Văn Học Ngoại Biên — Literature Beyond

[
[
[

]
]
]

A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

10. DIG OUT OF A HOLE

As the conflict between Buddhists and the government worsened. Thạch Xung saw a slim chance out of his situation in the middle of the crisis. He went in search of the monks like a good and kind Buddhist with a heart bursting with reverence. The monks rejoiced as they welcomed him like a repentant soul. However, not once did Thạch Xung discussed politics. He asked them if they will take him, shaved his head and accepted the dharma moniker Trí Thiện, given to him by a Venerable monk with authority at the time, like an insurance for his new status.

10. ĐÀO THOÁT 

Cuộc xung đột giữa Phật giáo với chính quyền càng ngày càng căng thẳng. Thạch Xung nhìn thấy khe hở giữa cuộc khủng hoảng đó là lối thoát của mình. Anh tìm đến các thày như một Phật tử thiện lành đầy lòng cung kính. Các thày cũng hoan hỉ đón nhận anh như một kẻ hồi tâm. Tuy nhiên, Thạch Xung không bao giờ nói chuyện chính trị. Anh xin qui y, xuống tóc và nhận pháp danh Trí Thiện từ một Thượng toạ uy quyền đương thời, như một cách bảo kê cho thân phận mới của mình.

Cũng không cần tu. Trí Thiện khoác lên người bộ bà ba nâu, tóc búi thong dong như một ông đạo vùng Thất Sơn, tự xây một cái am an trú trên mảnh đất riêng khá rộng. Đơn sơ nhưng trang nghiêm, phong cách Nhật Bản. “Thiền am Như Tuyền” chữ to và không kèm theo Hán tự trên cổng. Chánh điện không sơn son thiếp vàng, chỉ có một tượng Phật trắng do anh đặt một điêu khắc gia tài năng thực hiện. Dưới chân tượng luôn luôn là một bình hoa sen tươi. Lư hương anh cho đặt ngoài cửa để tránh ảnh hưởng đến sức khoẻ khi ngồi thiền. Kinh sách anh nhờ sư phụ lo giúp. Mỗi ngày, sáng tối hai buổi anh đều ngồi tụng kinh nghiêm mật. Cửa Thiền am luôn rộng mở, nhưng trong mấy tháng đầu vẫn chỉ hiu hắt một mình Trí Thiện đi lại, quét lá trong sân vắng.

Tiếng chuông, tiếng mõ của Trí Thiện trầm ngâm trong không gian và thời gian. Những âm thanh lắng đọng chân thành ấy thấm dần vào lòng người. Hồi hướng từ bi, người ta nhận ra sự thanh tịnh và đẹp đẽ của Thiền am Như Tuyền như một cảnh quan hiếm có ở thành phố. Từng người, từng người… đến thắp nhang đảnh lễ Phật. Càng ngày càng đông.

Trí Thiện biết cách để lôi kéo thiện nam tín nữ, biết tạo huyền thoại và màu nhiệm nhưng anh không làm, bởi thật sự Trí Thiện không cần tiền. Trí Thiện cũng không muốn tạo ra một đám đông u mê xung quanh, bởi anh biết đám đông vớ vẩn ấy sẽ trở thành lý do để chính quyền hay bên cách mạng giết mình. Anh cần nhìn thấy lòng sùng tín đích thực.

Dẫu sao, Thiền am vẫn phải có thùng công đức để Phật tử cúng dường cầu phước, không thể làm khác. Việc ấy đủ nuôi Trí Thiện sống an nhàn, tự tại.

Núp bóng uy danh của sư phụ, nhưng Trí Thiện cũng như Thiền am Như Tuyền không nằm trong hệ thống tổ chức của giáo hội. Không mang họ Thích. Không tự xưng đại đức, thượng toạ hay Thày. Trí Thiện tâm nguyện hành giả tu tập, không thuyết pháp hay rao giảng điều gì. Trí Thiện chỉ hành thiền và chia sẻ tâm nguyện vô ngôn với chúng sinh. Cũng vì thế, ai gọi Trí Thiện là gì, anh không quan tâm hay đính chính. Tuy nhiên, ở ngôi thứ nhất của nhân xưng đại danh từ, Trí Thiện tự nhận mình là “Kẻ Hèn Này” theo tinh thần khiêm nhu của Đông phương bất tranh.

Chính quyền sở tại không muốn can thiệp vào việc tu tập của Trí Thiện bởi họ cũng tránh không muốn bị mang tiếng là đàn áp tôn giáo.

Hà Việt nhìn Trí Thiện vững vàng trong Thiền am, ông ta không khỏi nể phục. Hà Việt tiếc cho một con người ngoại hạng như Thạch Xung lại chọn sự xuất thế. Ông ta cũng tiếc cho cái tinh đời của mình chưa gặp thời. Ông ta tặng Trí Thiện một bàn cờ tướng và muốn chỉ dạy cho Trí Thiện cách chơi cờ. Nhưng Trí Thiện tỏ ra không đam mê với việc đánh cờ.

“Kẻ Hèn Này không phải là người thích hợp để chơi cờ.”

Hà Việt bảo, “Dẫu anh không chơi cờ, cuộc đời vẫn là một bàn cờ. Nếu anh không là kẻ chơi cờ, thì anh sẽ trở thành quân cờ cho người khác chơi.”

“Kẻ Hèn Này không quan tâm. Kẻ Hèn Này đã là người ngoài cuộc.”

Hà Việt tiếp tục tấn công Trí Thiện, “Cho dù xuất thế, anh cũng không thoát được cuộc cờ này. Đấy chỉ là cách anh trốn chạy. Nhưng chạy đâu cho thoát những hệ luỵ trần gian?”

“Kẻ Hèn Này biết anh đúng. Nhưng Kẻ Hèn Này đã chấp nhận hèn rồi.”

Đến nước này, Hà Việt cũng chỉ biết cười trừ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng Hà Việt vẫn đến chơi với Thạch Xung như trước khi anh là Trí Thiện. Bởi vì Hà Việt biết, Trí Thiện chỉ là một cách diễn của Thạch Xung. Ông ta không tin Thạch Xung muốn tu thật.

Trong thực tế, Thạch Xung vẫn quan sát thời cuộc, nhưng không bình luận. Thạch Xung vẫn sống như chính mình, một hành giả tự do không luật lệ, ngoại trừ việc giữ chay trong ăn uống. Một cách chân thành, anh vẫn coi việc ăn chay là một pháp môn để điều chỉnh thân tâm. Vả lại anh cũng không muốn tạo ra thị phi.

Thỉnh thoảng Mimi Đen cũng đến Thiền am Như Tuyền thỉnh an Thạch Xung. Với nàng, không có Trí Thiện, không có hành giả hay thiền sư, mà chỉ có một Thạch Xung phiêu lãng. Cõi Phật hay cõi thiền cũng chỉ là chốn phiêu linh của chàng. Con người ấy, có điều gì mà không thể.

Thạch Xung đã không thể kìm chế được để hỏi Mimi Đen, “Em có tin tức gì của Thị không?”

“Không, kể từ lúc đi Mỹ, chị ấy không hề thư từ gì với em.”

Nhưng Thạch Xung không tin Thị đã quên mình. Cô ấy vẫn cất giữ chàng trong ký ức, như một góc đời riêng.

Mimi Đen hỏi, “Anh vẫn yêu chị ấy?”

“Như một cách chết.” Thạch Xung nói.

Mimi Đen ôm Thạch Xung, “Anh vẫn sống và hoang dã, cho dù anh khoác áo tu hành hay giả chết.”

“Giả chết cũng là một cách chết.”

Thạch Xung dẫn Mimi Đen vào phòng ngủ, chỉ cái quan tài đang mở nắp, “Mỗi ngày anh nằm trong đó vài tiếng để thiền quán. Một trải nghiệm rất đáng giá. Em muốn thử không?”

Mimi Đen lắc đầu, “Em chưa muốn chết. Cũng không muốn giả chết.”

Không nói gì thêm, Thạch Xung lẳng lặng leo vào quan tài nằm xuống và chàng vẫy tay ra dấu cho nàng bước đến. Mimi Đen trút bỏ quần áo nằm đè lên người Thạch Xung, trong cõi chết.

Chiếc quan tài tuy ngoại khổ nhưng vẫn chật chội. Họ vòng tay qua người nhau, ôm thật chặt và hôn thật sâu. Họ đi vào nhau trong một tư thế duy nhất của bất chấp và vô cầu. Giữa ảo và thực, quá khứ quên lãng và hiện tại mơ hồ. Không phải sống, cũng không phải chết. Một cảnh giới vượt thoát mọi giới hạn, nhưng không phải niết bàn, mà chỉ là nhất thể hoá ba la mật, chân như thực tại. Một vĩnh cửu trong khoảnh khắc. Một chói loà của bùng vỡ. Một bản ngã bị bôi xoá.

Dịch nhờn lênh láng nhấn chìm họ trong cỗ quan tài.

Trí Thiện gọi đấy là một hành trạng của thiền đú. Nhấc mình lên khỏi mặt đất nhằm giải trừ các hệ luỵ, triền phược cũng như sự tôn nghiêm của các pháp là cách thực nghiệm cho sự chứng ngộ tâm linh bất nhị. Đạo hay Đú (Đụ hay Đáo), cũng chỉ là một.

11. HOẰNG PHÁP

Tối giản và thanh tịnh, Thiền am Như Tuyền gây ấn tượng về ẩn tu giữa một thành phố ồn ào hỗn tạp đầy màu sắc. Chính vì thế, Như Tuyền gợi lên một hiếu kỳ hấp dẫn trong chúng sinh. Để đối phó với tình trạng mất bản sắc của thiền am, Trí Thiện chọn sự giấu mặt. Lấy lý do nhập thất, Trí Thiện từ chối tất cả sự kính viếng của mọi thiện nam, tín nữ để giữ an tịnh cho mình. Sự trụ trì của Trí Thiện càng trở nên bí ẩn, cho dù cửa thiền am vẫn luôn mở rộng.

Khi chúng sinh nhận ra sự im lặng vô ngôn và vô hình vô ảnh của Trí Thiện, cũng là lúc xuất hiện một Trí Thiện chân tu được thêu dệt bởi các huyền thoại do trí tưởng tượng dân gian đồn thổi tạo ra. Con người muốn trốn chạy ấy, một lần nữa lại nổi tiếng. Những hình ảnh như Trí Thiện lặng lẽ quét lá, tưới cây, dọn vườn được đưa lên các mặt báo lá cải… như đối lập với các nhà tu hành bước đi trong áo mão lộng lẫy và dưới các lọng che quyền quí. Đấy cũng là thời của các hành giả đa ngôn như Thích Nhất Nhất, thiên tài Phạm Công Thiện…

Trí Thiện đã sớm nhận ra sự vô dụng của ngôn ngữ trước chân như. Trí Thiện cũng nhận ra ngôn ngữ hay tiếng nói là cạm bẫy của hiểm nguy đố kỵ. Không thuyết giảng, không biện luận… Trí Thiện kiên trì giữ lòng khiêm cung trước mọi cám dỗ.

“Kẻ Hèn Này chỉ là một cơn gió. Đến và đi không dấu vết.”

Nhưng dấu vết từ những bước chân của chúng sinh càng ngày càng dày đặc và làm ố tạp thiền am. Trí Thiện từ chối mọi gặp gỡ với báo chí, truyền thông.

“Kẻ Hèn Này không có gì để nói.”

Trí Thiện không buôn bán niềm tin hay chánh đạo. Trí Thiện không hoằng pháp hay độ trì ai. Nhưng Trí Thiện vẫn trở thành tấm gương để chúng sinh quán chiếu.

Trí Thiện nhận ra cái khó khăn không phải là đối phó với tà ma, cạm bẫy của giả danh vọng tưởng, mà chính là phải đối diện với chính mình dưới áp lực của sự thần thánh hoá do bên ngoài áp đặt. Bỗng nhiên bị giám sát bởi sự kính ngưỡng của bá tánh, Trí Thiện hoàn toàn mất tự do. Mỗi đêm, thiền định trong quan tài, Trí Thiện cảm nhận được cái triền phược xâu xé mình. Chẳng lẽ phải giữ mình vì bá tánh, thay vì tự tại với cái ngã vô chấp và bất chấp của mình? Rất bi hài, Trí Thiện cảm thấy không thể không có trách nhiệm với niềm tin của bá tánh.

Không thể khác được, một cách nào đó Trí Thiện đã lên ngôi bồ tát. Mimi Đen đến quản lý sắp xếp mọi việc vào nền nếp cho chàng. Một thứ hậu cung của vương triều. Hà Việt cũng đến để giúp Trí Thiện kiểm soát tình hình.

Ánh sáng minh nhiên của đạo hạnh khuất phục mọi kiêu căng, Trí Thiện đi đến đâu, thiện nam tín nữ quỳ gối ở đó. Họ cung kính hôn lên dấu chân của Trí Thiện như cách để được chia sẻ ơn khai minh. Trí Thiện tỏ ra vô tâm vô cầu trước vinh quang, bởi anh biết sự ngã mạn sẽ huỷ diệt anh.

Cho dù khiêm tốn đến tự xoá bỏ mình, Trí Thiện vẫn bị chính quyền và những kẻ theo đuổi quyền lực lo ngại. Những bậc đạo cao đức trọng trong cõi Phật cũng không tránh khỏi ganh ghét. Họ không muốn hiện tượng Trí Thiện lấn át uy danh của họ.

Chính quyền trao đổi với giáo hội để bắt Trí Thiện về tội trốn lính. Nhưng giáo hội không ủng hộ chiến tranh, nên không đồng tình cho họ bắt Trí Thiện.

“Chúng tôi sẽ xử lý nội bộ.”

Trí Thiện được mời đến gặp các Thày.

Sư phụ của anh bảo “Con phải đặt mình dưới sự quản lý của giáo hội. Tuân thủ mọi lề luật của giáo hội. Không được tự ý hoạt động theo cách riêng, làm rối loạn trật tự trong giáo hội.”

Trí Thiện cúi đầu vâng phục.

Tuy nhiên, người phát ngôn Hà Việt cho rằng, “Thiền am Như Tuyền không phải là chùa hay tự trong hệ thống giáo hội. Thiền am chỉ là một cơ sở tư nhân, tự tu và tự hành. Không ai có quyền cấm một người tự tu, tự hành theo cách của mình.”

Không thể ngăn cản được sự ngưỡng vọng của bá tánh với Trí Thiện, chính quyền cho mở chiến dịch bôi nhọ anh. Các báo thân chính quyền đăng các bài phóng sự điều tra về quá khứ của Trí Thiện, họ mô tả anh như một tên du đãng vô lại và tàn ác, việc tu hành của Trí Thiện chỉ là lừa đảo và trốn lính.

Trí Thiện tuyệt đối im lặng. Dòng người sùng mộ anh vẫn lũ lượt đến Thiền am Như Tuyền cúng bái và cúng dường. Nhờ sự quán xuyến của Mimi Đen và tài tổ chức của Hà Việt, Thiền am vẫn giữ được trật tự tôn nghiêm.

Cuộc hoằng pháp vô vi của Trí Thiện chưa phải là viên thành nhưng ít nhiều đã tạo được những hiệu ứng tích cực trong nhận thức của những người quan tâm đến đạo pháp, như một loại kính chiếu yêu. Ngay cả những thức giả đương thời cũng phải nhìn nhận một Trí Thiện đạo hạnh vô cầu và trong sáng. Sự khiêm cung thành thật đã chiến thắng lòng kiêu căng rỗng tuếch của những tham vọng thế tục.

12. HOÀ BÌNH

Chiến tranh cuối cùng cũng phải đến lúc có người thua, kẻ thắng. Nhưng chiến tranh kết thúc không đồng nghĩa với hoà bình. Trả thù hay phân biệt đối xử là không tránh khỏi. Một căn tính dân tộc. Bên thua cuộc bị xoá sổ không chỉ là một chính thể, mà còn là một nếp văn hoá, một nền kinh tế. Cùng với cái gọi là Nguỵ quân, Nguỵ quyền… một số kẻ tu hành như Trí Thiện cũng bị bắt đưa đi cải tạo vô thời hạn. Thiền am Như Tuyền bị nhà nước trưng dụng. Hà Việt biến mất cùng hàng triệu người nhốn nháo tìm đường vượt biên. Mimi Đen về nhà và tự giản lược mình thành Mi, như mọi thứ khác trong cuộc sống của người miền Nam.

Trong trại giam, Trí Thiện hoàn tục là một tên du đãng như xưa. Nhưng dẫu thế nào, Thạch Xung vẫn là một giang hồ hảo hớn. Anh dữ dằn, không hạ mình trước những sỉ nhục của kẻ thắng, mặc dù anh không phải là người thua theo cách của kẻ đối đầu. Thạch Xung như bao người khác chỉ là đầu thai nhầm chỗ. Không chính, không tà. Chính vì giữ tư cách, Thạch Xung nhiều lần bị biệt giam, bị bỏ đói, bị hành hạ vì những công việc nặng nhọc… nhưng anh không chết. Hai hàm răng Thạch Xung bị đánh gãy gần hết. Những vết sẹo dày thêm trên thân thể anh. Và sự thù hận càng trở nên sắt đá. 

Mi lam lũ chợ trời dành dụm đi thăm nuôi Thạch Xung. Nhìn anh tiều tuỵ, Mi chỉ biết khóc. Thạch Xung nhìn Mi xót xa, nàng cũng gầy đanh lại.

“Em cố gắng tìm cách đi đi. Đừng lo cho anh.”

“Không, em chờ anh.”

Cuộc sống tăm tối, tủi nhục và không lối thoát. Họ lầm lì chịu đựng.

Gần hai năm sau, Thạch Xâm đeo quân hàm đại tá tìm đến trại giam. Hai anh em không ôm nhau, không sướt mướt. Họ lạnh lùng.

Thạch Xung hỏi, “Em đến làm gì?”

“Bảo lãnh cho anh về.” Thạch Xâm bảo.

“Anh phải ký giấy nhận tội xin khoan hồng à?”

“Không, mọi thủ tục em lo xong rồi.”

“Sao bây giờ mới đến?”

“Em xin lỗi. Một phần cũng bận rộn quá, phần khác cũng đâu biết anh làm gì, ở đâu?” Thạch Xâm phân trần.

Ngay hôm đó, Thạch Xung tay không ra xe của Thạch Xâm rời trại giam. Anh không có gì mang theo ngoài nỗi xót thương ngậm ngùi với những người còn ở lại.

Thạch Xâm nói, “Lẽ ra, anh sẽ phải đi kinh tế mới. Nhưng nếu anh muốn, em có thể thu xếp một công việc cho anh ở thành phố.”

“Cám ơn em. Cho anh về chỗ bạn gái anh.”

“Sống được không?” Thạch Xâm hỏi.

“Người ta sống được, anh sống được.”

“Tuỳ anh. Nhưng về nhà em ở vài ngày đã.” Thạch Xâm nói.

Thạch Xung im lặng.

Suốt mấy ngày ở với nhau, hai anh em cố tránh nói chuyện thể chế, chính trị. Họ không muốn tiếp tục xung đột. Họ cũng không nói đến hiện tình khó khăn của đất nước và cuộc sống xã hội. Họ chỉ kể với nhau những vui buồn thuở trước.

Thạch Xung hỏi, “Mẹ thế nào?”

Trầm lắng.

“Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, mẹ chết mất xác trên đường di tản.”

Thêm chút ngậm ngùi, Thạch Xâm nói “Em cũng không hiểu sao đến lúc ấy mẹ lại bỏ chạy.”

“Có ai không muốn bỏ chạy. Còn cha thì sao?”

“Ông ấy đã chết trước trong mùa hè 72. Không có mộ.”

“Có ai quay trở lại Rume không?”

“Hình như không. Nhưng em đã xây một ngôi mộ gió chung cho cả cha mẹ trên đất nền nhà cũ.”

Sạch sẽ và tươm tất, Thạch Xung từ giã ông em, một mình đi tìm Mi.

Hẻm rộng. Những căn nhà cũ màu vàng úa càng cũ kỹ hơn như một hoài niệm. Như không thật, bước chân Thạch Xung lênh đênh. Nhịp điệu của đời sống mơ hồ chậm lại. Ngắc ngoải và lo âu. Một vài căn đã bị đập phá, mái và các cánh cửa bị gỡ. Cái cảm giác như đứt gẫy và mất mát này sẽ đeo đuổi con người tới chết.

Thạch Xung gõ cửa. Mi hiện ra như một vầng sáng đen, nghẹn ngào. Họ ôm lấy nhau. Tình yêu tha thứ mọi lỗi lầm. Tình yêu tái sinh cuộc sống.

“Chúng ta chưa chết.”

“Chúng ta vẫn còn nhau.” 

Và đó là tất cả.

Thật ra, họ đã chẳng nói gì. Chỉ có im lặng mới kể hết nỗi niềm của họ.

Căn phòng đã ấm cúng và có mùi người sau một cuộc làm tình cuồng nhiệt và say đắm.

Thạch Xung nằm vùi đầu vào trong gối.

“Anh đừng vội phải lo lắng. Em sẽ nuôi anh.”

“Mọi thứ bất ngờ quá. Anh cũng chưa kịp nghĩ phải làm gì.”

“Anh cứ nghỉ ngơi cho thật khoẻ đi. Mọi thứ tính sau.” Mi dịu dàng mà cương quyết.

Thật ra, Mi cũng đang rối bời không phải vì việc làm gì để nuôi nhau mà sẽ phải làm thế nào để Thạch Xung được cư trú hợp pháp ở nhà mình, điều mà tất cả những ai đã từng sống ở thành phố này trước đây không phải bận tâm, giờ đây đất nước hoà bình thống nhất, nó lại trở thành nỗi kinh hãi trong chế độ mới. Đi kinh tế mới như nhà nước hô hào và cưỡng bức là bước xuống địa ngục. Họ không thể đến đó để lưu đày và chết.

Trước khi trời tối, Mi cầm tờ giấy ra trại của Thạch Xung đến ông tổ trưởng dân phố trình báo xin cho người nhà được ngủ lại qua đêm. Vốn là chỗ hàng xóm, Mi dọ hỏi ông tổ trưởng cách để cho Thạch Xung được thường trú.

“Tôi không giúp được cô, nhưng tôi nghĩ cô có thể nhờ anh cảnh sát khu vực.”

Không có gì mỉa mai, tội nghiệp hơn khi những chiến sĩ của chủ nghĩa vô sản đối diện với tiền bạc. Nói cách khác, đứng trước tiền bạc – chủ nghĩa vô sản chỉ là một con cún hiền lành. Trong quán café vắng, Mi dúi vào tay anh cảnh sát khu vực một gói giấy nhỏ với hai chiếc nhẫn vàng.

Anh cảnh sát hỏi, “Cái gì đây?”

“Dạ, em gởi quà cho các cháu.” Mi cười cười cố ra vẻ duyên dáng.

“Tôi chưa có vợ.”

Mi vẫn cười, “Thì làm quà cưới cho chị tương lai của anh. Anh cứ cầm đi cho em an lòng.”

“Cô muốn an lòng chuyện gì?”

Mi đưa giấy ra trại của Thạch Xung cho anh, “Anh giúp để cho tụi em có thể sống bên nhau.”

“Tại nhà cô luôn à?”

“Dạ.”

Suy nghĩ một lúc, anh cảnh sát chậm rãi, “Vì hạnh phúc của hai người, tôi sẽ cố gắng.” 

Ban đầu là sổ tạm trú. Vì hạnh phúc của nhân dân, thêm ba chỉ vàng nữa, Thạch Xung đã được thường trú tại nhà Mi.

Hàng ngày, chàng theo nàng ra chợ trời đứng. Việc mua đi bán lại tuy cũng có thể đủ sống, nhưng Thạch Xung không vui. Chàng gặp lại một số bạn bè, đàn em cũ cũng ngang dọc chụp giựt ở đây. Họ như những đám bèo trôi dạt. Vô định và không phẩm giá. Thạch Xung lang thang đến các bến xe, nơi ký ức chàng còn lưu dấu những vết sẹo thuở mới bước chân vào thành phố, giờ cũng chỉ toàn dân cò cốt vé xe. Những người có thế giá một thời dần dần biến mất. Không phải họ bốc hơi, mà họ chạy trốn. Mặt đất chỉ còn dòi bọ và những kẻ hãnh tiến.

Những kẻ bất đắc dĩ ở lại tự co rút, ẩn náu. Sự săn đuổi bởi chế độ mới không chỉ là những luật lệ và công thức phản văn minh, phi văn hoá trên bình diện chung của xã hội, mà nó còn đe doạ, trấn áp những thói quen suy nghĩ độc lập và hành động tự chủ của từng cá nhân, gia đình.

Thạch Xung không muốn chạy trốn theo cách vượt biên, không phải vì anh không thể xoay xở được, mà anh muốn đối phó với nó. Không sợ hãi.

Một số người quen cũ mạnh mẽ hơn, họ muốn tìm lại phẩm giá. Và họ nói đại loại, chúng ta không thể sống như súc vật, như nô lệ… Sự cai trị ngu dốt huỷ diệt chúng ta… Vì thế, cần phải đứng lên, vùng dậy… Chúng ta không làm anh hùng, nhưng chúng ta cũng không thể sống như sâu bọ…

Và chàng cũng nghe rất nhiều những từ như “phục quốc”, “phục hưng dân tộc”, “nhân dân hành động”… 

Tìm lại một quốc gia, một chính thể đã mất… đối với Thạch Xung không chỉ là bất khả mà còn là thiển cận và hồ đồ không khác gì những kẻ đã chiến thắng họ. Tuy nhiên, cũng có những người tỉnh táo hơn, họ vẽ ra một tương lai khác vượt lên các ý thức hệ cũ, những tương tranh hơn thua cũ để kiến tạo một tổng lực hoà hợp có khả năng đáp ứng cho một thời đại mới của một đất nước thống nhất.

Một cuộc vận động âm thầm nhưng không ngừng nghỉ luồn lách trong cuộc sống để con người không tuyệt vọng. Cuộc vận động ấy bị chính quyền đương thời gọi là thế lực thù địch, phản động và bị trấn áp khốc liệt. Rất nhiều người bị bắt, bị kết án tử hình hoặc ngồi tù lâu dài. Nhưng con người vẫn nuôi niềm hy vọng, dòng chảy âm ỉ để hồi sinh phẩm giá và chất lượng cuộc sống vẫn cứ luân lưu qua từng thế hệ.

Thạch Xung chán chính trị, anh không tham gia bất cứ một tổ chức nào. Nhưng chính trị vẫn đè anh xuống. Cuộc sống càng lúc càng khó khăn. Mọi thứ bị cấm đoán kể cả những điều căn bản nhất của con người như kiếm miếng ăn, đi lại… Nhưng con người cũng không thể ngồi im chờ chết. Để tồn tại, người ta buộc phải lén lút sinh nhai và mánh mung, lừa đảo…. Ai cũng trở thành tội phạm.

Nhân cách con người bị huỷ diệt.

Những đêm nằm ôm Mi, Thạch Xung có cảm giác như con thú hoang chạy trốn. Tình yêu bị nhuốm độc.

Giữa lúc cùng cực bế tắc ấy, Thạch Xung gặp một đàn em thân thiết cũ giờ làm tài xế xe tải đường dài. Bang dẫn Thạch Xung đi nhậu. Dưới một mái bạt lề đường, vài con khô và một thứ nước đùng đục lên men… dễ say và dễ chết.

Bang sảng khoái đề nghị, “Hãy đi theo em. Anh không chỉ tìm thấy tự do, mà sẽ còn tìm thấy hạnh phúc.”

Thạch Xung im lặng ngần ngại. Bang nói thêm, “Chẳng những không chết đói, mà anh còn có thể nuôi được chị đầy đủ.”

“Nhưng có nguy hiểm không?”

Đàn em cười lớn, “Anh yên tâm. Mình đâu có làm gì phạm pháp.”

“Vậy thì được.”

Thạch Xung về kể với Mi.

Nàng hỏi, “Anh muốn đi không?”

“Anh không muốn xa em.”

“Anh nói cứ như thể sẽ đi luôn không về vậy.”

Thạch Xung cười buồn, “Có lẽ anh sợ mất em.”

“Không phải là em sẽ mất anh sao?”

“Anh không thoát được cảm giác bị săn đuổi.”

“Nhưng đấy sẽ là tương lai của chúng ta. Vả lại, em cũng không muốn anh phải vất vả kiểu này.”

Quả thật, buôn bán chợ trời không phải là cách sống mà Thạch Xung muốn. Không lừa đảo nhưng bấp bênh thảm hại. Nó biểu trưng cho một xã hội tan rã. Con người hỗn loạn và mất giá.

Chàng buồn bã và xót xa thương nàng.

(còn nữa)

Nguyễn Viện


Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Leave a comment