Văn Học Ngoại Biên — Literature Beyond

[
[
[

]
]
]

A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

12. PEACE

In a fight there has to be in the end a loser, a winner. But when a war end it did not mean there was peace. Vengeance or favouritism was unavoidable. A temperament of a nation. The loser side was officially deleted not only as a regime, but also as a culture, an economy. Together with being dubbed as the Puppet army, Puppet government… a number of monastics like Trí Thiện was also forced into reeducation camps to never graduate. Như Tuyền Zen Centre became a requisition of the government. Hà Việt disappeared together with the million and millions of people climbing on top of each other tried to find a way flee beyond the border. Mimi Đen went home and simplified her name down to Mi, like everything else in a life of a Southerner in Vietnam.

In the camp, Trí Thiện went back to his old ways, a gangster. Not just any gangster, he was notorious with a long history. Never backing down, never once did he cowered as those who won humiliated him, even though his opponent didn't view him as one of the losers. Thạch Xung like so many people his birth was a mistake. Neither right nor wrong. Right because he kept his integrity, Thạch Xung was often left in solitary confinement, left to starve, forced to do hard labour... but he did not die. Most of Thạch Xung's teeth were either chipped or knocked out by all the physical harassment. All over his body the scars grew thicker. As his hate sharpened like forged steel.

Mi scrounged around the open-air markets saved what she could hitching back and forth tried to take care of Thạch Xung in the camp. One look at his emaciated form, Mi didn’t know what else to do but cry. Thạch Xung’s heart broke as he studied Mi, she had lost a lot of weight.

“Try and find a way to leave. Don’t worry about me.”

“No, I want to wait for you.”

It was a dark time, humiliating without an escape. Quietly they bear it.

Two years later, Thạch Xâm wore the lapel of a colonel turned up at the camp. The two brothers did not hug each other; there were no affection. They were cold.

Thạch Xung asked, “What do you want?”

“I’m here to take you home.” Thạch Xâm announced.

“Do you want me to confess and ask for mercy?”

“No, the paperwork has been sorted.”

“Why did it take you so long?”

“I’m sorry. Partly because I was busy, then again, I didn’t know what you were up to or where you were?” Thạch Xâm hesitated.

That same day, Thạch Xung left the camps with Thạch Xâm with nothing but the clothes on his back. He took nothing with him except for the sadness and love he had for those who were left behind.

12. HOÀ BÌNH

Chiến tranh cuối cùng cũng phải đến lúc có người thua, kẻ thắng. Nhưng chiến tranh kết thúc không đồng nghĩa với hoà bình. Trả thù hay phân biệt đối xử là không tránh khỏi. Một căn tính dân tộc. Bên thua cuộc bị xoá sổ không chỉ là một chính thể, mà còn là một nếp văn hoá, một nền kinh tế. Cùng với cái gọi là Nguỵ quân, Nguỵ quyền… một số kẻ tu hành như Trí Thiện cũng bị bắt đưa đi cải tạo vô thời hạn. Thiền am Như Tuyền bị nhà nước trưng dụng. Hà Việt biến mất cùng hàng triệu người nhốn nháo tìm đường vượt biên. Mimi Đen về nhà và tự giản lược mình thành Mi, như mọi thứ khác trong cuộc sống của người miền Nam.

Trong trại giam, Trí Thiện hoàn tục là một tên du đãng như xưa. Nhưng dẫu thế nào, Thạch Xung vẫn là một giang hồ hảo hớn. Anh dữ dằn, không hạ mình trước những sỉ nhục của kẻ thắng, mặc dù anh không phải là người thua theo cách của kẻ đối đầu. Thạch Xung như bao người khác chỉ là đầu thai nhầm chỗ. Không chính, không tà. Chính vì giữ tư cách, Thạch Xung nhiều lần bị biệt giam, bị bỏ đói, bị hành hạ vì những công việc nặng nhọc… nhưng anh không chết. Hai hàm răng Thạch Xung bị đánh gãy gần hết. Những vết sẹo dày thêm trên thân thể anh. Và sự thù hận càng trở nên sắt đá. 

Mi lam lũ chợ trời dành dụm đi thăm nuôi Thạch Xung. Nhìn anh tiều tuỵ, Mi chỉ biết khóc. Thạch Xung nhìn Mi xót xa, nàng cũng gầy đanh lại.

“Em cố gắng tìm cách đi đi. Đừng lo cho anh.”

“Không, em chờ anh.”

Cuộc sống tăm tối, tủi nhục và không lối thoát. Họ lầm lì chịu đựng.

Gần hai năm sau, Thạch Xâm đeo quân hàm đại tá tìm đến trại giam. Hai anh em không ôm nhau, không sướt mướt. Họ lạnh lùng.

Thạch Xung hỏi, “Em đến làm gì?”

“Bảo lãnh cho anh về.” Thạch Xâm bảo.

“Anh phải ký giấy nhận tội xin khoan hồng à?”

“Không, mọi thủ tục em lo xong rồi.”

“Sao bây giờ mới đến?”

“Em xin lỗi. Một phần cũng bận rộn quá, phần khác cũng đâu biết anh làm gì, ở đâu?” Thạch Xâm phân trần.

Ngay hôm đó, Thạch Xung tay không ra xe của Thạch Xâm rời trại giam. Anh không có gì mang theo ngoài nỗi xót thương ngậm ngùi với những người còn ở lại.

Thạch Xâm nói, “Lẽ ra, anh sẽ phải đi kinh tế mới. Nhưng nếu anh muốn, em có thể thu xếp một công việc cho anh ở thành phố.”

“Cám ơn em. Cho anh về chỗ bạn gái anh.”

“Sống được không?” Thạch Xâm hỏi.

“Người ta sống được, anh sống được.”

“Tuỳ anh. Nhưng về nhà em ở vài ngày đã.” Thạch Xâm nói.

Thạch Xung im lặng.

Suốt mấy ngày ở với nhau, hai anh em cố tránh nói chuyện thể chế, chính trị. Họ không muốn tiếp tục xung đột. Họ cũng không nói đến hiện tình khó khăn của đất nước và cuộc sống xã hội. Họ chỉ kể với nhau những vui buồn thuở trước.

Thạch Xung hỏi, “Mẹ thế nào?”

Trầm lắng.

“Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, mẹ chết mất xác trên đường di tản.”

Thêm chút ngậm ngùi, Thạch Xâm nói “Em cũng không hiểu sao đến lúc ấy mẹ lại bỏ chạy.”

“Có ai không muốn bỏ chạy. Còn cha thì sao?”

“Ông ấy đã chết trước trong mùa hè 72. Không có mộ.”

“Có ai quay trở lại Rume không?”

“Hình như không. Nhưng em đã xây một ngôi mộ gió chung cho cả cha mẹ trên đất nền nhà cũ.”

Sạch sẽ và tươm tất, Thạch Xung từ giã ông em, một mình đi tìm Mi.

Hẻm rộng. Những căn nhà cũ màu vàng úa càng cũ kỹ hơn như một hoài niệm. Như không thật, bước chân Thạch Xung lênh đênh. Nhịp điệu của đời sống mơ hồ chậm lại. Ngắc ngoải và lo âu. Một vài căn đã bị đập phá, mái và các cánh cửa bị gỡ. Cái cảm giác như đứt gẫy và mất mát này sẽ đeo đuổi con người tới chết.

Thạch Xung gõ cửa. Mi hiện ra như một vầng sáng đen, nghẹn ngào. Họ ôm lấy nhau. Tình yêu tha thứ mọi lỗi lầm. Tình yêu tái sinh cuộc sống.

“Chúng ta chưa chết.”

“Chúng ta vẫn còn nhau.” 

Và đó là tất cả.

Thật ra, họ đã chẳng nói gì. Chỉ có im lặng mới kể hết nỗi niềm của họ.

Căn phòng đã ấm cúng và có mùi người sau một cuộc làm tình cuồng nhiệt và say đắm.

Thạch Xung nằm vùi đầu vào trong gối.

“Anh đừng vội phải lo lắng. Em sẽ nuôi anh.”

“Mọi thứ bất ngờ quá. Anh cũng chưa kịp nghĩ phải làm gì.”

“Anh cứ nghỉ ngơi cho thật khoẻ đi. Mọi thứ tính sau.” Mi dịu dàng mà cương quyết.

Thật ra, Mi cũng đang rối bời không phải vì việc làm gì để nuôi nhau mà sẽ phải làm thế nào để Thạch Xung được cư trú hợp pháp ở nhà mình, điều mà tất cả những ai đã từng sống ở thành phố này trước đây không phải bận tâm, giờ đây đất nước hoà bình thống nhất, nó lại trở thành nỗi kinh hãi trong chế độ mới. Đi kinh tế mới như nhà nước hô hào và cưỡng bức là bước xuống địa ngục. Họ không thể đến đó để lưu đày và chết.

Trước khi trời tối, Mi cầm tờ giấy ra trại của Thạch Xung đến ông tổ trưởng dân phố trình báo xin cho người nhà được ngủ lại qua đêm. Vốn là chỗ hàng xóm, Mi dọ hỏi ông tổ trưởng cách để cho Thạch Xung được thường trú.

“Tôi không giúp được cô, nhưng tôi nghĩ cô có thể nhờ anh cảnh sát khu vực.”

Không có gì mỉa mai, tội nghiệp hơn khi những chiến sĩ của chủ nghĩa vô sản đối diện với tiền bạc. Nói cách khác, đứng trước tiền bạc – chủ nghĩa vô sản chỉ là một con cún hiền lành. Trong quán café vắng, Mi dúi vào tay anh cảnh sát khu vực một gói giấy nhỏ với hai chiếc nhẫn vàng.

Anh cảnh sát hỏi, “Cái gì đây?”

“Dạ, em gởi quà cho các cháu.” Mi cười cười cố ra vẻ duyên dáng.

“Tôi chưa có vợ.”

Mi vẫn cười, “Thì làm quà cưới cho chị tương lai của anh. Anh cứ cầm đi cho em an lòng.”

“Cô muốn an lòng chuyện gì?”

Mi đưa giấy ra trại của Thạch Xung cho anh, “Anh giúp để cho tụi em có thể sống bên nhau.”

“Tại nhà cô luôn à?”

“Dạ.”

Suy nghĩ một lúc, anh cảnh sát chậm rãi, “Vì hạnh phúc của hai người, tôi sẽ cố gắng.” 

Ban đầu là sổ tạm trú. Vì hạnh phúc của nhân dân, thêm ba chỉ vàng nữa, Thạch Xung đã được thường trú tại nhà Mi.

Hàng ngày, chàng theo nàng ra chợ trời đứng. Việc mua đi bán lại tuy cũng có thể đủ sống, nhưng Thạch Xung không vui. Chàng gặp lại một số bạn bè, đàn em cũ cũng ngang dọc chụp giựt ở đây. Họ như những đám bèo trôi dạt. Vô định và không phẩm giá. Thạch Xung lang thang đến các bến xe, nơi ký ức chàng còn lưu dấu những vết sẹo thuở mới bước chân vào thành phố, giờ cũng chỉ toàn dân cò cốt vé xe. Những người có thế giá một thời dần dần biến mất. Không phải họ bốc hơi, mà họ chạy trốn. Mặt đất chỉ còn dòi bọ và những kẻ hãnh tiến.

Những kẻ bất đắc dĩ ở lại tự co rút, ẩn náu. Sự săn đuổi bởi chế độ mới không chỉ là những luật lệ và công thức phản văn minh, phi văn hoá trên bình diện chung của xã hội, mà nó còn đe doạ, trấn áp những thói quen suy nghĩ độc lập và hành động tự chủ của từng cá nhân, gia đình.

Thạch Xung không muốn chạy trốn theo cách vượt biên, không phải vì anh không thể xoay xở được, mà anh muốn đối phó với nó. Không sợ hãi.

Một số người quen cũ mạnh mẽ hơn, họ muốn tìm lại phẩm giá. Và họ nói đại loại, chúng ta không thể sống như súc vật, như nô lệ… Sự cai trị ngu dốt huỷ diệt chúng ta… Vì thế, cần phải đứng lên, vùng dậy… Chúng ta không làm anh hùng, nhưng chúng ta cũng không thể sống như sâu bọ…

Và chàng cũng nghe rất nhiều những từ như “phục quốc”, “phục hưng dân tộc”, “nhân dân hành động”… 

Tìm lại một quốc gia, một chính thể đã mất… đối với Thạch Xung không chỉ là bất khả mà còn là thiển cận và hồ đồ không khác gì những kẻ đã chiến thắng họ. Tuy nhiên, cũng có những người tỉnh táo hơn, họ vẽ ra một tương lai khác vượt lên các ý thức hệ cũ, những tương tranh hơn thua cũ để kiến tạo một tổng lực hoà hợp có khả năng đáp ứng cho một thời đại mới của một đất nước thống nhất.

Một cuộc vận động âm thầm nhưng không ngừng nghỉ luồn lách trong cuộc sống để con người không tuyệt vọng. Cuộc vận động ấy bị chính quyền đương thời gọi là thế lực thù địch, phản động và bị trấn áp khốc liệt. Rất nhiều người bị bắt, bị kết án tử hình hoặc ngồi tù lâu dài. Nhưng con người vẫn nuôi niềm hy vọng, dòng chảy âm ỉ để hồi sinh phẩm giá và chất lượng cuộc sống vẫn cứ luân lưu qua từng thế hệ.

Thạch Xung chán chính trị, anh không tham gia bất cứ một tổ chức nào. Nhưng chính trị vẫn đè anh xuống. Cuộc sống càng lúc càng khó khăn. Mọi thứ bị cấm đoán kể cả những điều căn bản nhất của con người như kiếm miếng ăn, đi lại… Nhưng con người cũng không thể ngồi im chờ chết. Để tồn tại, người ta buộc phải lén lút sinh nhai và mánh mung, lừa đảo…. Ai cũng trở thành tội phạm.

Nhân cách con người bị huỷ diệt.

Những đêm nằm ôm Mi, Thạch Xung có cảm giác như con thú hoang chạy trốn. Tình yêu bị nhuốm độc.

Giữa lúc cùng cực bế tắc ấy, Thạch Xung gặp một đàn em thân thiết cũ giờ làm tài xế xe tải đường dài. Bang dẫn Thạch Xung đi nhậu. Dưới một mái bạt lề đường, vài con khô và một thứ nước đùng đục lên men… dễ say và dễ chết.

Bang sảng khoái đề nghị, “Hãy đi theo em. Anh không chỉ tìm thấy tự do, mà sẽ còn tìm thấy hạnh phúc.”

Thạch Xung im lặng ngần ngại. Bang nói thêm, “Chẳng những không chết đói, mà anh còn có thể nuôi được chị đầy đủ.”

“Nhưng có nguy hiểm không?”

Đàn em cười lớn, “Anh yên tâm. Mình đâu có làm gì phạm pháp.”

“Vậy thì được.”

Thạch Xung về kể với Mi.

Nàng hỏi, “Anh muốn đi không?”

“Anh không muốn xa em.”

“Anh nói cứ như thể sẽ đi luôn không về vậy.”

Thạch Xung cười buồn, “Có lẽ anh sợ mất em.”

“Không phải là em sẽ mất anh sao?”

“Anh không thoát được cảm giác bị săn đuổi.”

“Nhưng đấy sẽ là tương lai của chúng ta. Vả lại, em cũng không muốn anh phải vất vả kiểu này.”

Quả thật, buôn bán chợ trời không phải là cách sống mà Thạch Xung muốn. Không lừa đảo nhưng bấp bênh thảm hại. Nó biểu trưng cho một xã hội tan rã. Con người hỗn loạn và mất giá.

Chàng buồn bã và xót xa thương nàng.

(còn nữa)

Nguyễn Viện


Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Leave a comment