“Bệnh chứng MAGA”, từ góc nhìn Đông y | Nguyễn Hoàng Văn

Sydney Opera House. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Sydney, Australia February 26, 2025

Để tìm lối ra cho cái tình thế tuyệt vọng này, khi cơn say của lực lượng MAGA vẫn lờ lững nối dài, chúng ta cần quay sang Đông y, từ y lý kinh điển đến những giai thoại, những hư cấu trong tiểu thuyết chương hồi.

Nên làm như thế bởi Tây y, dẫu đã có bảy năm với The Dangerous Case of Donald Trump: 27 Psychiatrists and Mental Health Experts Assess a President, mà vẫn thất bại, để y hồi sinh với quyền lực còn dữ dội hơn. [1] Nên làm như thế bởi, không thành công thì cũng được… thảnh thơi. Có làm như thế thì mới có cơ may thư giãn đôi chút giữa cái thời mà, hễ bật ti vi lên là lại bực bội tắt ngay để khỏi chửi thề trước mặt con cái, để khỏi phẫn nộ hay buồn nôn khi chứng kiến sức phá hoại của y. Y tung ra một “chiến lược” là kẻ thù của nền dân chủ xoa tay cười thầm. Y đi một nước cờ chính trị là thế giới tự do lún vào một vị thế chông chênh hơn, nguy hiểm. Và mỗi lần y mở mồm dạy khôn hay vạch lối, là mỗi lần trí tuệ loài người bị sỉ nhục.

Nếu sự hồi sinh của y thuộc về độ ăn khách của chủ nghĩa dân túy thì điểm mấu chốt nằm ở chữ “túy” và, do đó, tôi lại nghĩ ngay đến một bài thuốc của Hải Thượng Lãn Ông. Nhưng để sáng tỏ vấn đề thì tôi phải nhắc lại một câu chuyện cũ vào cuối năm 2016, khi về thăm quê, giữa lúc hầu như cả nước xôn xao vì y. Một người quen ở Đà Nẵng, vừa chào hỏi xong, đã dí tôi vào dòng thời sự: “Nghe nói chủ nghĩa dân túy xuất phát ở nước Nga phải không chú?”.

Thì không chỉ tại Nga mà cả tại Mỹ vào cuối thế kỷ 19 và, đến nửa đầu thế kỷ 20, loan ra khắp nơi, như dịch, mà, trong đó, “thành công” nhất là ở Đức vào năm 1933 với tên đại đồ tể Adolf Hitler. Giải thích qua loa, tôi còn nói thêm: Hà tất phải nói chuyện xa xôi, bác nhìn lại Đà Nẵng của mình mấy năm trước thôi, trào Nguyễn Bá Thanh, đó cũng là chính trị dân túy. Y bán đất cho nước ngoài, bán cả những vị trí chiến lược cho Trung Quốc. Y xây dựng những công trình sướng mắt nhưng khiêm tốn trong ý nghĩa phát triển kinh tế. Y trích tiền lẻ lì xì dân nghèo, thưởng lớn cho học sinh giỏi. Y nhắm những chỗ dân “ngứa” mà “gãi”, thật mạnh, chữi như tát nước vào mặt những giám đốc các sở ngành làm dân chán nhất, giận nhất. Y không tạo nên một nền tảng phát triển bền vững mà chỉ làm xiếc với sự hào nhoáng bên ngoài bằng tiền bán chác tài nguyên trong khi đẩy đất nước vào vị thế nguy hiểm hơn về mặt an ninh. Nhưng y biết làm người bình dân của thành phố sướng cái con mắt, đã cái lỗ tai, và nở cái lá gan. Và họ “say” y như say rượu,

Đó chính là thứ chính trị mà Tây phương gọi là “populism” — “chủ nghĩa bình dân” — mà chúng ta nhại theo Tàu là “chủ nghĩa dân túy” (民醉主义). “Túy” (醉) có nghĩa là say với những “biến tấu” mà Đào Duy Anh đã liệt kê trong Hán Việt Từ Điển như “túy cuồng”, là “say rượu đến phát cuồng”; “túy hương” là “cảnh giới trong khi say rượu”’; “túy khách” là “người hay uống rượu” v.v. Và đám MAGA quân hăng máu kia, trông có khác nào những “túy khách” say cuồng trong cái “túy hương” về một nước Mỹ “vĩ đại” mà y vẽ vời?

Nhưng đó cũng là điều mà nhà thơ Trần Vàng Sao, trong “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình”, thổ lộ:

nói thật lúc này tôi muốn được say rượu

họa may thấy một đồng thành ba bốn đồng

Thường, người ta say là để thoát ly khỏi cái thực tế mình ngán tới tận cổ. Nhưng càng lún sâu vào cái “túy hương” đó thì càng nghiện, càng khó dứt ra mà, theo Hải Thượng Lãn Ông, chỉ có thể thực hiện bằng cách làm cho sợ cả cái sự say. Thích thì cứ cho say nhưng phải say sao cho tởn tới già, phải biến cái cơn phê “một đồng thành ba bốn đồng” thành cơn ác mộng. Mà muốn có một trận say ác liệt như thế thì phải có một thứ rượu thật ác ôn và, do đó, phải có một thứ men cực kỳ ác nghiệt. Nghe thì máu me nhưng, thực ra, lại rất đơn giản, chỉ có điều là hơi tởm: trộn vào đó mớ… phân heo nái già. [2]

Bây giờ thì thứ “túy hương” mang tên Make American Great Again bắt đầu váng vất mùi… nái già. Xưa, họ say là để thấy “một đồng thành ba bốn đồng” nhưng “túy hương” này chỉ trở thành hiện thực với giới tinh hoa với chính sách giảm thuế. Còn họ, bình dân hay trung lưu, bất quá chỉ là con tốt đen bị phỉnh phờ và trước mắt là một hiện thực phũ phàng với một tương lai đói rách hơn, bệnh tật và dốt nát hơn khi các chương trình xã hội, y tế và giáo dục bị cắt giảm không thương tiếc để bù vào tiền giảm thuế cho giới siêu giàu. “Ba bốn đồng” trong mơ, rồi ra, sẽ chỉ trơ lại có mấy mươi xu, thậm chí chỉ vài xu hay không còn, mất sạch!

Còn hắn? Để chẩn bệnh thì yếu tố đầu tiên mà những thầy thuốc Đông y chú ý phải là “bì mao”, như Nội kinh, bộ sách kinh điển của họ, đã nhấn mạnh:

“Thiện trị giả, trị bì mao, kỳ thứ trị cơ phu, kỳ thứ trị cân mạch, kỳ thứ trị lục phủ, kỳ thứ trị ngũ tạng.”

Nghĩa là thầy thuốc giỏi chữa trị khi bệnh mới thấm vào da lông. Thứ hạng kém hơn thì đợi khi bệnh thấm vào cơ bắp, lục phủ, ngũ tạng. Như thế thì, nến chẩn bệnh cho hắn, cái mà giới thầy thuốc Đông y phải chú ý đầu tiên là “bì mao”, tức cái chòm lông vàng trên chỏm da đầu.

Tôi phải nói ngay rằng việc mang ngoại hình người khác ra diễu là điều tuyệt đối không nên nhưng đây là… y lý. Vả lại, Đi với ma mặc áo giấy, với kẻ chuyên xỉa xói sự bất hạnh hay tàn tật của người khác như y, sao chúng ta không có quyền áp dụng nguyên lý của cả Đông y lẫn Tây y là “dĩ độc trị độc”? Mặt khác, nếu Vũ Trọng Phụng từng tạo nên một nhân vật bất tử là “Xuân tóc đỏ” thì, ở đây, chúng ta cũng có thể bàn về một kẻ mà cả ngàn năm sau người Mỹ còn phải nhắc tên như một bài học không thể lập lại nên, do đó, việc lan man về một “Xuân tóc vàng” cũng chẳng có gì là quá lời.

Mà về cái mái tóc mong manh mày vàng này thì y, như đã tự thú, mỗi ngày phải mất hơn một tiếng đồng hồ để… bảo trì. Xịt keo chải tới. Lại xịt keo, chải lui. Xịt chải và chải xịt bao bận như thế và, mỗi ngày, y đều đặn “hành lễ” với mái tóc như một nghi thức tôn giáo thiêng liêng. [3] Có quý cái “cấu trúc tóc” mong manh trên đầu như vậy nên, khi cần, y có thể viện dẫn từ ông trời đến chính quyền Mỹ và, thậm chí sự yếu kém của công nghiệp Mỹ mà biện bác.

Như năm 2018, trong chuyến khi công du nước Pháp khi y, vào phút cuối, đột ngột hủy bỏ chương trình tưởng niệm tử sĩ Mỹ tại nghĩa trang Aisne-Marne American Cemetery ở ngay sát Paris viện lý trời mưa, trực thăng không bay được mà Mật Vụ không lái xe được. Nhưng, như báo chí Mỹ đã phanh phui, đó chỉ là trận mưa phùn rất nhỏ, trực thăng hay xe đều dư sức hoạt động, chỉ là mái tóc mong manh của y không đủ sức chịu đựng, có thể bẹp dúm dưới những hạt mưa bụi rây rây. [4] Xem ra, việc tri ân những người con của nước Mỹ bỏ mình trong Đệ nhất thế chiến không thể sánh với “độ phồng” của mái tóc mà y tốn bao nhiêu công sức để bảo trì.

Như thế, American First, cái khẩu hiệu y hằng kêu gào đã bị đẩy lùi, nhường bước cho My Hair First và sự thể, dưới cái nhìn Đông y, không chỉ là “bì mao” mà là một thứ tâm bệnh, đã ăn sâu vào tâm não.

Tôi nhớ lại một “khám phá khoa học” trên Nhân dân nhật báo của Trung Quốc ngày 27/6/2001, theo đó thì 5000 năm trước, người Trung Quốc đã biết giải phẫu não, “thành công tốt đẹp”. Tin cho hay đó là kết quả nghiên cứu từ hộp sọ thuộc di chỉ của văn hóa Đại Vấn Khẩu (Dawenkou), phát hiện tại Sơn Đông (Shangdong) vào năm 1995. Trên đỉnh sọ, ở phía sau, bên phải, có một cái lỗ rộng với một vòng cung hoàn hảo mà kết quả phân tích cho thấy có những vết xước do dao bén tạo thành nên, đây, có thể hiểu, là một cuộc giải phẫu não. [5]

Báo đảng nói thì chỉ có ngu dân tin và đây, phải chăng, là một tin “điển hình” giữa cái thời đề cao văn minh Trung Hoa nhằm thổi bùng tinh thần Đại Hán? Nó, phải chăng, cũng giống như những khám phái “khảo cổ học” thực hiện ở Hoàng Sa hay vài hải đảo Trường Sa đã cướp của Việt Nam nhắm chứng tỏ “chủ quyền lịch sử”? Tuy nhiên chúng ta đang bàn chuyện khác và, ở đây, tin trên lại làm thiên hạ, cả báo chí Anh ngữ, bàn tán về cuộc giải phẫu pha trộn thực hư của Hoa Đà (Hua Tuo) với Tào Tháo (Cao Cao).

Đọc Tam Quốc Chí của La Quán Trung ai cũng biết chuyện này nhưng đây là tiểu thuyết lịch sử chứ không phải lịch sử. Lịch sử ghi nhận Tào Tháo là một nhân vật thao lược, kinh bang tế thế và, cũng như bất cứ ai khác, ông ta cũng có những cái xấu xa của mình nhưng không đến độ quá xấu dưới ngòi bút của họ La, kẻ luôn tô hồng Lưu Bị. Lịch sử ghi nhận Hoa Đà qua đời từ năm 208 nhưng, mấy năm sau đó, trong tiểu thuyết trên, danh y này lại sống chỉ để vẽ vời một huyền thoại cho Quan Công: vừa nhậu vừa đánh cờ, “cười nói như không” trong lúc Hoa Đà mổ vai ra nạo chất độc do tên bắn. Lịch sử ghi nhận chuyện Hoa Đà trị bệnh đau đầu kinh niên cho Tào Tháo nhưng La Quán Trung vẽ vời việc Hoa Đà phán rằng bệnh của Tào đã “hết thuốc chữa”, cần phải cưa sọ ra rồi nạo cho hết chất độc bên trong, khiến Tào Tháo nỗi giận, ra lệnh tống giam.

Chuyện hư cấu của người xưa có thể áp dụng cho người nay, với chứng bệnh thể hiện ngay ở “bì mao” và sâu bên dưới lớp “bì”, đâu chừng nửa tất? Có thể cưa sọ ra để rửa sạch những thứ dơ, thứ độc? Và cả những con nhang của cuộc lên đồng tập thể mà, bất kể cái mùi nái già đã sộc đến tận cổ, vẫn tiếp tục lảm nhảm như chưa có gì khác diễn ra?

Họ khiến tôi nhớ lại những lời miệt thị, mắng chửi hay mỉa mai từng nghe thời đi học, thời ra đời tập tành làm người, vào nửa đầu thập niên 1980. Học kiến thức mà kém quá thì, thường, bị xem là “mất căn bản” nhưng, đó đây, vẫn còn có thứ hạng kém đến độ, theo một ông thầy ác khẩu của tôi, là “không có căn bản để mà mất”. Học làm người cũng vậy, khi bị xếp vào thành phần bị xã hội rút phép thông công, không thể tiếp tục việc học ở mức cao hơn, cũng không thể có một công việc chính thức hay, nói cách khác, là sống “lưu vong” ngay trên quê hương mình. Tuổi trẻ tràn đầy những ước mơ nhưng xao xác, hoang mang với một tương lai bất định, không ít người cùng trang lứa đã tập tành tìm quên trong hơi rượu, thở ra rặt một giọng chán đời, thất chí. Nhưng để “thất chí” thì, đầu tiên, là phải có “chí”, nghĩa là phải hình dung rõ ràng ở mình một vị trí cao đẹp hơn, trong một môi trường xã hội cũng cao đẹp hơn, và phải nỗ lực hết mình cho mục tiêu đã chọn ấy. Đó không phải là việc dễ dàng nên, đó đây, trong những giọng điệu u sầu cái sự “thất chí”, vẫn lẫn lộn thứ hạng “không có chí để mà thất”.

Và cái lực lượng MAGA hiện tại, từ tớ đến thầy. Răm rắp tin vào tên dối trá kinh niên, dối trá không biết ngượng, dối trá cực kỳ phản trí thức thì đó, về nhận thức chính trị, hoàn toàn là thứ “không có căn bản để mà mất”. Mà không một người có “chí” nào lại có thể khiến đất nước mình tệ mạt hơn, trọc phú hơn, lý tài hơn, phản dân chủ hơn. Chỉ cần nhìn vào cái cảnh vừa bán đứng Ukraine cho Nga, vừa ra giá mặc cả tài nguyên với Ukraine, vừa vu khống nhà lãnh đạo nước này thôi thì, từ thầy đến tớ, cũng cùng thứ hạng ấy, cũng là “không có chí để mà thất”.

Không có “chí” để “thất” nhưng, ít ra, như một MAGA hạng thầy, nhất định y cũng sẽ lưu lại những di sản nào đó và, từ góc nhìn của Đông y, tôi lại nghĩ đến câu chuyện khác của Hoa Đà.

Hoa Đà bị Tào Tháo tống giam và, nhờ danh tiếng, được viên cai ngục biệt đãi. Tri ân, Hoa Đà tặng viên cai ngục toàn bộ những ghi chép về y thuật nhưng, do sợ liên lụy, người vợ đầu óc hẹp hòi đã thảy hết vào bếp lửa để ông chồng, khi phát hiện ra, thì đã quá muộn, chỉ có thể vớt vát được mấy trang cuối mà, éo le thay, chỉ là những trang hướng dẫn cách thiến lợn, thiến gà.

Với kẻ xem việc nước và thế giới như một giao dịch địa ốc, cái di sản để lại chắc cũng “éo le” như thế. Y làm nhiều chuyện động trời. Y xáo trộn cân bằng địa chính trị toàn cầu. y bao che những nước mạnh và a tòng với bọn độc tài. Y chèn ép những nước yếu và vu khống, nhục mạ, o ép những nhà lãnh đạo dân chủ. Hình ảnh y để lại cho đời sau, như một con người, sẽ khơi dậy lên những câu hỏi như thế nào?

Đời sau, với những kỹ thuật thần kỳ, có lẽ, sẽ nhìn vào đây như là thứ người nên được “can thiệp sớm” để tốt hơn, cho riêng y và cho đời? Nghĩa là nếu những chuyện giả tưởng như The Terminator mà thành hiện thực thì, có lẽ, thế hệ hiện tại đã đi ngược thời gian mà can thiệp sớm với những trang viết bị cháy sém của Hoa Đà. Để thế giới ngày nay yên bình và tử tế hơn thì, ít ra, từ hơn 60 năm trước, thế hệ hiện tại đã, như phim, cử điệp viên đi ngược thời gian để đè y ra mà “can thiệp sớm” bằng con dao thiến lợn.

Một cuốn phim như thế, dẫu vũ khí chính chỉ là con dao thiến lợn nhẹ nhàng, cũng sẽ vô cùng hấp dẫn với những pha rượt đuổi vừa nghẹt thở, vừa đầy chất hoạt kê do bản năng sinh tồn với khả năng ăn vạ của con mồi. Mà cảnh hành động cũng đầy bạo lực và máu me khi con dao thiến lợn phải làm khá nhiều việc hầu như cùng một lúc, từ trên xuống dưới. Đầu tiên là thiến cái bộ não hay nghĩ bậy. Sau là thiến cái miệng và cái lưỡi hay nói bậy. Xong rồi thì mới dí dao vào phần giữa, cái chỗ hay chơi bậy, chơi bạ mà, theo cáo buộc mới nhất, chính là lý do khiến y trở thành con tin, phải làm gián điệp cho Nga… [6]

Tham khảo:

1. Bandy X. Lee (2017) The Dangerous Case of Donald Trump: 27 Psychiatrists and Mental Health Experts Assess a President, Thomas Dunne Books

2. Dùng phân heo nái già trộn với men, rượu cất ra sẽ khiến người uống sợ tới già. “Bài thuốc” này tôi đọc từ một trước tác của Lê Quý Đôn, thuật lại theo trí nhớ.


3. https://www.politicalflare.com/…/trump-says-it-takes…/

4. https://www.theatlantic.com/…/trump-americans…/615997/

5. http://www.china.org.cn/english/15319.htm

6. https://economictimes.indiatimes.com/…/118487146.cms…


Nguyễn Hoàng Văn, born in 1965, Vietnam. The writer, journalist and essayist currently resides in Western Sydney, Australia.

NGUYỄN NGỌC TƯ | Phạm Hiền Mây

Sài Gòn 16.11.2023
Phạm Hiền Mây

NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ DÒNG NHỚ

Viết về một nhà văn, vốn đã khó. Viết về một nhà văn nổi tiếng, đang nổi tiếng, rất nổi tiếng, quá nổi tiếng, bao người biết, bao người ngợi khen, trầm trồ, thậm chí say mê, thần tượng, cái khó ấy, xem ra phải gấp hai, gấp ba, cái khó bình thường.

Bởi viết gì bây giờ. Sự hay, sự tốt, bao năm nay, người ta đã nói hết rồi. Thậm chí, thuyền to thì sóng lớn, cả tiếng chê, cả tiếng dè bỉu, bỉ bôi, rằng thì là sến súa, quanh đi quẩn lại chỉ có nhiêu, chẳng gì to tát, chẳng gì kinh thiên động địa, chỉ giỏi đánh vào tâm lý, lấy nước mắt miệt vườn, cũng đầy ra, không thiếu.

Kiểu gì kiểu, khen gì khen, chê gì chê, Nguyễn Ngọc Tư vẫn cứ giữ vững sự nổi tiếng. Vẫn cứ đẻ sòn sòn, quanh năm suốt tháng, hết tác phẩm này thì đến tác phẩm khác. Phim, kịch, tuồng, vẫn cứ xếp hàng chuyển thể từ tác phẩm cô.

Kiểu gì kiểu, cô vẫn cứ cười. Người ta nói, cười có thể là một lấp liếm, cười cũng có thể thay thế cho câu trả lời. Ừ, chắc cổ thế thật. Cổ trả lời khen chê của người đời bằng một nụ cười. Cổ lấp liếm cái buồn cái vui trong nghiệp viết của cổ, cũng bằng nụ cười ấy.

Tôi đọc Nguyễn Ngọc Tư từ lâu lắm rồi, đâu như vào khoảng năm 2008, 2009, từ trước khi cổ và Cánh Đồng Bất Tận trở thành bộ đôi làm xôn xao dư luận. Tản văn có, truyện ngắn có, truyện dài có, tuy không đọc hết, nhưng những tác phẩm của cổ mà tôi có đọc, đều từ hay tới rất hay.

Một trong số đó, là truyện ngắn DÒNG NHỚ.

Dòng Nhớ cũng như các tác phẩm tuyệt hay khác của cổ, luôn làm người đọc, là tôi, sau đó, buồn thỉu buồn thiu, buồn ê buồn ủ.

Cái buồn khi đọc truyện Tư ấy mà, dẫu bao giờ cũng được tôi chuẩn bị trước tinh thần, nhưng lần nào cũng như lần đấy, tôi đều thất bại. Buồn vẫn cứ hoàn buồn, không thể khác.

Cái buồn mênh mang như sông nước miền Tây, như lục bình trôi, như dòng đưa củi mục. Cái buồn giống tiếng gọi đò cô đơn bến vắng, giống con cò bay qua, một mình, chẳng thấy bậu đâu. Buồn ơi buồn nhưng vẫn dễ chịu. Buồn rất đỗi buồn mà không thù không oán, không hờn không giận ai.

Đó là điểm làm nên khác biệt giữa Nguyễn Ngọc Tư với nhiều tác giả thời danh khác.

Có nói nhiều đến mấy thì cũng chẳng thể bằng tự tác phẩm giới thiệu về nó. Vậy nên xin mời các bạn, thong thả đọc Dòng Nhớ của Nguyễn Ngọc Tư. Mà nói trước nghen, nó buồn lắm đó.

Câu chuyện, không có đúng sai. Hai người đàn bà, đọc xong, vẫn không thể nào định được, ai mới là kẻ đáng tội nghiệp, ai mới là kẻ đáng thương hơn ai. Hay cái bóng của người đàn ông, không nói gì, chỉ lầm lũi áng chiều, đốt mòn khói thuốc, mới là hình ảnh làm người ta bồi hồi, ngậm ngùi thương cảm nhứt.

Tự dưng, tự dưng hà, tôi nhớ câu, chẳng biết có liên quan không, nhớ là nhớ thôi “sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chính là nó, mà, có phải là nó đâu.

******

DÒNG NHỚ

(Nguyễn Ngọc Tư)

Sáng nay, má tôi lại ra đứng tần ngần ở chợ Ba Bảy Chín, nghiêng nghiêng ngó ngó một hồi, biểu con nhỏ chèo đò chèo dài dài chợ nổi. Chợ rao bán rau trái dậy động cả một khúc sông, má tôi thấy ghe nào cũng lần xuồng lại, dòm mặt chủ rồi đi. Con nhỏ chèo đò chắc là chèo mối, nó biết bà già định đi đâu, định làm cái gì nên nó biểu:

– Hỏng hỏi thăm thì vô phương kiếm ra, ngoại ơi.

