Will you meet me at dawn to then abandon me at dusk | Nguyễn Thị Phương Trâm

Nguyễn Thị Phương Trâm @Six Sense Con Dao May 2018

a poem by Nguyễn Thị Phương Trâm

De Glorious Delight Ghanian Cuisine, Black town. Australia.

Tối hôm qua, lần đầu tiên tình cờ ta được ăn ẩm thực từ Ghani với con trai. Nhìn miếng cá thu chiên thì lại nhớ đến bữa cơm mẹ ta nấu sau 75, chỉ thiếu xốt cà xào với hành tỏi.

Nhớ tám năm dịch thơ của bạn.

Con trai nhìn mẹ – chuyện đó đã xong. Người đốt cháy con cầu đó không phải là mẹ. Mẹ hiểu. Nhưng mẹ vẫn buồn.

Đón con tàu điện về sau bữa ăn tôi ngộ ra, chữ như điện ta có nó nhờ nắng, không có nắng ta hỏi gió, không có gió ta xin mưa từ mây ta sẽ có sóng.

Hiểu.

Nhưng ta vẫn buồn.

“will you come home so I may have something to look forward to
the excitement and joy of warm human flesh”*

will you meet me at dawn
to then abandon me at dusk

the warm rain is still fresh on my brow
grey numbness echoes still through the clouds

you promised me nothing
and I expected naught
the frivolity of the moment lost
weigh heavy
on my ring finger

no nearer
but further
the distance between us

the moment
I wanted to kiss your hands

*THƠ LÊ VĨNH TÀI

translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

“em có về không để tôi còn đón đợi
còn hân hoan còn mong ngóng hơi người…”

lúc bình minh anh có gặp em không
để rồi bỏ rơi em lúc hoàng hôn chạng vạng

cơn mưa ấm vỡ ra trên lông mày
âm vang tê buốt màu xám vọng qua đám mây


anh chẳng hứa gì với em cả
và em đã không mong đợi điều gì
sự nông nổi của khoảnh khắc đã mất
nặng nề trên ngón tay em
ngón tay đeo nhẫn của em


không gần hơn đâu
khoảng cách ngày càng xa hơn giữa hai chúng ta

khoảnh khắc
em muốn hôn tay anh

nhà thơ là cái công cụ làm thơ
thơ là cái công cụ cho tôi học tiếng việt
vậy tôi là cái công cụ dịch thơ

dịch giả là cái title sao nhỉ
đáng cười
hều

block = động từ hay

Reading to me is rather simple, it depends on my mood:

If I wanted to face my childhood trauma,
I read Phan Nhiên Hạo’s Radio mùa hè.

If I wanted to be turned on,
I read Đoàn Duy’s translations in Early Modern English.

If I wanted a quickie,
I read Nguyễn Hưng Quốc’s 909 tercets.

If I’m feeling amorous still and wanted foreplay,
I read an epic poem by Lê Vĩnh Tài.

It’s that simple
And these are mere examples of poets who are still alive.

All you need to do to survive each day is to keep everything as simple as you like it.
———-
Photo: Six Sense Con Dao May 2018

các anh ngồi xổm
chép kiều
đếm được bao nhiêu
các anh thạc sĩ biết nhiều

anh nào cũng thích
dịch – dịch –
dịch nàng

còn ta là ai, cái con mất gốc
ngày nào cũng tốc
mấy cái cốc
rượu

chúng làm ta ngốc
bốc gì bốc mãi mấy con chữ
người thiếu nữ
“hơi” dữ
đã quá

sao nhỉ?
già.

:))

Tôi luôn ngạc nhiên về điều, nhiều người muốn gặp tôi khi tôi về quê chơi, và tôi cũng đã bị họ vì lí do gì đó cho tôi leo cây đã ba lần.

Những cảm xúc bị bỏ rơi vừa dã man vừa lãng mạn, hình như, làm tôi rất thèm chúng?

Vì vậy, nếu bạn hẹn tôi, tôi vẫn đến, thậm chí, tôi sẽ đến trước cả tiếng đồng hồ để đợi bạn.

Vì về quê, tôi chỉ muốn gặp tôi.

