Pierre de soleil | Octavio Paz

A poem by Octavio Paz
A translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

sống chiến đấu lao động theo gương một ông vĩ đại
nên nếu hai người hôn nhau
thế giới này sẽ thay đổi, toàn ham muốn xác thịt

ám ảnh xác thịt làm mọc ra đôi cánh
trên lưng người nô lệ, thế giới là có thật
mọi thứ có thể sờ mó được, giai cấp công nông là công nông
rượu là rượu, bánh mì là bánh mì
nước lấy lại mùi vị của nó, chỉ là nước lã

yêu là chiến đấu, mở ra những cánh cửa
để không còn là một bóng ma, có số năm tù đằng đẳng
mãi mãi bị xích, mãi mãi bị kết án
bởi một kẻ vĩ đại nhưng hắn lại không có gương mặt

live is to battle, if two kiss
The world changes, desires take flesh,
Thoughts take flesh, wings sprout
On the backs of the slave, the world is real
And tangible, wine is wine, bread
Regains its savour, water is water,
To love is to battle, to open doors,
To cease to be a ghost with a number
Forever in chains, forever condemned
By a faceless master


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Octavio Paz [1914-1988] was a Mexican poet and diplomat. For his body of work, he was awarded the 1977 Jerusalem Prize, the 1981 Miguel de Cervantes Prize, the 1982 Neustadt International Prize for Literature, and the 1990 Nobel Prize in Literature.

CHỈ LÀ CÁI CHẾT | Pablo Neruda

Art by Hồng Ngọc

A poem by Pablo Neruda
A translation from English into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Art: Hồng Ngọc

Có nghĩa trang nằm biệt lập,
Những ngôi mộ đầy xương lặng câm,
Khi trái tim đi qua đường hầm,
Bóng tối, bóng tối, bóng tối:

Chúng ta chết như thể một con tàu chìm
Chúng ta đắm chìm tận trong tim,
Chìm từ thịt da đến tâm hồn.

Có xác chết,
Có những bàn chân ướt át,
Cái chết nằm sâu trong xương,
Như tiếng sủa mà không có con chó nào,
Vang ra từ chiếc chuông nào đó, những ngôi mộ nào đó,
Bị sưng lên ẩm ướt như lời than thở.

Một mình, đôi khi, tôi thấy
Chiếc quan tài nằm dưới cánh buồm
Mà mỏ neo nặng nhợt nhạt như xác chết, như nàng vừa thắt bím tóc xong cũng chết,
Cái quan tài dựng đứng như dòng sông
của người chết, dòng sông máu tím bầm,
Gắng lội ngược dòng, cánh buồm căng ra trong bụi mờ
Tràn ngập âm thanh như sự im lặng của cái chết.

Đó là âm thanh mà cái chết đã rút ra,
Như chiếc giày không có bàn chân, như bộ quần áo không còn có ai bên trong nó,
Nó vẽ thành chiếc nhẫn mà không có ngón tay,
Nó vẽ ra tiếng kêu mà không có miệng và cổ họng.

Không còn nghi ngờ gì nữa, bạn có thể nghe thấy bước chân của cái chết,
Quần áo của cái chết xào xạc như tiếng lá của một cái cây.

Tôi không biết, tôi không hiểu, tôi hầu như không thể nhìn thấy
Nhưng tôi tin bài ca của cái chết là màu của cánh hoa violet bị ướt,

Bởi vì gương mặt của cái chết có màu xanh lá cây,
Và cái nhìn của nó có màu xanh lục
Với sự ẩm ướt của chiếc lá màu tím
Những màu sắc nghiêm trọng của mùa đông.

Rồi cái chết cũng đi khắp nơi, nó cưỡi một cây chổi,
Le lưỡi liếm lên mặt đất tìm một cái xác;
Cây chổi, đó là lưỡi của tử thần đi tìm xác chết,
Đó là mũi kim khi cái chết luồn qua dây thun lưng quần của chúng ta.

Cái chết nằm trên giường:
Trên những tấm nệm chậm chạp, trong những tấm chăn màu đen
Cái chết vươn dài ra thành dây phơi quần áo, đột ngột gió thổi bay,
Một âm thanh đen tối làm phồng lên những tờ giấy

Và cái giường lúc này như chiếc thuyền đang chèo vào bến cảng
Nơi cái chết đang chờ đợi chúng ta, nó ăn diện như một ông quan đô đốc.

ONLY DEATH



There are isolated cemeteries,
Tombs filled with mute bones,
The heart going through a tunnel,
Shadowy, shadowy, shadowy:

We die as if a ship were going down inside us,
Like a drowning in the heart,
Like falling endlessly from the skin to the soul.

There are corpses,
There are feet of clammy stone,
There is death in the bones,
Like pure sound,
Like a bark without a dog,
Growing out of certain bells, certain tombs,
Swelling in the humidity like a lament or like rain.

Alone, sometimes, I see
Coffins under sail
Weighing anchor with the pale dead, with women in their dead braids,
With bakers white as angels,
Thoughtful girls married to accountants,
Coffins climbing the vertical river of the dead,
The bruise-colored river,
Laboring upstream, sails billowing with the sound of death,
Billowing with the sound of the silence of death.

It’s sound that death is drawn to,
Like a shoe without a foot, like a suit with no man in it,
It’s drawn to knock with a ring, stoneless and fingerless,
It’s drawn to call out without a mouth, a tongue, a throat.

No question, you can hear death’s footsteps,
And death’s clothes rustle, quiet as a tree.
I don’t know, I don’t get it, I can hardly see
But I believe that death’s song is the color of wet violets,
Violets accustomed to the earth,
Because the face of death is green,
And the gaze of death is green
With the sharp wetness of the leaf of a violet
And its serious color of wintry impatience.

But death also goes about the earth riding a broom,
Licking the ground looking for the dead ones;
Death is in the broom,
It’s death’s tongue looking for the dead,
It’s death’s needle that needs threading.

Death is in the bedsteads:
In the slow mattresses, in the black blankets
Death stretches out like a clothesline, and then suddenly blows,
Blows a dark sound that swells the sheets

And beds are sailing into a harbor
Where death is waiting, dressed as an admiral.


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Pablo Neruda [1904-1973]was a Chilean poet-diplomat and politician who won the 1971 Nobel Prize in Literature. Neruda became known as a poet when he was 13 years old, and wrote in a variety of styles.

All Souls | Paul Celan

Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem by Paul Celan
A translation into Vietnamese from English by Lê Vĩnh Tài

Tôi đã
làm gì?
đêm kết tinh, như thể
vẫn còn có những đêm còn đêm
hơn thế

Chim bay, đá bay, ngàn
lối mòn được kể. Liếc
mắt và gan dạ. Biển
đã nếm, đã say, đã mơ. Linh hồn
bị lu mờ như nhật thực một giờ. Tiếp theo, ánh sáng mùa thu,
mang đến một
cảm giác tối
như bị mù. Những người khác, rất nhiều,
không có chỗ nào khác ngoài địa ngục của họ; nhìn thoáng qua và sợ.

Đứa bé bị bỏ rơi, những ngôi sao,
màu đen, ngôn ngữ ngập tràn; (mọi thứ) được đặt tên
theo một lời thề mà sự im lặng bị phá bỏ.

Và một khi (khi nào? điều đó cũng bị lãng quên):
cảm thấy sự gờn gợn như kẻ nào nhạo báng
ngay nơi
mạch máu của tôi thách thức kẻ nào dám đập ngược lại

What did I
do?
Seminated the night, as though
there could be others, more nocturnal than
this one.

Bird flight, stone flight, a thousand
described routes. Glances
purloined and plucked. The sea,
tasted, drunk away, dreamed away. An hour
soul-eclipsed. The next, an autumn light,
offered up to a blind
feeling which came that way. Others, many,
with no place but their own heavet centres; glimpsed and
avoided.
Foundlings, stars,
black, full of language; named
after an oath which silence annulled.

And once (when? that too is forgotten):
felt the barb
where my pulse dared the counter-beat.


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Paul Celan [1920-1970] was a Romanian-born German-language poet and translator. He was born as Paul Antschel to a Jewish family in Cernăuți, in the then Kingdom of Romania, and adopted the pseudonym “Paul Celan”. He became one of the major German-language poets of the post-World War II era.

Sympathy | Paul Laurence Dunbar

A poem by Paul Laurence Dunbar
Translator: Lê Vĩnh Tài

Nỗi niềm của con chim trong lồng, nàng ôi
Khi nắng chói chang trên sườn đồi
Khi gió khẽ lay qua đám cỏ
Mùa xuân và dòng sông chảy như thủy tinh vỡ
Con chim đầu tiên sẽ hót và nụ hoa đầu tiên sẽ nở
Và mùi hương thoảng bay từ chiếc chén thánh của nó (*)
Bị kẻ nào đánh cắp

Tôi biết tại sao con chim trong lồng đập cánh
Cho đến khi máu nó nhuốm đỏ các chấn song tàn ác
Nó đau đớn đu đưa trên que ngang giả làm cành cây
Một nỗi đau nhói lên trong vết sẹo tưởng đã lành
Những vết sẹo vẫn làm đau vết thương đã cũ

Tôi biết tại sao chú chim đập cánh, than ôi
Cánh nó bị bầm tím ngực nó nhức buốt lắm rồi
Nó muốn bẻ gãy các thanh đan của cái lồng
Tìm tự do cho nó

Không phải là bài hát mừng, hân hoan hay đau đớn
Đó là lời cầu nguyện mà nó gửi từ sâu thẳm trái tim
Như một cầu xin, nó ném thẳng lên tận ông trời

Tôi biết tại sao con chim nhốt trong lồng vẫn hót…
———
(*): Con chim không thể bay đi để ngửi thấy mùi thơm tỏa ra từ một nụ hoa đang hé nở (“the first opes”).
Đang mùi của hoa, bài thơ dùng một ẩn dụ ở đây, khi “hương thơm thoang thoảng” của bông hoa bị “đánh cắp” (trong trường hợp này, tự dưng xuất hiện “chén bị đánh cắp”. Chén dùng để uống rượu. Ở đây, bài thơ đề cập đến bông hoa hóa thành một “chiếc chén / cốc”, một chiếc cốc đựng rượu, từ đó tỏa ra một mùi hương tuyệt đẹp. Mùi của rượu (hay bia đen?)

Chữ “đánh cắp” chắc là do vậy.

Bằng cách lặp lại “I know what the caged bird feels” ở cuối bài thơ này, tác giả muốn nhấn mạnh sự đồng nhất nỗi buồn của mình với nỗi buồn của con chim. Đó là cách anh ấy nói với chúng ta rằng anh ấy cũng rất buồn. Vì con chim này bị nhốt trong lồng, nên nỗi buồn của anh là nỗi buồn không có tự do


I know what the caged bird feels, alas!
When the sun is bright on the upland slopes;
When the wind stirs soft through the springing grass,
And the river flows like a stream of glass;
When the first bird sings and the first bud opes,
And the faint perfume from its chalice steals—
I know what the caged bird feels!

I know why the caged bird beats his wing
Till its blood is red on the cruel bars;
For he must fly back to his perch and cling
When he fain would be on the bough a-swing;
And a pain still throbs in the old, old scars
And they pulse again with a keener sting—
I know why he beats his wing!

I know why the caged bird sings, ah me,
When his wing is bruised and his bosom sore,—
When he beats his bars and he would be free;
It is not a carol of joy or glee,
But a prayer that he sends from his heart’s deep core,
But a plea, that upward to Heaven he flings—
I know why the caged bird sings!


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Paul Laurence Dunbar [1872 – 1906] was an American poet, novelist, and short story writer of the late 19th and early 20th centuries. Born in Dayton, Ohio, to parents who had been enslaved in Kentucky before the American Civil War, Dunbar began writing stories and verse when he was a child.

4 haiku tribute to Thầy Thích Nhất Hạnh | Pháp Hoan

kính tiễn Thích Nhất Hạnh trở về với quê hương đích thực. tin ông ra đi trong một ngày tuyết lạnh nơi tôi ở, mút phía bên kia địa cầu...22nd January 2022. Art by Đinh Trường Chinh

4 Haiku in Vietnamese by Pháp Hoan
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

At the hour of the rat you’re gone
Thầy, you’ve travelled beyond
upon the setting moon past the hill
*
Returning how so
to the temple of old
all wrapped in the rain.
*
Ten years in your presence
Thầy, you’re the moon’s luminance
across the overflowing pond.
*
Thầy, you’ve headed for the road
in the icy Eastern wind
two shores between one ocean.
.
NB.*”Thầy” is interchangeable with “sir” and “reverend”

22nd January 2022

4 bài haiku tiễn Thầy – Pháp Hoan (法歡)

Thầy đã đi rồi
canh ba trăng lặn
phía sau ngọn đồi.
*
Làm sao trở về
chùa xưa mưa đã
giăng khắp bốn bề.
*
Mười năm gặp Thầy
một vầng trăng tỏ
soi ao nước đầy.
*
Thầy đã lên đường
gió đông thổi buốt
hai bờ đại dương.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Pháp Hoan, born Mai Công Lập in 1992, in Bình Thuận, Vietnam. The poet and translator currently living in Vancouver, Canada.

Out of Nowhere | Phương Anh

A poem in Vietnamese by Phương Anh
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Out of Nowhere

Tự Dưng

Suddenly there, out of the sky fell
The tender woven verses through the alleyway
Her footsteps, approaching dewdrops
Poetry embracing a gorgeous far away moon…

Suddenly there, out of him fell the poem
Making her shy, the bashful word
Her footsteps, rising spirit
Fatefully whisked away by the sad verse…

Suddenly there, from its very origin
The pounding verse reverberating through the city
Her footsteps, across the sky resounding
Poetry set forth upon the four seasons…

Suddenly there, the frolicking verses
Through hair locks upon the flesh
Her footsteps proud, her head held high
Poetry’s humorous whisper in a dream…
_____
FEBRUARY 2022
_____

Tự dưng, thơ rớt từ trời
Rơi vòng quanh lối vạn lời thiết tha
Em đi, nhấp dáng sương sa
Thơ ôm vào mộng trăng xa tuyệt vời…

Tự dưng, thơ đến từ người
Buộc em e thẹn nửa lời thốt sao
Em đi, hồn nguyện lên cao
Duyên ơi nâng nhẹ thơ xao xuyến buồn…

Tự dưng, thơ thấm từ nguồn
Gõ theo vần điệu vang muôn khánh thành
Em đi, bước nhịp thiên thanh
Ngỡ đâu thơ đến vội quanh bốn mùa…

Tự dưng, thơ đến vui đùa
Luồn theo khẽ tóc lướt da miệt mài
Em đi, cổ ngước trang đài
Tự thơ thủ thỉ khôi hài giấc mơ…


Phương Anh
2010


Phương Anh, the poet was born in South Vietnam and currently a practicing medical doctor in Sydney, Australia.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Sonnet | Robert Pinsky

A poem by Robert Pinsky
A translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

Nắng chiều trên lưng nàng,
êm đềm một cách bất thường tát
nước vào bến.

Những cây thông gầy guộc cheo
leo trên đỉnh đồi
không có gì đáng nhớ,

Chỉ cùng một cái hồ
mà không ngừng phát ra những tiếng kêu giống nhau
dưới hai má nàng

và ánh đèn nhấp nháy cùng một màu.
Không ai nói tên cô ấy,
không cần, không cần ai ca ngợi nàng

chỉ có giọng nói của cái hồ – cứ lặp đi
lặp lại, để giữ nó trước mặt nàng

Chim Hải, Trâm, Nguyễn Cường at the NSW Art Galleries, October 20th, 2018.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Robert Pinsky is an American poet and essayist, born 1940, Long Branch, New Jersey, United States

Ta chọn yêu em trong im lặng… | RUMI

Coleman Barks’ RUMI
Translation into Vietnamese by Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Our next door neighbour’s flowers

Ta chọn yêu em trong im lặng…
Vì im lặng không có sự từ chối,

Ta chọn yêu em trong cô đơn…
Vì trong cô đơn em không của ai mà chỉ là của ta

Ta chọn thương em từ xa…
Vì khoảng cách sẽ che chở ta khỏi nỗi đau,

Ta chọn hôn em trong gió…
Vì gió mềm hơn môi ta,

Ta chọn ôm em trong giấc mơ…
Vì trong giấc mơ, em sẽ là mãi mãi.

#songngutaitram
Coleman Barks’ RUMI, M translated on February 26, 2020


Jalāl al-Dīn Muḥammad Rūmī [1207-1273] also known as Jalāl al-Dīn Muḥammad Balkhī, Mevlânâ/Mawlānā and Mevlevî/Mawlawī, but more popularly known simply as Rumi, was a 13th-century poet, Hanafi faqih, Islamic scholar, Maturidi theologian and Sufi mystic originally from Greater Khorasan in Greater Iran.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.