the wings within the mist | Trương Đình Phượng

Photography by Dang Tien Bac

A poem in Vietnamese by Trương Đình Phượng
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

1.
time diminishing
upon the quintessential meadows

2.
where the stars die young
and lives on are persistent winters
as I persistently wait
roses draped in the colours of mourning.

3.
the day my sister left me
the day my father passed away
the tearful foggy mornings 
the roads are like the spikes and dips on the electrocardiogram

4.
a spear head through the wingspan of a seagull
the arrows in the shape of a question mark

5.
as my mother surpasses the valleys in the palm of her hand
as she treats herself with a moment of loneliness 
from her breath
in the empty cold house
I could discern the verses
taking root
on the broken wings of each tear drop.

6.
nights
as long as her hair 
dreary and sad
a land where
as I remember it
people wept 
emerald tears (*)

7.
to revive all those dreams
I embarked on a journey
with a dead sun on my back
the death of the last nomad
beneath the footprints of sea crabs.

8.
those who could never say goodbye to silence
in the middle of the days when the sea surges
in waves of protest.

9.
ahead of the funeral procession of spring
I sat in the remembrance of the beliefs
lost 
at the end of the  horizon.

10.
the returning spirits
within the scents of smoke
a homeland
a grave without a tombstone 

11.
alone at night by a lagoon
I find myself covering up the swan wings
with shrouds of mourning 

Những đôi cánh trong sương 


1.
thời gian tử thương 
trên những ngọn đồi lý tưởng 

2.
nơi có những vì sao chết non
và những mùa đông dai dẳng sống
tôi luôn chờ đợi
loài hoa hồng phủ màu nghĩa địa.

3.
ngày chị tôi ra đi
ngày cha tôi qua đời
những sáng sương mù như lệ ứa
những con đường như những vệt tim

4.
găm trên đôi cánh loài Mòng biển
những mũi tên mang hình dấu hỏi

5.
khi mẹ tôi bước qua thung lũng của bàn tay
buổi chiều người ngồi đãi nỗi cô đơn 
từ hơi thở 
trong ngôi nhà trống lạnh
tôi thường thấy những bài thơ
bén rễ 
nơi giọt nước mắt vừa gãy cánh.

6.
những đêm
dài như mái tóc 
rũ buồn 
xứ sở
tôi nhớ
những người khóc
bằng lệ xanh (*)

7.
phóng sinh cho những giấc chiêm bao
tôi bước lên chuyến tàu 
chở xác mặt trời 
người du ca cuối cùng vừa chết
dưới dấu chân những con còng gió.

8.
những người chẳng dám từ biệt sự im lặng
giữa những ngày biển dồn lên
cơn sóng biểu tình.

9.
trước linh cữu mùa xuân
tôi ngồi mặc niệm
những niềm tin
lạc mất chân trời.

10.
những linh hồn về
trong mùi khói
quê hương không mộ bia

11.
đêm nơi đầm nước 
một mình
tôi khâm liệm những đôi cánh thiên nga .

(*) ý thơ mượn từ thơ Thanh Tâm Tuyền
Tàn 2017
Trương Phượng


Trương Đình Phượng, the poet and writer born in 1984, currently lives in Nghệ An, Việt Nam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Menopause | Nguyễn Thị Phương Trâm

Hooked on the wisdom of words. But. I never know what to say or write, as the occasion arises.

Not that I’m shy.

It is half a decade into the pandemic, and I find myself further in the dark. Out at the park. The local park bench of my childhood. As my testosterone and oestrogen levels slowly take a downhill dive.

I was five, and where was my father? He was out of sight. They took him, they took him into the mountains, and he was fading. He was fading into the darkness.

I’m exhausted by the flashbacks. My back hurts, from the Lunar rollercoaster ride, the highs and the lows, and then the lows. But the soft cotton textured darkness carries me. Sleep please, the anger in my heart. Let me depart. Let me sleep.

Kisses, kisses on my forehead, my head. And it was dawn again. Did I wash my hair? My children, I dare say, are towering over me. It has been a lifetime you see. So please, please be gentle with us.

.

See us please
The greys in our hair
The skin tags
The bags
The wisdom in our eyes

Acknowledge the pain
We have gained
On our hips is an expanding universe
The weight of our children.

We are old, but there is still so much to learn, the concerns of depleting minds. The non-existent presence of middle-aged women.

Thời kỳ mãn kinh.

Tôi thường được sự trí tuệ của ngôn từ cuốn hút, kéo tôi đi. Nhưng khi cần thiết. Tôi không biết mình cần phải nói gì hay viết như thế nào.

Không phải là tôi mang tính nhút nhát.

Đại dịch đã xảy ra được gần nửa thập kỷ mà tôi thấy mình vẫn càng ngày càng bị đắm chìm vào bóng tối. Bóng tối ở ngoài kia, trên chiếc ghế đá công viên gần nhà thời thơ ấu của tôi. Những ám ảnh trở về theo thời gian mức testosterone và estrogen của tôi đang càng ngày càng dần giảm.

Tôi mới năm tuổi, mà bố của tôi thì đang ở đâu? Bố tôi đã dần dần khuất mắt. Họ đưa bố tôi đi, họ đưa bố tôi đi vào hẻm núi ư, bố tôi từ từ đã mờ dần theo bóng tối. Bố tôi còn lại là một bóng tối. 

Tôi kiệt sức vì những đoạn hồi tưởng. Lưng tôi đau, vì phải đi những chuyến tàu lượn siêu tốc mãi theo tuần Trăng, lúc lên lúc xuống, rồi đến lúc xuống quá thấp. Nhưng bóng tối luôn luôn có một sự kết cấu bông mềm mại đưa tôi đi. Hãy ngủ đi, cơn giận trong nỗi lòng. Hãy để tôi khởi hành. Hãy để tôi ngủ. Hãy đễ tôi đi.

Nụ hôn trên trán, trên đầu tôi. Tôi đã gội đầu chưa ư? Đột nhiên thì trời đã sáng lại. Tôi có thể chấp nhận rằng các con tôi đã và đang vượt trội hơn vị trí của một người mẹ. Bạn thấy chứ, ấy là cuộc đời của tôi. 

Vì vậy, xin hãy nhẹ nhàng với chúng tôi.

.

Xin vui lòng nhìn và chấp nhận
Những sợi tóc bạc trên đầu của chúng tôi
Các thẻ da nhăn, khô và vụn 
Đôi mắt mệt mỏi thấm cuộc đời
Sự trí tuệ trong cặp mắt
Làm ơn thừa nhận những nỗi đau
Chúng tôi đã đành phải chấp nhận
Trên hông của chúng tôi là một vũ trụ đang mở rộng
Cân nặng của các con của chúng tôi.

Chúng tôi đã già nhưng còn rất nhiều việc phải làm và học, những trăn trở của một tâm hồn đang suy kiệt. Sự hiện diện không tồn tại của những người phụ nữ trung niên thời kỳ mãn kinh.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Cuộc đối thoại với Cụ Du

Về Quê với Ao tù, Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem by Nguyễn Du
An adaptation by Nguyễn Thị Phương Trâm


Nếu Kiều chỉ là một con điếm vậy thì chúng ta đều đều chỉ là những con điếm – we sell our soul for status/survival

Cụ Du, tôi thấy 2025 mà người ta vẫn đem con gái xinh nhất tài nhất của mình ra chợ rao hàng. Chịu thua thôi cụ ạ.

40 hiểu điều anh Bill
50 hiểu Du đã tiêu đời mình

một người nói tiếng anh trích dẫn anh bill(william shakespeare) là chuyện bình thường, nhiều khi mình còn không biết mình đang trích dẫn lời của anh.

người việt tôi để ý khi càng đọc sâu vào truyện kiều thì cũng chẳng khác gì. đọc kiều hiển nhiên là chuyện tôi phải làm.

sau khi đọc thì ta đã học được nhiều bài học như sau:

không có tài ta đem tiền ra an ủi là chuyện bình thường – có tiền vui mà.

không có tài không có tiền luôn nữa thì ta làm thơ – dễ ẹc

khi thơ ta dở ẹc thì ta chơi với vợ hay mời vợ đi ăn phở cũng là chuyện vui nha – các nhà thơ nói vậy hai nhà văn Tran Chip và Nhung Hong Do ạ.

Nguyễn Thị Phương Trâm

tôi đã học tiếng việt cho ba má, ba má tôi đã ổn.
bây giờ tôi muốn làm một việc ích kỷ. tôi muốn học tiếng việt cho tôi
tôi sẽ dịch kiều của anh du và tập truyện ngắn của anh mai thảo
xem tiếng việt của mình sẽ đi đến đâu
..
I need a new goal. I feel intuitively that this is it.
Ngoài công việc này, các nhà thơ nhà văn đa số không có ai tôn trọng tôi như..
làm tôi chán lắm luôn.
không chơi nữa.
ghét lắm.

Nguyễn Thị Phương Trâm

Thế giới này toàn là “tài tử giai nhân”.

Chỉ có mình ta là con nhà nông. Mặt ta dễ thương như vậy mà hết bị người ta cho leo cây rồi lại bị chửi là vô duyên.

Ừ thì không có duyên nên phải leo cây.

Ngôn ngữ của mẹ vui ha?

photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

“Sự hữu duyên”

Cụm từ này mấy hôm nay cứ luẩn quẩn trong đầu tôi. Tôi không làm gì. Nhưng khi tôi cần gì, vũ trụ luôn ban cho tôi những gì tôi cần lúc đó.

Tôi cần học tiếng việt, vũ trụ tặng tôi ngôn ngữ của Thiện Nguyễn Văn , tôi cần thơ vũ trụ tặng tôi máu của Lê Vĩnh Tài. Khi tôi cần bạn, vũ trụ đã đưa tôi vào thế giới của những người lạ. Sự sinh linh gần gũi không bao giờ thiếu.

Vì vậy tôi có thể cân bằng nổi bóng tối của mình?

Bạn tôi trong cơn thịnh nộ:

– em hay mất thời gian làm chuyện không cần. Kiều cũ rồi. Em háo danh, em dịch nó làm chi.

Tôi thật sự không hiểu ý của anh. Vì anh không bao giờ nói thẳng như tôi. Tôi buồn nhưng tôi không trách. Ngôn ngữ như tâm hồn như chiếc vòng cẩm thạch mang bản chất của người mang không có hai chiếc nào giống nhau. Tôi tin rằng, riêng cho tôi, bạn luôn mong và dành sự tốt lành.

Tôi buồn vì tôi biết khoảng cách cũng là một sự cần thiết.

Bão như cơn thịnh nộ chỉ mang sự tổn thương không tránh được là một sự hiển nhiên. Chỉ có sự bao dung của gia đình có thể chữa lành.

Nên nhiều khi sự bình yên là cánh buồm đang ra đi, càng ngày càng xa dần.

Tôi đọc lại những khúc truyện của cụ Du tôi đã chuyển thể. Những con chữ đem lại cho tôi một sự hạnh phúc quen thuộc là những khoảnh khắc tôi được chơi với chữ.

Tôi sẽ vẫn đi con đường của tôi. Kiếm cụ Du để trò chuyện tiếp.


An adaption of Truyện Kiều/The Tale of Kiều, not a translation.

Viết lại Truyện Kiều theo tính cách của người tây phương, một sự chuyển thể hơn là chuyển ngữ, hơn là dịch.

hmmm.. có ai làm chưa nhỉ? Thật là curious.

Dịch từ “xanh” ra tiếng anh thôi, đã thấy dịch ra cả ngày không hết từ ngữ.

Diễn dịch thơ thời buổi này là hay nhất. Cảm giác một bài thơ có thể có cả vạn bài dịch thì chỉ có chia sẻ trên những diễn đàn thôi chứ in ra giấy thì cảm giác nó hơi sao nhỉ? Hơi giới hạn.

Cũng tùy thôi đúng không, tùy lúc, tùy cảm hứng. Có cần đọc lại, diễn lại không? Kiến thức và ký ức của mình thay đổi theo thời gian, đọc lại bài thơ, ý nghĩa của nó còn như lần đầu tiên mình đọc nó không? Càng dịch thơ, tôi thấy càng không muốn dịch thơ nữa.

Như Truyện Kiều của Cụ Du, cốt truyện bình thường thôi, tình yêu, sự phản bội, những bối cảnh xã hội cách làm người. Nếu tôi viết lại ra tiếng anh thì thật tình chỉ là một câu chuyện quá bình thường hơi cải lương.

Đọc Kiều sẽ hay hơn là dịch. Thưởng thức nghệ thuật và ngôn ngữ của Cụ Du hơn là câu chuyện của Kiều.

Muốn thật sự thưởng thức thơ hay ngôn ngữ của Cụ Du thì phải học tiếng việt.

Vui nữa là những điển tích Trung Hoa dạy đời thật là thú vị.


Nhà thơ không thích tôi dịch Kiều.

Nhưng những lý do của nhà thơ nêu ra không đủ để tôi bỏ cuộc:

– Kiều không còn độc giả.

Những dịch giả đã dịch Truyện Kiều thường chỉ có một mục đích là danh vọng.

– Những dịch giả đó chưa chắc đã hiểu Kiều. Truyện Kiều đầy điển tích điển cố. Những người sống ở Việt Nam còn không hiểu làm sao em hiểu được.

– Kiều chẳng hay gì, tại sao em phải mất thời gian viết lại câu chuyện của một người sống như đã chết.

Những lý do không liên quan gì đến tôi. Toàn là những sự ngộ nhận.

Không lẽ chỉ mình tôi thật sự hiểu Cụ Du, vì tôi bây giờ đã lớn tuổi hơn cụ?

Tôi nghĩ, nếu Cụ Du không có điển tích điển cố thì làm cách nào mà viết nổi cả vạn câu thơ như một bài toán học đóng khung sáu tám sáu tám bằng bằng trắc trắc bằng bằng trong thơ lục bát nổi.

Tôi là một học trò mê toán học. Văn với tôi là một sự mơ hồ vì nó có quá nhiều định hướng định nghĩa. Thơ của Cụ Du mang lại cho tôi một thế giới ngăn nắp thật sự là quá bất ngờ.


Thoa này bắt được hư không
Captured in this hairpin is nothingness

Thơ Nguyễn Du
.
.
23.
Nhà thơ là những kẻ thích
Gây sự với
Hư không

Poets are the kind of people
Who likes to pick fights with
Nothingness

Nguyễn Thị Phương Trâm dịch lại thơ Nguyễn Hưng Quốc sau khi đã đọc Kiều:

A poet’s nature is their delight
In the opportunity to tease
A beautiful woman
.
Em thích nhất
Là những cơ hội
Được gây sự với anh


Cụ Du, cụ không cần bạn khen cụ đã viết hay, hay không.

Dịch hay, hay không, đối với tôi không quan trọng bằng bài học cụ đã chia sẻ trong hơn ba ngàn câu thơ.

Những con chữ, và những câu thơ hoa mỹ như những tác giả khác, với nguyên tác là để câu độc giả.

Bài học của cụ quá đơn giản:

Nếu bạn không biết yêu thương và bao dung những người đàn bà trong cuộc đời của bạn, thì bạn có thể làm một người nhân dân gánh sông núi trên vai nổi không?

“quá giỏi! Quá xuất sắc luôn!

Không biết có nhờ papa cộng tác không? Chứ truyện Kiều cũng có nhiều điển tích, điển cố lắm!”


Cụ Du,

Thật tình con cái nhà giàu yêu đương nó khác.

Em nhớ thời đi học lo dọn dẹp nhà mọt sách đến mờ cả mắt rớt lên rớt xuống làm gì có thời gian làm thơ mơ màng bỏ quên cây đàn.

“Time is money”, làm ra tiền trước hãng. Cái kiểu, em xin lỗi cụ trước ạ, “dạng háng” đợi chồng mang tiền về thật là khó hiểu, em không tưởng tượng nổi. Khác gì gái bán thân chứ, mà cuối cùng chỉ yêu chỉ một ông chồng xem mình như một sở hữu.

Đi làm gái điếm có lẽ còn ý nghĩa hơn.

“quá giỏi! Quá xuất sắc luôn!

Không biết có nhờ papa cộng tác không? Chứ truyện Kiều cũng có nhiều điển tích, điển cố lắm!”

Cụ lớn tuổi rồi chị, mắt cụ đã mờ. Cụ như chị thôi, không phải là người đầu tiên với suy nghĩ này, cũng không bao giờ nghĩ một người như em hiểu nổi không đúng sao?

Từ xưa đến giờ có khác gì. Em chẳng giỏi gì. Google đầy trích dẫn. Thích thì tự mò ra. Sự thất bại nằm ở câu ít người hỏi là: tại sao không? Em dại ở chỗ là em không biết “sợ”. Truyện Kiều chẳng khác gì câu thơ ba dòng đầy điển tích của Nguyễn Hưng Quốc.