Nguyễn Thị Phương Trâm

[50 năm – thuyền nhân]


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Bánh bông lan | Alan Alexander Milne

A poem by Alan Alexander Milne
Translator: Lê Vĩnh Tài

Bánh bông lan

Cottleston Pie

Bánh bông lan bánh bông lan bánh thuẫn
Một con ruồi biết bay không phải là chim, dù một con chim có thể bay.
Hãy hỏi tôi một câu và tôi trả lời
Bánh bông lan bánh thuẫn bánh bông lan

Bánh thuẫn không phải bánh bông lan bánh thuẫn
Tại sao lại là một con gà? Tôi không biết tại sao.
Đố tôi một câu đi để tôi trả lời
Bánh bông lan không phải là bánh thuẫn

Bánh thuẫn không thể là bánh bông lan
Một con cá không thể huýt sáo và tôi cũng vậy.
Hỏi tôi một câu và tôi trả lời
Bánh bông lan là bánh thuẫn bánh thuẫn không phải là bánh bông lan

Cottleston Cottleston Cottleston Pie,
A fly can’t bird, but a bird can fly.
Ask me a riddle and I reply
Cottleston Cottleston Cottleston Pie.

Cottleston Cottleston Cottleston Pie,
Why does a chicken? I don’t know why.
Ask me a riddle and I reply
Cottleston Cottleston Cottleston Pie.

Cottleston Cottleston Cottleston Pie,
A fish can’t whistle and neither can I.
Ask me a riddle and I reply
Cottleston Cottleston Cottleston Pie.


A. A. (Alan Alexander) Milne (1882-1956), famous for his stories about Winnie the Pooh and Christopher Robin, Tigger, Piglet and the rest, was a soldier in the Great War from 1915 to 1919 — including the Battle of the Somme. Milne’s poem “From a Full Heart” was included in The Sunny Side (1921), and prophesies his post-war retiring action from such woods as Delville, High, Mametz, and Trones, to Pooh’s “The Hundred Acre Wood.”
Milne died in England in 1956

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Writing on the wall | Alexander Solzhenitsyn

Nếu như những kẻ ác cứ âm thầm làm việc ác thì chúng ta cần phải gom chúng lại (ra) khỏi chúng ta và tiêu diệt chúng. Nhưng con đường phân chia (khác nghĩa với chia sẻ nha) giữa thiện và ác cắt ngang ngay giữa trái tim của mỗi chúng ta, và liệu ai trong chúng ta sẽ tự tay bóp nát một mảnh trái tim của mình?

translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài


Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn [1918-2008] là một nhà văn người Nga và nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng của Liên Xô, người đã giúp nâng cao nhận thức toàn cầu về đàn áp chính trị ở Liên Xô, đặc biệt là hệ thống nhà tù Gulag.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Đêm bạn ghé thăm | Anna Akhmatova

A poem by Anna Akhmatova
Translators: Lê Vĩnh Tài & Sấu Mã

ĐÊM BẠN GHÉ THĂM

NIGHT VISIT

CHUYẾN VIẾNG THĂM BAN ĐÊM

“Những cây cột điện đã ra đi, và không ai còn quay lại”

Bạn sẽ không chờ đợi trên một con đường rải nhựa
Hay phủ đầy lá bay bay
Nhưng trong các bài hát chậm và buồn adagio của gã nhạc sĩ thiên tài Vivaldi
Một lần nữa chúng ta sẽ gặp nhau

Những ngọn nến sẽ leo lét ngọn lửa mù mờ
Màu vàng bỏ bùa vào giấc ngủ
Sẽ không ai cúi đầu hỏi làm thế nào bạn đến
Để khư khư giữ giấc ngủ của tôi
Trong những lời than thở, chết người và thầm lặng
Chúng ta sẽ trải qua một giờ hoặc hơn thế nữa
để tha hồ mà mơ

Bạn, tất nhiên, sẽ săm soi lòng bàn tay tôi
Những chỉ tay vẫn rối tung như trước
Và rồi nỗi lo lắng vô cùng
Mà bây giờ là số phận của bạn
Sẽ dẫn bạn vào lòng của biển khơi băng giá
Xa cả tôi và căn phòng của tôi

[Lê Vĩnh Tài]

“Everyone left, and no one came back.”
You won’t wait on a path that’s asphalty,
Or in a leaf-covered street.
But in some adagio by Vivaldi
Again we’ll meet.

The candles will show a dim yellow flame,
Bewitched by sleep,
But the bow won’t ask how it was you came
To my midnight keep.
In lamentation, deadly and calm,
We’ll pass an hour or more,

You, of course, will read in my palm
Such wonders as before.
And then that great anxiety
Which is now your doom
Will lead you into the icy sea,
Far from me and my room.