Má tôi ngẩn ngơ. Hỏi chớ, chú ơi, thím ơi, tôi muốn hỏi thăm một người quen. Tên gì? Ghe bán gì? Hai Giang. Ghe bán hàng bông. Trời đất, ở xứ này có tỷ tỷ ghe bán hàng bông, cũng có biết bao nhiêu người tên Giang, vậy tướng tá người đó ra làm sao. Bây giờ đâu có biết ra làm sao, gặp được một lần mười sáu năm trước, nhớ sao tả vậy nghen. Ðàn bà, chừng sáu mươi, trạc tuổi tôi, tóc dài, da ngăm ngăm, không đẹp không xấu. Mới đầu đi với chồng, sau chồng bỏ lên bờ vì cơ cực quá trời, hồi trẻ có đứa con gái đầu lòng chừng bảy tháng tuổi thì rớt xuống sông chết.

– Vậy thì đông lắm, người sống trên chợ này hễ mười thì có năm người y chang hoàn cảnh vậy, dân Ba Bảy Chín mà, “ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh”, chị hỏng nghe sao?

Má tôi chẩng hẩng:

– Vậy a?

– Ừ, người đó quen sao mà tìm coi bộ cực dữ?

– Quen. Chà, hỏng biết nói sao bây giờ, dài dòng lắm, vợ của chồng tôi.

Nếu vậy thì dài dòng thiệt, chuyện tình tay ba mà phim dính vô chuyện này cũng năm bảy tập trở lên, còn cải lương lâm ly không biết bao nhiêu là nước mắt.

Má tôi cũng khóc nhiều rồi. Má tôi nói hoài, ba mươi tám năm bà về làm dâu nhà chồng, cực có, sướng có, chưa bao giờ nội tôi khắt khe, nhỏ nhặt, khó chịu với dâu, nhưng má tôi vẫn hận nội tới chết mới thôi. Hỏi sao kỳ vậy, má tôi kéo chéo khăn lên chậm chậm vô đôi mắt: “Bộ hết người rồi sao mà nội bây cưới tao cho ổng, đó – bà chỉ tay ra bến – gần hết đời rồi tao có được vui đâu”.

Ðó là lúc “ổng”, tức ba tôi chống cây gậy khật khừng lang thang xuống bến. Ông dừng lại chỗ mấy cây tra, lấy tay rờ rẫm, săm soi từng cái lá, cái bông như tay bắt mặt mừng thằng bạn lâu năm mới gặp. Rồi ông lần ra tới đầu bến, đứng dưới hàng mắm già ngày xưa ông trồng để giữ đất cho khỏi lở, để mặc cho mấy cái hoa nắng vàng xơ rơ đậu xuống cái đầu húi cua, bạc trắng của mình, ông già tha thiết nhìn ra sông. Chỉ vậy thôi rồi khật khừng quay lên, cái chân trái yếu ớt như tựa hẳn vô cây gậy, cứ mỗi lần chân bước, đầu gậy lại xoáy sâu vô đất một lỗ tròn tròn.

Cảnh thì quen lắm, thì ngày nào, buổi nào ba tôi chẳng làm vậy nhưng cứ tụm cả nhà lại, rồi ngồi lặng lẽ dòm, ai cũng nghe đau đau xót xót như ai lấy cật tre cứa tới cứa lui trong lòng. Bởi cái lúc này là lúc sum họp đây, vậy mà sao vẫn thấy thiếu một người, mà thiếu đúng cái người đang lững thững đi dưới nắng kia mới chết.

Sau đợt tai biến mạch máu não lần thứ nhất, nửa người bên trái ba tôi yếu hẳn đi, tưởng chỉ vậy thôi, đến lần thứ hai bỗng dưng tâm trí ông già nhớ quên, ít nói, lẩn tha lẩn thẩn. Nhưng còn sống, còn tự mình đi đứng được là may lắm rồi, ai cũng nói vậy. Lúc đó cả nhà đang ở chợ, ba tôi càng lúc càng buồn, hay chống gậy đi, mấy lần cả nhà bỏ tiệm may đi kiếm ông. Sau này chỉ cần một mình tôi, vắng ông, tôi chạy xe dọc theo con đường về vườn cũ là gặp. Thấy tôi, ông già khựng lại, không nói gì, nhưng cặp mắt khẩn cầu, da diết, tôi làm như không biết, cầm gậy, đỡ ông lên xe chở về, có lần ba tôi khóc, ông khóc rưng rức, nước mắt nước mũi nhễu nhão, lòng thòng.

Sau lần ấy, cả nhà quyết định đưa ông về sống trong vườn nhà nội. Vườn bỏ lâu nay, nhưng nhờ cô dượng Ba ở kế bên nhà trồng trọt, trông coi nên chỉ cần dựng căn nhà lên là ở được. Chuyện cắt cử người ở lại với ba tôi thì khỏi phải bàn bởi chừng nào mà má tôi bỏ ông được, “làm gì má cũng phải giữ ba”, tôi đùa. Má tôi xua tay:

– Ổng còn nguyên đó chớ có đi đâu, trước không mất, giờ còn sợ mất mát gì nữa – giọng má chợt cay đắng, hồi đó giờ ổng có phải của tao đâu mà giữ.

Nói rồi má tôi trùm cái khăn lên đầu bước xuống xuồng, đưa tôi qua sông, tới bờ bên kia, ngó lại, ba tôi đứng chênh vênh trên bến, đôi mắt như đang nhìn da diết mà không biết nhìn ai, chỉ thấy mông mênh vậy thôi. Chơ vơ, cô độc. Má biểu tôi đi đường cẩn thận rồi bơi xuồng trở về, còn nói với theo:

– Sao má lo quá, má sợ ba mầy, ổng mà chết ổng cũng xuống sông để chết.

Lo cũng phải, không phải ba tôi nhớ vườn xưa mà chống gậy về, ông nhớ sông, một ngày ba bốn lượt lủi thủi chống gậy ra bến, cặp mắt như ngó mong, như hờn giận. Ba tôi vốn là người của sông mà. Ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi.

Và cũng y như má tôi, ba cũng không sống được mấy ngày vui, vui thật, vui đúng nghĩa. Hồi tôi còn nhỏ, còn sống chung với bà nội, đêm đêm cả nhà đi ngủ, ba tôi ngồi hút thuốc trên bộ vạc kê trước nhà, chống rèm lên, ngó ra sông. Kiểu ngồi một chân xếp bằng, chân kia dựng lên, rồi tì cái tay cầm điếu thuốc lên cái đầu gối, đêm này qua đêm khác, kiểu ngồi không đổi. Nửa đêm, má tôi đi ém mùng lại, tôi thức giấc, ngó ra chỉ thấy đốm lửa lập lòe, lúc đỏ rực, lúc lại tắt thiu thiu. Má tôi ngồi trong mùng lặng lẽ nhìn ba, còn ba thì nhìn ra sông. Sông cách nhà một cái bến dài chẻ ngang đám dừa nước, đám ô rô mọc lởm chởm, chồm từ mé lá lên. Những đêm trăng sáng, nếu không vướng mấy bụi ráng, bụi lức dại có thể thấy một dòng chảy líu ríu, sáng loáng, lồng lộng.

Ban đêm, con sông trước nhà tôi không ngủ, nó thức theo những chiếc tàu rầm rì chảy qua, theo tiếng mái chèo quẫy chách bụp rất đều. Dài từ ngã ba Vàm đến đây, nước chảy êm, khuất gió, những chiếc ghe đi đêm hay đậu lại, nghỉ ngơi. Lâu lâu, có chiếc ghe hàng bông lặng lẽ neo lại ngoài bến nhà tôi, treo ngọn đèn chong lên cây đước chơm chởm những cái nhánh con, mỗi nhánh lủng lẳng trái khóm, trái bầu dầm nắng mưa đã teo héo. Không thấy bóng người, chỉ nghe tiếng gàu tát nước cọ vô xuồng xao xác. Hừng đông chạy xuống bến thì ghe đã đi rồi. Những đêm đó, ba tôi hút thuốc dữ, cứ nhìn chong chong ra ngọn đèn đỏ ối, nhỏ nhoi, buồn hiu ngoài kia. Ba tôi thở dài. Má tôi thở dài, chạy qua buồng bên khóc với bà nội tôi, không biết nói cái gì, chỉ nghe lõm bõm, tiếng nội làu bàu: “Vậy ra má đã làm sai cái gì?” và má tôi tuyệt vọng: “Kiểu này biết chừng nào ảnh mới quên chuyện xưa hả má?”.

Ngày xưa ba tôi cũng yêu thương một người. Nội tôi dứt khoát không chịu (nội có tỷ tỷ lý do để không chịu), ba tôi mới dắt díu người ta bỏ nhà đi, sống kiếp thương hồ. Hai người trải qua biết bao nhiêu cơ cực, nào là gặt mướn, làm cỏ lúa, đắp bờ, mới có được một ít vốn, ba tôi sắm cái máy Kohler xuống rẫy bán hàng bông. Họ sống nghèo lắm. Mỗi lần đi ghe đi ngang qua nhà, ba tôi khắc khoải ngó lên, vừa nhớ, vừa đau vì cãi nội. Rồi hai người có với nhau đứa con, nhưng chị bạc mệnh chết đuối, tận cùng đau khổ, ba tôi bỏ về nhà, được về, ba tôi cũng phải đáp ứng vài điều kiện của nội, vậy là ba tôi bỏ người ta giữa dòng bơ vơ. Tôi biết được có bao nhiêu đó thôi, kể ra cũng mấy dòng vậy thôi. Mà, cũng phải đợi tới năm mười lăm tuổi, cả nhà mới cho tôi biết.

Tôi bật ngửa, chuyện xảy ra lâu rồi, nhưng người ta vẫn còn nhớ, vẫn còn cắm sào trước bến nhớ ba tôi, vậy mà biểu ba tôi quên cái rụp thì làm sao quên được.

Mà, cũng vì ba tôi quên không được, má tôi mới thương ông nhiều, sau nầy, lớn lên, biết yêu thương rồi, tôi mới ngộ ra. Con người ta, nhất là đàn ông thương ai mà vì nỗi gì đó quay lưng lại quên mất tiêu thì đúng là không tử tế, không đáng tin chút nào. Với tôi, ba tôi thì quên hay không cũng được, ba đã sống tốt với cả nhà tôi lắm rồi. Ông sống tử tế đến vô cùng, đến thừa, dường như ông gởi gắm tình thương yêu đến cả người vắng mặt.

Ở cái xóm quê, mười người đàn ông thì nhậu nhẹt hết chín, trong chín người hết năm, nhậu về chửi vợ, đánh vợ như đánh bịch muối, ba tôi là người duy nhất còn lại. Ông ít nói, hiền lành, từ tốn với má tôi, những lần má tôi bệnh, ba chèo một hơi mười mấy cây số vừa đi vừa về, đưa má tôi ra trạm xá, không than mệt, không thở ra, tận tụy. Lúc nào cũng mình mình tôi tôi, mấy bà hàng xóm nghe tủi cho mình mà khóc, má tôi cũng òa khóc theo, cảnh mỗi người tự người đó biết, người ta hay đứng núi này trông núi nọ vậy mà.

Mơ hồ dường như mình mắc nợ ai đó, cả nhà tôi lúc nào cũng cảm thấy không vui, dù hạnh phúc (hai thứ này sao lại không thể đi chung). Không thấy ai đòi nhưng nợ vẫn cứ là nợ, nó rờn rờn quanh quất trong chái bếp ngày ngày khói tỏa, trong mấy chiếc giường ngủ con con, trong hai bữa ăn mỗi ngày. Ngồi quây quần như vầy trong bụng cứ nghĩ, có một người nào đó cô độc, bơ vơ. Mà tội nhất là nội tôi, vốn mê cải lương, nhưng bữa nào tivi chiếu mấy tuồng có bà mẹ chồng ác nghiệt chia rẽ duyên của con, dâu là thấy nội tôi rầu. Cho tới lúc cuối đời, chắc nội tôi vẫn băn khoăn trong lòng câu hỏi: “Vậy ra, mình giống mấy bà già trong đó thiệt sao?”.

Má tôi thấy nội bứt rứt cũng không tỏ ra phiền muộn nữa, cốt để an ủi nội tôi lúc cuối đời. Khi nội tôi vừa khuất, má quyết định gặp đối thủ một lần, chỉ định nhìn vậy thôi, chưa biết làm gì mà cũng không biết làm gì người ta, nhưng chắc chắn phải biểu người ta buông tha ba tôi ra, còn gì nữa đâu mà neo ghe trước nhà ngó mong hoài.

Chờ đợi, rình rập, hụp hửi mấy lần, chiếc ghe nhỏ với ngọn đèn đo đỏ lại về đậu trước bến nhà tôi, như mong đợi của má. Bữa đó, má nói với ba tôi chèo xuồng về chơi bên ngoại một đêm. Gà gáy chập đầu, bà trở lại, trên xuồng chất đầy mấy thứ rau đồng, bà giả đò làm người đi chợ sớm.

Ngang qua, má tôi tấp xuồng lại kế bên chiếc ghe, than:

– Tính đi chợ cho sớm mà gió quá, chèo không lên, bậy thiệt.

Má tôi tin rằng, người đàn bà kia, cũng như ba tôi, những đêm như vầy không bao giờ ngủ. Mà thật, dì đang chong đèn ngồi thêu áo gối, nghe tiếng má tôi, dì quay lại, dường như sững sờ, bất ngờ một chút dì cười:

– Dà, đêm nay nhiều gió thiệt – Dì vẹt mớ quần áo, kim chỉ trên cái sạp tre – Chị vô mui ngồi cho ấm, chờ bớt gió rồi đi, ngồi ngoài đó cảm sương chết.

Má tôi không từ chối, bà buộc dây xuồng lại, bước qua ghe. Bà cao người nên ngồi trong cái mui lợp bằng lá chầm đóp phải khom một chút. Họ ngồi đối mặt với nhau. Má tôi thấy lòng mình bình lặng lạ lùng, hồi ngồi dựng cái cảnh gặp mặt nầy, cứ tưởng là phải làm một cái gì ghê gớm lắm. Có thể vì người đàn bà của ba tôi hiện lên rất hiền, dì mặc chiếc áo cộc tay màu cau khô ở trong, khoác thêm chiếc áo bà ba ở ngoài, mỏng te, nhiều mụn vá. Tóc đã bạc nhiều, lơ thơ vài cọng rủ xuống mặt. Sương gió đã làm cho khuôn mặt dì đen sạm, nhăn nheo. Má tôi nghĩ thầm trong bụng: “Xấu hơn mình nhiều”. Má tôi sợ cứ nhìn chằm chằm người ta hoài cũng không phải nên má ngó lơ chỗ khác. Ðồ vật trên ghe món nào cũng nhỏ nhắn, tuềnh toàng. Ngay sau lưng chỗ má tôi ngồi, bỏ khoang tát nước có một cây ớt hiểm, một cây sống đời đang trổ bông trồng chung trên miệng cái khạp bể. Dì lúi húi dẹp miếng vải đang thêu dở, với lấy bình thủy, châm nước vô cái bình trà sứt vòi, ho khúc khắc. Má tôi chép miệng: “Cha, có trà uống thì còn gì bằng, mà chị bệnh hả, mấy lá sống đời nầy ngậm với muối cũng đỡ ho lắm”. Dì ngước lên cười: “Dà, lúc nầy trở gió, cũng nhờ nó…”.

Má tôi hỏi:

– Chị đi ghe một mình à, một mình cũng được sao?

– Dà, cũng được, chị.

– Ủa, chồng chị đâu?

– Dà, dì bối rối, ảnh… đi xa lắm.

– Còn chồng tôi thì theo vợ bé mất rồi, má tôi nói luôn.

Dì nhìn sững má, dường như để xem xem nỗi đau mất chồng của má với dì có giống nhau. Hồi lâu, dì chợt cúi mặt:

– Uống trà, chị, hoàn cảnh của chị cũng buồn thiệt. Nhưng thể nào rồi ảnh cũng quay về. Thiệt đó chị, đa số đàn ông đều tốt.

Tốt sao? Người ta bỏ cô để cưới tôi mà là tốt à, má tôi ngồi lặng, tự hỏi, mà không biết nói gì nữa, cái câu quan trọng nhất chắc không phải nói lúc nầy. Má tôi ngồi ngó quanh, một ánh đèn nhỏ nhoi thôi cũng đủ hắt sáng vài xâu cốm gạo treo trên vách, mấy hũ kẹo, bánh ngọt, tiêu tỏi để bên này, trái cây như khóm, bí rợ, khoai lang thì chất thành hàng bên kia. Sát bên hông dì, dưới tấm vải trắng thêu dở là hai xấp quần áo cũ, người lớn có, trẻ con có được xếp ngay ngắn, nhưng hết thảy đều cũ kỹ, bạc mầu. Má tôi vọt miệng:

– Ủa, chị có cháu nhỏ à?

Sau nầy, má tôi nói, đó là cái câu tàn độc nhất mà má lỡ miệng đánh ngay vào nỗi đau của dì. Dì nhìn trân trân vào ngọn đèn, cái nhìn đau nặng. “Con bé Phước nhà tôi vô phước lắm chị à, tại tôi không cẩn thận nên cháu vừa mới biết bò đã té sông, trôi mất. Cũng mười mấy năm rồi, bây giờ nó còn sống, chắc tôi thêu gối cưới cho nó cũng vừa. Tôi, tôi chiêm bao thấy cháu nó hoài, chiêm bao lãng nhách hà, tự nhiên tôi thấy con tôi biết nói, nó biểu má đừng bỏ con, trời ơi, tiếng nó thấy cưng lắm kìa, vía tôi trả lời, mẹ sẽ sống trên sông hoài với con, vía tôi thấy nó cười…”.

Dì nói một hơi dài, giọng dì hơi nghẹn lại: “Trời ơi, chị có chuyện buồn lòng mà tôi lại kể chuyện buồn lòng nữa, chắc chị phiền tôi lắm. Mớ đồ nầy tôi cất lâu rồi, sợ mốc, cứ mấy tháng là tôi đem ra giặt lại, của con bé con tôi có, của chồng tôi có. Chồng tôi… , tôi chỉ còn giữ lại bao nhiêu đây thôi. Chị coi, tôi khùng hôn, không giặt thì không được, mà giặt hoài, tới hơi chồng cũng bay, tôi cũng quên mất rồi…”.

Dì cười quay quắt. Má tôi chút nữa đã bật khóc, bà cố nén nghẹn ngào:

– Ðàn bà mình sao khổ vậy?

Tiếng gà gáy xa xa, con nước đêm nay mau lớn quá, mới đây thôi đã ngập nửa cây sào neo ghe rồi. Lúc nầy, nước lớn không nghe bìm bịp kêu, mà nhờ không có, chứ nghe bìm bịp kêu càng buồn nữa. Má tôi ngồi bình tâm lại, vậy thì mình nhỏ nhen gì mà giành với người ta chút nầy nữa. Năm nầy qua năm khác, mình được sống chung với ảnh, ban ngày ngoài ruộng, ban đêm chung giường. Ngó mặt nhau, ăn cơm, ngủ cũng đấu mặt lại ngủ. Còn người ta, nhớ thương đứt ruột, có thể chạy ào lại để gặp nhau nhưng vì lương tâm không làm được, đành ngồi đây ngó lên, ngồi ở trên ngó xuống. Ðau lắm chớ. Má tôi nhìn ra ngoài trời, vẫn còn khuya lắm, nhưng đã thấy mấy chiếc xuồng đi chợ sớm lướt qua, tiếng mái chèo quẫy chũm trên mặt sông ngọt, nhẹ, cứ tưởng từng lát nước xếp lên nhau như những lát đất cày.

Dường như trời bớt gió nhiều rồi. Dì nghiêng đầu ra ngó trời, chừng như nuối tiếc, thảng thốt:

– Trời đất, đêm qua lẹ thiệt. Chắc tôi phải đi bây giờ.

– Sớm vậy sao?

– Dạ, tôi thường đi… , trước lúc người ta thức… .

– Tại tôi nhiều chuyện làm chị thêu không xong.

– Không, người đàn bà cười, nét mặt thốt nhiên buồn bã, tôi thêu cho hết đêm, xong rồi lại tháo chỉ ra thôi, tôi sợ, nếu không làm gì, tôi… , tôi sẽ nhớ chồng con tôi rồi mắc khóc, cầm lòng không được. Mà, đàn ông chịu cực khổ nhiều lắm rồi, lấy nước mắt trói buộc họ nữa, tội họ lắm, chị à.

Vậy rồi hai người chia nhau đi. Ghe nổ máy rồi, khói xịt tơi bời, dì còn dặn lại: “Nếu ảnh có quay về, chị đừng giận ảnh nghen. Người ta có đi đâu làm gì thì cũng thương mình chị thôi”. Má tôi không nói, quay đi và khóc.

Tháng sau, má tôi quyết định gom mớ của cải cả nhà có được ra chợ, mua cái nhà. Ba tôi biết chút ít nghề mộc nên nhận đóng tủ, bàn ghế ở nhà, má tôi chiên đậu hũ bỏ mối, chị tôi mở tiệm may, tôi vào đại học. Mọi thứ được sắp đặt lại, mới mẻ, gọn ghẽ. Má tôi bắt ba phải xa sông, nhưng chính bà cũng biết, những dòng nhớ vẫn tiếp tục chảy mãi trong hồn ông. Má tôi cũng không kể với ba cái đêm gặp “tình địch” ấy, nhưng mãi mãi, mỗi khi cả nhà ngồi ăn cơm, tim má lại hiện lên hình ảnh cái rổ úp chén đan bằng nan tre đã xỉn mầu, trên đó có cái dĩa, cái tô và ba cái chén, ba đôi đũa như thuở người đàn bà trên ghe còn nguyên một gia đình.

Bây giờ má tôi muốn gặp dì, nhưng lâu quá, chờ hoài không thấy dì ghé lại đậu ngoài bến như ngày xưa, đã mười mấy năm rồi, không biết có biến cố gì không. Chỉ tội má tôi tảo tần kiếm cho kỳ được. Tôi hỏi má tìm làm gì, má tôi nói để cho hai người gặp lại, coi thần trí ba mầy có đỡ hơn không.

Rồi thì ba tôi cũng mỏi mòn nằm xuống trên mảnh vườn của nội tôi, bình yên. Má tôi vẫn không ngừng tìm kiếm dì, hỏi để làm gì, má tôi nói để cho dì hay và nói với dì, nếu sống mà không gần được, chừng nào chết, mời dì lên nằm trên đất vườn tôi.

Ðó là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm dứt cái cảnh ba nằm bên má mà hồn vẫn hướng về nơi dòng sông miên man chảy.


Phạm Hiền Mây, the poet born in 1971 in Saigon, Vietnam. The prolific poet speaks, thinks, sleeps, and dreams in Kanji, Lục bát, six-eight syllables. Her poetry can be accessed through all platforms, including Facebook, Amazon, and local and international websites.

NHÃ CA | Phạm Hiền Mây

Sài Gòn 08.12.2023
Phạm Hiền Mây

NHÃ CA VÀ BÀI THƠ NHÃ CA THỨ NHẤT



Nhã Ca, một tên tuổi quá lớn.

Nhã Ca, cái tên mảnh mai như lá cỏ, nhẹ nhõm như làn mây, thanh thoát như hương hoa, thế mà, so với đồng nghiệp, nhất là đồng nghiệp cùng giới, thì sự nghiệp văn chương của bà, phải nói là to lớn, khiến người khác phải nể phục và ngưỡng mộ.

Mỗi khi nghe ai đó nói bằng cái giọng điệu móc méo, giễu cợt, chê bai, nhạo báng, rằng thì là, bà vốn là một nữ sinh Huế, bỏ trung học vào Sài Gòn, đi theo Trần Dạ Từ – và bây giờ là người chồng duy nhứt của bà, cuộc hôn nhân đã được hơn sáu mươi năm nay – một nhà báo, rồi nhấn mạnh, một người Bắc di cư, thú thật, tôi rất ghét.

Là ghét những người nói kiểu như thế.

Bà như vậy, thì đã sao? Thì có gì sai?

Thế kỷ hai mươi là thế kỷ nào rồi mà con người ta lại không được quyền đi tìm tình yêu cho mình chớ?

Những ai thường nói chuyện đạo lý, những ai thường đấu tranh cho bình đẳng, bình quyền, giúp giùm tôi cái, trả lời giùm tôi cái, vượt thoát khỏi những cấm cản cực đoan, vượt thoát cái lề thói phong kiến, cổ hủ, kiểu như, tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, đi theo lời mách bảo của trái tim, đi tìm kiếm tình yêu, cho mình, một tình yêu tuyệt mỹ và duy nhứt – như bà, thì có gì sai không?

Mạnh dạn lựa chọn tình yêu cho mình, con đường hạnh phúc cho mình, bằng sự tự do và quyền tự quyết mà thượng đế trao cho mình, liệu, như vậy, có sai không?

******

Thơ bà, hòa trộn giữa nét âm trầm, sâu kín, dịu dàng của xứ Huế và nét xông xáo, cởi mở, sẵn sàng đón nhận, hóa giải nhẹ nhàng mọi vấn đề của kiểu Sài Gòn, nên thi vị:

lời hứa của chàng cùng với mùa mưa lũ
anh đã không quên em
chuyến xe đêm những bầy sao tình tự
trời mưa trời mưa vẫn trời mưa
má ơi má ơi
con còn sống
(Khi Trở Lại Sài Gòn)

Chưa kể, khi người thơ yêu người thơ – Nhã Ca và Trần Dạ Từ, họ yêu nhau – thế nên, chất thơ trong họ, ngày mãi bồi đắp, ngày mỗi dạt dào, sóng nhỏ sóng to, cuốn lôi, quấn quýt, đánh vào bờ rồi nắm níu nhau dạt ra khơi. Như trò chơi thuở bé. Như tình yêu. Vừa trẻ thơ vừa long đong thân phận. Thơ dựa thơ mà sống. Thơ dựa thơ mà đứng giữa đất trời. Thơ dựa thơ, mà đơm hoa kết trái.

Không giống ai, lại cũng không mang hơi hướm ai, không na ná giọng ai, đó là điều đặc biệt mà tôi nhận ra trong thơ của bà:

mắt dõi theo vừa ngút bóng cây
đời chia dăm bảy dấu chân bày
tôi hồn vẫn đứng yên như tượng
trông tháng ngày đi trên cánh tay
(Ngày Tháng Trôi Đi)

Nhã Ca là Nhã Ca. Một góc bể. Một phương trời. Một đầu non. Một đỉnh núi. Vừa an nhiên vừa thấu hiểu nỗi buồn vui nhân thế. Đón nhận và đối đầu, không chỉ là tính cách con người bà, mà nó còn thể hiện trong phong cách viết của bà.

Thơ bà tràn ngập nữ tính, yêu và yêu, sẵn sàng chết vì yêu, sẵn sàng gian truân, sẵn sàng chịu khổ, đọa đày, thậm chí tan tác:

tóc hết thời xanh, tuổi hết dài
hồn bưng bình mật đắng tương lai
tôi về ngó lại thời con gái
thành phố già nua những gốc sầu
(Bàn Tay Chàng)

Thơ bà, như con người bà vậy, dấn thân và đương đầu, không đổ lỗi, tự nhận chịu và cáng đáng, không biết sợ, không mệt mỏi, điềm nhiên.

******

Bà đã có tác phẩm đăng báo từ thời còn là nữ sinh trường Đồng Khánh. Lúc chính thức góp mặt vào giới văn chương với những bài thơ đầu tiên, giới thi văn đàn đã ngạc nhiên, đã thất kinh mà hỏi nhau: Trần Thy Nhã Ca, Trần Thy Nhã Ca là ai?

Bà xuất hiện, và ngay từ ban đầu đã mang một tâm thế mạnh mẽ, tự tin, rõ ràng, minh bạch, không che che giấu giấu, không mơ hồ, xa xôi, bóng gió, như các nhà thơ nữ khác:

đời sống ôi buồn như cỏ khô
này anh em cũng tợ sương mù
khi về tay nhỏ che trời rét
nghe giá băng mòn hết tuổi thơ
(Thanh Xuân)

Cả trong lãnh vực thơ ca và viết văn, bà đều thành công như nhau, nổi trội, gây tiếng vang, có thể nói là nhứt nhì trong giới văn nghệ, suốt mười lăm năm, từ năm bà đặt chân đến Sài Gòn, một ngàn chín trăm sáu mươi cho đến biến cuộc năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm.

Điều khiến cho tôi thích thơ văn bà, không chỉ vì bà là một tài năng, mà thú thật, phần lớn là vì, tất cả các tác phẩm của bà, đều không đề cập đến sex.

Tôi nghe đâu đó rằng, một số nhà văn trẻ, khi họ sớm khao khát sự thành công, danh tiếng, quá nôn nao trong việc muốn tìm kiếm ngay lập tức một số lượng lớn bạn đọc riêng cho mình, thì con đường ngắn nhất để dẫn đến những ước mơ ấy là viết truyện có nhiều cảnh chăn gối.

Nói như vậy, không có nghĩa là tôi không ủng hộ loại văn chương nghiêng về sex. Ở một mặt nào đó, viết về dục tính, tương tợ như một sự ngấm ngầm phản kháng, phản kháng những o ép, những bí bức trong con mắt nhìn phân biệt, trong những cái đầu lấy nho giáo, lễ giáo làm thước đo phẩm chất và năng lực của con người.

Sex trong thơ văn còn là một thái độ, một khẳng định, thái độ tự tin và khẳng định cái tôi.

Tuy nhiên, cá nhân tôi, tôi thích sự chừng mực. Và chuyện thân xác ấy mà, kiểu gì kiểu, tôi cũng thích nó được mô tả bằng những ngôn từ thật mới, những phương pháp, những phong cách thật mới, mới lạ, dễ thương mà vẫn khơi gợi được cảm xúc và ham muốn tự nhiên.

Còn bằng như, đậm quá, mặn quá, thú thiệt, tôi cũng bị dội.

******

Tôi thích sự lãng mạn, thơ mộng, nhẹ nhàng, dẫu rằng, những thức ấy toàn là những thức xa xỉ cho một đời sống thuộc về nửa sau của thế kỷ hai mươi. Nhã Ca cung ứng được điều này, và, tôi thích bà:

và đôi mắt uống hình nhau đã chật
tay nâng tay thương nhớ nuốt trong lời
đêm buồn sương làm mắt ướt xa xôi
và giá lạnh bao nhiêu lời tình tự
(Ghé Môi Sầu)

Bà không chỉ lớn trong văn chương, nghệ thuật. Với tôi, bà còn lớn ở cả tình cảm, nhân cách. Nhìn sự chung thủy tuyệt đối của bà với ông Trần Dạ Từ, nhìn cách bà lui về gia đình, mỗi khi có dịp, là cũng đủ hiểu, bà thuộc tuýp người nào. Văn chương thì cứ văn chương nhưng gia đình, như cái cây vậy, ánh sáng không thể thiếu, và nước tưới, cũng cần phải có mỗi ngày:

con nói đi, kìa, mặt trời mọc
mặt trời đang mọc, mặt trời hồng
mặt trời đang mọc, ba đừng khóc
mưa gió nào chôn nổi rạng đông
(Thơ Sớm Mai)

Tôi còn thích bà ở chỗ, khi được một nhà báo phỏng vấn, nếu chỉ được chọn một trong ba lĩnh vực, là thi sĩ, văn sĩ hay nhà báo, Nhã Ca đã trả lời rất nhanh và dứt khoát: tôi sẽ chọn làm thi sĩ. Mặc dầu, ai cũng biết, Giải Khăn Sô Cho Huế, của bà, một thời, xuất bản không kịp bán; Giải Khăn Sô Cho Huế, được dựng thành phim; Giải Khăn Sô Cho Huế, một trong những tác phẩm đầu tiên của Việt Nam tại hải ngoại, được chọn dịch ra tiếng nước ngoài.

Và hàng trăm truyện ngắn, truyện dài, bút ký… , khác của bà, cũng luôn được độc giả xưa và nay, tìm kiếm.

Có đọc những lời thơ tình tự của bà, tình tự cùng quê hương, tình tự cùng cỏ cây hoa lá, tình tự với cuộc chiến, tình tự với người thương, thì mới hiểu, tại sao bà lại yêu thơ đến như vậy:

Tôi lớn lên bên này sông Hương
Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ
Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ
Cửa từ bi vồn vã bước chân sông
Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng
Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn
Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn
Những sáng chim chiều dế canh gà
Tiếng chuông buồn vui dợn thấu xương da
Người với chuông như chiều với tối
(Tiếng Chuông Thiên Mụ – 09.1963)

Bài thơ nào bà viết cũng hay, nhưng thích nhứt với tôi, vẫn là:

BÀI NHÃ CA THỨ NHẤT

tôi làm con gái
buồn như lá cây
chút hồn thơ dại
xanh xao tháng ngày

tôi làm con gái
một lần qua đây
rồi không trở lại
ôi mùa xuân này

tôi làm con gái
đời như heo may
tình bằng cỏ dại
giận hờn không khuây

tôi làm con gái
một lần yêu người
một lần mãi mãi
bao giờ cho nguôi

tôi làm con gái
bao nhiêu tuổi đời
bấy lần thơ dại
buồn không ai hay.

******

Ngay từ câu đầu tiên, bà đã khẳng định:

tôi làm con gái
buồn như lá cây

Có nhiều kiểu buồn lắm, buồn như hoa rụng, buồn như nước chảy qua cầu, buồn như màu sim tím… . Kiểu buồn của bà, khác chút, bà nhìn thẳng vào nỗi buồn, và thấy nỗi buồn mình, như lá. Chiếc lá mỏng tang, nhỏ bé, non nớt, mới chỉ được ít ngày trên cây, chưa hiểu hết sự đời, mà sắp rồi đây, phải hòa mình vào dòng bôn ba nhân loại, cùng những tháng ngày đằng đẵng:

chút hồn thơ dại
xanh xao tháng ngày

Bài thơ có năm khổ, mỗi khổ bốn dòng, mỗi dòng chỉ bốn chữ, và mở đầu khổ nào, cũng là câu khẳng định, nhắc đi nhắc lại – tôi làm con gái.

Tôi “làm” con gái chớ không phải “là”. Làm với là khác nhau nhiều lắm. Làm, động từ, có nghĩa là chính tôi, chính tôi chuyển động, phải tự chuyển động, phải tự chính mình, chuyển dịch chật vật, cam go trong cái bể đời con gái ấy. Làm, nghe cái gì đó như là, bất đắc dĩ, như là, không được quyền chọn lựa, như là, sinh ra, đã được định sẵn như vậy rồi.

Tôi “làm” con gái. Thì sao?

tôi làm con gái
một lần qua đây
rồi không trở lại
ôi mùa xuân này

Qua đây là qua đâu? Bạn ơi, cũng như tôi đây, tác giả chỉ cho mình bài thơ chớ không cho mình lời giải thích. Tự mà nghĩ lấy, tự mà đoán lấy, nếu bạn đã lỡ thích quá, bài thơ.

Qua đây, là qua cái tuổi còn thơ. Qua đây, là qua các tuổi được gọi là con gái. Qua đây, là qua cái thời gian mà người ta ví, độ tròn trăng.

Cũng có thể, biết đâu, xa hơn, qua đây, là qua xứ Huế, nơi cha sinh mẹ đẻ, mà một lần dứt áo ra đi, là mãi mãi, là vĩnh viễn, khó thể quay về.

Ai mà biết được, tâm tình của những nhà thơ. Có khi mình mới nghĩ tới đầu ngõ nhà thôi, thì trong đầu nhà thơ, họ đã nghĩ tới đẩu tới đâu, xa tít dãy ngân hà rồi.

tôi làm con gái
đời như heo may
tình bằng cỏ dại
giận hờn không khuây

Đời như heo may, với Nhã Ca, lúc này, ở ngay thời điểm này, thì không nên hiểu đời đang ở mùa thu, đang ở buổi xế chiều, mà phải hiểu “heo may” đây là ngọn gió hơi lạnh, hơi se lạnh.

Hơi là hơi hơi, là khẽ khàng, là se sẽ, là yếu ớt, là mỏng manh, là rất nhẹ. Đời thì mong manh mà tình thì như cỏ dại. Dại đây không phải chỉ ngọn cỏ bướng bỉnh mọc cao quá đầu, um tùm, mà dại đây là dại dột, khờ khạo, chưa trải nhiều trường đời, phong ba, bão tố. Bằng chứng là, mỗi lần giận, chỉ giận thôi, chỉ hờn thôi, chưa gì to tát, chẳng gì to tát, cũng đã đủ khiến người viết bài thơ, không khuây.

Là không nguôi quên đó. Giận hờn thôi mà đã không nguôi quên.

tôi làm con gái
một lần yêu người
một lần mãi mãi
bao giờ cho nguôi

Đoạn này tiếp nối với đoạn trên. Mở rộng ra thêm và khẳng định thêm một lần nữa. “Làm” con gái là sao? Là yêu ai, yêu chỉ một người. Yêu ai, là yêu mãi mãi. Và không biết bao giờ mới nguôi, nghĩa là mới thôi, mới dừng lại, tình yêu ấy.

Nhã Ca ơi, tôi xin trả lời thay bà, chỉ cái chết mới chia lìa đôi lứa. Chỉ khi vào thiên thu, thì mới có thể nguôi ngoai.

tôi làm con gái
bao nhiêu tuổi đời
bấy lần thơ dại
buồn không ai hay

Đến đoạn cuối này, thì không chỉ là khâm phục đâu, hơn cả khâm phục, ấy chính là sự ngưỡng mộ của tôi. Ngưỡng mộ một tài hoa hơn những tài hoa bình thường. Ngưỡng mộ một tài năng, một tài năng qua bao vùi dập, vẫn cứ ngang nhiên và cả an nhiên nữa, thênh thang đường cái quan chân bước.

“Làm” con gái, có bao nhiêu tuổi đời, thì xin thưa rằng, tôi sẽ dại đủ bấy nhiêu ngày tháng, tương đương. Dại dột, dại khờ, dại ngây – nên buồn. Mà cái buồn tôi, thì nào có ai hay, nào có ai biết.

Giùm cho.

Xin không nói nữa, vì nếu nói nữa, như cái hoa, nở đến phút giây cuối cùng, chẳng còn gì e ấp, nó trơ ra, và rụng cánh. Nên thôi, xin không bình thêm nữa.

******

Đơn giản mà thiệt hay. Dịu dàng mà sâu sắc. Ngây thơ mà sớm chín. Hồn nhiên mà rất buồn. Tĩnh lặng mà đam mê. Khổ đau mà hạnh phúc. Nhỏ bé mà tự chủ. Đó chính là Nhã Ca.

Nếu chúng ta từng biết một nhạc sĩ lẫy lừng Trầm Tử Thiêng với những bài như: chuyện một chiếc cầu đã gãy, cơn mưa hạ, đêm nhớ về sài gòn, có tin vui giữa giờ tuyệt vọng… , thì, hẳn các bạn yêu nhạc của ông, cũng sẽ biết, ông từng phổ thơ cho Nhã Ca, đó là Bài Nhã Ca Thứ Nhất.

Và đặc biệt, ông không sửa, không thay, không đổi, bất cứ một từ nào, một chữ nào của nguyên gốc bài thơ.

Làm sao mà đổi được.

Bài thơ hay quá mà.


Phạm Hiền Mây, the poet born in 1971 in Saigon, Vietnam. The prolific poet speaks, thinks, sleeps, and dreams in Kanji, Lục bát, six-eight syllables. Her poetry can be accessed through all platforms, including Facebook, Amazon, and local and international websites.