Kiều & Hoạn Thư [1473-1704] | Nguyễn Du

Picture book by Thang Long Art Gallery. Art by Lê Thiết Cương

A tale by Nguyễn Du
An adaptation by Nguyễn Thị Phương Trâm


Kiều met/gặp Thúc Sinh [1275-1472]

Mảng vui rượu sớm trà trưa,
Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh.
Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh,
E tình nàng mới bày tình riêng chung.
Phận bồ từ vẹn chữ tòng,
Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.
Tin nhà ngày một vắng tin,
Mặn tình cát lũy, nhạt tình tao khang.
Nghĩ ra thật cũng nên dường,
Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta?

[1473-1482]

[1473-1482]

trộm nghe kẻ lớn trong nhà
ở vào khuôn phép, nói ra mối giường
e thay những dạ phi thường
dễ dò rốn bể, khôn lường đáy sông
mà ta suốt một năm ròng
thế nào cũng chẳng giấu xong được nào
bấy chầy chưa tỏ tiêu hao
hoặc là trong có làm sao chăng là?
xin chàng liệu kíp lại nhà
trước người đẹp ý, sau ta biết tình
đêm ngày giữ mực giấu quanh
rày lần mai lữa như hình chưa thông!”
nghe lời khuyên nhủ thong dong
đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang
rạng ra gửi đến xuân đường
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia
tiễn đưa một chén quan hà
xuân đình thoắt đã dạo ra Cao đình
sông tần một dải xanh xanh
loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan
cầm tay dài ngắn thở than
chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời

[1483-1504]

[1483-1504]

nàng rằng: “non nước xa khơi
sao cho trong ấm thì ngoài mới êm
dễ lòa yếm thắm trôn kim
làm chi bung mắt bắt chim khó lòng
đôi ta chút nghĩa đèo bòng
đến nhà trước liệu nói sòng cho minh
dù khi sóng gió bất tình
lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi
hơn điều giấu ngược giấu xuôi
lại mang những việc tày trời đến sau
thương nhau xin nhớ lời nhau
năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy!
chén đưa nhớ bữa hôm nay
chén mừng xin đợi ngày này năm sau!
người lên ngựa, kẻ chia bào
rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
dặm hồng bụi cuốn chinh an
trông người đã khuát mấy ngàn dâu xanh

[1505-1522]

[1505-1522]

Waiting for the scent of my husband coming home
Etched in the long shadow of the afternoon
Lonely departure

The moon, who had taken a hammer to it
The crumbling half of dampened clay on my pillow
The rest, a billow of dust across a horizon without you.

[1523-1526]

Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

[1523-1526]

_____________________
Mẹ tôi, chị Phương Anh sáu tuổi, tôi bốn tuổi, em Tùng hai tuổi, trong tay mẹ là em Thảo vừa lên một. Gia đình tôi đứng trước căn nhà ở đường Trương Minh Giảng tiễn bố tôi đi sau 30 Tháng Tư.

Tưởng sẽ là một tháng, thành hai, thành ba. Tết qua bốn mùa, mùa nào mẹ tôi cũng ngồi sau khung của sắt ngóng bóng của bố tôi.

kể chi những nỗi dọc đường
buồng trong, này nỗi chủ trương ở nhà
vốn dòng họ Hoạn danh gia
con quan Lại bộ tên là Hoạn thư
Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa
cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày
ở ăn thì nết cũng hay
nói điều ràng buộc thì tay cũng già
từ nghe vườn mới thêm hoa
miệng người đã lắm, tin nhà thì không
lừa tâm càng dập càng nồng
giận người đen bạc ra lòng trăng hoa
“ví bằng thú thật cùng ta
cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên
dại chi chẳng giữ lấy nền
tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?
lại còn bưng bít giấu quanh
làm chi những thói trẻ ranh nực cười!
tính rằng cách mặt khuất lời
giấu ta, ta cũng liệu bài giấu cho!
lo gì việc ấy mà lo
kiến trong miệng chén có bò đi đâu?
làm cho nhìn chẳng được nhau
làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!
làm cho trông thấy nhãn tiền
cho người thăm ván bán thuyền biết tay”.
nỗi lòng kín chẳng ai hay
ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài
tuần sau bỗng thấy hai người
mách tin ý cũng liệu bài tâng công
tiểu thư nổi giận đùng đùng
“gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!
điều này hẳn miệng những người thị phi!”
vội vàng xuống lệnh ra uy
đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng
trong ngoài kín mít như bưng
nào ai còn dám nói năng một lời!
buồng đào khuya sớm thảnh thơi
ra vào một mực nói cười như không

[1527-1566]

[1527-1566]

đêm ngày lòng những dặn lòng
sinh đà về đến lầu hồng xuống yên
lời tan hợp, nỗi hàn huyên,
chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng
tẩy trần vui chén thong dong
nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra?
chàng về xem ý tứ nhà
sự mình cũng rắp lân la giãi bày
mấy phen cười nói tỉnh say
tóc tơ bất động mảy may sự tình
nghĩ đà bưng kín miệng bình
nào ai có khảo mà mình lại xưng?
những là e ấp dùng dằng
rút dây sợ nữa động rừng, lại thôi
có khi vui chuyện mua cười
tiểu thư lại giở những lời đâu đâu
rằng: “trong ngọc đá vàng thau
mười phần ta đã tin nhau cả mười
khen cho những miệng dông dài
bướm ong lại đặt những lời nọ kia
thiếp dù vụng chẳng hay suy
đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười”.
thấy lời thủng thỉnh như chơi
thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn
những là cười phấn cợt son
đèn khuya chung bóng, trăng tròn sánh vai.

[1567-1592]

[1567-1592]

thú quê thuần hức bén mùi
giếng vàng đã rụng một vài lá ngô
chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ
một màu quan tái,mấy mùa gió trăng
tình riêng chưa dám rỉ răng
tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
“cách năm mây bạc xa xa
Lâm Truy cũng phải tính mà thần hôn”.
được lời như cởi tấc son
vó câu thẳng ruổi nước non quê người
long lanh đáy nước in trời
thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.
roi câu vừa gióng dặm trường
xe hương nàng cũng thuận đường qui ninh
thưa nhà huyên hết mọi tình
nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen
nghĩ rằng: “ngứa ghẻ hờn ghen
xấu chàng mà có ai khen chi mình!
́vậy nên ngảnh mặt làm thinh
mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.

[1593-1612]

[1593-1612]

Lâm Truy đường bộ tháng chầy
mà đường hải đạo sang ngay thì gần
dọn thuyền lựa mặt gia nhân
hãy đem dây xích buộc chân nàng về
làm cho: cho mệt, cho mê
làm cho đau đớn, ê chề cho coi!
trước cho bõ ghét những người
sau cho để một trò cười về sau!”
phu nhân khen chước rất mầu
chiều con, mới dạy mặc dầu ra tay
sửa sang buồm gió lèo mây
Khuyển Ưng lại chọn một bầy côn quang
dặn dò hết các mọi đường
thuận phong một lá vượt sang biển Tề
nàng từ chiếc bóng song the
đường kia nỗi nọ như chia mối sầu
bóng dâu đã xế ngang đầu
biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi
tóc thề đã chấm ngang vai
nào lời non nước, nào lời sắt son?
sắn bìm chút phận con con
khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?
thân sao lắm nỗi bất bằng
liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao!
đêm thu gió lọt song đào
nửa vành thrâng khuyết, ba sao giữa trời

[1613-1638]

[1613-1638]

nén hương đến trước thiên đài
nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân
dưới hoa dậy lũ ác nhân
ầm ầm khốc quỉ kinh thần mọc ra!
đầy sân gươm tuốt sáng loà
thất kinh nàng chửa biết là làm sao
thuốc mê đâu đã tưới vào
mơ màng như giấc chiêm bao biết gì!
vực ngay lên ngựa tức thì
phòng đào viện sách, bốn bề lửa dong
sẵn thây vô chủ bên sông
đem vào để đó, lận sòng ai hay?
tôi đòi phách lạc hồn bay
pha càn bụi cỏ gốc cây ẩn mình
thúc ông nhà cũng gần quanh
chợt trông ngọn lửa, thất kinh rụng rời
tớ thầy chạy thẳng đến nơi
tơi bời tưới lửa tìm người lao xao
gió cao ngọn lửa càng cao
tôi đòi tìm đủ, nàng nào thấy đâu!
hớt hơ hớt hải nhìn nhau
giếng sâu bụi rậm trước sau tìm quàng
chạy vào chốn cũ phòng hương
trong tro thấy một đống xương cháy tàn
ngay tình ai biết mưu gian
hẳn nàng thôi lại có bàn rằng ai!
thúc ông sùi sụt ngắn dài
nghĩ con vắng vẻ thương người nết na
di hài nhặt sắp về nhà
nào là khâm liệm, nào là tang trai
lễ thường đã đủ một hai
lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ
bước vào chốn cũ lầu thơ
tro than một đống, nắng mưa bốn tường.

[1639-1672]

[1639-1672]

sang nhà cha, đến trung đường
linh sàng bài vị thờ nàng ở trên
hỡi ôi! nói hết sự duyên
tơ tình đứt ruột, lửa phiền cháy gan!
gieo mình vật vã khóc than:
“con người thế ấy, thác oan thế này!
chắc rằng mai trúc lại vầy
ai hãy vĩnh quyết là ngày đưa nhau!”
thương càng nghĩ, nghĩ càng đau
dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây!
gần miền nghe có một thầy
phi phù trí quỉ, cao tay không huyền.
trên tam đảo, dưới cửu tuyền
tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng
sắm sanh lễ vật đưa sang
xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han
đạo nhân phục trước tĩnh đàn
xuất thần giây phút chưa tàn nén hương
trở về minh bạch nói tường:
“mặt nàng chẳng thấy, việc nàng đã tra
người này nặng kiếp oan gia
còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho!
mệnh cung đang mắc nạn to
một năm nữa mới thăm dò được tin
hai bên giáp mặt chiền chiền
muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay!”
nghe lời nói lạ dường này
sự nàng đã thế, lời thầy dám tin
chẳng qua đồng cốt quàng xiên
người đâu mà lại thấy trên cõi trần?
tiếc hoa những ngậm ngùi xuân
thân này dễ lại mấy lần gặp tiên!

[1673-1704]

[1673-1704]

Kiều & Hoạn Thư (cont) [1705-2028]


Nguyến Du [1766-1820] courtesy name Tố Như and art name Thanh Hiên, is a celebrated Vietnamese poet and musician. He is most known for writing the epic poem The Tale of Kiều.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Nguyễn Thị Phương Trâm's avatar

By Nguyễn Thị Phương Trâm

There's magic in translating a body of work from one language to another.

Leave a comment