allegro is the tempo of time | Lê Vĩnh Tài [472]

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

allegro
is the tempo
of time

dying petals
flutters of butterfly wings

.
for now I will note for you
the source of my longing

the mixed up letters reminding me
that I’m still alive
I don’t want to be forgotten

letters free flowing in a river
like that border

but that border, our border
where might it be?

thời gian để lại một giai điệu
quá gấp

như cánh hoa phai tàn
con bướm lướt qua

.
hôm nay anh viết cho em
một dòng

chữ nhầm lẫn vì nó cứ nhớ
là anh còn sống
không muốn bị lãng quên

một dòng chữ
như đường ranh giới

ranh giới của chúng ta ở đâu?


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Ngưu Lang | Nguyễn Thị Minh Ngọc

Nguyễn Thị Minh Ngọc. foto by Tino Cao.

truyện ngắn Nguyễn Thị Minh Ngọc
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

[a body of work in progress – unedited]

Ngưu Lang

Thế là, như mơ, tôi đứng giữa những người đàn bà và cả đàn ông khác màu da, tiếng nói. Ðêm đầu ở một nước lạ, dường như để dễ nhận ra, ai cũng kiếm những bộ cánh đặc biệt của mình. Những diễn viên của một nhà hát thổ dân Úc chúi vào nhau cười rúc rích, da mốc trắng lên vì trời lạnh, hệt như những người dân tộc tôi vẫn gặp hồi nhỏ ở Pleiku. Một phụ nữ có gương mặt như Phật, trang phục Trung Quốc của bà khiến ai cũng muốn gợi chuyện nhưng rồi lại thất vọng vì bà không biết tiếng Anh mà người thông dịch của bà thì lại chưa đến được. Những người Nam Hàn và Bắc Hàn lạnh lẽo nhìn nhau. Cô gái Nhật, sau một hồi nói chuyện về Kobo Abé, đưa danh thiếp cho tôi, mới hay cô ta là đại biểu đến từ Mỹ.

Ấn tượng đầu tiên của tôi ở Úc là thành phố Adelaide đẹp, nhiều người tốt. Nhưng có lẽ vì thời tiết quá lạnh và thức ăn lạ miệng nên cơn nhớ nhà cồn cào nổi lên khi về đến phòng riêng. Việc đầu tiên là gọi cho Liên đang ở cách đó hàng ngàn cây số, nhưng Liên sẽ nhắn cho những bạn khác. Và sau đó là điện thoại tới tấp của Quang, của Vũ, của Khiêm, của Philip, của Phượng và Bằng, của Dung và Lân. Ðứa nào cũng rủ tôi sau hội nghị ở lại chơi thêm vài tuần vì biết rồi có dịp nào sang đây nữa không. Nghe tôi kêu phải về để chuẩn bị cưới chồng, Quang cười dòn, hỏi phải vẫn cái ông “Mười năm luôn gặp mà tình không cũ?” Tôi đính chính mười một năm ba tháng hai ngày rồi. Giọng ngậm ngùi của những bà vợ, phê bình tôi cái gì cũng được, chỉ dở tệ đường chồng con. Mãi đến lúc không giờ, hẹn mai trò chuyện tiếp.

Khoảng ba giờ, chuông điện thoại reng. Tôi nhấc lên, bên kia đầu dây là tiếng khóc. Tiếng khóc của một người con trai trong đêm khuya nghe như đến từ một cõi khác. Tôi bật đèn, những bức hình đang cười toe quanh tôi như một tương phản lạ. Chúng tôi được phân về ở những ký túc xá sinh viên. Họ đang nghỉ hè. Chủ phòng tôi đang ở để nguyên cả mọi thứ tranh ảnh, sách báo, đàn, giày. Có đến cả phút, tiếng khóc ngưng. Rồi một giọng nói lạ vọng lên:

“Tôi là Phiêu!”

Hiểu rồi! Trước khi tôi sang Úc, Châu có nhờ tôi tìm xem Phiêu giờ sống ra sao, nhờ vậy mà không có số điện thoại lẫn địa chỉ. Châu dặn cứ cho biết Phiêu hồi xưa ở Việt Nam thường đóng những vai như Hamlet, Othello, Khuất Nguyên, Từ Hải v…v… Hồi nãy tôi có nhờ Quang, Quang nói biết tên này, sẽ nhờ người phăng ra. Trái đất nhỏ thật. Trước khi tôi lên máy bay, Châu còn dặn, nếu Phiêu hỏi Châu sống ra sao cứ nói rằng sống được. Rồi thôi! Ðừng cung cấp thêm một chi tiết nào nữa hết.

May quá, sau đó Phiêu vẫn chưa hỏi thăm gì về Châu mà dường như là một người đàn ông khác hẳn với người vừa khóc trước đó. Phiêu hỏi tôi cần gì? Thông dịch viên? Phương tiện di chuyển? Ðồ lạnh? Những địa chỉ nên đến để viết bài? Tôi kêu chỉ thèm cơm Việt Nam, nếu có rau muống dằm cà thì quá tuyệt.

Nói cho vui vậy thôi, không ngờ sau buổi họp chiều ra, nghe nhắn có hai vợ chồng ngồi đợi tôi một tiếng đồng hồ để đưa về nhà ăn cơm rau muống. Họ xưng là Ðức và Hiền, bạn của Phiêu. Tôi kéo theo Julie. Julie là tác giả vài vở kịch viết về Việt Nam, đã sang Việt Nam mấy lần, rất mê những người phụ nữ Việt Nam. Trời vài độ, chưa âm, có lẽ chưa bao giờ những cọng rau muống lúc đó với tôi lại ngon như vậy. Và mắm nữa chứ. Các thứ rau lạ quen có mặt đầy đủ, kinh giới, tía tô, rắp cá, thì là, lá to hơn nhưng hình như vị không nồng nàn bằng ở nhà. Nhất là ớt.

