Văn Học Ngoại Biên — Literature Beyond

[
[
[

]
]
]

A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

1.    MEMORY OF SMELL

My name is Thạch Xung, I’m from a village called Rume. I’m seventy today. My life story said that I was born and spent my formative years like folklore in a village somewhere in this country. But I became an adult and grew old in a city amid a national disaster. Like two worlds. Two histories. To put it another way, I was born from a mystical love in a seemingly unreal way of life. My whole life I have treasured it like folklore. At the same time, I was also crushed by the harsh reality of being human, stripped back in the barest way I couldn’t escape, even when I am constantly trying to run away.

Walking from peace and tranquility to the viciousness of war, then peace again just another war without the bullets. I’m always stuck between gun fire from both sides.

1.    KÝ ỨC CỦA MÙI

Tôi là Thạch Xung, người làng Rume. Tôi vừa bước vào ngưỡng bảy mươi, hôm nay. Cuộc đời tôi được kể là kẻ đã sinh ra và lớn lên trong huyền thoại ở một làng quê heo hút đâu đó trên xứ sở này. Nhưng tôi lại trưởng thành và già đi trong một thành phố đầy biến động giữa tai ương vận nước. Như hai thế giới. Hai lịch sử. Nói cách khác, tôi được sinh ra trong huyền hoặc của tình yêu ở một nơi chốn dường như không có thật. Tôi đã gìn giữ cái huyền hoặc ấy cho suốt cuộc đời mình như một thứ gia bảo. Đồng thời, tôi cũng bị dập vùi trong hiện thực khốc liệt của con người, một cách trần trụi nhất mà tôi không thể trốn chạy, dù tôi luôn trốn chạy.

Tôi đã đi từ hoà bình an lạc tới chiến tranh tàn ác, rồi hoà bình lập lại nhưng thực ra chỉ là một cuộc chiến khác không tiếng súng. Tôi luôn bị kẹt giữa hai làn đạn.

Dẫu sao, tôi đã sống sót. Sau những tưởng như kẻ đi mãi không về, giờ đây tôi đã đang ở Rume. Rất khó khăn tôi mới có thể quay trở lại không chỉ vì tiền bạc mà còn bởi một ký ức muốn xoá nhoà. Tôi đã hoà giải được với chính tôi. Vì thế, tôi quyết định mua vài mẫu đất ở rừng xưa với mong muốn dựng lại giấc mơ của cha tôi, một già làng khiêm nhu và giàu lòng trắc ẩn, để chào mừng tôi bước vào một hoa giáp mới của đời người.

Tôi không xây biệt phủ kệch cỡm thời thượng. Tôi bắt đầu lại bằng sự đơn sơ và hài hoà như rừng. Một căn nhà ba gian hai chái cổ điển, tôi muốn sống lại cổ tích của mình. Vợ tôi, Mi mất đã lâu vì một tai nạn không đâu. Con tôi không có ý kiến, nó có cuộc đời của riêng nó như tôi đã từng. Trong vụ việc này, em trai tôi Thạch Xâm rất hoan hỉ và cậu ấy cũng mua hai mẫu cạnh đất tôi coi như đất tổ. Còn em gái tôi, Thị cũng góp phần trở về này bằng việc mua một mẫu sau lưng chỗ tôi. Tất cả hơn năm mẫu do tôi trực tiếp quản lý. Riêng miếng đất có cái lô cốt và mộ phần cha tôi, tôi đã phải mua với giá gấp ba mới giành lại được.

Tôi để tương lai cho con cái tôi. Giờ đây, quá khứ và hiện tại tôi chỉ là một. Tôi chập chờn như chính sức khoẻ mong manh của tôi, mập mờ giữa sống và chết. Sự mập mờ giúp tôi vượt qua những phũ phàng của cuộc sống. Đó cũng là cách để tôi tiếp tục cuộc đời mình.

Thật ra, tôi cũng không biết phải bắt đầu từ đâu.

Hồi còn ở thành phố, tôi được một người bạn cũ mời xem bộ phim mới của bà. Ở đó, tôi đã bắt gặp một mùi hương tưởng như quá vãng. Cô gái rất trẻ, ngồi cạnh tôi lặng lẽ nhưng khuôn mặt và ánh mắt của cô ấy bừng sáng như xôn xao. Thỉnh thoảng cô ấy nhìn trộm tôi. Đặc biệt sau khi tôi được mời phát biểu về cảm nghĩ của mình với bộ phim thì thái độ và mùi của cô ấy toát ra lại càng được bộc lộ thành khẩn hơn. Tôi đã có lý do để nhìn thẳng vào mắt cô ấy khi ngồi xuống. Chúng tôi cùng mỉm cười với nhau. Ngay lúc đó, tôi đã cảm thấy cô ấy thân thuộc. Trao đổi vài câu xã giao, tôi cũng hơi bất ngờ vì suy nghĩ và cảm nhận của cô ấy về bộ phim không khác tôi. Cuộc đối thoại giữa Thượng đế và người đàn ông trong phim chỉ là cách lý giải về độ “chịu chơi” của tính đực. Thượng đế không phải là cứu cánh hay sự cứu rỗi mà là một bản năng nguyên thuỷ và lý do của hiện hữu.

Tôi đã mời cô ấy đi ăn tối để tiếp tục câu chuyện, nhưng cô từ chối. Mãi sau này tôi mới tình cờ gặp lại bởi cái mùi dị thường của cô. Tôi đã buột miệng gọi cô ấy là Lữ Thảo như cô ấy phải là thế, mặc dù chính tôi cũng không bao giờ biết “lữ thảo” là gì. Cô ấy chấp nhận mình là Lữ Thảo. Và rồi, Lữ Thảo trở thành một phần của đời tôi trong giai đoạn tôi chỉ muốn chết. Mùi Lữ Thảo đã phục hồi tôi.

Đấy cũng là lúc tôi nhớ đến Rume, đến bà Mắm và Thị. Mùi của rừng chưa bao giờ phai mờ trong ký ức tôi.

Tôi rủ Lữ Thảo về Rume chơi.

Chỉ cho Thảo những cánh rừng cao su bạt ngàn trước khi rẽ vào Rume mà khi còn ấu thơ tôi không mường tượng được nó rộng lớn dường nào, con đường mà tôi tưởng chừng vô tận phía trước nó có thể đưa tôi đến đâu, tôi nói mơ ước lớn nhất của tôi khi xưa là được đi tới tận cùng những con đường, tận cùng những cánh rừng ấy. Cho đến bây giờ thì đấy vẫn là giấc mộng, cho dù tôi thấy nó không còn cần thiết nữa.

Rume đã bị chiếm cứ bởi những người lạ, những kẻ tha phương cầu thực của thế hệ khác. Tôi không còn tìm thấy gì ở Rume những thân thuộc. Rừng tự nhiên cũng không còn, thay vào đó là một khu công nghiệp ở phía bên phải ngọn đồi. Phía trái là khu dân cư và sau lưng họ là những khu vườn trồng cây ăn trái… Rume mất bản sắc và chìm lẫn giữa những vườn cây, nhà máy công nghiệp và ký ức hỗn độn của tôi.

Tôi kể cho Lữ Thảo nghe. Tiếng kèn harmonica của những con ma Tây đen trong lô cốt bỏ hoang từ thời thuộc địa. Ông Thày bước ra từ huyền thoại. Cái chết của cha tôi và Mặt trận Giải phóng. Cái lò than bé tí của tôi. Mùi hương của mẹ con Thị và đám lính Mỹ. Một hoà bình và chiến tranh của riêng tôi… những thứ mà Lữ Thảo không thể tìm thấy trong sách vở. Giữa những câu chuyện ấy, tôi đã tụt quần Thảo dưới một gốc cây điều và hôn cô. Tôi đã mơ màng trộn lẫn quá khứ hoang đường của cha mẹ tôi với tôi và Thảo trong một hiện sinh thực tại huyền ảo. Mùi của bà Mắm của Thị và của Thảo, câu chuyện của tôi không thể không lưu hương vĩnh cửu ấy.

“Anh bỗng có khao khát quay trở lại đây để sống những ngày còn lại.”

“Sau khi hôn em ngay cạnh cái lô cốt thần thánh này?” 

“Đúng thế. Với em.”

Thảo bật cười lớn.

“Mới chút thế mà anh đã mụ mị rồi.”

“Một cơn điên chân thành.”

Sau chuyến đi chơi với Lữ Thảo, dường như tôi đã tìm thấy lý do để trở về Rume sống. Rume cần có Thảo như cha tôi cần có mẹ tôi ở đó, xưa kia. Thời điểm ấy, giá đất còn rẻ, nhất là nơi heo hút như thế này.

Một thế giới của riêng tôi.

Dù đủ sức khoẻ để chăm bón cây, tuy nhiên tôi vẫn phải thuê một người trẻ hơn phụ giúp. Anh bạn nhỏ này được gọi là Phúc Bò có lẽ vì kềnh càng và lầm lì ít nói. Nhưng Phúc Bò siêng năng giỏi việc. Cậu ấy có thể làm tất cả mọi việc cần thiết. Tôi cũng dành một miếng đất nhỏ phía bên kia lô cốt để làm chỗ cho Phúc Bò mang vợ con tới ở. Nhờ vậy, phần cơm nước của tôi đã có vợ của Phúc Bò chăm lo. Đôi khi, tôi cũng ngồi ăn chung với gia đình họ. Để có thêm thu nhập, tôi cho những người nuôi ong thuê đất. Việc của họ hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến tôi hay cảnh quan của toàn khu vực.

Cuối khu đất của tôi có một con suối. Nước đầu nguồn đổ về như thác. Ở đó, tôi cho làm một cái chòi tránh mưa nắng đủ để ăn nhậu và nghỉ ngơi. Đời tôi, ghét nhất là mấy cây kiểng và các cây phong thuỷ. Tuy nhiên, tôi cũng trồng dưới đất vài cây hoa thân mộc cho thơm thảo căn nhà. Người ta bảo cây ngọc lan thường có ma nhưng tôi không sợ. Vì thế, sân nhà tôi chỉ có hai cây sứ cùi trắng và hai cây ngọc lan che phủ lối đi. Sát cổng, tôi trồng một cây sơ ri cổ kính. Phía sau nhà tôi trồng cây vối để lấy lá pha trà. Chen giữa đám cỏ nhung, tôi trồng rải rác khắp vườn mấy cây ăn trái như xoài, mít, vú sữa… đặc biệt là cây chôm chôm. Tôi thích những chùm chôm chôm tưng bừng trên cành như những bông hoa.

Người dân xung quanh đây, họ gọi tôi là ông Thày giống như cha tôi ngày trước. Có thể họ nghĩ tôi từng đi dạy học, hoặc trông tôi giống “học giả” nhờ đôi kính cận. Dẫu sao, tôi cho đấy là điều may mắn, tốt đẹp. Lỡ như họ gọi tôi là phú ông hay một gã giang hồ gác kiếm thì cũng đành chịu. Làm sao cãi được với cảm nhận của dân gian.

Thỉnh thoảng, Lữ Thảo lái xe lên thăm tôi và ở lại vài ngày. Cô ấy cũng đảm nhiệm việc cung cấp sách và giới thiệu cho tôi các bộ phim mới.

“Anh không được già thêm.” Cô ấy bảo.

Tôi không nghĩ sách hay phim có thể giúp tôi khỏi già đi hay lú lẫn. Nhưng tôi tin tình yêu sẽ khiến tôi trẻ lâu. Cho dù tôi đã từng dựng am xây chùa, nhưng tôi không tin vào khả năng chữa lành của việc tu hành. Tôi hy vọng vào việc hành thiện và một lương tâm công chính, tuy nhiên trên tất cả, tôi xác tín đạo là vô cầu. Không chính không tà.

Ngay trong tuần lễ đầu về sống ở Rume, một anh công an đã đến gặp tôi thăm hỏi và yêu cầu tôi làm vài thủ tục hành chánh. Tôi đùa, nói tôi đã như cây cỏ ở Rume cần gì hộ khẩu, thường trú hay tạm trú. Nhưng anh công an từ tốn bảo vẫn phải làm thủ tục bác ạ. Anh ấy giúp tôi mọi chuyện.

Thấy tôi có tủ sách, anh ấy hỏi “Trước bác làm gì?”

“Tôi làm nhiều thứ lắm, mà cũng không có nghề nào liên quan đến sách vở.”

“Đọc sách cũng tốt mà bác.”

Tôi cười.

“Tôi trang trí cho vui mắt thôi.”

Cứ vài tháng anh công an lại đến nhà tôi thăm hỏi. Tôi không vui, không chỉ vì anh ấy là công an, đơn giản là tôi không muốn tiếp ai tại nhà.

Một ngày bình thường khi tôi ở Rume đã đủ lâu, anh công an đi cùng một ông cũng trạc tuổi tôi đến nhà.

Anh công an giới thiệu, “Ba cháu.”

Tôi bắt tay ông ấy.

“Chào anh, tôi là Thạch Xung.”

Ông khách không được mời, cười cười “Trước kia tôi có biết một người cũng tên Thạch Xung, không biết có phải là anh không?”

“Dạ, tôi cũng không chắc.”

“Anh cố nhớ xem.”

Nhìn kỹ mặt ông khách, tôi cũng cảm thấy hơi quen thuộc. “Anh là người của Mặt trận Giải phóng đã từng tiếp xúc với tôi trước kia?”

Ông khách vui vẻ cười lớn. “May là tất cả chúng ta còn sống.”

Tôi mời họ vào nhà. Đãi nước vối nóng.

“Sống sót là điều kỳ diệu nhất cho dù chúng ta đã có những cái may khác nhau.”

Ông khách cười vui. “Tất nhiên, ông bạn.”

Ông ta tự nhiên và thoải mái hơn tôi, cũng tất nhiên. Trước sau, ông ta vẫn là một áp lực. Tôi tránh né và thủ thế.

“Trong số những việc anh làm trước kia, tôi thật sự ái mộ việc anh dựng am giả vờ tu hành.”

Tôi cười, “Cũng chỉ là tôi tìm cách sống sót. Bắt chước các anh thôi.”

“Thì đúng là chiêu của chúng tôi, nhưng cách anh thực hiện và lý giải về hành động ấy khiến tôi nể đấy.”

Tôi nhớ lại có lần Lữ Thảo nói với tôi về Michel Foucault, đại khái theo Foucault thì chủ nghĩa Marx đã luẩn quẩn và tự trói chân mình vào một thứ quyền lực là dùng một giai cấp này để đàn áp một giai cấp kia theo chính cái mà họ lên án.

“Nhưng rồi chính các anh đã bắt tôi đi tù cải tạo về việc ấy.”

“Cũng là thời thế.” Ông khách biện bạch.

“Và các sai lầm khác cũng chỉ là vậy?!” Tôi hơi gay gắt.

Ông khách lắc đầu. “Lịch sử vốn có trật tự riêng của nó theo một định mệnh mà sự can thiệp của con người do ý chí của mình không phải lúc nào cũng đúng. Đó chính là giới hạn của thời thế. Dẫu thế nào, chúng ta vẫn phải sống với nó.”

“Dạ, không chạy đâu cho thoát.”

Ông khách hiểu hàm ý mỉa mai của tôi. Ông ấy vốn thông minh như tôi thấy trước kia. Tôi chưa bao giờ được giải phóng.

“Mừng là anh đã có một cơ ngơi đẹp.”

“Dạ, nhờ ơn cách mạng.”

“Anh vẫn chưa hết cay cú nhỉ.”

“Không. Tôi đùa thôi.”

Sau lần gặp đó, ông và tôi thành bạn quê. Mặc dù tôi đã biết tên ông ta, nhưng khi kể chuyện cho Lữ Thảo nghe, tôi thích gọi ông ấy là Ông Giải Phóng. Thỉnh thoảng tôi rủ ông ra tắm suối và ăn nhậu. Ông ấy cầu kỳ trong việc chọn rượu. Khi người ta có tiền thì người ta có quyền. Ông ấy giờ đây không giải phóng giai cấp nữa mà giải phóng rượu lâu năm như một nhà quí tộc.

“Ông Giải Phóng mùi gì?” Lữ Thảo hỏi.

Tôi buồn cười nhưng cũng nghiêm túc trả lời nàng.

“Ông ấy mùi hoa sim.”

“Thật à?”

“Thật.”

“Cũng kín đáo nhỉ.”

“Ừ. Tinh vi.”

“Không biết là hoa sim của Hữu Loan, Bùi Giáng hay ông Vũ Đức Sao Biển?” (6)

“Của Mặt trận Giải phóng.”

Khúc con suối trong đất tôi ơn giời khá đẹp. Mực nước thấp nhưng vẫn trong trẻo nhờ có nhiều tảng đá lớn. Khi dòng nước chảy qua đất tôi, gặp chỗ dốc tạo ra những cơn sóng nhẹ. Tôi và Lữ Thảo thích ngồi tắm ở đó cho nước vỗ lưng.

“Anh sờ em đi.”

Tôi vừa sờ vừa kể cho Thảo nghe lần tôi bơi qua sông để thoát kiếp đào binh khốn nạn.

“Khi nhảy xuống sông, anh biết chắc mình sẽ sống, mặc dù tiếng súng nổ vèo vèo qua tai. Hồi nhỏ anh đã từng bơi ngược con suối này.”

“Khi bơi qua sông lần đó, nếu anh không gặp anh Thạch Xâm thì sao?” Thảo hỏi.

“Chắc anh đã thành Việt cộng rồi. Chẳng còn chọn lựa nào khác.”

Nàng hiểu.

“Anh đã từng đến đầu nguồn một con sông chưa?”

“Cũng có thể là đã, mà nói chưa cũng đúng.”

“Sao thế?”

“Anh đã từng thuê thuyền đi đến cuối một dòng sông, nơi không thể đi thêm được nữa. Anh cũng từng đến nhiều chỗ mà thấy nước rỉ ra từ đất để tạo ra các dòng chảy như khe suối. Nhưng anh vẫn không cảm nhận được thế nào là đầu nguồn.”

“Anh lại muốn nói chuyện siêu hình à?”

“Không. Không.”

Tôi ôm nàng, xoa nhẹ hai bầu vú. Thảo đẩy tôi ra.

“Anh nhìn trời kìa.”

Thượng đế không ở trên cao. Những đám mây trôi đi.

“Trời sẽ mưa.” Tôi nói.

Chúng tôi về nhà. Phúc Bò cho biết, anh công an mang cho quà, nói của ba anh ấy gởi.

Tôi mở gói quà. Một chai rượu sâm Ngọc Linh. Đấy là loại rượu chủ nhân ngâm chỉ để uống hoặc tặng, không bán. Sâm thật.

“Người thật, việc thật đây.”

Trong một xã hội mà không có điều gì đáng tin thì uống một chai rượu thật cũng là quí.

Tôi bảo Phúc Bò, “Trong tủ lạnh có thịt heo tộc, cậu nhờ bà xã làm gì đó cho tụi tôi ăn nhé.”

Thịt do Lữ Thảo mang đến. Cũng là thịt sạch do người quen cung cấp.

Cơn mưa ập đến. Bất chợt Thảo lên tiếng khi từ trong phòng tắm bước ra, như thể chân lý vừa được phát hiện. 

“Mưa là đầu nguồn.” Thảo vẫn chưa quên câu chuyện về dòng sông.

Tôi bật cười lớn. Đầu hay cuối, thật vớ vẩn. Tôi nhớ lại một người bạn đã chết từng nói, “không ai biết hết trọn một dòng sông” (7). Có lẽ cũng là một công thức như câu của Ông Giải Phóng nói với tôi khi lần đầu gặp lại, “cái giới hạn của thời thế” của một con người hay một thế hệ để biện bạch cho sự sai lầm.

“Sự tỉnh ngộ là uống rượu nóng trong cơn mưa mới tuyệt thú.” Thảo lúc nào cũng như mai phục trong câu chuyện của chúng tôi.

“Giữa hoang vắng, sự có mặt của một phụ nữ đẹp và nồng nàn không phải là tiên cảnh sao.” Tôi phụ hoạ. 

“Cũng hơi hướng ngôn tình Hoa ngữ nhỉ.”

“Đỉnh của sến mà.”

“Cũng đúng. Yêu mà không sến thì vứt.”

Tôi ôm Lữ Thảo ngửi mùi da thịt mới tắm của nàng.

“Em mùi gì?” Thảo hỏi.

“Mùi sa mạc.”

“Anh đến sa mạc chưa?”

“Chưa.”

“Sao biết em mùi sa mạc?”

“Anh mường tượng thế. Bất kỳ lúc nào hôn em, anh cũng thấy sa mạc.”

“Em thích.”

Mùi thức ăn thơm phức. Trong không gian, thoảng tiếng hát ru con của vợ Phúc Bò vọng sang. Buồn xa vắng. Lữ Thảo không muốn có con. Không muốn bất cứ một hệ luỵ gì. Cô ấy là một sa mạc hoang vu.


Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Leave a comment