Tất cả ra đi, và không ai trở lại

Muốn về trên đường nhựa đầy lá rụng
Người sẽ phải đợi lâu.
Giờ ta gặp nhau
Trong giai điệu Vivaldi dìu dặt.
Cây nến tỏa ánh vàng ủ dột
Giam mình bằng giấc ngủ mê,
Chiếc mã vĩ không hỏi người đã về bằng cách nào kia
Trong ngôi nhà nửa đêm của tôi u uẩn.
Theo âm điệu muộn sầu
Nửa tiếng đồng hồ trôi qua lặng lẽ,
Người đã đọc từ lòng tay tôi
Điều lạ lùng như thế.
Và khi đó sự bất an,
Vốn làm thành định mệnh của người
Đưa người rời bậc cửa nhà tôi
Trong làn buốt giá.

[Sấu Mã]
10-13 tháng Chín, 1963
Анна Ахматова (1889-1966) qua nét cọ của Юрий Анненков (1889-1974)


Anna Akhmatova [1889–1966}, Anna Andreyevna Gorenko, better known by the pen name Anna Akhmatova, was one of the most significant Russian poets of 20th century. She was shortlisted for the Nobel Prize in 1965 and received second-most nominations for the award the following year.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Sấu Mã, the poet is a retired professor living in Vietnam.

Người lúc nào cũng yêu nhiều hơn | Auden

Flowers in Ban Me Thuot, Vietnam. Arranged and captured by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in English by Wystan Hugh Auden
Translator: Lê Vĩnh Tài


khi nhìn lên những vì sao, tôi biết
chúng không thèm nghĩ tôi có thể rơi vào đia ngục
trái đất này rất ít sự thờ ơ
chúng ta phải sợ
cả con người và con thú

làm thế nào chúng ta vẫn thích những ngôi sao
niềm đam mê chúng ta không còn quay lại?


tình yêu không bao giờ bình đẳng
người yêu nhiều hơn là tôi
người ngưỡng mộ hơn là tôi
những ngôi sao không quan tâm
tôi đã bỏ lỡ một ngày kinh khủng

tất cả các ngôi sao đã chết
tôi nhìn bầu trời trống rỗng
một mình cảm thấy toàn bộ bóng tối
dù điều này làm tôi mất chút thời gian
gian nan yêu em nhiều hơn em nghĩ

THE MORE LOVING ONE

*W. H. Auden

Looking up at the stars, I know quite well
That, for all they care, I can go to hell,
But on earth indifference is the least
We have to dread from man or beast.

How should we like it were stars to burn
With a passion for us we could not return?
If equal affection cannot be,
Let the more loving one be me.

Admirer as I think I am
Of stars that do not give a damn,
I cannot, now I see them, say
I missed one terribly all day.

Were all stars to disappear or die,
I should learn to look at an empty sky
And feel its total dark sublime,
Though this might take me a little time.


Wystan Hugh Auden [1907-1973] was a British-American poet.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

chú chim xanh | Charles Bukowski

Gái Xuân, by Đinh Trường Chinh

A poem by Charles Bukowski
Translator: Lê Vĩnh Tài

Bluebird

có một con chim xanh trong trái tim tôi
nó muốn thoát ra
nhưng đời nào tôi chịu
tôi nói, ở yên đó, tôi sẽ không để cho ai đó nhìn thấy


có một con chim xanh trong trái tim tôi
nó muốn thoát ra
nhưng tôi đổ rượu whisky lên đầu nó và hít một hơi
thuốc lá
nên những người đàn bà và những người pha chế rượu
những nhân viên bán hàng tạp hóa
không bao giờ biết
nó ở trong tim tôi.

có một con chim xanh trong trái tim tôi
nó muốn thoát ra
nhưng đời nào tôi chịu

tôi nói,
nằm xuống đi, mày muốn lộn xộn à?
hay mày muốn làm hỏng việc?
mày muốn thổi bay doanh số bán sách của tao ở châu Âu?

có một con chim xanh trong trái tim tôi
nó muốn thoát ra
nhưng tôi thừa biết, tôi chỉ thỉnh thoảng vào ban đêm
khi mọi người đã ngủ.

tôi nói, tao biết mày đang ở đó,
vì thế mày đừng buồn.

sau đó tôi bắt nó quay lại lồng ngực tôi,
cho nó hát một chút
tôi không cho phép nó chết

và chúng tôi vẫn ngủ cùng nhau như thế

những điều đó
với chúng tôi là hiệp ước bí mật
và nó đủ để làm một người đàn ông
khóc, nhưng tôi không
khóc, còn em
thì sao?

there’s a bluebird in my heart that
wants to get out
but I’m too tough for him,
I say, stay in there, I’m not going
to let anybody see
you.
there’s a bluebird in my heart that
wants to get out
but I pour whiskey on him and inhale
cigarette smoke
and the whores and the bartenders
and the grocery clerks
never know that
he’s
in there.

there’s a bluebird in my heart that
wants to get out
but I’m too tough for him,
I say,
stay down, do you want to mess
me up?
you want to screw up the
works?
you want to blow my book sales in
Europe?
there’s a bluebird in my heart that
wants to get out
but I’m too clever, I only let him out
at night sometimes
when everybody’s asleep.
I say, I know that you’re there,
so don’t be
sad.
then I put him back,
but he’s singing a little
in there, I haven’t quite let him
die
and we sleep together like
that
with our
secret pact
and it’s nice enough to
make a man
weep, but I don’t
weep, do
you?


Charles Bukowski [1920-1994] là một trong những nhà thơ Mỹ nổi tiếng nhất thời bấy giờ. Ông được xuất bản lần đầu tiên ở độ tuổi 20, nhưng đã từ bỏ việc viết nghiêm túc cho thế giới công việc và quán bar. Anh ấy đã dành rất nhiều thời gian để chuyển từ công việc này sang công việc khác, sống trong những ngôi nhà chia phòng từ bờ Đông sang bờ Tây trước khi gia nhập Bưu điện Hoa Kỳ ở Los Angeles. Cuộc sống của ông vào thời điểm đó giáp với sự điên loạn và cái chết, hai chủ đề phổ biến trong tác phẩm của ông.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Người hoa tiêu | Charles Simic

A poem in English by Charles Simic
Translator: Lê Vĩnh Tài
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

NGƯỜI HOA TIÊU

NAVIGATOR

tôi gọi Christopher Columbus.
vào lúc của chó sói,
ông bước ra từ bóng tối
nhìn hơi giống bố tôi.

trong chuyến hải hành đặc biệt này
ông không còn phát hiện ra gì cả.
đại dương tôi đưa cho ông mênh mông
không có đường chân trời
và con tàu của ông chỉ là một chiếc vali đang mở.

ông hoàn toàn lạc lối. tôi cũng quên đưa cho ông
các ngôi sao.
ông hát một bài hát từ thời thơ ấu của mình.

trong bài hát ngày đang tàn.
có một cô gái chân trần
băng qua cỏ ướt
để hái một nhánh bạc hà.

và sau đó cũng không có gì-
chỉ gió thổi với tiếng rít của nó
như thể nó vừa nhớ ra
nó đang đi đâu, nó đã ở đâu.

I summoned Christopher Columbus.
At the hour of the wolf,
He came out of the gloom
Looking a little like my father.

On this particular voyage
He discovered nothing.
The ocean I gave him had no end,
And the ship—an open suitcase.

He was thoroughly lost. I had forgotten to provide
the stars.
He sang a song from his childhood.

In the song the day was breaking.
A barefoot girl
Stepped over the wet grass
To pick a sprig of mint.

And then nothing—
Only the wind rushing off with a screech
As if it just remembered
Where it’s going, where it’s been.


Dušan Simić, born: on 9 May 1938, known as Charles Simic, is a Serbian American poet and former co-poetry editor of the Paris Review. He received the Pulitzer Prize for Poetry in 1990 for The World Doesn’t End, and was a finalist for the Pulitzer Prize in 1986 for Selected Poems, 1963–1983 and in 1987 for Unending Blues.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

night, tipsy | Dư Đằng Duy

Sydney Harbour Bridge, Vivid, Winter 2017. Photography: Nguyễn Thị phương Trâm

A poem in Vietnamese by Dư Đằng Duy
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

you’ve swallowed thousands of drinks
savoured over and over again the cold dew
fractured branches
ants crawling around in a dreary corner
you’ve drank to the last drop, hues of the moon
saw to the end of the lunar cycle
you’ve forged and melted the sunset
in scattered falling pieces of broken stars
to your heart, swallowed a sword 
dangled ruins from the tumulus of dew
followed by the sadness of past lives
fathomless in the realms of endless heavens.

May 2022
—–

đ ê m  s a y

người nuốt ngàn ly rượu
ngậm tràn sương lạnh biệt trùng
nhánh cây nứt nẻ
con kiến bò quanh quẩn góc thê lương
người uống cạn màu trăng 
soi tận cùng đêm nguyệt tận
người nung chảy hoàng hôn
rơi rớt những vì sao vỡ vụn
nuốt thanh kiếm tận trái tim
treo tàn tích trên nấm mộ sương
những nỗi buồn theo sau tiền kiếp
dằng dặc sâu mấy cõi trùng thiên.


Dư Đằng Duy, the poet from Vietnam is currently living in Sydney, Australia.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.