A poem in Vietnamese by Nguyễn Đình Toàn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh
Đinh Trường Chinh, Washington DC. 9am.29.11.2023
Những ngày cuối thu, đi giữa rừng cây mùa thu trút lá, tôi không khỏi nghĩ đến một thế hệ làm nghệ thuật tài hoa của miền Nam Việt Nam trước 1975, đang dần rơi xuống…
Trong một thời gian ngắn qua, chỉ hơn 1 tháng vỏn vẹn, tôi đã được đọc, được biết bao tin buồn về sự ra đi của nhiều người trong nền nghệ thuật đó – từ Phật Giáo, đến sân khấu, hội họa, văn chương .. Như những chiếc lá vàng rục cuối cùng rơi xuống từ những cành cây mùa thu. Tôi thấy một thế hệ như dần khép lại, rơi rụng .. ít ra trong ý nghĩa vật lý. Một “rừng xưa đã khép”, khép lại dần sau gần 50 năm từ khi nền nghệ thuật ấy bị bức tử.
Nếu những cái tên sân khấu được cả người dân miền Nam yêu mến, xem như “người của mình”, như Thành Được, Tùng Lâm .. thì những cái tên như Tuệ Sỹ, Nguyễn Đình Toàn, hay trẻ hơn trong âm nhạc như Quốc Dũng, chắc chắn là những người được yêu thương và hâm mộ không kém trong thế giới của họ. Xa hơn nữa, những cái tên được nhắc lên từ mọi ngành nghề nghệ thuật như Thanh Nga, Thành Được, Út Bạch Lan, hay như Thái Thanh, Sĩ Phú, Lệ Thu, những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương.., Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ ..trong Phật Giáo, Thái Tuấn, Duy Thanh, Đinh Cường .. trong hội họa, những Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu ,.. và còn rất rất nhiều nữa kể không hết. Những chiếc lá đó đã rơi xuống, từng chiếc …
Hôm qua là Nguyễn Đình Toàn.
Một thế hệ, nói theo ngoa ngữ, là một thế hệ vàng – vàng ròng. Ngày ấy, họ đã phát triển tài năng bằng thực lực thật thụ – mỗi người mỗi vẻ, không “công nghệ”, chiêu trò, hội đoàn…
Nguyễn Đình Toàn – một cái tên được nhắc lên thôi là cả một hình ảnh, giai đoạn sinh hoạt văn học nghệ thuật phong phú của miền Nam trước 1975 hiện ra trong tâm tưởng. Những nhà văn, nhà thơ, ca sĩ, nhạc sĩ , họa sĩ …thời ấy dường như đều có những tình bạn, quan hệ thuần văn nghệ, mật thiết, hỗ trợ cho nhau. Thái Thanh, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Đình Chương, Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Đỗ Long Vân,Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Đinh Cường, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Trung, và còn cả hàng chục nhân vật khác, thở trong một bầu khí quyển của văn nghệ thời thượng, pha chút hiện sinh, của giai đoạn đó. Thi ca, âm nhạc, hội họa, văn chương, song hành đẹp đẽ.
Mẹ tôi kể, ngày xưa đi với Bố vào quán Cái Chùa, La Pagode, nằm ngay góc Lê Thánh Tôn – Tự Do cũ, là gặp biết bao nhiêu bạn bè ở đó. Nếu không ngồi chung bàn với Duyên Anh, hay Cung Tiến, thì đằng xa kia, cũng Nguyễn Đình Toàn hay Nguyễn Xuân Hoàng vẫy tay chào, Mai Thảo đang cắm cúi viết, và biết bao nhiêu tao nhân mặc khách quen. Bố tôi cũng đã lê la ở đó. Dĩ nhiên là tôi chỉ nghe kể, từ lúc bé. Như lớn lên, tôi đã được nghe Mẹ kể về những cái tên như Tự Do, Đêm Màu Hồng, những buổi đi phòng trà nghe Thái Thanh, Lệ Thu hát, hay nghe Bố kể về những cuộc gặp gỡ miên man với giới văn nghệ Sài Gòn ở La Pagode. Chỉ nghe kể không đã thấy ra một không khí rất văn học – văn học trong thời chiến tranh, thời loạn.
Đó chắc chắn là một nền nghệ thuật giàu có và đã phát triển mạnh trong một bầu không khí sáng tạo tự do, trong những xúc tác văn nghệ thật sự. Nền văn học nghệ thuật ấy chưa bao giờ “được” công nhận hay đi vào lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam sau 1975, thậm chí nó còn bị âm mưu vùi dập và giết chết biết bao nhiêu lần. Còn những nhà văn, nhà thơ, các bậc chân tu kia thì đã bao lần bị bắt bớ, tù tội, kết án tử hình … Nhưng chắc chắn nó đã ăn sâu vào tâm hồn người dân Việt Nam qua bao thế hệ.
Cánh rừng nghệ thuật một thời xanh tươi phồn thịnh đang rơi từng “chiếc lá cuối cùng”, trong ý nghĩa thân xác kiếp người. Giá trị tinh thần, di sản nghệ thuật họ để lại sẽ còn đó, sẽ được tìm hiểu đúng mức, một lúc nào đó.
Nghệ thuật đích thực là thứ nghệ thuật chịu sự đọc lại, nghe lại .. và thực tế đang chứng minh điều đó thôi, cho những ai còn quan tâm và muốn tìm đến. Dĩ nhiên, tôi viết vội chút status này trong tinh thần nhớ về, chút cảm tính cá nhân, chứ không phải “tiếc nuối”.
“Ðổi áo khăn làm gió
Cho không vướng tay xuôi
Ra đi đường chắc dài
Chẳng cần gì khăn gói
May ra hồn thảnh thơi…”
(thơ Nguyễn Ðình Toàn)
Chúc Bác lên đường thảnh thơi –
Nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, người làm truyền thông một thời, Nguyễn Đình Toàn.

Soon, I will leave, I will leave soon, for the dark fog
Into the flesh seeps the foggy poison of death
Our homeland descent in farewell, divided
Where to, the tearful letters
Soon, I will leave, to hopefully forget a long-lost love
Hoping that they will find their destination
Our parting, ripping the seas and heavens
Leave behind how many notes of yearning
The moon shall be cold alone from now on
Life around waterfalls and rapids
Broken mirror shattered soul
A vessel far from docking
Soon I will leave, beyond my heart the blood will continue to pour
In all corners of the world will be the prayers
May our homeland wake from its torpor
The possibility of joy upon death in exile
Mai tôi đi
Mai tôi đi tôi đi vào sương đen
Sương rất độc tẩm vào người nỗi chết
Quê hương ta sông chia dòng vĩnh biệt
Chảy về đâu những nước mắt đưa tin
Mai tôi đi mong cho tình xa quên
Mong cho người về được nơi sẽ đến
Ta chia tay, ta chia trời xé biển
Còn được bao dấu vết nhớ nhau tìm
Từ nay trăng sẽ lạnh riêng mình
Đời nghe quanh thác đổ qua ghềnh
Hồn như gương vỡ dập tan tành
Thuyền ơi từ nay xa bến
Mai tôi đi như máu chảy ngoài tim
Xin khấn nguyện cả mười phương tám hướng
Cho quê hương u mê ngày thức tỉnh
Để dù xa có chết cũng vui mừng
Nguyễn Đình Toàn first penned under Tô Hà Vân, was born September 6th, 1936 at Gia Lâm, by the Red River, outside of Hanoi, the poet and musician passed away on November 28th, 2013 at Fountain Valley, California, U.S.A. Left for South Vietnam in 1954, there he became actively involved in the arts, literature, poetry, plays, and music, in association with literary magazines like Văn, Văn học. He collaborated with Trần Phong Giao for many years in the selection of literature for Văn Magazine. He took up the position as the editor of Saigon Radio after that and became known for the Music program in the early seventies. He was captured twice after 1975 and was imprisoned in a re-education camp for nearly six years. He and his wife, Madame Thu Hồng, settled in the United States of America at the end of 1998.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
Leave a reply to eliva Cancel reply