A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
1. SMELL OF WILD ANIMALS
I have always found the word “fate” in Buddhism fascinating. When there’s fate there’s a beginning. In my old age Phúc Bò turned up like a blessing. I saw Phúc Bò on the other side of the spring tending to a couple of cows when I was searching for land to buy. It was like a scene out of a painting. A patch of reeds gently swaying in the breeze, a touch of rural outlaw defiant, hint of vast grasslands, hints of detachment and formlessness like a scene in “thập mục ngưu đồ”, and a touch of sadness from the memories of my childhood in Rume. The whole scene shook me to the core.

2. MÙI THÚ HOANG
Xưa nay tôi vẫn thích chữ “duyên” của Phật giáo. Có duyên thì có khởi. Tôi vẫn coi trường hợp Phúc Bò đến với tôi như một ơn lành cho tuổi già. Khi đi xem đất để mua, tôi gặp Phúc Bò đang chăn mấy con bò phía bên kia con suối. Cảnh tượng như trong một bức tranh. Rợn một bãi cỏ dại, có tí ngang tàng của thảo khấu miệt vườn, có tí mênh mang thảo nguyên, có tí vô tâm vô tướng như trong “thập mục ngưu đồ” và có tí u sầu trong ký ức tôi thuở thơ ấu ở Rume. Toàn cảnh ấy rúng động tâm can tôi.
Rốt cuộc, tôi đã là gì?
Tôi không biết. Một nỗi xao xuyến bất chợt khiến tôi không thể không chạy tới gặp gã chăn bò đó. Như thể đó là một tôi thất lạc vừa tìm thấy. Tôi gọi sang bên kia suối.
“Chú em ơi… chú chăn bò ơi…”
Gã chăn bò ngơ ngáo nhìn về phía tôi, rồi coi như không có gì, gã bỏ đi với đàn bò. Tôi vội vàng lội qua suối đuổi theo. Sợ gã biến mất, tôi hỏi tên tuổi và chỗ ở của gã.
Không tìm mà gặp. Khi tôi mua xong miếng đất, việc đầu tiên là tôi gọi Phúc Bò về. Cậu ấy đi theo tôi không đắn đo. Tôi cũng dặn bảo Phúc Bò mang vợ con theo để tôi có một gia đình.
Lữ Thảo cũng thích nhà Phúc Bò. Mỗi lần cô ấy đến đều mang quà cho mấy đứa nhỏ. Có Phúc Bò, tôi không phải bận tâm điều gì về trang trại. Tôi có thể xa Rume nhiều ngày mà không phải lo.
Có một mối tương thông kỳ lạ giữa Phúc Bò và các bậc trưởng thượng thời tôi tham gia hoạt động chính trị, rất thần bí. Họ là hai thế giới khác biệt. Thời điểm cũng khác. Nhưng cứ nhìn thấy Phúc Bò là tôi nhìn thấy các “lãnh tụ” kia. Như oan gia trái chủ. Mùi Dunhill pha lẫn thuốc phiện của bậc trưởng thượng và mùi phân bò của Phúc Bò luôn quyện vào nhau khiến tôi không thể phủ nhận cái tình huống oái oăm hiện thực xã hội chủ nghĩa, giữa tính vô sản của một anh nông dân và tính tư bản đặc thù của kẻ thống trị mà tôi cũng là một thành tố của cái phức hợp hãm tài ấy. Một cảm thức sặc mùi chính trị về mối tương quan giữa các giai cấp trong xã hội. Cho dù mùi Dunhill pha lẫn thuốc phiện đã là quá khứ và tôi đang sống chan hoà với Phúc Bò và gia đình cậu ấy, mùi phân bò và mùi mồ hôi người.
“Anh chưa bao giờ nói tên của bậc trưởng thượng hay Ông Giải Phóng, tại sao?” Lữ Thảo hỏi.
“Có lẽ anh nghĩ hành động và phong cách của họ sẽ mô tả đúng họ hơn là một cái tên. Cũng vì họ quá tiêu biểu cho những thế lực trong một giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, nếu em thích thì cứ đặt một biệt hiệu nào đó cho họ như cách em đã gọi ông bạn hàng xóm của chúng ta là Ông Giải Phóng.”
“Vậy thì em sẽ gọi lão đại diện cho phe quốc gia của anh là Cụ Dunhill nhé.”
Tôi cười, “Hay đấy. Nhưng anh không phải phe quốc gia.”
Lữ Thảo cười lớn hơn, “Cụ không muốn bị coi là Nguỵ à?”
“Anh chưa bao giờ là Nguỵ.”
“Á… cụ lại thời thượng vào phe nước mắt (8) sao?”
“Đồ đểu.”
Tôi đè Lữ Thảo xuống cù nách nàng để trấn áp cái giọng điệu hỗn hào rất đáng yêu ấy.
“Thôi… Thôi…”
Có lần Cụ Dunhill mời tôi, “Làm một bi cho ấm nhé.”
Tôi biết đấy là một ưu ái cực độ của trưởng thượng dành cho mình nhưng tôi từ chối. Mùi thuốc phiện thơm hơn cả trong các loại ma tuý, nhưng nằm bàn đèn không phải phong cách tôi. Lần ấy, Cụ Dunhill đã kể tôi nghe về việc Mỹ đã sử dụng phong trào đấu tranh Phật giáo để hạ bệ anh em tổng thống Ngô Đình Diệm như thế nào. Những phân tích của cụ đã khai mở tôi về cái gọi là chiêu trò trong chính trị. Có lẽ đó cũng là một trong những điều đã góp phần làm tôi chán chính trị.
Lữ Thảo thủ thỉ bên tai tôi, “Chỉ có tình yêu là vĩnh cửu.”
Rồi nàng ngửi nách tôi, “Anh có mùi đất thó.”
“Mùi đất thó có vĩnh cửu không?” Tôi hỏi.
“Mùi của cái chết sẽ vĩnh cửu.”
“Giết anh đi.”
Lữ Thảo cắn vai tôi chảy máu.
“Em sẽ vắt kiệt anh đến chết.”
Lữ Thảo cởi quần áo tôi.
Trong khi Cụ Dunhill thuộc mẫu tàn dư của Tự Lực Văn Đoàn lãng mạn tiểu tư sản, thì Phúc Bò hẳn nhiên đã là hậu duệ của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… và trở thành giai cấp tiên phong của cách mạng bởi những người như Ông Giải Phóng. Còn tôi đích thực là đứa con hoang của hậu thuộc địa hiện sinh phi lý. Những phân mảnh của một miếng bánh nướng kẹp thịt bị cháy khét trên lò lửa thời gian. Vô nghĩa và phí hoài.
Tôi đã mang vác những điều không cần thiết.
Đôi khi tôi cũng thay Phúc Bò đi chăn bò những lúc cậu ấy phải làm việc khác. Không phải thiền hành hay tu tập linh tinh, việc chăn bò thật sự chữa lành tâm hồn tôi. Tôi tìm thấy tôi chân phương của rừng. Lữ Thảo thích gọi tôi là “Chàng cao bồi của em”. Hạnh phúc đẹp đẽ của tôi là ngày ngày cho Thảo leo lên lưng bò ngồi, cùng nhau đi tìm cỏ. Tay cầm cái roi tre, tôi dắt bò và nàng đi tìm giấc mơ phiêu bồng.
“Tiểu thư có thấy oách hơn ngồi trên xe hơi mui trần không?”
Lữ Thảo cười khanh khách. Tiếng cười vang qua các lùm cây. Ba nghìn thế giới xao động.
Đưa Thảo ra dòng suối, nàng giết tôi trên tảng đá mòn. Tinh trùng tôi loãng dần.
Thị gọi cho tôi kể có một ông lão người Việt sống cùng thị trấn bảo có biết tôi. Ông ta rất siêng đi nhà thờ và thường tìm cách trò chuyện với người này người kia. Ông ta nói đã từng dẫn dắt tôi trên chính trường. Tôi biết ngay đó là Cụ Dunhill và chúng tôi đã kết nối lại với nhau.
Cụ Dunhill vẫn khoẻ và minh mẫn. Cụ cho biết đã di tản sang Mỹ ngay vào lúc cuộc chiến vừa chấm dứt. Cụ đã nhìn thấy trước cái sai lầm và sự sụp đổ của chế độ mình phục vụ từ rất lâu. Nhưng bản thân cụ và những người như cụ thật sự không thể tỉnh táo khách quan trước tình thế mới của đất nước cũng như những người đã đạp đổ cụ.
“Chúng ta đã ngã xuống trong bi kịch do chúng ta tạo ra. Cũng có nghĩa chúng ta chính là bi kịch.”
Tôi đau xót nói với cụ. Tôi không mong gì cụ hiểu, thành kiến hay chấp niệm vốn là căn tính nhân loại.
Tôi cũng kể với cụ về gã chăn bò của tôi – Phúc, rằng không hiểu sao mỗi khi nhìn thấy Phúc Bò tôi lại thấy bóng dáng cụ trong đó. Tôi hỏi cụ có tin tiền kiếp không? Cụ nói tin. Tôi bảo có cảm giác như Phúc Bò và cụ vốn là một trong tiền kiếp nào đó. Cụ hỏi lại tôi, liệu có thể một sinh linh mà đồng thời có hai con người cùng tồn tại không? Tôi không thể lý giải.
Tôi còn cho Cụ Dunhill biết, Ông Giải Phóng hiện đang ở Rume cùng tôi và chúng tôi đã thành bạn. Cụ bảo thú vị nhỉ. Vâng, có những điều chúng ta không bao giờ mường tượng được. Nhưng cụ bảo họ không tin được đâu, cẩn thận nhé cậu bé của tôi.
Biết nói sao, tôi chắt lưỡi nhưng cụ đâu thấy. Tôi cũng già rồi mà.
Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
Leave a comment