
nhưng mọi người nghe thấy
đau hơn và lâu hơn

– bài kinh của người từng cầm súng

hai tai đã quen tiếng nổ
và lương tâm người vẫn ngồi xuống thật chậm:
– tôi đã bắn vào nơi cỏ sẽ mọc
đã làm mặt đất co lại vì sợ
vậy mà cỏ vẫn mọc lên
mỏng manh đến mức làm tôi muốn khóc

tôi xin lỗi
cho những mùa xuân tôi đã bắn hụt

tôi xin lỗi
vì tôi không tin vào phép màu

nhưng nếu có phép màu
thì nó như dấu phẩy màu xanh
trên câu văn tuyệt vọng

họ cùng đứng quanh ngọn cỏ
như đứng quanh một ngọn nến nhỏ
trong tang lễ của thế kỷ

không ai hát, nhưng gió hát thay họ
không ai khóc, nhưng bụi bay trong ánh sáng
khiến đôi mắt đỏ lên như khóc

ngọn cỏ ơi, chúng ta đã làm rách cả bầu trời
làm mục nát ký ức
dập tắt mùa xuân
đốt cháy linh hồn của chính mình

nếu một ngày chúng ta còn đứng lại
trước một ngọn cỏ, còn biết lặng im
còn biết thở chậm
còn biết đưa tay chạm vào một sinh linh

và thế là
trên nền đạn bom của thế giới
những bài kinh cuối cùng được đọc lên
không để cầu xin, không để chứng minh
tất cả chúng ta đều bị thương
nhưng mọi vết thương đều biết cách xanh như cỏ

Sea Cliff Bridge, NSW, Australia. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A HYMN OF TENDERNESS
FOR THOSE WHO ARE DISAPPEARING
BECAUSE OF THEIR MEMORY OF A WAR


love, this verse that I wrote
like a small offering
on the forehead of those eroding
like pebbles beneath the feet of this century

those who had survived the war
dying in the afternoons tainted with smoke
lost in the middle of peace
as though they are walking through a field long forgotten

where each step echoes the sound of an explosion
a past that refuses to leave them alone
as though the call of street sellers
were the sound of alarms and sirens

like a prayer
read over and over again
to snap you out of a nightmare

love, this verse that I wrote
I wrote it so the blue sky may be less cold
when it passes over their old shoulders

love, this verse that I wrote
I wrote it so that the sea may be less sad
seeing people standing around for so long
not knowing why they want to cry

love, this verse that I wrote
like lighting a candle
placing it in the middle of a room amid all that trembling
only a small candle flame
but enough for them to see that
darkness will never triumph over a flame that knows how to listen

and if war
continues to pump through their vein
then this hymn
will be the water in a brook that will clean their hands
shaken from so many years without the touch of tenderness

love, this verse that I wrote
for those who are slowly disappearing
because of the memory of a war
like sand through fingers
so I can tell them that
no one is born to then disappear
no one is born to then fade in memory

tonight, the most tender of hymns is written
in their thinnest of breaths
rising still, flying
like an apology turning up late
written for the hearts
that had safeguard the world

with a cost that no one
could ever repay

no echo or rising applaud
just silence
so all those exhausting memory could be placed down on the ground
like a soldier’s backpack
returning from a battle
that had lasted a lifetime

all they have to do is sit still
give themself the permission to believe
that the world will also slow down
wait for them

some place a hand on their chest
feels that their heartbeat
no longer sound like the fire of artillery

they are called by their name
in a world that had in the end
learned how to listen
to pain and not
turn it into folklore


BẢN THÁNH CA DỊU DÀNG
CHO NHỮNG NGƯỜI VẪN ĐANG BIẾN MẤT
VÌ KÝ ỨC CHIẾN TRANH


anh viết khúc này
như một lời tụng nhỏ
đặt lên vầng trán của những người
đã mòn đi như viên sỏi dưới chân thế kỷ

những người không chết trong chiến tranh
mà chết trong những buổi chiều còn sót mùi khói
những người đi lạc giữa hòa bình
như đi giữa một cánh đồng bị bỏ quên

nơi từng bước chân vang lên tiếng nổ
của cái quá khứ không cho họ bình yên
như thể tiếng rao hôm nay của người bán hàng rong
cũng thành còi báo động

như một lời kinh
đọc đi đọc lại
để bẻ gãy một cơn ác mộng

anh viết khúc này
để trời xanh bớt lạnh
khi đi qua vai họ

anh viết khúc này
để biển bớt buồn
khi nhìn thấy những bóng người đứng rất lâu
mà không biết vì sao mình muốn khóc

anh viết khúc này
như thắp lên một ngọn nến
đặt giữa căn phòng đầy những cơn run rẩy
ngọn nến nhỏ thôi
nhưng đủ để họ biết
bóng tối chưa từng thắng một ngọn lửa biết lắng nghe

và nếu chiến tranh
vẫn còn đang chảy trong mạch máu của họ
thì bản thánh ca này
sẽ là dòng suối rửa sạch đôi bàn tay
đã run lên từ quá nhiều năm không được chạm vào sự dịu dàng

anh viết khúc này
cho những người đang mất dần
vì ký ức chiến tranh
như cát đang rơi khỏi lòng bàn tay
để nói với họ rằng
không ai sinh ra để tan biến
không ai sinh ra để ký ức phai đi

đêm nay, bản thánh ca dịu dàng nhất
được viết bằng hơi thở rất mỏng
của họ, vẫn sẽ bay lên, bay lên
như một lời xin lỗi muộn màng
gửi tới những trái tim
đã từng bảo vệ thế giới

bằng cái giá mà không ai
trả lại được cho họ

không có tràng pháo tay nào vang lên
chỉ có sự im lặng
để những ký ức mệt mỏi
được đặt xuống như balô của người lính
vừa trở về sau một cuộc hành quân
kéo dài cả đời

họ chỉ cần ngồi yên
cho phép mình tin rằng
thế giới này cuối cùng cũng chịu chậm lại
để đợi họ

có người đặt tay lên ngực
nghe thấy nhịp tim mình
không giống tiếng súng

họ được gọi tên
trong một thế giới
cuối cùng, cũng học được cách
lắng nghe nỗi đau
mà không biến nó thành huyền thoại

Dawn, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The setting sun at the end of the world | Quách Thoại

NSW, Australia. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Quách Thoại
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

Suddenly I’m full of dread
Screaming and mournful is my soul today
I want to embrace
Embrace the Sun, spin the earth
Cloak it in the circling light
Gosh! the brilliant dawn over the horizon
Making of my life
My dreams O humanity!
My palms embracing each other
My head lower in prayer
When things are hard we beg and we borrow
That bit of love that binds us
A world of blooming flowers
A lifetime fresh fruit
Spring couldn’t possibly be asleep
The world is sinking into the viciousness of the sunset
Now people, what have you done
Why am I so anxious
Budding destruction within advancement
I beg your pardon, but I didn’t know
A bus just fell off the side of the highway
The patrons together with it fell
They died
Mother earth cut open
Gosh! the agony and lines of separation
Which is the path towards Great Unity
How could there be such a storm
Angry lighting toppling the stronghold of generations
Anguish and silent pain
The responsibility of being human
In their hands is the peril of civilizations
Thought it was hope and it turned out to be despair
No! No! I will still wait and see
God! – God almighty! – God! – God almighty!
This whole life can’t be a game
Gosh! The devil and angels
They are all the same
Dawn and lonely dusk
The anxious minutes of the day
People born to the world with both of theirs hands severed
With no chance to hold onto their mind or their head
Where will the mournful voices and cries go to bed
One bomb just a few more bombs
Gosh, what will happen to these unattainable principles
To justify the words in the Bible
Calling is the end of the world upon the setting of the sun
A shiver in place of a pitiful end
A shiver in place of the last breath upon death
Gosh! the inevitable death who would have thought death was inevitable
Naked is humanity without a God
Hand in hand in this miraculous progress
Upon the dying day came the penetrating darkness
Tormented nights and an inevitable life of sin
Night turning up to face the setting of the sun upon the death of humanity
Light O light!
O infinite thirst
Infinite longing

Chiều tận thế



Sao ta bỗng giật mình lo ngại quá
Hồn ta rên la than khóc hôm nay
Ta muốn ôm, ôm lấy mặt trời ngày
Xoay trái đất cho giáp vòng ánh sáng
Ôi! Bình minh một trời xuân chói rạng
Là cuộc đời ta những ước mong thay
Loài người ơi! ta chắp cả hai tay
Đầu cúi lạy, ta nguyện cầu nho nhỏ
Vì khổ đau ta phải cần xin xỏ
Chút tình thương buộc chặt giữa người người
Và hoa tươi và trời hỡi hoa tươi
Trái tốt đẹp cho muôn đời vũ trụ
Có lẽ đâu thời xuân xanh đi ngủ
Thế giới chìm trong ác lặn hoàng hôn
Người làm chi ta nghe dạ bồn chồn
Trong tiến bộ đã có mầm tiêu diệt
Xin lỗi người, nào tôi đâu có biết
Một chuyến xe vừa mới rớt trên đèo
Những hành khách đã phải chết rơi theo
Và Mẹ đời hình cưa thân mổ xẻ
Ôi! đau đớn là những đường chia rẽ
Tìm đâu ra những lối đến đại đồng
Có lẽ đâu trời sẽ nổi cơn giông
Rồi sấm chớp xô lâu đài thế hệ
Đau thương, đau thương dường vô kể
Liệu loài người sẽ quyết định chi đây
Văn minh rồi nguy hiểm nắm trong tay
Tưởng hy vọng ngờ đâu thành tuyệt vọng
Không! Không! tôi vẫn hãy còn trông ngóng
Chúa Trời! – Chúa Trời! – Chúa Trời! – Chúa Trời!
Cả cuộc đời không lẽ chỉ trò chơi
Ôi! ma quỷ và Thánh Thần lẫn lộn
Sáng hôm nay chiều hoang sơ hỗn độn
Đã gặp nhau cùng trong một buổi ngày
Người ra đời bèn bị chặt hai tay
Không ôm kịp lấy đầu hay trí óc
Kể vào đâu những lời than tiếng khóc
Một quả bom chỉ vài quả bom thôi
Ôi thôi rồi chủ nghĩa với xa xôi
Chỉ minh chứng một lời kinh Thánh nói
Chiều tận thế tưởng chừng như réo gọi
Rùng mình thay cho thảm cảnh cuối cùng
Rùng mình thay cho cái phút lâm chung
Ôi! mệnh hệ ai ngờ đâu mệnh hệ
Loài người nay trần truồng không Thượng Đế
Dắt nhau đi trong tiến bộ diệu kỳ
Ngày tàn rồi bóng tối đến lâm ly
Đêm u khổ vào cuộc đời tội lỗi
Đêm đã đến chiều nhân gian hấp hối
Ánh sáng ơi! khao khát đến vô cùng

—–
Nguồn: Phạm Thanh, Thi nhân Việt Nam hiện đại (quyển hạ), NXB Sống Mới, 1959


Quách Thoại (1930-1957) Born Đoàn Thoại in Hue, Vietnam. He loved Tagore from an early age, at 18 he left for Saigon as a freelancer for newspapers like Đoàn kết, Làm dân. Within two years became the General Secretary for Nguồn sống. 

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The Date | Tống Phước Bảo

A Short story in Vietnamese by Tống Phước Bảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

1.

Quyên met him at Metro 9, the light rail connecting Suối Tiên and Quảng Trường. He looked smart in a three piece black suit and charcoal purple tie. Hair neatly combed, divided three quarter to the side. A generous forehead crowning prominent cheekbones. Quyên’s heart skipped a beat. It took a couple of minutes before she had managed to regain her composure.

The carriage doors opened, rows and rows of people rushed in, filling up any space that was left to be filled. 7h30 in the morning May 2. A busy start to the week. Office workers from the surround areas coming into town after a long break, after the country had shut down for the national holiday. In the tight carriage Quyên’s eyes searched for him, but she couldn’t find him. Perhaps because people, they all looked the same. Perhaps it was because Quyên was not fully awake. Last night’s dream was still spinning around in her head.

2.

Passing the exam Thuần was accepted into a big company, after being unemployed for five months. Happy news rang over the phone.

Quyên bought Thuần a smart suit, fitting of his form, a few plain coloured ties. Thuần liked to keep it simple, no long or short stripes. Thuần was simple from the inside out. Like it or not he would come straight out with it, tell the person to their face.

A couple of times Quyên tried to tell Thuần to be a little more kinder with his words. In theses current time no one cares if you’re good or bad, what makes all the difference were the kind words. Because Thuần was like that, after two years working his butt off he was still at the bottom of the food chain, his friends graduating from the same class were now in better roles, they were either in managerial roles or trainers.

Thuần do not agree, or disagree. But he would always speak up. Everything was black and white, there was no other colours in between, to muddle the boundaries. Thuần is a person who will fight, will speak up until the job was done, taking full responsibility for his actions.

Quyên asked Thuần, have you ever thought about me, our future together? With our current situation you can not be Lục Vân Tiên.

Thuần resting his head on Quyên’s shoulder. One afternoon in Thủ Thiêm when the waves endlessly came and went. From district two looking over the city centre, proud tall building puncturing the sky, the streets glowing slowly with red and green lights. The urgently shifting. This land right here, from the ground up, business centres, majestic residential buildings, they will pop up. Quyên, all changes has a cost. If Thuần stay quiet, I will be like the other people with their heads down because of money position fame and opportunity. A city like this needs people who can break things down for any development to succeed.

Someone else will speak up if Thuần do not. There are plenty of things wrong with this world. As long as we watch what we’re doing and stay firm there’s nothing we have to fear. Time will tell. There are times Thuần finds it impossible to go on, his faith is renewed by simply resting his head on Quyên’s shoulder. There will be time when Thuần will stumble and fall, Quyên will have to believe that, Thuần just need to rest and everything will be fine. Quyên, our faith in each other is how we survive!

3.

10 O’clock Friday, the 13th of June. The trip home on the light rail from Quảng Trường to Suối Tiên. The last train, the last day of the week there is usually less people. The carriage was mostly empty. The two of them found themselves sitting opposite each other.

The man sitting facing her was unusually pale caught Quyên’s attention. Droopy eyelids, head leaning onto the side panel of the seat . Movements to disposition were a show of exhaustion. But Quyên could still discerned his steady breathing.

For fifteen minutes Quyên watched him, the light rail came to a full stop. Hesitating a few seconds, Quyên made her mind to wake him up.

_It’s the last stop!

He opened his eyes, startled but managed a smile before thanking her. The two of them stepped out of the carriage together, crossing the empty platform. The gate standing there in silent, unmoving. He quickly fished out his red rail pass, swiping the thin screen at the end of the gate, the automatic gate opened up as usual.

_The gate sometimes does not work. My name is Jack, I’m twenty four, just back from the States, Director of Operations of the City Metro System.

_Oh, I’m Rita…

_Rita, you are beautiful, I wonder if I could have your birthday?

A faint smile appeared on Quyên’s lips as she proceeded to clearly give him her date of birth. Their conversation continued across another long walkway, down two sets of stairs, then out into the main road. Quyên turned left, he turned right.

4.

The news of Thuần’s accident came late one seasonal rainy night in December. The city stood still bearing the downpour from the East sea. Quyên was on the phone to all the taxi companies, the operator told her to wait.

More than four hours before that, all the offices had allowed their staff to leave early, Thuần did call to say, after the meeting he will head home. The meeting was rather stressful, it had taken Thuần more than a week to prepare for it. Cancelling their wedding fitting appointment. Including the reservation of the restaurant venue Thuần had left it for Quyên. Every night Thuần would be in bed at two in the morning. Quyên would ask how every were going, Thuần would reply with how much he was so sick off with a long sigh.

The rain draped across the sky covering every up. No taxi. Quyên did not sleep. 12 am, the picture frame of Quyên and Thuần the day he took her to the opening of the Metro 9 light rail, suddenly fell, the glass shattered across the floor. Quyên grabbed her phone and pressed the number the doctor used to contact her. There were only the chilling sound of buzzing coming from the other end of the line.

5.

In the news there was a serious case of fraud, the exaggerated cost of a metro project from twenty years ago. To the extent of staging an accident to cover up the incident. All nine stations of the metro line connecting the surrounding suburbs to the city center were overcharged by billions of dong. The entire board of directors were arrested. People from accounts to floor supervisors, they were all under investigation. The incident for a whole week was a topic of interest through all the carriages down the metro line. And for almost a week, Quyên did not see the guy with the charcoal purple tie.

The case was turned over one late night when the young director was held up in his office. An old filing cabinet in the storeroom next to his office toppled. A big commotion. He and a couple of security guards rushed over to check out what had happened and to see if they can help clean up. In a stack of documents, fell out from a purple ring binder was a CD, on the cover was a photograph of a smiling couple taken in front of Metro 9 station.

He took the folder back to his office. His curiosity was piqued because the woman in the photograph was someone he saw now and then on the metro. And the new the guy next to her, leaned into her like two drops of water.

The disc had a collection of photographs of the pair, from the time they were at university together on their bikes, to their lovely home, then …a photograph compressed in a compressed file marked as Jorker virus. Jorker wore a black suit with a charcoal purple tie.

Then he remembered the evening on the late trip home on the metro, he entered the six digit number he remembered through the whole conversation on the platform of Metro 9 after he was woke up by the young woman.

The last file that had opened up stunned him. Crucial data from more than twenty years ago. The data was immediately handed to the police.

7.

The young director caught the light rail from Long Thành International Airport to Suối Tiên on one late night at the end of the week. The business trip devoted to the incident that had taken place twenty years ago had left him exhausted. It was the last stop. Metro 9. Exactly ten at night December 14th 2046. Enough time for him to make it to his twenty fourth birthday.

Even footsteps on the deserted platform. Approaching the exit, he found Rita having trouble with the automatic gate. Pulled out his red rail pass. The conversation continued the length of the deserted walkway.

_Thank you to you and your partner, I have always believed that we are meant to meet each other. There is always a higher reason. There are things in the world we can’t explain, and time will tell. All the questions will be answered. You can now let it go.

Quyên was silent. Their shadows casting long shadows against the stark yellow illumination of the station light. Down two flights of stairs. The young man nodded his goodbye before turning right.

_I like people to call me Quyên more than Rita.

_Quyên!

_Thuần…

Through the gust of wind the young man could discern the overwhelming emotion in her voice. The young woman waved, before she quietly turned left. Her figure disappeared slowly in the yellow evening light, faintly blurred by a dusting of a silvery mist after the rain at the end of the season. There was a chill in the wind, the young man pulled the sides of his jacket closer together, with easy measured steps continued on his way.

8.

Quyên ran, she continued to run down a street caught in a curtain of early morning mist. The undefined yellow light shifting in each corner each turn in the street. The tears burred her vision. At the intersection, Quyên did not stop, she ran and she ran until she was as light as the air around her like the clouds across a blue sky after a deadly storm.

There was the piercing screeching sound of brakes. Lots of commotion. Dear god, out of nowhere first thing in the morning in front of someone’s car. No.

The time on Quyên’s wrist watch stopped at 4h30am December 12, 2022. Quyên is forever twenty four. Waiting for the date with Thuần.

Truyện Ngắn

Cuộc Gặp

1.

Quyên gặp anh chàng tại ga số 9, của chuyến tàu điện nối từ Suối Tiên về Quảng Trường Thành Phố. Anh chàng lịch lãm trong bộ vest đen cùng chiếc cra-vat màu tím tím than. Mái tóc chải gọn, chia mớ bảy ba. Vầng trán rộng cùng đôi gò má nhô cao. Bất giác tim Quyên nhói lên. Loạng choạng vài giây mới lấy lại bình tĩnh. 

Cửa tàu điện mở ra, dòng người vội vã lao nhanh vào, lắp đầy các khoảng trống còn sót lại. 7h30 sáng ngày 2 tháng 5. Một ngày đầu tuần hối hả. Những con người công sở đang rời ngoại ô trở lại trung tâm làm việc sau kì nghỉ lễ dài. Trong khoang tàu chật chội, Quyên cố nhoài người tìm anh chàng ấy, nhưng chẳng thấy. Có thể chỉ là người giống người. Cũng có khi là Quyên chưa tỉnh ngủ. Cơn mộng mị đêm qua còn quấn quít tâm trí. 

2.

Thuần đậu đợt thi tuyển vào công ty lớn, sau năm tháng thất nghiệp. Một niềm vui réo rắt qua điện thoại. 

Quyên sắm cho Thuần một bộ đồ vest thật đẹp, ôm vừa vóc dáng anh, vài chiếc cra-vat trơn màu. Tính Thuần không thích hoa lá hay sọc ngang sọc dọc. Thuần giản đơn, thẳng tuột khúc ruột. Thích hay không chẳng để trong lòng, sẵn sàng nói thẳng vào mặt người đối diện. 

Đôi lần Quyên cũng khuyên Thuần nên khéo léo trong ăn nói. Xã hội bây giờ giỏi dở cũng chẳng thể sánh bằng một người khéo léo. Thuần như thế, nên hai năm lăn lóc ở vị trí nhân viên quèn, chứ mấy người bạn cùng khóa nay đã trưởng phòng hay chuyên viên hết rồi. 

Thuần chẳng phản bác, cũng chẳng đồng thuận. Nhưng Thuần vẫn cứ bộc trực. Trắng đen rõ ràng, không pha lẫn thứ màu tạp nham vào được. Thuần thuộc tuýp người sẽ đấu tranh, sẽ phản kháng mạnh mẽ nhất để đi đến cùng sự việc, dẫu biết chắc cái kết cuộc mà mình nhận lấy. 

Quyên hỏi Thuần, có lần nào Thuần suy nghĩ cho Quyên, cho tương lai của hai đứa? Thời này chẳng thể làm Lục Vân Tiên. 

Thuần tựa đầu lên vai Quyên. Một chiều Thủ Thiêm sóng nước mênh mông. Từ phía quận hai nhìn về khu trung tâm thành phố, những tòa nhà trọc trời đang lừng lững hiên ngang, phố xá bắt đầu lên đèn xanh đỏ. Đất rục rịch chuyển mình hối hả. Ngay trên mảnh đất này, rồi đây sẽ mọc lên những khu thương mại, những chung cư cao tầng uy nghi. Cái đổi mới nào cũng có giá của nó mà Quyên. Nếu Thuần im lặng, thì Thuần cũng giống như bao người khác cắm cúi vì chút tiền tài danh lợi. Thành phố này, cũng cần có những con người bứt phá, để cái phát triển nó được vẹn tròn. 

Thuần không nói, thì vẫn sẽ có người nói. Chuyện sai trái trong cuộc đời này nhiều lắm. Chỉ cần mình cương trực thì không hề lo sợ điều gì. Thời gian sẽ trả lời tất cả. Sẽ có lúc Thuần mệt mỏi, Thuần tựa vào Quyên mà lấy lại niềm tin. Sẽ có lúc Thuần gục ngã, thì Quyên phải tin rằng, chỉ là Thuần đang nghĩ ngơi, rồi quay trở lại giải quyết mọi chuyện. Con người ta, vẫn cứ phải luôn tin nhau mà sống Quyên à!

3. 

10 giờ tối thứ sáu, ngày 13 tháng 6. Trên chuyến tàu từ Quảng trường về lại Suối Tiên. Chuyến tàu cuối, của ngày cuối tuần thường rất vắng khách. Khoang tàu trống trải. Vô tình mà cả hai ngồi đối diện nhau. 

Gương mặt xanh xao và có phần trắng bệch của anh chàng khiến Quyên chăm chú nhìn. Đôi mắt nhắm hờ, tựa đầu vào thành tàu. Dáng điệu mỏi mệt. Quyên nghe có tiếng thở đều. 

Mười lăm phút sau, tàu dừng trạm. Lừng khừng vài giây, Quyên chủ động đến đánh thức anh chàng. 

_ Ga cuối rồi!

Anh chàng mở mắt, sững người phút chốc rồi khẽ mỉm cười cám ơn. Cả hai xuống trạm, băng qua dãy hành lang đường nội nội bộ vắng ngắt. Trục quay nơi cổng ra vẫn đứng im, không nhúc nhích cần đẩy. Anh chàng vội vàng dùng một chiếc thẻ từ màu đỏ, quét lên bề mặt của một màn hình mỏng nơi đầu trục quay, cần đẩy hoạt động bình thường.

_ Cần đẩy gặp trục trặc. Tôi tên Jack, hai bốn tuổi, vừa từ Mỹ về, giám đốc vận hành của hệ thống tàu điện thành phố. 

_Ờ, tôi tên Rita…

_ Chị Rita đẹp quá, mạn phép hỏi thử birthday của chị?

Quyên khẽ mỉm cười, trả lời rõ ràng ngày tháng năm sinh cho anh chàng nghe. Câu chuyện kéo dài qua thêm một hành lang dài, xuống hai đoạn thang nữa, rồi ra đường cái lớn. Quyên rẽ trái, anh chàng rẽ phải. 

4.

Người ta báo tin Thuần bị tai nạn giữa một đêm mưa giông tháng mười hai. Thành phố hứng chịu cơn bão vừa đổ bộ từ biển Đông. Quyên gọi các hãng taxi, tổng đài bảo đợi. 

Hơn bốn tiếng trước, mọi công sở đã cho nhân viên về sớm, Thuần có điện thoại báo, xong cuộc họp sẽ về. Cuộc họp dường như khá căng thẳng, Thuần đã chuẩn bị tài liệu hơn tuần nay. Kể cả chuyện đi thử đồ cưới cũng gác lại. Chuyện đặt nhà hàng Thuần giao hết cho Quyên. Đêm nào Thuần cũng vào giường khi đồng hồ điểm hai giờ sáng. Có lần Quyên hỏi thăm tình hình, Thuần thở dài ngao ngán. 

Mưa giăng mù trời. Taxi chẳng tới. Quyên không tài nào ngủ được. 12 giờ đêm, khung hình kỉ niệm hồi hai đứa chụp lúc Thuần dẫn Quyên đi tham quan cổng gate số 9 vừa hoàn thành của công trình tàu điện, bỗng rơi xuống đất vỡ tung. Quyên chụp lấy điện thoại, gọi vào số máy mà khi nãy bác sĩ vẫn dùng để liên lạc với Quyên. Chỉ toàn tín hiệu tút tút lạnh người. 

5.

Báo chí đăng tin vụ trọng án kê khống chi phí công trình tàu điện từ hơn hai mươi năm trước. Có cả dấu hiệu của một vụ dàn cảnh tai nạn giao thông để bịt đầu mối. Cả chín cổng gate của tuyến tàu điện nối liền khu ngoại ô vào trung tâm thành phố đều bị kê khống hàng tỷ đồng. Toàn bộ Ban giám đốc công trình đều bị bắt giữ. Cuộc điều tra đang lần sang cả kế toán và giám sát. Câu chuyện được rôm rả bàn tán suốt cả tuần lễ trên các khoang tàu. Cũng gần như cả tuần lễ, Quyên không thấy anh chàng cra-vat tím. 

Vụ án được lật lại nhờ vào một buổi tối muộn khi anh chàng giám đốc trẻ còn nán lại công ty. Chiếc tủ cũ đựng hồ sơ rệu rã bên nhà kho cách phòng anh ta bỗng ngã sụp. Tiếng động vang lớn. Anh cùng vài người bảo vệ sang xem, sẵn tiện phụ dọn dẹp. Trong sắp hồ sơ tài liệu có bìa còng màu tím rơi ra chiếc đĩa ghi, bên ngoài được dán hình một cặp đôi đang tươi cười chụp trước cổng gate số 9. 

Anh chàng đem về phòng mình và mở ra xem. Chỉ là tò mò vì cô gái trong hình rất giống người mà mình hay gặp trên chuyến tàu điện. Còn chàng trai, tựa thể mình như hai giọt nước.

Chiếc đĩa ghi lại nhiều hình ảnh của cặp đôi, từ thời sinh viên còi cọc trên chiếc xe đạp, cho đến hình ngôi nhà xinh xắn của họ, rồi hình …là hình nén trong một file ảnh có dấu virus Jorker. Chàng Jorker mặc bộ vest đen đeo cra-vat tím.

Vượt vài bức tường lửa của file ảnh, cuối cùng một mật mã 6 kí tự hiện ra. Suy đoán hồi lâu. Anh chàng chẳng thể tìm ra. Đóng chiếc lap-top lại, anh rời văn phòng ra về cho kịp chuyến tàu muộn cuối tuần. 

Nhưng rồi ngay trong đêm trở về sau chuyến tàu muộn, anh gõ thử 6 con số mà mình đã nhớ suốt cuộc nói chuyện dọc hành lang của ga số 9 sau khi được người phụ nữ đánh thức. 

File cuối cùng hiện ra làm anh sững sờ. Một dữ liệu quan trọng của hơn hai mươi năm về trước. Dữ liệu nhanh chóng được chuyển cho cảnh sát.

6.

Bão tan vào lúc 4h sáng, thành phố hỗn độn và ngổn ngang. Điện thoại lại reo vang. Quyên chỉ nghe rõ vài câu rồi nắm chặt chiếc điện thoại mà lao ngay ra đường. Cứ chạy, cứ chạy…

Nhà xác lạnh tanh, nơi hộc tủ đựng xác Thuần, người ta ghi giờ mất của anh là 12 giờ đêm ngày 14 tháng 12 năm 2022. Quyên bật khóc, gào thét giữa những vị bác sĩ pháp y ráo hoảnh và cần mẫn công việc của mình. Không ai nghe thấy cơn đau này của Quyên. Quyên khụy ngã, mắt nhắm nghiền, nụ cười Thuần an lành hiện lên trong tâm trí. 

7.

Chàng giám đốc trẻ đón chuyến tàu điện nối từ sân bay quốc tế Long Thành về lại Suối Tiên vào một đêm muộn cuối tuần. Chuyến công tác báo cáo về vụ việc cách đây hơn hai mươi năm khiến chàng rã rời. Tàu dừng ở gate cuối. Cổng ga số 9. Đúng mười giờ tối ngày 14 tháng 12 năm 2046. Còn kịp cho một đêm sinh nhật tròn hai mươi bốn tuổi.

Khua bước đều trên hành lang vắng. Nơi trục quay, anh chàng lại gặp chị Rita bị mắc kẹt. Chiếc thẻ từ đỏ được móc ra. Câu chuyện lại nối dọc những sải chân theo hành lang vắng. 

_ Cám ơn anh ấy và cũng cám ơn chị, tôi vẫn luôn tin vào duyên số dẫn dắt con người ta đến những sự gặp gỡ. Tất cả mọi cuộc gặp gỡ đều có mục đích nhất định. Có những chuyện trên đời này mình không thể lý giải, chỉ biết nên tin vào vòng quay thời gian. Mọi câu hỏi sẽ được trả lời. Giờ chị có thể thanh thản. 

Quyên không nói gì. Bóng người đổ dài theo ngọn đèn vàng hiu hắt. Xuống hai đoạn cầu thang. Chàng trai trẻ cúi đầu chào Rita rồi rẽ phải

_ Tôi vẫn thích người ta gọi mình là Quyên hơn cái tên Rita.

_ Quyên!

_ Thuần…

Chàng trai trẻ nghe âm vọng trong cơn gió vừa thổi qua là một giọng điệu nức nở. Người phụ nữ vẫy chào, rồi lặng lẽ rẽ trái. Bóng dáng khuất dần trong màn đêm vàng vọt, phảng phất hơi sương loáng bạc sau cơn mưa cuối mùa. Gió lùa se lạnh, chàng trai trẻ kéo áo kín lại, thong dong từng bước chân.

8.

Quyên cứ chạy, cứ chạy…mãi miết trên con phố sớm tinh mơ còn vương màu sương khói. Ánh đèn vàng tờ mờ giăng khắp nẻo đường. Nước mắt nhạt nhòa. Giữa ngã tư, Quyên cứ chạy, cứ chạy mãi miết cho đến khi thấy mình bồng bềnh trôi hẫng nhẹ như những vòm mây xanh sau cơn bão lớn.

Có tiếng thắng xe rít ken két điếng người. Có tiếng láo xáo. Trời ơi, đâu ra sáng sớm bang bang ngay đầu xe người ta. Thôi, xong rồi. 

Đồng hồ trên tay Quyên dừng lại ở 4 giờ 30 phút sáng ngày 14 tháng 12 năm 2022. Quyên mãi mãi hai mươi bốn. Đợi chờ một cuộc gặp với Thuần.

                                            TỐNG PHƯỚC BẢO 


Tống Phước Bảo and Nguyễn Thị Phương Trâm, Saigon, Vietnam. April 2025

Tống Phước Bảo is a young published writer living in Ho Chi Minh City, Vietnam. You can find his prolific work published periodically throughout Vietnam, from North to South.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

BROKEN | Hoàng Xuân Sơn

Mèo đói, tranh by Đinh Trường Chinh

thơ Hoàng Xuân Sơn
người dịch Nguyễn Thị Phương Trâm

You are chipped
allow me the kintsugi
if not then
since fire is ash

In all the rhythm
exausting tonality
tone down how the out
of breath larghissimo

As I run into a river
to where what landing
no jetty
just beached

If I could fix
the blue beads
agate bracelet
piece together such a love

Because smoke is the mist
over reaction and careless decisions
no self preservation
dig one’s own hole

The prison is you baby
inside or out you are dead
since what is hard is actually soft
in life we will definitely lose

Which part are you missing
I have lost everything
the afternoon is bustling
because the night is beseeching

BROKEN

[ v ụ n v ỡ ]

Bạn sứt miếng nào
để tôi hàn cho
nếu không gắn được
vì lửa là tro

Trong muôn tiết tấu
âm điệu rã rời
làm sao vặn lại
ốc nhạc mòn hơi

Chảy tôi thành dòng
phương chi gượng lại
tấp một bờ không
vì bến là bãi

Nếu tôi chữa được
những hạt cườm xanh
chiếc vòng mã não
tình yêu đoạn đành

Vì sương là khói
hoảng hốt già lam
chắc gì thân xót
một nỗi giam cầm

Ngục cấm là em
Trong ngoài cũng chết
Vì cứng là mềm
Của đời thua thiệt

Bạn thiếu khúc nào
Tôi mất tất cả
Buổi chiều lao xao
Vì đêm giục giã

h o à n g x u â n s ơ n
20 tháng 5, 2025


Hoàng Xuân Sơn 

A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh… 

Hometown: Vỹ Dạ, Huế.

Lý Thường Kiệt Primary  

Bán Công High School and Quốc Học Huế High School

Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn. 

Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.

After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.

The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn  Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề,  Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn,  Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ. 

Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.

Published work:

Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)

Huế Buồn Chi (thơ,93)

Lục Bát (thơ, 2005)

Ref: vanchuongviet.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The smell of burning grass | Hoàng Anh

Vietnamese flag on flagpole textile cloth fabric waving on the top sunrise mist fog

thơ Hoàng Anh
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

Child, can you smell it?
the burning grass in the night
spattered flesh, congealed and wet on the grass
the blood diluting the water of Sông Thạch Hãn
eighty one legendary days they fought
men and women defending land and country

Child, can you spare the tears?
as the blood shine like the gloss on your lips
the fearlessness of twenty-year-old-s
through the lecture halls of Hoàng Thành Thăng Long the echoes
long march of permeating fire – blood and smoke

Child, can you feel the pain?
their path was a burning blood bath
as the walls of Quảng Trị archived history with their bones
deep in the waters of Thạch Hãn is cold still
with their uncountable souls will
it be enough to subdue,
be enough of a refuge for your pain?

Now child
if you are ever in the citadel, lower your head
be silent, bow with respect, step lightly
lest you hurt the souls of the fallen
soldiers, men and women
with plain reverence light an incense pray
that they may
rest in peace
lest we forget

MÙI CỎ CHÁY


Em có nghe mùi cỏ cháy trong đêm
Da thịt anh rưới thềm hoa cỏ dại
Sông Thạch Hãn nhuốm màu loang quằn quại
Tám mốt ngày huyền thoại giữ nước non

Em có khóc khi vệt máu còn son
Tuổi hai mươi nhựa căng tràn sức sống
Nơi giảng đường Hoàng Thành Thăng Long vọng
Lửa- máu tràn loang loáng khói trường chinh

Các anh đi nơi máu lửa quanh mình
Thành Quảng Trị lịch sử bằng xương máu
Em có đau Thạch Hãn còn nương náu
Vạn linh hồn vẫn lạnh buốt vùi sâu

Đến thành cổ hãy nghiêng mình thật lâu
Xin nhẹ bước kẻo đau hồn liệt sỹ
Thắp nén hương gửi tâm tình dung dị
Cầu các anh yên nghỉ mãi ngàn năm

Hoàng Anh 26/7/16

Viết nhân ngày thương binh liệt sĩ 27/7.


Hoàng Anh, a poet in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.