Wild stallion | Nguyễn Văn Thiện

Horses by Xu Beihong [Từ Bi Hồng]

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

I drew a stallion and set it free in the mountains. Before leaving, the stallion turned and reminded me one last time before it left: If you hear neighing from the West remember…! I whipped his butt, rearing back on its hind legs, it was off in a single gallop. On the mountain was a ladder, and on top of the ladder was the moon. The moon was like a mirror made from gold. Looking at the moon, I saw a reflection of the stallion, munching on grass, it was relaxed. The horse’s eyes were full of melancholy being all alone, without company. I’m sure of it. I wanted to draw a white mare to keep the stallion company but changed my mind: What if solitude is the ideal disposition for a stallion. With this thought, I slept peacefully through the winter. Upon my awake from the long sleep, the golden moon was still there on top of the silver ladder, but my friend the stallion was no longer there. In the mirror, remained were the reflections of a pair of sad eyes. Even now, every day, I would try to listen for the stallion’s long neigh.

When there is finally movement in the mead, a hint of spring in the air, our insides feel like it’s on fire. Completely lost of substance, I was an adamant red bouncy ball flying, I was set for the road, and I was ready to go and look for my friend. I shouted for the stallion amongst the endless tithonia and endless reeds: Mate, where are you!

In the middle of the afternoon one day, the silver-grey reeds held onto me asking: Who’s this friend of yours, what does he look like, do you want us to help you find him? I drew a sad pair of eyes inside the palm of my hand and said: My friend has been lost in the mead for a long time now. The reed laughed and released me so that I may be on my way. The streams sang a song filled with encouragement, the clouds rolled enthusiastically as they cheered me on, and I would then continue on my way.

The thousand years old ancient trees one night holding onto me asked: Who is your friend, would you like us to help you look? I drew a golden moon and the silver ladder inside the palm of my hand and said… The ancient trees laughed shaking their head, and let go of my arm so I may leave. Again I was on the road, the mead stretching out endlessly.

Until one day, I stopped by a stream. I can’t remember its name, but the water was clear with lots of bright white pebbles. I settled myself on a boulder and waited. The streamy was idyllic like a young woman running through a field of wildflowers. Joking, I asked: Has the lady seen the gentleman…? The lady shyly smiled. At that very same moment, I saw a lady’s hand, I mean no, my friend’s hand: The wild stallion. Those eyes, you couldn’t mistake it, were in a daze, staring at the mead, never once closing them. I opened my palm, and the eye on my palm was overjoyed, and greeted me. The two eyes moved towards each other, and my friend appeared rearing on his hind legs. The stream teasing, broke out in crisp laughter and bounced away, it was too suddenly lost in the middle of the endless mead.

I chased after them, losing my voice and shouting. My voice carried away by the wild wind, disappeared into the vast wilderness. I had found the other pair of eyes, they were so close, but just like that, they were gone! My heart felt as though it was in someone’s tight fist, with all my might collected what strength I could muster, I chased after them. My arms grew wings as my legs shrivelled up to nothing, I took to the sky flying. My pupils were shrinking, shiny like the eyes of an eagle, gliding across the sky, making one round circle of the area, I tried to search carefully for my friend. Exhausted trying to fight the maddening turbulence in the wind, I rested on the top rung of the silver ladder. The rain turned up without notice, erasing any remaining scents of where it might be. Cold and tired, I had no strength left to call out. An eagle on the ladder nodding off, I was sad and overwhelmed with dejection. Not sure from which village the sound of a gong resounding earnestly. When will I be able to find you, my friend?

Suddenly from within the mountainous wind and rain, I could hear the long neighing. The rain stopped, and the wind eased. The moon awkwardly appeared from behind the bumpy row of mountains, and from it poured brilliant cold rays of light. The mead was as clear as day—the childish river this morning, now an unhappy soulless thread of light. At the top rung of the ladder looking down, I could make out an uncountable number of eyes drifting. The eyes were like leaves, like stars, like wild drifting reeds, floating, comfortable in a river of light at my feet. Falling over, I chased after them salvaging an eye at a time. Where were the sad eyes of the stallion? Where were the heart-drenching eyes of the eagle? Where were the single-lid eyes of autumn I met once along the way searching for my friend? I skimmed the entire area as the light slowly picked up each pair of eyes then I would replace them with another, but couldn’t find my eyes, nor my friend’s eyes, hey wild stallion!

In the overwhelming hopelessness, I let myself fall into the river. The water cold like tiny daggers, like light, dragged us away with the current. Drifting, sometimes above sometimes below the current, passing not sure how many mountains and valleys, fields of wild grass. The eyes were sailing alongside me, in cut-off conversations without a beginning nor an end. There were verses of poetry crumbling on the lips of a reader, someone’s eyes mumbling. The trees looked rough but were full of fragrant perfumes, other eyes followed, and so on and so on. Another pair of eyes riddled with crow’s feet popped up to the water’s surface, in all seriousness: How many people were now lost, still unable to find their way back in time for spring! A crinkling pair of emerald eyes were laughing: In the end, we were all on the same path, in the same direction. Just like that, it went on and on, endlessly. Up high in the sky, the moon continued to shine, a kind of fuzzy blinding light. Kicking, I came to the surface. On both sides of the stream, there was the sound of human feet. They were also moving along, sometimes with deliberation, in a hurry, but sometimes slowly with caution. Now and then someone would stick their hand in the river to search for their eyes.

In the sizeable endless crowd, I saw a glimpse of myself, my friend, the wild stallion, and my family, no one with eyes on their head, always walking onward in a long line, towards the other side of the mountain. The pathway on both sides was overwhelmed with the scent of tithonia.

It was spring.

[October 2020]

Ngựa hoang 

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Tôi vẽ một con ngựa và thả cho nó lên núi chơi. Trước khi đi, ngựa quay lại dặn tôi: Khi nào nghe tiếng hí từ trên ngọn núi phía tây thì bạn…! Tôi quất roi vào mông, ngựa ta lồng lên, phi thẳng. Trên núi có một chiếc thang, trên chiếc thang có một vầng trăng. Vầng trăng như chiếc gương bằng vàng. Tôi nhìn vào gương, thấy bạn mình đang thong thả gặm cỏ. Mắt ngựa rất buồn vì trên ấy không có bạn. Chắc chắn thế rồi. Tôi muốn vẽ thêm một nàng ngựa trắng để cho nó lên núi chơi nhưng rồi lại nghĩ: Biết đâu, cô đơn lại là trạng thái tốt nhất đối với loài ngựa. Tôi bình thản ngủ một giấc thật dài cho đến cuối mùa đông. Thức giấc, tôi vẫn thấy vầng trăng bằng vàng trên chiếc thang bằng bạc, nhưng bạn tôi đã không còn trên ấy nữa. Trong chiếc gương, chỉ còn lại một con mắt buồn chưa khép lại. Bây giờ thì ngày nào tôi cũng lắng tai để nghe một tiếng hí dài, lắng tai nghe mãi.

Khi thảo nguyên trở mình cựa quậy, trời đất sắp sửa sang xuân, ruột gan như có ai đốt lửa. Hoàn toàn mất trọng lượng, tôi trở thành một quả bóng bay màu đỏ lặng lẽ lên đường đi tìm bạn. Tôi gọi giữa mênh mông dã quỳ, mênh mông lau lách: Bạn ơi, bạn đang ở đâu!

Có những buổi trưa lau lách bạc đầu níu tôi lại hỏi: Bạn của bạn là ai, hình dáng thế nào để chúng tôi tìm giúp? Tôi vẽ lên bàn tay một con mắt buồn không khép và nói: Bạn tôi lạc giữa thảo nguyên từ lâu lắm. Lau lách lắc đầu cười và buông tay để tôi đi tiếp. Suối hát một bài hát vui vẻ động viên, mây lượn một vũ điệu vui vẻ động viên, và tôi lại lên đường.

Có những đêm rừng cổ thụ ngàn năm níu tôi lại hỏi: Bạn của bạn là ai để chúng tôi tìm giúp? Tôi vẽ lên bàn tay một vầng trăng bằng vàng trên một chiếc thang bằng bạc và nói… Cổ thụ cười lắc đầu cười và buông tay để tôi đi tiếp. Tôi lại lên đường, thảo nguyên mênh mông.

Cho đến một hôm, tôi dừng chân bên suối. Dòng suối ấy tên gì không biết nhưng nước rất trong và rất nhiều đá cuội, trắng phau. Tôi ngồi bên một tảng đá và chờ đợi. Suối mơ màng như một thiếu nữ dạo chơi giữa bạt ngàn hoa dại. Tôi hỏi đùa: Thiếu nữ có thấy một chàng trai…? Thiếu nữ mỉm cười thẹn thùng. Đúng lúc đó, tôi thấy trong tay cô gái, à không, dưới lòng suối, trên lớp đá cuội trắng phau một con mắt còn lại của tôi, à không, của bạn tôi: Ngựa hoang. Đôi mắt ấy, không thể lẫn vào đâu được, đang mải mê nhìn thảo nguyên, chưa bao giờ khép lại. Tôi xòe bàn tay ra, con mắt giữa lòng bàn tay nhấp nháy vui mừng. Hai con mắt xích lại gần nhau, và bạn tôi hiện ra, tung vó. Suối cất lên một tràng cười lanh lảnh đầy giễu cợt và chảy đi xa hút giữa mênh mông.

Tôi đuổi theo, khản giọng gọi. Tiếng gọi bị gió thổi bạt đi, chìm giữa mông lung đại ngàn. Tôi đã tìm được con mắt còn lại, đã ở rất gần, thế mà! Tim như có ai bót chặt, tôi lồng lên, chạy đuổi theo. Tay tôi mọc cánh, chân co rút lại, tôi bay lên. Đồng tử thu nhỏ lại, long lanh như mắt chim ưng, tôi lượn vòng trên bầu trời hoang vu, tìm bạn. Mỏi mệt trong điên loạn gió ngàn, tôi hạ cánh nghỉ ngơi trên chiếc thang bằng bạc. Và cơn mưa đổ xuống rất nhanh, xóa hết mọi dấu vết. Lạnh, và mỏi mệt. Tôi không còn đủ sức cất tiếng gọi nữa. Con chim ưng đậu trên thang, đầu cúi xuống, buồn bã. Tiếng cồng chiêng không biết từ buôn làng xa xôi nào đã cất lên thao thiết. Biết đến bao giờ tìm được, bạn của tôi?

Đột nhiên, trong gió núi mưa ngàn, tôi nghe thấy một tiếng hí dài. Rồi mưa tạnh, gió ngừng. Vầng trăng từ từ nhô lên sau dãy núi lô xô, chiếu những luồng sáng sắc lạnh. Thảo nguyên trông rõ như ban ngày. Dòng suối ban sáng nhí nhảnh reo vui bây giờ lặng lẽ đi như một dòng ánh sáng vô hồn. Từ trên chiếc thang nhìn xuống, tôi nhận ra vô vàn con mắt đang trôi. Những chiếc mắt như lá, như sao, như cỏ dại bồng bềnh, lờ lững, thong thả đi trong dòng ánh sáng dưới chân. Tôi sấp ngửa chạy theo, thò hẳn bàn tay xuống vớt lên từng ánh mắt. Đâu là con mắt buồn không khép của ngựa hoang? Đâu là ánh nhìn chim ưng rút ruột rút gan của tôi? Đâu nữa chiếc mắt lá mùa thu một mí mà tôi từng gặp trên đường đi tìm bạn? Tôi chạy dọc dòng ánh sáng vớt lên rồi thả xuống rồi lại vớt, nhưng không hề nhận ra đâu là con mắt của mình, đâu là mắt của bạn, ngựa hoang ơi!

Thất vọng tràn trề, tôi buông mình xuống suối. Nước lạnh như dao, như ánh sáng cuốn tôi đi. Tôi vừa đi vừa trôi, lúc chìm lúc nổi, qua không biết bao nhiêu là núi non, bao nhiêu là cỏ dại. Những con mắt trôi bên cạnh tôi, chúng nói với nhau những câu chuyện không đầu không cuối. Có những câu thơ vỡ vụn trên môi người đọc, một chiếc mắt thì thầm. Những thân cây xù xì nhưng bên trong chứa trầm thơm ngát, mắt trôi bên cạnh tiếp lời. Một mắt khác nổi hẳn trên mặt nước, khóe rạn nếp chân chim, thâm trầm: Còn có bao nhiêu người đi lạc, chưa tìm thấy lối về trong dịp mùa xuân! Một mắt khác màu xanh ngọc bích nheo cười: Cuối cùng chúng ta cùng đi về một hướng… Cứ thế, câu chuyện nối tiếp nhau, bất tận. Trên trời cao, trăng vẫn sáng, thứ ánh sáng chói lóa, mù lòa. Tôi quẫy mạnh ngoi lên mặt nước. Dọc hai bên bờ suối, có tiếng bước chân người. Họ cũng đang đi, lúc khoan thai, khi vội vàng, khi dò dẫm. Thỉnh thoảng lại có người quờ tay xuống suối tìm đôi mắt của mình. 

Trong đoàn người vô tận ấy, tôi thoáng thấy tôi, và cả bạn tôi, ngựa hoang, và những người thân của tôi nữa, không có mắt trên trán, vẫn bước đi theo một hàng dài, đi về bên kia núi. Hai bên đường, dã quỳ tỏa hương ngan ngát.

Mùa xuân. 


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

HORSES, PEOPLE, WHITE CLOUDS | Nguyễn Văn Thiện

Horse frightened by lightning by Eugène Delacroix, 1825–29

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 

I fell asleep on the patio dreaming of people on white horses riding through the trees, atop the canopy. They hovered for a bit before they quietly left, the jittery horses stayed behind, cantering, and dug their hooves into the top of the trees. The horses also never wanted to stay for longer than a moment, since staying, meant they had to put up with the unbearable coolness of the spring breeze. In the morning their hoofprints would stay as fresh as those footprints left behind in the alleyway at the back of the house. But once the horses were gone, in the canopy, where the horses used to be was a grumpy gecko, mumbling, oh for heaven’s sake.

Begrudgingly I said: “Why didn’t you wake me? Which direction did the horses go?”. The gecko continued grumpily, mumbling, “It’s your fault for sleeping faced down!”. I wanted to throw a rock at it but I stopped myself. I slept with my face in the pillow; I was annoyed, but I must admit I can’t blame anyone else but myself!

I picked out seven seed-bearing fruits and conscientiously planted them in each human and hoof print, covering the holes with dirt and dust, then I waited.

I thought once the seedlings began to show, I would then go home. Those seven seeds, couldn’t all be duds, couldn’t possibly, my life, can’t be that unlucky! I chased the gecko away: “Go! I don’t want to listen to your pathetic whining”. Determined, I grabbed the tail of a silver cloud and begged: “Hey, please rain for me, right over here!”. The cloud left leaving behind its disdain. Recklessly, I took a hold of an amber ray of sunlight: “Hey, bless us with your light over here, please!”. The vain, lazy beam of light just shrugged itself from my grasp, got up, and left.

It didn’t stop me. Alone, I will make it rain, and alone I will make my light. My sweat will be the rain, my eyes the source of light, my breath the wind. The seedlings will germinate.

It felt as though the laden tiresome dreams came nearly every night, it would begin with the sound of footsteps and then the clatter of beating hoofs. And then unexpectedly, I can’t remember exactly when the green leaves broke through, they popped their heads through the earthy soil cap, and they were greener than hope. I fell back, right onto my backside, laughing out loud, I proceeded to sing a glorious melody of love.

But, the taller the tree grew, the more gangly it became, and towards the end, it was more like a bunch of knotted vines stretching for the sky.

I persisted. Even when the tree began to show no promise, alone I toiled to make it rain and light. When it comes to love and devotion I would wait another year, I could wait till next January!

The very first petals finally bloomed, they were white with hints of pink, and they were in the shape of a horse’s shoe, like the shape of perfumed lips, remnants of laughter.

I was wandering around the house, idled, dying for a drink, but I was too afraid to leave the house, I get to be a happy drunk but I might miss the people and their horses — the hoofs were like stilettos dancing on the tin roof.

Waking up day after day as though I was sleepwalking, I would automatically look for those hoofed petals. The flowers were always there, perched like they have just fallen from the sky, delicate new blooms full of anxiety.

As spring passed us by, the wind rolled across the meadow, chafing our lips. One morning after the Sun was finally awake, I stepped outside, as usual looking for my flowers, to find them gone. I suspect the wind had whisked them away like an accidental appropriation or collusion flipped over, deliberately abandoned me. 

It was evident! But there was nothing I could do, the flowers were gone. I was again left alone to make rain and light, but this time, I refused to stay and wait alone. This time I wanted another person to keep me company, another person to wait with me.

But there was no one, it made sense since I am a loner, I am unsociable! Solus, me, myself, and I was playing a dangerous game of hiding and seeking. Through the passing comments – I laughed, insults – I smiled, what kind of flower is a hoofed-shaped flower, you’re a fool – as though in a state of incapacitated childishness I laughed. I will never disclose my secrets to anyone. As the hoofprints and footprints of those visitors, they were still fresh, in my foggy web of memory.

In the middle of the night, night after night I found myself waiting for the neighing of those horses in the trees, I waited for some shadowy mirage to attend to my grave, buried dreams, anxiously I pondered if there was anyone out there like me? Carefully, I packed my bag and waited for spring, then I will head for the road, I will leave. The gecko was outside in the alley, as though he was waiting for me the whole time, its eyes followed my every step. I said, stop, stop with your cranky mumbling, especially in the middle of such lonely nights, it’s done, the horses are gone, and they will never come back. The gecko was motionless, but its eyes followed me as though it was trying to tell me something. Then there it was, the strangest thing, on the mouldy skin of the reptile, there were these white petals with hints of pink, they looked exactly like those hoofed flowers, evidence of some kind of celebration!

But what of it, the world is a big place, the sky is high, and the horizon is wide, so forget it I must, I must move on. There was something odd in the air, the wind was pungent with the scent of new grass. Hello, spring!

Ngựa, người, mây trắng

Chiều qua ngủ quên mơ thấy có người cưỡi ngựa trắng về đậu trên tán cây rộp rộp ngoài hiên rồi lại lặng lẽ đi. Người đi rồi, còn ngựa trắng thì ở lại bồn chồn gõ móng. Rồi ngựa cũng không chịu đợi lâu, vì đợi lâu, chắc là không chịu nổi gió xuân mơn mởn nên đã đủng đỉnh đi rồi. Sáng ra thấy vết chân còn mới như in ngoài ngõ. Trên vòm cây rộp rộp, chỗ đêm qua người ngựa đứng chờ, bây giờ đã có một con thằn lằn nằm im chép miệng, trời ơi…

Tôi đay nghiến: “Sao không đánh thức tao? Ngựa đi về phương nào?”. Thằn lằn chép chép chẹp chẹp mãi không thôi: “Ai bảo mày ngủ sấp!”. Tôi nhặt một hòn đá toan ném nhưng rồi lại thôi. Thì tại tôi ngủ úp mặt vào gối, đúng rồi, còn trách ai được nữa! Nhưng mà ấm ức, nhưng mà xót xa.

Tần ngần, tôi nhặt bảy hạt quả rộp rộp bỏ vào dấu chân người, dấu chân ngựa rồi lấy đất bụi lấp lại, ngồi chờ…

Tôi nghĩ, khi nào hạt nở xanh cây thì về. Những bảy hạt, không lẽ toàn là hạt lép, không lẽ, đời mình, chỉ toàn xui xẻo không thôi! Tôi đuổi thằn lằn: “Thôi mày đi chỗ khác dùm!”. Tại vì tôi không thích thở than ẽo uột. Tôi cả quyết quờ tay bắt một đám mây màu bạc: “Này, làm ơn mưa dùm vào chỗ này với!”. Đám mây khinh khỉnh bỏ đi. Tôi liều lĩnh quờ tay bắt một tia nắng mặt trời màu đỏ: “Này, làm ơn rọi dùm vào chỗ này với!”. Tia nắng kiêu kỳ lúng liếng bỏ đi…

Đã vậy, tôi cũng không cần. Tôi một mình làm mưa làm nắng, kệ tôi. Thì mồ hôi sẽ là mưa này, thì mắt nhìn sẽ là nắng này, thì hơi thở sẽ là gió này… Nào, hãy nảy mầm đi, đâm cành xanh lá đi…

Hình như đêm nào, trong những giấc mơ nặng nhọc, tôi cũng nghe thấy tiếng bước chân và tiếng gõ móng bồp bộp bên thềm. Sáng ra, thấy hạt đã nảy mầm, lòng hân hoan rạng rỡ. Rồi một ngày, không còn nhớ rõ ngày nào, những chiếc lá xanh đội đất nhú lên, xanh hơn cả niềm hi vọng. Tôi ngồi bệt xuống, vừa cười vừa hát, một bài hát yêu thương.

Nhưng không hiểu làm sao, cây càng lớn thì càng khẳng khiu, và cuối cùng thì hoá thành chùm dây leo rối rắm vươn thẳng lên trời…

Không dễ gì tôi bỏ cuộc đâu, tôi bướng lắm mà kiên trì lắm lắm. Nếu đã tin yêu rồi sẽ chờ cho đến ra giêng! Dù cây khẳng khiu, dù một mình phải làm mưa làm nắng.

Thế rồi những cánh hoa đầu tiên cũng nở, trắng phơn phớt hồng, nhưng hình móng ngựa, như hình môi thơm, như dấu vết của tiếng cười…

Những ngày qua, tôi thơ thẩn trước nhà, dù rất thèm rượu nhưng không dám đi, sợ khi mình say rồi thì người ngựa lại về đứng đợi bên hiên vắng. Đến cả trong mơ cũng còn nghe tiếng móng gõ như tiếng guốc khua giòn, náo động.

Mỗi lần tỉnh giấc, tôi lại một mình mở cửa ra nhìn những cánh hoa rộp rộp, như người mộng du. Hoa vẫn đó, như từ trời cao đậu xuống, mong manh như vừa mới lột, đầy lo âu…

Thế rồi sắp sửa sang xuân, gió cuộn mình lăn tròn qua trảng cỏ, rát mặt. Buổi sáng khi mặt trời thức giấc, tôi bước ra nhìn thì hoa không còn nữa. Tôi nghi, gió đã cuốn đi rồi, như một sự tình cờ chiếm đoạt hoặc thông đồng lật lọng bỏ tôi đi.

Dấu vết còn rành rành ra đấy! Mà thôi, dù sao cũng đã đi rồi. Giờ thì vẫn còn lại một tôi, tiếp tục làm mưa làm nắng, nhưng tôi sẽ không ngồi chờ nữa. Tôi sẽ kéo theo một ai đó, cùng chờ…

Nhưng không hề có ai cả, phải rồi, xưa nay tôi có chơi với ai đâu! Tôi một mình một cõi, tôi một mình với một trò chơi trốn tìm mạo hiểm. Ai đó đi qua, khen, tôi cười cười, ai đó đi qua, chê, tôi cũng chỉ cười, ai đó hét vào mặt, hoa rộp rộp là hoa gì, đồ ngớ ngẩn, tôi cũng chỉ biết cười, như bọn trẻ thiểu năng. Tôi không nói ra đâu, bí mật của đời tôi đó, dấu chân ngựa và người đến thăm tôi bữa nọ, vẫn còn mới nguyên trong kí ức mịt mùng…

Chỉ một tiếng ngựa hí trong đêm thôi mà chờ đợi, chỉ một bóng hình về thăm thẳm trong mơ thôi, mà nôn nao thương nhớ, có ai như mình không nhỉ? Chắc là không, vậy thì mình giống ai? Chắc chắn cũng không. Tôi xếp hành lí xong rồi, chỉ chờ gió xuân cất cánh, là đi. Vừa ra khỏi ngõ thì thấy thằn lằn nằm đợi, nhìn theo. Tôi nói, thôi, mày đừng chép miệng trong đêm vắng, dù sao thì ngựa cũng không về. Thằn lằn vẫn nhìn theo. Mà lạ chưa, trên da thịt mốc meo của loài bò sát, thấy còn in rõ ràng sắc trắng phơn phớt hồng của cánh hoa rộp rộp hôm nào, như dấu vết một cuộc giao hoan! Không lẽ là…?

Nhưng mà thôi, trời cao lồng lộng, mà thôi, gió lạ thơm mùi cỏ đã nôn nao. Chào nhé, mùa xuân!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Butterflies high in the mountain | Nguyễn Văn Thiện

2014 Spring in Seoul. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Published first on litviet.net

The highland is entering the season of rain, beginning the season of rain also means the beginning of the butterfly season. So many untold numbers of butterflies and I am incredibly free. In the morning with nothing to do, I go to watch the butterflies, in the afternoon with nothing to do, I chase after the butterflies, in the evening with nothing to… Life is just an epic journey in play. But I’m a coward, going up the mountain I can’t go alone, I ask my whole childhood and senior years to come along.

In me are three of us: I am now an adult, and I am as before a child, and I am as will be geriatric. The three of us play together amicably, protecting, like father and sons, like three brothers or grandpa and grandsons. The child exclaimed happily: Oh, it’s so beautiful, they have both yellow and white! The adult with a smirk on his face looking at pearly colour petals, while the old man is sombre, staring at something far in the distance on the top of the mountain. The child was skipping along and whistling, the adult strolls, as the old man bent over meandering his way. The three of us decided to climb Mount Chư Mang together.

Halfway up the incline, the geriatric stays back to rest, massaging his knees cursing under his laborious wheeze. The child side step happily skipped away into the distance. Left is the adult, calmly continuing his way forward. On Mount Chư Mang there’s a fresh spring that runs the four seasons continuously, continually bubbling. I lifted my nostrils inhaling etching the direction. There are so many butterflies up there—the lazy wings brilliant butterflies all day sipping water singing and dancing. Life is full of joy. My head was hurrying my footsteps—the higher up the climb, my skin, a layer of cool goosebumps. At the start, there were three of us, now, no way near, I’m alone. Lonely, I called out: Child, where have you disappeared! Old man, hurry up I’m waiting! Only the moaning of the mountain returns in reply. Then there was a sound echoing from the top, some inviting laughter or challenge.

Dusk, the light roast gold the extending limbs of blooming crepe myrtle. The child lifted his eyes. A lounge of mountain lizards moving from branch to branch. Each lizard jaw held onto the other tail in a long line. The child, animated by it, stopped to watch, distracted. He forgets the road ahead is still very long, the water spring is still way ahead at the top of the mountain, very far away! But butterflies, to a child, it’s just another game, at the moment he likes this game of biting the tail in front of the mountain lizards. The mountain lizards invited the child to join, he enthusiastically joined in. He bites the tail of the one in front, holds out his hand to hold onto the head of the one from behind, jumping from branch to branch. In the meantime, the geriatric is tired, meandering the path, nearly there, nearly there, he audibly pushed himself in every step.

I came upon the spring of cold water at dusk. In a little bit, the shadow of night falls. Squatting by a boulder, scooping up the water washed my face. No butterflies. Perhaps, after a long day of frolicking those pretty butterflies have returned to reside on the spines of leaves for the night. I fished out many wings from the water, brought it to my nose; a bewildering fragrant. The scent of trees and grass, water, or is it of the wind, of the earth, of Mount Chư Mang? I carefully layered each pair of wings on a boulder, to make a mat, a blanket, and fell asleep. Have you ever fallen asleep in such a way? It’s amazing. A peaceful sleep, dreamless, no nightmares, no grinding teeth, no snoring nor mumbling. And in the morning, when the sunlight is bright on my face, I step down from the boulder by the spring, my body completely light.

I’m only but a – third left!

No head, no chest, no stomach, just legs stuck onto the crease of my loins, like a body ravaged by a wild cat, half-swallowed, left behind the bottom part. I walked away as light as though I’m flying. And at that moment, the butterflies appear. We danced, and we sang. In the end, to live is to play, the butterflies whispered into my ears.

While I slept beneath the infinite wings, the old man crawled into a hollow of a tree. He’s all scrunched up waiting for nightfall. He couldn’t sleep, he complains as he tucked into a meal of fat gold ants to tame the hunger, like a Komodo dragon feasting on a mountain of termites. Those cheeky ants played death so they can slide smoothly into the stomach of the man, and build a nest. Then in a frenzy, the ants gnawed the geriatric from the inside out. By the morning, nothing was left of the old man’s body, but his hairy head.

The geriatric also only has a – third left!

The lounge of lizards played non-stop without ever a sign of tiring, moving from branch to branch all night, laughing all night. The child was never bored. He laid the length of the tree branch, the lizards crowding him, bit off his hands, his head, his butt and dragged it away, biting and laughing merrily. When morning came, the lizards left. The child’s head has been bitten off together with his legs.

The child, in the same scenario, now also has only a – third left!

At the top of the mountain, when it rains, it’s unbelievably cold — especially if you’re no longer whole, as the three of us. Hence, we looked for each other amidst the vast emptiness. Child, which direction are you lost? Hey adult, where are you having fun? Old man, hurry up I’m waiting? Our voices were echoing, like butterflies in song, like the weeping of a mountain. In the end, we found each other, out of breath, tattered, exhausted, unfished.

The old man whining censures:

“You guys, now I’m only this much left!”

The child all confused:

“They, they bit everything off, there’s only this much left!”

The adult conceptualise: 

“Heck what has happened to us, life is now only a third.”

Three times one part three shall become a whole, I decided. That’s it, and we decided to unite as one. The body of the child with the head of the geriatric and the pair of my present legs, buckling, distorted, hard to look at, but what could we do! As long as we’re whole, to continue on our way.

In the morning with nothing to do, I go to watch the butterflies, in the afternoon with nothing to do, I chase after the butterflies, in the evening with nothing to…

It’s a mere epic search for play./

[May 2019]

Bướm trên núi cao

Tây nguyên chớm vào mùa mưa, chớm mùa mưa cũng là bắt đầu mùa bướm. Bướm nhiều vô kể, mà tôi thì rảnh vô cùng. Buổi sáng, không biết làm gì, tôi đi xem bướm, buổi chiều, không biết làm gì, tôi đuổi theo bướm, buổi tối cũng không biết làm gì… Đời chỉ là một cuộc rong chơi. Nhưng tôi vốn nhát, khi lên núi không dám đi một mình, tôi rủ cả tuổi thơ và tuổi già của tôi cùng đi luôn thể.

Trong tôi có ba đứa: Tôi hiện tại tráng niên và tôi ngày xưa tuổi nhỏ và tôi ngày sau tuổi già. Ba đứa chơi với nhau hòa thuận, đùm bọc, yêu thương như ba cha con, ba anh em hoặc ba ông cháu. Tôi tuổi thơ reo vui: Ồ, đẹp quá đi, lũ chúng nó đều có màu vàng và màu trắng! Tôi tráng niên nhếch mép nhìn theo những cánh hoa màu ngọc, trong khi tuổi già trầm ngâm nhìn cái gì xa xôi trên đỉnh núi. Tuổi thơ vừa đi vừa nhảy vừa huýt sáo, tráng niên bước chậm rãi, tuổi già lọ mọ dò đường. Ba đứa chúng tôi rủ nhau lên núi Chư Mang…

Lên đến nửa dốc, tuổi già ngồi nghỉ lại, vừa đấm vào gối vừa lầm bầm than thở hoặc chửi rủa. Tuổi thơ tung tăng rẽ dọc rẽ ngang rồi mất hút. Chỉ còn lại tráng niên điềm tĩnh bước. Trên núi Chư Mang có một khe nước mát lạnh, nước chảy bốn mùa, dầm dề phồn thực. Tôi ngửa mũi khịt khịt đánh hơi tìm hướng để đi. Trên ấy tha hồ bướm. Những cánh bướm sặc sỡ lười biếng suốt ngày uống nước và múa hát. Đời vui biết mấy. Đầu giục chân bước nhanh. Càng lên cao càng lạnh đến sởn da gà. Khi đi có ba người, bây giờ, nơi lưng chừng dốc, chỉ còn lại một tôi. Cô đơn quá, tôi gọi: Tuổi thơ ơi, mày lạc đâu rồi! Tuổi già ơi, nhanh lên tôi đợi! Chỉ có tiếng núi hú hét đáp trả, chỉ có tiếng lá rì rào đáp trả. Có tiếng gì từ trên đỉnh cao xanh vọng xuống, như một tiếng cười mời mọc hoặc thách đố.

Xế chiều, nắng vàng rộm trên vạt bằng lăng trổ bông. Tuổi thơ ngước mắt lên nhìn. Nó thấy một bầy thằn lằn núi đang chuyền cành. Con nọ cắn vào đuôi con kia thành một hàng dài. Tuổi thơ thích quá đứng hẳn lại xem và cổ vũ. Nó quên rằng, đoạn đường phía trước còn rất dài, khe nước ở tít mãi trên đỉnh núi cơ, xa lắm! Với lại, bướm, đối với tuổi thơ, chỉ là một trò chơi xa lạ, nó thích trò cắn đuôi của bọn thằn lằn núi. Bọn thằn lằn mời tuổi thơ chơi, nó nhiệt tình tham gia ngay. Nó cắn miệng vào đuôi một con phía trước, tay đưa ra sau nắm đầu một con khác, rồi chuyền cành. Trong khi đó, tuổi già mỏi mệt dò đường, sắp đến rồi, sắp đến rồi, ông ta vừa bước vừa tự động viên…

Tôi bước đến gần khe nước lạnh vào cuối chiều. Chỉ một chút nữa thôi là bóng đêm sẽ đổ xuống. Ngồi bên tảng đá, vục nước rửa mặt. Không có bướm. Có lẽ, những bạn bướm xinh đẹp sau một ngày múa hát mệt mỏi đã tìm về ngủ sau vòm lá. Tôi vớt được từ dưới suối rất nhiều đôi cánh, đưa lên mũi ngửi, rất thơm. Hương thơm của cỏ cây, của nước, hay của gió, của đất trời, của núi Chư Mang? Tôi tỉ mẩn xếp những đôi cánh lại trên tảng đá, làm chiếu, làm chăn, và ngả lưng nằm ngủ. Bạn đã bao giờ ngủ như thế này chưa? Tuyệt lắm. Giấc ngủ bình yên, không hề chiêm bao, không hề mộng mị, không nghiến răng, kéo gỗ hay chép miệng. Và sáng ra, trở dậy khi nắng bừng trước mặt, tôi bước xuống khỏi tảng đá bên suối, thấy mình nhẹ bẫng.

Tôi chỉ còn lại một – phần – ba!

Không còn đầu, không còn ngực, không còn bụng, chỉ còn đôi chân dính vào khớp háng, như một xác người bị hổ vồ, nuốt dở, còn sót lại phần dưới. Tôi bước đi nhẹ bẫng như bay. Và khi đó, các bạn bướm bắt đầu xuất hiện. Chúng tôi nhảy múa và hát tưng bừng. Cuối cùng, sống cũng chỉ để chơi thôi, các bạn bướm thơm lừng ghé vào tôi nói nhỏ.

Khi tôi ngủ trong vô vàn cánh bướm thì tuổi già chui vào một hốc cây. Ông ta ngồi thu lu trong đó đợi đêm tàn. Tuổi già thật khó ngủ, ông ta than thở như vậy và thò tay nhặt những con kiến vàng béo ngậy bỏ vào miệng cho đỡ đói. Ông nguyền rủa đứa nào rủ rê ông đi chơi xa rồi bỏ ông lại một mình. Suốt đêm như thế, tuổi già ăn hết nguyên một tổ kiến vàng, như một con kỳ đà ăn tổ mối… Những chú kiến vàng láu lỉnh không kém, chúng giả vờ chết để trôi tuột vào miệng tuổi già, rồi làm tổ trong đó. Rồi chúng hè nhau gặm ngược trở ra. Cho đến sáng, tuổi già đã bị kiến gặm gần hết, chỉ còn lại cái đầu hoa râm.

Tuổi già cũng chỉ còn lại một – phần – ba!

Lũ thằn lằn núi chơi không biết mệt, chúng chuyền cành trong đêm khuya, cười đùa trong đêm khuya. Tuổi trẻ chơi không biết chán. Nó nằm dài trên cành cây, bọn thằn lằn bu quanh, cắn tay cắn chân cắn đầu cắn đít nó lôi đi, vừa cắn vừa cười nắc nẻ. Đến khi trời sáng rõ, lũ thằn lằn núi bỏ đi. Tuổi trẻ đã bị cắn đứt đầu và đứt hai chân.

Tuổi trẻ, thật trùng hợp, bây giờ cũng chỉ còn lại một – phần – ba!

Trên đỉnh núi cao, khi trời đổ mưa, lạnh không kể xiết. Nhất là khi chúng tôi không còn nguyên vẹn nữa. Vì vậy, chúng tôi gọi tìm nhau giữa muôn trùng hoang vắng. Tuổi trẻ ơi, mày đi lạc phương nào? Tráng niên ơi, mày chơi ở đâu? Tuổi già ơi, nhanh lên tôi đợi? Tiếng chúng tôi vang vọng, như tiếng bướm hát ca, như tiếng núi khóc than. Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm thấy nhau, phờ phạc, rách nát, mệt nhoài, dang dở.

Tuổi già lên tiếng trách móc:

“Mả mẹ mày, giờ tao chỉ còn lại chừng này!”

Tuổi trẻ hoang mang:

“Mả mẹ nó, chúng cắn đứt hết, chỉ còn lại chừng này!”

Tuổi tráng niên bâng khuâng:

“Mả mẹ chúng mình, đời còn lại một phần ba”

Ba lần một phần ba sẽ là một nguyên, tôi khẳng định. Thế rồi, chúng tôi thống nhất ráp lại với nhau. Phần thân mình tuổi trẻ gắn với cái đầu tuổi già và đôi chân tôi hiện tại, cọc cạch lắm, vênh lắm, kệch cỡm lắm, khó coi lắm, nhưng biết làm sao được! Miễn là, tôi vẫn vẹn nguyên, tiếp tục lên đường.

Buổi sáng, không biết làm gì, tôi đi xem bướm, buổi chiều, không biết làm gì, tôi đuổi theo bướm, buổi tối cũng không biết làm gì…

Chẳng qua là một cuộc rong chơi./

Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

sips of blood | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

There was no story left to tell. A few days ago, a thief from my place stole all my stories; I lost sleep and I was exhausted. Without the stories, I was a person without a soul. You wouldn’t understand, it’s a long story about the mead, about a familiar mountain and river. The thieves dared took from me these stories. I don’t have a gun, a knife, or any bamboo spear. I was weak; I sat like a little girl wide-eyed as the bullies took her favourite doll. I sat there crying alone!

I resented them, swearing but not too loudly, mumbling quietly, and demolished. Truthfully, the thieves couldn’t care less about my stories,  but amongst the street rats, one of them turned around and challenged me: “What did you just say?”. Mustering up a bit of courage, I raised my voice: “Return my stories to me!”. He drew closer: “What stories? You want to tell us a story?”. Wiping off the tears, I nodded. And the entire gang stopped. Their leader threatened: “you have to tell me a story, a story completely different from the ones I stole from you!”.

Surrounded by knives, and swords, I thought, today was the day I die! Collecting all the courage I possessed, I began: “My nation is the shape of a turtle’s claw, curved and very sharp!”. The general threw his head back in a fit of laughter: ”Oh, that smooth claw, I bought that thing a long time ago!”.

One of the gang members muttered something into their leader’s ear, and they sneered.

“Are you trying to scare us with that tale, know this, even the golden turtle had a price, let alone that smooth claw of yours! Tell me something I don’t know!”. As he spoke, the leader un-scabbard his sword. My feet froze. I said:” When I was little, I grew up by a river full of buried sharp wooden spikes! The enemy ships were destroyed as they entered, for miles and miles the river was bright red with the spilt blood, and the stench pervaded for a thousand autumns…”.

The thieves began to lose their patience, some eyes rolled back as though they were having a seizure. One of them said: “Tell us a different story, that shit, let me tell you, we already own!”.

Up to this point, I was truly baffled, they seemed to know everything, there was nothing they had not bought or were they lying to scare me? They spoke amongst themselves before they all sat down in a circle. A thief with a baby face pulled out a flask of wine from his pocket, poured me a cup, and said: “Our leader thinks you’re the dumbest storyteller he’s ever met, he’s going to give you a flask of this precious wine, finish drinking it then you may continue to serve him with your stories!”

It was definitely poison I thought, and perhaps this was how I’m going to die! I lifted the cup to my lips, the liquid was red and sticky, metallic, horrid, and sickly sweet. Blood! They consume blood! Blood from where? 

One of them pinned me to the ground and forced it down my throat. I heard the blood gurgling from my lips down into my stomach, invading the six principal organs. Is it the blood from the tale of the homeland I just mentioned?

After I had finished drinking the blood, I was tipsy, light-headed, and drunk. When drunk, people forget their fear. I said, “Our blood is the blood of heroes, nurtured and cared for thousands of years, fragrant like the essence from the herbs on Mount Chư Mang! There were those ill-famed thieves who had fought for a taste of it and died with eyes wide open. The traitors denied burial; their bodies festered, rotted ripped apart by vultures”.

A thief laughed with his mouth, half-open, “ Your blood, I’ve also gone and bought!”. He opened his pocket as he spoke, “A pocket full of money!” The gangster said, “This idiot, must be the most stupid storyteller we’ve ever met!”. After he spoke, he stood up, and lit a fire. Mount Chư Mang was in flames; Kroa streams burned, the mead was on fire, the fire spread wildly, gained violent momentum. Then one after the other they left, passing around the flask of blood as they walked away, laughing. Besides the leader and his gang, there were very familiar faces; I’d met time and again. They, with zero remorse, followed the thieves, palms open begging for their sip of blood, as they drank, they laughed, and sang. I screamed amidst the flames: Why did you sell the claw of the golden turtle?”. They did not answer. I continued to shout: “Why did you sell the sharp spikes, our last point of defense in the river from the enemy?” Not a word from them. I screamed again, “Who gave you permission to sell the blood of our heroes?”. They laughed even louder and left, they walked away, guzzling the blood. 

One after the other, they followed each other, no longer bothered with me. I sat amongst burning flames, listening to the numbing blaring thunder coursing through my veins. Everything will turn to dust, including the stories I told. Including mount Chư Mang, including where I’m sitting, including all the thieves that had just left, all shall be ashes. Gone forever were the stories told, the same notes, nothing shall be left for the children of tomorrow.

—–

June 2018

Những ly rượu máu

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

       Không có chuyện gì để kể nữa rồi. Có một gã trộm cướp đã lẻn vào nhà và ngang nhiên thò tay nẫng mất câu chuyện của tôi. Mấy ngày rồi, tôi buồn ủ rũ. Không còn chuyện gì để kể, tôi như người mất hồn. Bạn không biết đâu, đó là một câu chuyện dài về thảo nguyên, về ngọn núi dòng sông thân thuộc. Thế mà tên tướng cướp kia, lại dám cướp ngang. Tôi không có súng để bắn, không có dao để đâm, cũng không có chông tre lưỡi lê lưỡi mác. Tôi mềm yếu, đành như cô bé ngồi nhìn con búp bê thương yêu của mình bị kẻ mạnh hơn cướp mất. Rồi ngồi khóc một mình!

       Tôi căm hận, nguyền rủa, nhưng không dám nói to, chỉ lẩm bẩm một mình, đả đảo… Thực tình, tên tướng cướp không thèm để ý lời tôi, nhưng trong bọn lâu la đi theo, có một đứa nghe, bèn quay lại hỏi: “Mày vừa nói gì?”. Tôi làm liều hét lớn: ” Trả câu chuyện lại cho tao?”. Hắn nhe nanh: “Câu chuyện hả? Mày thích kể chuyện đúng không?”. Tôi chùi nước mắt, gật đầu. Thế là cả nhóm đứng lại. Tướng cướp nói: “Mày phải kể cho tao nghe một câu chuyện, một câu chuyện hoàn toàn khác với câu chuyện mà tao vừa lấy, hiểu chưa, hoàn toàn khác!”.

       Xung quanh tôi là những gương mặt ác ôn với dao kiếm tua tủa. Tôi nghĩ, cuối cùng, hóa ra là mình chết theo kịch bản này! Lấy hết can đảm, tôi kể: “Quê hương tôi hình một chiếc móng rùa, cong cong nhưng rất sắc!…”. Tên tướng giặc ngửa cổ cười sằng sặc: “Tưởng gì, cái móng vuốt đó, tao mua lâu rồi!”.

       Một tên lâu la ghé tai nói nhỏ với gã tướng cướp, rồi cả hai đứa gật đầu cười với nhau.

       “Tao biết mày kể chuyện đó để hăm dọa tụi tao, nhưng nói cho mày biết, cả con rùa vàng tụi tao còn mua được, huống chi cái móng vuốt của mày! Thôi, mày kể chuyện khác!”. Vừa nói, gã tướng cướp vừa rút gươm ra. Tôi thấy hai bàn chân lạnh toát. Tôi kể: “Tuổi thơ tôi, sinh ra và lớn lên trên những dòng sông chôn đầy cọc nhọn! Thuyền quân cướp đi vào tan xác, máu đỏ vạn dặm, tanh để nghìn thu…”.

       Bọn cướp, lúc này có vẻ không còn kiên nhẫn được, có đứa mắt vằn lên như say rượu. Một đứa nói: “Mày kể chuyện khác đi, bãi cọc đó, nói cho mày biết, tụi tao cũng mua luôn rồi!”.

       Đến đây thì tôi thực sự hoang mang, sao cái quái quỷ gì chúng nó cũng biết, cũng mua được hết, hay chúng xạo để dọa tôi? Bọn chúng nói gì đó với nhau rồi lần lượt ngồi lại, vòng tròn. Một tên cướp mặt non choẹt rút trong túi áo ra một chai rượu, rót cho tôi một ly, nói, thủ lĩnh thấy mày là đứa kể chuyện đần độn nhất mà ngài từng gặp, ngài ban cho mày một ly rượu quý, uống xong để kể tiếp hầu chuyện ngài!

       Tôi nghĩ, rượu độc đây mà, có lẽ chúng sẽ giết tôi bằng cách này! Tôi đưa ly rượu lên miệng, đỏ lòm, tanh lợm. Máu! Chúng uống máu! Máu ở đâu ra?

Một gã đè tôi ra đổ ly rượu vào miệng tôi. Tôi nghe máu chạy rần rật từ miệng xuống dạ dày, lan sang lục phủ ngũ tạng. Hay là máu trong câu chuyện về quê hương mà tôi đang kể?

       Sau khi uống cạn ly máu, tôi say, chếnh choáng như say rượu. Khi say, người ta quên sợ. Tôi kể: “Máu của chúng tôi là dòng máu anh hùng, được chưng cất từ hàng ngàn năm, thơm như dầu thảo mộc trên núi Chư Mang! Có những tên cướp khét tiếng hung hãn sau khi uống máu vào thi say và chết trợn mắt. Còn những kẻ phản bội thì sau khi chết không được chôn, xác thối rữa làm mồi cho diều quạ”.

       Tên tướng cướp cười nửa miệng: “Máu của tụi mày, tao cũng mua nốt!”. Nói rồi hắn mở túi ra: Nguyên một túi tiền đầy ắp! Mấy tên lâu la nói: “Thằng này, đúng là đứa kể chuyện đần độn nhất mà chúng ta từng gặp!”. Nói rồi, chúng nó đứng dậy, thản nhiên châm lửa đốt. Núi Chư Mang cháy phừng phừng, suối Kroa cháy, thảo nguyên cháy, lửa lan mỗi lúc mỗi nhanh, dữ dội, cuồng loạn. Rồi chúng nó kéo nhau đi, vừa đi vừa chia nhau bầu máu, vừa uống vừa cười hả hê. Ngoài tên thủ lĩnh và bọn lâu la, có cả những gương mặt rất quen, tôi đã từng gặp nhiều lần. Chúng cam tâm đi theo lũ cướp, ngửa tay xin từng ly máu đỏ bầm, uống, và cười, và hát. Tôi hét trong lửa cháy: “Tại sao chúng mày bán móng vuốt rùa vàng?”. Chúng nó không trả lời. Tôi hét tiếp: “Tại sao chúng mày bán cọc nhọn trừ giặc ở trên sông?”. Chúng nó vẫn không hé răng. Tôi hét nữa: “Ai cho tụi mày bán dòng màu anh hùng cho giặc cướp?”. Chúng nó cười sằng sặc và bỏ đi, vừa đi vừa chia nhau uống máu.

       Chúng kéo nhau đi rồi, không thèm để ý đến tôi nữa. Tôi ngồi giữa mênh mông lửa cháy, nghe gió gầm bão giật tái tê trong huyết quản của mình. Tất cả rồi sẽ thành tro bụi, cả câu chuyện đau thương mà tôi vừa kể. cả núi Chư Mang, cả chỗ tôi đang ngồi, cả chỗ bọn cướp mới đi qua, rồi tro bụi hết. Chỉ còn lại muôn đời những câu chuyện kể, trùng trùng, điệp điệp, để lại cho con cháu mai sau.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Faces of familiar spirits | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh
Published first on litviet.net

People tell me: “Why don’t you write something more pleasant!”.

Writing a pleasant story is not difficult, but the story about Mount Chư Mang continues to haunt me. Fervently, I went searching for an adventure much like the sad tale of Don Quixote in the autumn of his life, in search of a knight’s honour armed with a blunt sword and rusted armour. But the rivers are long and the mountains vast. The joy of chasing pretty familiar spirits left me drunk and  afflicted with contradiction.

Sweet is the meaningless reality in dreams; the ability to love an ethereal angelic face tainted with evil.

Each night, the darkness fell like a waterfall. These beautiful familiar faces appeared on the window sill: “Come to the mountains”, “What are you afraid of, coward…” There, they’ve returned, the familiar spirits. They asked me to follow them to the mountains if I do not, they implore, they beg, and I would as always give in and follow them, to continue the same dream.

I went searching for the green eyes, and ruby lips amongst the towering old trees — a sad lumbering knight in search of “the” dream at the end of his life. Yes, sometimes there was a glimpse of bright dark eyes, yes, sometimes the heat of those red lips. But, like anything determined by fate, it’s a fleeting moment before those eyes’ lips flit away, and disappear into the dark black starry night.

When the moon and stars were spent, on blades of grass past the be-witching hour the spirits dissolve, they were lulled to sleep between the rocks. I would cry: “Stay play, keep playing, morning is not yet near!”. In a state of half-wakefulness and sleep, their laughter fell free from the higher branches, breaking into a swarm of autumn fireflies. I would hug the fresh silk sheath abandoned in my arms, and inhale the lingering addictive intense scent, like remnants of precious fossils from a million years ago.

You asked: “Where do those familiar spirits come from?”. I’ve no idea; I first met them the day I set foot on Mount Chư Mang. Amusing himself with a game of hiding and seeking fate, looking for happiness. A knight discarded by society.

Bright nights wandering in the mead, one hand with a fist full of clad silk, one hand cupping the smile of a pretty demon. Me in shredded ill-fitting clothes from top to toe, decrepit, like a scarecrow at the end of a season. At sunrise, the soulful smiles would grow delicate wings before they would fly away, those fragrant robes also flew, leaving behind a man with ludicrous laughter steeped in the evening dew, like some guy stomping on a lifeless creel all day all night.

I consoled myself, fine, starting tomorrow I won’t go there, starting tomorrow. But by sunset, falls are always the thrilling sweet sound of a far-off dream!

You say it’s a time of diminished dharma, ghouls and demons were everywhere, sightings atop mountains, valleys, be careful! I, for long, have forsaken my virtue. In tattered armour, I carried a broken sword in search of adventures, I carried with me the jeering laughter of a fool, even in the most despairing defeat. Though in all those endless dreams, this village knight had never once fulfilled his desire. The more he chased, the more those beautiful demonic faces and their stirring laughter flew further away.

Now there isn’t a place on Mount Chư Mang I’ve not walked. I traveled the nights basking in moonlight wrapped in stars, nights battered by rain-soaked hail and mist. All those beloved familiar faces were flickering far far away, sometimes this side of the mountain, sometimes way there in the mead. Sometimes I am so tired, that I would fall asleep in their soft embrace and tender caress, dreaming those dreams, I’m soaring in the sky, heading for the heavenly blue clouds. Sometimes I’m so tired, that I would find myself sitting on the ground hugging my knees, always with me was the blunt broken sword, and a smile drenched in blood basking in the moonlight.

I’m okay, don’t worry. So many years of my youth were spent nurturing delusions, to bury them now, here. By nightfall, I would again sing the songs of tall mountains and deep valleys. So long as I’m entertained, so long as all those beautiful familiar faces of angels never leave this mountain. I will continue to hunt, and embrace tightly the big dreams of my youth, aren’t we all the same! Till we no longer have our youth, till mouldered is our armour, till the eyes are blurry and our feet slower, as the sound of those inviting laughter rises I will take to the road.

“To the mountains, I go…”.

There, can you hear it? Outside, like the call of a trumpet of a funeral march, the golden shadow of humanity falls in sorrow. I have to go; I must prepare for the continuance of my dream, the same continual dream, of life crashing like ocean tides, rhythmic for a hundred years, for a lifetime.

Again I must go!

Những gương mặt linh miêu

Bạn nói: “Hãy viết một câu chuyện ngọt ngào đi?”.

Bịa ra một câu chuyện ngọt ngào thì có gì là khó? Vấn đề là câu chuyện về núi Chư Mang vẫn chưa khi nào thôi ám ảnh. Tôi mải mê đi tìm một ảo ảnh về tình yêu, như chàng hiệp sĩ cuối mùa tội nghiệp Don Quixote, tìm cách chinh phục thế giới bằng một lưỡi gươm cùn và bộ giáp trụ rách nát. Mà núi thì quá cao xanh, mà sông thì quá rộng dài. Trò chơi trốn tìm với những nàng linh miêu xinh đẹp thì đầy cám dỗ nhưng cũng đầy trắc trở.

Có gì là ngọt ngào không khi bạn yêu một gương mặt đẹp tựa thánh thần lẫn ác quỷ, mà chỉ xuất hiện trong mơ thôi chứ chưa gặp mặt bao giờ?

Mỗi đêm về, bóng tối tràn qua như thác đổ, những gương mặt đẹp ma mị lại xuất hiện bên cửa sổ: “Lên núi chơi thôi”, “Sợ gì chứ, đồ nhát gan”… Đó, linh miêu lại về đó. Họ rủ tôi lên núi chơi, nếu không đi, họ năn nỉ, họ khiêu khích, thế là tôi lại ra khỏi nhà, tham dự vào trò mộng du miên viễn.

Tôi đi tìm những mắt xanh môi thắm giữa bạt ngàn cổ thụ. Chàng hiệp sĩ cuối mùa xộc xệch thảm hại đuổi theo giấc mơ vĩ đại của đời mình. Ờ, cũng có khi bắt được một ánh mắt long lanh, ờ, cũng có khi bắt được một bờ môi ấm nóng. Nhưng, như một trò đùa được số phận mặc định, chỉ sơ sẩy thoáng chút thôi là mắt là môi lại vụt bay, mất hút giữa vực thẳm sao trời lãng đãng…

Khi trăng sao đã mệt nhoài, những vệt lân tinh thôi không còn thắp sáng đầu ngọn cỏ, thì bầy linh miêu rủ nhau đậu lên vách đá và thiu thiu ngủ. Tôi hét lớn: “Chơi nữa đi, chơi tiếp đi, trời đã sáng đâu!”. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, tiếng cười của họ rơi tự do từ trên cành cao xuống đất, vỡ vụn ra như bầy đom đóm mùa thu. Tôi ôm mảnh xiêm y màu xanh còn lại trong tay, hít lấy hít để hương thơm ma mị cõi bồng lai còn phảng phất, tưởng như tinh túy sơn khê triệu năm còn lưu dấu trên tay. 

Bạn hỏi: “Bầy linh miêu ấy từ đâu đến?”. Tôi có biết đâu, từ khi tôi bước chân lên đỉnh Chư Mang thì đã gặp họ rồi. Gã hiệp sĩ bị thế gian chối bỏ mải miết tìm vui trong trò chơi trốn tìm định mệnh, để tìm vui…

Có những đêm, khi trời sáng bạch, tôi vẫn còn loay hoay trên núi, tay níu áo xiêm, tay còn lại thì cầm một nụ cười của linh miêu xinh đẹp. Nhìn lại mình thì áo quần xộc xệch, rách từ dưới rách lên, nhếch nhác lôi thôi, như một hình nộm cuối mùa ngơ ngác. Mặt trời lên, nụ cười của linh miêu mọc thêm đôi cánh mỏng và bay đi mất, xiêm áo thơm lừng cũng vỗ cánh bay đi, để lại mình tôi tẽn tò với tiếng cười ướt đẫm sương đêm, như một gã đánh dậm ướt ròng thâu đêm suốt sáng với chiếc giỏ không lăn lóc dưới chân!

Tôi tự nhủ, thôi, từ ngày mai không thèm lên chơi nữa, thôi kể từ ngày mai…

Nhưng rồi, khi mặt trời lặn, tiếng nhặt tiếng khoan ngọt như một giấc mộng xa xăm lại mời gọi lên đường!

Bạn nói, thời mạt pháp, ma quỷ đầy đường, hiện hình ngay cả trên núi cao rừng thẳm, bảo trọng nhé! Tôi thì từ lâu đã không còn quan tâm đến an nguy cho bộ trang phục ngoan ngoãn của mình. Tôi mang gươm cùn giáp rách theo đuổi cuộc chơi, là biết cách trang bị cho mình tiếng cười ngạo nghễ, ngay cả khi thất bại ê chề. Chỉ hiềm một nỗi là trong những cơn mộng du vô tận, gã hiệp sĩ nhà quê chưa khi nào hoàn thành ước nguyện của mình. Càng đuổi bắt thì những gương mặt linh miêu xinh đẹp có tiếng cười ma mị lại càng hun hút xa xăm.

Bây giờ thì trên núi Chư Mang không có chỗ nào tôi chưa đặt chân tới. Tôi đi trong những đêm trăng sao ngà ngọc, trong những đêm mưa gió mịt mùng. Những gương mặt thân thương xa ngái thoắt ẩn thoắt hiện, lúc thì ở sườn núi bên này, lúc ở tận mạn bên kia. Có khi mệt quá, tôi ngủ quên trong vòng tay mềm mại móng vuốt của linh miêu, rồi mộng mơ đủ chuyện, vẽ ra những đường bay hão huyền lên tận mây xanh. Có khi mệt quá, tôi ngồi bó gối, bên cạnh là giáo cùn gươm gãy giáp rách, và nụ cười rớm máu dưới trăng.

Tôi không sao đâu mà, đừng lo cho tôi nhé. Bao nhiêu năm tuổi trẻ đã nuôi lớn ảo mộng, rồi sẽ chôn vùi cũng sẽ đúng nơi đây. Tôi vẫn hát bài hát của núi thẳm non cao mỗi lúc đêm về. Miễn là tôi còn trò chơi thú vị, miễn là những gương mặt linh miêu đẹp tựa thiên thần không rời bỏ núi mà đi. Tôi sẽ đuổi theo cho kỳ được, và ôm thật chặt trong tay những mộng mơ kỳ vĩ, tuổi trẻ, ai mà chẳng thế! Cho đến lúc không còn trẻ nữa, khi giáp trụ tan hoang, khi mắt mờ chân chậm, tôi sẽ vẫn lên đường mỗi khi tiếng cười mời gọi cất lên.

“Lên núi chơi thôi…”.

Đấy, bạn có nghe thấy gì không? Ngoài kia, bóng chiều vàng vọt của cõi người bắt đầu đổ xuống u buồn như tiếng kèn đưa đám. Tôi phải bắt đầu thôi, sửa soạn cho giấc mơ nối tiếp của mình, những giấc mơ trùng điệp, như sóng vỗ, giữa nhịp đập trăm năm của kiếp người.

Tôi lại phải đi đây!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The wooden bird with a blue beak | Trần Băng Khuê

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

1.

That day, the sky was a grey mask. The fog lingered touching everything. The fog hovered as though it was always there. The fog hindered each breath from the soil to high heaven. The main character can only remember that, she can acknowledge nothing else except for the fog, the scale of despicable greyness plagued her to the end of her life. I’m different, I like the fog. But, what I do not like is how vulnerable human beings are when they face a fog, I am adamant that the fog takes its job seriously when it comes to obstructing her vision(or mine). Like darkness. And its eyes included.

What I like people to imagine is exactly that. I can’t be bothered with trying to explain it. Since, it is for the time being the reason for what will soon unravel (or have already unraveled). The not talking wooden bird with a blue beak inside a cage. If only, I could open the cage door and let it go. The filtered light from the outside is just about right to muck around. Since it’s a bird that had never made a sound. The only man in the house not long ago decided to only have the one wooden bird with a blue beak in the house. Not that he is worried about money besides having to open the door to let in enough light for the cage. Light is what he uses to feed his bird. In the past, he had all kinds of birds with skin and feathers. That is, in his youth. After the working hours of a diligent civil servant’s eight hours a day for instance, (or the times he had no patience for the card games, drinking with his friends or colleagues). He takes care of the bird and it is his companion.

His enthusiasm for birds had never been a curiosity of mine. There was a time when the jungle were thriving with all kinds of noise and magnificent bird songs in the fog and even when it was completely lit up. To the point where, the tweeting stop because there were no nest left. And yet, each trip to the jungle, he would bring home a couple of small birds for his cage. The chirpy bouncing little birds, none of them ever stay with him for too long. I have noticed that, since I was small until he had retired, they, all kinds of birds from sparrow, or black-rumped starling, none of them survived beyond a few days, maximum half a month. Talking about it piqued my curiosity. Often, what was strange was that they would disappear inside the cage. No one in the house understand how or why they had disappeared. I would find them sometimes, perched there quietly inside the cage, like a statue. It makes me think of the dead birds knocked out by a slingshot when I was young. My older cousins said, “they are delicious”. Even now, I can still feel the shiver going down my back, each time they mentioned the delectable taste of their sparrows.

Ever since the first time the birds he collected continues to disappear without an explanation from inside its cage. He became more and more introspective more quiet. To the point where I had noticed that he had began to take better care of himself. He spends less time after work drinking and gambling with his friends or work mates. He spends more time in the jungle and in the fields, planting more trees and other crops diligently like a good farmer.

The sunlight was overdue one morning, the mountain , jungle and trees were covered in fog. He was gone very early one morning, he came home with a odd looking brown cage, with the wooden bird with a blue beak. It made me laughed out loud, watching the rays of sunlight grazed over the beak of the wooden bird. A shiny bright blue. The radiating momentary joy invisible to the eye in a glance settled on my cheeks was a thin layer of invigorating fresh dew. A healing omen. But then again, right then, I had to face the truth of that moment, the deliberate dew drops were the stuff of my imagination in the harsh summer light. The wooden bird’s eyes remained unmoving. I’m pretty sure they can not read the meaningful look that my eyes had betrayed. Or maybe I have the fog in my eyes, “The misty dewdrops hidden inside a profound sadness of the jungle”.

Something I have thought about for a long time now. And yet it is still a fog in my mind.

I entertain no such intention in describing a natural phenomenon like dewdrops. I have no time to entertain the colour of the cold and grey dewdrops in my mind. Turning back toward my dark mind, searching for that bit of light. And, it’s shadow. I have been aware of it for a while now, but mostly I would ignore it. It’s presence is certainly no different to any other presence, and that includes people.

It is. A wooden bird with a blue beak. Definitely, it has to be blue. (even though, in the sunlight and fog, sometimes I can discern other strange colours). It’s a shade of blue I have loved for as long as I remember. Hence, the wooden bird with the blue beak he had brought home, had the potential to help clear the fog in my mind. I believed that, all one needs to do is to focus on the thought, the spiritual aspect of such desire and it will come true, guarantee certain satisfaction.

My earliest thoughts about it, compared to the birds with skin and feathers and wings, chirping noisily like the birds he used to catch, then died, then disappeared without leaving anything behind. The wooden bird with the blue beak will come with good news not bad. And yet during the pandemic when the deaths were still piling up, January second, that year, the day when humanity was oblivious and unsuspecting, a dangerous entity appeared in the form of Vlad Dracula ordered the firing, rockets and smoke and debris befallen a peaceful city. I truly did not want to know about what ever it is happening around me, but I could not stop myself from feeling the pain of each invisible thorn that had punctured my skin and pierced my flesh. The world is big, the world is small like a clump of hay rolled into a ball. The man who had birds that had died and now he has a bird that will not die, lucky that he is someone who is the instigator of war inside his home, but he had never like the idea of war outside his front door.

2.

Can I portray it in a way everyone can understand the flutter of anxiousness that I live with about whatever it is behind the closed door of my room. Or what is unseen at the corner of my mind? The question of my existence. How I see myself in a better light in another part of the world for instance. And yet, I could never unlock the mystery of the there or not there presence of the wooden bird with a blue beak. I have deceived myself of my own existence instead of the existence of that wooden bird.

I am no different to the wooden bird with the blue beak, except for the fact that an ornament can not utter the pure sound of a bird in the middle of the jungle on the first light at dawn.

The fog that turned up was on time that following year. The man took care of his wooden bird with the blue beak began to oddly changed. Now and then there was a twinkle in its eyes, it appeared more alive, as though it had a soul. The beak painted blue sometimes moved. Then the tweeting followed. Even though for not more than half a minute, before came the silence. I remember, my mother’s stories about a long house of the Ede people in a dream. Might have been where she was born or where she grew up. Might just be a dream. Dreams and their connections will be forever a way for people to find meaning of some kind in their daily life. My mother was never bothered with the man’s wooden bird with the blue beak. But, she was always puzzled: “where did it came from?”. Clearly, she was asking, where she came from?

I decided to test my theory, see if I can turn my mother’s dream into reality. First on the list was the long long house that plagued my mother’s dream. I googled a couple of key words. The ancient long long houses came in all kinds of colours brown grey, cockroach wings hues, shiny here and there in earthy red bazan clay. I showed my mother some of them. My mother said, “that long long house in the fog will be impossible to find”. “Then where mother?”. (In my mind, I knew I will not give up on this challenge) My mother’s voice continued to grow, ebbs and flow the same as always, ending somewhere far away in a whirlpool of the wind somewhere deep in the jungle. I promised myself that I will continue to coax my mother. The woman who remained silent for so long. A woman who for a long time had turned her heart into stone. A woman born of the trees, the mountains, the springs, and yet had not once remember the location of her long long house. What I need was an expedition with my mother.

“Without fully understanding our roots, we will be forever lost”. This is what I would often hear people say. We need to go. It was an essential exodus. Perhaps it might be a long trip. Perhaps it might only be for a few days. The way more than once, the man, the owner of those birds used to take my mother every where on the back of his motorbike in their youth. They head for the sea, then the jungle, in search of delusions and memories lost.

The pandemic two years ago, I can recall clearly the image of how a mechanical horse took away with it five living souls, both human and canine. An expedition like folklore. An expedition chronicled painfully edged into history. I tried to conjure the images of an expedition during a pandemic like that, to find the motivation for my mother and I to head for the jungle to find the actual bird with the blue beak, the long long house in her dream. A flagile thought, but it gave me a sense of excitement, the joy and laughter of searching for a dream. I hear mother sing. My mother love to sing and dance. Dancing is a part of her nature, sixty, in her tradition garment woven with the black and red colours of the jungle I see her dance to the beat of the copper gongs. My mothers voice is as bright and as clear as the running water in a brook or a stream. What is she singing about? No doom and gloom bouncing around in the world. My mother has no time for such big words. The lyric she sings comes from a dream. Or sometimes she would sing not realising that her life have ceased to move on and she is standing somewhere in the dark, waiting for her home coming to a long long house that had once exist, (or never did). While that man, each morning each night, each time he closes his eyes at night, each morning opening his eyes all he does is stare at the wooden bird with a blue beak as though it is his confidante, his soulmate.

I began to have these dreams about irises. I dreamed about them every night.

Even as my mother’s long long house was yet to be found. Other dreams had turned up, invading what was left of the gaps in my imagination. Because I am young. Because I still have in me the desire for simple dreams, for instant, to lay down on a carpet of green grass large enough to cover my body and the smallness of me. I don’t want anyone to invade or near my world of solitude. If only I had the desire for loud and noisy places, the throbbing green and red traffic lights of another life. My addiction is the watchful, adoration, through my eyes take in what I can of my surrounding. Their fondness for display. No matter how extravagant they might be, boredom is inevitable.

I often think about colours. The colours that had powered my dreams in the oddest manifestations, unfurled light in my consciousness, my body. The colour I dreamed about it is, a flower of the genus Iris. Fleur-de-lis, sounds noble in French. Or diên vỹ, more demure in my language. The colours that had saved me from innumerable despair, the unpredictable modern day disease of anxiety and depression. It’s symptoms, mostly nothing to worry about. Unbeknown to a number of my friends who had to live with it. I am on the other end, I am fully aware of this darkness. I would find myself drowning in the chaos of my thoughts. I want to feel everything and be present at all time to see what is happening around me. The world. Humanity. Major and minor events. Including the constant thoughts on the appearance of the swarms of ants. Where did they came from, why are they here or there? Why are they coming in hoards crawling around back and forth in front of me, from dusk till dawn? Some in fact, crawl around in my clothes, on my skin as though it is where they are meant to be. It’s crazy. If only my thoughts were more disciplined and useful so I can affectively apply them. Instead, I am always sitting in the dark exhausted with these convoluted thoughts about this, and then that, or why people have to die?

And, not once did I stop thinking about it, not once did I stop asking all the questions, not once did I stop connecting with everything that was happening around me. Each time I’m sick off what is in my head, I find myself outside. Sick of the world outside, no matter how difficult I would wiggle my way back into my head, since it’s not easy living with the chaos, undefined between two worlds – dark. I forced my grey matter to work harder. I forced my self down a deep dark pit of illusion. The deeper I am in my head the more I am lost in that expanding universe. There is only one way, I can still be alert enough to know that, I have to find the right hue of the iris. Because in itself, that shade of the sunset had saved me from all the earth moving fear, inside me. Silence is a game. But, it is also a pitiful state between light and darkness. I would close my eyes, conjure a private domain, allow the colours and shades I love to spread and invade all areas of my spirit, allowing me to enter deeper into a constantly shifting, evolving dream. Oddly like magic, that crazy sickness would disappear.

A temporary manifestation is each moment in time.

After sometime, stepping out of a room, wall, or door, the movement outside is as familiar as a friendly ghost. The same sickness makes a joke out of me. I think a lot about things that are locked up in a cage. Not all of them are birds. And yes, most impressive is the wooden bird with the blue beak that can not talk, locked in a cage. With it, is an image of a long long house. These streams of thoughts takes up all the space in my mind. They shift in sections back and forth. I wish, often I would wish that they would completely disappear from my mind. All I need are the hues of the iris, they will help me unravel the knots and sort out the messy thoughts in my mind. I get it, it’s not easy to find, any where in this jungle. It’s beyond the door. A different door. A door where not just anyone could open. It’s beyond this world, a world far beyond geography. Hence, I must dream, I need these dreams to confirm that I am truly alive.

My mother, for the moment suffers depression like me perhaps? Clearly the sickness plaques her. I would often find her hiding in the corner of one room or another busying herself with something or another. while the only man in a women’s world obsessively take care of a wooden bird with a blue beak and talks of wars. He dislike the instigators of war beyond his door. Yet, the other night, the other night. Including all the other nights long gone, he was the one wearing the ashes of a silent war he lit within his own house.

The unmoving wooden bird with the blue beak inside the iron cage oddly disappeared suddenly one day. Overnight it grew wings and flew away? Flooding my mind were the thoughts and images of him. No. It’s best that I shouldn’t name such an undeserving name.

The iris is gorgeous. It has a refreshing liberating hue like the kind of cool light mixed with a dreamlike magical purple the colour of the universe. Yet still, because of a happy memory I find myself talking about him. When I do not want to spare a second on him. Yet again, the same irises, they made me think of him, a kind of self inflicted torture. But, what’s certain, I am always in full control. My problem has nothing to do with him, nor is it the heart break because of a boy in my youth. I just want to highlight the situation of the man and his wooden bird and a woman with her constant search for lost time in a long long house not the one she’s currently living in.

In the poor light, the iris I had dreamed about bloomed.

It’s very obvious. That it did not, bloom for my eyes to see. It is a flower of the imagination. The kind of colour I have dreamed of being a part of, to be fully fully immerse. Or perhaps for instant the other way around, it becoming a part of me. My dreams are often no different to the other two in the house. But, in truth, I know they are very different. My dreams are a lot brighter. My dreams have the possibilities of becoming realities. Because I believe, the man who had a passion for birds, hates those who causes war beyond his front door, what he really wants for his wooden bird with a blue beak is a voice. While the woman obsessed with the long long house, definitely do not know how to find all those lost memories.

Just passed in the dark was the severed prayer in the middle of the night.

What I do know is, beyond that door is war unraveling in real time. The man with the wooden bird did not want to discuss it. He has no positive affinity toward those who instigates war outside of his door. His battle inside his home diminished in time. He prays in secret. (Like his mother, when she was alive).

It was a surprise, catching him pray in secret like that. In the past, he looks down on such acts. “Women are always weak. They are always fearful of the worst, no wonder they pray”, you would find him mumbling something like that now and then. For instance, I remember, his mother, she used to tell war stories in the middle of the night, the chaos. Before praying quietly, she would repeat over and over again the same thing, “the bombs and bullets dear God, husband, for how many decades have they taken you from me” (like the lyric of a song, when she was alive). She would often pray quietly in the early morning light, a rosy pink.

Fallen is blood on the soil. Clearer coming into view slowly were the form and eyes full of darkness of the butcher.

The man who loves birds had made early prediction about the war beyond his door. Hence, when came the fire and explosions, blood falling over the destruction, he was not surprised. The war brewing at the foundation of his home slowly lost its heat. All members, all entity seemed to suddenly learn how to make each other smile, even though it was still rather awkward. Except for my mother who was completely isolated when it came to the exchanges about the war behind doors. All she wants was to find the long long house. It is some thing that has been sustained by a memory that had left a mark in the pad of her palm.

Me and a dark corner stared at each other. My willful nature found various crazy way to play with the dark. But when I do play with the dark often I would choose to sit and imagine other worlds inside the walls. In the dark right now, there is only one living thing I want. It is the iris. An image that could make me truly feel. In the dark, it shimmers, mysteriously. In the dark, it calls upon my childhood, the passions of my formative years. And yet, when I want it to be my childhood, it would turn into something laughable and ridiculous.

Right now, I’m of two minds about what is and what is not; between existence and non-existence. The butcher’s eyes and my visualization of blood spatter in the dark. Find any sign of life. Or may be the gentle whisper of the iris breathing in the dark. The colours not of war. And just like that, times like that, my mind would have enough clarity to continue to give more thought on the man who loves birds who now prays in the middle of the night, or help look for the long long house lost in the memory of the woman living with me. And that includes why for no reason at all, the wooden bird with the blue beak had suddenly disappeared?

3.

Continuing my dream, I imagined the blue iris blooming until the moment the sky is pink with the first light. I am fiddling in the dark, playing with the walls and shadow. Since, after the fights under one roof, the headaches remain. Me residing in stillness, as the air of those around me continues to rise through the blanket of the night, the breath of the imagination. Me, dreaming. The dream of a fresh new world, genteel, tranquil. Me, dreaming. Dreaming of the possibility that the wars behind doors will never happen again.

The early mornings, the sun bursting with light slips in aiming directly at the bed head, it feels as though I’m waking up in Van Gogh’s lonely private space. I am obsessed with this room, and the river reflecting a sky full of twinkling stars. It is a beautiful dream. To the point where, I can no longer recall the iris with its purple hues, a flower that demand my attention, complete immersion in the illusion. If I could only live in reality, immerse myself in the simple colours all around me, then I wouldn’t have the trouble of having to search for what isn’t there. I dream still of other strange flowers in other places even though I know that, dreams are not easily attainable.

The man who likes to take care of birds, detest the beginning of the clear changes in the wars beyond his door.

On face value. Rarely do I give myself permission to entertain incidents with the slightest hint of mystery. In the past, in his eyes were the reflection of the terror of my fears. And I would hide. The others in the house, they too, would run and hide. The moment the bird showed any sign of life death showed up in throes. The moment the bird with the blue beak disappeared. The moment he began to pray like his mother in the pinkish first light. There was a shift in the intensity of the energy in his eyes, the dark clouds has disappeared. When enough light residing in the eyes, the face will be the same. They light up gracefully in contrast to those darker days.

Now there’s only me. A knotted complicated living breathing being, full of contradictions drawn constantly to what isn’t real. My dream remain unresolved. And, that includes my mother’s dream. A woman who had lost her memory of a long long house.

4.

Not a dream, the periods of long rainy days in the mountains.

A home slips through the middle of a valley. The flickering flame of a fire in stove, chasing away the air of thick grey sombre clouds. The woman with her lost memories blows more life into a pile of red coal as the rain seemed to have stopped. It has been a while since, I have heard the humming of a song as her tiny dry and scratched hands worked through one chore after the other until they were all done. Nor did I see her dance again like a jungle fairy. I conjured the images of those dances, sometimes it helped her escape all the pain, but sometimes it would leave behind a deep darkness in her eyes after the dance, darker than before. I have made up my mind, in a moment of clarity, I had to find a way to unravel this ball of knots. I had to find the lost long long house in her mind. It had clearly taken shape. All I have to do is to go and find it. I remember the details of a flame. It is real. A flame that had dried up, had turned into a scar, on the pad of her left palm.

Like I said, I am a complicated living thing full of contradiction. I want to not only reduce the anxiety of the man who was pre-occupied with the wars beyond his door, but also quell the ugly war under this roof. I am eager to find out the origin of the burnt scar on the pad of the hand of the woman in a long long house wherever it might be. It is clearly a nefarious mark. People are not as nice as they might appear to be no matter how much we want to convince ourselves of the fact.

My plan has yet to take shape, and the wooden bird with the blue beak turned up and helped the man who likes to take care of bird see the impermanence of life. To then suddenly disappear. But still, fortunately, its disappearance on the other hand, had opened his eyes. I am now left with only the burden of my mother’s memory. But, between the white spaces of dreams and hallucinations, I like to keep the wonderful ones to myself, my search for the colours of the iris. How long will this iris last, will it wait for me? My instinct crying out urging me to fling the door wide open so the darkness can disappear, and dawn may show itself. I pure light, the healing I am thirsting for, like the iris.

“When power is left in the hands of those not in touch with reality, then continue to pour will be blood and tears”. My mother would mumble to herself in the dark. As far as I remember, my mother’s reaction to anything is never fierce, and that includes the man who had instigated the wars under this roof. More than often I find myself affected by the rain. Not because I find them ugly, or because they lack reflection in my realm of thought. But, the characters in that war without the bloodshed, without the sound of rain had forced me to hide deeper inside my darkness. The thought of finding that woman in the past in the rain in the darks scares me?

I choose to daydream with These rudimentary flowers. Iris, the rise of a dark spirit in my mind. It’s clear that, I have been dreaming very deeply, for a long time now. To this very moment I want to desperately see the iris I have been dreaming about. Since, they, these rudimentary flowers are the most glorious of images that have for the moment. I thought, my mother had chosen the memory of a long long house as her way to face and disregard her pain, in order to continue to hold her words and forgive. But, I dare not think that the fights will never end. And there is nothing surprising about that, it follows the order of the universe. This war will pass by, another war will take its place. War, is perhaps one way the world adjust its stance. The old perish, the new emerge. I start copying my mother’s nonsensical mumbling about things I know nothing about.

“War continues to persist, continues to simmer, appear in moments undefined by the seconds, minutes, but the speed of light.”

5.

Is light tangible or intangible?

I am walking through a door filled with light. Where my foot touch first is not a place I have been trying very hard to find like the long long house for a woman who had misplaced her memory. It’s a city. I find myself often quietly obsessed with these cities, they have a hold on me. (Like the city where I was born for instance, because it conjured a lot of memories I rather forget). But, when I do leave it, I can almost dream of a city prettier, brighter. The city with an arrow on it is an address where I want to get to, so I can feel all the loneliness the universe can offer. Though, the open door filled with light in front of me is a city I often admire from afar. By default, I assumed that the probability that I was still dreaming was very high.

But, there in front of me, in that blinding light, all images of the city that had an arrow pointing at it are very clear. I can smell the soil, sunlight, scent flowers and foreign grass. And including it, my way of saying its name for instance, these rudimentary flowers. Iris. I get it, the allure the iris bestows upon me, not just the colours. It symbolizes the unification of three rivers Mississippi, Missouri and Illinois. It is the power to rule, it is beauty, the purity and virtue of a woman with a name starting with the letter M. To me, it might just be a high note in my exploration of the mysteries of the world. Or when it comes to what I want is to shine a light over the universe, over being, to find out why I am here in my present state, within that vernacular and not in a different state of being, different vernacular. And, Iris is simply a very beautiful name.

Stepping through the second door way full of light, there in front of me is the wooden bird with the blue beak that belongs to the man who likes to take care of birds. It is right there, in the city I have set my foot upon in my dream. A wooden bird with a blue beak, he keeps locked up in a iron cage. Looking at it carefully, I found a lovely surprise, a rudimentary flower. Iris, right on top of its head. Which means, my search, misses only the long long house for the woman who had misplaced her memory. I truly want to know, the origin of the burn scar on the pad of her hand, what really happened?

The third door full of light touches my feet midair is a mountain deep in the jungle. A rather familiar jungle, it feels like the jungle frequently the man who likes birds likes to take me. There the world is as green as a fairy tale. Stepping further into the jungle I found burning torches and bonfires. And in front of me is a long long house becoming clearer and clearer through the fog. As it turns out, it is a long house in a style more strange than familiar. This might be, the long long house that belongs to the woman with the burn scar on the pad of her hand. I am curious, but I want to look for the imagined images that are mine alone in my jungle. Once awake, returning to reality, even though both eyes were always consistently open in the dark searching for other eyes. I am dreaming in a world between what is real and what is not, between the door of my tiny room and the door full of light. My trip into the subconsciousness proves nothing, confirms nothing in terms of my existence. All I want to do is to run and hide. And that is the truth. If only I could leave that door full of darkness behind and disappear into the light of the door in front of me.

6.

Diên. My name appeared in one of my mother’s dream.

Names are often the subject of my ponder. They are the evidence of deterioration of my existence in this form, one vernacular one fate. Every thing in this world have been set in stone by the Creator, still I wonder, try to find myself in one other disposition or another. I will not settled for mediocre names starting with the letters a, b, c in the alphabet. Since I was as small as I can remember I protested against those sentimental names.

Vỹ, the name of the eighteen year old boy I often find in my dreams. His gaze is the hue of rudimentary flowers – Iris, mysteriously alluring, like the back of the sea blue top that had turned away and left the autumn path the year I turned sixteen. Even though, he is not the aim of my exhausting search for my roots and the woman who was born amongst the trees, mountains. One dark night, the rain came pouring into the valley. Streaks of clay down a roof that had housed three generations. The man who hates wars who likes to trap birds and locked them in a cage screams in the dark of night, “bring me my gun, I will kill them, all of them”. In the empty cage in the corner, the wooden bird with the blue beak showed up, mimicking him, “bring me my gun, I will kill them, all of them”.

The woman with the scar on the pad of her left palm didn’t know where I came from, with her eyes firmly closed mumbling eerily, power is darkness, I am darkness, darkness is me. A wisp of farmiliar mist wrapped the suffocating space in the large room. The man who likes to lock birds up, her husband, the guy who hates the wars outside his door, the guy who had turned her life into an indispersible dense fog, sitting motionless on the floor. His daughter resting on a dark grey cloud, exactly like a painting he’s seen in an old dream he had in his careless youth. He remembered, Diên used to be rather curious about the small hunting rifle. He also remembered, he used to take Diên with him hunting, exploring childish fairy tales in the jungle. But, not sure when, to him, the jungle is just a tiny fullstop, small like the eyes of the birds locked up in his cage. The jungle is now resting in Diên’s firmly closed eyes. His lips moving the way his elderly mother used to pray, before he found himself shrieking inside the unconsciousness of a father, I am darkness, darkness is me.

Truyện ngắn

Con chim gỗ mỏ xanh

1.

Ngày hôm ấy, bầu trời mang một chiếc mặt nạ màu xám. Sương đeo bám khắp mọi nơi. Sương bủa vây từ trong vô tận. Sương giăng mắc trong từng hơi thở của đất trời. Nhân vật chính chỉ nhớ lại rằng, bà không thể nhận diện được thêm điều gì ngoài sương, cái gam màu xam xám đáng ghét hầu như ám ảnh suốt cuộc đời bà. Tôi thì khác, tôi thích sương. Nhưng, tôi không thích sự bất lực của con người trước cái bóng của sương. Tôi nghĩ, sương cũng muốn chơi trò phủ mờ cả mắt bà ấy (hay mắt tôi). Như bóng tối. Và mắt nó nữa.

Thứ tôi muốn người ta mường tượng ra là nó. Tôi không nên dài dòng. Dù sao, nó ngay lúc này có thể xem là lý do cho mọi diễn biến của câu chuyện sắp xảy ra (hoặc đã xảy ra). Một con chim gỗ có chiếc mỏ màu xanh đang im lặng giữa những nan lồng. Giá, tôi có thể mở toang cánh cửa cho nó bay đi. Ánh sáng bên ngoài chỉ vừa đủ xuyên qua để chơi trò giễu cợt. Vì nó là chim mà chưa hề cất tiếng hót bao giờ. Người đàn ông duy nhất trong nhà tôi cách đây không lâu đã quyết định nuôi duy nhất một con chim gỗ mỏ xanh. Chẳng phải lo tốn kém gì, ngoài việc mỗi ngày mở cửa cho ánh sáng xuyên qua nan lồng. Ông ta nuôi nó bằng ánh sáng. Trước  đấy, ông đã từng nuôi rất nhiều loại chim có da có lông. Đó là tháng năm tuổi trẻ của ông ấy. Sau giờ tan tầm của một công chức mẫn cán ngày tám tiếng chẳng hạn, (hoặc những hôm không hứng thú tụ tập bù khú cờ bạc, rượu chè với bạn bè, đồng nghiệp). Ông nuôi chim và chơi với chim. 

Tôi chẳng bao giờ thắc mắc, tại sao ông lại có hứng thú với việc nuôi chim. Thời điểm ấy, những khu rừng vẫn rậm rạp, vẫn tràn ngập âm thanh lộng lẫy hát ca trong sương mù và cả khi nắng lên. Chẳng đến nỗi, chim không có tổ để ríu ra ríu rít. Ấy thế, mỗi lần có dịp vào rừng, ông vẫn tha lôi về một vài con chim nhỏ để nhốt vào lồng. Những con chim sống động nhảy nhót loi choi líu lo cất tiếng hót, đều không ở lại được với ông lâu. Tôi quan sát, từ khi tôi còn bé cho đến khi ông vào tuổi về hưu, chúng, các loại chim từ se sẻ, hay sáo sậu đen, chưa con nào sống sót nổi dăm ngày, nửa tháng. Kể đến thì tôi cũng cảm thấy khá thắc mắc về điều đó. Nhiều lần, kỳ lạ hơn nữa là chúng tự biến mất khỏi những nan lồng. Chẳng một ai trong nhà tôi biết rõ nguyên nhân, tại sao bọn chúng biến mất. Thỉnh thoảng, chỉ mình tôi nhìn thấy chúng nằm im lặng, cứng đơ. Điều đó khiến tôi nhớ đến việc tôi đã từng chứng kiến cái chết của những con chim bị bắn bằng chiếc ná thun từ thời bé. Anh chị họ tôi bảo rằng, “thịt chúng ngon lắm”. Đến giờ, tôi vẫn còn rùng mình, mỗi lần hình dung ra cách nói về miếng thịt con chim se sẻ của họ. 

Từ khi những con chim được nuôi nhốt trong lồng biến mất không rõ nguyên nhân. Ông ấy trở nên tư lự và im lặng. Thậm chí, tôi còn nhận ra sự kiểm soát bản thân của ông bắt đầu có dấu hiệu tiến triển tốt hơn. Ông hạn chế rời khỏi nhà sau giờ tan tầm để bù khú với đám bạn bè công chức bàn giấy. Ông vào rừng, lên nương rẫy chăm chút cây cối như một anh nông dân chăm chỉ.

Cái hôm nắng lên muộn, núi rừng đầy sương mù. Ông đi đâu đó từ sớm và tha về một chiếc nan lồng lạ màu nâu, cùng với một con chim gỗ mỏ xanh. Tôi phì cười, nhìn những tia nắng lướt qua chiếc mỏ của con chim gỗ. Màu xanh óng ánh rạng ngời. Nỗi hân hoan vui mừng reo ca chốc lát cũng chiếu cố liếc qua đọng lại bên má tôi làn sương mỏng vô hình mát rượi. Hệt như một dấu hiệu chữa lành. Nhưng, chính ngay lúc đó, tôi phải trở về với thực tại rằng, những giọt sương chỉ là thứ hình ảnh tưởng tượng mà tôi cố tình vẽ ra dưới cơn nắng hè chan chứa, gắt nồng. Đôi mắt của con chim gỗ vẫn bất động. Tôi dám chắc nó chẳng cảm thấy gì từ ánh nhìn của tôi. Hoặc mắt tôi có sương, “Những giọt sương ẩn nấp trong nỗi buồn thăm thẳm của núi rừng”. 

Tôi mường tượng về nó lâu lắm rồi. Ấy thế mà trí não tôi mờ mịt. 

Tôi không có ý định mô tả gì về một thực thể tự nhiên là những giọt sương. Mặc kệ màu sương xám lạnh trong tâm tưởng. Tôi trở lại với trí não u ám của mình, hòng tìm kiếm một chút ánh sáng. Và, cả hình bóng của nó. Tôi biết về nó khá lâu, nhưng nhiều khi tôi lờ tịt nó đi. Sự tồn tại của nó cũng là một điều hiển nhiên hệt như mọi sự tồn tại khác, kể cả con người. 

Nó. Một con chim bằng gỗ có chiếc mỏ màu xanh. Chắc chắn phải màu xanh. (cho dù, đôi lúc dưới ánh nắng và những màn sương, tôi lại nhìn ra thứ màu sắc dị biệt khác). Tôi khao khát thứ màu xanh ấy từ lâu lắm rồi. Bởi vậy, con chim gỗ mỏ xanh mà ông ấy đưa về, khả năng sẽ giúp tôi nhận diện được sự mờ mịt của trí não. Tôi tin rằng, chỉ cần biết cách tập trung ý niệm, linh giác trong thần thức để biến mong muốn đó thành hiện thực, thì chắc chắn tôi sẽ được toại nguyện. 

Thứ ý nghĩ đầu tiên về nó, so với những con chim có lông có cánh, có tiếng hót vang vọng ông ấy đã nuôi trước kia, rồi chết, rồi biến mất không một dấu vết. Con chim gỗ mỏ xanh bất động ấy sẽ mang đến điềm lành chứ không phải câu chuyện của kẻ dữ. Thế mà trong cơn đại dịch chết chóc chưa dứt, vào cuối tháng giêng hai, năm đó, đúng cái ngày ngây thơ của thế giới loài người, kẻ dữ với hình hài nhân diện của Vlad Dracula đã ra lệnh nã pháo, tên lửa và khói và nát tan xuống những thành phố hoà bình. Tôi thực chẳng muốn để ý nhiều hơn đến các sự kiện xung quanh, nhưng người tôi đã bắt đầu bị những chiếc gai vô hình đâm chọt đau nhức. Thế giới lớn, thế giới nhỏ hệt như một cuộn rơm bị rối. Người đàn ông nuôi những con chim đã chết và sau đó nuôi một con chim gỗ sống mãi không chết, may mắn thay dù là kẻ trước đây vẫn thường gây ra những cuộc chiến tranh trong nhà, nhưng ông ta chưa bao giờ thích những kẻ gây chiến tranh bên ngoài cánh cửa. 

2.

Diễn giải như thế nào để mọi người đều hiểu được lý do tôi phải luôn sống trong sự phấp phỏng lo âu về một thứ gì đó trước cánh cửa phòng mình. Hoặc ngay trong góc tối vô hình của tâm tưởng tôi? Việc tôi tồn tại hay không tồn tại. Việc tôi nhìn thấy thứ ánh sáng mơ ước ở một chân trời khác chẳng hạn. Ấy thế mà, tôi vẫn chẳng thể nào giải mật được hình ảnh lấp lửng thoắt ẩn thoắt hiện của một con chim gỗ có chiếc mỏ màu xanh. Vậy là tôi tự đánh lừa việc tôi có tồn tại thay vì sự tồn tại của con chim gỗ ấy. 

Tôi cũng giống như một con chim gỗ mỏ xanh, chỉ là bức tượng không thể cất tiếng hót trong trẻo giữa rừng với ánh sáng bình minh. 

Mùa sương lấp lánh năm tiếp theo. Con chim gỗ mỏ xanh được người đàn ông ấy nuôi, bắt đầu có những chuyển biến kì lạ. Đôi mắt nó thỉnh thoảng thoạt trông hệt như có sự sống, có linh hồn. Chiếc mỏ bằng gỗ được sơn màu xanh thi thoảng tôi lại thấy nó cử động. Và rồi, những tiếng hót bất thình lình được cất lên. Dù chỉ vài ba chục giây, rồi sau đó im bặt. Tôi nhớ, mẹ tôi từng kể về một ngôi nhà sàn trong giấc mơ của bà ấy. Có thể là nơi bà ấy sinh ra, cũng có thể là nơi bà ấy lớn lên. Có thể chỉ là một giấc mơ. Sự gắn kết của những giấc mơ luôn khiến cho cuộc đời con người có một ý nghĩa nào đó. Mẹ tôi không chú ý đến con chim gỗ mỏ xanh của ông ấy. Nhưng, mẹ luôn thắc mắc rằng: “nó từ đâu đến?”. Hẳn, mẹ cũng đang tự hỏi, mẹ từ đâu đến vậy?

Tôi quyết định thử thách tìm kiếm, hòng biến giấc mơ của mẹ thành hiện thực. Đầu tiên phải là địa điểm có ngôi nhà sàn dài miên man mà mẹ thường bị ám ảnh. Tôi thử vài từ khóa trên google. Những ngôi nhà sàn dài miên man hiển thị đầy đủ mọi sắc màu cổ điển nâu xám, cánh gián, kể cả lấp lánh chêm xen màu đất đỏ bazan. Tôi cho mẹ xem một vài hình ảnh. Mẹ bảo, “vẫn không có ngôi nhà sàn dài miên man trong sương khói đó. Chắc chắn sẽ chẳng bao giờ con tìm được”. “Vậy nó ở đâu hở mẹ?”. 

Bà không trả lời ngay, mà rời khỏi bàn tôi và nói lửng thửng như kẻ mộng du đã hơn sáu mươi năm tuổi, “ký ức là một câu chuyện dài con gái ạ.”

(Tôi nghĩ, tôi sẽ không bỏ cuộc với thử thách này).  

Tiếng của mẹ vẫn tiếp tục giãn nở, vọng trong không gian tâm tưởng, kết đọng như một cơn gió dài thổi mãi tận rừng sâu. Tôi tự hứa, sẽ tiếp tục rủ rê mẹ. Người đàn bà câm lặng đã lâu. Người đàn bà hóa đá linh hồn đã lâu. Người đàn bà sinh ra từ núi rừng, nhưng chưa hề biết ngôi nhà sàn dài miên man của mình ở đâu. Tôi cần phải lên kế hoạch về một chuyến phiêu du cho tôi và mẹ. 

“Nếu không tìm biết về nguồn cội, chúng ta chỉ là những kẻ mãi mãi lạc lối”. Lời này, tôi đã nghe ai đó nói khá nhiều lần. Chúng tôi cần phải đi. Đấy là một cuộc xê dịch bắt buộc. Có thể chuyến đi này dài lắm. Có thể chuyến đi này cũng chỉ dăm ba ngày. Như một vài bận, người đàn ông thích nuôi chim kia đã từng chở mẹ tôi sau lưng cả thời tuổi trẻ. Họ đi về phía biển, rồi lại lên rừng, để tìm những ảo mộng và những ký ức đã mất. 

Trận đại dịch cách đây hai năm, tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh con ngựa máy đã thồ hẳn một chuyến đi dài với năm sinh linh, cả người lẫn chó. Một chuyến đi cổ tích. Một chuyến đi vào lịch sử của những cơn đau. Tôi định mơ về chuyến xe trong đại dịch kia, để lấy động lực cho mình và mẹ tìm kiếm con chim mỏ xanh có thực trong rừng, tìm kiếm ngôi nhà sàn dài miên man trong giấc mơ của bà ấy. Chỉ mới là ý nghĩ, nhưng tôi đã thấy lòng mình đầy tràn sự phấn khởi, những hân hoan reo cười về việc tìm kiếm một giấc mơ. Tôi nghe tiếng mẹ hát. Mẹ tôi thích hát và múa. Mẹ múa rất hồn nhiên, ở tuổi sáu mươi, tôi đã thấy mẹ mặc bộ trang phục được dệt từ những sợi chỉ đen chỉ đỏ của núi rừng và múa trong điệu cồng chiêng. Tiếng hát của mẹ róc rách hệt như tiếng suối. Mẹ đã hát những gì? Không phải là những lời vọng vang nỗi buồn của thế giới. Mẹ chẳng nghĩ đến việc hát những lời to tát thế đâu. Mẹ hát lời của một giấc mơ. Hoặc có khi mẹ đang hát mà không biết rằng, đời mẹ thì vẫn đứng yên trong bóng tối, chờ đợi sự trở về với một ngôi nhà sàn dài miên man đã từng tồn tại, (đã từng không). Còn người đàn ông ấy, mỗi sớm mỗi chiều, mỗi đêm nhắm mắt, mỗi ngày mở mắt vẫn mê đắm con chim gỗ mỏ xanh như tình nhân tri kỷ. 

Tôi bắt đầu có những giấc mơ về hoa diên vỹ. Tôi mơ về nó mỗi đêm

Dù vẫn chưa thể tìm thấy ngôi nhà sàn dài miên man cho mẹ. Những giấc mơ khác đã lân la lấn chiếm khoảng không gian tâm tưởng của tôi. Bởi vì tôi còn trẻ. Và bởi vì tôi còn khát thèm những giấc mộng đơn giản, chẳng hạn, được nằm dài trên những thảm cỏ xanh lớn rộng phủ trùm lên cơ thể và sự bé nhỏ của tôi. Thế giới riêng là một khoảng lặng tôi không muốn bị bất kỳ ai nhòm ngó xâm phạm. Giá mà tôi có hứng thú với những nơi chốn xô bồ, nhộn nhịp đèn xanh đèn đỏ của đời sống vui tươi nào khác. Tôi chỉ nghiện mỗi việc chiêm ngưỡng, quan sát, ngắm nghía những khuôn hình xung quanh mình. Chúng là những nhân dạng rất thích sự bày biện. Mâm cao cỗ đầy mãi cũng sẽ trở nên nhàm chán. 

Tôi thường nghĩ nhiều về màu sắc. Thứ màu sắc khiến cho giấc mơ của tôi lúc nào cũng trở nên tràn ngập năng lượng một cách kỳ quặc, nở toang ánh sáng bên trong tâm thức trí não, và cả xác thể. Màu sắc mà tôi mộng tôi mơ là nó, một loài hoa thuộc họ Iris. Tên Pháp ngữ của nó cũng quý phái lắm, fleur-de-lis. Hay mỹ miều hơn theo ngôn ngữ của tôi là hoa diên vỹ. Màu sắc ấy đã rất nhiều lần cứu vớt tình trạng tinh thần ủ dột, trầm uất của tôi vì một căn bệnh rất quái đản trong thế giới hiện đại này. Theo tôi, chắc chắn nó là một căn bệnh, chứ không thể đơn thuần chỉ vô tình xuất hiện. Triệu chứng của nó, tưởng chừng chẳng có gì đáng lo ngại. Một số người bạn của tôi đã từng bị, và họ không phát hiện ra. Tôi thì ngược lại, tôi cảm nhận được sự bất ổn ấy. Tôi bị chìm vào sự rối loạn trong các luồng suy nghĩ của mình. Tôi tham lam ngốn gần như hết mọi thứ tồn tại, diễn ra xung quanh tôi. Thế giới. Con người. Các loại đại sự và tiểu sự. Kể cả việc tôi đã suy nghĩ quá nhiều về sự xuất hiện của bầy kiến. Tại sao chúng nó ở đó? Tại sao chúng nó ở kia? Tại sao chúng nó lại kéo đàn kéo lũ đi qua đi lại trước mắt tôi mỗi ngày, từ sáng đến khuya? Thậm chí, có khi một vài con lén lút chui vào quần áo tôi, trườn bò trên da thịt tôi rất hồn nhiên. Thật là điên rồ. Giá như tôi nghĩ đến các công việc có ích và thực hiện nó theo trình tự. Ấy thế, tôi lại mông lung chơi trò đánh đố này một mình trong bóng tối đến mệt nhoài về sự có mặt của cái này, sự tồn tại của cái kia, hoặc tại sao con người lại phải chết? 

Và, tôi không ngừng suy nghĩ, không ngừng đặt câu hỏi, không ngừng liên kết các sự kiện trong đời sống riêng của mình. Mỗi lần muốn rời bỏ sự mệt mỏi của thế giới bên trong, tôi lao ra thế giới bên ngoài. Chán thế giới bên ngoài, tôi lại loay hoay kiếm tìm thế giới bên trong đến uất ức, vì chẳng dễ dàng gì giữa cuộc chơi náo loạn bát nháo không phân định rõ sáng – tối. Tôi bắt não hoạt động. Tôi bắt não điên cuồng rơi vào hố đen của huyễn giác. Càng đi sâu vào vũ trụ của trí não tôi càng lạc. Chỉ có một cách duy nhất, tôi vẫn còn đủ tỉnh táo để biết rằng, cần phải tìm cho bằng được sắc màu của hoa diên vỹ. Bởi chính nó, gam màu hoàng hôn ấy đã chữa lành mọi cơn rung chấn, rối loạn bên trong tôi. Im lặng là một trò chơi. Nhưng, cũng là một thứ cảm giác tối thượng giữa bóng tối và ánh sáng. Tôi nhắm mắt, tưởng tượng về thế giới của riêng tôi, để thứ màu sắc tôi mê đắm được lan tỏa bao bọc toàn bộ linh thể mình, khiến tôi chìm sâu hơn trong một giấc mơ trôi dạt. Kỳ diệu thay, căn bệnh kỳ quái kia biến mất. 

Mỗi khoảnh khắc chỉ là một hiện cảnh tạm thời. 

Sau một khoảnh khắc, khi bước chân ra khỏi căn phòng, bức tường, hoặc cánh cửa, thế giới động bên ngoài hệt như một bóng ma quen thuộc. Tôi tiếp tục bị căn bệnh ấy quấy nhiễu. Tôi nghĩ rất nhiều về những thứ bị nuôi nhốt trong lồng. Một số không phải là chim. Dĩ nhiên, sự tồn tại mà tôi ấn tượng nhất vẫn là con chim gỗ mỏ xanh không biết hót, bị nhốt trong lồng. Cùng với đó, là hình ảnh của một ngôi nhà sàn dài miên man. Những luồng mạch suy tư này bao chiếm trọn tâm trí tôi. Chúng trở đi trở lại từng khoảnh khắc. Tôi ước, có nhiều lần tôi đã ước rằng, chúng hãy biến mất hoàn toàn khỏi tôi. Chỉ cần màu sắc của hoa diên vỹ, chúng sẽ giúp tôi giải quyết việc kiểm soát những suy nghĩ đan bện ngày một rối rắm. Tôi biết, thật khó để tìm thấy nó ở bất cứ nơi nào trong chốn núi rừng này. Nó ở bên ngoài cánh cửa. Một cánh cửa khác. Một cánh cửa mà người ta không thể muốn với tay tới là chạm đến được. Nó ở bên ngoài thế giới, và một thế giới thật sự xa xôi về khoảng cách địa lý. Bởi thế, tôi phải mơ, cần những giấc mơ để còn biết rằng tôi đang thực sự tồn tại. 

Mẹ tôi, thời điểm này dường như cũng mắc căn bệnh trầm cảm giống như tôi thì phải? Hẳn bà cũng bị chúng quấy nhiễu. Tôi thường thấy bà ẩn nấp trong góc phòng sau mỗi giờ mỗi phút tất bật với các loại công việc không tên. Người đàn ông duy nhất trong thế giới đàn bà thì vẫn đắm mê với việc chăm bẵm con chim gỗ mỏ xanh và luận bàn về những cuộc chiến tranh. Ông ấy vẫn không hề thích những kẻ gây chiến tranh bên ngoài cánh cửa. Thế nhưng, đêm hôm trước, đêm hôm trước. Và cả những đêm hôm trước trong tháng năm dĩ vãng, ông ấy lại là người nhen nhúm ngọn lửa chiến tranh thầm lặng dưới mái nhà. 

Con chim gỗ mỏ xanh bất động trong chiếc lồng sắt bỗng dưng biến mất một cách kỳ lạ. Chẳng lẽ chỉ sau một đêm, nó đã mọc cánh và bay? Trí nhớ của tôi ồ ạt ùa về hình bóng của gã. Không. Tốt nhất tôi không nên nhắc đến một cái tên chẳng đáng để nhớ. 

Diên vỹ đẹp lắm. Màu của nó thanh thoát tựa như một thứ ánh sáng xanh pha lẫn sắc tím huyền ảo tuyệt diệu trong vũ trụ. Thế mà, tôi vẫn thầm lặng nhắc đến gã trong một ký ức mơ hồ. Tôi thực sự không muốn nghĩ về gã thêm một phút giây nào nữa. Ấy vậy, những bông hoa diên vỹ bất giác khiến tôi liên tưởng đến gã để tự hành hạ mình. Nhưng, chắc chắn, tôi có thể kiểm soát được tất cả. Vấn đề của tôi lúc này không phải là gã, không phải cuộc tình tuổi trẻ bồng bột đó. Tôi chỉ muốn làm rõ câu chuyện của một người đàn ông thích nuôi chim và một người đàn bà lăn tăn với việc tìm kiếm thời gian đã mất về ngôi nhà sàn dài miên man bí ẩn nào khác. 

Trong ánh sáng ít ỏi, bông hoa diên vỹ xanh mà tôi mơ mộng đã nở. 

Rất rõ rệt. Dĩ nhiên, nó không nở trước mặt tôi. Đó là một bông hoa tưởng tượng. Thứ màu sắc mà tôi mơ ước được tan vào trong nó. Hoặc có thể ngược lại, nó sẽ tan vào trong tôi chẳng hạn. Giấc mộng của tôi nhiều khi khá giống với hai con người kia. Nhưng, thực ra, tôi biết nó rất khác. Giấc mộng của tôi tươi sáng hơn nhiều. Giấc mộng của tôi còn có cơ may biến thành sự thật. Bởi tôi hiểu rằng, người đàn ông thích nuôi chim, ghét những kẻ gây chiến tranh bên ngoài cánh cửa, hẳn đã rất mong con chim gỗ mỏ xanh nằm trong chiếc lồng sắt ấy biết ca hót. Người đàn bà đăm đắm về ngôi nhà sàn dài miên man kia, chắc chắn chưa biết làm cách nào để tìm ra ký ức đã mất. 

Câu kinh nguyện cầu đêm qua đứt quãng trong bóng tối. 

Tôi biết rằng, bên ngoài cánh cửa cuộc chiến đã thực sự diễn ra. Người đàn ông thích nuôi chim không bàn luận gì thêm về nó. Ông ấy chưa bao giờ có thiện cảm tốt lành gì với những kẻ thích gây chiến tranh bên ngoài cánh cửa. Ông ấy bắt đầu giảm bớt hành động gây chiến tranh dưới một mái nhà. Ông ấy lén lút đọc kinh cầu nguyện. (Như mẹ ông ấy, khi bà còn sống). 

Tôi khá bất ngờ, khi bắt gặp ông ấy lén lút đọc kinh cầu nguyện. Trước đây, ông ấy khá coi thường việc đó. “Đàn bà bao giờ cũng yếu đuối. Họ luôn sợ điều không may sẽ xảy ra, vì thế họ sẽ cầu nguyện”, ông thường lẩm bẩm những thứ như vậy trong các cuộc chuyện trò. Chẳng hạn, tôi biết, mẹ ông ấy, bà đã nhiều lần kể lể câu chuyện chiến tranh loạn lạc trong đêm tối. Rồi sau đó đọc kinh và thủ thỉ, bà lặp đi lặp lại mỗi một câu, “bom rơi đạn nổ chàng ơi, thiếp xa chàng đã mấy mươi năm rồi” (như lời bà ấy hát, khi còn sống). Bà ấy thường thì thầm đọc kinh những lúc trời vừa hửng sáng. 

Máu đã rụng xuống trên mặt đất. Hình hài của gã đồ tể với đôi mắt đầy bóng tối hiển thị rõ dần. 

Người đàn ông thích nuôi chim đã dự đoán được từ sớm về những cuộc chiến bên ngoài cánh cửa. Vì thế, khi khói lửa bùng lên, máu rơi rụng xuống sự đổ nát, ông cũng không lấy làm lạ. Ngọn lửa của một cuộc chiến ngầm dưới mái nhà đang nguội dần. Mọi thành viên, mọi cá thể dường như bắt đầu biết cách nở nụ cười với nhau, dù vẫn còn khá gượng gạo. Riêng mẹ tôi thì vẫn rơi vào trạng thái cô lập hoàn toàn về cảm xúc vì dư âm của những cuộc chiến bên trong cánh cửa. Bà chỉ muốn tìm kiếm một ngôi nhà sàn dài miên man. Nó là thứ đã để lại trên mu bàn tay bà một dấu vết về sự tồn tại của ký ức. 

Tôi và một góc tối nhìn nhau. Tôi ương ngạnh đùa giỡn với bóng tối bằng nhiều trò rất kỳ quái. Nhưng kiểu cách mà tôi thường chọn để chơi với bóng tối là ngồi im và tưởng tượng những thế giới khác giữa những bức tường. Trong bóng tối lúc này, tôi muốn chọn một vật thể duy nhất. Đó là một bông hoa diên vỹ. Nó là hình ảnh tạo nhiều cảm xúc cho tôi. Trong bóng tối, nó sáng lấp lánh, ảo diệu. Trong bóng tối, nó khơi gợi lại tuổi trẻ, các loại đam mê kỳ quái của tuổi trẻ. Ấy vậy, khi tôi muốn nó là tuổi trẻ của tôi, thì nó lại biến thành một sự bỡn cợt rất buồn cười. 

Lúc này, tôi khá mâu thuẫn với việc nhận diện giữa có và không; giữa tồn tại và không tồn tại. Đôi mắt của gã đồ tể với sự hình dung của tôi hiện lên những tia máu trong bóng tối. Giá như tôi có thể nghe thấy một vài âm thanh của sự sống còn sót lại. Hay chỉ là tiếng thì thầm của bông hoa diên vỹ thở lặng lẽ dịu dàng. Đó là thứ sắc màu không phải của chiến tranh. Và như thế, chính những lúc như thế, tôi mới đủ tỉnh trí để tiếp tục suy nghĩ về việc người đàn ông thích nuôi chim đang bắt đầu đọc kinh cầu nguyện trong đêm tối, hoặc tìm kiếm giúp người đàn bà một ngôi nhà sàn dài miên man đã bị quên lãng. Kể cả việc, tôi phải tìm biết cho được nguyên nhân tại sao con chim gỗ mỏ xanh lại biến mất một cách vô lý? 

3.

Tôi tiếp tục mơ mộng, mường tượng hình hài của một bông hoa diên vỹ xanh nở cho đến khi trời gần hửng sáng. Tôi chơi với bóng tối, và những bức tường. Vì, sau những cuộc chiến dưới mái nhà, chỉ còn lại cơn đau nhức nhối. Trong khi những tiếng thở khác vẫn đều đặn vút cao xuyên vào sâu màn đêm, tôi ngồi lặng yên, nghe tiếng thở của trí tưởng tượng. Tôi mơ. Giấc mơ về một thế giới khác thanh khiết, dịu dàng, bình yên. Tôi mơ. Những giấc mơ về cuộc chiến dưới mái nhà sẽ không bao giờ lặp lại.  

Những buổi sớm, mặt trời vỡ bùng ánh sáng len lỏi chiếu thẳng vào đầu giường, tôi ngỡ như mình đang tỉnh giấc trong căn phòng cô độc của Van Gogh. Căn phòng ấy, và cả những bầu trời đầy sao lấp lánh tỏa chiếu xuống dòng sông đêm ám ảnh tôi. Đó là giấc mơ tuyệt đẹp. Đến nỗi, tôi quên mất bông hoa diên vỹ pha sắc tím mà tôi đang mong muốn được chiêm ngắm, được hòa tan trong một thứ màu ảo diệu. Giá tôi hãy cứ sống trong hiện thực, tôi có thể đắm mê trong các loại sắc màu giản dị đời thường quanh mình, hẳn là tôi không cần phải khốn khổ kiếm tìm. Tôi vẫn mơ về những loài hoa lạ ở một thế giới khác mà tôi biết rằng, chẳng phải dễ dàng gì để đạt được một giấc mơ. 

Người đàn ông thích nuôi chim, ghét những cuộc chiến tranh bên ngoài cánh cửa đã bắt đầu có sự thay đổi khá rõ rệt.

Về diện mạo. Tôi ít cho phép mình tin vào những câu chuyện mang hơi hướng thần bí một chút. Trước đây, nhìn vào đôi mắt của ông ấy, tôi chỉ thấy những nỗi sợ hãi cuống cuồng của tôi. Và tôi chạy trốn. Những cá thể khác trong ngôi nhà ấy cũng chạy trốn. Từ khi những con chim có sự sống bị cái chết liên tục đến thăm. Từ khi con chim gỗ mỏ xanh biến mất. Từ khi ông học mẹ ông việc đọc kinh cầu nguyện vào mỗi lúc trời hửng sáng. Đôi mắt ông đã thay đổi hẳn trường năng lượng, nó không còn mây đen nữa. Mắt đã đủ đầy ánh sáng, thì cả khuôn mặt người cũng thế. Chúng bừng sáng thanh thoát khác hẳn những tháng ngày u tối.  

Chỉ còn lại tôi. Một thực thể rối rắm, chứa đầy mâu thuẫn vẫn tiếp tục bị sa vào cái bẫy của những giấc mơ. Tôi chưa giải quyết được giấc mơ của mình. Và, cả giấc mơ của mẹ. Người đàn bà bị mất ký ức về một ngôi nhà sàn dài miên man. 

4.

Những mùa mưa dài ngày ở rừng núi, không phải một giấc mơ.

Ngôi nhà lọt thỏm trong thung lũng. Lửa được nhen nhóm lên ở phía sau gian bếp phụ, hòng xua tan bầu không khí của mây mù xám đặc. Người đàn bà mất ký ức đang bụm miệng thổi phù phù vào những đốm than hồng khi trời chiều vừa tạm ngớt một cơn mưa. Khá lâu, tôi không được nghe tiếng bà hát khe khẽ khi đôi tay nhỏ bé sần sùi đang thoăn thoắt làm việc. Và tôi cũng chẳng còn thấy điệu múa hồn nhiên như một thánh nữ của núi rừng nữa. Tôi mường tượng lại thứ vũ điệu ấy, có khi nó vượt thoát khỏi những đau đớn, nhưng có khi nó để lại trong thẳm sâu của người múa một nỗi đau chồng lấp khác, lớn hơn nhiều. Tôi dứt khoát, trong mỗi phút giây tỉnh táo của tôi, tôi phải làm sao để gỡ cuộn tơ vò này. Tôi phải tìm ra ngôi nhà dài miên man trong ký ức đã bị đánh mất cho bà ấy. Nó có hình hài rõ ràng như thế rồi. Tôi chỉ việc đi tìm. Tôi nhớ về chi tiết của một ngọn lửa. Nó là điều có thực. Một ngọn lửa đã khô và thành một vết sẹo, nằm trên mu bàn tay trái của bà.

Như đã nói, tôi là một thực thể rối rắm và đầy mâu thuẫn. Tôi vừa muốn giúp người đàn ông thích nuôi chim bớt đi sự hậm hực với những cuộc chiến bên ngoài cánh cửa, bớt đi những sân si với một cuộc chiến dưới mái nhà. Tôi còn khao khát giúp người đàn bà mất ký ức tìm lại nguyên nhân ra đời của chiếc sẹo lửa trên mu bàn tay ở một ngôi nhà sàn dài miên man nào đó. Hẳn nó là một vết dấu của cái ác. Con người vốn dĩ chẳng phải là “nhân chi sơ tính bổn thiện” như thứ lý thuyết nào đó dai nhẳng bám riết. 

Tôi chưa kịp định hình sẽ bắt đầu ra sao, thì sự xuất hiện của con chim gỗ mỏ xanh đã khiến người đàn ông thích nuôi chim nhận ra sự vô thường của đời sống này. Ấy thế mà nó biến mất. Dẫu sao, may mắn thay, sự biến mất của nó ngược lại, khiến mắt ông sáng rõ. Tôi chỉ còn mỗi sự dày vò về ký ức của mẹ. Nhưng, trong khoảng trắng của những giấc mơ, tôi ích kỷ với trò chơi mộng mị, tìm kiếm sắc màu của hoa diên vỹ. Bông hoa quyến dụ ấy liệu có thể tồn tại được lâu, liệu có thể chờ đợi tôi? Mọi giác quan của tôi đang mong ngóng được mở toang cánh cửa để bóng tối biến mất, để bình minh xuất hiện. Đó là thứ ánh sáng tinh sạch, chữa lành mà tôi khao khát, như hoa diên vỹ vậy.  

“Khi quyền lực nằm trong tay một kẻ bị mắc bệnh hoang tưởng, thì máu và nước mắt sẽ tiếp tục đổ xuống”. Mẹ từng lảm nhảm những lời ấy trong bóng tối. Tôi nhớ rằng, mẹ chưa bao giờ phản ứng bằng bất cứ hành động nào mạnh mẽ, cụ thể trước kẻ đã từng gây ra cuộc chiến dưới mái nhà. Rất nhiều lần tôi ám ảnh bởi những cơn mưa. Chẳng phải vì chúng xấu xí, hay không đủ mơ mộng trong thế giới của tôi. Nhưng, những nhân vật trong cuộc chiến kia dù không có máu thịt rơi, dù chỉ có tiếng mưa cũng đã khiến tôi phải ẩn nấp sâu hơn vào bóng tối của mình. Tôi sợ phải nhìn thấy người đàn bà ấy trong những đêm mưa cũ kỹ? 

Tôi chọn việc mộng mơ với Những bông hoa nguyên âm. Iris, hòng vực dậy thứ tinh thần tối xám trong trí não tôi. Hẳn là, tôi đã mơ rất lâu, rất sâu. Đến bây giờ tôi vẫn còn thèm thuồng được tận mắt chiêm ngắm bông hoa Iris đó. Dù sao, nó, những bông hoa nguyên âm vẫn là một hình hài tưởng tượng đẹp nhất mà tôi có lúc này. Tôi nghĩ, mẹ cũng đã chọn ký ức về ngôi nhà sàn dài miên man kia để tiếp tục thờ ơ trước nỗi đau, tiếp tục lặng im và tha thứ. Nhưng, tôi dám chắc những cuộc chiến sẽ không bao giờ dừng lại. Thứ đó không phải là điều bất ngờ, nó vẫn theo đúng quy trình của vũ trụ. Cuộc chiến này qua đi, cuộc chiến khác sẽ tới. Chiến tranh, có thể là cách để thế giới này chuyển biến giai đoạn của sự tồn tại. Cái cũ chết đi, cái mới xuất hiện. Tôi bắt đầu học theo mẹ việc nói nhảm về những điều tôi biết.

 “Chiến tranh vẫn đang ngấm ngầm diễn ra mỗi khoảnh khắc không tính bằng giây, bằng phút, mà tính bằng vận tốc của ánh sáng.” 

5. 

Ánh sáng hữu hình hay vô hình? 

Tôi đi xuyên qua một cánh cửa đầy ánh sáng. Nơi tôi chạm chân đến đầu tiên không phải là địa điểm mà tôi đang day dứt nghĩ cách tìm kiếm ngôi nhà sàn dài miên man cho người đàn bà bị mất ký ức. Đó là một thị trấn. Tôi thường xuyên bị cảm giác ẩn ức về những thị trấn ám ảnh, bám riết. (Như trước kia ở thị trấn mà tôi sinh ra chẳng hạn, vì nó có khá nhiều thứ khiến tôi không muốn nhớ đến). Nhưng, khi rời khỏi nó, tôi gần như biết cách mơ về một thị trấn có sắc màu tươi sáng đẹp đẽ hơn. Thị trấn mũi tên là một địa chỉ nằm trong danh sách mà tôi mong muốn đến, để được đắm chìm trong cảm thức cô đơn của vũ trụ. Ấy thế, cánh cửa ánh sáng mở ra trước mặt tôi lúc này lại là một thị trấn tôi thường xuyên ngắm nghía bằng hình ảnh từ xa. Mặc nhiên, tôi cho rằng, xác suất tôi vẫn đang nằm mơ là rất cao. 

Nhưng, trước mắt tôi, trong thứ ánh sáng chói lòa ấy, toàn cảnh của thị trấn mũi tên bên kia cánh cửa ánh sáng hiển hiện rất rõ. Tôi có thể cảm nhận được hơi đất, nắng và mùi hương của hoa thơm cỏ lạ. Và kể cả nó, cách mà tôi gọi tên chẳng hạn, những bông hoa nguyên âm. Iris. Tôi biết, sự quyến rũ Iris đem đến cho tôi, không chỉ có màu sắc. Nó là biểu tượng của việc hợp nhất ba dòng sông MississippiMissouri và Illinois. Nó là quyền năng thống trị, là cái đẹp, là sự trinh tiết đức hạnh của một người phụ nữ có tên bắt đầu bằng ký tự M. Với tôi, có thể nó chỉ là một nốt thăng trong hành trình tìm kiếm những ẩn ức về thế giới. Hoặc ngay cả việc tôi đang mong muốn tự soi chiếu vào vũ trụ, vào bản thể rằng, tại sao tôi tồn tại dưới hình dạng này, dưới ngữ ngôn kia mà không phải là một hình dạng khác, ngữ ngôn khác. Và, đơn giản hơn Iris chỉ là cái tên thật đẹp. 

Bước qua cánh cửa ánh sáng thứ hai, tôi lại thấy con chim gỗ mỏ xanh của người đàn ông thích nuôi chim. Nó ở đó, ngay chính thị trấn mà tôi chạm chân đến trong giấc mơ của mình. Con chim gỗ mỏ xanh, ông ấy nuôi trong chiếc lồng sắt. Tôi quan sát nó một cách kỹ lưỡng, tôi phát hiện ra một hình ảnh thú vị, bông hoa nguyên âm. Iris, ở ngay phía trên đầu của nó. Vậy là, cuộc tìm kiếm của tôi, chỉ còn thiếu mỗi một ngôi nhà sàn dài miên man cho người đàn bà mất ký ức. Tôi thực sự rất muốn biết, dấu vết của chiếc sẹo lửa trên mu bàn tay của bà xuất hiện như thế nào?

Cánh cửa ánh sáng thứ ba chạm vào chân tôi giữa chênh vênh những ngọn núi thẳm sâu trong rừng. Khu rừng này khá quen, hình như nó chính là nơi người đàn ông thích nuôi chim đã từng đưa tôi đến. Ở đó có một thế giới xanh như cổ tích. Bước tiếp, tôi thấy những đốm lửa. Và tôi thấy trong sương mù hiện ra một ngôi nhà sàn dài miên man. Nó quả thật rất xa lạ. Có khi, đây là nơi giam cầm ký ức của người đàn bà có vết sẹo bỏng trên mu bàn tay. Tôi tò mò, nhưng vẫn hướng về việc kiếm tìm những hình dung khác của riêng mình về một khu rừng. Khi tỉnh thức, tôi trở về với thực tại, dù hai con ngươi vẫn mở đều đặn trong bóng tối chỉ để tìm kiếm hình hài của những đôi mắt. Tôi mơ hồ giữa thực và ảo, giữa cánh cửa của căn phòng nhỏ và cánh cửa ánh sáng. Chuyến đi vào tiềm thức của tôi chẳng chứng minh được điều gì về sự tồn tại. Tôi chỉ muốn chạy trốn. Thực tình là vậy. Giá tôi có thể bỏ lại cánh cửa bóng tối ở phía sau lưng và biến mất trong cánh cửa ánh sáng này. 

6

Diên. Tên tôi xuất hiện trong một giấc mơ của mẹ. 

Nhiều khi tôi nghĩ mãi về những cái tên. Chúng là thứ đánh dấu mốc cho sự tồn tại của tôi dưới một hình hài, một ngôn ngữ và một số phận. Mọi thứ trên thế gian này đều đã được thượng đế sắp bày sẵn, vậy mà tôi vẫn luôn thắc mắc, tìm kiếm chính tôi qua các hình dạng ấy. Tôi không hài lòng với những cái tên bắt đầu bằng ký tự a, b, c bình thường. Ngay từ bé tôi đã phản ứng với mẹ về chữ lót trong cái tên của con gái, nó thực rất ủy mị. Ấy thế, khi chớm tuổi trăng tròn, tôi lại để ý đến cái tên của mình khi ghép với một chữ khác sẽ thành loài hoa mà tôi yêu thích.

Vỹ, là tên của chàng trai mười tám tuổi mà tôi vẫn thường thấy khá nhiều lần trong giấc mơ. Ánh mắt anh ta như màu hoa nguyên âm – Iris quyến rũ kỳ bí, như cái lưng áo màu xanh đại dương đã ngoảnh mặt rời khỏi con đường mùa thu năm tôi mười sáu. Ấy thế, anh ta không phải là tâm điểm trong cuộc tìm kiếm vật vã về nguồn cội của tôi và người đàn bà sinh ra từ rừng núi. Vào cái đêm tối trời, mưa như trút nước xuống thung lũng. Một mảnh sét rạch ngang trên nóc căn nhà đã qua ba thế hệ. Người đàn ông thích nuôi nhốt những con chim và thù ghét chiến tranh đã hét lên trong bóng tối, “hãy mang súng đến đây, tao phải giết hết, phải bắn hết”. Trong chiếc lồng trống rỗng ngay góc nhà, một con chim mỏ xanh bất ngờ xuất hiện, và đang cất tiếng nhại theo, “mang súng đến đây, tao phải giết, phải bắn”. 

Người đàn bà có vết sẹo bỏng trên mu bàn tay trái không biết mình đến từ đâu, mắt nhắm nghiền dưới chân bàn thờ đang lẩm bẩm lặp đi lặp lại những lời kỳ lạ, quyền lực là bóng tối, bóng tối là tôi, bóng tối là ta. Một làn khói mỏng như sương mù mờ quen thuộc đang bao phủ vây ráp trong khoảng không gian nhỏ hẹp của căn phòng lớn. Người đàn ông thích nuôi chim, chồng bà, kẻ ghét chiến tranh bên ngoài cánh cửa, kẻ đã biến cuộc đời bà thành một mảng sương mù dày đặc không bao giờ tan được, đang ngồi bất động nhìn xuống sàn nhà. Cô con gái của ông nằm bất động trên một vũng mây màu xám tối, hệt như bức tranh ông đã thấy đâu đó trong giấc mơ cũ kỹ thời trẻ dại. Ông nhớ ra, Diên đã từng tò mò hỏi về nó, một khẩu súng săn nhỏ. Ông cũng nhớ ra, ông đã từng đưa Diên vào rừng, khám phá thế giới cổ tích của trẻ con. Nhưng, chẳng biết từ khi nào, với ông, rừng chỉ còn là một cái chấm nhỏ, bé xíu như đôi mắt những con chim bị nhốt trong lồng vậy. Rừng giờ cũng đã nằm yên trong cả đôi mắt nhắm nghiền của Diên. Ông mấp máy môi đọc kinh cầu nguyện như mẹ già trước đây, và sau đó gào thét trong nỗi đau vô thức của một người cha, Bóng tối là tôi, bóng tối là ta.

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Water | Xuân Diệu

Nguyễn Thị Phương Trâm in Seoul, South Korea, April 2014

A poem in Vietnamese by Xuân Diệu
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

You gave me water
And I turned it into wine
A spirit of boundless desire
Warm fragrant sake divine

Brewing hunger in your eyes
In these waters I will hide
Our breath
The consummating spirit

In this water I will add thus far
My spirit, laughter
Shimmering stars
Watchful blue sky

Ah! Water that will quench my passion
Since the dawning of life
This splendid life
Infinitely pours

Again I would like to raise my glass
Drink darling if you dare
But take it easy, not all of it
Otherwise you’ll be knocked out yeah

Chén nước

Em cho anh chén nước,
Anh biến thành rượu nho
Rượu triền miên mộng ước
Rượu nồng nàn thơm tho

Cái men trong mắt em
Anh để vào chén nước;
Hương hơi thở của mình
Đã hoá thành rượu chuốc

Anh thêm vào chén nước
Rượu cất của hồn anh,
Rượu cười sao lấp lánh
Như ánh mắt trời xanh

Ôi! Chén rượu ân tình
Từ bình minh sự sống
Rót mãi tới vô cùng
Của cuộc đời lồng lộng

Anh lại nâng chén nước
Mời em nhắp môi cho
Em ơi, đừng uống hết
Kẻo say chết bây giờ

—–
(Sài Gòn – Mĩ Tho 17-8-1975)


Xuân Diệu (2/2/1916 – 18/12/1985) born Ngô Xuân Diệu, Trảo Nha was another pen name, from Trảo Nha village, Can Lộc district, Hà Tĩnh province, but he was born in his mother’s hometown Hoà Phước commune, Tuy Phước district, Bình Định province, where his father Ngô Xuân Thọ worked as a teacher and where his father met his mother Nguyễn Thị Hiệp. he lived in Tuy Phước till he was 11 years old(1927) before moving to Quy Nhơn for school. Around 1936-1937, he attained his baccalaureate in Huế. In 1937, Xuân Diệu studied Law in Hà Nội while he wrote for a newspaper, between 1938-1940 inclusively he was a member of Tự lực văn đoàn, in the same period shared an attic with Huy Cận at 40 Hàng Than.

source: thivien.net

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Ant tomb | Trần Băng Khuê

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Published on LatinosUSA

1.

He hates ants.

All species, the entire family of formicidae.

Black ants, red ants, big ants, small ants, clawed ants, pharoah ants.

People come up with wonderful ways to elevate “virtue”, like how ants are diligent and hard working. In general, they use such metaphors to dignify their virtue. Ants, naturally are noted in paragraphs, in literature. Ants, the formicidae family, a topic he is beginning to find rather nonsensical and irrelevant, a boring and lazy way to teach and convey the aptitude of morality.

He hates ants.

They are everywhere and they come in hordes, armies of them line up in a row each time they find a feast. Then again, that is not the real reason he finds them detestable. There are a few other reasons. Though, rather unfounded. To put it simply, he finds them a bother. Their existence in hordes is not unlike the way people are racing each other to populate the earth. People find him mumbling constantly something like, “How is it possible that they are everywhere?”. He finds them in every hole in the house, in the cracks of the wall, on the window sill. They even make themselves available around the latches and key holes.

They can be found in every corner and alley way. Even on the termite nests formed overnight after the rain. He would watch the few ants stray from their colony, swinging precariously, crawling around slowly on his arm, eyes, and nose. Not once were they afraid. Upon nightfall, before he goes to sleep, he has the unusual habit of using a torch to check for ants on his blanket and tatami mat. He is rather relaxed when he is doing it, he’s not out to kill the small petty creature the way he would mosquitoes. Patiently. He would gently coax them onto his hand before releasing them on the ground. He is fascinated by the painting of An Ant Tomb sitting in the dark. Painting is his way of retaliating against the existence of the pesty creatures in his life. A maze reserved for the ants. The maze has the shape of a round tomb – deep, with lots of caves and caverns, endless turns and tunnels, but without a way out.

Sometimes, he would find the ants congregating in groups, they would carry the dead mosquitoes he had killed and thrown on the floor, marching like battalions of soldiers. As though they were performing some kind of sacrifice. The dead mosquito is the ants offering. To them, he is lazy, useless and wasteful. More than often he would find them picking on him. They crawl all over his hand, onto his face, into the dark and hidden places on his body, to simply bite him gently out of their affection for him, so he can at least acknowledge their existence. The mosquitoes entertain no such thing. They crave blood. And when he is on the attack, there is no holding back. Plus, blood is their sustenance. And blood sucking creatures are not his concern. Since he knows they do not discriminate, they do not care where the blood comes from. Though, they, these blood sucking mosquitoes, he’s pretty sure that: “They would choose the most pungent blood to hunt down first”.

2.

Before he knew it, ants became his obsession, his concern. Not necessarily are those mosquitoes. Even though, the mosquitoes were the ones on a constant hunt for what is red inside his body daily with the dark.

3.

He was in the middle of painting a horde of ants, (the whole formicidae family and the caverns in the ground). There was a sudden knock on the door. He couldn’t be bothered standing up. There is nothing he finds fascinating about interacting with people. The knocks on his door were steady and constant but grew louder. He refused to move from his spot. But his curiosity grew. He thought about who the person might be out of all the people he knew. No one was close to him enough for him to bother about. He has no energy to entertain people beyond his personal space. The knocks on the door became more urgent the third time. He moved his arm in the motion of utter exhaustion, chucking his paintbrush on the floor. He opened the door. A rather eccentric being seemed to have fallen out of the sky was right there at his doorway. It has the body of a person, clearly, but its head is that of an ant. Long whiskers and glasses. In the formicidae world, it has to be some kind of Professor. He stared at the eccentric creature. The creature studied him from head to toe. Before the Ant person proceeded to push him aside and enter his house. It walked toward the painting of the ant maze. It opened its mouth, its hairy ant finger pointed at the painting asking, “Is this where we will live, at the heart of darkness?”.

“At the heart of darkness”, as he repeated what the Ant person had said and thought about what he was trying to build, create a piece that could permanently bury the ants, to satisfy his frustrating dark desire. On the other hand, he understood that he was Human – not Ant. Humans are greedy. As for his desire? Now and then creating a tomb in a painting turned him on. He will bury the ant species in it. Then the cockroaches, rats and mosquitoes. Such disgusting creatures should be eliminated from such a beautiful world. The Ant person was quiet, its whispers were like the sound of the wind in his ear, “what will happen when all living things turn into human beings?”

He turned to look at the Ant person in the face. The Ant person, within that very moment, had disappeared. And the disappearance did not bother him. All he cares about is whether it is there or not? He dropped his brush after another glass of wine. He stared and stared again at his painting. He had no control then over his faculty. He had been drinking before he had even started on the painting, at “the heart of darkness” of the Ant tomb. He finds himself meandering the tiny caves, going in and out, turning left and then right inside a maze without an exit to escape danger. But at that very moment, the Ant person appeared, chasing him out of the heart of darkness. He screamed: “I will imprison all of you in here. And we’ll see how diligent, and hard working you will be, before you can find your way out?”. Then he thought, might as well, and it could be fun to throw a dead mosquito here and there in there for a nice plot twist. In his heart he hated the ants. But, if he were to really give it more thought, he finds that, he was more excited about killing all those mosquitoes.

He tried to sober up, tried to concentrate. He finds himself standing in front of an unfinished painting of a tomb. Nothing but a painting with ants lining up in a row, marching around a spot of undefined colour of the soil. Without much thought he reached out and grabbed the clc electric racket with a three-month battery life, with no warranty and waved it up and down. The dead mosquitoes constantly fell to the ground. Exciting the ants not in the painting. They aligned in rows, getting themselves into formation right in front of him. The ants in the paint stopped moving, they stopped crawling. He saw the human body with the ant head raised its feather duster, like a conductor of an orchestra. The ant from the heart of darkness formed two lines like performers on a stage. And it was not long before he felt his body was being sucked into a giant painting of a tomb. An entire world of ants surrounded him.

4.

Once, he had dreamed about his glorious death. He saw his body being carried away by a horde of ants like he was their sacrifice. And at the head of the procession was the Ant person marching grandly to the sound of music just for ants.

5.

Winter came as a surprise to his sparsely decorated room. He was barely alive. There were no ants to take him anywhere. Rather, it was the opposite, he was surrounded, battling, trying to defend himself from being the target of the mosquitoes. Because his blood was pungent and intoxicating.

He more than understood, he thought about ending such a lonely existence. He tried to kill himself. He tried to find the meaning tucked between what is there and what is not. What is the meaning of passion? Creativity? There was nothing he found interesting, ultimate high in this life. It’s at least fortunate that he can paint. Something to do, to kill time. He has to paint, he has to finish whatever he had started. He hates people who are not committed. Like how he has to finish the painting of the Ant Tomb. He looked deeper into the heart of darkness, the ant caves and caverns, the painting was a mess. He was unsatisfied with the colour of the tomb. While the mosquitoes continued to attack his skinny malnourished body.

6.

The sunrise round and just right peaked over the top of the mountain, and perched there right on top of the holey canopy. The farmers heading out on to the fields discovered the hordes of ants, lots and lots of ants. Big and small, ants the colour of cockroaches, red and black ants, or armies of tiny pharoah ants. They all line up, row after row, line after line, marching down the well worn path. A couple of curious spectators followed them. Then, people were shouting, wide eyes, witnesses to a terrifying death none of them had ever seen before. A dry and shrivelled dead body in the middle of a painting of an ant tomb. The hollow of his eyes, like a maze, was full of ants. And, dead mosquitoes with their fat bellies full of blood, spattered all around him. Some of the mosquitoes were so full they couldn’t fly, their suckers still pinned on the dead body.

The daily herald published a rather short article about the strange and mysterious death of a man with long hair who lived behind a grove at the foot of the sacred mountain. The people who lived in the surrounding part of the forest were adamant that, the rather eccentric painter had violated a forbidden domain of spirits. And, hence, he must die.

That part of the forest shrivelled up through the chill. The turn of the seasons. 

People who work in the fields in the highlands, still cut through the same worn path to head up the mountain to seed the land. But, this year, no one amongst them cares for the harvest. Now and then, they feel as though they were lost in a maze the shape of the ant tomb in the painting by the artist who had died.

Truyện ngắn

Mộ kiến

1

Gã ghét kiến.
Tất cả các loại, họ nhà kiến.
Kiến đen, kiến đỏ, kiến nhỏ, kiến to, kiến càng, kiến gió. 

Người ta vẫn thường phác thảo những lời hoa mĩ để tụng ca về “đạo đức”, về sự cần cù, chăm chỉ của loài kiến. Chẳng qua, họ muốn bóng gió, ẩn dụ về đạo đức của chính mình. Kiến, hiển nhiên bước chân vào từ chương, chữ nghĩa. Kiến, bọn nhà kiến, theo như gã nhận thấy, chúng bắt đầu biến thành đề tài lảm nhảm với những câu chuyện kể mang tính chất khuyên răn mốc thếch, dạy dỗ nhàm chán. 

Gã ghét kiến.
Chúng rất đông và thường kéo bầy đàn xếp thành từng hàng dài mỗi khi phát hiện được miếng mồi ngon. Cũng không hẳn vì thế mà gã ghét kiến. Còn vài lí do khác. Dẫu, khá ngớ ngẩn. Gã chỉ nghĩ đơn giản rằng, chúng thật quá phiền phức. Sự tồn tại đông đúc của chúng hệt như muốn đua chen với cuộc chơi gia tăng dân số của thế giới loài người vậy. Gã thường lẩm bẩm tự hỏi, “tại sao chúng có mặt ở khắp mọi nơi nhỉ?”. Gã thấy chúng ở trong hốc nhà. Bờ tường. Trên gờ cửa sổ. Ngay trong lỗ khóa chốt cũng có sự hiện diện của chúng.

Chúng ở khắp mọi hóc hẻm. Ngay cả trên những tổ mối vừa ụ đất lên khi trời mưa. Gã đã từng thử quan sát và cho phép vài con kiến lạc đàn, hồn nhiên đánh đu, nhích chân từ từ trên cánh tay, trên mắt, trên mũi gã. Chúng không hề sợ sệt. Nhiều đêm xuống, trước khi đi ngủ, gã thường làm cái công việc kỳ quặc là soi mắt trên chăn chiếu để tìm kiến. Những lúc này, lòng gã mềm lại, gã không làm cái việc sát sinh giống loài bé nhỏ phiền phức ấy như những con muỗi. Gã nhẹ tay hết sức có thể, và bắt chúng thả xuống đất. Một cách kiên nhẫn. Gã vẫn đang nghĩ nhiều đến bức tranh Mộ Kiến trong lòng tăm tối. Bức tranh là thứ gã trả đũa sự có mặt của những loại sâu bọ đã làm phiền đến cuộc sống riêng tư của gã. Mê cung dành riêng cho loài kiến. Mê cung có hình nấm mộ tròn – sâu, rất nhiều hang, vô số ngã rẽ, nhưng không có lối ra.

Có lần, bất ngờ, gã phát hiện ra bọn kiến rủ rê nhau, kéo thành từng nhóm một khiêng xác những con muỗi gã vừa vứt xuống nền nhà bóng loáng đi lang thang như hành quân. Tưởng chúng đang chơi trò tế lễ. Xác muỗi là vật tế của bầy kiến. Gã chỉ là một con người nhàm chán thừa thãi đối với chúng. Dăm bận, gã cũng bị chúng trêu đùa, tấn công. Chúng bò lổm ngổm trên tay gã, trên mặt gã, trên tóc gã. Gã lặng im. Chúng lấn lướt, luồn sâu vào mọi ngóc ngách trong người gã, kể cả những nơi sâu kín nhất, chỉ để cắn một phát nhẹ nhàng giao lưu chơi vậy, để gã biết sự tồn tại của chúng trên thế gian này. Những con muỗi chắc hẳn không thích đùa giỡn kiểu đó. Chúng thèm máu. Và một khi đã tấn công, thì không nhân nhượng. Dù sao máu cũng là thức ăn của chúng. Gã không đề cập đến các thể loại máu. Vì gã biết, chắc chắn, bọn muỗi sẽ chẳng trừ ra đối tượng máu nào. Nhưng, chúng, những con muỗi thèm máu ấy, gã dám chắc: “Chúng sẽ lựa loại máu thơm nhất để bắt đầu cuộc đi săn”. 

2

Kiến bất giác trở thành nỗi ám ảnh và quan tâm của gã. Không hẳn phải là những con muỗi. Dù rằng, muỗi là thứ quái vật vẫn thường xuyên làm cuộc đi săn màu đỏ trong người gã mỗi ngày cùng với bóng tối. 

3. 

Gã đang vẽ dở dang bức tranh về bọn kiến, (cả họ nhà kiến và những cái hang trong lòng đất). Đột nhiên ai đó gõ cửa. Gã không buồn đứng dậy. Cuộc giao tiếp với thế giới con người chẳng khiến gã động lòng vui thích gì. Tiếng gõ vẫn tiếp tục vang lên, chầm chậm. Gã dứt khoát không rời khỏi vị trí. Nhưng gã khá tò mò. Gã nghĩ qua về những con người gã quen biết. Chẳng có ai thân thiết. Gã không hứng thú giao tiếp với thế giới bên ngoài. Tiếng gõ dồn dập hơn lần thứ ba. Gã uể oải quẳng cây cọ xuống nền. Gã mở cửa. Một kẻ lập dị từ trên trời rớt xuống đang đứng trước cửa nhà gã. Thân người, rõ ràng, nhưng đầu có hình dáng con kiến. Râu mép dài và đeo cả kính. Trong thế giới loài kiến, hẳn phải gọi thứ lập dị này là Giáo sư kiến chứ chẳng chơi. Gã nhìn chằm chằm vào kẻ lập dị. Kẻ lập dị nhìn gã từ đầu đến chân. Sau đó Người Kiến tự nhiên đẩy gã sang một bên và bước hẳn vào bên trong căn phòng. Hắn bước về phía bức tranh mê cung của loài kiến. Hắn mở miệng, những ngón tay kiến đầy lông thò ra chỉ trỏ vào bức tranh, và hỏi, “chúng tôi sẽ ở trong lòng tăm tối này sao?”.

“Trong lòng tăm tối”, Gã nhắc lại lời của Người Kiến và nghĩ về việc gã đang nhen nhóm xây dựng, tạo tác một tác phẩm để chôn cất vĩnh viễn lũ kiến, hòng thỏa mãn sự ức chế cá nhân gã. Mặt khác, gã biết mình là Người – không phải Kiến. Loài người vốn dĩ đầy tham vọng. Tham vọng của gã là gì nhỉ? Thinh thoảng tạo ra vài nấm mộ trong tranh khiến gã phấn khích. Gã sẽ chôn vùi loài kiến trong đó. Rồi sẽ đến gián, chuột và muỗi. Những sinh vật gớm guốc ấy nên biến mất khỏi thế giới tươi đẹp này. Người Kiến im lặng, sau đó thì thào như gió thoảng qua tai gã, “khi các loại sinh vật tiến hóa thành con người, không biết chuyện gì sẽ xảy ra?”

Gã quay sang nhìn trực diện. Người Kiến, bất giác biến mất. Gã không bận tâm đến sự biến mất đó. Mọi thứ tồn tại đối với gã chỉ là có và không? Gã buông cọ sau cốc rượu tiếp theo. Gã nhìn chằm chằm trở lại vào bức tranh. Gã không thể kiểm soát tình trạng tinh thần của mình lúc này. Gã đã có uống một chút rượu trước khi vẽ. Gã có cảm giác mình bị lạc vào chính bức tranh, vào “lòng tăm tối” của nấm mộ Kiến. Gã đang đi quanh những cái hang rất nhỏ, có nhiều lối rẽ như một mê cung không cửa thoát hiểm. Nhưng ngay lúc ấy, Người Kiến lại xuất hiện và xua đuổi gã ra khỏi lòng tăm tối. Gã gào lên: “Tao sẽ nhốt hết chúng mày vào đây. Để xem, sự cần cù, kiên nhẫn liệu có đủ sức tìm được lối ra chăng?”. Gã gượm nghĩ thêm, chẳng hạn nhân tiện ném xác bọn muỗi thèm máu vào trong hang chắc sẽ huyên náo vui vẻ lắm đây. Gã để tâm đến sự vụ ghét bỏ những con kiến. Nhưng, có bận, gã nhận ra, gã bắt đầu cảm thấy hứng khởi với việc giết chết những con muỗi. 

Gã cố gắng tỉnh táo một chút, cố gắng kiểm soát men rượu. Gã thấy mình vẫn đang đứng trước một bức tranh hình nấm mộ dang dở. Chẳng có gì ngoài bức tranh với những bầy kiến đang xếp hàng đi vòng quanh đến một đoạn gam màu chưa được hoàn thành hình thù của đất. Gã vô thức đưa tay với cây vợt muỗi bằng điện thương hiệu clc, hạn sử dụng ba tháng, không bảo hành vung lên hạ xuống. Xác muỗi rớt xuống nền nhà liên tục. Bọn kiến bên ngoài bức tranh phấn khích. Chúng dàn trận, sắp xếp đội hình trước mặt gã. Bọn kiến trong bức tranh thì dừng chân, không bò tiếp. Gã thấy kẻ thân người đầu kiến cầm một cành cây bụi đưa lên cao, như vị chỉ huy trưởng của dàn nhạc giao hưởng. Bầy kiến từ trong lòng tăm tối xếp thành hai hàng như những nghệ sĩ thực thụ trên sân khấu. Chẳng bao lâu, gã thấy cả thân người gã bị hút thẳng vào trong bức tranh hình nấm mộ khổ lớn. Cả thế giới loài kiến vây xung quanh gã. 

4

Có lần gã đã nằm mơ về khung cảnh diễn ra cái chết vĩ đại của mình. Gã thấy mình bị đàn kiến dàn thành hàng khiêng xác gã đến giàn tế lễ. Phía trước là Người Kiến dẫn đầu một cách hoành tráng trong bản nhạc riêng của loài kiến. 

5. 

Khi mùa đông hốt hoảng ùa vào căn phòng trống trải này. Gã vẫn còn sống sờ sờ. Chẳng có bầy kiến nào khiêng gã đi lang thang. Ngược lại, gã bị bao vây, dàn trận, và bị biến thành đối tượng săn lùng của bọn muỗi. Vì máu gã thơm. 

Gã biết, gã từng nghĩ đến việc dứt điểm cuộc chơi trong một thế giới cô độc. Gã đã thử tự sát. Gã đã thử tìm kiếm ý nghĩa của sự tồn tại giữa có và không. Đam mê là thứ gì? Sáng tạo là gì? Gã không tìm thấy những niềm vui thích, hứng thú tuyệt đối trong cuộc đời này. May ra, gã biết vẽ. Một trò chơi tạm bợ. Gã phảỉ vẽ, phải hoàn thành thứ gì đó gã bắt đầu. Gã không thích những kẻ nửa vời. Chẳng hạn như gã phải vẽ xong bức tranh mộ kiến. Gã nhìn sâu vào trong lòng tăm tối, những hang ổ của kiến, bức tranh hỗn độn. Sắc màu của nấm mộ kiến chưa khiến gã hài lòng. Bọn muỗi thì vẫn đều đặn thay nhau kiếm ăn trên thân hình gầy còm của gã. 

6.

Bình minh vừa vặn nở tròn đầy phía sau chân núi, và đậu lại trên các tầng lá thủng. Người đi làm nương rẫy sớm trên các sườn đồi phát hiện những đàn kiến, có rất nhiều kiến. Từ kiến to, kiến nhỏ, kiến màu cánh gián, cho đến kiến đỏ và kiến đen, hoặc cả bọn kiến gió bé xíu. Chúng kéo thành bầy, thành đàn, xếp hàng bò tăng tốc ở lối đường mòn. Một vài kẻ có máu tò mò, lần bước theo chúng. Rồi, người ta hú hét thật to, những con mắt nhìn thấy sự chết kinh hãi gào lên trước khung cảnh hiển hiện tưởng chừng như chưa từng thấy bao giờ. Một xác người khô quắt, nằm giữa bức tranh mộ kiến. Hốc mắt anh ta, như những mê cung, chỉ toàn là kiến. Và, xác những con muỗi căng phồng bụng, máu bắn tung tóe nằm rải rác xung quanh. Có con no kềnh bụng máu không thể bay nổi, vòi vẫn cắm trên xác người.

Tờ tin tức hàng ngày đã đăng một nội dung khá ngắn gọn về cái chết lạ kỳ và bí ẩn của một người đàn ông tóc dài ở phía sau khu rừng dưới chân ngọn núi thiêng. Dân trong vùng dứt khoát cho rằng, anh ta, gã họa sĩ lập dị kia đã phạm đến vùng cấm địa của thần linh. Và, vì thế, anh ta phải chết. 

Khu rừng co quắp lại trong những cơn chớm rét. Thời điểm giao mùa. 

Những người làm nương rẫy trên vùng cao nguyên, vẫn băng qua đường mòn để lên núi gieo hạt. Nhưng, năm nay, chẳng một ai trong số họ dám nghĩ ngợi gì nhiều hơn về những mùa lúa. Thỉnh thoảng, họ cảm giác như mình bị lạc trên con đường mòn huyết mạch hệt như một mê cung hình nấm mộ của loài kiến trong bức tranh của gã họa sĩ đã chết. 

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.