A tale by Nguyễn Du
An adaptation by Nguyễn Thị Phương Trâm
Kiều’s revenge – Kiều báo thù [2289-2418]
nàng từ ân oán rạch ròi
bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng
tạ ân lạy trước Từ công
chút thân bồ liễu nào mong có rày!
trộm nhờ sấm sét ra tay
tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi
khắc xương ghi dạ xiết chi
dễ đem gan óc đền nghì trời mây”.
Từ rằng: “Quốc sĩ xưa nay
chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
anh hùng tiếng đã gọi rằng
giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha
huống chi việc cũng việc nhà
lọ là thâm tạ mới là tri ân
xót nàng còn chút song thân
bấy nay kẻ Việt, người Tần cách xa
sao cho muôn dặm một nhà
cho người thấy mặt là ta cam lòng”.
vội truyền sửa tiệc quân trung
muôn binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan
[2419-2438]
[2419-2438]
[2439-2458]
thừa cơ trúc chẻ ngói lan
binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài
triều đình riêng một góc trời
gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà
đòi cơn gió quét mưa sa
huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam
phong trần mài một lưỡi gươm
những phường giá áo túi cơm sá gì
nghênh ngang một cõi biên thùy
thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương
trước cờ ai dám tranh cường
năm năm hùng cứ một phương hải tần
có quan tổng đốc trọng thần
là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài
dẩy xe vâng chỉ đặc sai
tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung
biết Từ là đấng anh hùng
biết nàng cũng dự quân trung luận bàn
đóng quân làm chước chiêu an
ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng
[2439-2458]
lại riêng một lễ với nàng
hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân
tin vào gửi trước trung quân
Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ
một tay gây dựng cơ đồ
bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành
bó thân về với triều đình
hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
áo xiêm ràng buộc lấy nhau
vào luồn ra cúi công hầu mà chi?
sao bằng riêng một biên thùy
sức này đã dễ làm gì được nhau?
chọc trời quấy nước mặc dầu
dọc ngang nào biết trên đầu có ai?
nàng thì thật dạ tin người
lễ nhiều, nói ngọt nghe lời dễ xiêu
nghĩ mình mặt nước cánh bèo
đã nhiều luân lạc lại nhiều gian truân
bằng nay chịu tiếng vương thần
thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì
công tư vẹn cả hai bề
dần dà rồi sẽ liệu về cố hương
cũng ngôi mệnh phụ đường đường
nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha
trên vì nước, dưới vì nhà
một là đắc hiếu, hai là đắc trung
chẳng hơn chiếc bách giữa dòng
e dè sóng vỗ, hãi hùng nước sa
nhân khi bàn bạc gần xa
thừa cơ, nàng mới bàn ra nói vào
rằng: “trong thách trạch dồi dào
tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu
bình thành công đức bấy lâu
ai ai cũng đội trên đầu biết bao
ngẫm từ dấy việc binh đao
đống xương Vô Định đã cao bằng đầu
[2459-2494]
[2459-2494]
[2495-2510]
làm chi để tiếng về sau
nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào
sao bằng lộc trọng quyền cao
công danh ai dứt lối nào cho qua?”
nghe lời nàng nói mặn mà
thế công, Từ mới trử ra thế hàng
chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng
hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh
tin lời thành hạ yêu minh
ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng
việc binh bỏ chẳng giữ giàng
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư
Hồ công quyết kế thừa cơ
lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công
kéo cờ chiêu phủ tiên phong
lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau
[2495-2510]
Từ công hờ hững biết đâu
đại quan lễ phục ra đầu cửa viên
Hồ công ám hiệu trận tiền
ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ
đang khi bất ý chẳng ngờ
hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn
tử sinh liều giữa trận tiền
dạn dày cho biết gan liền tướng quân
khí thiêng khi đã về thần
nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng
trơ như đá, vững như đồng
ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời
quan quân truy sát đuổi dài
ầm ầm sát khí, ngất trời ai đang
trong hào, ngoài lũy tan hoang
loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi
trong vòng tên đá bời bời
thấy Từ còng đứng giữa trời trơ trơ
khóc rằng: “trí dũng có thừa
bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này
mặt nào trông thấy nhau đây?
thà liều sống thác một ngày với nhau”
dòng thu như dội cơn sầu
dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên
lạ thay oan khí tương triền
nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra
quan quân kẻ lại người qua
xót nàng sẽ lại vực ra đần dần
dẫn vào đến trước trung quân
Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han
Rằng: “nàng chút phận hồng nhan
gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương
[2511-2542]
[2511-2542]
[2543-2574]
đã hay thành toán miếu đường
giúp công cũng có lời nàng mới nên
bây giờ sự đã vẹn tuyền
mặc lòng nghĩ lấy, muốn xin bề nào?
nàng càng giọt ngọc tuôn dào
ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng
rằng: “Từ là đấng anh hùng
dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi
tin tôi nên quá nghe lời
đem thân bách chiến làm tôi chiều đình
ngỡ là phu quí, phụ vinh
ai ngờ một phút tan tành thịt xương
năm năm trời bể ngang tàng
dấn mình đi bỏ chiến trường như không
khéo khuyên kể lấy làm công
kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu
xét mình công ít tội nhiều
sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi
xin cho thiển thổ một doi
gọi là đắp điếm lấy người tử sinh”
Hồ công nghe nói thương tình
truyền cho cảo táng di hình bên sông
trong quân mở tiệc hạ công
xôn xao tơ trúc, hội đồng quân quan
bắt nàng thị yến dưới màn
dở say lại ép cung đàn nhặt tâu
một cung gió thảm mưa sầu
bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay
ve ngâm vượn hót nào tày
lọt tai, Hồ cũng nhăn mày rơi châu
hỏi rằng: “này khúc ở đâu?
nghe ra muôn thảm nghìn sầu lắm thay”
[2543-2574]
thưa rằng: “bạc mệnh khúc này
phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ
cung cầm lựa những ngày xưa
mà gương bạc mệnh bây giờ là đây”
nghe càng đắm, dắm càng say
lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình
dạy rằng; “hương lửa ba sinh
dây loan xin nối cầm lành cho ai”
thưa rằng: “chút phận lạc loài
trong mình nghĩ đã có người thác oan
còn chi nữa cánh hoa tàn
tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu lân
rộng thương còn mảnh hồng quần
hơi tàn được thấy gốc phần là may”
Hạ công chén đã quá say
Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra
nghĩ mình phương diện quốc gia
quan trên nhắm xuống, người ta trông vào
phải tuồng trăng gió hay sao?
sự này biết tính thế nào được đây?
công nha vừa rạng buổi ngày
quyết tình Hồ mới đoán ngay một bài
lệnh quan ai dám cãi lời
ép tình mới gán cho người thổ quan
[2575-2598]
[2575-2598]
[2599-2626]
ông tơ thực nhé đa đoan
xe tơ sao khéo vơ quàng vơ xiên
kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền
lá màn rủ thấp, ngọn đèn khêu cao
nàng càng ủ liễu phai đào
trăm phần nào có phần nào phần tươi?
đành thân cát lấp sóng vùi
cướp công cha mẹ thiệt đời thông minh
chân trời mặt bể lênh đênh
nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào?
duyên đâu ai dứt tơ đào
nợ đâu ai đã đắt vào tận tay
thân sao thân đến thế này
còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi
đã không biết sống là vui
tấm thân nào biết thiệt thòi là thương
một mình cay đắng trăm đường
thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi
mảnh trăng đã gác non đoài
một mình luống những đứng ngồi chưa xong
triều đâu nổi tiếng đùng đùng
hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường
nhớ lời thần mộng rõ ràng
này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây
Đạm Tiên nàng nhé có hay
hẹn ta thì đợi dưới này rước ta”
dưới đèn sẵn bức tiên hoa
một thiên tuyệt bút gọi là để sau
[2599-2626]
Cửa bồng vội mở rèm châu
trời cao sông rộng một màu bao la
rằng: “Từ công hậu đãi ta
chút vì việc nước mà ra phụ lòng
giết chồng mà lại lấy chồng
mặt nào còn đứng ở trong cõi đời?
thôi thì một thác cho rồi
tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông”
trông vời con nước mênh mông
đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang
thổ quan theo vớt vội vàng
thì đà đắm ngọc chìm hương mất rồi
thương thay cũng một kiếp người
hại thay mang lấy sắc tài làm chi
những là oan khổ lưu ly
chờ cho hết kiếp, còn gì là thân?
mười lăm năm, bấy nhiêu lần
làm gương cho khách hồng quần tử soi
đời người đến thế thì thôi
trong cơ âm cực dương hồi không hay
mấy người hiếu nghĩa xưa nay
trời làm chi đến lâu ngày càng thương
Giác Duyên từ tiết giã nàng
đeo bầu quảy níp rộng đường vân du
gặp bà Tam Hợp đạo cô
thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng.
[2627-2652]
[2627-2652]
[2653-2680]
“người sao hiếu nghĩa đủ đường
kiếp sao rặt những đoạn đường thế thôi?”
sư rằng: “họa phúc đạo trời
cội nguồn cũng ở lòng người mà ra
có trời mà cũng tại ta
tu là cội phúc, tình là dây oan
Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan
vô duyên là phận hồng nhan đã đành
lại mang lấy một chữ tình
khư khư mình buộc lấy mình vào trong
vậy nên những chốn thong dong
ở không yên ổn, ngồi không vững vàng
ma đưa lối, quỉ đưa đường
lại tìm những chốn đoạn trường mà đi
hết nạn nọ đến nạn kia
thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần
giữa vòng giáo dựng gươm trần
kề răng hùm sói, gửi thân tôi đòi
giữa dòng nước dẫy sóng dồi
trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh
oan kia theo mãi với tình
một mình mình biết một mình mình hay
làm cho sống đọa thác đày
đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi”
Giác Duyên nghe nói rụng rời:
“một đời nàng nhé thương ôi còn gì”
sư rằng: Song chẳng hề chi
nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều
[2653-2680]
xét trong tội nghiệp Thúy Kiều
mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm
lấy tình thâm trả nghĩa thâm
bán mình đã động hiếu tầm đến trời
hại một người cứu muôn người
biết đường khinh trọng biết lời phải chăng
thửa công đức ấy ai bằng?
túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi
khi nên trời cũng chiều người
nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau
Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau
Tiền Đường thả một bè lau rước người
trước sau cho vẹn một lời
duyên ta mà cũng phúc trời chi không”
Giác Duyên nghe nói mừng lòng
lân la tìm thú bên sông Tiền Đường
đánh tranh chụm nóc thảo đường
một gian nước biếc mây vàng chia đôi
thuê năm ngư phủ hai người
đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông
một lòng chẳng quản mấy công
khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần
Kiều từ gieo xuống duyềnh ngân
nước xuôi bỗng đã trôi đần tận nơi
ngư ông kéo lưới vớt người
ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa
trên mui lướt mướt áo là
tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương.
[2681-2708]
[2681-2708]
[2709-2738]
Giác Duyên nhìn thật mặt nàng
nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai
mơ màng phách quế hồn mai
Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa
rằng: “tôi đã có lòng chờ
mất công đã thấy năm thừa ở đây
chị sao phận mỏng phúc dày?
kiếp xưa đã vậy lòng này dễ ai
tấm thành đã thấu đến trời
bán mình là hiếu cứu người là nhân
một niềm vì nước vì dân
âm công cất một đồng cân đã già
đoạn trường sổ rút tên ra
đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau
còn nhiều hưởng thụ về lâu
duyên xưa tròn trặn phúc sau dồi dào
nàng còn ngơ ngẩn biết sao
“Trạc tuyền” nghe tiếng gọi vào bên tai
giật mình thoắt tỉnh giấc mai
bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn
trong thuyền nào thấy Đạm Tiên?
bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề
thấy nhau mừng rỡ trăm bề
dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư
một nhà chung chạ sớm trưa
gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng
bốn bề bát ngát mênh mông
triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau
nạn xưa trút sạch làu làu
duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.
[2709-2738]
Kim Trọng’s search for Kiều – Kim Trọng đi tìm Kiều [2739-2972]
Nguyến Du [1766-1820] courtesy name Tố Như and art name Thanh Hiên, is a celebrated Vietnamese poet and musician. He is most known for writing the epic poem The Tale of Kiều.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.