Julie kêu không bao giờ hiểu nổi những người Việt Nam này. Chưa gặp, chưa quen nhau bao giờ, chỉ qua vài lời giới thiệu bâng quơ trên điện thoại, lại có thể ngồi đợi cả tiếng đồng hồ, rồi kéo về nhà ăn uống chuyện trò như đã thân từ một kiếp khác. Ðức nói đơn giản vì Phiêu sống quá tốt với bạn bè nên anh cần bất cứ điều gì, chúng tôi mừng rỡ làm ngay vì rất ít có cơ hội trả ân anh. Thấy tôi có vẻ không rành lắm về Phiêu, Hiền cung cấp cho tôi một đoạn.

Vào những tháng ngày nghiệt ngã của năm 1979, cả gia đình Châu đi hết nhưng Châu ở lại vì mê nghề. Phiêu và Châu lúc ấy đang là hai diễn viên chính của một đoàn kịch mới lập. Sau một số vở thành công, đoàn lại có nguy cơ tan rã vì cả một tập thể đụng với người trưởng đoàn. Dầu được Thành Ðoàn ủng hộ, những diễn viên trụ cột vẫn bị buộc thôi việc gần hết, trong đó có Phiêu, Châu. Vác đơn đi kiện tiếp, họ dốc cả ruột gan cho người trưởng phòng tổ chức của cấp cao hơn. Sau đó, họ nhận thêm lệnh cấm biểu diễn trên địa bàn thành phố. Hóa ra, bà trưởng phòng nọ là chị họ của ông trưởng đoàn kia. Vậy là Châu giận dỗi kiếm đường sang Pháp với gia đình. Phiêu chỉ định đi tiễn bạn nhưng giờ chót Châu không đến, Người tài công tiếc một chuẩn bỏ nên kéo Phiêu đi thay. Sau một thời gian ở đảo khá dài, Phiêu tấp vào nước Úc.

Ðêm đó, khoảng hai, ba giờ, Phiêu gọi lại, lần này bắt tôi kể chuyện Sài Gòn. Tôi cứ hồi hộp sợ Phiêu hỏi tới Châu. Biết nói về Châu thế nào bây giờ khi cô đã dặn chỉ nói hai chữ thôi: sống được! Mà cũng chẳng biết lúc này Châu buồn hay vui. Chỉ thấy nó có một điểm giống tôi, lúc nào cũng ở tư thế hùng hục làm việc như một con điên. Ðời riêng cũng chẳng vui gì. Anh bồ hiện tại khá tốt, chỉ phải tội mê đánh bạc hơn mê Châu. Tôi đã từng chứng kiến những đêm dài, những dịp cuối tuần, cô diễn viên ngôi sao này phải ngồi dài cổ đợi.

Những ngày sau tôi bớt nhớ nhà, bớt thấy lạnh có lẽ nhờ công việc túi bụi và một phần nhờ những người bạn tốt của tôi và của Phiêu. Có một đêm:

“Xin lỗi vì chỉ gọi được cho chị vào giờ này. Chị vừa đi xem Hamlet về phải không? Xưa ở Việt Nam đã có lúc tôi đóng vai Hamlet. To be or not to be? Giờ này Hamlet đang lột sò ở Melbourne. Lột hay không lột, đó là vấn đề!”

Tiếp theo là một tràng cười, nghe buồn hơn tiếng khóc hôm nọ.

“Nói chuyện khác đi Phiêu, những chuyện khác nơi Phiêu đang sống”.

“Ðám bạn của chị giao cho tôi nhiệm vụ thuyết phục chị ở lại chơi vài tháng. Tôi đang kiếm xe chạy qua đó đưa chị đi chơi”.

“Không được, tôi đã quá lớn tuổi rồi. Mãi mới được một người chịu làm đám cưới với mình sau khi ở đây về, không thể bỏ qua dịp may hiếm có đó”.

“Trễ mươi ngày có sao đâu, nếu người ta thương chị thật”.

“Tôi đã trễ hơn mười năm rồi. Nhưng mà nè, sao cậu không về?”

“Tôi sợ!”

“Bao nhiêu người đã về chơi không làm cậu an tâm sao?”

“Tôi chỉ sợ một điều: Châu không được hạnh phúc”.

“Giả sử như vậy, thì cũng có phải lỗi của cậu đâu?”

“Ráng ở lại đi, dù chỉ một tuần. Ít ra, được gặp chị, tôi cũng thấy đỡ nhớ Việt Nam”.

Ngày chuyển từ Adelaide sang Canberra, máy bay ngưng vài tiếng ở Melbourne, tôi không định bước ra ngoài nhưng cô tiếp viên đến cho biết có người cần gặp tôi bên ngoài. Tôi chạy thật nhanh ra, cứ nghĩ không biết Vũ, Hằng hay Nghiêm, Toản thì đã thấy thấp thoáng cuối đường tấm bảng ghi tên tôi kề một khuôn mặt lạ. Tôi hỏi phải Phiêu không? Hắn gật đầu, nắm chặt tay tôi kéo đi. Tay tôi và tay hắn đều nằm trong găng êm nhưng nghe đau lắm. Tôi đùa:

“Cậu không định bắt cóc tôi chứ?”

“Nếu chị là Châu, có thể tôi sẽ. Nhưng nghe chị nói tội quá. Ðợi mãi mười năm mới kiếm ra người chịu cưới mình”.

“Bây giờ đi đâu?”

“Ði sắm vài món đồ lạnh cho chị”.

Tôi đứng khựng lại:

“Thôi Phiêu, tôi đang bị những cái áo như cái mền của bạn cậu đưa ám ảnh. Vừa mới gởi trả lại xong”.

“Vậy thì đi uống nước!”

Căn phòng toàn kính. Hoa khô và những cỏ thơm chất đầy ở góc phòng. Những chiếc máy bay xòe cánh ngoài kia lấp lánh sáng tối. Những người dị chủng tới lui lao xao, thầm thì, xa lạ. Miệng tôi cảm giác đắng khi nghe Phiêu hỏi:

“Sao mãi đến hôm nay chị vẫn chưa chịu nói rõ cho tôi biết đời sống hiện tại của Châu? Tôi có biết cô ấy đang là một diễn viên nổi tiếng, nhưng còn mơ hồ lắm về đời riêng. Hẳn là cô ấy đã lấy chồng? Hẳn là cô ấy đang hạnh phúc?”

Tôi giữ đúng lời hứa với Châu là không nói gì ngoài hai chữ “sống được”. Rồi mở to mắt nhìn Phiêu. Ðọc đi, hãy đọc trong mắt tôi những lời không nói được. Châu những đêm một bóng ngồi đợi người đàn ông chưa được gọi là chồng. Châu ngồi co ra dưới mưa dầm bán vé số. Châu diễn kịch hài, kịch bi, lúc khóc, lúc cười. Châu tươi cười nhận hoa tươi ngập tay từ những người hâm mộ. Châu những đêm diễn xong lang thang không biết về đâu. Châu kể chuyện tiếu lâm gây cười suốt chuyến xe lưu diễn. Châu mệt nhoài thiếp ngủ, mặt trong veo thanh thản như đang được ngủ giấc cuối cùng. Và cạnh đó, song song tồn tại với Châu, người trưởng đoàn năm nào cũng thăng tiến trên con đường quan chức. Ông ta vẫn tiếp tục thay thủy thủ đoàn không thương tiếc để còn được nắm chắc tay lái của chiếc thuyền bị tấp vào một dòng sông kiệt nước từ lâu…

Soi lại bóng mình trong đôi mắt nhỏ, thanh, dài sắt của Phiêu, bỗng nhiên tôi nhớ lại bạn xưa Trâu Nước. Ðó là một trong những người bạn mà khi mất đi bạn mới thấy thiệt thòi biết bao khi không còn anh ta bên cạnh, mặc dầu lúc anh ta còn lẽo đẽo bên cạnh để chìu chuộng những điều trái tính trái nết của bạn thì bạn chỉ thấy vướng víu làm sao.

Melbourne đang là đêm và cái cảm giác bềnh bồng trên mây vẫn còn vây bọc lấy tôi. Ở Việt Nam bây giờ đang là chiều. Và còn chỗ ở của Trâu Nước lúc này, chẳng biết có thấy được trăng không? Hay mặt trời đang lặn, mọc? Chúng tôi ngồi yên lặng, đối diện nhau như vậy với những lời không nói được ứa tràn ngập mắt. Cho đến khi tiếng loa báo chiếc máy bay của tôi chuẩn bị bay tiếp, Phiêu mới rút hai tay ra khỏi găng, đặt trên bàn:

“Ở Việt Nam, đôi tay này thường để khảy đàn, tuốt gươm khi đóng Roméo, Hamlet… Sang đến đây thì chai dầy đi vì nhiều thứ khác: làm farm, lột sò, lái xe, phục vụ nhà hàng, may vá, bấm computer…”

Tôi cũng rút một tay ra khỏi găng để bắt tay Phiêu, nghe nhịp thổn thức trên đường đi của máu trong bàn tay nháp, nóng. Thời tiết bên ngoài nghe nói đã sụt vài độ, dưới không.

Sau đó, ở những thành phố khác của Úc, vẫn có những người bạn của Phiêu chăm sóc tôi mọi mặt nhưng Phiêu không gọi điện thoại cho tôi sau lúc không giờ nữa. Một chiều ở Canberra, một người bạn gái của Phiêu, Noel, đưa tôi lên một đỉnh núi trông xuống thành phố là đà trong mù sương. Noel kêu thích Phiêu lắm nhưng không hiểu nổi những nóng, lạnh bất chợt của bạn mình. Cô đọc cho tôi nghe những bài thơ của Phiêu mà tôi đều thấy thấp thoáng dáng của Châu.

Xa tít xa, ở một đỉnh núi khác, là chiếc tháp truyền hình nổi tiếng của Canberra. Bỗng tưởng như có tiếng quạ đen ríu rít xoãi cánh làm cầu. Và từ chiếc lồng thủy tinh trên tháp ấy bước ra một ả Chức, lướt trên Ô kiều, băng băng chạy đến với chàng Ngưu. Họ sẽ làm gì, đầu tiên, khi lại được chạm vào nhau, trên đầu những con quạ đen tốt bụng đó? Tôi nhắm mắt. Dường như không đương nổi sức nặng của hai người, chiếc cầu quạ gãy. Dường như không thắng nổi sức hút của lòng đất, họ rơi, theo chiều thẳng… Nhưng hãy cố xoay ngang, để thấy họ đang trôi…

*

Khi tôi rời Úc, người ta đưa cho tôi một tờ giấy của Phiêu vừa fax tới:

“Dầu muốn dầu không, Châu cũng là Miss Sài-gòn đối với tôi từ những ngày trước đến nay. Qua chị, tôi thấy một Sài gòn năng nổ, sống động nhưng vẫn còn nhiều phức tạp và vẫn chưa xóa được đâu những gì đó hoài nhớ trong mình. Qua mắt chị, tôi thấy Châu xưa đã bớt là hiện tại.

Cám ơn chiếc áo dài, cám ơn cái bắt tay… để tôi an tâm lên núi làm farm.

Hãy gởi thiệp cưới cho tôi khi có dịp. Ðể tôi còn một duyên cớ, trở về…”

*

Hơn nửa năm, sau khi từ Úc trở về, tôi vẫn chưa gởi được thiệp cưới cho Phiêu. Người chuẩn bị làm bạn đời của tôi khá thân với người đang sống chung với Châu. Hằng đêm, họ vẫn gặp nhau ở một câu lạc bộ vui chơi, nơi có những khuôn mặt đam mê hốc hác. Ðiểu này xảy ra có lẽ phần lớn do những người phụ nữ như Châu và tôi. Chúng tôi đã không giúp được cho bạn mình xóa hẳn cảm giác cô đơn. Chúng tôi không thích hợp trong vai những người vợ bình thường. Và càng không được như Chức Nữ, mỗi năm, được nắm lấy hạnh phúc thật của mình, dù chỉ một lần, trên nền quạ đen muồi bên dưới, và trong những cơn tầm tả mưa ngâu.

1994

Just like that, like a dream, I was standing amongst men and women of different colour skin, language. The first night in a strange country, as though to recognise how easy it was, for anyone to find their special wings. In the Indigenous Australian theatre the performers were huddled together laughing, skin pale and blue due to the cold, no different to the people I met in Pleiku when I was small. A woman with a face like Buddha, her Chinese attire encouraged conversation followed by disappointment because she couldn’t speak English and her interpreter was late. People from North and South Korea coldly stared at each other. A young Japanese woman, after sometime on the topic of Kobo Abé, gave me her card, and it turned out that she was a delegate from the United States.

My first impression of Australia was Adelaide, a beautiful city and its kind inhabitant. I missed home as soon as I got back to my hotel room perhaps because of the extreme cold and unfamiliar cuisines. First thing was to call Liên, who was a thousand miles away, but Liên will message our other friends. And the first call was followed immediately by a call from Quang, Vũ, Khiêm, Philip, Phượng and Bằng, then Dung and Lân. They all asked me to stay a few weeks after the conference since there might never be another opportunity for us to see each other again. Hearing that I had to go home to straight away to prepare for my imminent wedding, Quang burst out laughing, asked if it was the same guy “Fifteen years side by side and all that loving is just as new?” Eleven years three months and two days I corrected him. In the wistful tone of a wife like any other wife, I can accept all criticism, except for when it comes to children and marriage. The watch clocked zero hours, talk more tomorrow.

The phone rang at three. I picked up, on the other end of the line were sobs. The surreal sound of a man crying in the middle of the night felt as though it came from another world. I turned the light on and surround me was the odd contrast of smiling photographs. We were assigned to rooms in the student dormitories. They were on their summer holiday. The owner of my room had all kinds of art photographs, magazines books, musical instruments, shoes, personal affects on display. The crying did not stop for a whole minute. An unfamiliar voice spoke up:

“I’m Phiêu!”

It was suddenly clear! Before my trip to Australia, Châu asked me to check on Phiêu, without giving me an address or phone number. Châu impressed that Phiêu when he was in Vietnam he had roles like Hamlet, Othello, Khuất Nguyên, Từ Hải v…v… I did also just now asked Quang about him, Quang said the name was familiar and said he’ll pass it down the grape vine. It’s a small world. Before taking my flight, Châu reiterated, if Phiêu ask tell Phiêu that I’m fine. That’s it! Don’t add a modicum of anything else.

Lucky, so far Phiêu had not asked about Châu and he seemed as though he was a completely different man to the one who had been crying. Phiêu asked if I need anything? A translator? How are you getting around? Do you need someone to drive you? Warm clothes? Places you should go to get inspiration to write? I said I just miss Vietnamese food, “rau muống dằm cà” would be perfect.

I was joking, but after a meeting, I was told a couple have been waiting for me for almost an hour, they wanted to take me home for “rau muống dằm cà”. Đức and Hiền, the couple were friends of Phiêu. I dragged Julie along. Julie is the author of a couple of plays about Vietnam, Julie have been to Vietnam a couple of times, she adored Vietnamese women. A couple degrees not quite minus, the morning glory had never tasted better. Fish sauce included. An abundant assortment of unfamiliar to familiar vegetables, kinh giới, tía tô, rắp cá, dill, the leaves were bigger but the flavours were just as amazing as those back home. Especially the chilies.


Director Nguyễn Thị Minh Ngọc, born 5 August 1953 in Bà Rịa, Vietnam. She graduated from stage directing in 1980, trained as an actor at the Ho Chi Minh City School of Theater and Cinema and Tran Huu Trang Theater. She was a student of director Nguyen Tuong Tran (second generation disciple of Konstantin Stanislavski), trained as a cải lương performer with People’s Artist Phung Ha, and she trained many renowned native and international drama and cải lương artists like: Meritorious Artist Huu Chau, Huu Nghia, Hong Dao, Quang Minh, Meritorious Artist Huu Quoc, Meritorious Artist My Hang, Luong My, Mai Lan, Hoa Hiep, Xuan Trang, Thanh Phuong.

She taught the subjects of Screenwriting, Drama Theory and History of Vietnamese Theatre at several colleges and universities, co-founded the Experimental Directing Club (1985), staged about 30 traditional and contemporary plays, wrote about 70 traditional and contemporary plays for the stage and about 30 scripts for cinema, hundreds of episodes for television, several research works on theatre and reformed opera, attended many festivals, seminars, composed and researched on theatre and education in the country and in Australia, England, France, Germany, Tanzania, Norway, Sweden, Philippines, USA, Indonesia, and was the stage personality of the year 2004 voted by Vietnam Television.

She was an actress for the stages: 5B Vo Van Tan, Idecaf… The roles that the audience remembers: Otilia, The Chicken Raising Girl & The Old Girl (Du Luan Quan Chung), Aunt Ba Kim Duyen (Ngoi Nha Khong Dan Men), Grandma (Cau Dong), Grandma Ca & Grandma To Gia (Long Dang Do Cao), Grandma (Tam Nguoi Dan Ba), Crazy Audience (Thuong Hoai Ngan Nam), Grandma Hanh Ngo (Mot va cua toi?). The most recent role was Grandma Vu in the MV Tan Vo with Dam Vinh Hung and Nhan Phuc Vinh.[1] The performance “The Last Romantic” is a 60-minute solo performance made up of ten tragicomic monologues that Nguyen Thi Minh Ngoc used to illustrate her talks about theater at universities in and outside the country.

In addition, she is also a member of the Writers, Theater, and Cinema Associations, and is one of the 20 outstanding writers of Ho Chi Minh City selected by the Ho Chi Minh City Writers Association.

She is the first Vietnamese woman to bring Vietnamese works to the off-off Broadway stage in New York as an author, director and actress, including: Lost Woman (2008) and We Are… (2011). She was selected as the highlight of the Vietnamese International Film Festival (VIFF) in the US (2007).

In addition to documentaries about Nguyen Thi Minh Ngoc produced by VTV, HTV, Binh Duong, and Long An television stations, in 2015, director Hung Phuong made the documentary “Nguyen Thi Minh Ngoc – The Treasure Keeper of Gold and Jade” 19’36” long and won first prize in the “I Preserve Beauty” contest.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Summon the rain | Lê Vĩnh Tài [466]

Circular key, Sydney Harbour, Australia. by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

I need the rain. Drooping dry branches,
breaking into bits.

low and loaded
like two broken lead
pendulum.

I need the rain, roots
cold,
cracked,
and starved,
curled up like a cage of
bleached white bone.

I need the wet, the torrent. Sad leaves
oppressed,
choked up, suffocating
dry,
dying,
like sand falling perpetually
through the hourglass


I need space.

gọi mưa…



tôi cần mưa. những cành gãy vụn,
khô héo rũ xuống.

thấp và nặng nề
như hai con lắc
bằng chì vỡ.

tôi cần mưa
lạnh lẽo,
nứt nẻ,
rễ cây héo úa
cuộn tròn như một cái lồng
xương bị nắng tẩy trắng.

tôi cần lũ lụt. những chiếc lá
tối tăm,
nhấn chìm,
ngột ngạt khô héo
và chết dần
như một
bãi cát vô tận thời gian


tôi cần sự trống rỗng.



Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Eulogy: Entombed In A Watery Grave | Viên Linh

“thời gian đã chậm tháng ngày đang nhanh…” (v i ê n l i n h) ký hoạ viên linh. Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Viên Linh
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

a lonely boat drifting in a sea of blood
a black and blue bruised setting sun
the inflamed dying light
the body sinking into the ice, ah farewell
ah grey wise old waves in a hurry to well
wash away, bury the evidence

O sightings of land of residence
an island in a fog perhaps
drifting West North and East a mishap
drifting drifting surrounded by water drifting
the possibility of home sinking.

O soul, you are drifting further and further from land
O soul, you must let go, let your world be the sea
O soul, you are now apart of the sand
Done is this sombre life, beyond this life is your resurrection
“Ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam”
Go, you will never forget your homeland upon foreign land

O soul wandering in the Eastern Sea
O soul busy surfing the waves
O soul soaked to the bone in the rain
April is a bloody fog across the sky bleeding

A homeland suspended in pergatory
Opulent castles citadels and bejeweled cities
Shrines adorned with new banners new meaning
The shiny era of building a new nation
All those startled eyes and sad hair on end standing
All those hands at their exploding chest grasping
Only yesterday, through the moss and seaweed the glimmer
The shadows of mountains and waters of my country
Tread the waters surf the waves there
Just there I know it, is my homeland.

Where there’s an overwhelming stench
A bloody battlefield, remains of soldiers brave
Entombed In A Watery Grave

Night fall upon the end of a destructive era
Over a tiny bridge people cross The Luo River
Reduced to alluvium are the water falls
Return each night after each wander.

Return to where O the night
The smokey smell of burning light
For those who no longer has a shape in sight
For those who has a shadow might

For those with the destiny of a mayfly
May you be the lake the rivers low and high
Wreak havoc as a battalion of the sky
When in the sea the monsters are no more
We shall turn around and look for our mothers
We shall turn around and look for our home.

Together we shall find our family our roots
Together we shall chop down the giant canes
Erect our castles and carve out the drains
Ông Nghè, masters of scholars shall return
Along with the generals return to the battle encampment
To the mountain pass to guard are the generals
Từ Thức can then return to his Goddess wife in paradise
Scholar literati and government officials return they shall to guide
The people, and the mulberry field shall return the silkworms
The green field shall return the industrious farmers
The church shall return the Gods and temple return the brothers
The old horses shall return the little boys
And I will return your Quạt Mo so don’t be mad
The way the girls in their dark under wear shall return your lads

Vietnam rebuilding land and country
The dragon claws [five] times regretful a nation restored.
Awakening both regret and sorrow
Discerning shall be the sunrise and knowing shall be the sunset
The cold bird returns to our Southern nation
Without speaking or laughing, turns back.
The magic crossbow of the past
Keen blades and ancient
Rising water and flooded banks
Lạc Long Quân welcomes Âu Cơ back to his vessel
Ascend his children from the bottom sea
Descend his children from the mountain
The two regions meet each other

Begin again the five thousand years
Who will be the bird that tries to fill up the sea
Who will fix the broken sky
Who will stop the people from drowning

Leave we will the foreign land
Birds trying to escape the snow return to their homeland

Điếu thi: Thủy Mộ Quan

Trên Huyết Hải thuyền trôi về một chiếc
Chiều bầm đen trời rực rỡ đau thương
Thân chìm xuống băng tuyền giờ tận biệt
Sóng bạc đầu hối hả phủ trùng dương

Thấp thoáng trần gian
Mịt mù bóng đảo
Trôi về tây về bắc về đông
Trôi về đâu bốn bề thủy thảo
Về đâu kiếp đắm với thân trầm.

Hồn ơi dương thế xa dần
Hồn đi thôi nhé thủy âm là nhà
Hồn về trong cõi hà sa
Sống không trọn kiếp chết là hồi sinh.
Xong rồi một cỗi u minh
Ngựa Hồ chim Việt biến hình mà đi.

Hồn vẫn ở la đà Ðông Hải
Hồn còn trôi mê mải ngoài khơi
Hồn còn tầm tã mưa rơi
Tháng Tư máu chảy một trời sương tan.


Thân chìm đắm cõi điêu tàn nước cũ
Những lâu đài thành quách những vàng son
Những tân thư kỳ mặc những linh đường
Những rực rỡ của một thời dựng nước
Bao mắt mở bao tóc sầu dựng ngược
Bao tay cùm bao ngực vỡ hôm qua
Trong rêu xanh ngần ngật bóng sơn hà
Lướt hải phận về dưới trời cố quốc.

Nhắm hướng hôi tanh
Chia bày trận mạc
Hồn binh tàn hỗn chiến Thủy Mộ Quan.

Ðêm rơi thời hết vận tàn
Ô y cầu nhỏ người sang Lạc Hà[1]
Thác rồi thân hóa phù sa
Mon men trở lại quê nhà mỗi đêm.

Về đâu đêm tối
Hương lửa lung linh
Những ai còn bóng
Những ai mất hình

Những ai vào kiếp phù sinh
Hóa thân hồ hải làm binh giặc trời
Khi nào hết quỉ ngoài khơi
Ta vào lục địa ta hồi cố hương.

Cùng nhau ta dựng lại nguồn
Chẻ tre đẵn gỗ vạch mương xây đình.
Ông Nghè về lại trong dinh
Tướng quân giữ ải thư sinh dưới đèn.
Từ Thức lại trở về tiên
Sĩ phu giảng huấn người hiền bình văn
Nương dâu trả lại con tằm
Ruộng xanh trả bác nông dân cần cù.
Ngựa ông trả lại thằng cu
Nhà chung trả Chúa chùa tu trả Thày
Quạt mo tao trả lại mày
Các cô yếm thắm trả bày trai tơ.

Việt Nam dựng lại sơn hà
Móng rồng năn [năm] lượt Quê Nhà phục hưng.
Ðã tỉnh sầu u thương tiếc hết
Bình minh lên nghe, hoàng hôn biết
Chim lạnh về Nam sông núi ta
Không nói không cười chân trở bước.
Nỏ thần thủa trước
Gươm bén hồ xưa
Tràn lên như nước vỡ bờ
Lạc Long lại đón Âu Cơ về thuyền.
Các con từ dưới biển lên
Từ trên núi xuống hai miền gặp nhau.

Năm nghìn năm lại bắt đầu
Chim nào tha đá người đâu vá trời[2]

Chúng ta rời bỏ xứ người
Loài chim trốn tuyết qui hồi cố hương.

—–

[1] Lạc Hà hay Nại Hà, là nếu ai qua cầu đó là đi vào thế giới bên kia. “Bia đề rằng Nại Hà Kiều, Kẻ nào có phước quỉ đều dắt qua.” (Nguyễn Ðình Chiểu, Dương Từ Hà Mậu).

[2] Kiếp trước của chim Tinh Vệ là công chúa con gái vua Viêm Ðế, đi chơi ngoài biển chẳng may chết đuối, nàng tức giận biến thành con chim tha đá, quyết lấp cho đầy biển, đặng không còn ai chết đuối nữa. Nàng Nữ Oa là em gái vua Phục Hy, thấy trời có những khoảng trống, nàng nghĩ rằng vòm trời bị thủng, bị vỡ, nên tha đá ngũ sắc lên vá trời, đặng vòm trời sẽ liền lại. Xin khỏi chú thích các huyền thoại khác như Từ Thức, Thằng Bờm và cái quạt mo, hay Ông Nghè, Sĩ phu. (Chú thích của V.L.)


Viên Linh [1938-2024] grew up in Saigon. He made a living as a writer since 1962, and was the Editor-in-Chief of many weekly newspapers specializing in literature and art such as Kich Anh, Nghe Thuat, Khoi Hanh, Hong, Thoi Tap, Dan Ta… He was the Editor-in-Chief of Tien Tuyen Daily Newspaper of the General Department of Political Warfare for more than 6 years of military service, with editors Le Dinh Thach and Ha Thuong Nhan. He was discharged in 1972. March 28, 2024 the poet Viên Linh passed away at 11:11 a.m. in Virginia, USA, at the age of 86.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

THE SEA IS STARVING AND I’M DROWNING | Lê Vĩnh Tài [471]

Dawn, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Thơ Lê Vĩnh Tài
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

THE SEA IS STARVING AND I’M DROWNING

The sea is the reason I’m surprised by the chaos of the spotlight on the stage around all the grey lighthouses on land, the sea discerning my surprise due to my lack of speech as I face the brilliant bright smile of the sea, the sea watching me get pushed under again and again by the welcoming waves due to all the memorial monuments due to how I am again and again surprised this time and then the next, until we are no longer here.

The sea is starving and I’m drowning

BIỂN CHẾT ĐÓI VÀ TÔI CHẾT ĐUỐI 

biển làm tôi ngạc nhiên bởi sự hỗn độn của ánh đèn như sân khấu vây quanh các tháp canh màu xám trên bờ, biển biết tôi ngạc nhiên không nói nên lời trước nụ cười màu trắng của biển, biển thấy tôi bất ngờ bị nhấn chìm bởi những làn sóng hoan nghênh bởi khu đài tưởng niệm bởi tôi cứ ngạc nhiên hết lần này đến lần khác, cho đến khi chúng ta không còn hiện hữu. 

biển chết đói và tôi chết đuối 


TURNING OVER A NEW LEAF

if I were to turn over a new leaf, I would love to be the sand stretch out over the expanse of the land, drifting sand all the way to Hòn Chồng Promontory right by Đồng Đế, drift by Bãi Trước in Vũng Tàu, past Cà Ná in Phan Rang, I will take over the domain of the sea, I will remind the sea of the certainties and uncertainties in my heart, I will race and chase after the sharks people deem heartless as the sea for the shore, sit there on guard.

I will evaporate, in waves around the moon, like the tides I will take you with me. And you will ask me: Anh, more or less? Is it exercise or love? Now I know why people can’t give up drinking.

I tear up each time the long lost memory turned up. Seems so long ago but not so long ago that I can’t in my mind conjure it. Two dimples and the baby hairs growing at the corner of your lips, your voice growing softer as the words left your lips, formed the sweetest lie.

HOÁN ĐỔI 

nếu có thể hoán đổi thân xác mình, tôi sẽ biến cơ thể mình thành cát và trải dài, tôi sẽ trôi qua đá Hòn Chồng lởm chởm ven bờ Đồng Đế, tôi sẽ trôi qua Bãi Trước của Vũng Tàu, tôi sẽ trôi qua Cà Ná của Phan Rang, tôi sẽ chiếm hết không gian của biển, tôi sẽ nhắc cho biển nhớ sự bất an về sự bình an của tôi, tôi sẽ chạy đua với những con cá mập mà người ta biết chúng không có trái tim vì chúng đang bỏ biển lên bờ, ngồi canh gác.

cuối cùng tôi sẽ bốc hơi, lên bầu trời tôi sẽ nhấp nhô với mặt trăng, như thủy triều tôi nhấp nhô em. Em sẽ hỏi: vậy là ít hay nhiều, anh? Nó là bài tập thể dục hay là tình yêu? Giờ em mới biết vì sao người ta nghiện rượu.  

Tôi rơi nước mắt vì một ký ức xa xôi. Quá xa để tôi có thể nhưng đủ gần để tôi còn tưởng tượng. Hai lúm đồng tiền hai bên miệng em và bộ ria mép mới mọc, giọng em trở nên nhẹ nhàng khi em nói với tôi một lời nói dối, thật đẹp.


THE JOURNEY TOWARD HEAVEN

the journey toward heaven, the sea is an angel atop the clouds across a clear blue sky, the sea takes its time along an unimaginable path, with the majesty of the eternal but lies there neatly inside the palm of your hand, damp hands awaken by the soothing echoes of seashells and guardian angels right behind you, there to accompany you for the journey.

you run and hide from the rage of the gods, leave behind at the end of all the laughter, the people on earth who had wished you for the last time, sweet dreams.

when we believe that you will find the kiss of the Saviour of the World, since it’s a lonely journey, even after you had paid for the sand with gold and blood.

HÀNH TRÌNH ĐI ĐẾN BẾN BỜ THIÊN ĐÀNG 

hành trình đến bến bờ thiên đàng, biển là thiên thần trên những đám mây xanh, biển đi chậm dọc theo con đường không tưởng, với sự lộng lẫy của vĩnh hằng nhưng lại nằm gọn trong lòng bàn tay bạn, lòng bàn tay ẩm ướt đã bị đánh thức bởi những âm thanh du dương của những vỏ sò, của những thiên thần bay theo những chuyến đi.

bạn chạy trốn cơn thịnh nộ của thần thánh, để trong cõi vô tận tiếng cười, những người còn sống trên mặt đất đã nói lời chúc ngủ ngon cuối cùng với bạn.

khi chúng tôi tin rằng bạn sẽ tìm ra được nụ hôn của Đấng Cứu Thế, vì hành trình của bạn rất cô đơn, dù bạn đã mua bãi biển bằng vàng và máu.


THE SEA AND ME

there by the shoreline look back, I will meet you
by the shoreline to never look back
I will see you
by the shoreline that is no more
I will pray for you
by the shoreline of tears
I will continue to pray for you
by the shore of death
I will cry for you
by the shore of life
I will dream of becoming you

BỜ BIỂN VÀ TÔI

khi bến bờ quay lại, tôi gặp bạn
đến bến bờ không bao giờ quay lại
tôi thấy bạn
đến bến bờ đã mất
tôi cầu nguyện cho bạn
đến bến bờ khóc
tôi tiếp tục cầu nguyện cho bạn
đến bến bờ đã chết
tôi khóc cho bạn
khi đến bến bờ còn sống
tôi mơ được như bạn


DISTANCE

upon the sea is the reflection of the moon now sinking into the night, hence your memory are the footprints on the sand now drowning in a cage of broken ribs due to the pirates, and butchers who claimed to be coast guards, your sea is so close and yet still, so far.

keywords: distance, sun, star, moon, reflection, memory, beach, shoreline, close, far, night, darkness, footprints, rape, corpses, hide, oil, tears, water…

KHOẢNG CÁCH 

trên mặt biển ánh sáng phản chiếu một hình bán nguyệt giờ bị chìm trong màn đêm, vậy ký ức của bạn là dấu chân trên bãi biển giờ ngập trong lồng ngực bị gãy xương sườn vì các tên cướp biển, và cả những gã đồ tể mang tên những người canh gác biển, biển của bạn rất gần mà vẫn xa.

từ khóa: khoảng cách, mặt trời, ngôi sao, mặt trăng, phản chiếu, ký ức, bãi biển, bờ biển, gần, xa, đêm, bóng tối, dấu chân, hiếp dâm, xác người, giấu, dầu, nước mắt, nước… 


LAST NIGHT

thank you, I have never given up on me, you were there in my imagination last night, I woke up by the sea of you with your soft lips on mine.

your body lay there in a new dimension, and there you bloomed into a queen, you sat up and sang the songs, not counted out at sea but over the hills where the bodies were numbered and counted, a song written by our mother, by the sea, a song about a land of spikes and machetes, our Mother’s legacy, haunting still.

you are born again to play the role of a slave with a skinny guy by the sea, a sea of Cham towers in Quy Nhơn where the rain pours like tears is a sea of longing, while your breathless sea is a forgotten sea.

hence, you and this guy love each other on a beach, as the waves reveal a sky full of stars, and in truth you both should have married and live happily together forever. However, as time passes by a cuter guy and a more adorable girl find each other, once again history would repeat itself in cycles, like the uterus and the bloody periods.

like in this life, the soul still has a twin and they will find each other once more. Both are twins like how space is boundless like how our country runs from North to South like conjoined twins like two kids with two destiny inside the same uterus with the same name same nationality.

TỐI HÔM QUA 

cảm ơn bạn, không bao giờ tôi làm bạn thất vọng, bạn đã gặp tôi trong tưởng tượng của tôi tối hôm qua, tôi thức dậy trên bờ biển của bạn với đôi môi mềm của bạn trên môi tôi.

cơ thể bạn nằm trong chiều không gian mới của bài hình học, và ở đó bạn nở ra thành một nữ hoàng, bạn ngồi dậy và hát những bài hát, không phải đếm ở biển mà lên đồi đếm xác, bài hát là lời của mẹ cũng là lời của biển, bạn kể đất nước hầm chông và mã tấu, gia tài của Mẹ vẫn còn ám ảnh.

bạn được tái sinh để chơi trò chơi nô lệ với một chàng trai gầy gò bên bờ biển, biển tháp chàm quy nhơn mưa như nước mắt là biển nhớ, còn biển ngạt thở của bạn là biển quên.

vì vậy, chàng trai và bạn yêu nhau từ bãi biển, những con sóng mở lên bầu trời đầy sao, lẽ ra các bạn đã kết hôn và sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi. Nhưng thôi, sau này sẽ có một chàng trai dễ thương khác và cô gái đáng yêu khác sẽ tìm thấy nhau, một lần nữa lịch sử luôn có những chu kỳ, như tử cung và những lần chảy máu.

như kiếp này, linh hồn vẫn có song sinh và chúng sẽ tìm thấy nhau một lần nữa. Cả hai sẽ song sinh nhau như không gian như vô tận như đất nước như trải dài như hai đầu bắc nam như hai đứa bé như hai số phận cùng nằm trong một tử cung cùng gọi một tên là đồng bào.


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

NGUYỄN VIỆN

Nguyễn Viện (source: social media)

In Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

HAIR & HORN | LÔNG & SỪNG

  • Chapter ONE
  • Chapter TWO
  • Chapter THREE
  • Chapter FOUR
  • Chapter FIVE

Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

the verse creating a storm | Lê Vĩnh Tài [464]

Autumn in Sydney, Australia by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

looking not back
at any sweet
kind of love

the verse creating a storm
the way one plays with fire

when you leave it all behind
it’s never fine

you may profess
it’s nothing no less

the sensitive
extended
awkward
silence

the words
and verse twisted
beyond recognition

like the familiar slap
on the face

đây không phải là
ký ức về
tình yêu dịu
ngọt

bài thơ làm cơn bão
như bạn từng thích chơi dao

khi bạn rời khỏi
cũng là lúc không thể tránh khỏi

bạn sẽ giả vờ
như thể chứng cứ không tồn tại

cũng có người lo ngại
một khoảng trống không thể diễn tả

bạn áp đảo
bóp nặn
bài thơ
một cách mù quáng

như có lần bạn để
người ta đập vỡ
tên và gương mặt
của chúng ta


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Here’s to you anh Viet Pham !

May your journey into the after life be just as fun and just as fruitful.

Thank you for being you, thankful for your kind and generous heart. For being the unexpected friend and supporter of my journey in learning our mother’s tongue.

Here’s to you anh, may your humour and kindness lives on.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.