Dịch thơ, thứ nhất cần một chút logic, thứ hai sai thì mò thêm. Đơn giản mà. Miễn là thích. Em đã ghi nhận hành trình của em cho ai đó muốn tự học. Chẳng khó.

Khó là thay đổi cái tư duy từ “không ai làm được, thì tôi sẽ thất bại” với câu hỏi “tại sao không?”. Để em hỏi chị lại, tiếng việt của một người như chị giỏi hơn em nhiều, chị học cao hơn nhiều, em nghĩ chị sẽ dịch ra hay hơn đúng hơn nhưng tại sao chị không dịch? Chị không cần trả lời, vì em đã biết câu trả lời của chị là gì, chị chưa bao giờ hỏi mình câu – tại sao không?

Làm gì cũng vậy, không chỉ dịch thơ. Nó bắt đầu từ câu hỏi thật đơn giản là – tại sao không?

Em không giỏi đâu chị, nhưng em khác chị ở câu hỏi đó. Mong chị thông cảm ạ, em 54 này chẳng giỏi gì. Thích là làm thôi.


Cụ à,

Khi em đã chấp nhận không cách nào dịch nổi thơ lục bát thì đương nhiên em đã chấp nhận những điển tích điển cố sẽ bị trôi dạt không được thể hiện trong ngôn ngữ của em nữa.

Dịch thỏ thành rabbit của chị Hằng thì câu chuyện sẽ bị lạc hướng, em lại phải trích dẫn dài dòng.

Xin cụ thông cảm cho em ạ. Cuộc đười quá ngắn, để mình ngồi đó phân vân phân tích ạ.

Nhưng đương nhiên thật là vui khi em được cụ chia sẻ với em những câu chuyện cổ tích như chị Hằng và con thỏ; như nỗi nhớ ray rứt của Nga hoàng và Nữ Anh ở bờ sông Tương.

Vui cụ ạ.


Sự cải tiến của ngôn ngữ của mẹ đẻ tám năm nay là nhờ thơ của anh Lê Vĩnh Tài.

Tôi đọc đi đọc lại những bài thơ của anh, nhưng thường là qua ngôn ngữ của tôi, tôi mới cảm nhận được, tôi mới thấy phê.

Nhưng mới đây việc dịch thơ của anh ra ngôn ngữ của tôi không còn là một sự cần thiết nữa.

Tôi bất đắc dĩ đã thành một dịch giả vì hoàn cảnh.

Tôi từ xưa đến nay đã thích thơ của cụ Du, chỉ vì tôi muốn hiểu hơn. Như những sonnet của Shakespeare tôi muốn hiểu rõ hơn, tôi muốn viết ra thành ngôn ngữ của tôi. Nhưng ai ai từ người thân đến thiên hạ cũng đồng điệu với suy nghĩ là tôi sẽ không bao giờ hiểu nổi. Tiếng việt của tôi quá kém, đó sẽ là một con đường thất bại.

Cuộc đời tôi có nhiều những con đường cụt hứng như vậy. Nhưng tôi vẫn muốn thử.

Tôi là một người nghiện những khởi đầu tiên.

Có ai quên nụ hôn đầu tiên của mình không nhỉ?


Cụ Du nhắc mãi “gót sen” của Kiều làm tôi cứ nhớ hôm bà ngoại tôi qua Úc chơi bà đã la, khi nghe chị em chúng tôi đi:

– con gái con đứa, đứa nào cũng đi như chạy giặc, ùm ùm như một đàn voi vậy!

Làm tôi cười chết được. Nhớ bà.

Nếu các bạn còn thắc mắc tại sao tôi “dịch” Truyện Kiều thì có lẽ các bạn nên đọc lời diễn đạt của tôi ở đây với Julia.

Truyện Kiều, khó chứ, như đọc một ngôn ngữ lạ, nhưng lại quen quen vì cả một đất nước trích dẫn Truyện Kiều làm sự tò mò của tôi càng ngày càng nông nổi hơn.

Đơn giản là vậy.

Tôi tính học chữ hán trước mà tôi nuốt không vô…tôi đành học kiểu tôi hay học là vì mê thơ. Tôi bỏ lâu rồi cái suy nghĩ “dịch thơ lục bát” vì thường là khi tôi đọc thơ lục bát tôi chẳng hiểu gì vì ngôn ngữ của nó quá nôm na.

Nên tôi nghĩ nếu học cách chép và viết ra lại bằng ngôn ngữ của mình, khi viết ra xong hơn ba ngàn câu thơ của một câu truyện thì tôi đoán là mình sẽ học được nhiều từ ngữ một cách hay và vui nhất.

Hiểu thì chắc chắn là không hiểu. 8 năm nay tôi học kiểu này mà, có gì đâu mà bà ngạc nhiên chứ. Tôi nghĩ ai cũng làm được nếu họ thích. Như bà nói – như chơi. Là chơi thật. Vì tôi thích.

Ngôn ngữ của cụ Du thật là hoa mỹ. Tại sao phải mất thời gian học từ những bài lục bát khác mà không học thơ lục bát từ một tác phẩm đã thu hút cả một đất nước hơn 300 năm nay. Tôi nghĩ vậy.

Một phần nữa là vì chúng mình đã là U60 rồi bà ạ. Mắt mờ, còn nhiều thời gian nữa ư? 

Cả ngày mò mẫm chữ, chỉ viết lại bằng tiếng anh được vài khúc của cụ Du.

Sự tò mò của tôi về ngôn ngữ của cụ không vơi. Nhờ Google.

“Lost in translation” thì quá nhiều. Từ Hán ra Nôm. Từ việt ra anh ngữ. Những điển tích điển cố. “All fascinating”, gọi là lôi cuốn à?

Nếu chán thì tôi sẽ bỏ. Tôi nghĩ vậy. Nhưng hiện giờ thì tôi rất thích chơi với cụ.

Làm tới đâu chơi tới đó. Thích ghê á.

Này, khó nha. Tác giả nổi tiếng nhất của đất nước người ta còn chưa dịch nổi. Mà phải thích thì mới có thể dịch hay. Mà hay thì người ta mới thích không đúng sao?

Nếu thích thì còn là nhiệm vụ không? Không thích mới là nhiệm vụ.

Tôi chưa bao giờ nghĩ dịch thơ là nhiệm vụ của tôi. Tôi dịch thơ cho tôi đọc thôi. Mà các bạn cứ suy diễn là vì các bạn “được dịch”.

Đúng, có một thời gian tôi hay cả nể, tôi dịch cho bạn, vì tôi thấy nó quá dễ, tôi chỉ mất một chút thời gian, mà bạn lại được vui. Nhưng tôi thấy bạn cứ nghĩ vì tôi thích. Tôi đã mang hoạn nạn vào thân.

Sự hiểu nhầm này cũng đều là lỗi của tôi. Tôi sẽ nhận là hẩu quả khờ khạc của bản thân với sự tự cao là mình có một lòng tốt.

Tôi thật ra không mong muốn đến sự yêu mến của ai. Tôi yêu quá đủ. Người bạn tri kỷ của tôi chẳng liên quan gì đến thơ ca. Là một người duy nhất hiểu tôi:

– Em cứ làm những gì em thích.

Tôi sống rất đơn giản, tôi sống chỉ cho đủ một ngày, tôi ít khi thất vọng, và tôi cũng chẳng còn tham vọng gì nữa. Tôi quá đủ.

Thắc mắc của tôi ngay lúc này là cuộc đối thoại của tôi và cụ Du, tôi hỏi cụ:

– Thật ra, nếu cụ chỉ viết về Thúy Vân thì độc giả chẳng ai thèm đọc cụ nhỉ.

🙂

Viết ra Truyện Kiều bằng ngôn ngữ của tôi là một sự hãi hùng đầy cảm hứng.
Cảm giác như tôi đang đứng ở giới chân núi bãi Trường Sơn với suy nghĩ là tôi có thể vượt qua nó.
Sự hoang tưởng như sự thật của một người học trò già dạ như tôi.
Tiếng nói của cụ Bill vọng về nhột nhạt trong tai tôi:
– Tồn tại hay không tồn tại ư?
Ừ, cụ không sai, tại sao không? Thật là vậy.
Ahh, An Epic Tale of Kiều của cụ Du in my vernacular… Sigh..

October 6th, 2024

Sự điềm tĩnh của những giọt mưa xuân trên mái tôn tích tách sau nhà làm tôi quên cả thời gian. Nắng lên và mây đã trôi đi với những khúc lục bát của cụ Du thời Khổng Tử.

Tôi ngồi ôm những suy ngẫm, thời Khổng Tử, gia đình nho giáo, đàn bà chỉ là một tài sản của gia đình. Quá trái ngược với tư tưởng của tôi. Thắc mắc lớn nhất của tôi là liệu cuộc đối thoại của tôi và cụ Du sẽ bền vững không?

Theo cá nhân tôi, ngôn ngữ chỉ là một phần, nên tôi không biết sự trái ngược về tư tưởng của chúng tôi có phải chỉ là một lý do để tôi bỏ cuộc chơi ư?

Cụ không nói gì, cụ cứ ngồi bên cạnh tôi như một ly trà nóng với những làn khói bay nhè nhẹ trong suốt.

Tale of Kiều translated by Huỳnh Sanh Thông

Từ những ngày chạy trốn lạc vào thế giới của cụ Du, ngày nào ra đường tôi cũng rủ cụ Du đi theo. Nhưng chúng tôi lại ít khi lên tiếng, có lẽ vì cụ có muốn bắt đầu cuộc đối thoại nào đi nữa tôi đã chưa muốn nghe?

Nhưng tôi thấy vui, có cụ ngồi đó không nói gì, tôi có một cảm giác thật là bình an, dù rằng ngôn ngữ bất đồng. Chúng tôi đều là người Việt. Chính xác hơn là cụ thừa nhận tôi là một người Việt xa xứ chăng? Cảm giác ấy làm tôi bớt chơi vơi.

Tôi tin rằng, dần dần tôi sẽ hiểu cụ hơn. Tôi biết là cụ có rất nhiều câu chuyện thú vị muốn chia sẻ với tôi.

Mở mắt ra, lục tủ Google, kiếm được cuốn song ngữ vô cùng quý giá của cụ Du, dịch giả Huỳnh Sanh Thông dịch. Yale University Press đã phát hành . Link tôi đã kèm ở dưới cùng với link thơ tôi sẽ viết ra tiếng Anh của cụ để tôi hiểu thêm, cho các bạn nào có xu hướng quan tâm như tôi.


Kiều sold herself to pay off her father’s debt – Kiều bán mình chuộc cha [573-804]
Kiều rơi vào tay Tú Bà & Mã Giám Sinh [805-1056]
Kiều mắc lừa Sở Khanh [1057-1274]
Kiều met/gặp Thúc Sinh [1275-1472]
Kiều & Hoạn Thư [1473-1704]
Kiều & Hoạn Thư (cont) [1705-2028]
Kiều met/gặp Từ Hải [2029-2288]
Kiều’s revenge – Kiều báo thù [2289-2418]
Từ Hải cheated by Hồ Tôn Hiến, Kiều’s attempted suicide – Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến, Kiều tự vẫn [2419-2738]
Kim Trọng's search for Kiều – Kim Trọng đi tìm Kiều [2739-2972]
Kiều & Kim Trọng reunited – Kiều & Kim Trọng đoàn tụ [2973-3254]

Nguyến Du [1766-1820] courtesy name Tố Như and art name Thanh Hiên, is a celebrated Vietnamese poet and musician. He is most known for writing the epic poem The Tale of Kiều.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

a meal for worms – MỘT BỮA CƠM CHO GIÒI | Nguyễn Thị Phương Trâm

If I tell you my fears, would you believe me? They are no different from yours, wrapped in an ethos of anxieties.

Age shouldn’t define us, but it’s a privilege with limitations. I looked into the eyes of a smiling face and did not recognize it.

My memories lied to me, and I’m left with just a feeling of bewilderment as my mind regresses into senility, into the deep dark earth, into a meal for worms.

The melancholy of age.

Nếu tôi kể cho bạn nghe nỗi sợ hãi của tôi, bạn sẽ tin không? Nó chẳng khác gì của bạn, chúng được bao bọc trong một đặc tính của nỗi lo sợ.

Định nghĩa của chúng ta không nên đề cập đến tuổi tác, nhưng nó là một đặc ân với giới hạn. Tôi đã nhìn vào một cặp mắt đầy ắp nụ cười mà đã không nhận ra người đó là ai.

Ký ức tôi đã lừa chính cả tôi, những sự hoang mang theo đuổi một trí não suy tàn, chìm sâu vào lòng đất tối tăm, bữa cơm cho giòi.

Nỗi sầu của tuổi.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Kiều rơi vào tay Tú Bà & Mã Giám Sinh [805-1056] | Nguyễn Du

photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A Tale by Nguyễn Du
An adaptation by Nguyễn Thị Phương Trâm


Kiều sold herself to pay off her father’s debt – Kiều bán mình chuộc cha [573-804]

Chẳng ngờ gã Mã Giám sinh,
Vẫn là một đứa phong tình đã quen.
Quá chơi lại gặp hồi đen,
Quen mồi lại kiếm ăn mồi nguyệt hoa.
Lầu xanh có mụ Tú bà,
Làng chơi đã trở về già hết duyên.
Tình cờ chẳng hẹn mà nên,
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường.
Chung lưng mở một ngôi hàng,
Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề.
Dạo tìm khắp chợ thì quê,
Giả danh hầu hạ, dạy nghề ăn chơi.
Rủi may âu cũng sự trời,
Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên.
Xót nàng chút phận thuyền quyên,
Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn.
Mẹo lừa đã mắc vào khuôn,
Sính nghi rẻ giá, nghinh hôn sẵn ngày.
Mừng thầm: “Cờ đã đến tay,
Càng nhìn vẻ ngọc, càng say khúc vàng.
Đã nên quốc sắc thiên hương,
Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa!
Về đây nước trước bẻ hoa,
Vương tôn quý khách là đua nhau.

[805-828]

[805-828]

Hẳn ba trăm lạng kém đâu
cũng đà vừa vốn còn sau là lời
miếng ngon kể đến tận nơi
vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham
đào tiên đã bén tay phàm
thì vin cành quít cho cam sự đời
dưới trần mấy mặt làng chơi
chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa
nước vỏ lựu, máu mào gà
mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên
mập mờ đánh lận con đen
bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi?
mụ già hoặc có điều gì
liều công mất một buổi quì mà thôi
vả đây đường sá xa xôi
mà ta bất động nữa người sinh nghi”.
tiếc thay một đoá trà mi
con ong đã mở đường đi lối về
một cơn mưa gió nặng nề
thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương
đêm xuân một giấc mơ màng
đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ.

[829-850]

[829-850]

 Thôi rồi , một đóa trà mi – con ong đã tỏ đường đi lối về

nỗi riêng tầm tã tuôn mưa
phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình
“tuồng chỉ là giống hôi tanh
thân ngàn vàng để ô danh má hồng
thôi còn chi nữa mà mong
đời người thôi thế là xong một đời”.
gian duyên tủi phận bời bời
cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh
nghĩ đi nghĩ lại một mình
một mình thì chớ, hai tình thì sao?
sau dầu sinh sự thế nào
truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân
nỗi mình âu cũng giãn dần
kịp chầy thôi cũng một lần mà thôi!”
những là đo đánh ngược xuôi
tiếng gà nghe đã gáy sôi mái tường
lầu mai vừa rúc còi sương
Mã sinh giục giã vội vàng ra đi
đoạn trường thay khúc phân kỳ
vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh
bề ngoài mười dặm trường đình
Vương ông mở tiệc tiễn hành đưa theo
ngoài thì chủ khách dập dìu
một nhà huyên với một Kiều ở trong
nhìn nhau lã chã giọt hồng
rỉ tai nàng mới giải lòng thấp cao
“Hổ sinh ra phận thơ đào
công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong?
lỡ làng nước đục bụi trong
trăm năm để một tấm lòng từ đây.

[851-880]

[851-880]

xem gương trong bấy nhiêu ngày
thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già
khi về bỏ vắng trong nhà
khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng
khi ăn, khi nói lỡ làng
khi thầy, khi tớ xem thường xem khinh
khác màu kẻ quý người thanh
ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn”.
“thôi con còn nói chi con
sống nhờ đất khách, thác chôn quê người”.
Vương bà nghe bấy nhiêu lời
tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên
vài tuần chưa cạn chén khuyên
mái ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe
xót con lòng nặng chề chề
trước yên ông đã nằn nì thấp cao
“chút thân yếu liễu thơ đào
rấp nhà đến nỗi dấn vào tôi ngươi
từ đây góc bể bên trời
nắng mưa thui thủi quê người một thân
nghìn tầm nhờ bóng tùng quân
tuyết sương che chở cho thân cát đằng
cạn lời khách mới thưa rằng:
“buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao
mai sau dầu đến thế nào
kìa gương nguyệt nhật, nọ dao quỉ thần”.
đùng đùng gió giục mây vần
một xe trong cõi hồng trần như bay
trông vời gạt lệ chia tay
góc trời thăm thẳm, ngày ngày đăm đăm.

[881-910]

[881-910]

nàng thì dặm khách xa xăm
bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây
vi lô san sát hơi may
một trời thu để riêng ai một người
dặm khuya ngất tạnh mù khơi
thấy trăng mà thẹn những lời non sông
rừng thu từng biếc xen hồng
nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn
những là lạ nước lạ non
Lâm Truy vừa một tháng tròn đến nơi
xe châu dừng bánh cửa ngoài
rèm trong đã thấy một người bước ra
thoát trông nhờn nhợt màu da
ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?
trước xe lơi lả han chào
vâng lời nàng mới bước vào tận nơi
bên thì mấy ả mày ngài
bên thì ngồi bốn năm người làng chơi
giữa thì hương án hẳn hoi
trên treo một tượng trắng đôi lông mày
lầu xanh quen lối xưa nay
nghề này thì lấy ông này tiên sư
hương hoa hôm sớm phụng thờ
cô nào xấu vía có thưa mối hàng
cổi xiêm lột áo chán chường
trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm

[911-936]

[911-936]

đổi hoa lót xuống chiếu nằm
bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì
cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay:
“cửa hàng buôn bán cho may
đêm đêm Hàn thực, ngày ngày Nguyên tiêu
muôn nghìn người thấy cũng yêu
xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai
tin nhạn vẩn, lá thư bài
đưa người cửa trước, rước người cửa sau!
lạ tai nghe chửa biết đâu
xem tình ra cũng những màu dở dang
lễ xong hương hỏa gia đường
Tú bà vắt nóc lên giường ngồi ngay
dạy rằng: “con lạy mẹ đây
lạy rồi sang lạy cậu này bên kia!”

[937-952]

[937-952]

nàng rằng: “phải bước lưu ly
phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh
điều đâu lấy yến làm anh
ngây thơ chẳn biết là danh phận gì?
đủ điều nạp thái vu qui
đã khi chung chạ, lại khi đứng ngồi
giờ ra thay bậc đổi ngôi
dám xin gửi lại một lời cho minh”.
mụ nghe nàng nói hay tình
bấy giờ mới nổi tam Bành mụ lên
“này này sự đã quả nhiên
thôi đà cướp sống chồng min đi rồi!”
bảo rằng: “đi dạo lấy người
đem về rước khách kiếm lời mà ăn
tuồng vô nghĩa, ở bất nhân
buồn mình trước đã tần mần thử chơi
màu hồ đã mất đi rồi
thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!”
“con kia đã bán cho ta
nhập gia phải cứ phép nhà tao đây

[953-972]

[953-972]

lão kia có giở bài bây
chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe!
cớ sao chịu tốt một bề
gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!
phải làm cho hết phép tao!”
giật bì tiên rắp sấn vào ra tay
nàng rằng: “trời thẳm đất dày
thân này đã bỏ những ngày ra đi
thôi thì thôi có tiếc gì!”
sẵn dao tay áo tức thì giở ra
sợ gan nát ngọc liều hoa
mụ còn trông mặt, nàng đà quá tay
thương ôi, tài sắc bậc này
một dao oan nghiệt dứt dây phong trần
nỗi oan vỡ lở xa gần
trong nhà người chật một lần như nêm
nàng thì bằn bặt giấc tiên
mụ thì cầm cập mặt nhìn hồn bay
vực nàng vào chốn hiên tây
cắt người coi sóc, nước thầy thuốc men
nào hay chưa hết trần duyên
trong mê dường đã đứng bên một nàng
rỉ rằng: “nhân quả dở dang
đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao?

[973-996]

[973-996]

số còn nặng nghiệp má đào
người dù muốn quyết, trời nào đã cho!
hãy xin hết kiếp liễu bồ
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau”.
thuốc thang suốt một ngày thâu
giấc mơ nghe đã dàu dàu vừa tan
Tú bà trực sẵn bên màn
lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần
“một người dễ có mấy thân
hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài
cũng là lỡ một lầm hai
đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây
lỡ chân trót đã vào đây
khóa buồng xuân để đợi ngày đào non
người còn thì của hãy còn
tìm nới xứng đáng là con cái nhà
làm chi tội báo oan gia
thiệt mình mà hại đến ta hay gì?”
kề tai mấy nỗi nằn nì
nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi
vả trong thần mộng mấy lời
túc nhân âu cũng có trời ở trong
kiếp này nợ trả chưa xong
làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau
lặng nghe ngẫm nghĩ gót đầu
thưa rằng; “ai có muốn đâu thế này
được như lời thế là may
hẳn rằng mai có như rày cho chăng
sợ khi ong bướm đãi đằng
đến điều sống đục sao bằng thác trong’
mụ rằng: “con hãy thong dong
phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!

[997-1028]

[997-1028]

mai sau ở chẳng như lời
trên đầu có bóng mặt trời rạng soi”
thấy lời quyết đoán hẳn hoi
đành lòng nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần
trước lầu Ngung bích khóa xuân
vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
bốn bề bát ngát xa trông
cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia
bẽ bàng mây sớm đèn khuya
nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
tưởng người dưới nguyệt chén đồng
tin sương luống những rày trông mai chờ
bên trời góc bể bơ vơ
tấm son gột rửa bao giờ cho phai
xót người tựa cửa hôm mai
quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa
có khi gốc tử đã vừa người ôm
buồn trông cửa bể chiều hôm
thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
buồn trông ngọn nước mới sa
hoa trôi man mác biết tà về đâu?
buồn trông ngọn cỏ dàu dàu
chân mây mặt đất một màu xanh xanh
buồn trông gió cuốn mặt duềnh
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
chung quanh những nước non người
đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu.

[1029-1056]

[1029-1056]

Kiều mắc lừa Sở Khanh [1057-1274]


Nguyến Du [1766-1820] courtesy name Tố Như and art name Thanh Hiên, is a celebrated Vietnamese poet and musician. He is most known for writing the epic poem The Tale of Kiều.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

the weed through the cracks in the road | Nguyễn Thị Phương Trâm

Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem by Nguyễn Thị Phương Trâm
Translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

the weed through the cracks in the road
the velvety moss on damp wet rocks
the desert sand
my father’s callus hands

the feet across the seas and lands
as common as the pebbles by the river banks
the regular Joe Blow
they sit by they hiss
what did I miss

I’m nothing but a regular Jane doe
I clean your toilets
I stack up the towels
I fold the sheets
I sleep with you in heat
I’m just so so
why are you so cold

dare me, be so bold
what, you asked, how old?
fuck that, I’m already sold!
a quotidian slave
I live still in a cave

I’m typical
stock files
standard issue
everyday Jane
no more no less sane

laughable yeah
me, being so mediocre
ordinary

23/4/2021

cỏ dại lan qua các vết nứt trên đường
rêu đang phủ nhung xanh lên tảng đá
ẩm và ướt
cát trên sa mạc
và trong lòng bàn tay chai sạn của cha

bàn chân băng qua biển cả
và đất và những viên sỏi bên bờ sông
Joe Blow cũng rất bình thường
[Joe Blow là ai?]
họ ngồi bên cạnh cứ rít lên
tôi đã bỏ lỡ điều gì?

tôi chẳng là gì [chỉ là một Jane doe bình thường] {Jane doe là ai?}
tôi dọn toa lét cho bạn
tôi xếp khăn tắm
tôi gấp ga trải giường
tôi ngủ với bạn khi động dục
tôi vẫn bình thường
tại sao bạn lại lạnh như thế?

đừng thách tôi, tại sao [tôi] táo bạo như vậy
bạn hỏi cái gì, [tôi] bao nhiêu tuổi?
chết tiệt, tôi đã bị [người ta] bán rồi
tôi, một nô lệ tầm thường
tôi, vẫn sống trong một cái hang

tôi là điển hình
một thứ hàng tồn kho
nhưng hàng tiêu chuẩn
Jane doe [nàng là ai?} hàng ngày
vẫn tỉnh táo [không lúc nào hơn
không bao giờ kém]

thật buồn cười
tôi, thật bình thường
đến mức tầm thường


Với chất liệu ngôn ngữ trần trụi và chân thật… bài thơ thành công trong việc khắc họa nỗi niềm của người vô danh (Jane Doe), thách thức người đọc suy nghĩ về giá trị của sự bình thường và những cống hiến thầm lặng của những con người mà xã hội thường bỏ qua.
……
Gặp lần đầu trong buổi bày tranh của Bùi Chat … là đã biết danh thi sỹ – nào phải vô danh .

Nguyễn Công Thanh 

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

[50 năm – thuyền nhân] | Nguyễn Thị Phương Trâm

THE TRAN

Not mine, but my husband, my brother in law and our children’s story.

Today marks Tàu Trường Xuân 50 years settlement in Australia.

Boat people.

There is no such thing as reconciliation between those who are boat people and those who are not.

Pain is not something you can reconcile like dollar and scent in your tax return. As though history could ever be remedied! WTF!

Reconciliation? Remedy? Toàn là chuyện tào lao!

It is what it is. Accept each other’s pain. Reconcile nothing. Feel it, feel the bloody blood stained battle fields. Acknowledge the fallen, inhale the smell of their rotting flesh, count their bones!

There is no remedy for war and its aftermath. We look ahead, we keep walking, we take our war to our grave.

The ignorance of reconciliation is not only condescending but an insult to the pain my parents, my siblings, my children had to shoulder for the last 50 years.

I am not asking for your pity, nor do I ask you to help me. I am perfectly capable of rebuilding my life – I am rising from the ashes each morning I open my eyes.

Doctors, lawyers, engineers, bricklayers, factory workers, we pave the roads for our children’s future.

Boat people.

Fuck your reconciliation!

June 20, 2025

[50 năm – thuyền nhân] [50 years – the boat people]

Allen Nguyễn Trần
Lâm Nguyễn Trần

[NHẬT KÝ ĐỜI TỴ NẠN]
– ba tôi, ông Nguyễn Xuân Thiêm viết

Hành Trình Tìm Tự Do  

Sài Gòn sụp đổ ngày 30 Tháng 4 Năm 1975  

Sau lệnh đầu hàng của Đại tướng Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh Sài Gòn  Người dân miền nam bắt đầu sống trong lo sợ…vì đã hoàn toàn rơi vào tay cộng sản Bắc việt! 

1. Ngày 26/06/1975: theo lệnh của ủy ban quân quản Sài Gòn tôi đi trình diện cải tạo 10 ngày vì  là sĩ quan cấp úy của chế độ VietNam Cộng Hoà kèm lời khuyên là mang lương thực cho đủ 10 ngày! Nhưng đã bị cộng sản đánh lừa! 

2. Từ ngày 26/06/1975 tới 21/03/1979: tôi phải đi vào trại tập trung cải tạo nhưng thực chất là  nhà tù khổ sai! bị đe dọa tinh thần luôn sống trong khủng bố bất chấp đúng sai phải tự khai là  mình đã có tội với nhân dân và quân đội cộng sản Bắc việt để tẩy não …về thể xác phải đi lao  

động; khổ hình; vất vả hàng ngày, ăn uống kham khổ, nhịn đói, đau bịnh phải khắc phục không có  thuốc điều trị…nhiều người đã chết trong trại cải tạo nếu còn sống thì về với thân tàn ma dại! 

Trong thời gian tôi bị ở tù thì người vợ trẻ ở nhà can đảm nuôi dạy 4 đứa con nhỏ, dưới áp lực  của công an phường phải học tập chính sách cộng sản mỗi tối, đối phó với cưỡng bức lao động  trong tổ hợp, bị đánh tư sản mại bản và áp lực đi vùng kinh tế mới…. 

3. Từ ngày 21/03/1979: được tạm tha về với gia đình, tôi vẫn phải sống dưới sự quản thúc của  công an phường, không có quyền công dân và phải trình diện khai báo chi tiết mỗi ngày là đi đâu  và làm gì? Hình thức một nhà tù kiểm soát mọi hoạt động của người dân. 

4. Ngày 20/11/1980: tôi đã quyết định đưa gia đình gồm vợ tôi với 4 đứa con nhỏ (Phương Anh  12 Tuổi; Phương Trâm 10 tuổi; Xuân Tùng 8 tuổi và Phương Thảo 7 tuổi) đi vượt biên tìm tự do.  Tôi thiết nghĩ thà cả gia đình cùng chết trên biển còn hơn sống dưới chế độ cộng sản Vietnam,  

một chế độ độc tài Đảng trị, tham nhũng; bạo lực; xào trá và dã man; không tôn trọng nhân  quyền và luôn khủng bố người dân bằng công an trị…các con tôi sẽ không được tới trường học  theo nguyện vọng; chúng tôi sẽ không có chỗ để sinh sống trong xã hội cộng sản Việt Nam vì họ sếp gia đình chúng tôi là công dân hạng hai! trên chiếc thuyền gỗ nhỏ bé với kích thước thật  khiêm tốn: chiều ngang chỉ 2.5 mét; chiều dài 10.0 mét; không động cơ vì bị hư ngay từ đầu  ngang qua đảo Phú quốc mà chỉ nhờ gió thổi vào vịnh Thải Lan!!! trên thuyền với 40 người cùng  cảnh ngộ. Lênh đênh trên vịnh Thái Lan 3 ngày 4 đêm không thực phẩm, hạn chế nước uống  trong biển động, sóng bão và nỗi lo sợ hải tặc; tưởng như chết trên biển cả ….đến ngày  24/11/1980 thuyền chúng tôi may mắn được một thuyền đánh cá Thái Lan cứu vớt, tôi vẫn còn  ghi nhớ ơn tên người chú thuyền là Chusan. Vì vào thời điểm này cứ 10 thuyền tỵ vượt biển thì  đã tới 8 thuyền bị hải tặc cướp của và hãm hiếp phụ nữ. 

5. Ngày 24/11/1980-19/12/1980: chúng tôi ở trại tạm cư chuyển tiếp chonburi/Thailand. 

6. Ngày 19/12/1980-20/01/1981: chúng tôi nhập trại tỵ nạn Songkhla/Thailand 

7. Ngày 20/01/1980-05/03/1981: chúng tôi ở trại chuyển tiếp Panatnikhom/Bangkok/Thailand. 

8. Ngày 06/03/1981: gia đình tôi được chính phủ Úc chấp nhận cho định cư vĩnh viễn với tư cách  là những người tỵ nạn chính trị. 

9. Ngày 06/03/1981-15/10/1981: gia đình tôi được tạm trú tại East Hill Hostel. 

10. Ngày 15/03/1981-15/10/1981: tôi làm thợ mộc cho công ty Everest Worthington. 

11. Ngày 02/04/1984: gia đình tôi được tuyên thệ vào quốc tịch Úc Đại Lợi. 

12. 1981-1985: gia đình tôi cư ngụ tại vùng Baulkham Hills/Sydney  

13. 1982-1998: vợ tôi là nhân viên của bưu điện Úc.

14. Ngày 19/10/1981-03/11/2017: trong suốt hơn 36 năm làm việc tại Úc tôi đã phục vụ qua  nhiều công ty khác nhau tên là: FFE(Fire Fighting Enterprises); Quell Fire Safety; James Hardie;  Chubb Fire&Security; William; UTC(Unites Technologies Cooperations) vời nhiều nhiệm vụ từ factory process worker; supervisor; production manager; NSW. Workshop and Sydney Portable  Services Manager. 

15. 1985-tới nay (2025)…định cư tại Vùng Lidcombe NSW. Sydney 

Journey to Freedom 

Saigon fell on April 30, 1975 

After General Duong Van Minh’s surrender order was  read on Saigon radio 

The people of the South began to live in fear…because  they had completely fallen into the hands of the North  Vietnamese communists! 

1. June 26, 1975: Following the order of the Saigon  military committee, I went to a 10-day reeducation  camp because I was a lieutenant of the Republic of  Vietnam regime, with the advice to bring enough food  for 10 days! But I was deceived by the communists! 

2. From June 26, 1975 to March 21, 1979: I had to go  to a reeducation camp but in reality it was a forced  labor prison! I was mentally threatened and always  lived in terror regardless of right or wrong, had to  confess that I had committed crimes against the  people and the North Vietnamese communist army to brainwash… physically forced to do labor; torture; hard  work every day, poor food, hunger, illness that had to  be overcome without medicine… Many people died in  the re-education camp. If they survived, they returned  with a crippled body and a crazy spirit! 

During my time in prison, my young wife courageously  raised 4 children at home, under pressure from the  ward police to study communist policies every night, to  deal with forced labor in the complex, to be beaten as a comprador bourgeois and pressured to go to the new  economic zone… 

3. From March 21, 1979: I was temporarily released to  return to my family, I still had to live under the  supervision of the ward police, had no civil rights and  had to report in detail every day where I went and what  I did? The form of a prison controlled all activities of  the people. 

4. November 20, 1980: I decided to take my family,  including my wife and 4 small children (Phuong Anh,  12 years old; Phuong Tram, 10 years old; Xuan Tung,  8 years old and Phuong Thao, 7 years old) to cross the  border to seek freedom. I thought it would be better for  the whole family to die at sea than to live under the  Vietnamese communist regime, a dictatorial regime  ruled by the Party, corrupt, violent, deceitful and  barbaric; not respecting human rights and always  terrorizing people with police state… my children would  not be able to go to school as they wished; we would  not have a place to live in the Vietnamese communist  society because they considered our family as second class citizens! on a small wooden boat with very  modest dimensions: width only 2.5 meters; length 10.0  meters; no engine because it was broken from the  beginning, passing Phu Quoc island, only relying on  the wind to blow into Thai Lan bay!!! on a boat with 40  people in the same situation. Drifting on the Gulf of  Thailand for 3 days and 4 nights without food, limited  drinking water in rough seas, stormy waves and fear of  pirates; thought we would die at sea… until November  24, 1975, our boat was fortunately rescued by a Thai fishing boat, I still remember the boat owner ‘s name  Chusan. Because at that time, out of 10 refugee boats  crossing the sea, 8 were robbed by pirates and women  ere raped. 

5. November 24, 1980 – December 19, 1980: We were  at the Chonburi/Thailand transit camp. 

6. 19/12/1980-20/01/1981: We entered the Songkhla  refugee camp/Thailand 

7. 20/01/1980-05/03/1981: We stayed at the  Panatnikom transit camp/Bangkok/Thailand. 

8. 06/03/1981: My family was accepted by the  Australian government for permanent settlement as  political refugees. 

9. 06/03/1981-15/10/1981: My family was temporarily  housed at the East Hill Hostel. 

10. 15/03/1981-15/10/1981: I worked as a carpenter  for the Everest Worthington company. 

11. 02/04/1984: My family was sworn into Australian  citizenship. 

12. 1981-1985: My family lived in Baulkham Hills/ Sydney 

13. 1982-1998: My wife was an employee of the  Australian Post Office as a mail officer.

14. 19/10/1981-03/11/2017: During  more than 36 years working in Australia,  I have served through many different  companies named: FFE(Fire Fighting  Enterprises); Quell Fire Safety; James  Hardie; Chubb Fire & Security; William;  UTC(United Technologies Corporations)  with many tasks from factory process  worker; supervisor; production manager;  NSW. Workshop and Sydney Portable  Services Manager. 

15. 1985-present (2025)… settled in  Lidcombe NSW. Sydney

Thông, Anh, Trâm, Tùng, Thảo, Nghĩa, Thiêm và Thiện

Tôi kiểu, như bị thất tình, cái tuổi xồn xồn hay sồn sồn bồn xồn người đàn bà tiền mãn kinh.

Tôi chần chừ muốn nghỉ rồi chơi lại mạng xã hội. Nhưng chính nó đã là một giảng trường đời.

Học không hết chữ. Thời 4.0, bạn không cần phải vào giáo trường, bạn có thể ngồi ở nhà xem những thuyết trình của những giảng đường đại học như Cambridge và Harvard.

Bằng cấp chỉ là những tờ giấy trắng dành riêng cho những người có điều kiện.

Bây giờ tôi sẽ sống hàng ngày với hai cụm từ mỗi ngày dưới đây sẽ là quá đủ:

1) It is what it is – từ tác phẩm thơ con cóc của anh Nguyễn Hưng Quốc

2) tới đó tính tiếp – từ những buổi sáng của anh Vũ Hồ Như

Chúc vui.

ultra-minor aiming to be major – Mai Ver Dang (H’Mong-American poet) – surrealness cuts through to the truth

poets function as conscience – viet thanh nguyen

On the Joy of Otherness

death and realism – ken chen

can realism help migrants and border crossers refugee exiled displaced comes to term with home sickness reluctant time travelers an infinite homecoming timeline

[50 năm – thuyền nhân]

If I am inclined to see the journeys of my parents as heroic, the writer Amitava Kumar pushes back against the praise for those who cross borders: the immigrants, the refugees, the undocumented, the expatriates, the tourists, the settlers, the conquerors. He writes that “It is not the immigrant but the ones who stay behind who are the true unvanquished.” Viet Thanh Nguyen

“Being asian-american is not the only dimension of myself, just one aspect, born from defending myself or others like me or who are seen as being like me, but my asianamericaness matters less than my ethics politics and art, together they constitute a stubborn otherness that resists the lure of a domesticated otherness siated by belonging” Viet Thanh Nguyen

Crossing many borders. The refugee is exiled. Death away from home. “The continent of death has no borders”.

asian expansive solidarity (japanese-chinese-vietnamese-filipino) – self-defense – victims of our own success – a moment of clarity against exclusion and move on from inclusion.

identity build on violence and white invasion colonialism

beyond labels – boat people being only one label of global inclusion

the utopian society of the earth being a global village where we solve our dispute in a football game(olympic games?)

Đang xem vidiô nghe tiếng còi bom báo động, tôi nhớ đến cái cảnh bò xuống dưới gầm giường đầy mùi khai khai để núp. Ký ức tuổi thơ dồn dập bất ngờ làm tôi bật ra khóc nức nở không ngưng.

Tôi cứ nghĩ bao nhiêu năm tôi đã tự chữa bệnh PTSD bằng thơ ca, là mình đã khỏi bệnh. Mình đã thả nó hẳn vào quá khứ.

Tôi hơi bực vì sự thất bại của mình.

Tôi nhìn cái mặt điện thoại thông minh của mình, nước mắt nó cứ trào ra thì qua những dòng nước tôi bắt gặp mấy câu thơ của Y Thiện làm tôi bật ra cười.

Rồi tôi lại nghĩ – ồ ồ, tiếng việt của mình giỏi hơn hồi xưa nhỉ?

Tôi thấy mình đáng yêu ghê. Hồi xưa tôi đọc những gì Y đã chia sẻ đã không hiểu gì luôn. Vừa không hiểu vừa xấu hổ là mình đã bị mất gốc.

8 năm trôi đi như bèo bọt trôi qua cuộc đời tôi.

Tôi hôm nay vừa cười vừa khóc thì ăn mười cục gì nhỉ?

Trong tôi vẫn là xương máu rồng tiên.

Thì sẽ okê nha.

The sound of bomb sirens from a documentary broke me, it triggered a break down I thought I had fixed. The bombings of the Port of Hai Phong, where my eleven year old English student now lives. The lives of villagers who died during the carpet bombing. The people who were massacred in their homes in Hue during the Tet Offensive the year my sister was born. It broke me. I don’t know the words to console such pain.

Good morning, sáng nay có hẹn với chồng nha.

30/4 là 30/4.

It is the two faces of the same coin.

Những cái label ngoài những con số đó chỉ là thừa.

Tôi không cười thì tôi khóc. Có anh chồng lau nước mắt hay cùng cười với cũng vui.

It is what it is.

Thank you to mother and father to whom I would not be here today.

To my community of boat people, thank you for just being. We may never completely heal, completely let go. But at least we will have each other.

Survive.

Our survival our legacy.

My kindest of regards,

Nguyễn Thị Phương Trâm

A Man of Two Faces by VIET THANH NGUYEN

Dịch thơ Mai Thảo tôi thấy mình đã trải qua trọn vẹn 7 giai đoạn tang thương buồn thảm – GRIEF:

Sốc.
Phủ nhận.
Giận dữ.
Thương lượng.
Trầm cảm.
Chấp nhận và hy vọng.
Xử lý nỗi đau.

Mai Thảo tìm sự hỗ trợ của anh Johnie Đỏ là một chuyện hiển nhiên.

Thuyền nhân là một giọt nước mắt giữa đại dương…

Sự bỏ rơi và sự chia ly, có khác nhau lắm không?

Như sự hận thù và tình yêu, có ai phân biệt những cảm xúc sâu đắm mù quáng của nó nổi không?

Màu vàng chạng vạng của sự bình minh và hoàng hôn chúng khác nhau ở điểm nào?

Sự bỏ rơi bắt đầu từ ngày tôi đã bỏ rơi đất nước tôi, hay đất nước tôi đã bỏ rơi tôi? Một đời người đã trôi qua, nhưng vết thương vẫn còn mới?

– Anh đã bỏ rơi em hay em đã bỏ rơi anh?

– Em cứ lo an ủi những người khác nhưng người em cần an ủi là em.

Nếu chúng ta là người dưng. Chuyện của chúng ta không còn là một cuộc chia ly nữa.

Nó chỉ là một chặng đường. Những cuộc đối thoại, những va chạm. Để chúng ta thấy da thịt của chúng ta vẫn còn đau vẫn còn biết sướng.

Một chặng đường hoang vu dã man “thiên nhiên hoàn toàn lãnh cảm”[1]

Tôi ác tôi nhẫn tâm là một sự chấp nhận sống trong bóng tối mong ngày ánh sáng.

[1] thơ Nguyễn Hưng Quốc: 
Đừng hiểu lầm: Thiên nhiên hoàn toàn lãnh cảm
Nó không có
Ký ức

Tôi không hiểu tại sao quê hương của tôi cứ phải là một người đàn bà đẹp, cứ phải mãi là một con điếm?

Nếu quê hương của tôi là một người đàn ông, một người đàn ông thật xinh, có nhiều vợ. Thì lịch sử của đất nước mẹ đẻ của tôi sẽ được đẹp hơn không?

[50 năm – thuyền nhân]

Sáng sớm trước khi hành trình đi tìm cánh đồng bồng bềnh giữa biển khơi, tôi đi qua thăm ông bà ngoại của hai người lớn của họ nhà Trần.

Ông bà nôn nao lo tình trạng tinh thần của cô con gái thi dịch sĩ của họ. Tôi qua thăm và để kể cho hai ngài nghe về bệnh mất trí đến những người bạn của tôi.

Những người bạn của tôi không chỉ cho tôi nơi trú chân mà đã dành riêng thời gian cho tôi hồi phục lại sức khỏe và tinh thần.

Những bữa cơm và những ly rượu hữu tình mà tôi sẽ không bao giờ quên và muốn ghi lại ở đây cùng với những lời tri ân của mình. Thật ra họ cũng đã biết họ là ai, tôi không muốn điểm danh họ hết ở đây.

Dù rằng tôi bạc cả đầu, tính tôi vẫn vô tư. Hôm nay tự nhiên trong một hơi thở ba má tôi nhắc đến Lý Đợi và Bùi Chát. Ồ ba má biết hai cậu đó à? Thì ba má hồi xưa hay đọc thơ văn của hai người đó.

Nhắc đến hai người bạn của anh Tài làm tôi hơi xấu hổ. Tôi xưng tội luôn: khổ ghê, con không hiểu anh Lê Vĩnh Tài lại uống yếu hơn con như vậy, anh say quá Chi phải đưa anh về trước để con lại với Lý Đợi và Bùi Chát. Con thấy hơi tội nghiệp hai ông em, con say, con không chịu đi taxi về, con nhất định phải đi bộ cho bằng được hết 2 cây số về khách sạn. Trên đường về khách sạn thì chắc chắn là con đã lải nhải cái gì á con không nhớ, nhưng con chỉ nhớ là con lải nhải rất nhiều.

Khổ ghê. Tính nói nhiều của tôi khi trúng đài.

Nên nè hai anh bạn nhỏ Ly DoiBui Quang Vien , dù say không phải ai tôi cũng nói, hôm nay tôi xin hai bạn bỏ qua cho tôi. Hôm đó tôi đã quá làm phiền hai bạn – đi gì cả một chặng đường dài. Vừa đưa tôi đi lại còn phải nghe tôi đổ rác chảy cả máu tai, tôi thấy mình thật là có lỗi. Hôm nay tôi mới có đủ can đảm để nhớ lại và thật tình xin lỗi, và cám ơn thật nhiều hai người đã cứu tôi.

Again thank you, I owe both of you one. And I always pay my debt.

SS Ayrfield, Sydney Olympic Park. Nguyễn Thị Phương Trâm chụp

Nhà văn nhà thơ nhà báo nhà viết lách họ khác với người thường của mình nha. Mình đọc những tác phẩm của họ, mình nghe thấy có cả một cánh rừng trôi nổi giữa biển khơi, nên mình đi kiếm cho bằng được.

Mà cánh rừng khi mắt mình tận thấy nó làm sao nhỉ. Cánh rừng của nó lưa thưa nhỏ xíu chưa đủ lông lá để che cho chị E Và ngày nàng bị đuổi ra địa đàng vì cái tội dụ dỗ anh khờ A Đam ăn trái táo cấm.

Nhưng mình vẫn thấy sướng dù rằng chân tay mình rã rời mồ hôi ướt át đỏ cả mặt như mấy anh say rượu cuối tuần không muốn đi về nghe vợ(chồng) giảng.

– tại sao anh cần phải uống nhiều như vậy.

À, hình như mình bị lạc đề rồi. Mình không phải là nhà văn.

Mình xin lỗi nha.

SS Ayrfield, Sydney Olympic Park. Nguyễn Thị Phương Trâm chụp
Nguyễn Thị Phương Trâm & Son in Boun Ma Thuot

Con trai dỗ dành mẹ hơn mấy tuần lễ.

Mẹ bị mất trí(Transient Global Amnesia) hết 24 tiếng, mẹ nhõng nhẽo, con ngồi kiên trì lau từng dòng nước mắt cho mẹ.

Mẹ thích cà phê, con đã gọi cho mẹ hai ly cà phê hạt vừa rang vừa mới xay ra thơm phức, ngon nhất Sài Gòn.

Mẹ bị ám ảnh uống cocktail dở, con rủ mẹ đến góc phố pha cho mẹ ly cocktail ngon hơn tưởng tượng để chữa lành.

Bạn của mẹ cho mẹ leo cây, con chạy đến uống phụ mẹ hết chai rượu lạ rồi đưa mẹ về phòng.

Con trai và một người mẹ hạnh phúc.

“I don’t speak Vietnamese, I did when I was very young. Until I was 3 years old. You can’t push all the blame on, uhm, I don’t even want to use the word blame. Because it has a negative connotation if you know what I mean. My parents want the best for me in a land that is foreign to them”

Keshi

Không dịch thơ. Không làm dược sĩ nữa.

Không biết mai mốt mình sẽ làm cái gì? Thơ của mình thì chán chết. Viết thì khó.

Chó cũng không có. Sức khỏe thì như trâu, ngồi đợi chết cũng không được.

Không lẽ cứ kiếm chuyện với Trump mãi.

Đừng cãi nữa. Làm thơ là hay nhất.

Văn Chương như “một cuộc diễu hành” của Nguyễn Hưng Quốc, là the collective memory của một cộng đồng vượt biên giới. Mỏng manh như tháng tư?

Tiền như rác như vị trí của bạn trong xã hội. Bạn là hai bàn tay trắng trong nước của người ta.

Ở ngoài khơi bạn bay như con cá chim với con thuyền tỵ nạn. Chết sống là những đứa con gái mà những người ân nhân của bạn đã bắt cóc đem về làm điếm là còn may.

Thống nhất là sự hy sinh của ba má tôi.

Nên tôi xin bạn đừng có hoang phí quá với những con chữ của bạn. Đừng để tôi pity sự hời hợt của bạn.

Sự múa máy của hai ngón tay phải của bạn đang chỉ vào mặt tôi hay đang tự sướng? Cái đỉnh của sự nhục nhã tủi nhục đen như bóng tối trong hộp sọ của bạn.

Rơi hoài rơi mãi là mưa của tháng tư, khi tôi nằm xuống thành bữa cơm cho loài giòi thơm phức mùi vĩ đại một mùi thúi của một số phận vất đi.

Nguyễn Thị Phương Trâm
Nguyễn Thị Phương Trâm
Nguyễn Thị Phương Trâm

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

annoyed with the cat | Hương Cỏ May

A poem in Vietnamese by Hương Cỏ May
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

GIẬN CON MÈO


Đơn côi tôi tự dỗ tôi
gió đùa
nắng chạy
biết nơi nào tìm?
Con mèo…ngủ gật lim dim
quên đông 
rét lạnh 
tự êm ấm mình
Tôi ngồi khóc suốt bình minh
nắng sang
gió đến
…tôi quên con mèo!!!
Hương Cỏ May
(bài thơ viết tặng…con mèo🥰
bẻ lái gấp quá đến quên cả vần😅)

alone I consoled myself 
the breeze giddy
the sun playful
where could it be?
the cat… nodding off in a corner somewhere
ignoring the winter
the chill
consoled by its own warmth
I sat crying through the sunrise
through the everyday light
welcomed the breeze
… I forgot about the cat!!!


Hương cỏ may, the poet lives in Hanoi, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.