An untitled letter to winter

A poem by Thảo Phương
Translator: Nguyễn Thị Phương 

An untitled letter to winter 

Someone was there at the door possibly

Or a mere playful gust of the wind?

A glimmer of golden autumn sunlight,

The afternoon,

Have also abandoned me.

How may winter return?

The autumn afternoon – the bridge…

Now broken.

Time sinking into the yellowing leaves,

The school of fish – quiet – unmoving.

Yes, oh well…

I’ll go and close the door,

Pretend winter is on its way!

(December 2021)

_____

Không đề gửi mùa đông

Dường như ai đi ngang cửa,

Hay là ngọn gió mải chơi?

Chút nắng vàng thu se nhẹ,

Chiều nay,

Cũng bỏ ta rồi.

Làm sao về được mùa đông?

Chiều thu – cây cầu…

Đã gãy.

Lá vàng chìm bến thời gian,

Đàn cá – im lìm – không quẫy.

Ừ, thôi…

Mình ra khép cửa,

Vờ như mùa đông đang về!

SG – 8.1992

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành bài hát Nỗi nhớ mùa đông.


Thảo Phương, the poet and writer was born Nguyễn Mai Hương, on 28-10-1949 in Đoan Hùng, Vĩnh Phú, the province of Gia Viễn, Ninh Bình, she died 19-10-2008 in Saigon, Vietnam.  

Source: thivien.net ; wikipedia.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A puddle of holy water

A poem in Vietnamese by Nguyễn Đức Sơn
Translation: Nguyễn Thị Phương Trâm

A puddle of holy water

babe, I will come unannounced

dry mouth and the point of ecstasy farfetched 

a night in the bushes in the foetal position

you’ve yet peed and my spirit was already wet

—–

April 2022

Vũng nước thánh 

anh sẽ đến bất ngờ ai biết trước

miệng khô rồi nẻo cực lạc xa xôi

ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người

em chưa đái mà hồn anh đã ướt

(in trong tập “Đêm nguyệt động”)


source thivien.net

Nguyễn Đức Sơn, the poet was born on November 18, 1937, in Du Khanh village, Thanh Hai district, Ninh Thuan province, originally from Thua Thien Hue. He began writing poetry very early with the pen name Sao Trên Rừng, and other pen names like Sơn Núi. On the morning of June 11, 2020, passed away at the age of 83.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Rain

A poem in Vietnamese by Phạm Công Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Rain

How could a storm upon the branches hesitate

How could a sky divide such soulmates

How could a cuckoo be so sad that it couldn’t crow

How could anything forget the rain may fly or flow

May 2022

—–

Mưa

Có mưa dính muộn trên cành cây

Có đâu trời bắt phải chia tay

Có chim tu hú buồn không gáy

Có gì quên hết mưa còn bay

[Nguồn: Phạm Công Thiện, Trên tất cả đỉnh cao là lặng im, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2009]


Phạm Công Thiện, the poet, Buddhist philosopher, and scholar, under the name of Nguyên Tánh was born on June 1st, 1941 in Mỹ Tho, Vietnam. He left Vietnam in 1970, lived in Israel, Germany, then for a while in France. In 1983, he moved to the United States, settled in Los Angeles, and became a professor of Buddhism at the College of Buddhist Studies. He passed away on August 3rd, 2011 in Houston, Texas, U.S.A.

[Source: thivien.net]

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The drunken verses

A poem in Vietnamese by Tản Đà
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

The drunken verses

A Human’s life is like a dream

A thousand years’ nothing, what’s a hundred?

Work work work, committed in body and spirit,

Coveting a ripe old age for what!

Having money doesn’t mean it can be spent,

People’s greed for fame’s like a kite with broken strings.

How could I bother anyone with my love

To be empty of wine, to have a bag full of poetry!

Life is like the wind, the rain,

Why be sad, why not drown such sadness in drunken pain

Drunk, the poetry may re-ignite,

The burning poetry, the burning drunkenness, the amorous voice.

Drunken poetry and I unite

Drunk out of mind, out of sight is the ephemeral.

A hundred years of poetry in drunkenness

Who will be the drunken poet for a thousand years?

_____

JANUARY 2022

Thơ Rượu

Đời người như giấc chiêm bao

Nghìn xưa đã mấy ai nào trăm năm?

Một đoàn lao lực lao tâm,

Quý chi chữ thọ mà lăm sống nhiều!

Có tiền chưa dễ mà tiêu,

Ham danh lắm kẻ như diều đứt dây.

Thương ai cho bận lòng đây

Cho vơi hũ rượu, cho đầy túi thơ!

Cảnh đời gió gió, mưa mưa,

Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn!

Rượu say, thơ lại khơi nguồn,

Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình.

Rượu thơ mình lại với mình

Khi say quên cả cái hình phù du.

Trăm năm thơ túi rượu vò

Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai?

_____

Tản Đà, the poet was born Nguyễn Khắc Hiếu on 19 May 1889 in Ba Vi, died on 7 June 1939 in Hanoi, Vietnam. He used both traditional Sino-Vietnamese forms and European influences and was a transitional figure between the turn of the 1890s such as Tú Xương and Nguyễn Khuyến and the “New Poetry” movement of the 1930s.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

like the waves in your room, one moonlit night. in waves, rising…

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

like the waves in your room, one moonlit night. in waves, rising…

1.

infatuation is within the eyes of the beholder

knowing tenderness is within the touch of a hand

but loving you

they also have the privilege of having you in their arms as you sulk

.

the erratic breath on heaving breast

lips grazing wet lips

but loving you

they also have the privilege of the extra tears

2.

your voice 

like a babbling stream

.

a quiet and far away forest

far away and quiet

.

the meaning of you bloom

by your babbling stream

beneath your breasts rising is a temple

pulsating. they breathe. and they dream

.

your kiss is as deep

as the surrendering sunset

not like the surrender of a long sigh

but as you sleep settled on the canopy of your bed 

the surrender of a horizon

as lopsided as an incomplete poem

3.

awe, if you’re sleeping

eyes tired and sad

they can no longer hear your voice

.

like the time you sang

the guitar was squeaky

a bucket tipped over drowned out even the listeners

under the sea

.

and you would kiss 

with lips redder than the roses they offered you

4.

and when you wake up

you would leave, take the flower with you 

.

the mingling of darkness and light

like on the banks of Đà River

one finds Tuyên Quang of the Thủy people

the river aching with longing

the window of your room stirring in a mess like a poem

uncombed

.

they fade away together with your hair into the distance

eyes thrown your way

nothing mean. just a dream

till morning

.

in your room

left behind. will be nothing but

your shadow. as alluring as though

you are still there sleeping

.

without the discerning footsteps

they enter to pull you out of the dream

.

and your tear

slips through the fingers of the person who’s pulling you

out of the dream

.

the moment of surrender

is the moment they fall apart

no one will remember

whether it’s deep or shallow. in the subconsciousness

of a finger

in a curl

.

not by accident

but deliberately tense and loose

like the waves in your room

one moonlit night. in waves, rising

FEBRUARY 27,2022

—–

giống như sóng của phòng em, một đêm trăng. nổi sóng…

1.

có ánh mắt nhìn là say đắm

có bàn tay chạm là biết dịu dàng

nhưng yêu em

người ta còn được thêm những lời nũng nịu

.

có hơi thở bềnh bồng trên ngực

có bờ môi chạm ướt vào môi

nhưng yêu em 

người ta còn được thêm một dòng nước mắt

2.

giọng nói của em như suối

rì rào 

.

khu rừng xa và im lặng

im lặng và xa

.

ý nghĩ của em nở hoa

bên suối em róc rách

dưới bầu ngực nhô lên một đền thờ

nhịp nhàng. người ta thở. và mơ

.

nụ hôn của em 

sâu hút chiều buông

không phải buông đầy tiếng thở dài

mà cả bầu trời buông trên nóc mùng em đang ngủ

xộc xệch như một bài thơ

dang dở

3.

ồ, nếu em đang ngủ

đôi mắt buồn và mệt

người ta không còn nghe được giọng của em 

.

những lần em hát

cây ghi-ta cùi bắp rù rè

lất úp cái xô làm chết đuối cả người nghe 

dưới biển

.

và em hôn

bằng đôi môi đỏ hơn cả hoa hồng người ta mang tặng

4.

khi em tỉnh dậy 

và mang bông hoa ấy ra đi

.

sự hòa tan của bóng tối và ánh sáng

như bên bờ sông Đà 

tìm Tuyên Quang của Thủy 

dòng nước đau đớn và tiếc nuối

làm cửa sổ căn phòng em rối tung như bài thơ 

chưa chải tóc

.

người ta mờ theo mái tóc xa khuất của em

ánh mắt ném theo 

không phải những viên đá. mà là giấc mơ

đến sáng

.

trong căn phòng em 

bỏ lại. chỉ còn hình bóng 

của em. quyến rũ

như em vẫn còn đang ngủ

.

không nghe những bước chân

người ta bước vào kéo em ra khỏi giấc mơ

.

và giọt nước mắt em

rơi giữa những ngón tay của người đang kéo em

ra khỏi giấc mơ 

.

mỗi khi buông nhau ra

người ta mới rã rời

không ai còn nhớ 

nó là sâu hay cạn. trong tiềm thức 

của mỗi ngón tay 

may ngón tóc 

.

không phải vô tình

mà co duỗi

giống như sóng của phòng em 

một đêm trăng. nổi sóng


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The dying light on Tam Giang Lagoon

A poem in Vietnamese by Tô Thùy Yên
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

The dying light on Tam Giang Lagoon

The day has dried up on Tam Giang Lagoon

(Proverb)

1.

The surface of the water is the flying helicopter

The flicker of a dream

Tam Giang lagoon, Tam Giang lagoon

The chaotic beaches, the bountiful streams

The mesmerising sand, the tirelessly drifting waters

Tender over the accidental footsteps 

The tiny soul, the enormity of water and sky

Tam Giang lagoon, Tam Giang lagoon

The memory of an ancient sad proverb

Dusk brittle dissolving, in the cracks pooled sunlight fracturing

The sky the scent of water, of trees, of hay

The earnest scent of life

The faces chafed by the whirlwind

The bodily numbing whirlwind of sadness

We saw the boats huddled together

Like kids huddling together frightened of ghosts

We saw the mountain-ash splintered drooping

Each tree was an ancient worry

We saw the mangroves fencing the water

Each row with its laborious task

We saw the homes abandoned by their roofs

Each home the agonising cries of the earth

Why are you here?

The starving communist with malarial fever

Chained by the curse of being born in the North, to in the South die

Why are we here?

The grief, the weary body

Beneath the eyes of a puppet soldier

Even if you shoot us down

Like a cry

Ripped nothingness into silence

It will all be for nothing

Even if you’re down

Because bombs and bullets were not kind

The bodies no one wants

Not worth the mention

In the end, the end

Whatever you do, whatever we do

Altogether in the end

Will there be much change on this land?

You open your mouth and it’s nothing

Tam Giang Lagoon, the day has yet dried up on Tam Giang Lagoon?

We laughed, we broke out with laughter

As we imagine you and us meeting 

In an afterworld, you don’t believe in

In jest ask one another:

You and us who had truly made the sacrifice

For Vietnam – one country…?

All that you’ve done

You imagined it with much blood, sweat and tears

All that we’ve done

We must admit, it was for nothing

Hence you’re so keen on the madness, while we’re calm

As we repeat day after day exactly the same thing

We have for ourselves ask why

(As for you, have you ever asked yourself?)

And accordingly, we answer

(As for you, have you ever found the answer?)

We’re no different from aeroplane propellers 

It must spin and spin

Because it has to spin

We hold dearly our cowardly weakness

We hold dearly your naivety 

Hence we both accepted our dizzying fate

Hence we both were stuck on the path of History

Both mad for the mother of the dirtiest whore

The dying light on Tam Giang festive with the sound of battle

The dying light on Tam Giang dumbfounded in silent sympathy 

2.

The dying light on Tam Giang Lagoon

My sudden yearning for you

The endless yearning 

The hour the stores were closing

The street sweepers on the pavements cleaning

The glass displays in the dark

The hour the city ignites 

In moments dies

(Saigon’s curfew extending

Saigon has not the night)

The hour perhaps has still light

(Em)you left the library for a stroll

Beneath the quietly lined boulevard

The horizon framed in drifting pockets of jade

The nagging coming exam 

The apartments up high were yellow with light

The open pages deep in the night

Thinking about your forlorn mother, the annoying younger brother

Thinking of the ordinary things

Young women thought about

Then to think of me, think of me

Naturally and achingly 

At this hour it might raining

You’re hasty beneath the dripping street awnings

Watching the bubbles run along the footpath

Like flowers blooming to quickly withdraw

Then maybe you would drop at a familiar place

Where we often were face to face

Allowing your mind to ride the waves of turmoil

Between the disconsolate clumps of tables and chairs

Think about me, think about me

The thoughts never easing

Like the rows of sudden involuntary tears

Thought of, thought of something exceedingly serious

What happens in a war that’s unclear

Thought of, thought of something exceedingly serious

Something you’re afraid to think of

The hour the city ignites

The dying light on Tam Giang Lagoon

My sudden yearning for you

The endless yearning 

I love you, love your rueful twenty

The brilliant gleaming ambitions and dreams

As adorable as the baby Sun

Fallen along the way upon the rise of the age

Each morning noon and night

I love you, love your rueful twenty

A kind of fantastical trek

Upon the vast wandering vale of the sky

One can not hear one’s own voice

I love you, love your rueful twenty

Seen in the heart of life alone bloomed

A plum branch in bloom twice

Saw that love is like a game to the death

Ripping us from the nightmares

A man’s fantasy the entirety of his youth

Gosh, love, the glorious evidence of failure!

3.

The dying light on Tam Giang Lagoon

Mate, you’re staring at the rapids

Ripping through wordless landings

Think of, think of the things you could achieve

That you have given up on

Think of the lifetimes cut short

By through the murky paranoia

Thought of your long lost youth

The remnants of bitterness and nostalgia

Remember the secret gardens hidden trees, unseen grass

A haunted house in the endless howling wind

The futile peace of witless old-age

Like clumps of reeds in the wrinkles of the river

In line with death

Death as lengthy as unhurried wilting

The self inflicting infuriation

The wind for thousands of years happened to blow only in circles

So the trees(the bees and the birds) may in lifetimes change

And yet you’re fearful of a force beyond the sunrise

Because you mate, don’t have the guts to face the disappointing setbacks

Like the mad clown making a living in the middle of a crowd

Through all the petty dramas

Blow a little more wind, blow wind blow

Quicker the death, quicker the rebirth of a lifetime

Mate, no one gives a damn

The dying light on Tam Giang Lagoon

The spine-chilling cold laughter of a mad clown

Inflicting terror on even hoards of demons born in the name of history 

Shaky vigilance

[November 2021]

Chiều trên phá Tam Giang

Phá Tam Giang ngày rày đã cạn

(Ca dao)

1.

Chiếc trực thăng bay là mặt nước

Như cơn mộng nhanh

Phá Tam Giang, phá Tam Giang

Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát

Cát hôn mê, nước miệt mài trôi

Ngó xuống cảm thương người lỡ bước

Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi

Phá Tam Giang, phá Tam Giang

Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ

Chiều dòn tan, nắng đọng nứt ran ran

Trời thơm nước, thơm cây, thơm xác rạ

Thơm cả thiết tha đời

Rào rào trận gió nhám mặt mũi

Rào rào trận buồn ngây chân tay

Ta ngó thấy ghe thuyền quần tụ

Từng đoàn như trẻ nhỏ ghê ma

Ta ngó thấy thuỳ dương gãy rủ

Từng cây như nỗi bất an già

Ta ngó thấy rào chà cản nước

Từng hàng như nỗ lực lao đao

Ta ngó thấy nhà cửa trốc nóc

Từng ngôi như mặt đất đang gào

Vì sao ngươi tới đây?

Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói

Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam

Vì sao ta tới đây?

Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn

Dưới mắt người làm tên lính ngụy

Ví dầu ngươi bắn rụng ta

Như tiếng hét

Xé hư không bặt im

Chuyện cũng thành vô ích

Ví dầu ngươi gục

Vì bom đạn bất dung

Thi thể chẳng ai thâu

Nào có chi đáng kể

Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng

Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm

Có cùng gom góp lại

Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?

Ngươi há chẳng thấy sao

Phá Tam Giang, phá Tam Giang ngày rày đâu đã cạn?

Ta phá lên cười, ta phá lên cười

Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ

Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin

Hỏi nhau chơi thoả chút tính bông đùa:

Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh

Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…?

Các việc ngươi làm

Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm

Các việc ta làm

Ta xét thấy chẳng ra chi

Nên ngươi hăng điên, còn ta ảm đạm

Khi cùng làm những việc như nhau

Ta tự hỏi vì sao

(Còn ngươi, có bao giờ ngươi tự hỏi?)

Và ta tự trả lời

(Có bao giờ ngươi tự trả lời?)

Chúng ta khác nào cánh quạt phi cơ

Phải quạt, phải quạt

Chỉ vì nó phải quạt

Ta thương ta yếu hèn

Ta thương ngươi khờ khạo

Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng

Nên cả hai cùng mắc đường Lịch Sử

Cùng mê sa một con đĩ thập thành

Chiều trên phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận

Chiều trên phá Tam Giang im lìm âm cảm thông

2.

Chiều trên phá Tam Giang

Anh sực nhớ em

Nhớ bất tận

Giờ này thương xá sắp đóng cửa

Người lao công quét dọn hành lang

Những tủ kính tối om

Giờ này thành phố chợt bùng lên

Để rồi tắt nghỉ sớm

(Sài Gòn nới rộng giờ giới nghiêm

Sài Gòn không còn buổi tối nữa)

Giờ này có thể trời đang nắng

Em rời thư viện đi rong chơi

Dưới đôi vòm cây ủ yên tĩnh

Viền dòng trời ngọc thạch len trôi

Nghĩ tới ngày thi tương lai thúc hối

Căn phòng cao ốc vàng võ ánh đèn

Quyển sách mở sâu đêm

Nghĩ tới người mẹ đăm chiêu, đứa em quái quỷ

Nghĩ tới đủ thứ chuyện tầm thường

Mà cô gái nào cũng nghĩ tới

Rồi nghĩ tới anh, nghĩ tới anh

Một cách tự nhiên và khốn khổ

Giờ này có thể trời đang mưa

Em đi nép hàng hiên sướt mướt

Nhìn bong bóng nước chạy trên hè

Như những đóa hoa nở gấp rút

Rồi có thể em vào một quán nước quen

Nơi chúng ta thường hẹn gặp

Buông tâm trí bập bềnh trên những đợt lao xao

Giữa những đám ghế bàn quạnh quẽ

Nghĩ tới anh, nghĩ tới anh

Cơn nghĩ tới không sao cầm giữ nổi

Như dòng lệ nào bất giác rơi tuôn

Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng

Của chiến tranh mà em không biết rõ

Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng

Một điều em sợ phải nghĩ tới

Giờ này thành phố chợt bùng lên

Chiều trên phá Tam Giang

Anh sực nhớ em

Nhớ bất tận

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi

Rực chiếu bao nhiêu giấc mộng đua đòi

Như những mặt trời con thật dễ thương

Sẽ rơi rụng dọc đường lên dốc tuổi

Mỗi sáng trưa chiều tối đêm khuya

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi

Coi chuyện đó như lần đi tuyệt tích

Trong nước trời lãng đãng nghìn trùng

Không nghe thấy cả tiếng mình độc thoại

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi

Thấy trong lòng đời nở thật lẻ loi

Một cành mai nhị độ

Thấy tình yêu như vận hội tàn đời

Để xé mình khỏi ác mộng

Mà người đàn ông mê tưởng suốt thanh xuân

Ôi tình yêu, bằng chứng huy hoàng của thất bại!

3.

Chiều trên phá Tam Giang

Mày nhìn con nước xiết

Chảy băng bờ bãi ngổn ngang câm

Nghĩ tới, nghĩ tới những công trình mày có thể hoàn thành

Mà rồi mày bỏ dở

Nghĩ tới kiếp người đang lỡ độ đường

Trên mịt mùng nghi hoặc

Nghĩ tới thanh xuân mất tích tự đời nào

Còn lưu hậu chua cay hoài vọng

Nghĩ tới khu vườn ẩn cư cỏ cây khuất lấp

Căn nhà ma ám chầy ngày gió thổi miên man

Đụt tuổi già bình an vô tích sự

Như lau lách bờm sờm trên mặt sông nhăn

Cùng cái chết

Cái chết lâu như nỗi héo hon dần

Làm chính mình bực bội

Gió muôn ngàn năm thổi lẽ tuần hoàn

Cho cỏ cây thay đời đổi kiếp

Và mày kinh sợ nghe nhắc điều vượt sức bình sinh

Bởi mày không đủ dạn dày trình diễn tới lui cơn thất chí

Như gã hề cuồng mưu sinh giữa chốn đông người

Với từng ấy tấn tuồng bần tiện

Rút ra từ lịch sử u mê

Gió thổi thêm đi, gió thổi thêm đi

Cho cỏ cây mau chết, mau hồi sinh

Mày mặc kệ

Chiều trên phá Tam Giang

Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn

Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng

Dớn dác ngó

6-1972

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Nguồn: Tô Thuỳ Yên, Thơ tuyển, Minnesota, 1995


Tô Thuỳ Yên (1938-2019) real name was Đinh Thành Tiên, born in Go Vap, Gia Dinh, Vietnam, an alumnus at Petrus Ký and Đại học Văn khoa Sài Gòn. He was a teacher and journalist in Saigon, a Major in the Vietnam Army prior to 1975. After 1975 served 13 years in re-education camps, in 1993, he moved with his family to the United States as a former political prisoner.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Fish in a well

A poem in Vietnamese by Phan Nhiên Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Fish in a well

When we were young, my younger cousin 

would catch perch, fry them till their skin were nice and crisp

the fish spared were dropped into a well,

the water was muddy and not very deep,

he said, “These are the lucky ones.”

But day in and day out 

they’re pushed around 

shoved down by an iron bucket,

I know this is hell on earth for those 

who had survived.

It was a time when my uncle was gasping for air in a re-education camp.

May 2022

—–

Cá trong giếng

Khi còn nhỏ em họ tôi

câu cá rô, chiên giòn

còn vài con thả giếng,

nước đục và không sâu,

nó nói, “Đây là những con cá may mắn.”

Nhưng mỗi ngày 

hàng chục lần gàu sắt

giáng xuống,

tôi biết đây là địa ngục trần gian

của những kẻ sống sót.

Thời gian đó chú tôi đang ngáp ngáp trong trại cải tạo.

2009


Phan Nhiên Hạo, the poet and translator born in 1967 in Kontum, Vietnam, currently works and lives in Illinois, the United States of America.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Monument

A poem in Vietnamese by Tô Thùy Yên
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Monument

You ran from your past

Erased all evidence of yourself

Worried the old vows may perhaps follow you?

What if by accident

We’ll meet again

The heart may sidestep, froze

The door deadlocked

The security code misplaced

Don’t worry

Ignore the storm surround the fire

How wonderful is it to watch heaven soothe the earth

A period of time when I may dream

When all rocks in my brain have shattered, when left is not a hint of anything

How long will a flame survive the wind

Rather sadly. Rather bravely

Glancing over the poem, (em)did you knew then

The source of my suffering was this fire?

To longed for death the way I longed for my parent’s home

To wish I had never met you, to begin again

To all the rough times, rest in peace

The monument of the poem for nothingness wept

Busily in motion was Heaven and earth 

Absentmindedly made the rain and sunlight felt sorry for me

(November 2021)

—–

Bia chú

Em chạy xa chốn cũ

Xóa triệt để dấu mình

Sợ lời thề xưa truy nã chăng?

Giả sử mai sau tình cờ gặp lại

Dừng chân hỏi chào nhau

Lòng sẽ đứng qua bên nhìn bất động

Cửa đóng chết

Anh quên rồi mật khẩu

Em an tâm

Nhớ chi nữa cơn mưa rào bãi cháy

Tuyệt vời trời dỗ đất nguôi ngoai

Thời đó, anh còn dư dả mộng

Chưa nghe đá rã nát trong đầu

Bao lâu ngọn lửa oằn cơn gió

Buồn bã thay. Mà quả cảm thay

Đọc lướt bài thơ, em có biết

Chữ khổ tôi từ lửa ấy không?

Nhớ nỗi chết như nhớ nhà cha mẹ

Ước đi lại đời anh không gặp em

Yên nghỉ nhé, những một thời yểu mệnh

Bài thơ bia chú khóc hư vô

Trời đất mải lo tròn chuyển động

Vô ý làm mưa nắng tội anh

4-2005

Nguồn: Tạp chí Văn, số 101-102, tháng 5 & 6-2005


Source:Thivien.net

Tô Thuỳ Yên (1938-2019) real name was Đinh Thành Tiên, born in Go Vap, Gia Dinh, Vietnam, an alumnus at Petrus Ký and Đại học Văn khoa Sài Gòn. He was a teacher and journalist in Saigon, a Major in the Vietnam Army prior to 1975. After 1975 served 13 years in re-education camps, in 1993, he moved with his family to the United States as a former political prisoner.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: