Big mean huge

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

The poet got a message that she was shopping at the BigP centre

Big means huge. As for P?

She told him off for being crude. But he was merely pondering the letter P. It has Petering ambition. It has no desire for Personal autonomy or Progressive market share, or a better than a Pass in exams. It doesn’t have to be a good citizen of the People or some Popular singer…

It’s only one part of a nameless Person, lining up to Pay for a small Pallet to rest his back after a long working day. It’s the Pitiful tears shed knowing we still love each other. It’s the light Pat on the back goodbyes like the flicker of a small flame in the dark when he’s dying for a cigarette.

Thi sĩ nhận được tin nhắn là nàng đang mua sắm ở siêu thị BigC

Big là to & lớn. Còn chữ C?

Nàng mắng thi sĩ vì sợ những ý nghĩ tục tĩu của chàng. Nhưng chàng đang nghĩ về chữ C. Nó không có Chút gì tham vọng. Nó không yêu cầu gì về Chủ quyền lãnh thổ hay Con số của thị phần, hoặc phải tăng điểm trong Cuộc thi & xếp hạng gì đó. Nó không cần phải là một Công dân danh dự hay Ca sĩ thời danh…

Nó chỉ là một phần của Con người vô danh, đang xếp hàng tính tiền sau khi mua về cho mình một Cái tấm nệm nhỏ đủ để ngả lưng sau một ngày kiếm ăn mệt lả. Nó là Cái giọt nước mắt ứa ra để biết vẫn còn thương nhau. Nó là Cái vẫy tay chia xa như chàng hay bật tia lửa nhỏ trong bóng tối mỗi khi thèm thuốc lá.

—-

May 2020

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The wall inside a bottle of Tequila

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh
Published May 2020 on LITVIET 

Bức tường trong chai Tequila

Trần Băng Khuê

1.

Gã có thói quen mỗi buổi sáng thức dậy, gã thường tợp một ngụm Tequila và nhìn chăm chăm vào bức tường. Sau đó mới rời khỏi nhà, đến công sở. Nơi nào gã đến cũng có một bức tường tương tự như thế. Chỉ thiếu mỗi Tequila. Những bức tường xuất hiện ở khắp mọi nơi. Chỉ Tequila là không thể. Gã phải đến quán rượu. Ghé quầy bar của lão họa sĩ già. 

Gã đã cố suy nghĩ xem, tại sao, người ta dựng nó lên thành các loại hình dạng. Vuông, chữ nhật, tam giác, và rồi tự nhốt chặt chính mình vào trong đó. Hoặc là, họ quá khờ khạo. Hoặc là, họ quá u mê. Hoặc là, họ chẳng thể nào đủ dũng cảm đập bỏ nó đi. Bạn gã đến nhà, nhìn thấy bức tường quái đản ấy, chỉ cười trừ, rồi lầm bầm trong cổ họng những âm vực trầm đục như tiếng của địa ngục vượt thoát lên từ lỗ hổng nào đó trên mặt đất: “một tấm gương không cần soi vẫn có thể thấy được những hình thù của quá khứ và tương lai”. 

Gã cần gì tương lai? Gã muốn biết cái thứ hiện tại này có thể khiến gã hài lòng hay chưa? Những bức tường, chúng thật sự rất chập chờn, đầy mộng tưởng huyễn hoặc đối với cư dân ở xứ sở này. Gã nghĩ vậy. Họ cũng chẳng khác gì gã. Họ chỉ là những con trâu ngoan ngoãn lầm lụi đi theo những luống cày từ lúc mặt trời lên đến khi tối mịt. 

2. 

Quán rượu của lão họa sĩ già cũng có những bức tường. Chúng được quết một màu xám xịt như tro than. Mỗi lần bước chân đến quán, sau khi nốc một cốc Tequila, gã bắt đầu lảm nhảm về thứ gì đó không thể thoát ra khỏi cổ họng. Nhưng, lão họa sĩ vẫn nghe được: “những mặt phẳng tù đọng”. 

Những mặt phẳng, gã thừa biết, nó tồn tại sừng sững như một sự hiển nhiên, một sự thách thức lì lợm, từ lâu lắm rồi. Gã không thể làm gì được. Phải, cũng chẳng ai dám làm gì, bởi trong tay họ không một tấc sắt. Rõ ràng, khi người ta muốn đập bỏ thứ gì đó, ít nhất họ phải có vật dụng cứng hơn. Ai chẳng hiểu điều ấy. Gã chỉ là một gã đàn ông, tay không tấc sắt. 

Hôm qua, khó khăn lắm gã mới lặng lẽ mở cửa bước chân ra khỏi nhà. Gã tính sẽ đi tìm một vài thứ cứng hơn bức tường. Chẳng hạn, những thanh sắt, hoặc chiếc búa tạ. Chúng có thể giúp gã đập bỏ những bức tường đó. Gã đến quán rượu quen thuộc. Gã ngồi xuống chiếc ghế cao của quầy bar. Gã gọi Tequila. Và hỏi lão họa sĩ già về một thanh sắt. Lão ậm ừ mân mê chai rượu, rót thêm một cốc nữa. Gã nốc hết. Rồi, tiếp tục lẩm bẩm hỏi. Vẫn là về thanh sắt hoặc chiếc búa tạ. Lão rền rền giọng: “lại Tequila chứ?”. Vừa nói, lão vừa rót tiếp ra một cốc khác. Lão uống. Tequila nóng bừng, cháy từng ngụm trong cổ họng gã. Như ai đó đổ một lốc thuốc độc đang tan rửa dần đến dạ dày. Men rượu xộc lên mũi. Gã không nghe mùi Tequila. Bất giác, gã nhớ cái hương cafe. Chúng thơm nghẹn con đường trẻ dại ngày xưa mỗi lần gã đạp xe đi về. Bây giờ, gã chỉ ngồi tưởng tượng về nó như một khối hình hài không đầu không cuối, không định lượng được chiều thời gian đi tới hay lùi. Gã nhớ đứa con gái mắt cười lúng liếng, tóc dài ngang lưng đã từng thề nguyền cùng gã. Nàng rời xa gã chưa bao lâu thì phải. Khoảng cách chỉ là một chiều thời gian. Gã biết, những chiều thời gian chưa bao giờ chết. 

Những bức tường màu xám. Bất cứ điểm đến nào, ánh mắt gã cũng chỉ xoáy vào những bức tường màu xám. Tequila là thứ dư vị khiến gã cảm thấy có một chút hứng thú, mộng mơ. Hóa ra, gã đã từng nhảy những giai điệu mambo trong cơn cuồng say của thời trai trẻ. Một cốc Tequila biến gã thành một người đàn ông đầy tràn tình yêu và sức sống. Hai cốc Tequila, ba cốc Tequila, gã chết chìm trong những bức tường màu xám. Gã vẫn ngồi trong một quán rượu nhỏ, nơi chỉ có những bức tường màu xám vây quanh mình. 

Vài nơi khác, gã đến, những bức tường không giống với quán Tequila hoặc ở nhà gã. Chúng lồ lộ tô trét đủ loại màu sắc lòe loẹt. Gã nghĩ có lẽ nó chỉ đang cố tình lừa đảo nhãn quang hời hợt của kẻ khác. Nhưng, với gã, tất cả chúng đều là màu xám. Tất cả những ẩn giấu đều nhân danh màu xám. Sự thật ở bên trong vài hình khối cơ bản mà người ta cố tình tạc dựng nên. Hoặc vốn dĩ nó đã nằm phía sau những bức tường màu xám. Chẳng hạn như tối nay, tại quán rượu này, gã đã nhìn thấy nó qua thứ ánh sáng mờ ảo của những bóng điện hình trái ớt. Bức tường lập lòe. Bức tường nhảy nhót. Bức tường say mèm men rượu Tequila. 

Tối nay, gã không uống Tequila. Gã gọi bia. Chúng nhạt thếch. Không đủ chếch choáng. Choang. Một tiếng vỡ rơi xuống nền nhà. Lão họa sĩ già cười hềnh hệch, cầm chai Tequila chỉ còn vài giọt dưới đáy lên tu nốt. Sau đó, lão ném về phía bức tường màu xám. Những âm thanh rơi xuống nền nhà. Vỡ. Bức tường bết thêm màu vàng chanh của Tequila. Gã hoa mắt. Gã nhìn thấy cái thứ chết chóc linh nghiệm từ nhiều thế hệ đang quét lên bức tường màu xám của mình, như một vận mệnh hoặc sự ám ảnh nào đó từ trong tiềm thức quen thuộc. 

Gã lảo đảo đứng dậy, rời khỏi quán. Đêm lảo đảo trong cơn giông rạch xé ngang trời, dù rằng vẫn có sao và trăng. Lẽ dĩ nhiên, gã chẳng thể nào tìm được một thanh sắt, hay một chiếc búa tạ để mang về. Gã cần phải đập bỏ bức tường ở nhà gã. Chúng vẫn lõa lồ chờ đợi gã mỗi đêm. Hoặc quét qua mắt gã sự phản chiếu bởi mặt trời buổi sáng tràn vào những ô cửa kính. Nhàm chán. Ý thức của gã cũng chỉ là một bức tường bị phong kín. Chúng được tạo nên từ máu và những sợi neuron thần kinh. Bức tường này, cũng đang cần được cứu rỗi, cần bị phá bỏ. Gã không cần biết lí do. Gã chỉ thấy rằng, nó cần được phá bỏ. Dù sao, điều đó giúp gã quên đi những ám ảnh từ bức tường trong tâm tưởng. Chúng đã tồn tại lâu quá rồi. Nhưng, gã vẫn chỉ là một thằng đàn ông tay không tấc sắt. 

3.

Sáng nay, gã không ra khỏi nhà. Gã nghỉ việc. Dù là ngày đầu tuần. Dù sếp của gã là một mụ đàn bà mắt hí, môi dày, đầu rất to, chỉ biết gào thét, rất hay nhìn đồng hồ, và chăm chăm theo dõi các nhân viên qua chiếc camera mới lắp. Gã không ghét bỏ gì cái con người ấy. Gã chỉ thấy buồn, thấy hài hước mai mỉa thay, xung quanh gã còn bao nhiêu kẻ bị những bức tường như thế ngăn cách và ràng buộc hàng ngày hàng giờ bởi một vài chiêu trò ủy mị kém cỏi? Gã đã cố tình nghỉ việc. Gã sợ gì sự ghét bỏ, dập vùi của kẻ khác. Gã sợ gì mụ đàn bà ấy. Gã từng hỏi bà ta về một cái chày bằng sắt. À, gã hỏi vu vơ. Và bà ta, dĩ nhiên cũng ngu ngơ nhìn gã chằm chằm như người từ hành tinh khác xuống. Gã không định giết người bằng cái chày sắt. Gã muốn đập bỏ bức tường trong phòng làm việc của gã. Kể cả những chiếc bàn giấy, chúng chiếm hết phần lớn không gian và được kê sát tường. 

Gã chưa bao giờ cảm thấy mình nên dành một yêu mến nào đó với những người đàn bà. Thi thoảng, gã nhíu mày khi nghĩ đến vợ. Nàng cũng là một người đàn bà, người đàn bà đang ở trong những bức tường cùng gã. Vậy mà, từ khi cưới nàng về, gã chỉ là một bức tường màu xám lạnh lẽo đối với nàng. Cuộc sống của gã và nàng nằm trong một vòng tròn khép kín, đơn điệu, nhàm chán. Buổi sáng, nàng đưa con gái đi học. Chiều gã đón về. Công việc được chia đều theo lịch ngày và tuần. Thời gian ở nhà, gã với nàng mỗi người một góc, như hai cái bóng quay lưng lại với nhau. Nàng không nói. Gã không mở miệng. Mối quan tâm chung của gã và nàng là đứa bé ba tuổi hồn nhiên líu lo kể chuyện về những gì diễn ra nơi ngôi trường của nó mỗi ngày. 

Những ngày cuối tuần, nàng và con về ngoại. Gã thường làm vài việc khá kì quặc. Gã sơn lên bức tường đó một màu đỏ quạch như phù sa châu thổ. Chán, gã lại đợi đến cuối tuần, vợ con đi khỏi, tiếp tục đổi màu bằng cách tẩy xóa nó đi. Màu sắc có thể gây nên sự phấn chấn và kích động khối não bắt nó phải làm việc, phải sáng tạo, phải tìm đường. Gã vẫn thường mơ về những thanh sắt. Chúng có thể đập vỡ bức tường của gã. Vài lần, vợ gã cũng để ý đến bức tường ấy. Nàng không nói một tiếng nào. Nàng xem đấy là thứ trò chơi kì dị của chồng. Nàng tôn trọng điều đó. Gã thầm biết ơn nàng. Nhưng, giữa nàng và gã vẫn có một khoảng cách rất lớn. 

Con gái gã bốn tuổi. Gã với nàng vẫn cách nhau một bức tường trong căn hộ thuê. Con gái gã khá xinh và ngoan. Nó giống mẹ. Chỉ có gã, chẳng giống ai. Ngày gã ra đời, những người đến thăm đều thì thào với mẹ: “nó chả giống ai”. Mẹ gã khóc ướt gối mỗi lần bà nội chì chiết: “nó chả giống ai”. Gã vào tuổi dậy thì, bà vẫn bảo: “nó chả giống ai”. Gã chẳng thể nào hiểu nổi. Bố gã nghiện rượu Tequila. Những lần bố uống say khướt, bò lết về nhà, và lải nhải với mẹ bằng những thanh âm lên men mà gã nghe thấy: “nó chả giống ai?”. Gã nhốt mình trong phòng. Gã tạo ra một bức tường kín mà không một kẻ nào có thể bước chân qua được. 

Gã chẳng thể giống ai. Rõ ràng là thế. Khuôn mặt này, từ đâu đến, gã phân vân đi tìm câu trả lời mòn mỏi gần như nửa đời. 

4. 

Gã quyết định rời xa nàng một thời gian, để tìm cách xóa bỏ những bức tường màu xám. Gã chuyển công tác. Nơi gã đến là một thành phố khá trầm, buồn. Sếp của gã cũng không phải là một mụ đàn bà sồn sồn mắt hí và môi dày, suốt buổi nhòm đồng hồ, lấm lét liếc dọc liếc ngang nhìn ngó vào chiếc camera để xem nhân viên của mình có trốn công sở hay chăng? Gã cảm thấy một chút hưng phấn nơi mảnh đất này. Có điều, những bức tường vẫn dựng lên trước mặt gã hàng ngày. Chúng mỗi lúc một cao ngất, đến mức ngập mặt gã. Đẩy gã chúi xuống tận cùng, khiến gã trở nên nhỏ bé như một lũ kiến. 

Gã nghĩ về người đàn ông độc thân. Cái thời gã nhiều mộng mê nhất, nhiều lí tưởng nhất. Cái thời gã ngây thơ hát vang những lời nhảm nhí trên giảng đường. Gã nghĩ về bức tường trong căn phòng của gã. Gã nhớ quán rượu Tequila của lão họa sĩ già.

Gã ít liên lạc với vợ, nhưng vẫn gọi điện đều đặn cho con gái. Cô bé kể về bức tường, kể về một vài thứ sắc màu mới mẻ, kể về một người đàn ông già thường xuyên đến nhà. Gã im lặng, như bức tường màu xám của gã vậy. Gã nghĩ, có lẽ cũng đã đến lúc phải đập vỡ nó. Gã muốn biết phía sau là thứ gì? Tâm hồn màu xám hay những ẩn ức giấu kín? Gã không thể hèn nhát mãi được. Bản năng của con người như những đợt sóng ngầm. Chúng chỉ giả vờ hiền lành, lặng lẽ và đợi chờ thời điểm để hóa thành cơn bão lớn, cuốn trôi tất thảy xuống đáy sâu vĩnh viễn. 

5. 

Mùa hè. 

Gã về thăm con gái. 

Sau đó sẽ là quán rượu Tequila. Vợ gã đã sơn lại bức tường. Chúng có màu vàng chanh. Như màu Tequila. Bất giác, gã thấy lòng mình dịu lại một chút. Cái màu vàng chanh khiến gã hào hứng với thứ cảm xúc khác lạ đang chảy tràn đâu đó. Gã hỏi con gái về một người đàn ông. Vợ gã im lặng. Gã nhìn thấy những bức tranh mới mẻ hình như vừa được treo lên tường. Bức vẽ chai Tequila và một cái cốc đập vào mắt gã. Trong chai Tequila là một bức tường màu xám xịt. Gã vẫn chỉ là một thằng đàn ông tay không tấc sắt. Nhưng, gã đã biết cách để đập vỡ những bức tường. Chúng sẽ hóa thành tro bụi sớm thôi. 

Gã đến quán rượu của lão họa sĩ già. Gã hỏi về bức tranh vẽ chai rượu Tequila. Lão rót một cốc đưa gã và nói: “Cậu nên đập bỏ chúng, sau khi uống nốt giọt cuối cùng”. Hóa ra, lão ấy biết gã muốn gì. Hóa ra, trong chai Tequila của lão là bức tường màu xám mà gã mong muốn được đập vỡ nó. 

Gã vẫn biết ơn nàng. Người vợ buồn khổ đáng thương của gã. Nhưng, lúc này, gã sẽ làm cái công việc ấy. Thay vì, đi tìm một thanh sắt, gã sẽ nhốt một bức tường vào chai Tequila và ném xuống sàn nhà.

The wall inside a bottle of Tequila

1.

He has a habit of downing a shot of Tequila each morning, to then stare at the wall. Before leaving the house for the office. Wherever he’s at, there’s a wall like that. Missing only the Tequila. The walls appear in all sorts of places. Except for the Tequila. He has to go to a bar. He would drop into a bar owned by an old artist.

He sat puzzling over, why, people would erect them in all shapes and sizes. Square, rectangle, triangle, and then lock themselves inside them. Maybe, they’re rather naive. Maybe, they’re rather dim-witted. Maybe, they don’t have enough courage to knock it down. A mate dropped by his place, seeing the freaky wall, chuckled, mumbling something ominous coming from the back of his throat, as though some sort of thick hellish resound escaped from a hole somewhere around the globe: “a mirror that does not reflect could still reveal the past and the future”.

Does he need a future? Does he like to know if the present is satisfying enough for him? The walls, they’re precarious, full of fantastical common delusions adopted by the natives of this land. He thought. They’re no different to him. They are dutiful oxen ploughing, quietly following each and every furrow from the sunrise till dark.

2.

The bar owned by the old artist also has these walls. They’re entirely plastered with a deep ash grey. Each time stepping into the bar, after a shot of Tequila, he starts to incoherently mumbles about something that fails to escape his throat. But, the old artist could still work out: “those flat smooth incarcerated faces”.

The flat smooth faces, he’s more than know, like some matter-of-fact rude existence, some kind of obstinate test, for a long time now. There’s nothing he could do. Yes, and neither could anyone dare to act, because within their grasp not an inch of iron. Clearly, when people want to destroy and get rid of anything, to the very least they need something hard. We all know that. He’s nothing but a man, hands devoid of iron.

Yesterday, only with great difficulty he opened the door to leave his house. He decided to look for something harder than the wall. For instance, iron rods, or a sledgehammer. They will help him break down the wall. He dropped into the familiar bar. He sat down on the stool at the bar. He called for a shot of Tequila. Then asked the old artist for an iron rod. The old man mumbled as he caressed the bottle of Tequila, pouring another shot. Downing it. Then, asked under his breath. Still about the iron rod or the sledgehammer. His words slow, stretched out: “Tequila again?”. As he spoke, he poured another shot. Downing it. The Tequila was hot, and each shot burning ran down his throat. As though someone was slowly pouring poison, the hot cleansing liquid dissipating disappeared gradually down into his intestines. The spirit assaulted his nostrils. But he couldn’t detect the taste of Tequila. Unconsciously instead, he detected the scent of coffee. It overwhelmed the alleys of his childhood, days riding home on his bike. Now remained are vivid hallucinations of a past without a beginning nor end, without a definitive movement of ever going back or moving forth. He remembered his daughter’s eyes smiling, hair a length across her back had once sworn to him. She’s left him for a while since he thinks. Separation is nothing but a mere afternoon in time. He knows, those afternoons shall never die.

The grey walls. No matter where he’s at, his eyes would be drawn to those grey walls. A fantastical excitement is induced in him through the flavour of Tequila. It turns out, he had once danced the mambo in a youthful bout of drunkenness. One shot of Tequila can turn him into someone passionate and full of life. Two shots of Tequila, three shots of Tequila, he’s drowning inside the grey walls. Still, he sits in the tiny bar, subdued by the grey walls.

The other places he’s been to, their walls were different from the Tequila bar and his house. They’re gaudy in exaggerated hues. He thought they were just trying to deceive their guests. But, to him, they’re all in grey. All hiding the underlying grey. The truth within some deliberately erected edifices was deceitfully deflected. Or perhaps they’re simply hidden behind grey walls. For instance, like tonight, here in this bar, he’s witnessed it for himself through the hazy light of the lamps in the shapes of chillies. The walls were bleeding colour. The wall dancing. The walls were drunk with Tequila.

Tonight, he won’t drink Tequila. He ordered a beer. Extremely bland and tasteless beer. With barely enough of a punch. Weak. A sound of something shattered on the floor. The old artist laughed hysterically, holding up the bottle of Tequila with a few drops left at the bottom of it before he took the last sip. Before he threw it at a grey wall. The noisy assault spread rudely across the bar room floor. Shattering. Adding a lemon Tequila yellow smudge on the wall. His eyes were blurry. He saw death like a curse released from generations long gone in a stroke across his grey wall, from within a knowing subconsciousness a possessed destiny.

Swaying, he stood up, and left the bar. The night swaying amidst a storm tearing across the sky, though the Moon and stars had made their appearances. And of course, he couldn’t find a single iron rod, nor a single sledgehammer. He needs to knock down the wall in his house. They were also very obviously waiting for him every night. Or were there across his eyes reflective strokes of morning light via the window pane. Boring. His consciousness is simply sealed walls. A creation of bloody neurons and nerve fibres. This wall also needed to be decimated, to be free. He does not require a reason. He just knows that it needs to be destroyed. No matter what, it has been in existence for too long. But, he’s still a man without an inch of iron.

3.

This morning, he didn’t leave the house. He took a day off even though it was the start of the week. Even though his boss is a woman with no eyelids, thick lips, big head, knows only how to shout not talk, continuously checking her watch, and fastidiously watches her staff through the new state-of-the-art security system. He has no time for those kinds of people. He thinks it’s sad, and hilarious, all around him are people closed in and divided by the walls every day every hour of the day by such small acts of limited sentiments? He deliberately took the day off. He’s not afraid of humiliation or abandonment. He’s not afraid of women like her. He has once asked her about attaining a steel pestle. Yes, an off-hand thoughtless query. The stupefied woman stared at him like he was from another planet. It’s never his intention to kill anyone with the steel pestle. He just wanted to smash the wall inside his office. Even the office table, it took up most of the room though it’s set against the wall.

He has no desire or affection for women. His brows would furrow with the sporadic thought of his wife. She’s also a woman, a woman living with him inside the walls. Yet, from the day they were married, he’s nothing but a grey wall to her. Their life is inside a closed circle, dull, monotonous. Each morning, she takes their daughter to school. Each afternoon he would pick the child up. The errands were fairly divided equally by the clock each week. At home, they’re both at their corner, two spectres with their back to each other. She does not speak. He never opens his mouth. They share one single concern, the chatter of an innocent three-year-old with stories of what happened at school each day.

At the end of each week, she and the child visit her parents. He would be up in his odd ways. He paints his wall with a bright red delta alluvial hue. Bored, he would wait till the end of the week, after his wife and daughter left, he continues to change the colour by erasing the latest colour. Colours induce in a person’s mind the desire to function, create, seeking release. He often dreams of the metal rods. They have the power to destroy his wall. A couple of times, his wife did glance at the wall. She never utters a word. She sees it as his odd hobby. She respects it. And he’s quietly thankful. But, the separation between them is rather extensive.

Their daughter is now four. He’s separated from her by a wall in the rental property. His daughter is rather pretty and obedient. Like her mother. But for him, he’s nobody. When he was born, people visiting his mother would note quietly: “he doesn’t look like anyone”. His mother would weep miserably each time her mother-in-law complained: “he doesn’t look like anyone”. He will never get it. His father can’t live without Tequila. Each time his father was so drunk, he staggered home, always blabbering something incoherent, but to him, it sounded like: “he doesn’t look like anyone?”. He would then lock himself in his room. He’s built a wall so thick; no one could surpass it.

He’s a nobody. It’s clear. This face came from where he puzzled over it, looking for an answer it seems for nearly half of his life.

4.

He made up his mind to leave her for a while; he wants to find a way to destroy the grey wall. He moved to a different branch. His new office was in a rather sombre, and sad town. His boss is no longer an overweight middle-aged woman with single eyelids and thick lips, constantly looking at her watch, constantly looking sideways at the security screens, watching her employees trying to skip work or not? He was a little excited about the new surroundings. Except, the walls kept appearing in front of him every day. They’re sometimes so big, to an extent where they overwhelmed his entire line of vision. Impelling him down a level, that made him feel like an ant.

He ponders about being single. The peak of his aspirations, was when he was the most inspired. A time when he innocently sang out loud lumbering nonsense in the middle of the road. He thought of the wall in his room. He misses the Tequila bar owned by the old artist.

He hardly spoke or contacted his wife, though he would regularly ring and talk to his daughter. The little girl mentioned the wall, spoke about the new colours on the wall and spoke of regular visits from an old man. He was as silent as his grey wall. He thought, maybe it’s time he breaks it. Does he want to know what’s behind it? The greying spirit or hidden regrets? He can not be a coward forever. The human instinct is like an underwater current. They’re only pretending to be calm, but are quietly waiting for the moment to turn into a tsunami, pulling along with it everything into the depths of forever.

5.

Summer.

He returned to visit his daughter.

Then dropped by the Tequila bar. His wife has repainted the walls. They’re now a lemon yellow. Like the colour of Tequila. Not knowing, allowed him to feel that bit calmer. Out of nowhere an odd excitement overwhelmed him in light of the lemon yellow. He asked his daughter about the man. His wife was completely silent. There were various fresh paintings hanging on the wall. A painting of a bottle of Tequila and a shot glass smack bang caught his eye. Inside the bottle of Tequila was a dark grey wall. He’s still a man without an inch of iron. But, he now knows how to destroy the walls. They shall all soon turn into ash.

He dropped into the bar owned by the old artist. He asked about the painting with the bottle of Tequila. The old man poured him a shot and said: “Son, you should destroy them, after swallowing this last drop”. It turns out, the old man knew. It turns out, inside the old man’s bottle of Tequila was a grey wall that he had wanted to destroy. 

He’s indebted to her. His beloved wife. But, for the moment, he has to act. Instead of trying to find an iron rod, he will lock the wall inside a bottle of Tequila and smash it on the tile floor.

(May 2020)


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Long crazy days

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I would pick a leaf, wedging it on my earlobe, flat on my back listening to the wind sing. Would you like to try it sometime? Amid the troublesome racket, spare an afternoon to lie on the lawn, all ears to the wind in a melody, what’s more desirable, more desirable than that! Forget the hairy hands, the compassionate faces, forget those who steal identities and ransack your memories.

This afternoon, on mount Chư Mang I lay listening, fell asleep unsure when. When I woke, the leaves had stopped singing, so did the wind — the sweet melodic sound hid. The Sun has gone to a far off place. The clouds directionless, no longer trouble-free, chaotic, random, a hindrance!

I sang like a bird stretching its neck in song: “It’s deadly quiet, where’s everyone?”.

There are those leaders partial to being at the top. The mention of the summit, humanity, the world etc. and they jump up and down applauding unknowingly, that the peak is a reflection imprinted at the bottom of a lake. Like this afternoon, for instance, wind and the Sun absent, Mount Chư Mang shadow fell deep beneath the river Năng. A still image without sound, tight lip inaudible, more preferable than applauds of lies and delusions, correct?

I discovered: between me, and everybody else is a pitiful dark divide, and there’s no way ever to fill it. I’m like a bat upside down choosing to hang bums up, peering into the blackness looking for the heart of the planet. As for up there, I’ll leave it for them, I already know.

A madman frequently passes the corner where I get my coffee. His hands were covering his ears, in a hurry. He heads towards Sixth Avenue; there’s a tank, its cannon pointing towards the sky. He always walks with purpose; thirty minutes later’ he turns up at my corner, having circled the city. I called out to him, but he was unbothered, both hands still covering his ears, and continued to walk.

Can there be anything crazier? Was he avoiding chaos by taking to the streets? More running than walking, both hands on his ears. I ran after him, tugged him on the sleeve, shouted:” Hey, where are you going?”. Startled awake, dazed, broke out in laughter:” higher, higher, nearly there…” After answering, he covered his ears again, then ran. 

He was not alone; his madness infected the city! They lined up snaking behind him, half walking half running, not just covering their ears, but nose eyes as well, very funny! I shouted, “Hey, what’s happening?”. This time no one answered. I was officially outlawed. Again I picked a leaf, wedging it on my earlobe. From inside echoed eerie laughter. Why is that?

This morning there was a strange light, gold like the faces of natives from the land of fire, parting the clouds unforeseen peered down. Covering their eyes, ears, nose, the people kept walking. The cannon still pointing skyward like some heroic promise, the protagonist in a piece of chaotic literature about life forcefully moving forward.

My letters entertained the idea of a handstand. But I know, their bones are brittle, fragile, if not careful, they’ll be a day. I thought, but there’s no way of stopping them. Since I’m upside down, how can I ban them from doing handstands? Hence, whatever will be will be. They walk with their hands like circus performers, following the people in a rush. The words were crowding together at the foot of the cannon, looking for something, deliberate, and careful, like a psychic paid to look for remains. They excitedly boast, deep beneath the fountain, deep in the earth, there’re people, not sure if they’re dead or alive. I laughed but said nothing. It was an inside joke. In that river of people in the street, some refuse to die, though they should have long ago. Hence in the depths, there are those who are no longer alive, when they are supposed to be living. What a bewildering predicament, right? But life, when is it easy to grasp, to belong, to remember like a spelling test! Conceptualised antagonistic ideas, morphing in such a chaotic manner full of improbabilities?

One day, those manic letters agreed on a mass suicide! They were shot from the cannonball, exploding; their bodies bloated floating on the surface of the lake!  The cannon is still pointing skyward, like some long lost anthem.

The blind madman suddenly stopped: “Hey, any news? They’re all dead…”. Then, continuing on his way, the people followed him. I came out to watch and saw the swollen bloated letters. I climbed, wedged a leaf on the lobe of the tank.

It’s not the songs of the wind, not a single soothing cloud, the strange sound reaching for the sky, no different to the sound of a cannon.

I asked: “Hey, who created this incredulous monstrosity?”. No answer, just a sharp explosion of cannonballs up high spitting shrapnel hitherto. In a corner, blood-soaked wounded bodies pulled each other to safety, like the shadows of ghouls.

Like a dream – you said. Like a nightmare – I admitted. The fact of these ludicrous laws of humanity; in the right to exist, you end up fighting with yourself, you die! Correct? In the end, the letters will perish as they always do, people will die, and the guns will never stop.

The long crazy days will adamantly follow.

[February 2019]

Những ngày dài điên loạn

Tôi ngắt một chiếc lá, giắt lên vành tai, và nằm nghe gió hát. Bạn có muốn thử không? Giữa bao nhiêu âm thanh nhộn nhạo phiền phức này, dành một buổi chiều nằm ngang sườn cỏ, vểnh tai lên mà nghe gió lá hát với nhau, còn gì thú vị hơn thế nữa! Quên các bàn tay lông lá, quên các gương mặt nhân từ, quên nốt những bọn đánh cắp tên người và bọn lục tung ký ức, nghe thôi…

Chiều nay, tôi nằm nghe trên núi Chư Mang, rồi ngủ luôn lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy, thì lá không hát, gió cũng không hát nữa. Tiếng véo von ngọt ngào trốn biệt đi đâu mất. Mặt trời đã đi về tận đâu xa lắm lắm. Những đám mây hành hương đi lạc, không còn thành hàng thành lối, lộn xộn, vô minh, nhìn mà tội!

Tôi cất tiếng, như con chim ngửa cổ hót chơi: “Đi đâu cả rồi mà lặng im thăm thẳm?”

Có những cái đầu, rất thích đỉnh cao. Hễ nói đến đỉnh cao, nhân loại, thế giới, kỷ lục vân vân là y như rằng họ nhảy cỡn lên vỗ tay mà không hề biết rằng, ngọn núi cao ấy thực ra là bóng in sâu nơi đáy nước. Như chiều nay chẳng hạn, khi gió và mặt trời đi vắng, thì núi Chư Mang đổ bóng sâu thăm thẳm dưới sông Năng. Thôi thì chằng thà là còn hình mất tiếng, có miệng như câm, còn hơn là ngồi vỗ tay hát ca những lọc lừa dối trá, phải không?

Khi tôi phát hiện ra điều này thì tôi biết: Giữa tôi và số đông cuồng tín đã có một vực thẳm ngăn cách, không thể nào san lấp được. Tôi bây giờ như một con dơi ngạo ngược chọn cách treo mình lộn ngược hoặc chổng mông lên trời, để nhìn sâu xuống dưới chân, xem lòng đất dày đến cỡ nào, xem đáy nước sâu đến chừng nào. Còn phía trên cao ấy, để dành cho mọi người khám phá, tôi thì tôi biết rõ rồi…

Chỗ góc đường nơi tôi vẫn thường ngồi uống cà phê, có một gã khùng thường đi qua. Gã đưa tay bịt lấy hai lỗ tai, mải miết đi, làm như đang vội lắm. Gã đi ra hướng ngã Sáu, nơi có chiếc xe tăng nòng đang chĩa lên trời. Tưởng gã đi công chuyện gì, nhưng không phải, chừng ba mươi phút sau lại thấy gã, hoá ra, gã đi vòng quanh thành phố. Tôi gọi nhưng gã không thèm nghe, hai tay vẫn bịt lấy hai tai, đi tiếp…

Có ai khùng hơn vậy không? Đã không muốn nghe những cuồng loạn sấp ngửa thì ra đường làm gì? Đi như chạy, hai tay bịt hai tai. Tôi chạy theo, níu áo, hét: “Này, đi đâu đấy?”. Gã bừng tỉnh, mắt ngơ ngác, mở miệng ra cười: “Lên cao, lên đỉnh cao, sắp lên rồi…” Nói xong, lại tất tả bịt tai lại, đi như chạy…

Không phải chỉ có một mình gã ấy khùng đâu, hình như cả thành phố này cũng lây khùng từ gã! Họ sắp hàng rồng rắn phía sau, vừa đi vừa chạy, không chỉ bịt tai, mà còn bịt mũi bịt mắt nữa, vui lắm! Tôi hét: “Này, làm trò gì thế?”. Lần này thì không ai trả lời nữa. Tôi chính thức bị tẩy chay. Tôi lại ngắt một chiếc lá, giắt vào vành tai. Từ trong ấy vọng ra tiếng cười ma quái rờn rợn.

Sao thế nhỉ?

Màu nắng sáng nay lạ lắm, vàng như mặt người xứ lửa, bất ngờ rẽ mây nhìn xuống. Đoàn người vẫn bịt mắt bịt mũi bịt tai đi. Nòng pháo vẫn lạnh lùng chĩa thẳng lên trời như một lời khẳng định hùng hồn, rằng, nó mới đúng là nhân vật chính trong một áng văn điên loạn về cuộc sống đang cuồn cuộn lao tới…

Những con chữ của tôi, chúng thích chơi trò trồng cây chuối. Nhưng tôi biết, xương chúng giòn, dễ gãy, không cẩn thận, rồi cũng có ngày… Nghĩ thế, nhưng không làm sao mà can ngăn được. Trong khi tôi chơi trò lộn ngược hàng ngày, làm sao cấm chúng trồng cây chuối? Thôi thì, đến đâu hay đó. 

Chúng đi bằng hai tay, như diễn viên xiếc, theo đoàn người hối hả trên đường. Rồi chúng túm tụm dưới nòng pháo, tìm thứ gì đó, nhẹ nhàng, tí mẩn, như một nhà ngoại cảm tìm hài cốt lấy tiền…

Rồi chúng hớt hả về khoe với tôi rằng, sâu dưới bể phun nước, sâu dưới đất ấy, có người, không biết là còn sống hay đã chết. Tôi cười cười, không nói gì. Tôi biết trước rồi. Trong dòng người cuồn cuộn trên đường kia, có những người không chịu chết, đáng ra họ đã chết rồi. Thì dưới sâu kia, có những người không sống nữa, trong khi đáng ra họ đang sống. Tù mù rối rắm lắm phải không? Thì cuộc sống, có khi nào dễ hiểu dễ thuộc dễ nhớ như một bài tập đánh vần đâu! Những khái niệm tưởng chừng đối lập nhau, lại chuyển hóa một cách hết sức lộn xộn và đầy ngẫu hứng…

Rồi một ngày kia, những thằng chữ hiếu động đồng loạt tự sát, một cuộc tự sát tập thể! Chúng trèo lên nòng pháo và đâm đầu xuống bể nước, xác nổi lềnh bềnh! Nòng pháo vẫn chĩa lên trời cao, như một bài hát trong quá khứ…

Gã khùng đang bịt mắt đi vòng quanh chợt dừng lại hỏi: “Này, biết tin gì chưa? Chúng nó chết hết rồi…”. Nói xong, gã đi tiếp, đoàn người phía sau cũng đi tiếp. Tôi chạy ra xem, thấy xác chữ đã trương phình. Tôi trèo lên, cài một chiếc lá vào vành tai chiếc xe tăng…

Không phải gió hát, không phải mây ru, những âm thanh kỳ lạ vút lên cao, không khác gì tiếng súng…

Tôi hỏi: “Này, ai đã tạo ra sự quái gở vĩ đại này!”. Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng súng hỗn hào sủa váng động. Tôi nhìn xuống hồ nước, thấy hàng trăm nòng pháo đang dốc ngược và say sưa nhả đạn. Theo một góc chiếu thẳng đứng, những xác người máu me bê bết đang dắt nhau chạy trốn, như những bóng ma…

Như một giấc mơ – bạn nói thế. Như một ác mộng – tôi xác nhận. Cái quy luật quái gở của nhân loại: Đánh nhau với đối thủ để tồn tại, sau đó, tiếp tục đánh nhau với đồng bọn để tồn tại, và cuối cùng là đánh nhau với chính mình, để chết! Đúng không? Vì vậy, cuối cùng thì những thằng chữ huênh hoang đã chết, người cũng sẽ chết, và súng thì không ngớt hỗn hào…

Những tháng ngày điên loạn cuốn nhau đi. 


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

ego consoling self

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I’ve come to terms with how my face feels, but I was still unsure of its shape, an estranged spirit busking at a flea market, a samurai waving a knife gutting himself for fun, or some deranged fool arranging words dreaming of becoming a poet? Shrouded by a cloud of smoke and mist of desolation, I considered the placing of my face. Each time there was an itch, I took a glimpse at the mirror, it was a sad, defiant stranger.

I reside to feel my feet, but I was unsure if they belonged to me or to someone else. Whose feet tirelessly climbed dunes to reach the sea, whose feet entangled in the long grass dreaming of laying abandoned beneath the bluest the biggest sky? Whose feet chose to set foot on a path through such deserted ravines? Someone else or mine away on an off-beaten path lost moving back and forth with neither foot conforming to the expectations of society?

I reside to feel my stomach, but I was unsure if it belonged to me or to someone else. Whose gut was so changeable through the sun and rain, through the anguish, full of hunger and desire. So ordinary or some evolved empathetic being? In the middle of the night yearned for a faraway soul, my confused gut churning with lies and deceit.

I reside to continuously feel my heart, but I was unsure if it was mine. Whose heart was arrhythmic without rest? Whose heart each night was by the moonlight, rising and falling with the tide, in constant heat? My soul or someone entwining red and blue palindromic heated haemoglobin? Someone or mine that at times were breathlessly drowning, lost, and exhausted in this dull, sad life?

I reside to rub my shoulders, but I was unsure if it was mine. Whose shoulders bore the burden and constant scrambling for food and shelter, drenched in sweat, not once relieved by a breeze, ripped through the jungle for a living amongst the thorns and brambles? Exhausted because of me are the wings of a bird at the end of the horizon? Whose shoulders saw the starkness of the seasons alone at the side of the mountain, ready to embrace a breeze that never turned up? My shoulders or theirs on which were the fallen leaves, barely touched before in haste, flown away without a promise?

Crawling through my body was some kind of sickness. There to see here and hither a ghoulish four realm of heaven and earth when I have resided to rub my eyes. Mine or theirs to only see worms and maggots devouring holes in all places, weeping battered eyes? My eyes or theirs that those familiar features will never be identified? Whose eyes closed could see the mangled fate of humanity on this planet? Whose eyes were as wild as grass in a dry season upon everything ignites in torturous flames?

There were afternoon naps when sleep had evaded me; I would rub my back, rubbed the length of it up then down not sure if it was mine! Whose back was so long, a waste of good cloth, my lumbar or an eroded boulder amongst the sparsely scattered weed? Whose back failed after forty years of cultivation missed out on the season of their dreams, covering one side to expose the other? You have left me in a fog, cut short was the path you betrayed when you turned your back on me.

Was there anyone out there like me, to be that far from myself, finds after searching through all the crevices and troubled parts of his anatomy to be equally frightfully estranged? Am I me or some other being in these inconvenient troublesome clothes? If not me then where lies the meaning of life, who will shoulder the burden of these struggles for me amid this world for thirty-six thousand days? If one was unable to recognise oneself then who?

Often, ego was found consoling self.

Mình tự xoa mình

Nhiều khi ngồi xoa mặt mình mãi, vẫn chưa thể định hình mình là ai, là kẻ vong thân hát cuồng giữa chợ, một mình múa dao đồ tể toan làm tráng sĩ rạch bụng coi chơi, hay chỉ là gã xếp chữ huênh hoang mơ làm thì sĩ? Mặt mình hay mặt ai mà khói sương che phủ hang hốc hoang vu? Mặt của ai hay mặt của mình mà mỗi lần nhìn vào gương đều bắt gặp một kẻ xa lạ u hoài ngang ngạnh?

Nhiều khi ngồi xoa chân mình mãi, vẫn chưa thể định hình chân mình hay chân ai. Chân ai mà miệt mài lên xuống đi về đầu non cuối bể, chân ai mà rối ren hoa cỏ sợi ngắn sợi dài mơ ngày nằm choãi ra dưới trời xanh lồng lộng? Chân ai mà chọn đường chọn lối nơi cheo leo vực thẳm mà đi, chọn độc đạo một mình mình mà bước? Chân mình hay chân ai mà trước lẫn sau đều không có bàn chân nào đồng hành như nhân gian mong đợi?

Nhiều khi ngồi xoa bụng mình mãi, vẫn chưa thể định hình bụng của mình hay bụng của ai. Bụng ai mà cồn cào thương nhớ giận hờn đói no thất thường mưa mưa nắng nắng, là tiểu nhân tầm thường hay kẻ biết phân ưu cộng lạc với thiên hạ khổ đau? Bụng ai mà nửa chiều đổ mưa bỗng thấy bâng khuâng về những quanh co gian dối, mà nửa đêm bỗng cồn cào vì một người ở xa thật là xa?

Nhiều khi nằm xoa tim mình mãi vẫn chưa định hình nổi tim mình hay tim ai. Tim ai mà loạn nhịp liên hồi không ngủ? Tim ai mà rạo rực theo từng nhịp thủy triều lên xuống, mà giãn nở thất thường mỗi khi đêm về thăm thẳm bóng trăng treo? Tim mình hay tim ai mà chằng chịt đỏ đen xuôi ngược hồng cầu rộn rã? Tim ai hay tim mình mà có khi đắm đuối muốn đứt hơi trong quên lãng kiếp người quá mệt mỏi hoang vu?

Nhiều khi ngồi xoa vai mình mãi vẫn chưa minh định nổi, là vai của mình hay vai của ai. Vai ai mà đòn tre chín dạn gánh gồng cơm áo xiêng viêng, vai ai mà hổn hển mồ hôi trưa hè gió quạt, mà lá cắt gai cào xé lối băng rừng tìm nẻo mưu sinh? Vai ai hay vai mình mà nhiều khi mỏi mệt, như cánh chim quạt gió cuối trời? Vai của mình sao mấy mùa sừng sững vách núi cô đơn đón đợi gió ngàn qua chưa thấy? Vai của mình hay vai của ai mà chiếc lá vừa rơi, vừa đậu xuống đã vội vã vụt bay đi không hẹn quay về? 

Hình như có căn bệnh gì đó đang bò trong người mình. Nhiều lúc ngồi xoa mắt mình mãi rồi nhìn ngược nhìn xuôi, thấy đất trời điêu linh bốn cõi. Mắt mình hay mắt ai mà nhìn đâu cũng thấy mọt gặm sâu ăn thủng lỗ chỗ, dột nát tứ bề? Mắt ai hay mắt mình mà mình nhìn mình cũng không nhận ra nét thân thuộc? Mắt ai mà càng nhắm lại càng thấy rõ ràng rối ren của kiếp người nơi trần thế? Mắt ai mà nhìn vào cái gì thì cái đó bốc cháy ngùn ngụt như cỏ dại mùa khô?

Có những buổi trưa khó ngủ nằm xoa lưng mình mãi, xoa tới xoa lui vẫn chưa dám chắc là lưng ai hay chính lưng mình! Lưng ai mà dài lưng tốn vải thư sinh giá áo, lưng mình sao mà như tảng đá trùi trũi bên đường cỏ mọc lau thưa? Lưng ai mà hơn bốn mươi năm gieo gặt mất mùa chiêm bao thất bát, hễ che bên này lại lạnh phía bên kia? Người đi bỏ mặc phong sương, quay lưng phản bội con đường lêu đêu…

Có ai như mình không, cảm thấy mình xa lạ với bản thân mình đến thế, tìm hết mọi bộ phận mọi ngõ ngách phiền hà của cơ thể đều thấy xa lạ đến kinh hoàng. Ta là ta hay ta là tha nhân trong áo quần phiền hà rắc rối? Ta không phải là ta thì ý nghĩa cuộc đời nằm ở đâu, rồi ai sẽ gánh chịu cho ta những công tội nhọc nhằn giữa thế gian ba vạn sáu ngàn ngày? Ta không nhận ra thân thuộc chính mình thì còn ai có thể nhận ra ta nữa?

Nhiều khi, mình tự xoa mình…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A game of sinking to the bottom of the sea

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I’ve been trying to remove myself from this world, slowly, a small piece at a time. Attachments can be tiresome, talking, smiling, the acts of socialising — picking away like a bird plucking at its feathers, like a silkworm pulling at every strand of silk, beneath a looming gloomy grey horizon. Chư Mang is entering a season of torrential rain. I’m ready to let myself go, to sink to the bottom of the sea, to officially step into another fragile broken adventure of the heart. Where I may find myself with all its corners, and sharp edges, sorrow, joy, a complete story, not lost or displaced, officially mine alone!

I’ve often thought God was wrong when he created too many people, weak with the need to lean on others via the invisible fragile threads call tradition, and morality. There’s no true faith nor whole enough for all. I rather have myself as company, than a boat full of people. I like the idea of sinking to the bottom of the sea alone, then from there, looking up, watching life in waves roll by. But of course, it would be boring and lonely, and yes, I would ask a pretty fairy to come and play with me!

I know, hiding beneath my yellow skin and those like me are the boundless possible instabilities. Hence, after a short time edged in-game in the middle of the silence, I would rise to the surface to breathe, like a pathetic yellow tail fish. In those times bobbing up and down, I heard the earth stooped over in pain: The broken promises and jealousy, the lies and betrayal, cunning cowardice. I would sit quietly beneath the shade of a tree on the side of the mountain singing a trivialised song about the nation, its people fumbling noiselessly — my throat raw and burning like inside the barrel of a machine gun after a tirade of gunfire.

Everybody prods along, running, crawling, as though they’re afraid that if they were to stop, society would lose its magnificent radiance. I query in passing: “Hey, why don’t you try leaving the world just once by sinking to the bottom of the sea? Hey, why don’t you just lie down on the spine of the mountain and sing some meaningless songs and see?”. No one listens to me. They’re very busy! Some held out their hands to pull me up to join the rest of this happy, lively human race. Stop, I know, the creator is wrong.

Now and then, there had been a few volunteers sporting a game of falling into the sea with me, but only for a few weeks, before the moon was high enough in the sky, they were gone, quietly they would leave me. Some leave-in regret, some unsure if they’re happy or sad. I have always known, so I have no regret, in this game, you need to be persistent, take nothing for granted, not have too much fun, but also can’t just eat and do nothing either. I play alone, like a woodcutter who had lost his way in the jungle, solely in the deep dark leagues of the sea, I’m content and at peace.

But if we sink too deep into the sea, never knowing though, all might be ashes, forgotten, will never – amount – to – anything! Hence, now and then I would rise for a breath of air, laugh with the people I care about and others, and give back to love a kiss the shape of a spiral of Cổ Loa Citadel! This life, you can’t be forever far from it?

In the end, you’re just a small living thing busy juggling the two different worlds, far apart; such contradictions, torturous enough? Often we are like a migrating bird who is displaced from its flock at dusk or early morning fog, a fractured, broken call in the twist of a breeze. You swore to live and die to the full from here to the end of the world, with the will of an iron gut, till the river erodes and the sea dries up, till the rocks are yellow and grounds to dust. Now, all have flown away in a direction unknown without a hint of ever being. A strand of hair is left behind, serendipitously shiny beneath the eerie sunlight, like a flash at the equator splitting a road into two distinct halves.

You ask me, why does it have to be so absurd, why different from everyone else, why is that? One never knows! Life was already like that when I was born. A portrait of tragedy bound for hardship, a tattered map, in it, everyone wanted for themselves the part that makes sense. They all thought they make sense the most, the most useful, hence then who will accept what does not make sense? So okay I will volunteer to receive all that is worthless without meaning, take it all upon myself, so the world is in less disparity of light and load, and see if the world will be that much more balanced. All of humanity, all the celestial beings residing, all the thrones, monuments big and small, I will push them aside, so I can be alone; on the other side, see if the earth would stop rotating, knowing it may implode!

Though honestly there shouldn’t have to be so many words, I’m afraid when I’m gone humanity will misconstrue my ideas; they’ll make up some treacherous fantasy instead; hence I have to repeat it once more, then I’m done. This nation is drowning in a lie, a gold plated crystal-laden illustrious epic tale, why would you bother with falsifying more folklore, it’s only a matter of time, sooner or later (people will work it out). You can either continue to believe or not believe. As for me, I will continue to go on my search for a game of my choice. I shall let myself go, sinking to the bottom of the sea, to step into another fragile broken official adventure of the heart. Where, I may find myself with all its corners, and sharp edges, sorrow, joy, a complete story, not lost nor displaced, officially mine alone!

Hey, is there anyone out there interested in joining me for a while?

[Edited July 2022]

Chơi trò đánh đắm

Ta đang cố gắng gỡ mình ra khỏi thế giới này, từ từ, từng tí một. Tình trạng kết dính nhiều khi làm ta mệt mỏi, tiếng nói nụ cười chỉ là hình thức biểu hiện xã giao. Gỡ như chim gỡ lông, như tằm gỡ tơ, bằng cách ngồi nhìn bầu trời xám xịt. Chư Mang bắt đầu vào mùa mưa dầm dề. Ta lại chuẩn bị đánh chìm mình, để chính thức bước vào cuộc phiêu lưu mới trong thế giới nội tâm mong manh đứt đoạn. Ở đó, ta thực sự tìm thấy mình với đầy đủ góc cạnh, buồn vui, với đầy đủ câu chuyện, không mạch lạc, nhưng chính thức là của riêng mình!

Ta vẫn thường nghĩ rằng, chính thượng đế đã sai khi tạo ra loài người đông đúc yếu mềm và kết nối họ lại với nhau bằng những sợi dây vô hình có tên là tập quán, đạo đức. Không có một đức tin nào là đúng và đủ cho tất cả mọi người. Ta vẫn thích lang thang một mình hơn là phải ngồi chung một chuyến tàu đầy nhóc sinh mạng. Ta thích đánh chìm mình xuống đáy đại dương cô độc, rồi từ dưới đó, ngước cặp mắt nhìn lên, thấy cuộc đời nhốn nháo cuồn cuộn đi qua. Nhưng như thế thì dĩ nhiên buồn chán vì cô đơn quá, phải rồi, ta sẽ rủ một nàng tiên xinh đẹp chơi cùng!

Ta biết, dưới màu da vàng vọt của ta và đồng loại còn ẩn chứa nhiều điều bất ổn. Vậy nên, sau những thời khắc ít ỏi rong chơi giữa chốn lặng câm, ta lại phải ngoi lên thở, như một chú cá da vàng tội nghiệp. Những giờ phút ngoi lên ngụp xuống ấy, ta nghe thấy nỗi đau trần thế vây bủa xung quanh: Những hẹn hò ghen tức, những dối trá quanh co, những thủ đoạn đê hèn… Ta ngồi lặng dưới bóng cây bên sườn núi và hát một bài hát vô nghĩa về quê hương đất nước, về dân tộc đang đổ dốc không phanh phèng la vỡ trận… Nghe miệng mình bỏng rát như nòng súng vừa bắn liên thanh.

Mọi người vẫn nườm nượm đi, chạy, hoặc bò, làm như họ không vận động thì xã hội không thể tươi đẹp hoặc vĩ đại. Ta hỏi bâng quơ: “Này, sao không thử đánh chìm mình đi để rời xa thế giới này một lần? Này, sao không thử nằm xuống sườn núi này mà hát một bài hát vô nghĩa xem sao?”. Không ai nghe lời ta hết. Họ bận lắm! Cũng có người chìa bàn tay ra, hăm hở kéo ta đứng lên nhập cuộc cùng nhân loại đông vui. Không đâu, ta biết rồi, thượng đế đã sai lầm.

Thỉnh thoảng, cũng có người xung phong tham dự chơi trò đánh đắm chìm nổi phong sương với ta, nhưng chỉ được một vài tuần trăng là lại lặng lẽ bỏ đi. Có người bỏ đi trong nuối tiếc, có người ra đi không rõ buồn hay vui. Ta biết trước rồi, nên không hề tiếc nuối, cuộc chơi này, cần phải kiên trì, không vụ lợi, không ham vui ăn xổi ở thì. Ta chơi một mình, như một gã tiều phu lạc lối, một mình với đại ngàn thăm thẳm, mà vui…

Nhưng nếu chìm sâu quá dưới đáy đại dương, biết đâu rồi, tất cả sẽ cát bụi, sẽ lãng quên, sẽ không – là – gì – nữa! Vậy nên, lâu lâu ta lại ngoi lên hít thở khí trời, cười thân thiện với mọi người, và gửi lại cho yêu thương một nụ hôn hình xoắn ốc Loa Thành! Cuộc đời này, làm sao xa mãi được?

Cuối cùng thì ta cũng chỉ là một sinh linh nhỏ bé bận bịu đi về giữa hai thế giới cách xa nhau, khác xa nhau, vậy đã mâu thuẫn chưa, đã đọa đày chưa? Nhiều khi ta ngỡ mình là con vạc lạc bầy bay đi trong ráng chiều hay sương sớm, với tiếng kêu vỡ vụn rơi theo gió nghiêng nghiêng. Người đã thề sống thề chết rằng chân trời góc bể, rằng tạc dạ sắt đồng, rằng sông mòn biển cạn, rằng đá vàng ghi tạc… bây giờ cũng đã vỗ cánh bay đi về hướng nào đó không còn thấy tăm hơi. Một sợi lông còn sót lại, tình cờ lóe sáng lên dưới ánh mặt trời xa lạ, như một tia chớp nhiệt đới rạch đôi con đường thành hai nửa khác xa nhau…

Bạn hỏi ta, sao phải vô lý thế, sao phải khác người thế, sao thế? Ta có biết được đâu! Ta sinh ra đã thấy cuộc sống như vậy rồi. Một bức tranh điêu tàn khổ sở, một tấm bản đồ rách nát, trong đó, ai cũng giành cho được về phía phần có lý. Ai cũng nghĩ mình có lý nhất, hợp lý nhất, vậy ai chấp nhận phi lý đây? Thôi ta xin nhận hết những điều vô nghĩa lý vậy, nhận hết về mình cho thế giới này bớt chông chênh nặng nhẹ, xem cuộc sống có cân bằng hơn chút nào không. Tất cả thế nhân xuôi ngược, tất cả thánh thần ngự trị, tất cả tượng đài lớn nhỏ mưu mô, kéo nhau về hết một bên đi, ta một mình chọn phía bên này, xem trái đất có ngừng quay không, có sụp đổ không!

Lẽ ra thì không nên nhiều lời đến vậy, nhưng ta sợ khi ta đi rồi nhân loại hiểu nhầm ta, rồi bịa ra những huyền thoại ẩm ương giả dối, nên đành nói thêm lần nữa, rồi thôi. Đất nước này ngập chìm trong những câu chuyện vàng mã trang kim giả dối vĩ đại quang vinh, đừng bịa thêm một truyền thuyết nào nữa hết, đừng dựng thêm một tượng đài nào nữa hết. Tất cả những tráng lệ nguy nga xương máu ấy sẽ sụp đổ tan tành vào một ngày nào đó, chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Bạn cứ việc tin hoặc không tin. Còn ta, ta còn mải chạy theo cuộc chơi mình lựa chọn. Trưa nay, khi mặt trời đứng bóng, đám mây lơ đãng bay qua, ta lại bắt đầu chơi. Ta lại đánh đắm mình, để chính thức bước vào cuộc phiêu lưu mới trong thế giới nội tâm mong manh đứt đoạn. Ở đó, ta thực sự tìm thấy mình với đầy đủ góc cạnh, buồn vui, với đầy đủ câu chuyện, không mạch lạc, nhưng chính thức là của riêng mình!

Này, có ai chơi cùng ta một lúc không?


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, born 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Chư Mang to the market

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

CHƯ MANG TO THE MARKET

Since it’s a lovely day, he took his letters down Mount Chư mang to sell at the market, like a mother selling their children, like the poor sell their dogs, like lovers selling each other out. Now the dejected letters followed him, mirrors of blue eyes watching the passing strangers stepping on top of each other trying to move ahead. Stay in line, no running, or you’ll get lost! He reminded them before choosing a spot to display them. People came from all directions and flooded the market, their faces covered as though they were at a masquerade ball. The sun glared at the tall, boxy residential buildings, and a breeze shifted the fluffy clouds over our head. The buildings disappeared completely behind clouds of dust; he felt sorry for his soft and weak letters. He’s also hungry, since this morning till now after lunch nothing was in his stomach, his eyes blurred from hunger, the Sun was glaring from all direction.

The letters all bent out of shape after a few days wandering the dirt-covered streets. No one was interested in buying the letters. He announced after a last look around the market, up you go, sing and dance all of you, just this once, then we’ll go home, or die here. The characters grabbing onto each other for support stood up, wobbly and shaking; they enacted a tragedy about the grim reaper reclaiming death. The hectic eyes of the city paused to watch the odd street performance. He felt heartless. He said, stop, enough, let’s go home! A bird call came from the river Năng upstream, from the ninth level of heaven resounding, full of love, urged for  their return home. They quickened their pace, headed for the anxious bird call, the songs of endearment aided them in surpassing the hills and valleys, they were on their way home! Home, to the proud, tall and formidable mountains, to the long resounding rivers, to the ancient hundred-year-old trees, to the thousand-year-old highland.

Half the way up an incline the letters began to shake and broke out in a dance. He was suddenly powerless; stood there and watched them like some talentless director as his performers ran amuck, there was no way to control or direct them. He shouted: “Hey, how do a bunch of crazy blokes dance compared to other dancers, who looks better?”. The randy letters refused the indignation of reply. He shouted again: “Now I know why no one wants to spare a dollar for you guys!”. The letters egged on, began to sing and shimmied up and around the incline. Singing louder and rowdier: “You’re so blind, yesterday at the market some gangster bribed the letter S to go with him, asked L to work in a brothel, as for the letter Đ, it ran away to the market to find money, the letter T has snuck away to the department stores to pick people’s pockets…”.

He was mortified, counting over and over again, it was true the familiar letters S, L, Đ, T… they were gone, lost somewhere in the street far away in the city!

He took the letters to the market to sell, they went feral, breaking the pack, hence it was inevitable that there were such break-ups and goodbyes. He dropped to the ground halfway up the incline, sweaty, stared intently at the city, the busy crowd pushing and shoving each other down some pit of devastating civility. Not sure where he could find S in this chaotic crowd of swords and blades. He called out: “Hey S, shooting sad satire success sure self silver linings, hey springs… come back to the mountain, don’t hang around in the streets learning bad habits bloody stabbings… Hey L, long lanky lovely lively lovable lot… come back to the mountain!”.

There was no answer!

On his butt, he called out to the lost letters, like a mage reciting a mantra calling upon the return of the dead. A fleet of birds flew by shook their heads with disbelief, the wind teased him in passing, the clouds stared… He screamed, leave me alone! At that very moment, in the distance appeared clearer the forms of the damaged letters, they were tripping, falling over each other, crying as they approached him. His heart cracked open, his vision blurred with tears: The letter L was in front, Đ right behind, both naked with flesh wounds seeping blood. Both letters fell into his arms, like daughters diving into their father’s unconditional loving arms. The letter Đ’s eyes were black and blue, lips were swollen, Đ must have received a bashing at the market. The letter L’s lower abdomen was bleeding, the wound still open and weeping, bright red… Both choking on their words reported they witnessed S getting shot, ran as she held onto her chest before collapsing at the intersection outside the market. He hugged both of his naive children, and cried. Mount Chư Mang somberly stood there firmly looking down at them, its green leafy eyes were on the verge of tears.

He grabbed a handful of leaves and started to chew it finely before placing it on L’s wound to stop the bleeding, and applied ointment on Đ’s bruises. The other letters gathered around them, they were like apes, and he was the leader of the troop. He began to lull them beyond his hurtful spirit, his voice was husky: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Those who don’t want to die, those who brutally tried to sow evil, by this sunset let it go via the cool wind, let it go now đờ cờ lờ sờ mờ tờ… The letters relaxed, fell asleep, there was a hiccup here and there now and then in their deep slumber, like children who were falsely punished!

He sat weaving the reeds together, they needed a firm rope to cross the valley. Beyond the canyon was their home. He sang as he worked on the rope, like a poor mother in the mountains carrying her child on her back singing a lullaby as she worked in the cornfield. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

The long shadow of the afternoon fell as he woke up, the letters, they helped each other across the valley. The fragile rope was at breaking point. The mountain mist rolled out just in time to catch them. He guided the letters through the mist at the end of autumn. He sang as he walked as though he was a mage reciting mantras, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… It’s very possible the string was already broken, but it didn’t matter. He announced aloud, let us be on our way, the entire earth swayed, the whole of humanity lopsided, not just us. The letters stopped crying, they held onto each other, and onward they went beneath the moonlight. The shadows of the man and letters falling longer, stretching from where they were to the other side of the valley, like ghosts appearing from the last century. Past midnight the man and letters were at the summit, to disappear completely inside the sound blinding fog.

At the foot of Mount Chư Mang, now and then people could still witness the cries and singing resounded in the mist, the eerie haunting devilish sounds stretching from the market across to the highland to then wrapped around the summit. On clear nights, on both sides of the path up the mountain were stains of dried blood the scent of wild grass.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ let us go back to the mountain yeah… Weepy songs of lullabies, lullabies of lulling mournful sadness.

[Edited July 2022]

Chư Mang xuống chợ

Nhân buổi đẹp trời, hắn dắt díu bồng bế bầy chữ rời núi Chư Mang xuống kẻ chợ bán, như mẹ bán con, như nhà nghèo bán chó, như tình nhân lừa bán tình nhân. Bầy chữ cui cút đi theo, gương những con mắt màu xanh lên nhìn dòng người lạ lẫm đang cố giày xéo dẫm đạp lên nhau để về đích trước. Hắn dặn, đi đúng đường thẳng lối, không được chạy lung tung kẻo lạc! Rồi hắn chọn một khoảng vỉa hè bày chữ ra bán. Người kẻ chợ đi về như thác lũ, mặt mũi ai cũng trùm kín như thể đang tham gia lễ hội hóa trang. Gió thổi mây bay và nắng chứa chan trên những hộp nhà cao vút. Bầu trời thực sự biến mất sau làn khói bụi. Hắn chợt nhói thương những con chữ yếu mềm. Hắn cũng đói, sáng đến chiều chưa có gì vào bụng, mắt hoa lên, nhìn phía nào cũng thấy mặt trời chói gắt. 

Bầy chữ sau mấy ngày lê lết ngoài vỉa hè khói bụi đã trở nên méo mó hình hài. Hắn trừng mắt nhìn ngược nhìn xuôi chờ đợi nhưng tuyệt nhiên không hề có ai mua. Hắn nói, thôi, đứng dậy múa hát đi, một lần này nữa, rồi quay về, hoặc là chết ở đây. Lũ ký tự ngả nghiêng vịn nhau đứng dậy, vừa run cầm cập vừa trình diễn vũ điệu tử thần chết chóc. Những con mắt phố thị sấp ngửa dừng lại đứng nhìn, như nhìn đám hát rong xa lạ. Hắn thấy mình quá nhẫn tâm. Hắn nói, đủ rồi, quay về lại thôi! Tiếng chim gì đó từ thượng nguồn sông Năng chợt từ chín tầng trời vọng lại nghe từa tựa một lời yêu thương mời gọi quay về. Lũ hắn rảo bước, nhằm hướng tiếng chim khắc khoải, nhằm hướng câu hát yêu thương mà băng đèo vượt núi, về thôi! Về thôi, về núi sừng sững, về sông ngân dài, về cổ thụ vạn năm, về thảo nguyên triệu tuổi.

Về đến lưng chừng dốc thì lũ chữ lên cơn co giật và bắt đầu nhảy múa. Hắn bất lực đứng nhìn, như một gã đạo diễn bất tài nhìn dàn diễn viên làm loạn, không cách gì điều khiển nổi. Hắn hét: “Này, những gã điên nhảy múa với những vũ công nhảy múa, bên nào đẹp hơn?”. Lũ chữ bất kham không thèm trả lời. Hắn lại hét: “Hèn gì không có thằng con bố khỉ nào chịu bỏ tiền lẻ ra mua tụi mày!”. Lũ chữ càng hưng phấn, chúng vừa múa vừa hát. Hát to lên rằng: “Nhà ngươi quả thực mù lòa, hôm qua ở kẻ chợ có gã du côn đã rủ rê chữ S đi bụi đời, rủ chữ L vào động đĩ, rủ chữ Đ ra chợ kiếm ăn, chữ T đã trốn khỏi bầy vào siêu thị hành nghề móc túi…”.

Hắn kinh hoàng, đếm đi đếm lại, quả nhiên mấy chữ thân quen S, L, Đ, T… đã trốn đi hoặc lạc lối ngoài phố phường xa lạ!

Hắn dắt chữ ra chợ bán, kết quả lũ chữ bỏ đi hoang, tan đàn xẻ nghé, tử biệt sinh ly. Hắn ngồi giữa dốc quệt mồ hôi, nhìn về phố thị, thấy cả một đám đông đang đuổi nhau xuống hố thẳm văn minh điêu tàn. Chữ S bây giờ không biết ở đâu trong đám đông cuồng loạn gươm dao. Hắn gọi: “Ơ này chữ S, ơ này súng ơ này sân si ơ này sung sướng ơ này soán đoạt sờ soạng sống, ơ này sông… Về lại núi thôi về lại núi, đừng lê la phố chợ học thói lưu manh chém giết máu me… Ơ này L lờ lững lộn làng lành lặn lênh láng lung linh lóng lánh lập lòe… về núi thôi!”. 

Không có tiếng trả lời!

Hắn ngồi gọi chữ, như pháp sư ngồi niệm chú gọi hồn người chết quay về. Bầy chim bay qua nhìn hắn lắc đầu ngao ngán, bầy gió bay qua nhìn hắn cười châm chọc, bầy mây bay qua nhìn… Hắn hét toáng lên, kệ tao! Vừa lúc đó, từ xa thấp thoáng bóng hình vừa chạy vừa vấp ngã, vừa chạy vừa khóc than. Tim hắn đau nhói, mắt hắn mờ đi vì nước: Chữ L chạy trước, chữ Đ chạy sau, cả hai đứa trần truồng, thịt da gai cào tứa máu. Hai con chữ ngã nhào vào lòng hắn, như con gái đâm bổ vào lòng cha già sau cuộc tình thất bát. Chữ Đ mắt thâm tím, môi sưng vù, chắc bị ăn đòn hội chợ. Chữ L chảy máu ngay bụng dưới, vết thương hở ra lở loét, đỏ lòm… Hai đứa nghẹn ngào thông báo rằng, có thấy chữ S bị trúng đạn, vừa chạy vừa ôm ngực rồi ngã sấp mặt dưới chân cột đèn nơi ngã tư phố chợ. Hắn ôm hai đứa con nông nổi dại khờ, ngồi khóc. Núi Chư Mang trầm mặc đứng nhìn, mắt lá cũng rưng rưng.

Hắn thò tay bứt một nắm lá nhai nhuyễn rồi đắp vào vết thương cầm máu cho chữ L, lấy dầu xoa vết bầm tím cho chữ Đ. Lũ chữ phủ phục vây quanh, như bầy khỉ vây quanh gã khỉ đột đầu đàn. Hắn cất tiếng ru bằng giọng khàn khàn thống khổ điêu linh: đờ cờ lờ tờ mờ hờ hờ… Kẻ nào không muốn chết kẻ nào hung bạo lọc lừa gieo mầm ác, nào hãy buông tay trong buổi hoàng hôn gió mát, thôi, thôi nào đờ cờ lờ sờ mờ tờ… Bọn chữ gục xuống ngủ, thỉnh thoảng nấc lên trong mê man, như những đứa trẻ vừa bị đòn oan!

Hắn lặng lẽ bứt cỏ ngồi đan bện lại, cần một sợi dây chắc chắn bắc qua thung lũng. Qua hẻm núi này là về đến quê nhà. Hắn vừa miệt mài đan vừa hát, như một bà mẹ nghèo trên núi vừa địu con hai bên nách vừa trỉa bắp vừa hát ru. Ầu ơ… Đờ cờ lờ sờ hờ cờ mờ… đờ mờ cờ sờ ờ ờ lờ mờ mờ ầu ờ ờ ờ ầu ầu ơ ơ…

Bóng chiều đổ xuống, hắn xốc lũ chữ dậy, dắt díu nhau qua thung lũng. Sợi dây cỏ mỏng manh chòng chành như sắp đứt. Sương núi ùn ùn cuồn cuộn lao ra đỡ lấy. Hắn dắt bầy chữ đi trong sương núi cuối thu. Hắn vừa đi vừa hát ru như đạo sĩ niệm chú, cờ lờ đờ mờ cờ sờ… Hình như sợi dây đã đứt, nhưng có hề gì. Hắn nói to, chúng ta đi thôi, cả trái đất chòng chành, cả nhân loại ngả nghiêng chứ riêng gì chúng ta đâu. Bầy chữ thôi không kêu khóc nữa, chúng vịn tay nhau bước đi dưới trăng. Bóng chữ bóng người gầy guộc đổ dài, kéo từ bên này qua bên kia thung lũng, như những bóng ma hời từ thế kỷ trước hiện về. Quá nửa đêm thì chữ và người lên đỉnh núi rồi mất hút trong thăm thẳm mù sương.

Ở dưới chân núi Chư Mang, lâu lâu người ta vẫn nghe tiếng ai đó ca hát và khóc than trong sương, những âm thanh quỷ quyệt kéo dài từ phía kẻ chợ rồi lướt qua thảo nguyên hoang vắt rủ nhau chạy vòng quanh đỉnh núi. Những buổi trời trong, thấy rõ ràng hai bên lối đi lên núi còn vương vãi những vệt máu khô thơm mùi có dại.

Đờ mờ cờ sờ vờ cờ lờ về thôi về với núi thôi… Khóc mà như ru, ru mà như hát, hát mà như than.

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Beneath the mountains

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

There’s a person under these mountains.

He lifted his legs, and in long strides, he headed down the length of the grassy slope down towards the foot of the hill. The scene was like a dream. He squinted. The silvery white mountains were piled on top of each other and then shrivelled up into a rather odd structure. Not once were they silent. The mountains, they have legs it seemed. He watched them move, zig-zagging, weaving into one another as though they were dancing. Suddenly he didn’t want to move. He wanted to sit down, he wanted to test something, experiment. Exactly like how he used to play these shooting games with friends as a child in the moonlight, wherever he went the moon would follow, the sound of his laughter would bounce across the playground when he stopped to listen and the moon would then tip its head towards the earth and lit his face up. This time, he wants to test it out with the mountains. He sat down on a lush green patch of grass. The mountains also settled down behind the clouds and stopped moving. It occurred to him that, nothing was moving, he was the only moving entity present in this animation.

Deliberately he had shifted his surroundings around. Deliberately he had placed tranquillity in his eyes with happy dance steps, singing from deep within the earth. He wanted to stand up, and leave. The mountain is now steeped in the redness of dusk. The sun was just there and didn’t have much of a choice as the stand-in artist painted each stroke at a time, colouring in the light and dark of the night, creating nature’s masterpiece. There was no longer a need for him to go home. The art tools he brought with him for this field trip became superfluous. He might as well go home. Leave this place. Dreaming too much at the foot of the mountain he’ll end up falling into the maze of all that inception.

Clambering, he gathered up the paint brushes and other stuff scattered all around him, and continued to follow the grassy spine down to the parking lot. He had no intention of turning around for the last look, to try and capture the moment as he did in the past. But the wind sounded peculiar in his ears. Curious, he turned and searched for the oddness in the wind. But there was nothing but mountains illuminated with the last rays of daylight. 

Beneath the mountains, there were clearly a lot of green grass

“Where heaven might be, no one knows for sure right”?

“Sure”                                                                                                         

“But they can see the hell in front of them”

“Not necessarily”

K mumbling right there into my ear, annoyed me. If only he would leave me alone to enjoy the book I’ve brought along for this weekend, to read in peace on this very soft green patch of grass. I saw past his glasses, it felt like something was moving, dancing. Not fire. Not waves. Mountains. I saw the mountains in layers piled up in K’s contemplative musing. 

He was no longer there. I was certain. The thoughts, had carried his spirit away from me. And, he will no longer bother me. Sometimes, when he does this I get quite upset. Sometimes, I’m jealous. Because even as I breathe I will never be able to allow my soul to be carried away. I dropped the book on the lawn. Viewed the sky through K’s glasses. “There’s a herd of cattle”, K whispered, and continued without my input on those cows, “they’ve been branded with numbers”. I asked, “why would the cows being numbered bother you?”. K didn’t answer. He continued at length, “the last time we’re here I didn’t see them, I saw mountains dancing, I saw a red sun, I saw the dark clouds, I saw only…”, he stopped midway through the long sentence, looked down at the book I’ve closed up and no longer read. K’s spirit had returned to his body. I asked about the branded cattle. He was quiet and didn’t explain. It was like that almost every time. Each time he provoked my curiosity, he would shut up and force me to come up with my own answer.

The sky was now a deeper colour of darkness. The moon had risen. He said simply, “let’s go”, “you haven’t drawn anything today?”. He lifted a hand to his face and pushed the glasses up the bridge of his nose, and looked at me, “I’m done”. I knew he would say that. I looked up at the hazy moon at the foot of the horizon, then bend down to pick the book on the lawn and packed it away in the backpack, and casually announced, “next weekend I’m busy”, “I can trek the mountain alone”, he added as he reached for my hand to help me up.                                             “Tell me what you saw beneath those mountains, not about the branded cattle.”

Beneath the mountains, there is no human inhabitant

The moonlit week quickly passed by. He remembered his date, with a client he has yet met. The client wanted his latest painting. The artwork he paints from memory with his rather odd imagination.

He left the apartment block. Brought the painting with him to where they were to meet. It was a cafe with the architecture of an older era on top of a small hill near the War Memorial. He really loves this place. The War Memorial is a magnificent white building. He finds himself often right in front of it, but never goes in. He figured, he had no desire to find out more about what was supposed to signify death and the stupidity of it all. War is a stupid man-made game. He could more than imagine what they would display in a museum like that. 

Parking the car, besides the minor hindrance he carried the painting into the cafe trying to find a secluded corner somewhere by the window, where he could watch the ins and outs of his surroundings, including the stranger who was about to buy the painting he had only finished last night. He ordered a cup of coffee, the exact thing he needs to consume in order to wake up. Nothing but a shot of espresso. He sipped a small sip at a time, and the hot beverage slowly steamed up his glasses. He took his glasses off, and using his thumb and index finger over the thin napkin, he slowly wiped off the condensation. The rising foggy steam was like the grey clouds over those mountain peaks. He waited for thirty minutes, then forty minutes, and there was still no sign of his client, the guy with a name abbreviated as just K, the guy who was supposed to buy the painting. He figured he should wait a bit longer, clearly, the guy had to travel a long way to get here than him. Fifty minutes, anxiously he looked at his watch. Sixty minutes later, he unwrapped the painting slowly, and carefully. He looked at the painting. A couple patrons were also curious, and took a peek at the painting which looked as though it had been divided into two halves, one side black and the other side white. The top half was painted with all the entities of the sky, scattered smudging of reds amidst the light and the dark. The bottom half was dotted with flowers and branded cattle.

Sixty minutes. No one showed up to ask him about the painting in front of him. His phone lightly vibrated, and a reminder note appeared on the screen “I will buy my own painting. K”. Last Friday he told his wife about painting something in the moonlight with her. He then locked himself up in the studio with the painting. His wife did not bother him. She understood, presently, that his spirit is still with her, unlike the times they were together on the fresh green grass at the foot of the mountain.

Awkwardly he left the cafe, with the painting “the branded cattle beneath the moonlight”. He walked over to the white building – the War Memorial, stopped, thoughtfully contemplating. He headed for the shut front door of the Memorial, left the painting leaning on the wall and left. 

Dusk was as red as a blending of blood. The moon was nowhere in sight. He drove past the hill he had once pondered. There were no branded cattle there anymore. His wife will no longer have to hear about them ever again. All she has to do is take care of their children, cook and read the books she likes on all the smooth flat surfaces and planes of this world.

May 2022

—–

Truyện ngắn

Ở dưới những ngọn núi

Có một con người ở dưới những ngọn núi này.

Hắn, nhấc chân sải bước theo triền cỏ xuôi xuống phía dưới chân đồi. Khung cảnh như mộng. Hắn nheo mắt. Những ngọn núi màu trắng bạc xếp chồng lên nhau rồi thu lại thành một hình hài thật kỳ lạ. Chúng không hề tĩnh lặng. Dường như những ngọn núi có chân. Hắn thấy chúng đang di dời dịch chuyển, đan xen vào nhau hệt như một điệu nhảy chào đón hắn ở nơi này. Hắn bất giác không muốn đi nữa. Hắn muốn ngồi xuống, để làm một thử nghiệm nhỏ. Hệt như hồi bé hắn cùng với đám bạn chơi trò đuổi bắt dưới trăng, hắn đi đâu trăng đi đó, hắn dừng lại cười vang cả góc sân trăng cũng dừng theo ngó nghiêng xuống mặt đất, tỏa sáng trên mặt hắn vậy. Lần này, hắn muốn thử nghiệm với những ngọn núi. Hắn ngồi xuống một vạt cỏ xanh mướt. Những ngọn núi cũng lặng lẽ ẩn nấp trong mây không dịch chuyển nữa. Hắn chợt hiểu, chẳng có thứ gì chuyển động, chỉ có hắn là một thực thể chuyển động hiện hữu trong hoạt cảnh này.

Hắn đã cố tình gán ghép chi phối sự chuyển động của thế giới xung quanh hắn. Hắn cố tình gán ghép cả những mộng tưởng hoà bình vào con mắt hắn bằng việc mơ mộng về những điệu nhảy vui tươi, những tiếng hát sâu thẳm cất lên từ dưới lòng đất. Hắn muốn đứng dậy, rời đi. Ngọn núi đã nhuốm màu ráng đỏ của chiều tối. Mặt trời đã hoá thành một tay hoạ sĩ bất đắc dĩ quét những lớp sắc độ đậm nhạt của bóng tối và ánh sáng để tạo thành một bức tranh hoàn hảo của thế giới tự nhiên. Hắn không cần phải vẽ gì nữa. Những họa cụ hắn mang theo bên người cho buổi đi vẽ thực địa này trở nên thừa thãi. Hắn phải về thôi. Rời khỏi nơi đây thôi. Mộng mơ dưới những chân núi quá nhiều sẽ khiến hắn lọt thỏm trong mê lộ của khối hình hài tạo hoá kia.

Hắn lỉnh kỉnh xốc lại các thứ mang theo trên người rồi tiếp tục xuôi theo triền cỏ sóng sánh thướt tha xuống nơi đỗ xe. Hắn không định ngoái lại đằng sau để lưu giữ thêm vài hình ảnh như những lần khác. Nhưng hắn nghe tiếng của gió thổi thật kỳ lạ. Hắn tò mò ngoảnh mặt tìm kiếm. Chẳng thấy gì ngoài một sự đơn độc của những ngọn núi dưới ánh sáng cuối ngày.

Ở dưới những ngọn núi hẳn là có rất nhiều cỏ xanh

“Không ai dám chắc nơi nào đó là thiên đường”?
“Dĩ nhiên”
“Nhưng hẳn là người ta sẽ nhìn thấy địa ngục trước mắt” 
“Không chắc” 
Những lời K lảm nhảm bên tai tôi lúc này khiến tôi bực mình. Giá chàng cứ lặng yên mộng mơ ngắm nghía thế giới thiên nhiên tươi đẹp của chàng và để yên cho tôi đọc nốt quyển sách mang theo trong ngày cuối tuần ở trên bãi cỏ xanh mướt này. Tôi liếc nhìn qua mắt kính của chàng, hình như có thứ gì đó đang chuyển động, nhảy múa. Không phải lửa. Không phải sóng nước. Những ngọn núi. Tôi thấy những ngọn núi xếp lớp trong sự trầm ngâm suy tư của K.

Chàng đã rời đi. Tôi biết thế. Những lúc suy tư, linh hồn chàng đã rời đi, khỏi tôi. Và, chắc chắn tôi sẽ chẳng bị chàng gây phiền nhiễu nữa. Đôi khi, tôi khá giận chàng vì điều đó. Đôi khi, tôi ghen tỵ. Vì tôi không thể khiến cho linh hồn mình được phép phiêu du ngay cả khi đang còn thở. Tôi buông quyển sách xuống mặt cỏ. Ngắm bầu trời qua đôi mắt kính của K. “Hình như ở đó còn có những đàn bò”, K cất tiếng thì thào, rồi tiếp tục không cần tôi định hình điều gì về những đàn bò, “chúng đã bị đánh số”. Tôi hỏi, “tại sao chàng băn khoăn về những con bò bị đánh số?”. K không trả lời tôi. Chàng nói tiếp một hơi dài, “lần trước đến đây anh không nhìn thấy chúng, anh chỉ nhìn thấy những ngọn núi nhảy múa, anh chỉ thấy một mặt trời đỏ, anh chỉ thấy những đám mây màu tối, anh chỉ thấy…”, chàng bỏ lững câu dài, nhìn xuống quyển sách tôi đã gập lại không đọc nữa. Linh hồn K đã trở lại với thân xác chàng. Tôi hỏi K về những con bò bị đánh số. Chàng im lặng không giải thích. Hình như lần nào cũng thế. Mỗi lần chàng khơi gợi ra vấn đề nào đó khiến tôi tò mò, chàng lại lặng im bắt tôi tự tìm kiếm câu trả lời.

Trời đã chuyển sang màu thăm thẳm của đêm tối. Trăng cũng đã lên. Chàng buột miệng rất gọn, “về thôi”, “hôm nay anh chưa vẽ gì cả?”. Chàng đưa tay nhích mắt kính lên, nhìn tôi, “anh vẽ xong rồi”. Tôi biết, chàng sẽ nói thế. Tôi nhìn lên ánh trăng mờ mờ phía chân trời, rồi cúi xuống cỏ nhặt quyển sách cho vào balo, thủng thẳng nói, “cuối tuần sau em bận”, “anh sẽ leo núi một mình”, K tiếp lời, rồi chàng nắm tay tôi đỡ tôi đứng dậy. 
“hãy nói cho em biết anh đã nhìn thấy gì dưới ngọn núi ấy, không phải là về những con bò bị đánh số.”

Dưới những ngọn núi không có con người

Thời gian một tuần trăng nhanh chóng qua đi. Hắn nhớ, hắn có hẹn với một khách hàng lạ. Tay đó muốn có bức tranh mới nhất mà hắn vừa vẽ xong. Một bức tranh hắn vẽ bằng ký ức và trí tưởng tượng quái đản của hắn.

Hắn rời khỏi toà nhà lớn. Mang theo bức tranh đến điểm hẹn. Đó là một quán cafe mang phong cách kiến trúc cổ khá cổ kính nằm trên ngọn đồi nhỏ gần bảo tàng chiến tranh. Hắn rất thích nơi này. Bảo tàng chiến tranh là một toà nhà lớn màu trắng rất đẹp. Nhiều lần đến đây, nhưng hắn chưa bao giờ bước chân vào bên trong. Hắn nghĩ, hắn không cần phải biết về những thứ mang dáng dấp của cái chết và sự xuẩn ngốc. Chiến tranh là một trò chơi xuẩn ngốc của loài người. Hắn có thể tưởng tượng được người ta sẽ trưng bày những gì trong các bảo tàng như vậy.

Hắn dừng xe, lịch kịch mang bức tranh vào quán cafe tìm một góc ngồi khuất gần cửa sổ, từ đó hắn có thể quan sát những chuyển động trong không gian này, kể cả việc chờ đợi sự xuất hiện của gã khách lạ dặt mua bức tranh mà hắn vừa hoàn thiện đêm hôm trước. Hắn gọi cafe, thứ thức uống hắn cần. Không gì khác ngoài một tách espresso. Hắn nhấp từng ngụm nhỏ, mắt kính hắn bị mờ bởi khói từ trong tách cafe tỏa ra. Hắn lấy mắt kính xuống, dùng khăn giấy mỏng di di ngón tay chậm rãi trên mặt kính. Hơi nước mù mịt hệt như những đám mây màu xám trên đỉnh núi. Hắn đợi ba mươi phút, rồi bốn mươi phút, vẫn không thấy gã khách lạ có tên viết tắt là K đã hẹn hắn mua tranh xuất hiện. Hắn nghĩ có lẽ nên đợi thêm một chút nữa, hẳn là gã ấy ở xa nơi này hơn hắn. Năm mươi phút, hắn nóng ruột nhìn đồng hồ. Sáu mươi phút, hắn mở lớp giấy bọc bức tranh ra một cách chậm rãi, từ tốn. Hắn nhìn bức tranh. Một vài vị khách trong quán tò mò nhìn vào bức tranh chia thành hai nửa đen trắng. Phía trên là những thực thể của bầu trời, rải lem nhem sắc đỏ giữa ánh sáng và bóng tối. Phía dưới là những con bò đốm hoa bị đánh số.

Sáu mươi phút. Không có bất cứ ai xuất hiện trước mặt hắn để hỏi về bức tranh cả. Điện thoại hắn rung nhẹ, một note nhỏ hiện lên với dòng ghi chú nhắc nhở “tôi sẽ mua chính bức tranh của tôi. K”. Ngày thứ sáu tuần trước hắn đã nói về việc sẽ vẽ một cái gì dưới trăng với vợ. Sau đó hắn tự nhốt mình trong phòng với bức tranh. Vợ hắn không làm phiền hắn. Nàng hiểu, lúc này, linh hồn hắn ở lại, không rời đi như khi ngồi ở những triền cỏ xanh mượt kia.

Hắn lững thững rời khỏi quán, cùng với bức tranh “những con bò bị đánh số dưới trăng”. Hắn đi qua tòa nhà trắng – bảo tàng chiến tranh, dừng lại, trầm ngâm mặc tưởng. Hắn tiến đến trước cánh cửa chính đã đóng của tòa nhà, dựng bức tranh bên cạnh bức tường và rời đi.

Chiều đỏ như máu pha. Trăng khuất dạng. Hắn lái xe qua ngọn đồi lần trước mà hắn đã đến. Chẳng có con bò nào bị đánh số còn ở đó nữa. Vợ hắn sẽ không cần phải nghe về chúng. Nàng chỉ cần chăm con, nấu cơm và đọc những quyển sách mà nàng thích trên các mặt phẳng êm ái của thế giới này.

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Animal Sacrifice

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

Truyện ngắn

Vật tế

1.

Mù sương.

Không lửa. 

Khói.

Có khói. Khói bỏng mắt. Cay môi. Xồng xộc chạy theo cuống phổi vấp ngã trong thanh quản. Những âm thanh đùng đục thoát ra từ cuống lưỡi rồi bục thẳng vào khói. Như một khối ung nhọt, bị dồn nén lâu ngày được bung vỡ sung sướng. Trời vẫn mù sương khi ánh sáng đã lọt xuống, thủng cả một khoảng trắng trong không gian kì quặc này. 

Một lũ người quỷ ám hình dạng mờ ảo thoắt ẩn thoắt hiện trong sương mù. Hẳn sẽ nắng gắt lắm đây. Xuân thứ ba mươi mấy, năm của những con giáp bị người ta vặt lông làm vật cúng tế chào đón thời gian không chút thương xót. 

2.

Đợi đám đông di tản, nới rộng vòng tròn vây phủ, những người lạ mặt (tôi gọi đó là những người lạ mặt, vì họ có những khuôn mặt rất lạ, không giống mặt người) mới tiến gần lại giàn lửa thiêu. (trên giàn không có củi, không có chất dẫn cháy, không đuốc lửa cầm tay). Đám đông vừa mới nới rộng vòng tròn, lại tiếp tục dồn vào địa điểm ấy, tò mò hướng những ánh nhìn về phía vị trí chứa vật tế. Tôi, đứng giữa đám đông, tôi di dời theo đám đông. Và, chính tôi, cảm thấy mệt mỏi chán chường cuộc di dời lặp đi lặp lại của đám đông. Vây bủa, tản ra, rồi lại vây bủa, tản ra. Hò hét. Câm lặng. Rồi lại hò hét. Đám đông luôn luôn kì quặc đến mức không thể nào chịu nổi, theo như tôi nghĩ. Ấy vậy, tôi vẫn bị lôi kéo vào những cuộc chơi của đám đông, chỉ vì sự tò mò hồn nhiên của mình. 

Dẫu thế, ngay khi tôi hồn nhiên hùa theo cuộc chơi của đám đông trong buổi mù sương tờ mờ này, thì chính nó, những hiện cảnh kì quặc trên giàn tế ấy đã gợi một thứ cảm giác nào đó chơi vơi, buồn rơi nước mắt. Tôi có thể thấy những giọt nước mắt không nhỉ? Nó giống sương không nhỉ? Làm sao để tôi nhận ra đâu là nước mắt, đâu là sương là khói?

Tôi quyết định rời bỏ đám đông. (Tôi không thuộc về họ). 

Tôi là tôi. Ngay chính khi này, tôi vẫn muốn khẳng định rằng tôi phải là tôi. Một cá thể riêng biệt, buồn bã, đầy rẫy nỗi niềm sầu muộn ư? 

Tôi là tôi. Kẻ bị ruồng bỏ trong một ngày mù sương, đầy khói mà tôi biết, tôi nhớ. Thứ mù sương lạnh lẽo. Thứ mù sương hãi hùng cơn mê ẩn nấp những nguy cơ chết chóc, mất mát nào đó đã được dự báo trước. Ở giữa đám đông, tôi vẫn là tôi. Đám đông không chạm được vào tôi. Nhưng, tôi thì chạm được vào họ. Bằng tiếng thét, bằng những không gian ảm đạm, bằng chính cuộc chơi kì quặc của họ, và bằng chính sự vô hình của tôi. Dù rằng, lúc này, tôi cũng đang rất tò mò về sự biến kì quặc trước mặt mình trong sương khói vây phủ của sáng hôm nay. 

Một quang cảnh trống rỗng, cùng với một đám đông diễn trò bao vây, rồi sau đó tản ra, và lại ùa vào hét lên những tiếng bùng bục trong cổ họng. Tất cả chỉ có thế. Tôi chẳng hề thấy thứ gì hiển hiện hữu hình và ắt phải cầm nắm tóm bắt được. Ấy vậy, buổi tế vật dường như vẫn sẵn sàng ngay trước mắt tôi một cách đầy hứng khởi. Vài người khoác bộ cánh chỉnh tề tay cầm những tệp giấy có chữ (chắc chắn phải có chữ, nếu không họ sẽ phải làm gì cho việc bắt đầu buổi tế?). Một gã trẻ măng khệnh khạng từng bước chân đi chính giữa các vị ấy, đưa cao tệp giấy lên soi dưới mặt trời. Tệp giấy nghiêng nghiêng rồi phụt khói. 

Sương đã tan. Nắng đã bắt đầu gắt và bốc lửa. Nắng xuyên qua chữ. Những cái bóng in lên mặt đất. Bóng người chập choạng va đập vào nhau. Bóng chữ oằn xuống cong vẹo các kí tự viết tắt mà tôi kịp thấy chúng rơi tuột ra khỏi một trang giấy. Tôi nhìn theo bọn kí tự dưới đất. Chúng nhảy độp độp, như gõ lên nền đất thịt những thanh âm kì lạ. “có phải chúng đã vượt thoát”, (như tôi). Tôi nghi ngờ, rồi tự khẳng định lạc quan, rằng: “chúng sẽ vượt thoát sớm thôi, nhanh chóng thôi, chúng sẽ rời khỏi những trang giấy vô nghĩa làm nên các loại chuẩn tắc không kiềm giữ nổi căn tính của giống loài”.

Những kí tự vẫn tiếp tục rơi xuống, một vài chữ trong số chúng nằm lặng yên trên mặt cỏ đẫm sương như nước mắt và không hề có ý định nhúc nhích, rời đi. “Cỏ khóc đêm thâu. Mộ phần nằm sâu không chôn chặt được cái chết nổi trôi lên mặt đất”. Tôi lẩm bẩm, trong cơn mê mộng, đưa mắt nhìn về phía giàn tế trống rỗng một lần nữa. Đám đông vẫn tiếp tục vây bủa nhau, rồi tản ra, rồi hò hét, rồi câm lặng. Khói vẫn cuộn tròn phả lên đến tận mây xanh. 

3.

Tôi đăm chiêu quan sát những kí tự rơi vãi. Chúng vẫn nằm yên, tuyệt nhiên không hề động đậy. Tôi rời xa đám đông, đứng về một phía không có nắng. (Tôi sợ nắng. Tôi sợ mặt trời. Tôi sợ lửa. Tôi sợ cả khói). Một loạt những nỗi sợ hãi trào dâng lên trong lòng tôi cuồn cuộn như cơn sóng đập rộn rã ngoài khơi. Tôi nhớ sóng. Nhớ rằng tôi có lần đã được nằm nghe tiếng sóng rất thật qua nhịp tim của mẹ. Vậy mà, trong lúc này, khi tôi đang tò mò dấn thân vào một cuộc tế lễ kì quặc thì tôi lại thấy tiếng sóng bất giác trở thành một nỗi sợ hãi bám riết dưới ánh mặt trời. 

Tôi trở về với không gian trải ra trước đôi mắt trong như giọt sương sớm, ngắm nghía những kí tự rơi vãi. Chúng bắt đầu có động thái nhúc nhích. (Hẳn chúng cũng hào hứng với cuộc tế lễ kì quặc này). Tôi vừa dõi theo chúng, vừa nghĩ ngợi tiếp về mẹ, về sóng. Mẹ ở đâu nhỉ? Sao mẹ lại xuất hiện ngay chính khi tôi đang bận bịu rong chơi giữa mùa xuân, với những cuộc phiêu lưu kì thú trong vài hiện cảnh nhập nhoạng sáng tối của thế gian nhỉ? Tôi nghĩ về chữ Mẹ. Kí tự M. (Có thể là mẹ. Hoặc không). Dù gì tôi cũng chưa thấy mẹ bao giờ. Tôi chỉ biết mẹ qua tiếng sóng. Nhịp tim của tôi. Máu của tôi. Máu của mẹ. Máu của đại dương ngờm ngợp đêm sâu. Rồi, tôi lại nghĩ về một ý nghĩa khác của chữ M. (có thể là máu. Hoặc không). Máu tràn lênh láng sau cuộc sinh nở của một người đàn bà chẳng hạn. Tôi nghĩ về tôi. Là tôi trong một đêm sương lạnh chưa đủ hình hài. 

Bất giác những tiếng hét bùng lên, vỡ ra rồi câm bặt. Tôi giật mình, rời bỏ dòng ý nghĩ miên man không ai hay biết, tiếp tục hướng về cuộc chơi của những con người đủ hình hài kì quặc. 

Đám đông, cùng với những kẻ có khuôn mặt quái dị và giàn tế (không củi, không lửa, không thấy vật tế) vẫn đang tiếp tục trò chơi. (thôi, tôi gọi là trò chơi, chẳng ai dạy tôi gọi nó là một buổi tế lễ). Có thể nó chỉ là sự hình thành từ thứ nhận thức bất chợt. “Cuộc chơi của họ là gì thế nhỉ?”, nghĩ mãi, tôi cũng không hiểu, tại sao chỉ có một đám đông, một giàn tế không củi, không lửa, không cả vật tế. Ấy thế mà buổi tế vật vẫn kiên quyết diễn ra đầy sôi nổi, hắc khí đen nghịt quấn riết những đám mây một ngày nắng đẹp. Bỗng dưng, tôi thấy chán. Cơn chán chường này thường xuyên đến với tôi, mỗi lần tôi không còn hào hứng với trò chơi mà tôi chỉ vừa mới nhập cuộc. Chúng ngờm ngợp trong hơi thở vô hình của tôi. 

4.

Một ngày nắng đẹp. 

Tôi nghĩ, tôi phải rời đi, tôi phải rời khỏi nơi này ngay khi còn có thể chịu đựng cơn chán chường đầy nghịch lí này. Tôi rời bỏ giàn tế, tôi rời bỏ đám đông, tôi rời bỏ những tiếp diễn của một buổi lễ kì quặc mỗi mùa xuân ở phía trước. Tôi muốn tách biệt hẳn khỏi đám đông để được lặng yên ngồi trên những mộ cỏ suy tư về những điều tôi thấy. Mộ cỏ trầm uất từ đêm tối đến giờ khi tôi rời đi để rong chơi một mình. Mộ cỏ đẫm sương đã bị nắng gắt làm héo khô mất vẻ tươi xanh ẩm ướt. 

Dù đã rời bỏ giàn tế, nhưng tôi, dường như tâm trí tôi vẫn không rời bỏ khỏi những thứ tôi đang tưởng tượng. Cuộc chơi ấy sẽ diễn ra như thế nào nhỉ? Họ sẽ làm gì tiếp theo với một giàn tế không củi, không lửa, không vật tế, chỉ có một đám đông, một nhóm người hành lễ mang khuôn mặt kì quặc mà tôi lần đầu tiên được thấy trên đời. Tôi lại nghĩ về mẹ, về tiếng sóng. Tôi không biết khuôn mặt của mẹ. Tôi chỉ nghe và nhớ tiếng sóng. Hẳn là hình dạng khuôn mặt của mẹ giống như sóng. Là sóng. Có khi nào mẹ là sóng. 

Trên mộ cỏ khô héo, tôi ngồi trên mộ cỏ khô héo cách xa không gian buổi tế lễ một khoảng ngắn, tôi nhận ra những kí tự, chúng đã rớt khỏi từ tệp giấy của những người hành lễ và đang tiến về phía tôi. Chúng vừa nhảy độp độp, vừa thở hổn hển trên mặt đất. Chúng lết đến bờ cỏ khô héo dưới ánh nắng mặt trời bỏng rát. Hiện thực rõ ràng nhất. Ấy thế, mắt tôi vẫn mong tưởng về những mảng cỏ tươi xanh đẫm nước (đó là tôi mường tượng, chẳng có bờ cỏ xanh mượt nào còn ướt mềm sương dưới mặt trời nửa buổi). Những mong tưởng của riêng tôi luôn luôn mâu thuẫn, đối nghịch với hoài nghi. Tôi hoài nghi chính tôi. Tôi hoài nghi mặt trời. Tôi hoài nghi ánh sáng. Tôi hoài nghi những cuộc chơi kì quặc của đám đông nọ. Vậy mà, tôi vẫn muốn được tham gia, muốn biết điều gì xảy ra trong cuộc chơi đó. Lạ kì thật. Bất giác, tôi cảm thấy một nỗi buồn vô hạn xâm chiếm lấy linh hồn bé bỏng ngây thơ và thèm khát khám phá thế giới này. 

Tôi không tiến gần đến đám đông, đến giàn tế nữa. Tôi muốn ngồi đây để quan sát đám kí tự vượt thoát khỏi tệp giấy kia xem cuộc chơi của chúng. Kí tự C chổng ngược vành chữ thành hình cánh cung, trên mây có một con chim lạc bầy liệng chấp chới hoang mang rồi rớt phịch xuống mặt đất, ngay cạnh tôi. Tôi nâng cánh chim non bị thương lên, vài giọt máu rỏ xuống, mộ cỏ héo khô bỗng dưng tươi xanh trở lại như vừa đẫm sương. Chim non đã chết. 

Tôi cúi mặt tìm các kí tự khác. Hẳn là sẽ còn những kí tự khác thoát ra từ tệp giấy. Kia rồi, L chậm chạp không thể nhảy lộp độp như C, đang tiếp tục tiến về phía tôi. L dừng lại, nằm xuống vệ cỏ và khóc. Tiếng khóc như giun như dế, như ong như ve, như muỗi vằn giữa đêm khuya lên cơn khát máu. Tôi biết đó là một tiếng khóc, tiếng khóc câm. Chúng nén chặt trong cổ họng tôi, khiến tôi đau đớn. (Tôi chưa được khóc thành tiếng bao giờ). Dù vậy, lúc này, tôi lại nghĩ về tiếng sóng. Có khi đó là tiếng khóc của tôi. Rồi, tôi lại bận lòng đuổi theo những suy nghĩ, những ám ảnh về các vòm cổng vào nhà hình chữ L. Chúng chỉ mang lại sự chết chóc. 

Mải mê với những kí tự đang hiển hiện xung quanh mình, tôi quên mất đám đông và giàn tế hồ như vô hình trước mắt. Hiện tại của tôi là những kí tự kia, những chữ cái đã rơi ra khỏi các trang giấy trắng ngờ nghệch. Tôi muốn biết sẽ còn kí tự nào khác tiếp tục cuộc chơi vượt thoát đặc biệt này. Dưới lòng bàn chân tôi, nhồn nhột, (ấy là tôi tưởng tượng, những ngón chân tôi không đủ hình hài tròn trịa của tôi), chúng cựa quậy, rồi một thứ gì đó hơi cộm lên. Tôi nhích bàn chân khỏi mộ cỏ, tháo rời xác thể mây khói ra khỏi mọi ràng buộc để cảm nhận rõ hơn sự tồn tại của một thứ kì lạ mà lần đầu tiên tôi biết rằng nó có thực trên đời. Tôi cúi xuống thấp hơn, một chữ V góc cạnh, chỉa thẳng lên, chạm vào hình dáng ngón chân lớn nhất của tôi. (ngón chân lớn nhất của tôi). Chữ V không biết bằng cách nào đã tiếp cận được tôi. Chữ V khiến tôi buồn. Nỗi buồn dưới lớp da không hiển thị. Lớp da chưa kịp thành hình thành dạng như bao kẻ khác. Nỗi buồn luồn sâu vào phía trong, thấm nhanh vào máu thịt ảo ảnh. Rõ ràng, tôi đã cố tình bỏ quên những vấn đề liên quan đến sự tồn tại khả hữu của bản thân mình. Vậy mà tôi vẫn chẳng thể nào ngừng đặt một dấu chấm hỏi về tôi, về mẹ, về những tiếng sóng chập chờn thoắt ẩn thoắt hiện trong từng lớp ký ức ảo diệu.

Tôi nhặt chữ V lên, tôi ngắm nghía nó dưới ánh nắng vừa lẻn xuống từ những đọt mây xám trên đầu. Bất chợt từ trong đám đông ở phía giàn tế những tiếng thét thất thanh đau đớn như có kẻ bị đốt chết. Không, giàn tế vẫn lặng im chưa thắp lửa. (không có củi, không vật tế, không chất dẫn cháy), làm sao cơn đau vang vọng tới tấp đến như thế được. Tôi tò mò, (rồi, có khi tôi cũng phải tò mò về sự hiện diện của vô khối thứ kì quặc tồn tại xung quanh mình). 

5. 

– Lửa. (đã bắt đầu có lửa)
Ngọn lửa từ trên núi vừa ào xuống. Chúng tuôn ra. Chúng chảy tràn ra như suối. Lửa biến thành biết các hình khối đặc quánh, lửa hóa gió, nhanh như gió nung đốt mọi thứ trên đường tuôn chảy của chúng. Lửa trồi lên, sụt xuống. Rồi hất tung những bó hoa lửa về phía đám đông, tạt vào giàn tế không củi, không chất dẫn cháy. Và cháy. Lửa bủa vây tạo hình thành một vòng tròn. Đám đông dạt hẳn ra khỏi vành lửa. Đám đông bắt đầu hát. Những kẻ lạ mặt tề chỉnh xiêm y bắt đầu gọi tên vật tế.
– nước.
Nước. [đám đông đáp lời]
– đất.
Đất. [lầm lũi đáp]
– cây [đám đông cướp lời]
Trăm năm bật gốc.
– biển
Cá khóc lên bờ [đám đông đáp lời]
– lúa
Lúa đương thì con gái. [đám đông lại đáp lời]
– ớt
Cay. [đám đông dụi mắt đáp lời]

Đốt.
Đốt.
Đốt.

Đám đông vốc rồi lại ném. Vốc rồi lại ném. Ném vào trong lửa. Ném vào giàn tế. Đám đông hào hứng ném. Lửa hừng hực cháy. Những con người kì quặc căng giọng ra quát và hét. Lửa càng cháy mạnh. Đám đông càng vốc vội các vật tế được gọi tên và ném cật lực cho đến khi kiệt sức. 

Gã trẻ măng cầm tệp giấy mà tôi nhớ có dáng đi khệnh khạng ấy vừa tiếp tục cất giọng gọi tên một vật tế khác. Lòng bàn tay tôi nắm chặt mẫu tự V. Tôi căng tai lắng nghe, dõi theo buổi tế kì quái ấy. Tiếng của đám đông gào lên mạnh hơn. Họ vừa gọi tên vật tế nào thế nhỉ? Hình như là nó, chữ V, (tôi câm lặng nhìn ngắm chữ V đã làm cho những ngón chân tôi biết đến cảm giác đau đớn sung sướng ấy)

Chữ V cựa quậy bật khỏi lòng bàn tay vô hình của tôi và rơi xuống đất. Chữ V nhảy độp độp thật nhanh về phía giàn tế, về phía đám đông và lũ người quỷ ám. Tôi đuổi theo chữ V, hòa vào đám đông, nhìn thật gần giàn tế. (vẫn không củi, không lửa, không thấy vật tế nào hiện hữu). Tôi ngơ ngác nhìn những cái bóng vây quanh mình đang hò hét, gào thét tên vật tế cuối cùng, “máu”.
Không một thanh âm nào bật lên đáp lại. Tôi nghe những tiếng máu rần rật chảy đâu đó, như thác, như lũ, như mưa. 

Ở phía giàn tế, máu xối xả được tạt vào trong lửa.
Máu chảy tràn xuống nằm dưới chân tôi. Chữ V bật nảy lên và nhanh chóng lao về phía đám đông, nhảy xổ thẳng vào giàn tế. Máu đang sôi. Mặt đất lênh láng máu và lửa như những dòng nham thạch từ trên núi đổ xuống. 

Chân tôi bết máu. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)
Chân tôi bết đất. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)
Chân tôi dính chặt vào nhau không tài nào tách rời ra được. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)

Tôi muốn đi. Tôi bất giác muốn đi. Chập chững tập đi. 

(đi về đâu?)

Đi về nơi có tiếng sóng. Đi về nơi có mẹ. Mẹ tôi là sóng. 

Tôi muốn ê a đọc chữ. Từ chữ đầu tiên cho đến chữ V. (Chữ V tan biến) 

Tôi tan biến. (như chưa bao giờ xuất hiện). 

Tôi là một hình hài chỉ được nghe tiếng sóng qua nhịp tim của mẹ chưa đủ chín tháng mười ngày. Tôi không phải là tôi. Tôi là vật tế cho cuộc chơi của những người lớn. 

Giàn tế thực ở đó, ngay vạt đất đỏ đó vẫn còn sót lại vài dấu vết nhỏ. Máu khô. Đen. Và bám đều lên từng cành cây nhánh cỏ khô và héo dưới ánh nắng mặt trời gắt gỏng bỏng lửa xung quanh ngọn núi hoang buồn bã, cô độc. Đám đông cũng dần tan biến mất. Linh hồn tội lỗi di trú trong không gian cũ kỹ, lạnh lẽo. Linh hồn đáng thương nấp sau mộ cỏ đẫm sương như nước mắt lặng câm không được phép cất tiếng chào đời. 

Chiều tà, bóng phủ. Một màu đen kịt hào phóng buông thả thứ hắc ám quen thuộc lên bất kì vật tế nào mà nó thích. Đám gà trống cẩu thả gáy như điên loạn trong bóng tối. 

Giá mà ngày mai trời sẽ sáng. 

Animal Sacrifice

1.

Foggy.

Fire, no.

Smoky, yes.

The smoke. Burning the eyes. On lips, bitterness. The chase was on and the bronchioles were tripping over the larynx. The deep dense sound escaped from the foot of the tongue pointedly penetrated the smoke. Like an oozing ulcer, bubbling away for a long time to suddenly explode in a release of joy and glory. The sky hid behind the fog as the light filtered through, holes through the ghostly whiteness.

A group of devilish looking people emerged from the eerie fog. It’s going to be a very sunny and hot day. The thirtieth something spring, the year for those destined to have their feathers plucked and offered up as a sacrifice to time, without an ounce of sympathy.

2.

Waiting for the crowd to dissipate, the circle of onlookers widened, the strangers (I call them strangers, because they were very strange, their faces devoid of humanity) drawn to the sacrificial fire. (on the pyre there was no firewood, no fire starter, no torch). The same circling crowd edged their way towards the same spot, their curious eyes focused on the sacrificial altar. I was amongst the crowd, moving with the crowd. And, I was tired, and the repeated movement amongst the crowd was exhausting. Crowding together, to then dissipating, to again crowding, dissipating. Screaming. Silence. The crowd was persistently confounding to a point that it was unbearable, I thought. Yet here I was again, pulled back into the crowd due to the nature of my curiosity. 

Despite it being a matter of fact for me to run with the crowd, inside this undecipherable fog, the whole thing in itself, the strange things that took place on the sacrificial altar brought to the surface a state of emptiness, a sadness like crying. I wonder if I could see the teardrops? Do they look anything like dew drops? How will I be able to tell the difference between a drop of dew and a tear, smoke or the fog?

I made a conscious decision to leave the crowd. (I didn’t feel like I belonged).

I am me. Right at this very moment, I want to make sure I am myself. An individual, sad, full of sadness?

I am me. Someone who was abandoned in a fog one day, fully aware of the smoke, the memories. A chilling fog. A mesmerising frightful fog filled with hidden death traps, predestined loss. Amidst the crowd, I was still me. The crowd can not touch me. But, to me they were not intangible. Through the shrieks, the bleakness, through their strangeness, my shapeless existence. Even though, momentarily, I’m distracted by an odd curiosity wrapped up in a blanket of fog which took place in front of me this morning.

An empty space, with a bunch of people hovering, spreading out, to then again be in a hovel pushing and shoving, howling grunts from the back of their throats. It is just that. I have never witnessed anything so simple right in front of me. Yet in front of me, was an elaborate sacrifice. A couple of the official celebrants wore wings and held scrolls of written letters (there definitely has to be letters in them, otherwise how would they start the ceremony?). An awkward young man walked at the centre of the group of celebrants, lifting the scrolls high towards the sky awashed in sunlight. The scrolls shifted a little before it began to emit smoke.

The mist dissipated. The sunlight was now harsh and burning. The sunlight pierced the letters. Their shadows were imprinted on the ground. The flickering human shadows momentarily joined together. The shadows of each word stretched out intertwined with one another, the abbreviated characters on the page fell to the ground before I could even catch a glimpse of them actually falling. I watched the letters on the ground. They were jumpy, bouncing on the earth’s flesh giving off an unusual sound. “have they escaped”, (as I did). I was at first wary, then decided on being more positive, that: “sooner or later, they would have to, escape, they would have left those useless pages the making of some sophisticated language that could never hold up the identity of the species”.

The letters continued to fall, a few words amongst them lay silently on the grass damp with dew like tears with no intention of ever moving again, remained. “The grass wept through the night. The deep tombs couldn’t bury the death floating above ground”. I mumbled, dazed, and for the last time lifted my eyes toward the empty altar. The crowd continued to rub against each other, to then leave, to then shout, to then be silenced. Reaching the blue sky, the smoke continued to curl and rise in a spire merged with the clouds.

3.

I was mesmerised by the scattered letters. They lay there unmoving, not a single twitch. I’ve gone far away from the crowd, standing on the side, away from the sunlight. (I’m fearful of the sunlight. I’m fearful of the Sun. I’m fearful of fire. I’m also fearful of smoke). Sometimes the fear overwhelms me like the endless pounding ocean waves. I missed the waves. I remembered once how I was able to listen to the pounding waves, the same rhythm as my mother’s heartbeat. But, right now, my focus was caught up in this odd sacrifice and the sound of waves suddenly turned into a fear I couldn’t escape from under the glaring sunlight.

I returned to what was unravelling in front of my two eyes as clear as drops of morning dew, I admired each and every fallen scattered character. They appear to be moving ever slightly. (It was clear they were also excited by the same sacrifice). My eyes followed them, as I thought about my mother, and the waves. I wondered where my mother was right now at this very moment? Why did the thought of her appear out of nowhere in the middle of my busy schedule, in the middle of spring, when it’s time for games and frolicking, amongst these strange adventures within an undefined light and darkness of this world? I thought about the word Mother. The letter M. (It may represent the word mother. Or it may not). Since I’ve never seen my mother. I only know my mother through the sound of waves. My heartbeat. My blood. My mother’s blood. The blood of an ocean pulsating through the sound night. Then, I thought of a different meaning for the letter M. (It could be My blood. Or maybe not). The blood all over Me after My Mother gave birth to Me for instance. I thought about Myself. Me being formless on a cold foggy night.

Suddenly, there was a scream, all were silent. Startled, I abandoned the long strand of thought unbeknown to anyone, and continued to head towards the bizarre materialising human forms through the fog.

The crowd, and the demonic faces in front of the sacrificial altar (no wood pyre, no fire, no animal for sacrifice) waiting to see how everything might play out. (so sure, I called it a game, no one had told me it was ceremonial sacrifice). It could be some sort of perceived idea that had suddenly taken shape. “What is their game?” I pondered, and there was no answer, why was there only one crowd, one altar and no wood, no fire, no sacrificial animal. Yet the sacrifice went ahead with pomp and ceremony, the black gas continued to wrap itself around the clouds in the brilliant sunlight. Then just like that, I was bored. Such boredom often followed, after the exciting beginning of any of my new games. It’s always there hovering in my formless breath.

4.

One lovely sunny day.

I believed I had to leave, I must leave this place when I can still bear such spasmodic boredom. I walked away from the altar, I walked away from the crowd, I walked away from the activities of the sacrifice in preparation for the coming spring. I wanted to set myself apart so that I was able to sit on the barrow and ponder what I saw. The tumulus then became more sombre since the night I had left to be alone, to humour myself. The tumulus steeped in dew then was now arid in light of the harsh sun, devoid of its damp green freshness.

Even though I was no longer an attendant of the sacrifice, my mind was continuously drawn to it. How will the game unravel? What will they do with an altar without firewood, without fire, without animal sacrifice, nothing but a crowd, a couple devilish looking celebrants that in my entire life have never seen. I thought then of my mother, and the waves. I don’t know what my mother looks like. I could only recall hearing the sound of waves. Clearly my mother’s face was a picture of waves. Actual waves. What if the waves were actually my mother?

On the dry and withered barrow, I sat not far away from the ceremonial sacrifice, I was able to watch the letters, and saw what happened after they fell onto the ground from the scrolls in the celebrants’ hands, they were making their way towards me. The letters popping like popcorn on the ground, breathless. Under the blistering sun, they dragged themselves towards my mound of dead dry grass. What took place was as clear as day. Yet still, my eyes were dreaming of moist green grass (all of course in my imagination, there is no such thing as a patch of wet grass at noon). I was inflicted constantly with these incongruous dreams, the opposite to what was supposedly true. I was suspicious of myself. I was suspicious of the Sun. I was suspicious of the light. I was suspicious of the game those people were playing. Yet still, I wanted to participate, wanted to know how everything might turn out. The strangest thing. Then out of nowhere, an endless sadness overwhelmed me, I was a tiny pure soul thirsting for more and more of the world.

Again, I head towards the altar and the crowd. I wanted to watch the letters fall out of the scrolls and see what they might do next. The letter C stretched out like bowstrings pointing at the sky, swaying ever slightly, a startled bird flying far from its flock fell, kerplop to the ground, right next to me. I lifted the bird’s wing and a few drops of blood fell out, and the dry grass was suddenly green again, moist with dew. The tiny bird was dead.

Bending low, closer to the ground, I looked for more of these letters. More letters must have fallen from the scrolls. There was the slow and lethargic L, not energetic like C, was making its way towards me. L stopped, broke down on top of the grass, and started to cry. Its cries were much like that of tiny critters, like worms and crickets, like cicadas, like bees, like the blood-thirsting mosquitos in the dark. I was also fully aware that the cries were silent. The kind that gets choked up in my throat, the painful kind. (I have never audibly cried). Yet, there I was, thinking about the sound of those waves. Perhaps it was me who was actually crying. I would then chase these thoughts, these obsessions on the arched entrances of those L-shaped houses. They brought nothing but death.

Hypnotised by the letters around me, I forgot about the crowd and the sacrifice, indefinitely in front of me. I was momentarily distracted by the letters, by all the capital letters fallen from those baffling white pages. Wondering what other letters will fall out in this interesting game. I felt something tickling the pad of my feet, (all of this was in my head of course, my undefined toes, not fully formed roundly in my mind), they were wriggling, then I could feel there was actually something there. I shifted my feet on the tumulus, unravelling each smoky corpse at a time, confirming the possible existence of an encounter with the strange phenomenon for the first time ever in my whole life. I had a closer look, the pointy tip of the letter V, was pointing straight up, touching the bottom of what looked like my big toe. (my big toe). The letter V didn’t know what to make of me. The letter V made me sad. The sadness skin deep beneath my imaginary skin. The skin yet formed like everything else. The sadness penetrated deeper, infiltrating my imaginary bloodstream. It was clear, I had deliberately abandoned anything that has to do with my possible existence. And I did not pause for a moment to question my existence, my mother’s, or the reality of those quivering waves hidden in every layer of my awe-inspiring memory. 

I picked up the letter V, I admired it beneath the escaping light through the black clouds overhead. Suddenly from the crowd and the altar was a speechless shriek, it was as though some living thing was being burned alive. But no, the altar was in complete silence void of any kind of fire. (no firewood, no animal offering, nothing to kindle the fire), how could there be such an incredibly painful cry. I was now really curious, (like, anyone would be curious about anything which was strange around them).

5.

– Fire. (now there’s fire)
The fire descended from the mountain. An escalating flash fire. Overflowed like water in a spring. The fire taking up all forms, sometimes thick, sometimes much like the wind, a scorching wind which consumed everything in its path. The fire rose and then died out. Spitting amber rosettes at the crowd, sweeping over the pyre void of wood, void of fire starters. And it burned. The surrounding fire formed a circle. The crowd moved completely away from the circle of fire. The crowd began to chant. The strangers in ceremonial dress began to call out the names of what will be sacrificed.
– water.
Water. [the crowd replied]
– earth.
Earth. [the crowd replied all at once]
– trees [the crowd took the words out of the celebrants’ mouths]
Hundred-year-old uprooted.
– sea
Weeping fish out of water [the crowd replied]
– harvest
If not the harvest then the virgins.  [the crowd replied all at once]
– chilies
Hot. [the crowd replied as they rubbed their eyes]

Burn.  
Burn. 
Burn.

The crowd was picking and throwing. Picked and threw. Throwing whatever they could into the fire. Throwing whatever they could at the sacrificial altar. The crowd enthusiastically threw at the fire. The fire burned with passion. The strange-looking celebrants were shouting. The fire was burning even stronger than ever before. The crowd rushing picked and threw each item of sacrifice faster and faster with all the strength they could muster to the very moment they were spent.

The young guy with the awkward stride continued to call out each item of sacrifice one after the other. I tightened my grip on the letter V. Intently I listened for the next sacrifice, following every step of this strange sacrifice. The crowd was now screaming even louder. What was the last sacrifice they called out? It might be it, the letter V, (silently I admired the letter V that had brought so much pain and joy to my toes)

The letter V wriggled itself out of my shapeless hands and fell to the ground. The letter V hopped quickly towards the altar, the crowd and the devilishly possessed people. I chased after the letter V, merged with the crowd, eyes focused on the altar. (still with no firewood, no fire, no actual sacrifice). Confused, I surveyed the screaming people around me as they screamed out the last sacrifice, “blood”.

There was not a single reply. Then somewhere was the sound of blood gushing, poured like a waterfall, like flood water, like torrential deluge.

Blood was then thrown at the fire, at the altar of sacrifice.

The blood overflowing met my feet. The letter V quickly jumped, headed straight for the crowd, right onto the altar. The blood was boiling and bubbling away. The ground was glossy with sticky blood and the fire was like a flow of volcanic lava.

My feet were sticky with blood. (my unformed toes)

My feet were sticky with blood. (my unformed toes)

My feet were stuck together and there was no way of separating them. (my unformed toes)

I wanted to walk. I suddenly wanted to walk. I wanted to learn how to walk.

(walk to where?)

Walk towards the sound of waves. Walk to where my mother might be. My mother was the waves.

I want to learn how to ee a read the letters. Beginning with the first letter, which happened to be the letter V. (The disintegrating letter V)

I was disintegrating. (as though I was never there).

I was a manifestation that could hear the sound of waves through my mother’s heart yet fully nine months and ten days. I was not yet me. I was the sacrifice for a bunch of adults playing a game.

The real sacrificial altar, right at that patch of red earth, right where there were still remnants of evidence. Dried blood. Black. An even spatter on the branches and blades of withered dry grass under the scorching sunlight surrounding a sad, desolate and lonely mountain. The crowd gradually also disintegrated, disappeared. The sinful souls presiding in this ancient, chilly place. The pitiful soul hiding behind the tumulus damp with dew much like tears silent without ever being allowed to utter a word, to ever be born.

The late afternoon was a blanket of shadows. Something soundly black generously threw upon whatever sacrifice they deemed fit a familiar darkness. Within the chaos of the dark the roosters were frantically crowing.

Will there be light. Tomorrow.

July 2021

Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
%d bloggers like this: