imagine

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Imagine

The Nation placed in the palm of my hand, my fingers slowly wrapped around it, me holding tightly onto the Nation as though it was my lover. The chaos ensued inside my fist. Clobbering of sledgehammers, frantic eddies in the ponds, lullabies, yearnings of the heart, singing softly, laughing wistfully. I tightened my hold and louder were the clambered sword fights, locomotion, pounding heart beat, teasing, moans… The tighter my fist the louder it got, the shrieking, bellowing, screeching as though a bridge was collapsing, flipping over cars, homes were burning, everything was in flames. Triggered by the onslaught of sound, I tightened my jaw, grinding my teeth, my hold was stronger than ever. The explosions in my hand were thunderous, earthquakes, tsunami, devastation.

I loosen my fist to take a peek inside, like a child trying to hold onto a tiny cricket. Everything was upside down, it was a war zone. A mother was collapsed by her sick child’s bedside, the child curled up like a white innocent question mark, now and then, the question mark would spasmodically cough. Nearby was a toothy pearly grin of a youth in a blue shirt. In the middle of the floor, a fisherman, his face sunburnt, black like the bottom of a charcoal pot, the bandage around his head was soaked with blood. In his hand was a piece of torn sail or banner. An elderly man bent over lugging a gùi on his back loaded with woodchip quietly walked away. On the road, there’s a burning car, it was blackened by the smoke. Haggard and confused people huddled together, pointing at this and then that…

I opened both of my hands. Crumbling pieces of land fell out. The yellow pebbly soil of Móng Cái, the Bazan red earth of the Western highlands, the alluvial loose soil of Cà Mau. The rivers slipped down from the web between my fingers. Kỳ Cùng river, Ba river, Hậu river. Through my fingers fell pieces of the forest. The Northwest Iron woods, the West highland jungle of giant Crape-myrtles, the Southwest Melaleuca forest. My mother’s words were in my right ear: Hold onto it child, close your fingers, otherwise there will be nothing left… My father’s quiet words in my left ear: Hold on tightly child, otherwise there won’t be anything left… But I was afraid. Holding on meant I had to endure the assault of these noxious sounds. Opening my hands, meant all that was dear to me, would slowly slip away, through my fingers…

I didn’t have the strength to write down in words the appellation of what I had witnessed, I didn’t have the strength to sit at my desk and scribble on blank pieces of paper all night. I drew instead, an elephant, and as soon as I stopped drawing, the elephant slowly stepped from the page, off my desk, and left me alone in my room. I drew a bird, and in the last stroke of the lead, the bird quietly lifted its wings from the pages and flew out of the window of my room. I drew a wooden idol, and in the last stroke of the pencil, the wooden idol had also stepped from the pages and exited through the door of my room. I was about to draw the emperor, but the feeling had filled me with dread! I knew eventually even the emperor would leave me as well. And I will be alone again. I drew myself, and in the last stroke of the pencil, I saw myself rising from the pages before heading for the door. How could that be, how am I gone? What did I do wrong, all I wanted was the truth, all I wanted was the ability to separate fact from fiction? Slamming the pencil on the wooden desk, I cried out for myself, my throat was hoarse: “Don’t, don’t leave me, please don’t…”.

Everyone and everything that I loved was gone. I was alone. I dropped my hands, not holding on, letting go, I gave up, my hands were no longer that of the living. The lines in my palms broke into random sections, without direction. There were wild elephants, birds flying, wooden idols, emperors, then there was me, leaving, there were all these goodbyes… I wanted to talk to them, so I could ask: “Why would…?” In the middle of the night, or has time ceased to exist. The moonlight was visible, filtered through the dense fog. I found myself at the door looking out, surprised to find the manifestations of my drawing, each character lined up quietly, serious and sad in my front yard.

The elephant through watery eyes: “We tried to run from them…”

The birds’ piercing eyes stared at me as they chirped: “We’re being hunted..”

The confused wooden idols: “We were bullied…”

I shouted with resentment: “We were deceived…”

They spoke up all at once, whining, upset.

I asked: “Who or what is doing all the chasing, hunting, bullying, and deceiving?

In unison, they said: “The emperor!”.

But, I didn’t have a chance to draw the emperor? In unison, they said: “There’s still an emperor!”. I asked: “Where?”. They answered: “He’s in shadow!”. Their voices trembled with fear. Shaking in the dense fog, trembling in the moonlight. No, how could there be an emperor, I couldn’t draw the emperor, I was too scared. Flinging my front door wide open, I stepped outside to investigate, what if they were right. My eyes strained, I searched all corners of the fairly large garden mostly in the dark. I checked beneath the looming shadows of the trees, bushes, overhanging vines, inside the rainwater barrels, chicken coop, and dog kennel. There was nothing. I had a second look to make sure, still, there was nothing. Annoyed, I shouted: “Emperor, where are you?”. My voice broke like falling pebbles as it dispersed through the dense fog. The elephant, bird and wooden statue after all the crying and whining, were now fast asleep around my front door, as though hypnotized. The poor things! The poor genteel things, they would never hurt anyone!

I was sure, for instance, that if I did find the emperor hiding somewhere in the garden, I would place him in my palm, and I would proceed to slowly crush him. Echoing from inside my fist would be the sound of constant fancy parties, conniving  plots and conspiracies? The sound of gold clanking and painful seedy pounding of flesh upon flesh and mattresses? The hard sound of power or nefarious mumble of vile cowardly barter and sales of human souls?

Then I will open my hand to see what will fall out. Royal edicts, imperial decrees piled up, an erection of power or crumbling swords, rotten to the bone? Scented impertinent golden dias or wood and rocks ground down like pig’s feed? Or tales of folklore no one cares to read anymore?

I don’t know since I’ve never drawn an emperor.

Nor have I ever met the emperor.

Hence, I will have to place the Nation in my hand, I will slowly wrap my fingers around it, and I will squeeze, I will hold on…/

_____

June 2020

Tưởng tượng

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Tôi đặt Đất nước vào lòng bàn tay rồi từ từ nắm chặt lại, như cách những người đang yêu nắm lấy tay nhau. Cả một mớ hỗn độn đang vẫy vùng trong đó. Tiếng guốc khua, tiếng ao hồ gợn sóng, tiếng ru con, tiếng thổn thức của trái tim, tiếng hát nho nhỏ và tiếng cười mơ hồ. Tôi nắm chặt hơn chút nữa, tiếng dao kiếm va chạm, tiếng động cơ, tiếng tim đập mạnh, tiếng cười đùa, tiếng rên rỉ kêu than… Tôi bóp chặt tay, tiếng ré, tiếng gào, tiếng thét như sập cầu như lật xe, như cháy nhà cháy chợ. Bị kích động bởi những âm thanh mạnh, tôi nghiến răng bóp chặt. Âm thanh từ bàn tay phát ra như sấm sét, kinh thiên động địa. 

Tôi mở tay ra, nhẹ nhàng như một cậu bé với bàn tay đang giam giữ một con dế nhỏ, và ghé mắt nhìn vào. Những hình ảnh chồng chéo như một bãi chiến trường. Một người mẹ gục đầu bên giường bệnh của con, cháu bé nằm co như một dấu hỏi màu trắng, lâu lâu, dấu hỏi lại ho và quằn quại. Bên cạnh là một hàm răng trắng nhởn đang nhe ra cười của một cậu thanh niên mặc áo xanh. Giữa đất, một ngư dân mặt đen như đít chảo với dải băng thấm máu quấn trên đầu. Trên tay ông ta là một lá buồm hoặc lá cờ đã bị rách. Một cụ già còng lưng gùi một đống củi lặng lẽ bước đi. Trên đường, một chiếc xe cháy trụi, đen thui. Một nhóm người mặt mũi hốc hác tối tăm đang đứng vây quanh, chỉ trỏ…

Tôi xòe hết mười ngón tay. Những vạt đất rụng rơi lả tả. Đất sỏi vàng Móng Cái, đất đỏ bazan Tây nguyên, đất phù sa Cà Mau. Những dòng sông trôi tuột xuống dọc kẽ tay. Sông Kỳ Cùng, sông Ba, sông Hậu. Những vạt rừng rơi xuống kẽ tay. Rừng lim Tây bắc, rừng bằng lăng Tây nguyên, rừng tràm Tây nam bộ. Mẹ nói bên tai: Nắm tay lại đi con, không thì sẽ không còn gì… Cha nói nhỏ bên tai: Nắm tay lại đi con, không thì sẽ không còn gì… Nhưng tôi không dám. Nắm tay lại, tôi bị những âm thanh cuồng nộ kích động. Mà xòe tay ra, lại trôi tuột những hình ảnh thân thương…

Không đủ sức gọi tên những điều mình nhìn thấy, tôi ngồi lại bên bàn vẽ những nét nguệch ngoạc lên giấy, trong bóng đêm. Tôi vẽ con voi, xong những nét cuối cùng, con voi chậm rãi bước ra khỏi phòng. Tôi vẽ con chim, xong những nét cuối cùng, con chim lặng lẽ bay ra khỏi phòng. Tôi vẽ tượng gỗ, xong những nét cuối cùng, tượng gỗ cũng đi ra khỏi phòng. Tôi định vẽ một ông vua, nhưng không dám! Tôi sợ những ông vua trước sau rồi cũng sẽ bỏ ra đi. Cuối cùng, tôi vẫn một mình. Tôi vẽ tôi, xong những nét cuối cùng, tôi cũng đứng dậy bỏ đi. Có lẽ nào, ngay cả tôi cũng đã bỏ tôi đi? Tôi đã gây ra lỗi gì, hay chỉ vì đã trót muốn nghe những âm thanh thật, nhìn những hình ảnh thật của cuộc sống này? Tôi buông bút, gọi theo mình, giọng khản đặc: “Đừng bỏ lại, tôi, ơi…”.

Những thân yêu tin cậy đã bỏ đi hết rồi. Còn mỗi tôi trong căn phòng hoang vắng. Bàn tay tôi thõng xuống, không nắm không mở, như tay người chết. Những đường chỉ tay đứt nối một cách rối ren,loạn xạ. Này thì voi hoang, này thì chim trời, này thì tượng gỗ, này thì vua chúa, này thì là tôi, này thì chia ly, này thì tan rã… Tôi muốn gặp họ, để hỏi một câu, chỉ một câu thôi: “Vì sao lại…?” Có lẽ phải nửa đêm, hoặc là thời gian không còn trôi nữa. Bóng trăng cũng đặc lại trong sương. Tôi mở cửa phòng nhìn ra, kinh ngạc thấy những bức tranh của tôi đứng xếp hàng ngoài đó, lặng lẽ, u buồn. 

Voi nói bằng ánh mắt ngân ngấn nước: “Chúng tôi đã bị xua đuổi…” 

Chim nói bằng ánh nhìn cong vút: “Chúng tôi đã bị truy sát…”

Tượng gỗ nói bằng thớ thịt não nề: “Chúng tôi bị cưỡng bức…” 

Tôi nói bằng lưỡi cong như chiếc muỗng: “Chúng tôi đã bị lừa dối…” 

Tất cả đồng thanh cất tiếng, kể lể, than vãn. 

Tôi hỏi: “Ai, ai đã xua đuổi, ai đã truy sát, ai đã cưỡng bức, ai đã dối lừa?” 

Tất cả đồng thanh: “Vua!”.

Nhưng, tôi đã kịp vẽ vua đâu, tôi chưa vẽ vua bao giờ mà? Tất cả lại đồng thanh: “Vẫn có vua!”. Tôi hỏi: “Ở đâu?”. Họ trả lời: “Trong bóng đêm của khu vườn!”. Giọng nói của họ toát lên vẻ sợ hãi. Họ run rẩy trong sương, run rẩy dưới trăng. Không lẽ nào, ở đây lại có vua, trong khi tôi chưa vẽ vua bao giờ? Tôi đẩy cửa bước ra ngoài, tôi phải tìm thật kỹ xem, biết đâu điều này lại là sự thật. Tôi căng mắt ra nhìn vì khu vườn khá rộng và tối. Nhìn vào trong hốc cây, trong bụi cỏ, dưới tán lá, trong thùng đựng nước, cả trong chuồng gà, chuồng thỏ. Không thấy. Tìm lần nữa, vẫn không thấy. Bực mình, tôi gọi to: “Vua ơi, vua ở đâu?”. Tiếng của tôi vỡ ra như sỏi, tan trong sương đêm. Bọn voi, chim và tượng gỗ sau một hồi khóc than kể lể đã đứng ngủ ngay trước cửa, như bị thôi miên. Nhìn mà thương lạ! Những hình hài hiền lành ấy, chúng đã bao giờ làm hại ai chưa?

Tôi chắc chắn, giả sử bây giờ tìm được vua đang nấp đâu đó trong khu vườn này, tôi sẽ đặt vua vào hai bàn tay và bóp chặt. Từ trong đó, sẽ vọng ra nhưng âm thanh dặt dìu đài các yến tiệc hay tiếng thì thầm của những thủ đoạn mưu toan? Sẽ là tiếng vàng sắt chen nhau hay tiếng gối chăn đau buốt? Tiếng hùng cường cứng cỏi hay tiếng đê hèn thỏa hiệp thì thào đổi chác, bán mua?

Rồi tôi sẽ xòe mười ngón tay ra xem cái gì sẽ rơi lả tả. Những ngự chuẩn ngự phê dồn dựng hùng cường hay những bảo kiếm nát tan, long bào hắc ám? Là sừng sững ngai vàng hay gỗ đá vỡ ra như cám? Hay chỉ là một dòng chữ cổ xưa không còn ai đọc được?

Tôi không biết, bởi tôi chưa từng vẽ vua bao giờ. 

Tôi cũng chưa từng gặp vua bao giờ.

Vì vậy, tôi lại đặt Đất nước vào lòng bàn tay rồi từ từ nắm chặt lại…/


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

accident

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện 
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

 ACCIDENTS

Accidentally, I spilled my wine, instantly a stable of galloping horses leapt out in neighs and onomatopoeic thunder. Accidentally, I broke the moon, immediately from the cracks in the moon, butterflies with human faces gloriously bloomed. Accidentally, I caught a flame; instantly it exploded into stars of vast multitudes. All these incidents had morphed into streams of shiny tears. And you will never know, they might just meet each other on a day not far, the staple of horses meeting the stars, the stars meeting those butterflies, the butterflies may find at the apex the wind whirl mist.

Tonight the sky over Mount Chư Mang is bursting with the wind, no snow but the heavens is a fog of blinding love and longing. Butterflies dreaming of horses, horses searching for stars, stars like falling comets.

All will eventually break; eventually, change, including what we believe as abiding. But amid such heartbreaking separation is a devastating beauty impossible to describe. The world is now in pieces, ready to ignite, burn, fly, transform, leave night behind. I set myself on fire each day, cooking by the hour, till the flame is exhausted, till my blood is no more. Emulating inertia, we all disintegrate as we wait. Know it or not, a glass of wine, pieces of the moon, a sky full of glorious butterflies, all one day, will unite in the maddening devastation of death. Along that dusty road we pass, often we have tripped on that shapeless wire, fragile like a spider web adorning the first dew but razor-sharp. Often these wires give a jolt of fright, an ache to the core to those proudly indifferent. Those fragile threads tighten often stronger than rope. What I’m telling you here is an incomplete tale, but never mind, just let me go! Because nothing is ever easy, how should I continue?  I stepped into it, but the heartbreaking story of Mount Chư Mang is not powerful enough, all the sympathetic characters have been cut into unimaginable meaningless bits of scrap. So this tale continues to roam the wilderness, like those wild animals tortured to blindness, never to find their way home.

Before we break and disappear, the other half of us is us; hence we never had to look for the other half. We’re wholly content with happiness, no break-up, no desperate longing. Everywhere we went the other half followed; and I am the other half of I, intense, consuming. But from the day we accidentally dropped the glass of wine, our hands accidentally broke the moon, everything immediately changed. The neighs of the horses echoed through the mead looking for the butterflies, the butterflies ardently seeking the moon, and we’re anxious having lost that half of us. The tale half complete idle hid in the depths of revered mountains and ravines. You cried out, hey, where is my other half?

A glaring familiar flipped atop the canopy, they tease us, laughing at us. Behind us is darkness, and in front, the blinding light is nowhere to be found. We still cried out each night; we continued to cry out, each day, hey.

Till one day unclear exactly when, rain hail or shine, we are no longer. Unable to find the other half, the other half lost somewhere, worst, like flint we no longer desire to ignite in the darkest of night. We reside somewhere on the side of the dark path in the age of dreams, asleep, turned into stone, trees. Not young enough for fairy tales, or old enough to make fun of the world, you’re like a gladiator after a heroic battle, resigned to licking your wounds, unreservedly not happy, nor sad. From the vacant hollows of those eyes, flew a constellation, staples of horses, butterflies, and flocks of birds.

An accidental spill of wine, an accidental shattering of the moon, a random drop of butterfly wings, an unexpected flare of light, us accidentally igniting.

Where can anyone witness such tales?

October 2018

Lỡ

        Ta vừa lỡ tay làm đổ ly rượu, lập tức một đàn ngựa nhảy ra hí vang và tung vó. Ta vừa lỡ tay làm vỡ một vầng trăng, lập tức những cánh bướm sặc sỡ mang gương mặt người xuất hiện trong tư thế giao hoan. Ta vừa lỡ tay bắt hụt một ngọn lửa, lập tức ngọn lửa bay cao và biến thành muôn vàn vì sao sáng. Tất cả những đổ vỡ ngẫu nhiên ấy lại vô tình trở thành những tráng lệ lung linh. Và rồi biết đâu chừng, chúng sẽ gặp nhau vào một ngày nào đó không xa, bầy ngựa gặp những vì sao, những vì sao gặp những cánh bướm, những cánh bướm lại đi tìm ta trên đỉnh núi mù sương gió thẳm.

       Núi Chư Mang đêm nay gió về ngập trời, không có tuyết mà mù trời thương nhớ xa xăm. Cánh bướm nằm mơ vó ngựa, vó ngựa đi tìm sao trời, sao trời rơi thành những vệt lân tinh…

       Cái gì rồi cũng sẽ vỡ tan, rồi cũng thay đổi hình hài, kể cả những thứ tưởng chừng bất biến. Nhưng ngay cả trong sự chia lìa đau đớn nhất cũng chất chứa vẻ đẹp rã rời khó diễn tả. Cả thế giới đang vỡ vụn ra để cháy lên như lửa, vừa cháy vừa đi vừa bay vừa tan biến, bỏ đêm đen lại phía sau. Ta cũng đang tự đốt mình từng ngày, cháy lên từng ngày, cho đến khi lửa tàn, cạn máu thì thôi. Theo quán tính, ta vừa tan ra vừa chờ đợi. Biết đâu đấy, một ly rượu, một vầng trăng vỡ vụn, một bầu trời đầy cánh bướm giao hoan, tất cả sẽ hòa cùng nhau trong một vũ điệu chết chóc cuồng nhiệt, mai này.

       Dọc con đường bụi bặm ta qua, đã nhiều lần vướng phải những sợi dây vô hình, mỏng manh như mạng nhện buổi tinh sương nhưng sắc ngọt vô cùng. Chúng làm cho kẻ vốn dửng dưng một cách ngông nghênh nhiều khi cũng giật mình thảng thốt và đau buốt tâm can. Những sợi mảnh mai ấy lắm lúc cột chặt và siết đau hơn dây thừng. Ta chìa câu chuyện còn dở dang ra và nói, thôi, để ta đi! Nhưng làm sao mà dễ dàng đến thế. Ta bước chân qua nhưng câu chuyện thổn thức về núi Chư Mang thì không đủ sức, chúng, những ký tự hiền lành liền bị cắt đứt thành muôn ngàn mảnh tả tơi vô nghĩa. Câu chuyện ấy còn lang thang mãi trong rừng sâu núi thẳm, như những con thú hoang bị chọc mù mắt, không tìm thấy đường về.

       Khi chưa từng vỡ vụn và tan biến, một nửa của ta là ta, vậy nên ta không cần đi tìm một nửa nào nữa hết. Ta hạnh phúc vẹn toàn với sự đầy đủ, không có cách chia, không có cồn cào mong nhớ. Ta đi đâu liền có ta theo đó, ta là một nửa của ta, thắm thiết, keo sơn. Nhưng kể từ khi lỡ tay đánh rơi ly rượu, lỡ tay làm vỡ vầng trăng, mọi thứ lập tức thay đổi. Bầy ngựa hí vang trên thảo nguyên đi tìm cánh bướm, cánh bướm dập dìu đi tìm vầng trăng, và ta thì nôn nao vì thiếu mất một nửa của chính mình. Câu chuyện thì còn mãi dang dở lang thang trong chốn rừng thiêng núi thẳm. Ta gọi to, ơ này, một nửa của tôi ơi…

       Bầy linh miêu nghe thấy buông tay cười ngặt nghẽo trên cây. Phía sau lưng u tối, phía trước mặt sáng lòa không còn thấy lối đi. Ta vẫn gọi mỗi đêm, ta vẫn còn gọi tiếp, mỗi ngày, ơ này…

       Cho đến một ngày không rõ là ngày nào, không rõ mưa hay nắng, ta không còn là ta nữa. Không tìm  ra một nửa của mình vừa đi lạc đâu đó, tệ hơn, ta cũng không còn khát vọng cháy lên như que diêm đốt mình lên trong đêm tối. Ta ngồi lại đâu đó bên đường mù mờ tuổi mộng, rồi ngủ quên, rồi hóa đá, hóa cây rừng. Không còn trẻ để nằm nghe cổ tích, chưa đủ già để cười nhạo nhân gian, ta như một đấu sĩ tả tơi sau trận thư hùng, ngồi vạch bụng nhìn vết thương mình chảy máu, tuyệt nhiên không thấy vui, không thấy buồn. Đôi hốc mắt trống không, từ trong đó bay ra hằng hà sa số trăng sao, bay ra vó ngựa bay ra cánh bướm, cả những cánh chim trời.

       Lỡ đổ một ly rượu, lỡ làm vỡ vầng trăng, lỡ làm rơi cánh bướm, lỡ thả rông ngọn lửa, rồi lỡ cháy mình lên…

       Có ai thấy ở đâu không?


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

a weed strewm path

A poem in Vietnamese by Nguyễn Man Nhiên
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Nguyễn Man Nhiên

the morning passed the forest fading

a weed strewn path

home to lovers once upon a time

no one now 

while I’m here watchful of the clouds

or perhaps waiting for the early light

and the cicadas at noon

the songs in patches of the forest

and a peeling wall

the shedding rows of trees

in the glory of the sunset

buổi sáng mờ qua rừng

con đường gồ ghề cỏ

căn nhà thủa tình nhân

không còn ai ở đó

tôi đứng nhìn mây bay

hay đứng chờ nắng sớm

và buổi trưa ve sầu 

những khu rừng ca hát 

và bức tường bong sơn 

những hàng cây rụng lá

trong vẻ đẹp hoàng hôn

… 

© 2017 Nguyễn Man Nhiên


Nguyễn Man Nhiên, the poet and digital artist currently resides in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

sitting corpses

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Hỏi ai by Đinh Trường Chinh

a heart flapping its wings
mid-winter flying
hopeful journeys flags waving 

people 
like sitting corpses
in freshly covered graves
a picture of a brave new world

the sunrise
liberty on the breast of a red rose
sound of horns cautioning
hot like a kind of fire reverberating
burning down a couple convenient stores
selling all that is in a dream

but sadly for those who 
do not understand
the meaning beyond the burnt envelopes
soft aspect of ashes

as the constituent sat there dead silent
like monks meditating…

(November 2021)
---

một con tim đập cánh
bay trong mùa đông
những chuyến xe vẫy cờ chưa tuyệt vọng

những bóng người
như những thi thể vẫn ngồi
trong những ngôi mộ vừa mới đắp
mang dáng hình một thế giới mới

buổi bình minh
tự do trên ngực một bông hồng đỏ
những âm thanh đang bóp còi
vang lên nóng như một thứ lửa
cháy cả mấy cửa hàng tạp hóa
bán mọi thứ của giấc mơ

chỉ tội nghiệp cho những người
không hiểu
ẩn ngữ của bao nhiêu cái phong bì đã cháy
phần mềm tro bụi

và các cử tri đang ngồi chết lặng
như những thiền sư...

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

like a child far from home

A poem in Vietnamese by Nguyễn Man Nhiên
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Nguyễn Man Nhiên

like a child far from home

I tried my best to begin again

buying into foolish characters

to then sit and yawn(laugh)

—July 2021

như đứa trẻ xa nhà đã lâu

tôi cố gắng để bắt đầu

mua một ký tự ngớ ngẩn và ngồi

ngáp

© 2014 Nguyễn Man Nhiên


Nguyễn Man Nhiên, the poet and digital artist currently reside in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

the last of autumn

A poem in Vietnamese by  Nguyễn Lãm Thắng
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Mùa Thu
the last of autumn 



quiet
what’s left of autumn
clouds hiding spring 
in an attic on 30th street
spring hiding the heat in your chest
curves hiding beneath layers of the thick cloth
autumn rosy upon a portrait of you by the stairwell
and suddenly I’m overwhelmed by autumn

through glances to the heart’s content we’ve kissed each other in passing
through the thoughtful minutes of still life embraced each other
through the moving sounds upon sweet lips more than any love song
as we loved to the limit of the inconvenience of the body
as we owe each other the endless centuries

love as alluring as  
the illusion of us
rain knowingly drifts away across the pavement
knowing whirlwind via the eaves
as we knowingly embrace each other
knowingly as a dream
so we may be true in this world

March 2021
---

cuối thu



thật im lặng
bây giờ 
cuối thu rồi
đám mây dấu mùa xuân trong căn gác ở ngách phố 30
mùa xuân dấu lửa trong ngực em
nõn nà dấu trong bộ váy ngợp cốm 
thu bất chợt hồng trong bức tranh em vẽ treo phía cầu thang
anh choáng ngợp trong thu
 
ta hôn bằng ánh mắt cho đã đời ngày gặp vội
ta ôm bằng không gian tĩnh lặng của từng phút giây biết nghĩ
ta thở bằng âm thanh mấp máy trên môi ngọt hơn khúc nhạc huê tình
và ta yêu đến ngại ngùng thân xác
và ta nợ nần nhau hàng hàng thế kỷ
 
tình yêu tưởng chừng huyễn ảo
đang quyến dụ ta rồi
ngoài phố mưa biết bay đi
bên hiên gió biết cuốn đi
ta biết cuộn vào nhau 
thế giới biết ảo 
cho ta thật nhau 

Nguyễn Lãm Thắng

Born August 14th, 1973, writes under many pseudonyms: Nguyễn Lãm Thắng, Lam Thuỵ, Trà Thị Kim Xuyến and as a children’s author: Nguyễn Trần Bảo Nghi, Du Lãm, Nhật Quang, Nguyễn Trần Khải Tú…

Hometown: Tịnh Đông Tây, Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam. 

Bachelor of Arts and Literature at The University of Huế, 1998.

Master in Hán-Nôm, the Faculty of Social Sciences and Humanities, The National University of Hà Nội, 2011.

Ph.D. in Linguistics, The Faculty of Science, The University of Huế, 2014.

Currently a resident lecturer of the Faculty of Education, The University of Huế.

Collaborating platforms: Tiền vệ, Da màu, Hợp lưu, Litviet…  

Published books:

1- Điệp ngữ tình (Nxb Hội Nhà văn, 2007)

2- Giấc mơ buổi sáng (333 bài thơ thiếu nhi, NXB Đại học Huế, 2012)

3- Họng Đêm (tập thơ, Nxb Văn học, 2012)

4- Đầu non cuối bãi (tập thơ, Nxb Đại học Huế, 2014)

5- Giấc mơ buổi sáng (345 bài thơ thiếu nhi, Nxb Văn học, 2017)

6- Thương hoài thương hủy (tập thơ, Nxb Đại học Huế, 2020)

Awards:

– Giải thưởng báo Mực tím, 2003

– Giải thưởng Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, 2007 (tập thơ Điệp ngữ tình)

– Giải thưởng Hội Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, 2012 (tập thơ Họng đêm)

– Giải thưởng Hội Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, 2020 (tập thơ Thương hoài thương hủy)

_____

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

How can a poet escape the spell?

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

HOW CAN A POET ESCAPE THE SPELL?

A thousand-year-old firewall trapped the poet.  The only view out was up. Looking up always for some may induce delusions, they forget the old saying about a frog at the bottom of a well. What the poet is used to seeing was the view of the moon at midnight. Once the poet discovered a door, with all his might, the poet opened it.

There was a courtyard; the poet cried out for help. There was only the moon covered by drifting clouds, an owl hooting, and the whimpering roots of a tree. But the poet ignored them, he peered into the distance and discovered a dragon spitting rain calling upon the wind as though it was not the 21st century but in some folklore. Probably in the poet’s head, he believed he was in the garden of Eden, a socialist existence better than heaven. Even Adam & Eve do not have clothes, and anything eaten could be forbidden yet still they believed they were in Eden. Hence the poet is definitely in paradise, right?

The poet continued to find a way to escape.

Not just the ancient trees, the owls, cats, or the serpent, the poet met two young women. Ecstatic, the poet asked them for a way out of the castle-citadel-like prison.

Who are you? The poet asked. We are The Truth and Self-reliance

And two women helped the poet escape the spell.

_____

November 2020

KHI BỊ BỎ BÙA MÊ, THI SĨ LÀM SAO ĐỂ THOÁT RA?

Thi sĩ bị bao quanh bởi một bức tường lửa đã ngàn năm tuổi. Chỉ có thể ngước nhìn lên cao. Nhìn lên cao miết nhiều kẻ hoá tâm thần hoang tưởng, quên mất câu ếch ngồi đáy giếng. Nên hình ảnh thi sĩ hay thấy là mặt trăng vào lúc nửa đêm. Một lần thi sĩ tình cờ phát hiện một cánh cửa, thi sĩ lấy hết sức đẩy ra

Có một khoảng sân, thi sĩ kêu to mong tìm người cứu. Chỉ có mặt trăng và đám mây che ngang, một con cú kêu đêm, một gốc cây đang rên rỉ. Nhưng thi sĩ không quan tâm, chàng cố nhìn xa xa thì thấy có một con rồng đang phun mưa gọi gió giống như bây giờ không phải thế kỷ 21 mà là ờ trong cổ tích. Cũng tại lúc nào thi sĩ cũng nghĩ mình đang ở thiên đường, quá hơn là thiên đường xã hội chủ nghĩa. Ngay cả Adam & Eva không có quần áo mặc, làm gì nói gì ăn gì cũng bị cấm mà cứ ngỡ mình đang ở thiên đường, thì thi sĩ ở thiên đường chứ còn ở đâu?

Thi sĩ vẫn cố gắng tìm đường thoát.

Không phải chỉ cây cối, cú mèo hay rồng rắn mà thi sĩ còn gặp hai cô gái. Mừng rỡ, thi sĩ hỏi đường trốn thoát khỏi lâu đài thành quách mà thật ra là nhà tù giả dạng này.

Nàng là ai? Thi sĩ hỏi. Chúng em là Sự Thật và Tự Làm Lấy Mà Ăn.

Và hai nàng dẫn thi sĩ trốn thoát ra khỏi chốn bùa mê.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Animal Sacrifice

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

Truyện ngắn

Vật tế

1.

Mù sương.

Không lửa. 

Khói.

Có khói. Khói bỏng mắt. Cay môi. Xồng xộc chạy theo cuống phổi vấp ngã trong thanh quản. Những âm thanh đùng đục thoát ra từ cuống lưỡi rồi bục thẳng vào khói. Như một khối ung nhọt, bị dồn nén lâu ngày được bung vỡ sung sướng. Trời vẫn mù sương khi ánh sáng đã lọt xuống, thủng cả một khoảng trắng trong không gian kì quặc này. 

Một lũ người quỷ ám hình dạng mờ ảo thoắt ẩn thoắt hiện trong sương mù. Hẳn sẽ nắng gắt lắm đây. Xuân thứ ba mươi mấy, năm của những con giáp bị người ta vặt lông làm vật cúng tế chào đón thời gian không chút thương xót. 

2.

Đợi đám đông di tản, nới rộng vòng tròn vây phủ, những người lạ mặt (tôi gọi đó là những người lạ mặt, vì họ có những khuôn mặt rất lạ, không giống mặt người) mới tiến gần lại giàn lửa thiêu. (trên giàn không có củi, không có chất dẫn cháy, không đuốc lửa cầm tay). Đám đông vừa mới nới rộng vòng tròn, lại tiếp tục dồn vào địa điểm ấy, tò mò hướng những ánh nhìn về phía vị trí chứa vật tế. Tôi, đứng giữa đám đông, tôi di dời theo đám đông. Và, chính tôi, cảm thấy mệt mỏi chán chường cuộc di dời lặp đi lặp lại của đám đông. Vây bủa, tản ra, rồi lại vây bủa, tản ra. Hò hét. Câm lặng. Rồi lại hò hét. Đám đông luôn luôn kì quặc đến mức không thể nào chịu nổi, theo như tôi nghĩ. Ấy vậy, tôi vẫn bị lôi kéo vào những cuộc chơi của đám đông, chỉ vì sự tò mò hồn nhiên của mình. 

Dẫu thế, ngay khi tôi hồn nhiên hùa theo cuộc chơi của đám đông trong buổi mù sương tờ mờ này, thì chính nó, những hiện cảnh kì quặc trên giàn tế ấy đã gợi một thứ cảm giác nào đó chơi vơi, buồn rơi nước mắt. Tôi có thể thấy những giọt nước mắt không nhỉ? Nó giống sương không nhỉ? Làm sao để tôi nhận ra đâu là nước mắt, đâu là sương là khói?

Tôi quyết định rời bỏ đám đông. (Tôi không thuộc về họ). 

Tôi là tôi. Ngay chính khi này, tôi vẫn muốn khẳng định rằng tôi phải là tôi. Một cá thể riêng biệt, buồn bã, đầy rẫy nỗi niềm sầu muộn ư? 

Tôi là tôi. Kẻ bị ruồng bỏ trong một ngày mù sương, đầy khói mà tôi biết, tôi nhớ. Thứ mù sương lạnh lẽo. Thứ mù sương hãi hùng cơn mê ẩn nấp những nguy cơ chết chóc, mất mát nào đó đã được dự báo trước. Ở giữa đám đông, tôi vẫn là tôi. Đám đông không chạm được vào tôi. Nhưng, tôi thì chạm được vào họ. Bằng tiếng thét, bằng những không gian ảm đạm, bằng chính cuộc chơi kì quặc của họ, và bằng chính sự vô hình của tôi. Dù rằng, lúc này, tôi cũng đang rất tò mò về sự biến kì quặc trước mặt mình trong sương khói vây phủ của sáng hôm nay. 

Một quang cảnh trống rỗng, cùng với một đám đông diễn trò bao vây, rồi sau đó tản ra, và lại ùa vào hét lên những tiếng bùng bục trong cổ họng. Tất cả chỉ có thế. Tôi chẳng hề thấy thứ gì hiển hiện hữu hình và ắt phải cầm nắm tóm bắt được. Ấy vậy, buổi tế vật dường như vẫn sẵn sàng ngay trước mắt tôi một cách đầy hứng khởi. Vài người khoác bộ cánh chỉnh tề tay cầm những tệp giấy có chữ (chắc chắn phải có chữ, nếu không họ sẽ phải làm gì cho việc bắt đầu buổi tế?). Một gã trẻ măng khệnh khạng từng bước chân đi chính giữa các vị ấy, đưa cao tệp giấy lên soi dưới mặt trời. Tệp giấy nghiêng nghiêng rồi phụt khói. 

Sương đã tan. Nắng đã bắt đầu gắt và bốc lửa. Nắng xuyên qua chữ. Những cái bóng in lên mặt đất. Bóng người chập choạng va đập vào nhau. Bóng chữ oằn xuống cong vẹo các kí tự viết tắt mà tôi kịp thấy chúng rơi tuột ra khỏi một trang giấy. Tôi nhìn theo bọn kí tự dưới đất. Chúng nhảy độp độp, như gõ lên nền đất thịt những thanh âm kì lạ. “có phải chúng đã vượt thoát”, (như tôi). Tôi nghi ngờ, rồi tự khẳng định lạc quan, rằng: “chúng sẽ vượt thoát sớm thôi, nhanh chóng thôi, chúng sẽ rời khỏi những trang giấy vô nghĩa làm nên các loại chuẩn tắc không kiềm giữ nổi căn tính của giống loài”.

Những kí tự vẫn tiếp tục rơi xuống, một vài chữ trong số chúng nằm lặng yên trên mặt cỏ đẫm sương như nước mắt và không hề có ý định nhúc nhích, rời đi. “Cỏ khóc đêm thâu. Mộ phần nằm sâu không chôn chặt được cái chết nổi trôi lên mặt đất”. Tôi lẩm bẩm, trong cơn mê mộng, đưa mắt nhìn về phía giàn tế trống rỗng một lần nữa. Đám đông vẫn tiếp tục vây bủa nhau, rồi tản ra, rồi hò hét, rồi câm lặng. Khói vẫn cuộn tròn phả lên đến tận mây xanh. 

3.

Tôi đăm chiêu quan sát những kí tự rơi vãi. Chúng vẫn nằm yên, tuyệt nhiên không hề động đậy. Tôi rời xa đám đông, đứng về một phía không có nắng. (Tôi sợ nắng. Tôi sợ mặt trời. Tôi sợ lửa. Tôi sợ cả khói). Một loạt những nỗi sợ hãi trào dâng lên trong lòng tôi cuồn cuộn như cơn sóng đập rộn rã ngoài khơi. Tôi nhớ sóng. Nhớ rằng tôi có lần đã được nằm nghe tiếng sóng rất thật qua nhịp tim của mẹ. Vậy mà, trong lúc này, khi tôi đang tò mò dấn thân vào một cuộc tế lễ kì quặc thì tôi lại thấy tiếng sóng bất giác trở thành một nỗi sợ hãi bám riết dưới ánh mặt trời. 

Tôi trở về với không gian trải ra trước đôi mắt trong như giọt sương sớm, ngắm nghía những kí tự rơi vãi. Chúng bắt đầu có động thái nhúc nhích. (Hẳn chúng cũng hào hứng với cuộc tế lễ kì quặc này). Tôi vừa dõi theo chúng, vừa nghĩ ngợi tiếp về mẹ, về sóng. Mẹ ở đâu nhỉ? Sao mẹ lại xuất hiện ngay chính khi tôi đang bận bịu rong chơi giữa mùa xuân, với những cuộc phiêu lưu kì thú trong vài hiện cảnh nhập nhoạng sáng tối của thế gian nhỉ? Tôi nghĩ về chữ Mẹ. Kí tự M. (Có thể là mẹ. Hoặc không). Dù gì tôi cũng chưa thấy mẹ bao giờ. Tôi chỉ biết mẹ qua tiếng sóng. Nhịp tim của tôi. Máu của tôi. Máu của mẹ. Máu của đại dương ngờm ngợp đêm sâu. Rồi, tôi lại nghĩ về một ý nghĩa khác của chữ M. (có thể là máu. Hoặc không). Máu tràn lênh láng sau cuộc sinh nở của một người đàn bà chẳng hạn. Tôi nghĩ về tôi. Là tôi trong một đêm sương lạnh chưa đủ hình hài. 

Bất giác những tiếng hét bùng lên, vỡ ra rồi câm bặt. Tôi giật mình, rời bỏ dòng ý nghĩ miên man không ai hay biết, tiếp tục hướng về cuộc chơi của những con người đủ hình hài kì quặc. 

Đám đông, cùng với những kẻ có khuôn mặt quái dị và giàn tế (không củi, không lửa, không thấy vật tế) vẫn đang tiếp tục trò chơi. (thôi, tôi gọi là trò chơi, chẳng ai dạy tôi gọi nó là một buổi tế lễ). Có thể nó chỉ là sự hình thành từ thứ nhận thức bất chợt. “Cuộc chơi của họ là gì thế nhỉ?”, nghĩ mãi, tôi cũng không hiểu, tại sao chỉ có một đám đông, một giàn tế không củi, không lửa, không cả vật tế. Ấy thế mà buổi tế vật vẫn kiên quyết diễn ra đầy sôi nổi, hắc khí đen nghịt quấn riết những đám mây một ngày nắng đẹp. Bỗng dưng, tôi thấy chán. Cơn chán chường này thường xuyên đến với tôi, mỗi lần tôi không còn hào hứng với trò chơi mà tôi chỉ vừa mới nhập cuộc. Chúng ngờm ngợp trong hơi thở vô hình của tôi. 

4.

Một ngày nắng đẹp. 

Tôi nghĩ, tôi phải rời đi, tôi phải rời khỏi nơi này ngay khi còn có thể chịu đựng cơn chán chường đầy nghịch lí này. Tôi rời bỏ giàn tế, tôi rời bỏ đám đông, tôi rời bỏ những tiếp diễn của một buổi lễ kì quặc mỗi mùa xuân ở phía trước. Tôi muốn tách biệt hẳn khỏi đám đông để được lặng yên ngồi trên những mộ cỏ suy tư về những điều tôi thấy. Mộ cỏ trầm uất từ đêm tối đến giờ khi tôi rời đi để rong chơi một mình. Mộ cỏ đẫm sương đã bị nắng gắt làm héo khô mất vẻ tươi xanh ẩm ướt. 

Dù đã rời bỏ giàn tế, nhưng tôi, dường như tâm trí tôi vẫn không rời bỏ khỏi những thứ tôi đang tưởng tượng. Cuộc chơi ấy sẽ diễn ra như thế nào nhỉ? Họ sẽ làm gì tiếp theo với một giàn tế không củi, không lửa, không vật tế, chỉ có một đám đông, một nhóm người hành lễ mang khuôn mặt kì quặc mà tôi lần đầu tiên được thấy trên đời. Tôi lại nghĩ về mẹ, về tiếng sóng. Tôi không biết khuôn mặt của mẹ. Tôi chỉ nghe và nhớ tiếng sóng. Hẳn là hình dạng khuôn mặt của mẹ giống như sóng. Là sóng. Có khi nào mẹ là sóng. 

Trên mộ cỏ khô héo, tôi ngồi trên mộ cỏ khô héo cách xa không gian buổi tế lễ một khoảng ngắn, tôi nhận ra những kí tự, chúng đã rớt khỏi từ tệp giấy của những người hành lễ và đang tiến về phía tôi. Chúng vừa nhảy độp độp, vừa thở hổn hển trên mặt đất. Chúng lết đến bờ cỏ khô héo dưới ánh nắng mặt trời bỏng rát. Hiện thực rõ ràng nhất. Ấy thế, mắt tôi vẫn mong tưởng về những mảng cỏ tươi xanh đẫm nước (đó là tôi mường tượng, chẳng có bờ cỏ xanh mượt nào còn ướt mềm sương dưới mặt trời nửa buổi). Những mong tưởng của riêng tôi luôn luôn mâu thuẫn, đối nghịch với hoài nghi. Tôi hoài nghi chính tôi. Tôi hoài nghi mặt trời. Tôi hoài nghi ánh sáng. Tôi hoài nghi những cuộc chơi kì quặc của đám đông nọ. Vậy mà, tôi vẫn muốn được tham gia, muốn biết điều gì xảy ra trong cuộc chơi đó. Lạ kì thật. Bất giác, tôi cảm thấy một nỗi buồn vô hạn xâm chiếm lấy linh hồn bé bỏng ngây thơ và thèm khát khám phá thế giới này. 

Tôi không tiến gần đến đám đông, đến giàn tế nữa. Tôi muốn ngồi đây để quan sát đám kí tự vượt thoát khỏi tệp giấy kia xem cuộc chơi của chúng. Kí tự C chổng ngược vành chữ thành hình cánh cung, trên mây có một con chim lạc bầy liệng chấp chới hoang mang rồi rớt phịch xuống mặt đất, ngay cạnh tôi. Tôi nâng cánh chim non bị thương lên, vài giọt máu rỏ xuống, mộ cỏ héo khô bỗng dưng tươi xanh trở lại như vừa đẫm sương. Chim non đã chết. 

Tôi cúi mặt tìm các kí tự khác. Hẳn là sẽ còn những kí tự khác thoát ra từ tệp giấy. Kia rồi, L chậm chạp không thể nhảy lộp độp như C, đang tiếp tục tiến về phía tôi. L dừng lại, nằm xuống vệ cỏ và khóc. Tiếng khóc như giun như dế, như ong như ve, như muỗi vằn giữa đêm khuya lên cơn khát máu. Tôi biết đó là một tiếng khóc, tiếng khóc câm. Chúng nén chặt trong cổ họng tôi, khiến tôi đau đớn. (Tôi chưa được khóc thành tiếng bao giờ). Dù vậy, lúc này, tôi lại nghĩ về tiếng sóng. Có khi đó là tiếng khóc của tôi. Rồi, tôi lại bận lòng đuổi theo những suy nghĩ, những ám ảnh về các vòm cổng vào nhà hình chữ L. Chúng chỉ mang lại sự chết chóc. 

Mải mê với những kí tự đang hiển hiện xung quanh mình, tôi quên mất đám đông và giàn tế hồ như vô hình trước mắt. Hiện tại của tôi là những kí tự kia, những chữ cái đã rơi ra khỏi các trang giấy trắng ngờ nghệch. Tôi muốn biết sẽ còn kí tự nào khác tiếp tục cuộc chơi vượt thoát đặc biệt này. Dưới lòng bàn chân tôi, nhồn nhột, (ấy là tôi tưởng tượng, những ngón chân tôi không đủ hình hài tròn trịa của tôi), chúng cựa quậy, rồi một thứ gì đó hơi cộm lên. Tôi nhích bàn chân khỏi mộ cỏ, tháo rời xác thể mây khói ra khỏi mọi ràng buộc để cảm nhận rõ hơn sự tồn tại của một thứ kì lạ mà lần đầu tiên tôi biết rằng nó có thực trên đời. Tôi cúi xuống thấp hơn, một chữ V góc cạnh, chỉa thẳng lên, chạm vào hình dáng ngón chân lớn nhất của tôi. (ngón chân lớn nhất của tôi). Chữ V không biết bằng cách nào đã tiếp cận được tôi. Chữ V khiến tôi buồn. Nỗi buồn dưới lớp da không hiển thị. Lớp da chưa kịp thành hình thành dạng như bao kẻ khác. Nỗi buồn luồn sâu vào phía trong, thấm nhanh vào máu thịt ảo ảnh. Rõ ràng, tôi đã cố tình bỏ quên những vấn đề liên quan đến sự tồn tại khả hữu của bản thân mình. Vậy mà tôi vẫn chẳng thể nào ngừng đặt một dấu chấm hỏi về tôi, về mẹ, về những tiếng sóng chập chờn thoắt ẩn thoắt hiện trong từng lớp ký ức ảo diệu.

Tôi nhặt chữ V lên, tôi ngắm nghía nó dưới ánh nắng vừa lẻn xuống từ những đọt mây xám trên đầu. Bất chợt từ trong đám đông ở phía giàn tế những tiếng thét thất thanh đau đớn như có kẻ bị đốt chết. Không, giàn tế vẫn lặng im chưa thắp lửa. (không có củi, không vật tế, không chất dẫn cháy), làm sao cơn đau vang vọng tới tấp đến như thế được. Tôi tò mò, (rồi, có khi tôi cũng phải tò mò về sự hiện diện của vô khối thứ kì quặc tồn tại xung quanh mình). 

5. 

– Lửa. (đã bắt đầu có lửa)
Ngọn lửa từ trên núi vừa ào xuống. Chúng tuôn ra. Chúng chảy tràn ra như suối. Lửa biến thành biết các hình khối đặc quánh, lửa hóa gió, nhanh như gió nung đốt mọi thứ trên đường tuôn chảy của chúng. Lửa trồi lên, sụt xuống. Rồi hất tung những bó hoa lửa về phía đám đông, tạt vào giàn tế không củi, không chất dẫn cháy. Và cháy. Lửa bủa vây tạo hình thành một vòng tròn. Đám đông dạt hẳn ra khỏi vành lửa. Đám đông bắt đầu hát. Những kẻ lạ mặt tề chỉnh xiêm y bắt đầu gọi tên vật tế.
– nước.
Nước. [đám đông đáp lời]
– đất.
Đất. [lầm lũi đáp]
– cây [đám đông cướp lời]
Trăm năm bật gốc.
– biển
Cá khóc lên bờ [đám đông đáp lời]
– lúa
Lúa đương thì con gái. [đám đông lại đáp lời]
– ớt
Cay. [đám đông dụi mắt đáp lời]

Đốt.
Đốt.
Đốt.

Đám đông vốc rồi lại ném. Vốc rồi lại ném. Ném vào trong lửa. Ném vào giàn tế. Đám đông hào hứng ném. Lửa hừng hực cháy. Những con người kì quặc căng giọng ra quát và hét. Lửa càng cháy mạnh. Đám đông càng vốc vội các vật tế được gọi tên và ném cật lực cho đến khi kiệt sức. 

Gã trẻ măng cầm tệp giấy mà tôi nhớ có dáng đi khệnh khạng ấy vừa tiếp tục cất giọng gọi tên một vật tế khác. Lòng bàn tay tôi nắm chặt mẫu tự V. Tôi căng tai lắng nghe, dõi theo buổi tế kì quái ấy. Tiếng của đám đông gào lên mạnh hơn. Họ vừa gọi tên vật tế nào thế nhỉ? Hình như là nó, chữ V, (tôi câm lặng nhìn ngắm chữ V đã làm cho những ngón chân tôi biết đến cảm giác đau đớn sung sướng ấy)

Chữ V cựa quậy bật khỏi lòng bàn tay vô hình của tôi và rơi xuống đất. Chữ V nhảy độp độp thật nhanh về phía giàn tế, về phía đám đông và lũ người quỷ ám. Tôi đuổi theo chữ V, hòa vào đám đông, nhìn thật gần giàn tế. (vẫn không củi, không lửa, không thấy vật tế nào hiện hữu). Tôi ngơ ngác nhìn những cái bóng vây quanh mình đang hò hét, gào thét tên vật tế cuối cùng, “máu”.
Không một thanh âm nào bật lên đáp lại. Tôi nghe những tiếng máu rần rật chảy đâu đó, như thác, như lũ, như mưa. 

Ở phía giàn tế, máu xối xả được tạt vào trong lửa.
Máu chảy tràn xuống nằm dưới chân tôi. Chữ V bật nảy lên và nhanh chóng lao về phía đám đông, nhảy xổ thẳng vào giàn tế. Máu đang sôi. Mặt đất lênh láng máu và lửa như những dòng nham thạch từ trên núi đổ xuống. 

Chân tôi bết máu. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)
Chân tôi bết đất. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)
Chân tôi dính chặt vào nhau không tài nào tách rời ra được. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)

Tôi muốn đi. Tôi bất giác muốn đi. Chập chững tập đi. 

(đi về đâu?)

Đi về nơi có tiếng sóng. Đi về nơi có mẹ. Mẹ tôi là sóng. 

Tôi muốn ê a đọc chữ. Từ chữ đầu tiên cho đến chữ V. (Chữ V tan biến) 

Tôi tan biến. (như chưa bao giờ xuất hiện). 

Tôi là một hình hài chỉ được nghe tiếng sóng qua nhịp tim của mẹ chưa đủ chín tháng mười ngày. Tôi không phải là tôi. Tôi là vật tế cho cuộc chơi của những người lớn. 

Giàn tế thực ở đó, ngay vạt đất đỏ đó vẫn còn sót lại vài dấu vết nhỏ. Máu khô. Đen. Và bám đều lên từng cành cây nhánh cỏ khô và héo dưới ánh nắng mặt trời gắt gỏng bỏng lửa xung quanh ngọn núi hoang buồn bã, cô độc. Đám đông cũng dần tan biến mất. Linh hồn tội lỗi di trú trong không gian cũ kỹ, lạnh lẽo. Linh hồn đáng thương nấp sau mộ cỏ đẫm sương như nước mắt lặng câm không được phép cất tiếng chào đời. 

Chiều tà, bóng phủ. Một màu đen kịt hào phóng buông thả thứ hắc ám quen thuộc lên bất kì vật tế nào mà nó thích. Đám gà trống cẩu thả gáy như điên loạn trong bóng tối. 

Giá mà ngày mai trời sẽ sáng. 

Animal Sacrifice

1.

Foggy.

Fire, no.

Smoky, yes.

The smoke. Burning the eyes. On lips, bitterness. The chase was on and the bronchioles were tripping over the larynx. The deep dense sound escaped from the foot of the tongue pointedly penetrated the smoke. Like an oozing ulcer, bubbling away for a long time to suddenly explode in a release of joy and glory. The sky hid behind the fog as the light filtered through, holes through the ghostly whiteness.

A group of devilish looking people emerged from the eerie fog. It’s going to be a very sunny and hot day. The thirtieth something spring, the year for those destined to have their feathers plucked and offered up as a sacrifice to time, without an ounce of sympathy.

2.

Waiting for the crowd to dissipate, the circle of onlookers widened, the strangers (I call them strangers, because they were very strange, their faces devoid of humanity) drawn to the sacrificial fire. (on the pyre there was no firewood, no fire starter, no torch). The same circling crowd edged their way towards the same spot, their curious eyes focused on the sacrificial altar. I was amongst the crowd, moving with the crowd. And, I was tired, and the repeated movement amongst the crowd was exhausting. Crowding together, to then dissipating, to again crowding, dissipating. Screaming. Silence. The crowd was persistently confounding to a point that it was unbearable, I thought. Yet here I was again, pulled back into the crowd due to the nature of my curiosity. 

Despite it being a matter of fact for me to run with the crowd, inside this undecipherable fog, the whole thing in itself, the strange things that took place on the sacrificial altar brought to the surface a state of emptiness, a sadness like crying. I wonder if I could see the teardrops? Do they look anything like dew drops? How will I be able to tell the difference between a drop of dew and a tear, smoke or the fog?

I made a conscious decision to leave the crowd. (I didn’t feel like I belonged).

I am me. Right at this very moment, I want to make sure I am myself. An individual, sad, full of sadness?

I am me. Someone who was abandoned in a fog one day, fully aware of the smoke, the memories. A chilling fog. A mesmerising frightful fog filled with hidden death traps, predestined loss. Amidst the crowd, I was still me. The crowd can not touch me. But, to me they were not intangible. Through the shrieks, the bleakness, through their strangeness, my shapeless existence. Even though, momentarily, I’m distracted by an odd curiosity wrapped up in a blanket of fog which took place in front of me this morning.

An empty space, with a bunch of people hovering, spreading out, to then again be in a hovel pushing and shoving, howling grunts from the back of their throats. It is just that. I have never witnessed anything so simple right in front of me. Yet in front of me, was an elaborate sacrifice. A couple of the official celebrants wore wings and held scrolls of written letters (there definitely has to be letters in them, otherwise how would they start the ceremony?). An awkward young man walked at the centre of the group of celebrants, lifting the scrolls high towards the sky awashed in sunlight. The scrolls shifted a little before it began to emit smoke.

The mist dissipated. The sunlight was now harsh and burning. The sunlight pierced the letters. Their shadows were imprinted on the ground. The flickering human shadows momentarily joined together. The shadows of each word stretched out intertwined with one another, the abbreviated characters on the page fell to the ground before I could even catch a glimpse of them actually falling. I watched the letters on the ground. They were jumpy, bouncing on the earth’s flesh giving off an unusual sound. “have they escaped”, (as I did). I was at first wary, then decided on being more positive, that: “sooner or later, they would have to, escape, they would have left those useless pages the making of some sophisticated language that could never hold up the identity of the species”.

The letters continued to fall, a few words amongst them lay silently on the grass damp with dew like tears with no intention of ever moving again, remained. “The grass wept through the night. The deep tombs couldn’t bury the death floating above ground”. I mumbled, dazed, and for the last time lifted my eyes toward the empty altar. The crowd continued to rub against each other, to then leave, to then shout, to then be silenced. Reaching the blue sky, the smoke continued to curl and rise in a spire merged with the clouds.

3.

I was mesmerised by the scattered letters. They lay there unmoving, not a single twitch. I’ve gone far away from the crowd, standing on the side, away from the sunlight. (I’m fearful of the sunlight. I’m fearful of the Sun. I’m fearful of fire. I’m also fearful of smoke). Sometimes the fear overwhelms me like the endless pounding ocean waves. I missed the waves. I remembered once how I was able to listen to the pounding waves, the same rhythm as my mother’s heartbeat. But, right now, my focus was caught up in this odd sacrifice and the sound of waves suddenly turned into a fear I couldn’t escape from under the glaring sunlight.

I returned to what was unravelling in front of my two eyes as clear as drops of morning dew, I admired each and every fallen scattered character. They appear to be moving ever slightly. (It was clear they were also excited by the same sacrifice). My eyes followed them, as I thought about my mother, and the waves. I wondered where my mother was right now at this very moment? Why did the thought of her appear out of nowhere in the middle of my busy schedule, in the middle of spring, when it’s time for games and frolicking, amongst these strange adventures within an undefined light and darkness of this world? I thought about the word Mother. The letter M. (It may represent the word mother. Or it may not). Since I’ve never seen my mother. I only know my mother through the sound of waves. My heartbeat. My blood. My mother’s blood. The blood of an ocean pulsating through the sound night. Then, I thought of a different meaning for the letter M. (It could be My blood. Or maybe not). The blood all over Me after My Mother gave birth to Me for instance. I thought about Myself. Me being formless on a cold foggy night.

Suddenly, there was a scream, all were silent. Startled, I abandoned the long strand of thought unbeknown to anyone, and continued to head towards the bizarre materialising human forms through the fog.

The crowd, and the demonic faces in front of the sacrificial altar (no wood pyre, no fire, no animal for sacrifice) waiting to see how everything might play out. (so sure, I called it a game, no one had told me it was ceremonial sacrifice). It could be some sort of perceived idea that had suddenly taken shape. “What is their game?” I pondered, and there was no answer, why was there only one crowd, one altar and no wood, no fire, no sacrificial animal. Yet the sacrifice went ahead with pomp and ceremony, the black gas continued to wrap itself around the clouds in the brilliant sunlight. Then just like that, I was bored. Such boredom often followed, after the exciting beginning of any of my new games. It’s always there hovering in my formless breath.

4.

One lovely sunny day.

I believed I had to leave, I must leave this place when I can still bear such spasmodic boredom. I walked away from the altar, I walked away from the crowd, I walked away from the activities of the sacrifice in preparation for the coming spring. I wanted to set myself apart so that I was able to sit on the barrow and ponder what I saw. The tumulus then became more sombre since the night I had left to be alone, to humour myself. The tumulus steeped in dew then was now arid in light of the harsh sun, devoid of its damp green freshness.

Even though I was no longer an attendant of the sacrifice, my mind was continuously drawn to it. How will the game unravel? What will they do with an altar without firewood, without fire, without animal sacrifice, nothing but a crowd, a couple devilish looking celebrants that in my entire life have never seen. I thought then of my mother, and the waves. I don’t know what my mother looks like. I could only recall hearing the sound of waves. Clearly my mother’s face was a picture of waves. Actual waves. What if the waves were actually my mother?

On the dry and withered barrow, I sat not far away from the ceremonial sacrifice, I was able to watch the letters, and saw what happened after they fell onto the ground from the scrolls in the celebrants’ hands, they were making their way towards me. The letters popping like popcorn on the ground, breathless. Under the blistering sun, they dragged themselves towards my mound of dead dry grass. What took place was as clear as day. Yet still, my eyes were dreaming of moist green grass (all of course in my imagination, there is no such thing as a patch of wet grass at noon). I was inflicted constantly with these incongruous dreams, the opposite to what was supposedly true. I was suspicious of myself. I was suspicious of the Sun. I was suspicious of the light. I was suspicious of the game those people were playing. Yet still, I wanted to participate, wanted to know how everything might turn out. The strangest thing. Then out of nowhere, an endless sadness overwhelmed me, I was a tiny pure soul thirsting for more and more of the world.

Again, I head towards the altar and the crowd. I wanted to watch the letters fall out of the scrolls and see what they might do next. The letter C stretched out like bowstrings pointing at the sky, swaying ever slightly, a startled bird flying far from its flock fell, kerplop to the ground, right next to me. I lifted the bird’s wing and a few drops of blood fell out, and the dry grass was suddenly green again, moist with dew. The tiny bird was dead.

Bending low, closer to the ground, I looked for more of these letters. More letters must have fallen from the scrolls. There was the slow and lethargic L, not energetic like C, was making its way towards me. L stopped, broke down on top of the grass, and started to cry. Its cries were much like that of tiny critters, like worms and crickets, like cicadas, like bees, like the blood-thirsting mosquitos in the dark. I was also fully aware that the cries were silent. The kind that gets choked up in my throat, the painful kind. (I have never audibly cried). Yet, there I was, thinking about the sound of those waves. Perhaps it was me who was actually crying. I would then chase these thoughts, these obsessions on the arched entrances of those L-shaped houses. They brought nothing but death.

Hypnotised by the letters around me, I forgot about the crowd and the sacrifice, indefinitely in front of me. I was momentarily distracted by the letters, by all the capital letters fallen from those baffling white pages. Wondering what other letters will fall out in this interesting game. I felt something tickling the pad of my feet, (all of this was in my head of course, my undefined toes, not fully formed roundly in my mind), they were wriggling, then I could feel there was actually something there. I shifted my feet on the tumulus, unravelling each smoky corpse at a time, confirming the possible existence of an encounter with the strange phenomenon for the first time ever in my whole life. I had a closer look, the pointy tip of the letter V, was pointing straight up, touching the bottom of what looked like my big toe. (my big toe). The letter V didn’t know what to make of me. The letter V made me sad. The sadness skin deep beneath my imaginary skin. The skin yet formed like everything else. The sadness penetrated deeper, infiltrating my imaginary bloodstream. It was clear, I had deliberately abandoned anything that has to do with my possible existence. And I did not pause for a moment to question my existence, my mother’s, or the reality of those quivering waves hidden in every layer of my awe-inspiring memory. 

I picked up the letter V, I admired it beneath the escaping light through the black clouds overhead. Suddenly from the crowd and the altar was a speechless shriek, it was as though some living thing was being burned alive. But no, the altar was in complete silence void of any kind of fire. (no firewood, no animal offering, nothing to kindle the fire), how could there be such an incredibly painful cry. I was now really curious, (like, anyone would be curious about anything which was strange around them).

5.

– Fire. (now there’s fire)
The fire descended from the mountain. An escalating flash fire. Overflowed like water in a spring. The fire taking up all forms, sometimes thick, sometimes much like the wind, a scorching wind which consumed everything in its path. The fire rose and then died out. Spitting amber rosettes at the crowd, sweeping over the pyre void of wood, void of fire starters. And it burned. The surrounding fire formed a circle. The crowd moved completely away from the circle of fire. The crowd began to chant. The strangers in ceremonial dress began to call out the names of what will be sacrificed.
– water.
Water. [the crowd replied]
– earth.
Earth. [the crowd replied all at once]
– trees [the crowd took the words out of the celebrants’ mouths]
Hundred-year-old uprooted.
– sea
Weeping fish out of water [the crowd replied]
– harvest
If not the harvest then the virgins.  [the crowd replied all at once]
– chilies
Hot. [the crowd replied as they rubbed their eyes]

Burn.  
Burn. 
Burn.

The crowd was picking and throwing. Picked and threw. Throwing whatever they could into the fire. Throwing whatever they could at the sacrificial altar. The crowd enthusiastically threw at the fire. The fire burned with passion. The strange-looking celebrants were shouting. The fire was burning even stronger than ever before. The crowd rushing picked and threw each item of sacrifice faster and faster with all the strength they could muster to the very moment they were spent.

The young guy with the awkward stride continued to call out each item of sacrifice one after the other. I tightened my grip on the letter V. Intently I listened for the next sacrifice, following every step of this strange sacrifice. The crowd was now screaming even louder. What was the last sacrifice they called out? It might be it, the letter V, (silently I admired the letter V that had brought so much pain and joy to my toes)

The letter V wriggled itself out of my shapeless hands and fell to the ground. The letter V hopped quickly towards the altar, the crowd and the devilishly possessed people. I chased after the letter V, merged with the crowd, eyes focused on the altar. (still with no firewood, no fire, no actual sacrifice). Confused, I surveyed the screaming people around me as they screamed out the last sacrifice, “blood”.

There was not a single reply. Then somewhere was the sound of blood gushing, poured like a waterfall, like flood water, like torrential deluge.

Blood was then thrown at the fire, at the altar of sacrifice.

The blood overflowing met my feet. The letter V quickly jumped, headed straight for the crowd, right onto the altar. The blood was boiling and bubbling away. The ground was glossy with sticky blood and the fire was like a flow of volcanic lava.

My feet were sticky with blood. (my unformed toes)

My feet were sticky with blood. (my unformed toes)

My feet were stuck together and there was no way of separating them. (my unformed toes)

I wanted to walk. I suddenly wanted to walk. I wanted to learn how to walk.

(walk to where?)

Walk towards the sound of waves. Walk to where my mother might be. My mother was the waves.

I want to learn how to ee a read the letters. Beginning with the first letter, which happened to be the letter V. (The disintegrating letter V)

I was disintegrating. (as though I was never there).

I was a manifestation that could hear the sound of waves through my mother’s heart yet fully nine months and ten days. I was not yet me. I was the sacrifice for a bunch of adults playing a game.

The real sacrificial altar, right at that patch of red earth, right where there were still remnants of evidence. Dried blood. Black. An even spatter on the branches and blades of withered dry grass under the scorching sunlight surrounding a sad, desolate and lonely mountain. The crowd gradually also disintegrated, disappeared. The sinful souls presiding in this ancient, chilly place. The pitiful soul hiding behind the tumulus damp with dew much like tears silent without ever being allowed to utter a word, to ever be born.

The late afternoon was a blanket of shadows. Something soundly black generously threw upon whatever sacrifice they deemed fit a familiar darkness. Within the chaos of the dark the roosters were frantically crowing.

Will there be light. Tomorrow.

July 2021

Trần Băng Khuê
Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
%d bloggers like this: