Văn Học Ngoại Biên — Literature Beyond

[
[
[

]
]
]

A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

1. THE BLOCKHOUSE IN RUME

Beneath an obscured mount of dirt, hidden behind thick under growth was an abandoned French army blockhouse. A haunted blockhouse. On moonlit nights people heard the sound of the harmonica playing from deep within the earth, mournful cries of exiled souls missing home. Sometimes, a hungry black French soldier would crawl out begging for alcohol, or cigarette. A sad and pitiful sight.

The deserted blockhouse more mysterious because of all the hearsay.

Jungle and more jungle. Buried and tucked away in the jungle. And surrounded by jungle were nearly a hundred grass rooftops in Rume village and the sad blockhouse shaded by rows and rows of cool green canopies. Truly though, Rume or Rum, had no meaningful significance other than, the sound of an animal’s last cry for help before its death. People say, during the Tây Sơn uprising, all the men in the village were forced to fight. When white people turned up with their new religion in the middle of nowhere was Rum, and there were only women and children. Hence, they dubbed Rum as Rume a place for children.

PHẦN MỘT

1. CÁI LÔ CỐT Ở RUME

Trên mô đất không cao lắm, cái lô cốt hoang phế của bọn lính Tây nằm ẩn nấp sau những bụi cây rậm rạp. Lô cốt ấy có ma. Những đêm trăng, tiếng kèn harmonica từ trong lòng đất dậy lên như khóc than của kẻ lưu đày nhớ cố hương. Đôi khi, một gã Tây đen chết đói chui ra đứng ven đường xin rượu, thuốc lá. Thảm hại.

Những tin đồn ấy làm cho cái lô cốt vốn đã hoang liêu càng trở nên kỳ bí.

Rừng trập trùng. Rừng vã mồ hôi độc. Và rừng bao dung che chở cho gần trăm mái tranh của làng Rume cùng với cái lô cốt buồn thiu dưới bóng những tàng cây xanh mát. Thật ra, Rume vốn là Rum, không ngữ nghĩa, nó như tiếng kêu thảng thốt của một con thú hoang trước cái chết. Tương truyền, khi quân Tây Sơn nổi lên làm can qua, tất cả đàn ông trai tráng trong làng đã bị bắt lính. Khi những người da trắng tới truyền giáo, họ chỉ còn nhìn thấy ở Rum hẻo lánh hiu hắt toàn đàn bà con gái và trẻ con. Vì thế, họ đã ví von Rum là Rume để ám chỉ nơi ngụ cư của những con cái.

Nhưng rồi, theo nhiều cách khác nhau, những người đàn ông xa lạ mang đến Rume những mầm mống mới của phiêu bạt. Và Rume tiếp tục sinh sôi nảy nở cho đến khi một cuộc chiến tranh khác ùa tới dập vùi nó trong khói lửa.

Người dân ở Rume sống bằng nghề săn thú, làm củi, đốt than và làm rẫy. Không có trưởng ấp hay già làng. Nhưng được Chúa chọn, một ngày đầy ơn phước, có một người đàn ông từ phương xa đến, ông mang theo giáo lý của Chúa và ở lại để quy tụ con chiên của ngài.

Dân làng gọi ông là Thày.

Ông Thày vừa dạy học cho trẻ con biết chữ vừa xử lý những việc của người lớn như một mục tử nhân lành.

Ông Thày không mang chức thánh, nhưng vì linh hồn con người cần được cứu rỗi, ông mời gọi dân làng tụ họp tại ngôi nhà của mình và cùng họ đọc kinh, cầu nguyện, mỗi khi trời bắt đầu chạng vạng. Cùng với thời gian, lời kinh thấm xuống đất, ngôi nhà của ông biến thành nhà thờ như cây con lớn lên thành cổ thụ. Và đó là nơi nương náu vỗ về cho sự mong manh của con người trước những hoạn nạn, bất trắc của tử sinh.

Ông cũng có một miếng vườn nhỏ trồng các thứ rau củ, nuôi mấy con gà độ nhật  cùng với những vật phẩm khác do cư dân phụ giúp.

Cuộc sống trôi đi hỗn tạp như rừng và cũng đơn sơ hài hoà như rừng.

Một tháng vài lần, những con buôn từ xa tới, họ mang theo mắm muối, thực phẩm khô, vải vóc và thuốc men. Họ thường nghỉ qua đêm ở mái hiên nhà thờ vì không thể trở về kịp trong ngày. Đối với đám trẻ con trong làng, đấy là dịp để chúng được nghe kể về một thế giới khác. Như những truyện truyền kỳ cổ tích.

Thời thơ ấu của Thạch Xung được gieo trồng và vun đắp từ những câu chuyện kỳ lạ  hoang đường của những thương nhân và những kẻ giang hồ bất định ấy.

“Muối ở đâu ra?”

Người đàn ông bán mắm muối lực lưỡng và cũng đen xạm như Thạch Xung, xoa đầu Thạch Xung, “Muối được kết tinh từ nước biển.”

“Nước biển có giống nước sông không?”

Người đàn ông cười hiền, “Không giống.”

“Vì sao?”

Điều này thì người đàn ông bán muối cũng không biết, nhưng ông vẫn trả lời “Vì trời sinh ra thế. Mặn và ngọt. Cũng như trời sinh ra đàn ông khác đàn bà thôi.”

“Đàn ông là biển hay sông?”

Ông bán muối cười lớn. “Cháu thích là biển hay sông?”

“Cháu cũng không biết, vì cháu chưa thấy biển.”

Người đàn ông nói trống không “Cũng chẳng có gì quan trọng.”

Người đàn ông có cô vợ xinh xắn. Thơm mùi đàn bà. Cũng không hiểu vì lý do gì, một ngày nọ hai vợ chồng họ không đi nữa. Họ ở lại Rume và làm nhà, mở tiệm tạp hoá, bán tất cả mọi thứ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của dân làng. Tiệm tạp hoá không có tên, cho nên nó được gọi là cửa hàng của ông Muối – bà Mắm theo một thói quen mà dân làng đã gọi họ từ thuở còn lang bạt.

Mỗi tháng một lần, ông Muối đều lên tỉnh lấy hàng và ở lại cho đến hôm sau mới về. Cũng mỗi tháng một lần, bà Mắm có một đêm rảnh rang để mơ mộng. Ông Thày uy nghi và đầy hấp lực bí ẩn như thánh thần. Có lẽ đó mới là lý do khiến bà Mắm muốn cùng chồng ở lại Rume định cư. Bản thân ông Muối cũng nhận ra đây là nơi mà vợ chồng họ có thể làm ăn được.

Không phải dân bản địa, ông Thày đã đến Rume như định mệnh. Cơn sốt bệnh ngã nước đã đóng đinh chân ông vào đất của Rume. Duyên lành đã để ông nằm mê man dưới một gốc cây to phía trước cái lô cốt bỏ hoang. Giữa mù mịt chướng khí, cô gái trước khi là mẹ của Thạch Xung đã nhìn thấy ông thoi thóp. Cô đưa ông vào trong lô cốt và chăm sóc ông. Sứ mệnh mà Thượng đế đã trao cứu sống ông như một phép màu. Đấy cũng là một ngộ nạn giữa vô định của ông với làng Rume.

Trong lô cốt mờ tối đã được cô gái dọn dẹp sạch sẽ. Đầu người đàn ông gối trên đùi cô, hơi thở mệt nhọc. Cô nhìn ngắm ông như chiêm ngưỡng một kỳ quan, cho dù khuôn mặt đầy nam tính ấy nhám nhúa khiến cô có chút sợ hãi. Cô không thể mang ông về nhà, cũng không thể bỏ mặc ông. Tuy nhiên, lòng thương cảm của cô với một sinh mệnh đơn độc hiu hắt đã giúp cô trở nên can trường trước một tình huống khó xử. Cô lén lút mang nước uống và thức ăn cùng cái mền rách đến cho ông. Sau mấy ngày, người đàn ông dần hồi phục. Ông đã có thể ôm cô để chia sẻ sự biết ơn sâu thẳm của ông với lòng trắc ẩn tự nhiên của cô.

Mỗi ngày cô là một ngày khai mở thân tâm đến tận cùng hoan lạc. Mỗi ngày ông là một ngày lạc lối đến chân trời mộng ảo.

Nhưng rồi cũng đến lúc ông phải từ biệt cô ra đi, như ông vẫn lữ hành một trần gian trắc trở vô thường. Ông để lại cho cô một nỗi nhớ mênh mang về mùi thân xác đàn ông và một ánh mắt dịu dàng khiến linh hồn cô run rẩy.

Hơn nửa năm sau, người đàn ông khoẻ mạnh quay lại Rume cùng với một con chó và chiếc xe đạp. Những ngày đầu, ông sống trong lô cốt như một quái nhân dưới mắt những người quen với đời sống quần cư. Rồi ông dựng một cái lều gần đó tách biệt hẳn với dân làng. Dẫu vậy, ông vẫn nghiễm nhiên trở thành một cư dân của Rume, mà không cần tuyên bố hay xin phép ai. Cũng không cần giới thiệu, ông chào hỏi và tự làm quen với mọi người ở Rume mỗi khi có dịp. Ông chia sẻ sự hiểu biết của mình một cách khiêm tốn với tất cả. Dân làng cùng gọi ông là Thày như cách bày tỏ lòng kính trọng với một người thân thiện và tử tế.

Khi những đứa trẻ trong làng được ông dạy dỗ học chữ, người ta đã giúp ông làm lại ngôi nhà khang trang hơn cũng như đóng cho bọn trẻ mấy bộ bàn ghế dài để chúng ngồi học. Hơn cả một già làng, ông được coi là hiện thân của thần linh, khai sáng và dìu dắt nâng đỡ cuộc sống con người đơn sơ ở Rume.

Tuy nhiên, thần linh cũng đa cảm. Thày không bao giờ quên ơn cứu mạng của cô gái đã chăm sóc ông trong lô cốt. Vì thế với Thày, lô cốt là thánh địa thiêng liêng, Thày cho rào cái lô cốt lại và biến nó trở thành biệt cung của Thày. Trong lô cốt ấy chỉ có một cái võng và những viễn mộng. Mỗi tháng vài lần, cô gái có tấm lòng lân tuất lại tìm đến với người đàn ông lạc đường mà cô thương nhớ. Nỗi thương nhớ ấy gieo vào lòng cô một đứa bé, sau này được gọi là Thạch Xung. Nhưng Thạch Xung không hề biết Thày chính là cha mình, bởi vì cô đã được cha mẹ gả cho một chàng trai khác vốn là kẻ khoẻ mạnh giỏi giang nhất ở Rume ngay sau khi cô mang thai. Chàng biết làm rẫy, đốt than và cũng biết săn thú rừng. Mọi người ở Rume gọi chàng là Thạch Xanh. Và sau khi lấy chồng, cô gái được gọi là chị Xanh hay bà Xanh. Không một ai biết, bà Xanh đã từng nhiều lần đến lô cốt của Thày dâng hiến thanh xuân cho thần linh. Bởi thế, bà Xanh vẫn là một mẫu mực đàn bà đoan chính và nhân hậu.

Cái lô cốt hoang tàn ẩn khuất giữa đám cây rừng ấy chưa bao giờ lạnh lẽo. Nó luôn được sưởi ấm bởi những hơi thở nóng của đàn bà ở Rume. Bởi không một người đàn bà nào không bị xao xuyến bởi ánh mắt dịu dàng của Thày.

Bà Mắm bán tạp hoá tuy bận rộn nhưng vẫn lãng mạn như dòng suối. Mỗi lần gặp Thày đến mua đồ là mỗi lần bà chảy nước trong háng. Mùi nước ấy phả ra lấn át tất cả cái hỗn mang của mọi thứ hàng hoá chất đầy trong tiệm. Nó tạo ra một bầu khí nồng nàn hư ảo với sự tồn tại của thế giới chung quanh.

Bao giờ cũng vậy, khi Thày mua hàng xong bà đều ân cần, “Thày cứ để đồ ở đây, em sẽ bảo bọn nhỏ mang đến nhà cho Thày.”

Và Thày luôn tỏ ra cao quí, nhỏ nhẹ “Nhờ bà vậy.”

Thật ra, chẳng có bọn nhỏ nào cả. Chính bà sẽ đích thân mang đồ đến cho Thày. Bà cũng không bao giờ quên biếu Thày ít đồ ăn do chính bà nấu. Điều ấy tự nhiên như tình làng nghĩa xóm, đặc biệt với một người đàn ông đáng kính sống đơn độc. Và cũng tự nhiên như thế, bà sẽ mang cái mùi như truyền thuyết ấy vào lô cốt với Thày mỗi khi ông Muối vắng nhà.

Ông Thày rất ít nói khi giao hưởng ân ái. Chỉ có mê đắm của ngôn ngữ cơ thể với cơ thể. Tuy nhiên, cũng có lúc ông phải thốt lên thành lời, “Anh chết mất…”

Mùi ma mị của bà hoà quyện với mùi rừng man dại nhồi ông lên xuống giữa chơi vơi của đất trời. Mơ và thật.

Bà Mắm rất tự hào vì được ông yêu. Như ân sủng. Như biệt đãi. Cho dẫu niềm tự hào ấy vẫn phải che giấu như bóng tối trong lô cốt, nhưng vẫn làm cho thần thái bà trở nên rạng ngời. Nhờ thế, tiệm tạp hoá của bà, vốn chỉ bán những thứ cần thiết mà không biết từ lúc nào đã biến thành quán rượu. Những gã đàn ông chán vợ, những chàng trai mới lớn đều nấn ná khi mua rượu ở quán bà. Ở đấy không có mồi nhậu, nhưng có nhan sắc và mùi của bà. Họ uống rượu tại chỗ. Một mình cũng uống. Đông người cũng uống. Không có chỗ trong nhà thì họ ngồi ngoài hiên. Mùi trong háng bà phát tán trong không gian đầy ắp, ai cũng có phần.

Ở Rume, ai cũng biết bà Mắm không có mùi mắm. Nơi bà, chỉ có một mùi trầm hoang dã khiến rắn không cắn, cọp beo không ăn thịt người. Mùi ấy mang an lành, hiền hoà đến cho mọi loài thú.

Đàn ông say đắm mùi bà nhưng không ai cợt nhả với bà hay hung hiểm với người khác. Có lẽ một phần vì ông Muối lúc nào cũng đeo con dao găm bên hông như cảnh sát đeo súng lục. Hơn nữa, trên bàn thờ nhà ông Muối còn có một cây kiếm dài, nghe nói là của gia bảo. Mỗi lần kiếm rút ra phải dính máu người.

Chỉ có ông Thày không bao giờ ngồi lại trong tiệm. Và Thày cũng chỉ uống rượu một mình. Với khách khứa, Thày dùng trà tiếp đãi, mà cũng chỉ là lá cây vối trong sân nhà.

Thỉnh thoảng Thày lấy xe đạp đi đâu đó một vài ngày, không ai biết làm gì. Con Quít vẫn quấn quít với Thày và là kẻ canh gác trung thành của Thày. Đặc biệt, những khi Thày vào lô cốt với ai đó hay vắng nhà, Quít luôn ngồi gác bên ngoài, nghiêm cẩn như một anh lính gác lăng tẩm. Vì thế, cái lô cốt vẫn là một bí mật về những con ma Tây đen nhớ cố hương than khóc hàng đêm làm dân làng sợ hãi, không ai dám bén mảng.

2. ĐỨA CON CỦA RỪNG

Thạch Xung được sinh ra đúng vào ngày Thạch Xanh, cha nó bẫy được một con heo rừng to lớn.

Bế Thạch Xung trên tay, bà đỡ hoan hỉ loan báo, “Đây là con trai của rừng và nó sẽ thống lĩnh Rume như một vương quốc.”

Trong lúc vui vẻ, mọi người trong gia đình cũng như hàng xóm chúc mừng bà mẹ và coi đó như một lời nói đùa. Hơn tất cả mọi người, bà Xanh rạng rỡ trong hạnh phúc. Bà thầm mong lời chúc phúc của bà đỡ sẽ thành sự thật. Bởi từ sâu thẳm trong lòng, bà vẫn tin vào cái định mệnh mà trời đất đã mang đến cho bà một người đàn ông của thế giới khác, phi phàm và độ lượng. Giống của người ấy, tất nhiên cũng phải phi thường. Đấy là bí mật của riêng bà, chính ông Thày cũng không hay biết. Tuy nhiên, ông cha hờ vừa từ rừng về quăng con heo xuống đất, ôm thằng bé vào lòng, Thạch Xanh mới coi đây là chiến thắng. Không chỉ một thằng bé, mà ông sẽ có con đàn, cháu đống.

Trong căn nhà gần lô cốt, ông Thày nghe tin bà Xanh mới sinh một thằng con trai từ mấy đứa học trò. Bọn chúng cũng loan truyền như lời bà đỡ rằng đấy là đứa con của rừng và sẽ thống lĩnh Rume như một vương quốc. Điều này, được ghi nhớ rất lâu. Chính vì thế, khi Thạch Xung đến tuổi đi học, nó đã bị những đứa lớn hơn thách thức gây sự. Thay vì sợ hãi, Thạch Xung trở thành đứa bé lì đòn đáng kinh ngạc.

Phần ông Thày, đêm ấy đã vào ngủ trong lô cốt một mình với chai rượu. Trong cơn lãng đãng, ông nhớ lại cái đẹp rắn chắc và sự cuồng nhiệt của bà Xanh trên nền đất. Vú của bà. Mông của bà. Hơi thở dồn dập và tiếng rên rất to của bà.

Con Quít đứng canh bên ngoài thỉnh thoảng lại sủa như cắn ma.

Thạch Xung uống sữa mẹ và ăn khoai ăn bắp lớn lên khoẻ mạnh. Nhưng bất ngờ vào năm bốn tuổi, Thạch Xung bị bệnh thuỷ đậu tưởng chết. Ông Thày đạp xe một mạch lên tỉnh nhờ một bác sĩ Tây mà ông quen biết xin thuốc. Rồi ông Thày lại đạp một mạch về thẳng nhà Thạch Xanh đưa thuốc.

Ông nói với Thạch Xanh, “Đây là thuốc bôi và thuốc uống, nhớ che kín gió và chỉ dùng nước nóng lau người cho cháu. Cũng tránh không cho người khác gần cháu. Đừng lo, cháu sẽ khỏi.”

Thạch Xanh chỉ gật đầu. 

Sau khi Thạch Xung khoẻ hẳn, bà Xanh dẫn nó lại nhà ông Thày để tạ ơn. Bà nấu cho ông một nồi gà kho, một ít rau củ tươi và một miếng khô nai gác bếp.

Bà bảo thằng bé, “Lạy Thày đi con.”

Thạch Xung lễ phép khoanh tay cúi lạy ông, đôi mắt nó liếc nhìn ông. Ông mỉm cười hiền từ xoa đầu thằng bé khen ngoan.

“Giúp cháu cũng như giúp những đứa trẻ khác trong làng thôi mà.”

Bà nói, “Em vẫn biết thế, nhưng…”

Bà định nói ông đã cứu con của chúng ta, nhưng kịp ngừng lại. Bà quay nhìn đi chỗ khác.

Đôi mắt rưng rưng, “Thôi em về, anh nhớ ăn uống tử tế, giữ gìn sức khoẻ.”

Ông nhìn bà quyến luyến, “Anh vẫn khoẻ mà. Có cần gì cứ cho anh biết.”

Hai mẹ con bà Xanh cúi đầu chào Thày lần nữa. Nhìn theo bà, lòng ông dạt dào thương cảm.

Được bảy tuổi, Thạch Xung bắt đầu được cha dẫn theo vào rẫy, dạy nó cách trồng trọt, dọn cỏ. Thạch Xanh cũng dạy nó nhận biết tên từng cây và cho nó biết loại trái nào ăn được. Tuy nhiên việc mà Thạch Xung thích nhất là phụ bố đắp lò than. Nó giống như một trò chơi. Chỉ vài năm sau, tự nó đã biết cách để làm một cái lò than nhỏ. Than của nó mang về biếu ông Thày. Mẹ nó dạy phải biết ơn người đã cứu giúp mình. Thạch Xanh coi đó như đóng góp một phần học phí, ông ta hài lòng vì thấy con mình biết cư xử.

Khi đã biết đọc biết viết, tất cả sách có trong nhà Thày, Xung đều xin đọc. Việc đọc sách với nó cũng giống như việc đi vào rừng. Mịt mù nhưng lôi cuốn. Có rất nhiều từ, nhiều câu, nhiều việc nó không hiểu, nhưng điều ấy không làm nó chán. Cũng như một cây lạ, một con quái vật… chữ là những vật cảnh dị thường, ám ảnh nó. Đôi khi nó nhờ Thày giải nghĩa, nhưng thường thì nó im lặng như rình một con mồi.

Ông Thày thích thằng nhỏ Xung, không chỉ vì nó thông minh, gan dạ mà còn vì Xung là con của người đàn bà mà ông yêu dấu. Ông thương nó như con mình. Ông cũng thích nói chuyện với nó, nhưng rất ít khi ông hỏi thăm về mẹ nó. Bởi ông sợ lòng mình yếu đuối. Thật ra, ông cũng sợ phải va chạm với cha nó, người đàn ông dũng cảm và cục cằn.

Ở chỗ ông Thày, Xung cũng như những đứa trẻ khác chỉ được học đến lúc viết, đọc thông thạo và làm được bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia. Không còn gì để học, nhưng Xung vẫn thường xuyên đến nhà Thày để giúp ông những việc vặt. Thỉnh thoảng nghe ông kể chuyện. Thế giới không chỉ có Rume, mà còn có những kỳ quan, những tiện nghi ảo diệu cho đời sống. Thế giới cũng có cái gọi là lịch sử và những ông hoàng bà chúa, lẫm liệt hay hoang đàng. Thế giới còn có thiên thần và ác quỉ. Thế giới rộng lớn đi không bao giờ hết.

Một cách vô tình, ông Thày gieo vào lòng Xung những ước mơ và khát vọng. Ngọn núi phía xa kia quyến rũ nó. Ngọn núi đơn độc và sừng sững thách thức. Những khi trời không có mây mù, thằng Xung sẽ ngồi đâu đó nhìn ngắm ngọn núi, mơ màng. Một ngày nào đó nó sẽ phải leo lên. Nhưng nó không thật sự biết, nó muốn gì.

Bà Xanh thương con nhưng cũng dạy dỗ Xung nghiêm khắc. Bà không bao giờ tỏ ra quá dễ dãi. Sự khuôn phép của bà không những chỉ dành cho thằng Xung mà cả chồng bà cũng phải e dè. Thạch Xanh có thể say sưa, be bét đâu đó với bạn bè, có thể chửi thề đánh lộn không chừa ai, nhưng về nhà Thạch Xanh vẫn phải chừng mực. Uy quyền của bà lớn hơn cái ngang tàng của chồng. Bà quán xuyến mọi chuyện trong ngoài.

Thạch Xung kính sợ cha mẹ. Sự kính sợ ấy làm Xung càng trở nên xa cách khi nó lớn dần lên. Lầm lì và có vẻ khôn trước tuổi.

Trong khi bố mẹ Xung tiếp tục đẻ ra những đứa em ruột thịt, tình cảm của nó lại hướng về một đứa con gái hàng xóm, mặt đầy tàn nhang nhưng nhí nhảnh và duyên dáng thơm tho.

3. MÙI NGƯỜI

Khi vợ chồng ông Muối – bà Mắm lập nghiệp ở Rume, họ vẫn chưa có con. Ông Muối đã bắt đầu sốt ruột. Bà Mắm càng nóng lòng hơn. Nhưng không phải điều gì con người muốn là được. Mặc dù hai ông bà cũng yêu nhau, nhưng chỉ đến lúc bà Mắm và ông Thày ở trong khoảng cách có thể với tay ôm được trong tiệm tạp hoá của mình, bà mới cảm nhận được tình yêu phức tạp hơn bà tưởng. Ánh mắt bao dung và nụ cười hiền hoà của Thày như ngọn lửa ấm áp nhưng mãnh liệt làm dấy lên trong lòng bà một cơn điên âm ỉ. Trái tim bà rộn ràng hơn. Dường như bà thấy mình là một người khác.

Đó cũng là thời điểm tiệm của bà Mắm bán được nhiều rượu hơn. Và nó trở thành nơi giải khuây của cánh đàn ông. Bọn mới lớn nhìn thấy bà liền biết cách thủ dâm. Dân số ở Rume bắt đầu gia tăng đáng kể.

Ngôi nhà thờ của ông Thày vào buổi tối có nhiều phụ nữ đến cầu nguyện hơn. Ông Thày cũng có nhiều việc để làm hơn. Bận rộn nhất là xử lý những bất hoà giữa các cặp vợ chồng.

Các bà vợ trở nên khó tính bởi sự ganh ghét mà do bản năng họ nhận biết đâu là nguyên nhân. Bà Mắm trở thành trung tâm của các đàm tiếu trong đám phụ nữ.

Thật ra, không một người đàn ông nào ở Rume lọt vào mắt bà. Bà vẫn là một người vợ đoan chính với tất cả, ngoại trừ ông Thày. Chúa tha thứ cho bà vì đấy là điều bà không thể chống cưỡng.

“Đêm nay chồng em không về.”

Có nghĩa em tự do, em là của Thày duy nhất và nguyên bản. Cơn điên của ngưỡng vọng trong bà bùng phát. Như hồng thuỷ. Như huỷ diệt. Bà vắt kiệt ông rời rã mỗi khi bà đến lô cốt với ông.

Khi bà Mắm đã có dấu hiệu thụ thai, bà quyết định không bao giờ trở lại nhà ông Thày nữa. Cái lô cốt trở thành một ký ức hoang đường nhưng bất diệt trong linh hồn bà. Ở đó, dù chỉ là một thời gian ngắn ngủi, nhưng bà đã sống như cả một đời. Nhiều đời. Luân hồi miên viễn.

Bà Mắm sinh ra một đứa con gái thanh nhã. Từ đó, năm nào bà cũng đẻ. Và bà đẻ liền một hơi cho ông Muối năm cô con gái.

Cô gái được đặt tên là Thị, bởi từ khi sinh ra nó đã thơm và xinh tươi như một trái thị. Càng lớn, Thị càng thơm như thể nó ẩn chứa cả một rừng thị. Tuy nhiên, có một điều không bình thường là mùi của bốn đứa em nó lại rất khác, chúng mang cái mùi mắm muối của cha mẹ. Chỉ có bà Mắm mới biết được cái bí mật dị thường của Thị. Điều ấy khiến Thị, giống như mẹ, trở thành đối tượng bị ganh ghét nhất làng Rume bởi tất cả mọi phụ nữ, kể cả mấy đứa em ruột thịt của cô. 

Khi Thị bắt đầu đi học thì cũng là lúc Thạch Xung đã nghỉ. Tuy nhiên, vốn là đứa ham hiểu biết, Xung vẫn thường xuyên đến nhà Thày phụ việc như một cách thụ giáo khác. Xung mười một tuổi và lớn hơn con Thị bốn tuổi. Nhìn thấy con Thị thút thít những ngày đầu đến lớp học, Xung đã thương con bé như một người anh. Nó hì hục mất một tuần lễ để đẽo cho Thị một con chó con với cái mõm ngắn bằng gỗ mít. Thị thích lắm. Thật ra, nó là một con vật có bốn chân không hẳn là chó hay mèo, nhưng thằng Xung bảo nó là chó em của con Quít, thì nó là chó.

Xung nói, “Đặt tên cho nó đi.”

Con Thị chẳng biết phải gọi là gì và nói gì. Thị im lặng xoa đầu con chó gỗ và hôn vào mũi của nó. Phải mãi về sau, Thị mới nghĩ được cái tên cho con chó bởi sự ngọt ngào mà thằng Xung đã dành cho cô, Cam. Cái tên được bật thốt lên khi Thị nghĩ đến Xung. Mà cũng đúng, anh em với Quít thì nhất định phải là Cam. Thị đã giữ con chó Cam ấy cho đến khi cô già đi và lú lẫn.

Trong lớp học ở nhà ông Thày, mùi của Thị đã giúp bọn con trai thông minh hiếu học hơn. Nhưng cũng mùi ấy lại khiến đám con gái vốn đã ít ỏi lại càng trở nên đần độn. Ông Thày hiểu được cái không bình thường ấy, nhưng cũng đành chịu. Ông chỉ thầm mong rồi đây, cuộc đời con bé sẽ êm ả hạnh phúc.

May thay, cô đã có một cuộc sống huy hoàng bởi sự ngưỡng mộ của các chàng trai ở Rume. Vào năm mười bốn tuổi, Thị chính thức đứng bán hàng thay mẹ bởi bà Mắm bị một bệnh nan y không còn đủ khoẻ để làm gì. Đàn ông con trai đến mua rượu của cô phải sắp hàng. Cô ra một qui định là chỉ bán rượu từ 4 giờ chiều đến 7 giờ tối. Cô giải thích, đàn ông trai tráng ban ngày phải đi làm, tối phải ngủ sớm để giữ gìn sức khoẻ. Cô tuyệt đối nghiêm khắc tuân thủ qui định của mình. Anh nào lây nhây đã có ông Muối giải quyết. Đối với Thạch Xung cũng thế, chàng chỉ có một ngoại lệ duy nhất vào ngày cuối tuần. Mỗi thứ bảy, Xung có thể ở lại trễ hơn một chút với lý do giúp cô dọn dẹp vệ sinh. Nhưng thực ra, đấy là khoảng thời gian mà Thị dành riêng để tiếp đãi Xung, có khi là một tô cháo nóng, có khi là một dĩa trái cây… Đặc quyền này đến từ việc Xung giúp ông cha Muối của cô bổ củi vào buổi chiều.

Khi mọi ồn ào của ngày đã lắng xuống, cả Rume chìm trong im vắng thanh sạch của đêm, mùi thị thơm tho từ người Thị ngào ngạt toả hương. Càng khuya, mùi Thị càng nồng đượm. Đặc biệt, khi gần gũi người mà cô thích thì mùi Thị trở nên cô đặc, như thể múc ăn được. Thạch Xung quyến luyến cô và vui sướng vì sự thân thuộc mà cô dành cho mình. Thị đã tặng Thạch Xung một chiếc khăn tay thêu tên cô với ước mong họ sẽ không bao giờ quên nhau.

(còn nữa)

Nguyễn Viện

*Đọc thêm: Giáng Vân: Nhà văn Nguyễn Viện: “Thần khí và niềm tin về bản thể tuyệt đối của sự sống rất cần cho văn chương”


Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Leave a comment