The sea and morning glory

A poem in Vietnamese by Phan Nhiên Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

My recollections

returned each night

vivid, sharp

pierced the top of my head 

before repeatedly dying in dreams

as I sat up

the afternoon already outside

the sea overwhelmed by drifting morning glory 

all that is ordinary

year-round chipped away the boulders

I had on but one shoe

stepping on the rough seashells

the other foot pained

the left eye fell beneath the frothy white waves

the right eye lifted towards the sky

saw then the seagulls

dancing at the foot of the bluest horizon.

_____

BIỂN VÀ RAU

Tôi giữ những hồi tưởng 

quay về mỗi đêm

có cái gì quá nhọn

xuyên qua đỉnh đầu

để chết nhiều lần trong giấc mơ

tôi ngồi dậy

buổi chiều đã ở ngoài kia

biển trôi đầy rau muống

những sự thật tầm thường

bào mòn đá tảng quanh năm

và tôi mang chỉ một chiếc giày

dẫm lên những vỏ sò lỗ chỗ

chân kia đau

mắt trái chìm sâu dưới bọt sóng trắng

mắt phải ngẩng lên trời

thấy loài hải âu

khiêu vũ ở chân trời xanh thẳm.

(Translated June 2019)


Phan Nhiên Hạo, the poet and translator born 1967 in Kontum, Vietnam, currently works and lives in Illinois, the United States of America.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A guide on how to write

A poem in Vietnamese by Phan Nhiên Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

Write as sweetly as a nail is nailed into wood.

Write as fast as the wind through an infected village.

Write as quietly as the coal shimmering slowly at the heart of the earth.

Write with the veracity of a lion about to pounce on its prey.

Write with the care of a ship meandering through a fog in the early light.

Write with the sensitivity of a dragonfly facing a storm.

Write joy upon the sand and connect them.

Write sadness upon the water and wait for the currents to carry them away.

Write loneliness upon a lantern then patiently wait for the candle to completely burnout.

You could write as shortly as you like but don’t forget the verbs,

the stagnation causative of the flooding of each and every punctuation.

Write after the sunset but never upon the rise of the eastern light,

that’s the bewitching hour upon the return of the spirits,

in a hunt for the burnt offerings.

Write as much as possible when drunk then throw it down the river when lucid,

within the inebriation try not to exaggerate.

Write the lost of death but never invite the trumpets,

the kind of music covered in plastic that can but suffocates the dead. 

Write whatever you want but write it probably

at a high melting point the vernacular slithering.

Write with the chill of a winter’s day in Oymyakon.

Write until you’re as sweaty as a day spent in a Dallol summer.

Write like the rolling meadows or New York either is fine,

but don’t wave a stick around, drunks are not blind,

even though they may barely stand up.

rite in desperation but wait for the moon to at least fall upon the church steeple.

Write with hope as though you’re waiting for your wife to give birth in Từ Dũ.

Write as though nothing was ever forgotten like six years ago,

the beautiful woman with twelve fingers in Bangkok.

Write with the imagination of a child,

listening the night long to the call of street vendors.

Write handsomely but avoid the contradicting double meanings.

Write beautifully but avoid the cheap make up.

Write amidst the crowd but independently,

wear around the neck the board “Do not disturb.”

At the square where nameless people were shot down,

note their faces in blood and not wash your hands,

until the bubbling freedom spreads like soap suds,

erases the dirty stain of history.

____

January 2021

_

Hướng dẫn cách viết

Viết ngọt như đinh đóng guốc mộc.

Viết nhanh như gió qua ngôi làng dịch hạch.

Viết lặng như than đá cháy trong lòng đất.

Viết dữ như sư tử sắp tử thương.

Viết thận trọng như con tàu đi trong sương mù buổi sớm.

Viết mẫn cảm như chuồn chuồn trước cơn giông.

Viết niềm vui lên cát và nối chúng lại.

Viết nỗi buồn trên mặt nước và đợi sóng mang đi.

Viết cô đơn vào đèn lồng kiên nhẫn nhìn đến khi nến tắt.

Có thể viết ngắn nhưng đừng thiếu động từ,

sự trì đọng khiến các dấu chấm câu ngập úng.

Viết sau lúc mặt trời lặn nhưng đừng viết buổi hừng đông,

đó là thời khắc  những bóng ma trở về,

trong cuộc săn lùng tiền vàng mã.

Viết thật nhiều lúc say rồi ném gần hết xuống sông khi tỉnh rượu,

trong cơn ngà ngà cố gắng tránh ba hoa.

Viết mất mát xuống cái chết nhưng đừng mời đội kèn,

loại nhạc bọc nylon khiến tử thi ngộp thở.

Viết lung tung cũng được nhưng đừng viết loàng xoàng

ngôn ngữ nên ở thể rắn và có độ nóng chảy cao.

Việt lạnh như một ngày mùa đông Oymyakon.

Viết chảy mồ hôi như đang ở Dallol mùa hè.

Viết kiểu miệt vườn hay New York đều tốt, 

nhưng đừng múa gậy, dân nhậu chưa mù,

cho dù đa phần đều loạng choạng.

Viết tuyệt vọng như đợi trăng rơi xuống nóc nhà thờ.

Viết hy vọng như đợi vợ sinh trong Từ Dũ.

Viết không quên như cách đây sáu năm,

thấy người đàn bà đẹp mười hai ngón tay ở Bangkok.

Viết nhớ mơ hồ như khi nhỏ,

nghe suốt đêm dài những tiếng rao.

Viết đẹp trai nhưng tránh lối biền ngẫu.

Viết xinh gái nhưng tránh phấn rẻ tiền.

Viết giữa đám đông nhưng tự tại,

cổ nên mang bảng “Chớ quấy rầy.”

Khi trên quảng trường những người vô danh bị bắn ngã,

viết khuôn mặt họ vào máu và đừng rửa tay,

cho đến ngày tự do loang như bọt xà phòng,

tẩy trừ những vết nhơ lịch sử.


Phan Nhiên Hạo, the poet and translator born in 1967 in Kontum, Vietnam, currently works and lives in Illinois, the United States of America.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

a house without a door

A poem in Vietnamese by Phan Nhiên Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photographer: Nguyễn Thị Phương Trâm

I live in a house without a door.

On their back, each visitor lugs their door.

In place, before we sit and talk, then,

take the door with them when they leave.

My privacy is dependent upon

the visits of these people.

Sometimes people turn up empty-handed.

These are impoverished people devoid of personality

gamblers and those with no shame

drops by to borrow money, the scoundrels.

At the sight of them from afar, quickly I would leave my house

head off to see close friends.

As I leave, I would also lug a door on my back

(The door I’ve removed from my house

only to enter other people’s houses).

(November 2020)

_____

NHÀ KHÔNG CỬA

Tôi sống trong ngôi nhà không cửa.

Mỗi người đến thăm phải mang theo cửa

trên lưng. Lắp vào ngồi nói chuyện, xong,

khi từ biệt họ ra đi cùng với cửa.

Sự riêng tư của tôi phụ thuộc vào

việc thăm viếng của những người này.

Thỉnh thoảng có những người đến tay không

Đây là những kẻ quá nghèo không còn cá tính

Những tay chơi bạc và bọn mặt rô

ghé qua chỉ để mượn tiền hay giở trò đểu giả.

Thấy bóng những kẻ này từ xa tôi vội rời nhà

lên đường thăm những người bạn thiết.

Khi ra đi tôi cũng mang cửa trên lưng

(Cánh cửa mà tôi tháo ra từ nhà mình

nhưng chỉ để dùng ở nhà kẻ khác).


Phan Nhiên Hạo, the poet and translator born 1967 in Kontum, Vietnam, currently works and lives in Illinois, the United States of America.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, born 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

as the train arrives

A poem in Vietnamese by Phan Nhiên Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

Me saying it out loud could make someone laugh

another angry and starting plot of coup d’état 

the words are of little importance

like a blue name tag, on the lapel of a shirt

a student turning ten

who has gone through two miserable years of change

who’s used to buying ice each summer lunch

hoping to dissolve the Sun

into a rectangular iceberg.

When I was older, I thought words could heal

by opening up a wound, disinfecting then bandaging. I thought…

No, in this silence sometimes I saw

the two hands of recall stretching out

clapping violently without a sound

like the wind, like an insidious resentment

of spirits buried together

I’m exhausted from the silence

It’s unforgiving; it’s like ants,

patiently carries each red blood cell from my body.

I pointed this out in a scream

But the train lunging forward with its horn-like thunder

turns my efforts into a joke

A row of white words written on the black wall of the train):

“Post Colonial train, on a Global Route.”

I quickly jumped on. On the carriage sat and stood a ridiculous number of people

How many are like me without a ticket?

_____

TRONG KHI CON TÀU ĐI TỚI

Tôi nói ra điều này có thể làm một người cười

một người khác nổi giận và bắt đầu các âm mưu đảo chánh

những lời nói thật ra không có trọng lượng gì

như một bảng tên màu xanh, trên ngực áo

đứa học trò lên mười

đã trải qua hai năm đổi thay cực khổ

Nó thường đi mua nước đá những buổi trưa hè

hy vọng làm tan mặt trời

thành những tảng băng hình chữ nhật.

Khi lớn lên tôi tưởng lời nói có thể chữa lành

mở ra một vết thương, tẩy trùng rồi băng lại. Tôi tưởng…

Không, trong sự im lặng này đôi khi tôi thấy

hai bàn tay của ký ức vươn ra

vỗ vào nhau hung bạo không thành tiếng

giống như gió, giống như sự thù nghịch ngấm ngầm

của những linh hồn bị chôn chung

Sự im lặng này làm tôi kiệt sức

Nó không tha thứ, nó giống như kiến,

kiên nhẫn khiêng những hồng huyết cầu ra khỏi thân thể tôi.

Tôi nói ra điều này bằng giọng hét to

Nhưng con tàu lao đến với tiếng còi như sấm,

khiến cho sự cố gắng của tôi chỉ là một trò hề

Trên thành toa đen lướt qua hàng chữ trắng:

“Tàu Hậu Thuộc Địa, chạy tuyến Địa Cầu”

Tôi vội nhảy lên. Trên tàu đứng ngồi nhiều người lố nhố

Có bao nhiêu người đi lậu vé như tôi?

Translated in September 2019


Phan Nhiên Hạo, the poet and translator born 1967 in Kontum, Vietnam, currently works and lives in Illinois, the United States of America.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Fish in a well

A poem in Vietnamese by Phan Nhiên Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Fish in a well

When we were young, my younger cousin 

would catch perch, fry them till their skin were nice and crisp

the fish spared were dropped into a well,

the water was muddy and not very deep,

he said, “These are the lucky ones.”

But day in and day out 

they’re pushed around 

shoved down by an iron bucket,

I know this is hell on earth for those 

who had survived.

It was a time when my uncle was gasping for air in a re-education camp.

May 2022

—–

Cá trong giếng

Khi còn nhỏ em họ tôi

câu cá rô, chiên giòn

còn vài con thả giếng,

nước đục và không sâu,

nó nói, “Đây là những con cá may mắn.”

Nhưng mỗi ngày 

hàng chục lần gàu sắt

giáng xuống,

tôi biết đây là địa ngục trần gian

của những kẻ sống sót.

Thời gian đó chú tôi đang ngáp ngáp trong trại cải tạo.

2009


Phan Nhiên Hạo, the poet and translator born in 1967 in Kontum, Vietnam, currently works and lives in Illinois, the United States of America.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

%d bloggers like this: