A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
4. WAR
For these guileless people the peaceful period passed them by. One evening, strangers, men from a far-off place turned up. They aimed their guns into each home and asked that they all need to be present at Thày’s home.
All the adults and young men in Rume were present. That particular year, Xung and Thị were beyond their formative years, Xung came with his father, Thị was there with both her mother and father.
The strangers with rifles surrounded them, among them was Mr. Thạch Xanh’s son and his friend, Mr. Thọt the pig breeder son Nhậm. The sudden worry troubled them, they spoke quietly among themselves… Both of them barely old enough, both armed with a gun?
Thày asked everyone to take a sit. He introduced the comrade in charge of the guerrillas, the main spoke person who will give them an update the villagers on the current state of the country.
Thày earnestly encouraged the villagers, “let us welcome our comrades, the liberation army…”
No one was sure whether Thày had anything to do with these people. But his composed disposition calmed them. While on his part, all Thày wanted to do was to diffuse a rather unique and sensitive situation, involving the safety of the villagers.
And guns were never a good sign.
The cunning and cold guerrilla leader spoke:
“Ladies and gentlemen,
The national resistance fight had begun. We must enthusiastically support and have faith in the revolution of the people and will definitely succeed. We must unite both in mind and heart, under the leadership of the Liberation Front…”
He spoke about how the nation is a slave to outsiders, the despicable evil crimes their army have committed… The villagers listened but didn’t no any different. Rume village was as peaceful as ever, they did not see themselves as slaves nor have they seen the enemy.
“Does anyone want to speak up?”
Looking down the barrel of a gun they held their breath no one said a word.
Mr. Thọt stood up suddenly, “I beg your pardon revolutionary comrade, how can we contribute?”
“If you have rice on offer offer rice. If you have medicine on offer offer medicine. If you have cloths or clothes offer that. If you have money to spare spare us that… The revolution need everything. Whatever you can help us with please leave them at your front door, and at night we will send someone to collect them. Thank you everyone, we a most grateful for your support. As for the young people, we welcome you, both men and women. Please join us and head for the road for land and country.” The leader of the guerillas called upon them.
Followed that, a handsome performer with a Mandolin stepped out from the crowd. He smiled brightly as he asked. “Would anyone like to listen to a song or two?”
The young people in the crowd both men and women clapped and shouted enthusiastically, “Yes… Yes please…”
The performer politely replied, “It will be my pleasure to sing for everyone a song about the revolution, about a young man who fought because he loved his country. I hope that the young men and women here will be just as enthusiastic as him. We should join our hands in eliminating the enemy and free our country…”
He sang, as the jungle settled into the night and everyone held their breath. His voice was warm and full of joy.
“Ba Hưng is a farmer
he is a very good soldier
he had just receive a medal
Sáu is so proud of his brother
he’s tiny but very clever
he goes on and on about his brother
his brother has excellent skills
in just one year he had killed
not one Frenchman but a hundred…” (1)
The night became more of a thrill, festive and full of possibilities. The young women were infatuated. And the hot blood of heroes pumped through the veins of the young men in the village.
*
One morning, Rume village was startled by Thày’s body faced down in the middle of his yard, both of his hands were tied behind his back, his throat was cut from ear to ear. With a description of a verdict scribbled on a piece of paper glued to his back: “Insurrection

4. CHIẾN TRANH
Thời của con người chất phác và thái bình qua đi. Một tối, những người đàn ông xa lạ xuất hiện. Họ chĩa súng vào từng nhà và mời mọi người đến nhà ông Thày họp.
Hầu như tất cả thanh niên và người lớn ở Rume có mặt. Năm ấy, Xung và Thị đã bước qua tuổi thơ ngây. Xung đi với ông bố. Thị và cha mẹ cũng đến.
Những người lạ mặt đeo súng gác chung quanh, trong số ấy dân làng phát hiện ra có thằng Thạch Xâm con ông Thạch Xanh và bạn nó, thằng Nhậm con ông Thọt chuyên nuôi heo nọc. Bất ngờ và lo âu, dân làng thầm thì… Hai thằng con nít ranh, tại sao bọn chúng lại cầm súng?
Ông Thày bảo mọi người ngồi xuống. Ông giới thiệu đồng chí trưởng nhóm du kích, người sẽ chủ trì cuộc nói chuyện với bà con về tình hình đất nước hôm nay.
Ông Thày khẩn thiết, “Mọi người hãy vui mừng chào đón quân giải phóng…”
Không ai biết ông Thày có liên quan gì với nhóm người này không. Nhưng dáng vẻ bình tĩnh của ông cũng khiến mọi người an tâm. Phần ông thày, ông biết mình đang phải đối diện với một tình thế đặc biệt nhạy cảm, liên quan đến sự an nguy của cả dân làng.
Dẫu sao, súng ống không phải là điềm lành.
Đồng chí trưởng nhóm du kích có khuôn mặt rắn rỏi và sắc lạnh, phát biểu:
“Kính thưa bà con,
Cuộc kháng chiến cứu nước đã bắt đầu. Bà con hãy phấn khởi và tin tưởng cuộc cách mạng của nhân dân ta nhất định sẽ thành công. Hãy đoàn kết một lòng, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Giải phóng…”
Ông ta nói về sự nô lệ của đất nước vào ngoại bang, tội ác của quân thù… Người ta nghe và cũng chỉ biết vậy thôi. Làng Rume vẫn yên ả như hồi nào, người ta không nhìn thấy kẻ thù cũng như không biết mình là nô lệ.
“Ai có ý kiến gì không?”
Trước họng súng, chỉ có sự im lặng nín thở.
Đột nhiên lão Thọt đứng lên xin nói, “Thưa đồng chí cách mạng, chúng tôi phải đóng góp như thế nào?”
“Ai có gạo góp gạo. Ai có thuốc góp thuốc. Ai có quần áo vải vóc góp quần áo vải vóc. Ai có tiền góp tiền… Cách mạng cần tất cả mọi thứ. Đồng bào ủng hộ cái gì cứ để đồ trước cửa, ban đêm chúng tôi sẽ có người đến nhận. Xin cám ơn đồng bào. Riêng các bạn trẻ, chúng tôi mong sẽ được đón nhận các bạn, cả nam và nữ. Hãy lên đường vì quê hương.” Đồng chí trưởng nhóm du kích kêu gọi.
Tiếp theo, một anh văn công đẹp trai ôm cây đàn Mandolin bước ra. Anh tươi cười hỏi, “Bà con và các anh chị có thích nghe hát không?”
Đám thanh niên nam nữ vừa vỗ tay vừa la hét, “Thích… Thích…”
Anh văn công lễ phép, “Dạ, xin hát tặng bà con và các anh chị một bài hát cách mạng, nói về một thanh niên yêu nước đã hăng hái tòng quân giết giặc. Mong rằng tất cả thanh niên chúng ta cũng sẽ hăng hái như anh. Chúng ta cùng nhau giết giặc giải phóng quê hương…”
Anh cất tiếng hát, rừng đêm lặng xuống và mọi người nín thở lắng nghe. Giọng anh ấm và vui nhộn.
“Có anh Ba Hưng
Vốn thiệt nông dân
Đi lính hơn năm trường
Vừa mới được huân chương
Thằng Sáu thấy anh nó mừng
Cái thằng nhỏ xíu mà khôn (sao mà khôn)
Nó khen nó khen anh hoài à
Nó nói rằng anh có tài
Nó nói mới một năm nay
Mà anh đã bắn
Giết Tây hơn trăm thằng…” (1)
Đêm bỗng trở nên phấn khởi, rộn ràng và tin cậy. Các cô gái ngây ngất. Các chàng trai bừng máu nóng hào hùng.
*
Một sáng thức dậy, dân làng Rume bàng hoàng thấy xác ông Thày nằm sấp giữa sân, hai tay bị trói quặt ra sau lưng, cổ đứt lìa. Một bản án dán trên người: “Phản động 0 Tay sai bán nước”.
Cái chết ấy để lại một số câu chuyện đồn đoán về những hành tung bí mật của ông Thày, không ai kiểm chứng được.
Dù thế nào, ông vẫn được mọi người ở Rume kính trọng. Thạch Xanh nghiêng người vái lạy thây ma lấm lem và bê bết máu như một nghĩa cử tâm linh truyền thống. Có lẽ ông Thày đã bị đánh đập tàn nhẫn trước khi bị giết.
Thạch Xanh nói nhỏ, “Không ai đáng bị trói buộc sau khi chết.”
Rồi ông cúi xuống cởi trói cho ông Thày. Sau đó, ông vào nhà mang ra một bộ quần áo sạch sẽ và một cái mền. Vài người giúp ông Xanh khâm liệm cho Thày và cố gắng giữ cho cái đầu được liền với cổ. Quấn xác ông trong cái mền cũ, họ đào đất chôn ông ngay cạnh lô cốt.
Không một nghi thức nào được cử hành. Họ đứng im lặng nhìn quanh quất ngôi nhà rồi đây sẽ bị bỏ hoang như cái lô cốt nhiều ma, trước khi rời đi.
Hôm sau, bà Xanh lén lút dẫn Thạch Xung đến trước mộ. Bà cầu nguyện cho linh hồn ông được an nghỉ.
Trong cơn xúc động tột cùng, bà cầm tay con nói, “Người này mới thực là cha của con.”
Thạch Xung gục đầu không phản ứng gì. Vẫn một vẻ lầm lì như đá tảng nhưng đẫm đầy nước mắt. Trước giờ, Thạch Xung vẫn coi ông Thày như người cha thứ hai của mình.
Hôm sau nữa, Thạch Xung lấy chiếc xe đạp cùng con chó của ông Thày bỏ nhà, bỏ Rume đi, khi trời còn chưa sáng. Không từ biệt một ai.
Đấy cũng là lúc bà Mắm lặng lẽ quì trước mộ ông Thày, khóc thút thít. Thị cũng khóc, người cha chưa kịp nhận của cô đã mất.
Rume không còn bình an. Cái chết của ông Thày khởi đầu cho một Rume tan rã.
Thỉnh thoảng Rume lại mất đi một thanh niên. Có kẻ nhảy núi vào bưng biền. Cũng có kẻ chạy về thành phố. Rume có một bầu khí khác. Dè dặt và nghi kỵ. Rồi không chỉ từng người, mà từng gia đình bỏ làng ra đi. Rume hoang mang. Không một ai trở lại. Rume hoang vắng dần và tràn đầy lo âu.
Người ta bắt đầu nghe thấy tiếng súng, tiếng bom nổ. Buồn bã đâu đó. Rừng vẫn nghìn trùng âm u. Đôi khi, rừng bốc cháy bởi những cuộc giao tranh. Thạch Xanh thay ông Thày đóng vai trò của trưởng làng. Ông giao tiếp với cả quân giải phóng trong rừng và chính quyền sở tại. Thạch Xanh sẽ ở lại mãi mãi với Rume, dù bom đạn tàn phá Rume không còn một mái che.
Bám trụ lại với Rume là một chọn lựa không thể khác của vợ chồng Thạch Xanh. Con trai của họ, Thạch Xâm vẫn quanh quẩn đâu đó trong rừng và nó cần được tiếp tế lương thực, thuốc men. Tình thương của họ dành cho đứa con vượt qua mọi nỗi sợ, mọi lập trường quan điểm, bên này bên kia. Vả lại, với bà Xanh còn là phần mộ của ông Thày cũng cần được tưởng nhớ. Thỉnh thoảng bà vào lô cốt quét dọn. Ở đó, bà sống lại thời thanh xuân của mình. Những nụ hôn ngọt ngào. Những đắm chìm tận tuyệt. Và sự giải thoát khỏi mọi gánh nặng.
Có lần, bà Xanh bắt gặp bà Mắm ngồi rũ liệt trong lô cốt. Cô đơn và cam chịu. Và bà hiểu điều ấy có ý nghĩa gì. Hai người đàn bà im lặng nhìn nhau. Thấu hiểu và nâng đỡ, họ cầm tay nhau cùng khóc.
Việc vợ chồng ông Muối bà Mắm bằng lòng ở lại Rume, có thể coi là một thành tích xuất sắc của lão Thọt. Thằng Nhậm con ông đã truyền đạt lại yêu cầu sinh tử này từ cấp trên trong rừng và lão Thọt thi hành theo nghị quyết, cửa hàng tạp hoá của nhà Muối – Mắm trở thành trạm giao liên, cũng như nguồn cung nhu yếu phẩm chính cho cách mạng và dân làng.
Nhưng cũng vì thế, số phận của nhà này đã được định đoạt phải hy sinh. Ngày định mệnh đến, ông Muối bị an ninh quân đội của phe quốc gia bắt. Và ông ta đã không bao giờ trở về.
Không còn kế sinh nhai, Thị đưa mẹ về thành phố kiếm sống. Những đứa em cô được Nhậm đưa vào rừng. Sau đó, chúng được đưa đi tiếp ra Bắc.
Số gia đình ở lại Rume vẫn còn hơn một nửa. Thuật ngữ chiến tranh gọi đó là vùng xôi đậu. Ban ngày, quốc gia kiểm soát. Đêm đến, Rume thuộc về quân giải phóng thống trị. Mỗi bên đều có những chính sách của mình, vừa tranh thủ dân chúng ủng hộ vừa ngăn chặn họ theo phe bên kia. Đời sống của người dân bị giám sát đến từng lít dầu hoả, lượng gạo ăn hàng ngày, thuốc men cần thiết và thái độ sống.
Rume kham nhẫn chịu đựng càn quét của bom đạn và bắt bớ của cả hai bên. Trẻ con vừa lớn lên đã buộc phải cầm súng, carbine hay M-16 của lính Cộng hoà, hoặc AK 47 của quân giải phóng. Chính nghĩa và lòng yêu nước chia đều cho mỗi đầu người. Khẩu phần ác ôn côn đồ cũng không để một ai thiệt.
Đại uý Hổ Cáp, Chi khu phó của quận rất thích nhậu món lòng bò xào ở Rume. Thỉnh thoảng ông sai lính đi mua sẵn mọi thứ và mang đến cho Thạch Xanh nấu. Ẩm thực là một nghệ thuật, món ăn ngon là nhờ người biết chế biến. Không ai giỏi hơn và sành điệu hơn Thạch Xanh về các món thịt. Tính độc đáo trong chế biến của ông là chỉ dùng các nguyên liệu và gia vị từ rừng. Đại uý Hổ Cáp vẫn coi Thạch Xanh là bảo bối của mình. Vì thế, ngài không thích nhậu ở đâu ngoài Rume, cho dù Rume là một ngôi mộ đã đào hố sẵn… chờ ngài nằm xuống. Chiến tranh đủ qui mô để con người coi cái chết là một trò chơi.
Chỉ có món ăn ngon thì chưa đủ, trên xe Jeep của đại uý Hổ Cáp bao giờ cũng có một bi đông đầy rượu thuốc. Mặt ông ta lúc nào cũng bừng bừng máu, ông uống rượu như giải khát.
“Nào, vô…” Đại uý cụng ly mời ông Xanh và lão Thọt. Cạn ly.
Sau khi “khà” một tiếng sảng khoái, Thạch Xanh nhận xét, “Rượu của đại uý ngon thiệt. Nhưng tôi thấy dường như có một vị rất lạ, không phải thuốc?!”
Đại uý Hổ Cáp cười to, “Ông giỏi.”
Lão Thọt tò mò, “Tôi cũng thấy rất lạ. Đó là gì thưa đại uý?”
Đại uý nhìn thẳng vào mắt lão Thọt nửa đùa nửa thật, “Tai bọn phiến loạn. Ngâm và hạ thổ đúng trăm ngày.”
Mặt lão Thọt không biến sắc, gật gù… “Thảo nào.” Rồi lão tỏ ra niềm nở, “Tôi mới bắt được con trĩ. Bữa nào rảnh mời đại uý đến thử món tôi nướng. Nhớ mang rượu thuốc đến cho bọn tôi được hưởng lộc đại uý.”
Đại uý tươi cười, “Tất nhiên.”
Sở dĩ ngài Hổ Cáp vẫn tự tin đến Rume nhậu bởi sau lưng Rume có tiền đồn của một trung đội Địa phương quân trấn giữ. Nhưng đại uý quên mất rằng, đã có một qui ước bất thành văn, tôn trọng tính xôi đậu của Rume trong một chừng mực nhất định để người dân và lính của hai bên cùng sống.
Tiếc thay, lộc của đại uý Chi khu phó đã hết. Không ai biết chắc rượu thuốc của đại uý có ngâm tai người thật hay tắc kè, rắn rết thế nào. Nhưng xe của ngài Hổ Cáp đã bị đánh mìn trên đường đến Rume nhậu trĩ nướng nhà lão Thọt. Đại uý và một thiếu uý cùng tài xế chết tại chỗ. Cả chi khu chấn động. Dân chúng quanh vùng cũng xôn xao. Những cái chết ấy được quân đội tuyên dương như tử sĩ và cả ba người họ đều được truy thăng lên một cấp. Họ sẽ được chôn cất trong nghĩa trang quân đội ở thành phố, nơi các chiến hữu của họ vẫn trở về an nghỉ. Mỗi ngày một nhiều.
Ngay sau đó, Rume bị càn quét. Cả Thạch Xanh và lão Thọt đều bị bắt. Lính Cộng hoà tìm thấy trong căn hầm sát chuồng heo nhà lão Thọt ba du kích đang trốn. Trên người chỉ có chiếc quần xà lỏn, họ bị bắn ngay tại chỗ. Một chiếc xe cam nhông đến chở ba cái xác ấy về trung tâm quận rồi quăng xuống giữa bùng binh chợ, phơi thây họ như một cáo thị cho dân chúng về tội ác (phe bên kia) và của cái ác (phe bên này).
Trong số ba cái xác tái nhợt ấy, có một người là Nhậm, con trai cả lão Thọt. Sau một ngày phơi nắng, bà Thọt xin được mang xác con và hai đồng đội của cậu ấy về chôn.
Một đám trẻ con chạy theo chiếc xe bò chở ba tử sĩ du kích và bà Thọt đến tận chân cầu mới thôi. Trên con đường vắng trở về Rume chiều hôm ấy, chỉ còn lại bà Thọt căm lạnh và con bò lầm lũi kéo xe chầm chậm mang theo những cái chết trẻ của quê hương.
Hai năm sau Thạch Xanh được thả. Lão Thọt đã chết trong tù từ lâu.
Cuộc sống ở Rume khó khăn cùng cực hơn, tất cả người dân đều bị kiểm tra khám xét khi ra vào làng. Những gì họ mua đều được ghi vào một cuốn sổ theo dõi. Và họ sẽ không được mua nhu yếu phẩm quá tiêu chuẩn do chính quyền ấn định cho mỗi nhân khẩu trong tháng. Chính quyền không muốn họ tiếp tế cho du kích. Nhưng du kích vẫn mỗi ngày một nhiều. Họ trường kỳ chiến đấu không mệt mỏi.
(còn nữa)
Nguyễn Viện
(1) Lời nhạc Trần Kiết Tường
* Tiểu thuyết Nguyễn Viện: Có những kẻ đi mãi không về (Kỳ 1)
Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
Leave a comment