AN EIGHTY THOUSAND TREES BEHEST

A BOOK OF POEMS in Vietnamese by Pháp Hoan
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Pháp Hoan by Nguyễn Thị Phương Trâm

Congratulations (I know it sounds ostentatious, but bear with me, I am unapologetic) to anh Nguyễn Hưng Quốc and Pháp Hoan ( Mai Cong Lap ). Your books of poems will be the very first two books of poems published in English on nguyenthiphuongtram.com.

It will be a constantly evolving piece of living text. A piece of living art I’m very excited and proud to announce and share with my readers.

You have given me an unexpected goal in completing the translation of your books of poetry.

I am momentarily on cloud nine.

Quý mến,

Nguyễn Thị Phương Trâm

September 19, 2022

1)
At the foot of the mountain West
there be my quest
an eighty thousand trees behest.
---
Dưới chân núi phía tây
tôi đi vào chốn ấy
tám vạn bốn nghìn cây.

2)
after dhyana
by the hem lingered
scents of night flowers.
---
Sau buổi tọa thiền
vương trên tà áo
một mùi hoa đêm.

3)
Lightly redolent
the camellias
by the butcher’s resident.
---
Thoảng nhẹ làn hương
những đoá hải đường
bên nhà người đồ tể.

4)
A pair of white tuberose
mid the sound night bloomed
new viewers of the agony.
---
Đôi bông huệ trắng
nở giữa đêm sâu 
thính giả mới của niềm đau.

5)
On a hill slept
the grass and my hair kept
growing.
---
Ngủ say trên đồi
cỏ và tóc tôi
cùng mọc.
6)
Resounding through the night
the prayerful Heart Sutra
from a tranquil spring
---
Vọng về trong đêm 
lời kinh Bát nhã
từ dòng suối êm.  

7)
Fell a dewdrop here
the three thousand spheres
joy in the mere moments.
---
Kìa giọt sương rơi
ba nghìn thế giới
phút giây rạng ngời.

8)
Through the garden a breeze
in light scents
of a spring long ago.
---
Cơn gió qua vườn
thoảng nhẹ làn hương
mùa xuân cũ.

9)
The breezy spring rain
gently touched the hands
of the executioner.
---
Mưa mùa xuân bay
chạm nhẹ đôi tay
người đao phủ. 

10)
The clouds up high
quite shy
on the ground babbling.
---
Mây trời trên cao
thoáng còn do dự
dưới trần lao xao.
11)
The human realm there
all unaware
the peach blossoms were still blooming.
---
Ôi cõi nhân sinh
dẫu có vô tình
hoa đào kia vẫn nở.

12)
Busy busy
little bee
searching for the spring
---
Bay quanh, bay quanh
kìa con ong nhỏ
đi tìm mùa xuân.

13)
After dhyana
the azaleas
a few more bloomed.
---
Sau buổi tọa thiền
hoa đỗ quyên
nở thêm mấy đóa. 

14)
the white pear blossom
by the passing vagrant
in a new burst of fragrance.
---
Kìa cành lê trắng
vì khách qua đường
mà phả thêm hương.

15)
A perennial yearning
beyond the border bloom
azaleas in the thousands.
---
Mộng này triền miên
nở qua biên giới
vạn cành đỗ quyên.
16)
At the line dividing
not North not South
the spring rain flying.
---
Nơi biên giới này
không Nam không Bắc
mưa mùa xuân bay.

17)
The gentle whispers of the breeze
upon the mountainside with ease
the first cherry blossoms bloomed.
---
Tám gió lặng yên
nở trên triền núi 
bông anh đào đầu tiên.

18)
The peach blossom on a spring day
rained upon the pile of shit
of a farmer
---
Hoa đào ngày xuân
rụng trên đống phân
người làm rẫy. 

19)
A pregnant deer
hit by an arrow last night
died on a soft patch of grass.
---
Con nai chửa
đêm qua trúng tên
chết trên vạt cỏ mềm.

20)
the waxing half moon
in a puddle
a water buffalo’s hoof print.
---
Trăng thượng huyền 
trong vũng nước đọng
dấu chân trâu đồng. 
21)
Under the slanted thatched roof
the impoverished frog
together with me starved.
---
Dưới mái tranh xiêu
chú ếch nghèo
cùng ta nhịn đói.

22)
The Burmese francolin
awakening the season
amidst a field of blooms.
---
Ôi chim đa đa
gọi mùa thức dậy
giữa cánh đồng hoa.

23)
rain past noon in the village
a butterfly lost 
across the mumonkan
---
Mưa chiều cô thôn
một con bướm lạc
qua miền Vô Môn. 

24)
The Sūyatā open to
a small butterfly
flying into the realm of flowers.
---
Cửa Không mở ra
một cánh bướm nhỏ
bay vào cõi hoa.

25)

Ôi cánh bướm nhiệm mầu
có khi nào nằm mộng
em thấy mình là sâu?
26)

Bên kia nhịp cầu 
mưa trời phương ngoại
đẫm tràng áo nâu.

27)

Không sinh cũng không diệt
không có cũng không không
kìa, huệ trắng một bông!

28)
Absent from my habitation
the cabbages blossomed
invited the butterflies.
---
Khi tôi vắng nhà 
vườn cải ra hoa 
gọi mời cánh bướm. 

29)

Sấm đầu xuân 
ép cành táo dại   
bung hoa.

30)

Ni sư vào làng
một con bướm trắng
đậu tràng áo nâu.
31)
After the rain
the soil’s scented with flowers
on a new grave.
---
Sau cơn mưa 
đất nồng hương hoa
ngôi mộ mới.

32)

Vân tước bay trong mây
tôi đi trên mặt đất
giữa muôn trùng cỏ cây.

33)

Mùi hương đàn bà
nhẹ đưa trong gió
Niết-bàn thoáng qua.

34)

Sau thời kinh chiều
vẫn còn
tiếng ve kêu.

35)

Trong vườn tan sương
quả dưa mùa hạ
lớn lên khác thường.
36)
In the misty moonlight
the elder monk peeking
women in the river bathing.
---
Mập mờ ánh trăng
sư ông trộm ngắm
đàn bà tắm sông.

37)

Tiếng chim đỗ quyên 
đưa tiễn vong linh
về miền tịnh thổ.

38)

Tĩnh tọa trong đêm 
tiếng hót đỗ quyên
vọng lên từ địa ngục.

39)

Côn trùng yêu đương
trốn trong tán lá 
tụng ca vô thường.

40)

Trong đám cỏ cao
chim kia khản giọng
gọi cơn mưa rào.  
41)
The sunlight high
the front yard white
with the hues of evaporating prayers
---
Nắng đã lên rồi
trước sân trắng xoá
một màu kinh phơi.

42)
Into the dark at zero speed
the weeny turtle
crowned with duckweed.
---
Bò vào đêm sâu
một chú rùa nhỏ
bèo vương trên đầu.

43)

Quán Tự Tại ôi
hoá làn mây trôi
giữa ngày nắng hạn.

44)

Sấm chớp nổi lên
một lão sư điên
ngồi gõ mõ.

45)

Giọt nước mắt rùa
nhỏ xuống ruộng khô
ngày đầy nắng.
46)

Nắng rọi thung sâu
vườn nhà ai rực sáng
những đóa cẩm tú cầu.

47)

Ao thu
bong bóng nước
vỡ trong sương mù.

48)
Thunder shook a far off sky
the lotus blossoms bloomed
mid the Lotus Sutra.
---
Sấm động trời xa
trùng trùng sen nở
giữa lời Pháp Hoa.

49)

Trăng sáng trước sân
lão tăng bất thần
cười lớn.

50)

Đêm tháng Năm
khoả thân nằm
phàm tăng và du nữ.
51)
Lotus blossomed in the night
caused the old monk’s cravings might
the scent of an old lover
---
Sen nở trong đêm
lão sư chợt thèm
mùi hương người tình cũ.

52)

Trăng gió thảnh thơi
Quán Tự Tại ngồi
gỡ làn tóc rối. 

53)

Ba-la-mật-đa!
hướng dương một đoá
giữa trời bao la.

54)

Dưới vầng trăng non
những con sóng lượn
thân hình Quan  m.

55)

Dội xuống trên đầu
gàu nước mùa hạ
đẫm mùi hoa ngâu.  
56)

Côn trùng kêu vang
bên trong tượng Phật
ngôi chùa bỏ hoang.

57)

Bốn núi bủa vây
sáng nay thức dậy
thấy mình là cây.

58)

Từng hạt sương rơi
trong lòng giếng cũ
mấy mùa thu trôi.

59)
Day then night
the cotton-rose hibiscus
in dying blooms.
---
Ngày rồi lại đêm
những đoá phù dung
tàn rồi lại nở.

60)

Đêm thu thanh vắng
những chiếc lá rơi
từ cõi trời Đao Lợi.
61)
Đất trời thinh lặng
râm ran suối tụng
Vô Lượng Thọ kinh.

62)

Nhập thất ba hôm
những đóa triêu nhan
nở tràn then cửa.

63)

Ngày âm u
gió mùa thu 
thổi trên cõi Diêm Phù.

64)

Ôi chiếc lá mồ côi
bay đi từ độ ấy
qua sáu nẻo luân hồi.

65)

Tiếng vạc kêu sương
đâu rồi con đường
về miền Kinh Bắc!
66)

Tăng khách ra về
đồi cao gió lộng
một vầng trăng quê.

67)

Hồng nhạn thiên di
đã đến lúc
giong buồm trở về quê cũ.

68)
The fallen snow dire
the carved Buddha in haste
chopped for the fire
---
Tuyết đã xuống rồi
mau mang tượng Phật
chẻ làm củi thôi! 

69)

Ao nước đóng băng
hai con mắt nhỏ
nhìn tôi trừng trừng.

70)

Tiếng hải âu
những con sóng sâu
trầm tư mặc tưởng.
71)

Ngày đầu tháng ba
núi đồi thở ra
màn sương giá.

72)

Những dấu chân nai
in trên làn tuyết trắng
tan trong nắng ban mai.

73)

Sờ vú đàn bà
những người đánh cá
mơ về đảo xa.

74)

Đặt nhẹ chân lên tuyết
ngập xuống khoảng ba phân
chạm phải mầm xanh.

75)

Thiền tọa qua mùa đông
hoa nở trắng ngoài đồng
ngỡ tuyết chưa tan.
76)
Which pure land hence
surrounds the girl
giggling, on the other side of the fence!
---
Ôi cõi Tịnh độ nào
chung quanh người con gái     
cười bên kia bờ rào!

77)

Lặng lẽ âm thầm
trong khe suối vắng
một vầng trăng câm.

78)

Vô thuỷ vô chung
hoa đào đời trước
cùng tôi tương phùng. 

79)

Qua cánh cửa sài
ánh trăng để lộ
lối vào thiên thai.

80)

Dưới vầng trăng tang
lời kinh tiếng mõ
vang vang đường làng.
81)

Ba cõi lặng thinh 
trong đêm chỉ tịnh
tiếng trùng tụng kinh.

82)

Trưa nắng chang chang
lấy đất nặn Phật
một bầy trẻ con.

83)

Cánh én chơi vơi
hết nghiêng xuống đất
lại vươn lên trời.

84)

Ánh trăng rọi chùa hoang
lưới nhện sau gáy Phật
thành một vòng hào quang.

85)
Nhịn đối một hôm
Đứng lên ngồi xuống
Bởi mùi rạ thơm.

Nhịn đói hai hôm
Bên tai tiêng suối
Hay tiếng mưa nguồn.

Nhịn đói ba hôm
xa xa tiếng hạc
nghe dường trong hơn.
86)

Trong ánh trăng nghiêng
long lanh khoé mắt
một lão sư điên.

87)
In a temple forsaken
on the Buddha’s palm burgeoned
the morning glory.
---
Trong ngôi chùa hoang
Nở trên tay Phật
Một nhành triêu nhan.

88)
Vô thường trên cao 
Chiều này rụng xuống
Trong cánh hoa đào.

Đôi mắt chim cu
Bên trong lồng nhỏ
Núi rừng thâm u.

Pháp Hoan, born Mai Công Lập in 1992, in Bình Thuận, Vietnam. The poet and translator currently living in Vancouver, Canada.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

By Nguyễn Thị Phương Trâm

There's magic in translating a body of work from one language to another.

Leave a comment

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: