mesmerizing muddle | Nguyễn Văn Thiện | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

On Mount Chư Mang, when the white clouds no longer look back, the snakes as blue as the sky come to build their nests in the trees. Their poison made us forget our way home. Mumbling nonsensically and worst yet, words spoken were immediately ignored. Tugging at my shirt sleeve, the person next to me asked solemnly: “We’re all a bit lost now, aren’t we?”.

When in a stupor, you like to talk, debate, but the more you explain, everything gets more mixed up. I’m a quiet person, but as soon as the snake poison enters my blood stream, I’m festered with useless talk. I’m worried that if I do not speak, language will gradually fade away and disappear from my lips. Daily, we talk of nothing consequential, there is no beginning or end, often entirely meaningless.

Mostly, we go on and on about some convoluted tale. A friend of mine, older, an alcoholic, never sleeps, his hair was thinning and receding, yelled one day: “Tang Seng way of life is to eat with chipped bowls, we do not eat with chipped bowls; we eat only with what is whole, whatever chipped and crack we bury, what’s more, grand and satisfying than that?”

What a nutter, right?

I stopped by a stream, splashed water on my face, hoping, with some luck, it’s magical water, would fix all the craziness. But the water had no effect; everything was worse. Often, I find myself down the wrong path, going home to the wrong house. In my hand, I’m holding something from yesterday, something that didn’t belong to me.

Luckily, I was not as bad as some. My next door neighbour left the house to pick up his wife one afternoon, and he was gone for three days. He came home with an old lady he didn’t know. She just  sat her down where he told her to sit. People would go to pick up their children, but three months later, they were nowhere to be found. The old lady just sat there, hugging the tree crying: “Why did you tie my husband up!”. I went to check on her. I brought the old lady a bread roll, but in my hand  was not bread but a honeycomb sandal.

What made it hard was the fact that none of us, none of us wanted to admit we had lost it. Everyone thought: Why was this man, woman, elder, this guy is not so right in the head!

The blue snakes said nothing, quietly, it slept in the trees.

This person said the other person’s nuts; no one admitted they were crazy, though, in the end, who was more insane? The elders on mount Chư Mang after many ridiculous debates, finally came to a unified decision: We should have a tournament!

We wanted a tournament, but we didn’t know where to start, because simply: We, as a community, were very forgetful, hence always confused! Still, in a bright moment of dementia, a person yelled: “Let’s invite the blue snakes in the trees to be judges!”. At that moment, we were full of  oohs and ahhs, showing our approval. So it came to be, the blue snakes were the organisers and judges for the tournament.

The cunning snakes left a ceramic cauldron of wine at the foot of the tree, the prize for the winner! The one who is most awake, wisest, shall become the leader of the village, they will get the cauldron of good wine as their prize, there’s nothing more rewarding than that. Everyone was excited and eager to put their name down to compete, including the most muddled of us, since the beginning of time has never attempted any kind of test or competition.

If I was wrong, it was because I lost my mind a long time ago. If we were not talking about this then it must be that? Which means, by whatever dialectical theory, anyone who was in the competition, all they had to do was find the cauldron of wine with a bow on it, the t we mistaken as the prize. The snakes announced: “Close your eyes!” Immediately everyone shut their eyes, anyone peeking, the snakes would blind them without hesitation. Hence, there were no cheaters. As soon as we closed our eyes, the snakes quietly hid the cauldron. “Open your eyes! Now go, find it!” We opened our eyes all at once, we rushed, we were excited, we stepped on each other’s feet, pulled at each other’s clothes, dragged, punched, kicked, searched.

All of us, lost minds, but able-bodied. We fought and competed, trampling on each other. No different from the crusades in search of stolen religious text. Resulting in the loss of life, so what, dying means nothing! You know Mount Chư Mang is a wilderness, endless trees and vines clinging to everything for thousands of miles. A cauldron of wine hidden somewhere, in the middle of it, but that didn’t stop us, we rushed trampling on top of each other. How could we not see how dumb we were?

Like water in a waterfall, we rushed around without thinking. Some spoke, some laughed, some cried, some ran around in a circle, no one giving way to anyone else. The mountain curled up in pain from the onslaught of noise and chaos. By sundown, we were exhausted, someone shouted: “That wine smells amazing!”. All the noses lifted skyward, sniffing. There was a smell of good wine! Like a herd of starving cows getting a whiff of the scent of water in the wind. We were suddenly alert, stepped on top of each other, and ran off in all directions.

Midnight that day, the competition ended, and a person had found the wine. It turns out, the expensive wine cauldron was dangling from a branch in the trees, and everyone looked for it on the ground, in the bushes or caves. The snakes coolly laughed, and straight away gave the bottle of wine to the winner—a man with peppered hair, wearing reading glasses. The truth was, he was not very smart, he was just lucky. When everyone was busy looking, he climbed up a tree to pee and nearly tripped over the cauldron of wine!

The winner was the most confused and muddled of us all, and of course, he became our boss. The blue snakes quietly sniggered in the trees. Unworried, content, as they slumbered forever in the trees. Mount Chư Mang is very wide, very high! After climbing the tree to pee, accidentally discovering the wine, he climbed down, with the wine, he sat straight down on the grass, drinking it alone. Satiated and drunk, he went on and on about nothing the whole day. When we all took turns carrying him in a palanquin on our shoulders, he continuously complained about the heat and how much he needed to pee. We shouted in unison: “Pee up there, esteemed leader!”. But the leader refused, saying: “! More! ” We again shouted in unison:”! up there too!”. 

Now and then there was no more whining, because our leader was too tired, and fell asleep in the palanquin. A few found the cauldron abandoned, took a few sips, walked away, they were lost, never to be found again, though apparently they were on their way home. The leader lay sleeping, now and then wakes up with an indiscriminate surprise speech, about some ideology only he could understand. We couldn’t be bothered with what he said, we stopped listening to him, we all did our own thing, there was no order or discipline. 

Tăng’s way is to eat with a chipped bowl; we eat with a chipped bowl, what’s more satisfying than that.

What was whole now buried, talking about today but remembering what will happen tomorrow.

Why would anyone want to stay, why should I stay, why make me.

I held the honeycomb sandal like a loaf of bread, I had no idea.

March 1019

       Trên núi Chư Mang, khi mây trắng bỏ đi không còn quay lại, lũ rắn màu xanh da trời về làm tổ trên cây. Nọc độc của chúng làm cho bạn và tôi quên mất lối về. Chúng tôi nói năng lảm nhảm và tệ hại hơn, nói trước quên sau. Người đi bên cạnh lắc lắc tay tôi nói, với vẻ mặt đầy nghiêm trọng: “Chúng mình lú lẫn hết rồi, phải không?”.

       Khi bị mê lú, bạn rất thích nói, thích biện luận, nhưng bạn càng giải thích thì mọi điều càng lộn xộn tù mù và rối rắm. Tôi thuộc kiểu người ít nói, nhưng kể từ khi ngấm nọc độc của lũ rắn, cũng sinh ra lắm lời giòi bọ. Tôi sợ, nếu không nói, ngôn ngữ sẽ mờ dần, nhạt đi, biến mất. Hàng ngày, chúng tôi nói những điều ấm a ấm ớ không rõ đầu đuôi, có khi hoàn toàn vô nghĩa.

       Đặc biệt, chúng tôi thích dẫn những chuyện xa xôi rờ rẫm, ưa lối quanh co bóng gió. Một người bạn của tôi, già rồi, nghiện rượu, lại thường xuyên mất ngủ, tóc lơ phơ mấy cọng, nói: “Đường Tăng đi thỉnh kinh ăn bát sứt, chúng ta không ăn bát mẻ, vậy là chúng ta ăn toàn là những thứ nguyên vẹn, những thứ sứt mẻ đều đem chôn hết cả, có gì là không thỏa đáng nào?”.

       Lú chưa?

       Tôi xuống suối gì đó vốc nước rửa mặt, nghĩ, may ra, gặp được nước suối thần kỳ, sẽ hết lú. Nhưng rồi, kết cục không ăn thua, thậm chí bệnh còn ra chiều trầm trọng. Tôi thường xuyên đi nhầm đường và về lộn nhà, trong tay cầm thứ gì đó ngày hôm qua không phải của mình.

       Thế mà, tôi vẫn chưa phải là người lú nhất. Ông bạn sát nhà, buổi chiều đi đón vợ, đi mãi ba ngày sau mới về, lại đón nhầm một bà cụ lạ huơ lạ hoắc, rồi đặt bà cụ ngồi đấy, tất tả đi đón con, ba tháng sau chưa thấy quay về. Bà cụ ngồi một mình buồn quá ra ngồi ôm gốc cây khóc lóc: “Sao lại trói chồng tôi ở đây!”. Tôi sang xem sự thể thế nào, cầm theo một ổ bánh mì định đưa cho bà cụ, sang đến nơi nhìn lại thì hóa ra cầm nhầm một chiếc dép tổ ong…

       Rắc rối hơn, chúng tôi, không ai chịu nhận mình bị lú. Ai cũng nghĩ: Sao mà cái ông, bà, lão, thằng ấy lú đến thế!

       Lũ rắn màu xanh thì không nói gì, lặng lẽ ngủ trên cây.

       Người nọ nói người kia lú, không ai chịu nhận mình lú, vậy, cuối cùng ai lú, ai lú nhất? Những người già lú lẫn trên núi Chư Mang sau nhiều lần tranh cãi cù nhầy, cuối cùng đi đến thống nhất: Phải tổ chức một cuộc thi!

       Chúng tôi tổ chức thi, nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu và tổ chức thi như thế nào, vì một điều đơn giản: Ai cũng ít hoặc nhiều bị lú! Vậy mà, trong một phút giây lóe sáng nào đó của trí não suy tàn, một người thốt lên: “Hãy mời lũ rắn màu xanh trên cây xuống làm trọng tài!”. Lúc đó, mọi người mới ồ à hố hả nhặng lên để biểu thị đồng ý. Thế là bọn rắn màu xanh đứng ra tổ chức và làm trọng tài để chúng tôi thi.

       Bọn rắn tinh quái để một hũ rượu sành có buộc nơ đỏ ngay dưới gốc cây, phần thưởng cho người thắng cuộc đó! Ai tỉnh táo nhất, minh mẫn nhất, sẽ trở thành người dẫn dắt dân làng, được thưởng một hũ rượu ngon, còn gì bằng nữa. Mọi người nô nức ghi tên tham dự, kể cả những kẻ lú nhất, xưa nay chưa hề biết thi cử là gì.

       Chỗ này, tôi nhầm lẫn, vì thực ra, tôi cũng đã lú lẫn từ lâu. Không phải thế nọ mà là thế kia. Tức là, theo một phép biện chứng nào đó của học thuyết gì đó, những người dự thi phải tìm cho được cái hũ rượu có buộc nơ, thế mà tôi lại nhầm ra là phần thưởng. Bọn rắn hô: “Nhắm mắt!”, lập tức mọi người nhắm tịt mắt, ai còn mở ti hí, rắn sẽ mổ mù mắt ngay, vì thế, không ai dám ăn gian. Lúc đó, lũ rắn mới nhẹ nhàng khiêng hũ rượu đi cất. “Mở mắt! Đi tìm!”. Thế là tất cả mở mắt ra, hối hả, tất tả, nhốn nháo, dẫm chân nhau, níu áo nhau, đấm đá lôi kéo nhau, đi tìm…

       Lũ chúng tôi, tuy trí não suy tàn nhưng chân tay vẫn hoạt động tốt. Chúng tôi cật lực tranh giành dẫm đạp và thụi nhau ra trò. Chả khác gì tín đồ của một giáo phái cực đoan nào đó trên hành trình đi tìm chân kinh bị đánh cắp. Hậu quả là đã có người chết, kệ, chết có nghĩa lý gì đâu! Núi Chư Mang thì bạn biết rồi đấy, hoang vu thăm thẳm, cây cỏ dây leo ngút ngàn. Một bình rượu nhỏ lại bị cất thật kỹ, tìm sao được mà tìm, vậy mà vẫn dẫm đạp nhau đi. Lú chưa?

       Lũ người lú đi như thác đổ. Người nói, người cười, người khóc, kẻ văng tục, không ai thua ai, không ai nhường ai. Núi oằn mình rên xiết. Vào một buổi chiều, mọi người đều đã mệt nhoài, bỗng có tiếng ai nói: “Mùi rượu đâu mà thơm thế nhỉ!”. Bao nhiêu cái mũi vươn cao lên đồng loạt, đánh hơi. Rõ ràng có mùi rượu thơm! Như một lũ trâu bò sắp chết khát ngửi thấy mùi hơi nước trong gió. Chúng tôi bật dậy, giẫm đạp nhau chạy đi băng băng…

       Nửa đêm hôm đó, cuộc thi kết thúc, khi có một người đã tìm ra hũ rượu. Hóa ra, hũ rượu quý treo trên cành cây, trong khi, mọi người đều tìm kiếm dưới đất, trong bụi rậm hoặc hang đá. Lũ rắn cười lạnh lẽo, trao ngay bình rượu cho người chiến thắng. Đó là một người đàn ông tóc hoa râm, đeo kính lão. Thực ra ông ta may mắn nhiều hơn là thông minh. Trong khi mọi người giành nhau đi tìm, ông ta lặng lẽ trèo lên cành cây để đi tiểu, vô tình nhìn thấy hũ rượu mà thôi!

       Vậy nên, người lú nặng nhất ngẫu nhiên trở thành người chiến thắng, và đương nhiên trở thành kẻ cầm đầu trong bọn chúng tôi. Lũ rắn màu xanh vẫn cười lặng lẽ trên cây. Chúng sẽ yên tâm ngủ dài dài. Núi Chư Mang rộng lắm, cao lắm!

Người đàn ông trèo lên cây đi tiểu bắt gặp hũ rượu, ông ta xuống, ôm theo hũ rượu và ngồi ngay xuống bãi cỏ, uống một mình. Uống xong thì say, nói năng lảm nhảm suốt ngày. Khi mọi người công kênh ông ta trên một chiếc kiệu, ông ta luôn mồm kêu nóng và đòi đi tè. Tất cả đồng thanh: “Tè trên đó luôn, thủ lĩnh ơi!”. Nhưng thủ lĩnh không chịu, nói: “Ị nữa!”. Tất cả đồng thanh: “Ị cũng trên đó luôn!”.

Đôi co một lúc, không nghe tiếng la hét nữa, thì ra, thủ lĩnh mệt quá, đã ngủ ngay trên kiệu. Nhiều người thấy hũ rượu còn lăn lóc, vương vãi, đến uống sái, rồi đi đâu không nhớ đường về. Thủ lĩnh nằm ngủ, lâu lâu tỉnh dậy lại phát ngôn bừa bãi, loạn xạ, theo một phép biện chứng gì đó mà chỉ có ông ta hiểu. Chúng tôi, cũng không thèm nghe, không thèm vâng lời, mạnh ai nấy nói, mạnh ai nấy làm, không theo một trật tự nào.

Đường Tăng ăn bát mẻ, chúng ta ăn bát sứt, có gì là không thỏa đáng…

Những gì nguyên vẹn đều chôn hết cả, nói chuyện hôm nay phải nhớ chuyện ngày mai…

Sao lại buộc chồng tôi ở đây…

Tôi cầm chiếc dép tổ ong ngồi gặm như gặm bánh mì, hoàn toàn mê lú…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Mixed up | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I still believe, at the end of an ocean, a horizon someone is waiting for me. I’ve been to many places quietly wishing never knowing when we may meet again. Though in the end, I would return, return to this familiar seat of mine. The day you left, I was despondent. I admit it to myself many times like that, as in dreams. Where you sat next to me, another person now sits. A different face, a different smile, a different voice, a different hand, a great love, yet still I’m in a state of confusion, this is just another person, just another friend?

I have been confused for a length of time in my youth. Confused that this is red and that is yellow, this will be for many years and that forever. In the end, I finally admit, painfully through a pathetic smile, that I accepted it before I left.

Still, I continue to be in this state of confusion. See here, next to me is where you sat, where you usually sit.

You have appeared next to me, as a sweet young student, you sat down timidly, eyes wide peering into the distance in search of an autumn song. I was confident, so I ignored you. Here I’ve sat; first, anyone could be witnessed. I also knew, ever since you came, where we sat became warmer, palms warmer, slowly warmer the conversations.

Still, as sudden, as when you came, you left on a day I no longer remember. The person replacing you has a different smile to you, different colour hair, but still, I couldn’t accept it. I continued to ramble on about myself, about the wild time on that desolate far off place on mount Chư Mang!

The readers are tired and sick of this common repeating confusion in all the dramas, in all the literature. I’m the same. Only those without talent would repeat such old and worn out times. But, now and then, heaven and earth are inspired by a display of awkward confusion, in amusement.

Until that stupefied moment when I discovered the person just arrived is not you. I was confronted with the painful choices: to stand up and step away from the stranger, or to continue to see here, this person, is a friend of mine, a friend of mine?

The light now low, late in the afternoon, to stand, to leave when the reeds are falling asleep, the mountains and rivers tinge in the colour of the meadow. But to see the person sitting next to me as a friend is too painful! Unheard of the eyes, the lips, the voice, not right, not sound.

The eyes just arrived are coloured with strings of clouds laden with moisture, trilling laughter like a mermaid in Năng river!

What could we do?

The new person drew a heart on the blackboard and said, “there, there’s the heart!” I said, “no, that’s not it!”

The new person drew a smile rolling on the grass then said, there, there’s the smile! I shook my head vigorously.

The new person painted a rolling teardrop, sobbing, “there; there’s a tear!”

I stood up to walk away. The new person broke down in tears. I turned to her, firmly said, “that’s enough, stop crying; it’s too late!”

Liken to a high school infatuation; you think that it’s okay?

I’m unsure. Confusion now and then often leads to conflicting views him saying this, and she said that. What I imagine as everyday happenings have long been absent, the images next to me are not of those that I yearn for and love!

There are long days when burdened with the feeling that upon me are the eyes of the whole human race, it’s true! All those close in my family, friends, those beneath, those above, all the levels of management levelly consistently at once eyes wide open followed me. I continue to sit here; back bent like a branch counting each of its leaves, counting every character to draw an ever ending tale. But no one knows, a long time has passed since I left. The person sitting here is no longer me! Is there anyone like me, absent from the very place I sit, exiled right inside the tale I’m conveying? 

I’m not alone, an overcrowded generation out there, unbeknown, also for a long time now exiled, lost their heritage, left their homes forever. Even, an entire nation exiled, and nothing is strange about this? Though I don’t want to say for sure. Every day, I continue to sit here, sure of my position, drafting, writing. You’re far gone long ago, left as well as the laughter. The new person arriving is not you, and I’m not me, but that’s not a problem, everything will eventually depart, always.

In the end, left are the remnants of pale human shadows. Where I sit, the place is mine, the seat next to me is yours, no not so, it belongs to the person who just arrived. You’ve left, I’m also gone, so the person just came, the person just arrived too.

None of this matters any more, let’s be on our way.

[November 2018]

Nhầm lẫn

Tôi vẫn tin rằng có ai đó đang đợi tôi ở cuối chân trời góc bể. Tôi đã đi rất nhiều nơi với mong ước âm thầm biết đâu rồi sẽ gặp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi trở về đây, về với chỗ ngồi quen thuộc của mình. Từ ngày bạn bỏ ra đi, tôi đã rất buồn. Tôi tự thú nhận với mình nhiều lần như thế, cả trong mơ. Chỗ ngồi của bạn, ở bên cạnh tôi, có một người khác đến ngồi. Một gương mặt khác, một nụ cười khác, một giọng nói khác, một bàn tay khác, một tình yêu khác, nhưng sao tôi cứ nhầm lẫn hoài, đó vẫn chỉ là một người, vẫn là bạn mà thôi?

Tôi đã nhầm lẫn trong một thời gian dài tuổi trẻ. Nhầm lẫn cái nọ màu đỏ cái kia màu vàng, thứ nọ muôn năm thứ kia mãi mãi. Cuối cùng, tôi đã dứt khoát nhận ra, đau đớn nhận ra và mỉm cười ngạo nghễ bỏ đi.

Vậy sao bây giờ tôi lại tiếp tục nhầm lần được. Này nhé, chỗ bên cạnh tôi là chỗ ngồi của bạn, bạn vẫn thường ngồi…

 Bạn đã xuất hiện bên cạnh tôi, như một cô bé học trò xinh xắn, rụt rè ngồi xuống, mở to mắt ngước nhìn xa xăm tìm câu hát mùa thu. Tôi tự tin không thèm để ý. Chỗ này tôi ngồi trước, ai cũng xác nhận thế rồi. Vậy nên tôi mải mê với câu chuyện của mình. Tôi cũng biết rằng, từ khi bạn đến, chỗ ngồi của chúng ta ấm lên, bàn tay ấm lên, câu chuyện cũng ấm dần lên…

Thế nhưng, cũng bất ngờ như khi đến, bạn ra đi vào ngày nào đó tôi không còn nhớ. Người thay thế bạn có một nụ cười khác, một màu tóc khác, nhưng tôi không nhận ra. Tôi cứ mãi huyên thuyên câu chuyện của chính mình, về những trò nghịch dại trên núi Chư Mang xa xăm hoang vắng!

Bạn đọc hẳn đã quá nhàm chán với những tình huống nhầm lẫn quen thuộc đến phát ớn trong các vở kịch, trong các tác phẩm văn chương. Tôi cũng thế. Chỉ có những tay viết bất tài mới lặp lại tình huống cũ rích này. Nhưng, đôi khi, đất trời cũng nổi hứng đặt bày oái oăm nhầm lẫn, cho vui…

Đến khi tôi bàng hoàng phát hiện ra người mới đến không phải là bạn thì mọi sự đã rồi. Tôi đứng trước lựa chọn đau đớn: Hoặc đứng dậy bước đi trước một người xa lạ, hoặc tiếp tục coi đây, người này, là bạn của tôi, là bạn của tôi!

Nếu đứng dậy ra về thì nắng đã xế chiều, thì lau lách đã đìu hiu, thì núi sông đã nhuốm màu quan tái. Nếu coi người vừa ngồi cạnh mình đây vẫn là bạn thì, khó khăn lắm! Mắt ấy, môi ấy, tiếng hát ấy, không phải, không đúng, không quen…

Màu mắt mới đến vừa có một đám mây giăng ngang mọng nước, tiếng cười lảnh lót như nàng tiên cá dưới sông Năng!

Biết làm sao được?

Người mới đến vẽ một trái tim lên bảng đen rồi nói, đó, trái tim đó! Tôi nói, không phải đâu!

Người mới đến vẽ một nụ cười lăn trên cỏ rồi nói, đó, nụ cười đó! Tôi lắc đầu quầy quậy. 

Người mới đến quẹt một giọt nước mắt vừa lăn, nức nở nói, đó, nước mắt đó!

Tôi đứng dậy định bước đi. Người mới đến khóc òa lên. Tôi ngoảnh lại, cả quyết nói, thôi được rồi, đừng khóc nữa, chiều rồi!

Như một tình yêu tuổi học trò, bạn nghĩ thế, phải không?

Tôi không dám chắc đâu. Sự nhầm lẫn đôi khi dẫn đến tình trạng ông nói gà bà nói vịt xảy ra thường xuyên. Cái mà tôi tưởng chừng vẫn thường xuyên hiện hữu thì hóa ra lại vắng mặt lâu rồi, hình ảnh tôi đang thấy bên cạnh mình thì lại không phải là điều tôi vẫn yêu thương và tưởng nhớ!

Có những ngày dài, tôi mang cảm giác rằng cả nhân loại đang dõi mắt nhìn tôi, thật đấy! Những người thân trong gia đình, bạn bè, cấp dưới cấp trên, các tầng bậc quản lý trùng trùng lớp lớp đều mở to mắt nhìn theo. Tôi thì vẫn ngồi đây, khom lưng như một cành cây đếm từng chiếc lá, đếm từng ký tự để vẽ ra câu chuyện muôn trùng. Nhưng tất cả đều không biết rằng, từ lâu tôi đã ra đi. Người ngồi đó không còn là tôi nữa! Có ai như tôi không, tha nhân ngay chính chỗ mình ngồi, vong thân ngay trong câu chuyện mình đang kể?

Không chỉ riêng mình tôi đâu, cả một thế hệ đông đúc chen lấn ngoài kia, biết đâu, từ lâu cũng đã vong thân, mất gốc, bỏ xứ ra đi biền biệt.Thậm chí, cả một dân tộc đã vong thân, điều đó có gì lạ không? Tôi không dám chắc đâu. Hàng ngày, tôi vẫn ngồi đây, yên tâm với vị trí cũ, và vẽ, và viết. Bạn đã bỏ đi biền biệt lâu rồi, đến cả tiếng cười cũng bỏ xứ ra đi. Người mới đến không phải là bạn, còn tôi thì đích thực không phải là tôi, nhưng có sao đâu, mọi thứ rồi sẽ cứ ra đi, trùng trùng lớp lớp.

Cuối cùng, chỉ còn lại những bóng dáng nhạt nhòa của hình nhân ở lại. Chỗ tôi ngồi đây, là chỗ của tôi, chỗ bên cạnh là của bạn, không phải, của người mới đến. Bạn đã bỏ đi rồi, tôi cũng đã ra đi, rồi người mới đến, người mới đến cũng đã…

Nào, tiếp tục lên đường…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

necropolis | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh
Published on Gobblers & Masticadores

Separated by a small path, a park suddenly popped up next to a Necropolis of zombies. The best architects were hired to take care of the new development. Innumerable exotic flora and fruit trees were bought. Including ancient trees from various forests and jungles, and precious rock boulders from exotic places. The flowers bloomed with rippling streams and birds singing. The playground was glorious, it was a beautiful poem!

On the other side of the path, a few steps away were the quivering writhing zombies living in decay. The existing dead followed each other in ankle-deep mud. Fully covered, they exchange words through shemaghs. Their bony arms flapped in the eerie cold wind. A stark contrast to the playground full of joy. An orchestra complete with all kinds of instruments played unending symphonies. The smell of incense danced with the fragrance of jasmine and ripe fruits, effusing sweetly throughout the day and night.

A playground was for the dead, and Necropolis was for zombies.

All along the dividing path were guards patrolling year-round — guns aimed at the dead zone. From the cemetery, now and then a few zombies might catch smells of incense, and the seeping fragrance would overwhelm them with madness, the zombies ram themselves into the line of guards. Of course, no zombie could ever escape the scum! Gleaming knives welcomed them; they only needed to advance a bit for the blade to cut through barely any flesh, before they hit bone. Their bodies were immediately cleared, and thrown back into the cemetery as though it was nothing. It was just another day to the guard.

There were daily funeral processions at the park of the dead. Just yesterday, a burial went ahead. The deceased was a butcher, he was slaughtered by another butcher. So people say, the body was no longer whole, severed in pieces due to profoundly ingrained resentment. Along the whole funeral procession, they were throwing flowers and white confetti like a snowstorm. The burial of the butcher was a result of another butcher’s slaughter, indeed beside his friends and family, both sides were in attendance. They lowered their eyes or turned away; they didn’t meet each other’s gaze. Hands on their belts were carving knives ready for a fight. Incense infused the length of the road. The hoard of zombies over in the graveyard relished excitedly, the renewed inhalations of the smoke and perfume, filling their starved lungs. Their deep hollow dark eyes were dazed with fresh dreams of a paper-thin cover of spring.

All at once, a total of four burials took place that particular day — four people in the same family, from an unknown cause. Despite how good we are to each other, death is inevitable. Four graves amalgamate into one, four times the opulence. Flags were flying like butterflies in the middle of spring, and people lend their voices to anthems as they sent the dead to their final resting place. The zombies came out to ogle, drooled, sniff, soaked up the smoke and incense: famine and the cold desiccated their bodies, they were the definition of savagery. Day after day the road widened; the guards also grew in power, their artillery cold, their shiny blades glaring.  There was no way to pass the divide, the zombies wallowed and wept taking turns spitting.

As you already know, spit is the last weapon of defense when there was nothing left. When the sky was overwhelmed with more doom and darkness, the zombies viciously rose; hence, the volume of the split overflowed, like a river! No matter how much brutality was shown by the guards; slaughter didn’t stop the spitting. A million pools of spit propelled skyward, no different from any torrential downpour. The spitting storms continued to overwhelm the park.

So much money was vested in erecting opulence, now facing risks of bankruptcy. The shimmering coffins covered in blooms were now drenched in excrement. So they built a tall brick wall to separate the playground from the graveyard. They also commissioned a vast army of professional cleaners to clean the tombs and gardens. The workers were covered from head to toe in protective gear, vigilantly working into the night. They were scrubbing in the sun, in the rain, in the prolonged cold nights. The Park of the dead was the epitome of a graveyard. Its original poetic beauty was now in a layer of noxious zombie saliva was devastating. The saliva formed dripping trails, oozed, the tombstones rotted, and the green grass and the white flowers fell into decay. The rats from the necropolis drawn to the smell scrambled over the top of each other, scratched, and gnawed at the freshly buried flesh, and bones, and the stench had spread to tens of thousands of miles outside the boundary of the once opulent cemetery.

[January 2019]

_____

Trong thành phố vừa mọc lên một Công viên người chết bên cạnh Nghĩa trang xác sống. Nghĩa trang và công viên ngăn cách nhau bằng một con đường nhỏ. Những kiến trúc sư giỏi nhất trong thiên hạ được triệu về xây dựng công viên. Vô vàn cây xanh hoa lạ trái quý trong thiên hạ được đem về trồng tỉa, đắp điếm. Cả những cổ thụ rừng sâu, cả những tảng đá quý nơi núi xa đều được chuyển tới. Hoa nở và chim hót và nước chảy róc rách. Công viên đẹp như một bài thơ!

Bên kia con đường là nghĩa trang. Nơi những xác sống vật vờ tựa bóng ma hời xuôi ngược. Chỉ vài bước chân mà cảnh vật trái ngược, điêu tàn, bụi bặm. Lũ xác sống dắt díu nhau đi trên những con đường bùn ngập ống chân. Họ chào hỏi nhau bằng lời nói phát ra sau tầm màn khẩu trang che kín hết mặt. Bàn tay gầy vẫy nhau trong gió rét điêu linh…

Phía bên nghĩa trang thê lương bao nhiêu thì ngược lại, phía bên công viên lại nhộn nhịp trù phú bấy nhiêu. Những dàn nhạc với đủ các loại nhạc cụ và nhạc công diêm dúa ngày đêm hòa tấu không ngừng nghỉ. Mùi hương trầm lẫn với mùi hoa ngọc lan và mùi trái chín, lan tỏa ngọt ngào suốt ngày đêm…

Xin được nhắc lại lần nữa: Công viên dành cho người chết, còn Nghĩa trang dành cho xác sống!

Suốt dọc con đường ngăn cách hai bên, đội canh gác túc trực bốn mùa không nghỉ. Họ đứng quay lưng về phía Công viên và chĩa súng tuốt lưỡi lê về phía bãi tha ma. Từ bên nghĩa địa, thỉnh thoảng có những xác sống bị tà ma hiển nhập, ngửi thấy mùi nhang trầm và hương hoa thơm ngát phía bên kia đường, bèn nổi cơn khùng điên lao qua giới tuyến hòng thoát thân khỏi bầu khí quyển bụi bặm, đến với thế giới minh hồ lồng lộng. Dĩ nhiên là không bóng ma nào thoát được! Lưỡi lê sáng quắc đang chờ, chỉ cần họ lao tới là cắm phập vào xương cốt, xuyên thấu tận lưng, giãy đành đạch bên đường. Xác sau đó được dọn sạch, đổ về bên phía nghĩa địa, như chưa hề có cuộc tẩu thoát nào vừa mới xảy ra.

Công viên người chết hầu như ngày nào cũng diễn ra tang lễ rình rang. Mới hôm qua, một đám ma to vừa được cử hành. Người chết là một gã đồ tể bị một gã đồ tể khác làm thịt. Nghe người đời kể lại, xác không còn nguyên vẹn, thậm chí bị băm ra nhiều khúc vì ân oán quá thâm sâu. Suốt con đường di quan, hoa và giấy bạc vứt trắng trời như mưa tuyết. Đám tang của một gã đồ tể bị một gã đồ tể phanh thây, dĩ nhiên là ngoài người thân thích họ hàng, sẽ còn rất nhiều tay chân của cả hai phe tham dự. Họ cúi mặt hoặc ngẩng mặt đi trong đoàn người đưa đám, tay vẫn lăm lăm giữ lấy thắt lưng, nơi có con dao mổ cất sẵn. Hương trầm thơm ngát suốt quãng đường dài. Lũ xác sống bên phía bãi tha ma hít hà khói hương đầy những lồng ngực lép. Những hố mắt sâu đen thăm thẳm ngẩn ngơ trông vời mơ áo giấy mùa xuân…

Ngày hôm nay cùng một lúc đưa đám bốn người. Bốn người trong một gia đình, chết chưa rõ nguyên nhân. Dù sao, nghĩa tử là nghĩa tận. Bốn đám tang nhập lại thành một đám tang to gấp bốn lần. Cờ phướn rợp trời như bướm lượn sang xuân, nhạc véo von tiễn các vong về nơi an nghỉ. Bọn xác sống ở phía bên kia đường lại ra đứng hóng, hít hà khói nhang, thổn thức thèm thuồng. Đói và rét làm cho những bộ hài cốt gầy xọm đi, trông thảm hại vô cùng. Con đường ngăn cách ngày càng được mở rộng ra, đội canh gác cũng được tăng cường nhiều hơn, súng ống lạnh lùng, lưỡi lê sáng quắc. Không còn cách nào để bước qua ranh giới ấy, lũ xác sống đứng bên này than khóc và thi nhau nhổ nước bọt qua phía bên kia. Bạn biết rồi đấy, nước bọt là vũ khí cuối cùng của những ai không còn vũ khí. Khi bị bầu khí quyển u ám tối đen vây bủa, lũ xác sống trở nên hung dữ, vậy nên, lượng nước bọt nhỏ về phía bên kia ngày càng nhiều, tương đương một dòng sông! Bọn lính canh dù hung hãn và tàn ác đến đâu cũng không thể giết hết bầy xác sống đông đúc bầy đàn ô hợp, càng không thể ngăn hàng triệu bãi nước bọt bắn lên trời, không khác những trận mưa. Dòng sông nước bọt vẫn mỗi đêm mỗi ngày chảy qua phía công viên…

Bao nhiêu tiền của được bỏ ra để xây đắp nên Công viên lộng lẫy, bây giờ, đang đứng trước nguy cơ phá sản. Những cỗ quan tài bằng pha lê nằm giữa những khóm hoa khoe sắc bây giờ được tẩm ướp thêm một lớp nước bọt nhầy nhụa. Người ta dựng thêm một bức tường cao dày dọc con đường để ngăn cách Công iên với bãi tha ma. Nhưng làm sao mà ngăn được nước bọt nhổ ra từ mồm của những bóng ma? Người ta cử nguyên một đội quân đông đảo đến hàng vạn người, chuyên làm công việc dọn dẹp lau chùi mộ địa. Họ mặc đồ bảo hộ bịt kín, cặm cụi làm việc bất kể ngày đêm. Và rồi, nhìn từ xa, Công viên bây giờ lại tràn ngập những hình nhân cắm cúi đi lại lau chùi trong nắng, trong mưa, trong cả những đêm dài giá lạnh. Bây giờ thì, Công Viên Người Chết ấy lại nhìn hao hao giống bãi tha ma, thậm chí, tệ hơn, vì những bài trí đẹp đẽ nên thơ ấy lại bị phủ một lớp dày nước bọt tanh tưởi. Nước bọt chảy thành dòng, phá lở những nấm mồ cỏ xanh hoa trắng, làm lở loét những cỗ quan tài, để rồi bầy chuột từ bên phía bãi tha ma tràn qua đục khoét, moi thịt, gặm xương, mùi hôi tanh lan rộng ra hàng vạn dặm…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Not my words, but | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Often I would use someone else’s words, as though through my lips, they speak. “Hey old man, they’re going to find you, that grey head of yours, you get me? Do you understand me at all, you’re only seventy-something, still young, very young actually!”. Certainly, if I was myself, I would apply a more appropriate tone, seventy years old are entitled to more respect, but… I was watching TV one day, and I found myself shouting at the screen: “You bastard, this prison cell is tiny, not even enough water to flush the toilet”. Such occurrences became more and more frequent, so often that people thought I was mad, they thought I had lost my mind. I was fully aware of my actions, evident by the fact that I did not miss a day at work, my productivity and wage matched those of my peers. I’m adamant that those around me also use my lips to voice what they want to say before moving on. Like early today, I blurted angrily: “If you guys weren’t so greedy in the first place, you wouldn’t have ended up in such a hell hole. Hey, you and your mangy beard, get off my feet, get out!”.

Often someone would use my lips to speak. They were always very sure of themselves. My friends after a while distanced themselves from me, after a while I was completely cut off. At the heat of the moment one tends to be oblivious of one’s surroundings, not bothered about the consequences may it be good or bad. I would do this often, blurt out something totally irrelevant, pluck out of the air, it was mind boggling and incomprehensible. “Why would you bother chopping off their head, just shoot them, but in my humble opinion, best poison them, it leaves no mark, less problems when the family comes to collect the body”. After the random remark I swallowed a good gulp of beer, and without much thought wiped off the foam at the corner of my mouth, staring at the plate of condiments, tentatively listening to a colleague go on and on about some recent commotion, someone was convicted, some national default. He turned his head towards me and asked: “Who, what did you just say? What lethal injection? For whom?”. I dismissed his query with: “They all deserve the lethal injection, I’m totally in favour of the death penalty”. My colleague encouraged me. Yes, they all should get a death sentence… Cheers to that!

Just when I feel rather pleased with myself having to save myself from a possible altercation, someone would turn up. My lips began to itch, boldly from my mouth: “If anyone asks, just tell them I’m over at Mr. Chanh’s place! Don’t forget to give the cat water”. Mid a sip of beer, my colleague slowly put his mug down, looked at me sadly, shook his head. He was the last friend who stood by me. All good, I don’t have to worry about what I say anymore, including what was incomprehensible to me.

No longer participating in any kind of social gathering, I am often alone looking out at the mead. Completely speechless, wordless, unless another person was nearby, and it is their words that would come out of my mouth. I had in submission surrendered my lips to the people around me, while I sat and waited, to see who would be the next person. Who will pass by with talk of nothing void of a beginning nor an end? I was on full alert, as though I was waiting to catch a burglar red handed. And of course without warning, a stranger said: “Demons meet up there on the third floor, right next to the writer’s headquarters”.

As time went by, I slipped further and further into a state of incomprehensible confusion, but I was more and more curious about what the next person was going to say, and what would soon slip from my lips. Clearly, those who have been hiding in some dark void now and then would speak up, their words louder, more eloquent. There were words, phrases, I had never come across, nor had ever voiced. So as it turns out, the words of this world have invariably changed much and are totally unpredictable. 

Active listening allowed me to work out the fact that there were about three or four people who had borrowed my voice more than the rest of them. Amongst them, there was this very old guy, a person from an era at the beginning of the last century. A voice of authority, giving his orders in a sharp and direct manner: “Drag him out, whip him ten times, throw him out of our enclave!”. Just like that, he stopped talking, my mouth was agape, remained open, I would sit there totally dumbfounded and confused. The afternoon sun lit up the very pit of my throat, burning the back of my tonsils. I closed my mouth, and, as though something that had just happened while I was fast asleep, my lips puckered up, meowed like a tom cat: Meow, meow.

Now my mouth is like a deep abandoned well covered with green moss. From within this pit, the rippling echoing voices of strangers or the odd cat or maybe a frog. The bottom of the well may be directly connected to an underworld at the centre of the earth, to the past, to some eerie ghostly sombre place. And of course, I got on with my life, I ate, slept and worked hard, a model citizen. I am intelligent, brave and industrious. I’m healthy, I’m never sick, except for my god forsaken mouth.

Often someone would use my lips to say…

January 2021

Chơi trò mượn miệng

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Thỉnh thoảng, tôi vẫn nói bằng giọng nói của người khác, như là tha nhân đang nói, bằng miệng của tôi. “Này gã đầu bạc, chúng nó sẽ tìm đến nhà cậu và giết cậu, hiểu không? Cậu không hiểu chứ gì, vì cậu mới ngoài bảy mươi, trẻ lắm, trẻ lắm!”. Đương nhiên, nếu thật là tôi đang nói tiếng nói của tôi, thì cách xưng hô với một người ngoài bảy mươi là phải thưa gửi lễ phép, đằng này… Có hôm, đang nằm xem tivi, miệng tôi nói: “Chó ghẻ, cái phòng giam này chật chội quá đi, lại không đủ nước để dội bồn cầu”. Tình trạng ấy ngày càng xuất hiện liên tục, mọi lúc mọi nơi khiến những người xung quanh nghĩ tôi lẩn thẩn, đãng trí, tâm thần. Tôi biết rằng mình vẫn hoàn toàn tỉnh táo, bằng chứng là vẫn làm việc không sót ngày nào, năng suất không thua kém ai và nhận lương ngang bằng các đồng nghiệp. Tôi chắc chắn có ai đó thỉnh thoảng đi lướt qua, mượn cái miệng của tôi nói vài câu rồi lại đi tiếp. Sáng nay, miệng tôi nói: “Nếu tụi mày đừng tham thì bây giờ lại không phải quây quần nơi địa ngục tối tăm này. Thằng râu dài kia, đừng ngồi lên chân tao, đau bỏ mẹ đi được!”.

Thỉnh thoảng, có ai đó mượn miệng tôi để phát ngôn. Chắc chắn thế. Bạn bè đã hoàn toàn xa lánh, vì nhiều khi trong lúc họ đang cao hứng chuyện trò giãi bày tâm sự, họ đang chờ đợi sự đồng tình hưởng ứng hay phản đối của người nghe, thì tôi lại buột miệng nói một câu không hề liên quan, xa xăm tận đẩu tận đâu, khó hiểu đến não nề. “Tại sao phải chém, bắn cũng được, nhưng theo ý kiến của tại hạ, thì nên cho uống thuốc độc, khâm liệm tử thi sẽ dễ hơn, mà gia đình cũng đỡ đau xót khi nhập quan”. Nói xong, điềm nhiên nâng ly bia lên uống, rồi đưa tay quệt bọt bia dính trên mép, mắt nhìn vào đĩa mồi, lắng tai nghe anh bạn đang huyên thuyên về các đại án gần đây và khả năng quốc gia vỡ nợ. Anh bạn quay sang hỏi tôi: “Mày vừa nói cái gì? Ai? Tiêm thuốc độc ai?”. Tôi nói chữa: “Ai cũng nên tiêm thuốc độc, tôi ủng hộ thay đổi hình thức tử hình”. Bạn tôi tiếp lời, đúng ra là phải tử hình tất cả bọn chúng…Cụng ly cái nào!

Đúng lúc tôi cảm thấy vui vui vì chữa cháy được một tình huống tế nhị thì kẻ nào đó lại vừa ngang qua miệng. Tôi mấp máy môi, nói dõng dạc: “Nếu có ai hỏi thăm thì cứ nói ta đang qua chơi bên nhà cụ chánh, nghe chưa! Tí nữa nhớ cho con mèo uống nước”. Anh bạn từ từ hạ ly bia uống dở xuống, nhìn tôi, lắc đầu buồn bã. Đó là người bạn cuối cùng rời bỏ tôi. Thôi được rồi, như vậy cũng tốt, đỡ phải lo lắng hoang mang khi miệng mình nói những điều chính mình không hiểu nổi.

Không còn sa đà vào những cuộc gặp gỡ đãi bôi, tôi thường ngồi một mình nhìn ra thảo nguyên trước mặt. Tôi hoàn toàn tịnh khẩu, nghĩa là tôi không phát ngôn gì nữa, nếu miệng tôi có nói gì thì hoàn toàn là lời của người khác đi qua kẽ răng, qua môi trên môi dưới mà thôi. Tôi nhường hẳn miệng mình cho người khác nói, còn mình thì ngồi rình, xem thử, người đó là ai. Ai mà thỉnh thoảng đi qua nói những chuyện đâu đâu, những lời không đầu không cuối? Tôi rình, như chủ nhà rình kẻ trộm. Và rồi, đột ngột không báo trước, người lạ nói: “Trên tầng ba có một lũ ma quỷ thường xuyên tụ tập, bên cạnh đó là trụ sở nơi các nhà văn ẩn náu”.

Tôi càng ngày càng chìm vào trạng thái mơ hồ khó hiểu, càng ngày càng thích thú rõ rệt khi được nghe người khác phát ngôn bằng miệng của mình. Rõ ràng, với những kẻ ẩn danh ẩn nấp trong sâu thẳm và thỉnh thoảng cất lên tiếng nói, thì vốn chữ nghĩa được tăng lên rõ rệt. Có những chữ, những câu, tôi chưa bao giờ dùng đến, chưa bao giờ biết nói. Hóa ra, chữ nghĩa trong nhân gian biến ảo khôn lường…

Tôi lắng nghe và ước lượng có chừng ba hay bốn người gì đó thường xuyên đi qua, thường xuyên mượn mồm tôi để nhả chữ. Trong số đó, có một kẻ già thật già, hoặc là người của phần đầu thế kỷ trước. Đó là một giọng nói uy quyền, thường xuyên ra lệnh cho người khác bằng chất giọng rất đanh: “Lôi nó ra, đánh mười roi, rồi đuổi ra khỏi phủ!”. Nói xong chừng đó, cũng vừa nghe xong chừng đó, tôi há hốc mồm, ngồi đờ đẫn. Nắng chiều xiên khoai chiếu vào tận trong cùng vòm họng, rát buốt. Tôi bèn ngậm miệng lại, và, như một hành vi diễn ra trong vô thức, tôi nhọn môi lại kêu bằng tiếng của một chú mèo đực: Meo, meo…

Miệng tôi bây giờ như cái giếng hoang hun hút cỏ phủ rêu phong. Từ dưới đó thỉnh thoảng vọng lên tiếng người xa lạ hoặc tiếng mèo kêu hoặc ếch nhái râm ran. Không chừng đáy giếng hoang ấy lại nối liền cõi âm trong lòng đất, trong quá khứ, trong thế giới ma quái âm u nào đó. Dĩ nhiên, tôi vẫn phải ăn ngủ và làm việc cật lực như một công dân mẫu mực của xứ sở cần cù thông minh và gan dạ này. Tôi không hề bị bệnh gì hết, ngoại trừ cái miệng bỏ hoang, vậy thôi.

Thỉnh thoảng, lại có ai đó mượn miệng tôi để giãi bày…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Portrait of the truth | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Nguyễn Thị Phương Trâm 

I tried with great difficulty to capture a portrait of the Truth, but after hundreds of retakes, there’s always only half of the Truth, and the other half was always hidden. When the photo was posted, people were all audibly enthusiastic, surprised, full of hope and indignation. They believed they were facing the truth. I apprised aloud: This is only half of the Truth, the other half is lagging way behind. But they refused to believe in what I had pointed out to them, they would leave, looking for more images like mine.

Do you know the value of the Truth? I don’t know for sure, but I guess it’s a considerable cost, perhaps enough for the exchange of life. Hence the Truth will always overshadow all aspects of living. It’s a long black shadow, a dark spectre, a free-flowing nefarious cape of Lucifer. Inside its shadow echoes were the tears and laughter, all that is damp and wet, reeking the smell of parties, and excessive sugary defilements.

Near the poles, the Sun is ever bright; hence, the shadow of the Truth is a permanent imprint on the land. We dwell for a long time there, looking out now and then, like toddlers playing hide and seek with themselves in front of a mirror.

Therefore, in order for the Truth to reveal itself, we need a bit of a reflection, a bit of judgement and a bit of wonder.

I’ve captured an island, from high above, the island was as blue as a bout of rain, as green as a meadow, lay there calmly in the middle of a peaceful sea. Have you seen it? The harmonious colours, glimmering light, brilliant, glorious! But it’s just a shadow of the Truth. The Truth here is only an illusion. Where I’ve just flown by, there has never been an island. If I think about it hard enough, it would appear. As for the others, knowing it’s not what it is, still full of praise, so pretty, so adorable, so endearing, it feels like a piece of me! They hide the Truth to appease a different reality.

Beyond the metaphysical, right?

The vocation of writing has made me wary, filling me up with delusions. No one wants that. One person is right; one hundred is still okay. But when the whole community is wary and delusional, it could only conclude in two possible ways: for one that community may achieve greatness; or two, that community could end up splitting up in despair.

Why is that?

Simple, they will abandon their faith completely when there’s no other faith to replace it.

Looking at all the intelligent faces boasting about their achievements, prizes, etc. in a photograph, no one believes it’s an image of the Truth.

The nature of doubt is contagious — an act, overbearing, and deceiving. I’ve heard first hand these words of deceit, at a photographic exhibition still open here in our town museum.

The doubt will come to the point of fixation, forcing you and me to be doubtful of our ego, disbelieving what is sceptical. And sooner or later, we have to see it to the end: That is, when is the beginning? Whose power has given birth to it? Or more straightforward, is it the evidence to Hegel’s ultimate theory?

If you want to eat a length of sugarcane, you have to de-shell it. If you’re going to discard the shell of scepticism, you have to extinguish the light, the Sun, not the cover of its shadow. Perhaps then, beyond the dark cover of night, you may leave. The hands you’re then able to grasp, would be the hands of the Truth, not some dangling corporal medal. Faces may dawn upon a face, the face of reality, full of the warmth of being alive, not some decorative designer cloth clinging to your skin.

In conclusion, it’s rare to meet a face worthy enough of the name to appear naked in daylight. Is it not a tragedy? It’s up to you to decide. Though there’s this, of the life that we’re presently living, in reality, none of these happy tragedies ever desist. Hence, every night eagerly, I pour alcohol down my throat, and in my dreams, infrequently engage with various faces. 

Do we need to tirelessly honour the shadow of the Truth, is this not exhausting? It would help if you found a way to unwind, like seeing a beauty contest, for an instant. Where many details are required to form beauty, eyes, voluptuous curvaceous lips, the cries, the laughter, criticism, scepticism, passing about etc. After that, do not harbour any desire to bury yourself under a blanket and sleep. Before sleeping, imagine the round face of the writer incarcerated yesterday afternoon. There’s something about their features resembling Truth. Just that much, only then, will you rest in peace.

I’ve been driving around town, ro do what, do you know? I’ve gone and found my real face. My face does not live at home, or on my person, for a long time now. It had fallen somewhere amongst the weeds, in the mud, along the side of the road of this tiny mountainous town. Now and then, I bring out my camera to admire and take pictures of my face, before deleting them, because I know, it’s not me.

Here’s a little secret, there’s a scar under my chin. Putting it cryptically, it’s sad evidence from those violent and damaging adolescent years. But no one will ever discern it. I stopped the vehicle on a bridge; beneath the bridge, the flowing stream was crystal clear, someone had mentioned. As I looked down, the scar appeared, as an imprint on the surface of the water, ruby red like evidence of a kiss.

My face was suddenly filled with anguish, and trespass.

And that was only a teeny tiny detail of the Truth!

[May 2019]

Chân dung sự thật

Tôi cố gắng chụp một bức ảnh chân dung Sự Thật, nhưng chụp đi chụp lại hàng trăm lần, cũng chỉ có một nửa sự thật thôi, còn một nửa luôn luôn bị che khuất. Khi bức ảnh được đăng lên, nhiều người xem và ồ lên thích thú, ngạc nhiên, hy vọng và căm phẫn. Họ tưởng đang đối mặt với sự thật. Tôi khuyến cáo: Đó mới chỉ là một nửa sự thật thôi, còn một nửa đang nằm xa phía sau kia. Họ không tin, và bỏ đi, xem tiếp những bức ảnh khác…

Bạn biết Sự Thật có giá bao nhiêu không? Tôi cũng không biết chắc, nhưng đoán chừng đắt lắm, có khi đổi cả mạng sống. Vì thế mà Sự Thật luôn luôn đổ bóng lên mọi diễn biến của đời sống. Bóng đen của nó kéo dài như bóng ma hắc ám, như một áo choàng của quỷ phấp phới bay. Từ trong đó vọng ra những khóc cười, những thi vị ướt át, những hân hoan mùi mẫn, những cưỡng hiếp ngọt ngào…

Ở xứ nhiệt đới, mặt trời luôn hiện diện chói lòa, vì vậy, bóng của Sự Thật cũng theo đó mà in rõ ràng lên mặt đất. Chúng tôi sống lâu trong đó, lâu lâu ngó ra ngoài, như những đứa trẻ thiểu năng chơi trò chơi trốn tìm với chính nó trong gương…

Vì vậy, để nhìn được một chút sự thật nào đó, chúng ta cần một chút liên tưởng, một chút phán đoán và một chút hoài nghi.

Tôi chụp một hòn đảo, từ trên cao nhìn xuống, xanh như một cơn mưa, xanh như một cánh đồng, nằm thanh bình trên biển lặng. Bạn thấy chưa? Màu sắc hài hòa, ánh sáng long lanh, rạng rỡ, đẹp lắm! Nhưng nó mới chỉ là bóng dáng của Sự Thật thôi. Sự thật, đó chỉ là một ảo ảnh. Trên vùng biển tôi vừa bay qua, không hề có hòn đảo nào hết. Tôi nghĩ đến nó và nó có mặt. Những người khác, biết nó không còn là chính nó, nhưng vẫn khen, đẹp quá, yêu quá, gắn bó quá, ruột thịt quá! Họ đang che giấu sự thật để vỗ về một sự thật khác.

Siêu hình quá, phải không?

Công việc viết lách bắt tôi nghi ngờ và tưởng tượng. Không ai muốn thế cả. Một người thì được, một trăm người, vẫn còn được. Nhưng nếu cả một cộng đồng hoài nghi và tưởng tượng, thì có hai khả năng: Một là cộng đồng đó vĩ đại, hai là, cộng đồng đó sắp lao xuống vực thẳm.

Vì sao ư?

Đơn giản, họ sẽ mất hết niềm tin. Khi chưa có một niềm tin khác thay thế.

Nhìn vào một gương mặt tươi cười đang nói về những chiến công, thành quả vân vân… trong một tấm ảnh, tất cả mọi người đều không nghĩ tấm ảnh đó là sự thật.

Cảm giác hoài nghi có tính lây lan. Diễn, làm gì có chuyện đó, phét lác, lừa lọc… Tôi đã nghe tận tai những từ ấy, tại một cuộc triển lãm ảnh về cuộc sống đương đại tổ chức trong bảo tàng thành phố, hôm qua.

Sự hoài nghi sẽ đến lúc ám ảnh mạnh mẽ khiến tôi và bạn hoài nghi chính mình. Hoài nghi nỗi hoài nghi. Và không sớm thì muộn, tôi và bạn phải truy đến cùng: Cái ấy, bắt đầu từ đâu? Ai, thế lực nào đã tạo ra nó? Hay đơn giản, nó chỉ là một minh chứng cho thuyết ý niệm tuyệt đối của Heghen?

Muốn ăn một khúc mía, bạn phải bóc vỏ. Muốn vứt bỏ hoài nghi, bạn hãy tắt ánh sáng đi, tắt mặt trời đi, đừng để cái bóng của nó che lấp. Khi đó, đêm đen sẽ bao trùm, bạn bước đi. Bàn tay nếu nắm được bàn tay, sẽ là bàn tay thật sự, chứ không phải là một công cụ đeo bám bên cạnh con người. Khuôn mặt nếu nhìn thấy khuôn mặt, thì đó sẽ là khuôn mặt thật, chứa chan hơi ấm của sự sống, chứ không phải là một vật trang trí phía trên thân xác con người…

Nói như vậy cũng có nghĩa là, bạn sẽ hiếm khi gặp được một gương mặt xứng đáng với cái tên gọi của nó giữa thanh thiên bạch nhật. Điều đó có phải là bi kịch không? Tùy bạn nghĩ. Chỉ có điều này, cuộc sống mà chúng ta đang sống, thực sự chưa bao giờ chấm dứt các bi kịch vui vẻ. Vì vậy, tôi thường nốc rượu rất hăng hái vào mỗi đêm, và trong mơ, thỉnh thoảng có gặp một số mặt người…

Chúng ta luôn luôn phải chiêm ngưỡng cái bóng của Sự Thật, mệt mỏi quá phải không? Bạn hãy tìm cách thư giãn đi, ví dụ như xem một cuộc thi hoa hậu chẳng hạn. Ở đó có rất nhiều chi tiết cấu thành cái đẹp, những mắt những môi phong nhũ phì đồn, những khóc những cười, phỉ nhổ, hoài nghi, đánh đổi vân vân. Và sau đó thì đừng thủ dâm mà hãy trùm chăn nằm ngủ. Trước khi ngủ bạn tưởng tượng lại gương mặt tròn xoe của một nhà văn vừa bị bắt chiều qua. Có một cái gì đó gần gần giống gương mặt thật. Chừng đó thôi, sau đó, bạn sẽ ngủ một giấc thật dài…

Tôi vừa phóng xe một vòng quanh thành phố, để làm gì, bạn biết không? Tôi đi xem bộ mặt thật của tôi. Mặt tôi không ở trong nhà, trên người tôi, từ lâu lắm rồi. Nó rơi đâu đó trong cỏ, trong bùn, dọc ven đường của phố núi bé tẹo này. Thỉnh thoảng tôi có đưa máy lên ngắm mặt tôi và chụp, xong rồi lại xóa đi, vì tôi biết, đó không phải là tôi.

Có một bí mật nho nhỏ, dưới cằm tôi có sẹo. Nói một cách ẩn dụ bóng bẩy thì đấy là dấu vết tổn thương của một tuổi thơ dữ dội và rách nát. Nhưng mà không ai biết đâu. Tôi dừng xe lại trên một cây cầu, dưới cầu nước chảy trong veo, chả biết ai từng nói thế. Tôi ngó xuống, và vết sẹo nổi lên, in ngay mặt nước, đỏ chót như một dấu môi hôn…

Đau đớn và đầy tội lỗi, mặt tôi đấy…

Đó cũng mới chỉ là một phần bé tí tẹo của Sự Thật mà thôi!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

speaking for the dead | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

There were long nights, rendered with nightmares, I tried to stay awake, kept my eyes open. Lying on my stomach, my mouth opened, tried to breathe through them. Crawled from my mouth were snakes and all kinds of tiny critters, toads and frogs jumping, dung beetles, they poured from my mouth like the seasonal floods in the midlands, as though they’re fleeing from war, refugees, boat people, or a funeral procession…

I asked: “Is there a demonstration somewhere?”.

The critters in unison replied: “We speak for the dead!”. It irritated me since it has nothing to do with my question. Is it worth my time to chase and kill every single one of them? So I ignored them. Though I was curious about where they were going and why on such long hot humid nights, I decided to wait and watched them…

I announced: “I won’t call you guys just guys, we’re all brothers and sisters, we’re comrades…”. Hearing that, they laughed out loud. The beetle with hard armour at the end turned around and said: “Shut up! Just stay still, stop prattling!”. Woah, they’re threatening me! There was no reason for me to be afraid, but I continued to lie still. Do they actually speak for the dead? We’ll just have to wait and see.

At the height of the night, the moon was high, the luminescence of melodious poetry. The hoard of reptiles and critters from my mouth continued to crawl out, in a line snaking in the middle of the yard. The air was unmoving, hot, and humid. Still, I was too afraid to close my eyes and sleep. On my stomach, my hands supporting my chin, quietly watched them play…

The night went on forever, especially those hot hights. Longer was the nights you couldn’t sleep. I thought of those who have died, what was there left to say? Why are these critters speaking for the dead, why were they pouring from my mouth? The number of deaths was countless, death on footpaths, death by the river, death at sea, death on planes, death at night, death in the middle of lunch, death early in the morning, dead being run over by a car, dead from hanging, death by a rifle and bayonet, death by choking, death by rape… how could they have enough words?

The light blue snake hissed: “We are beings without possessions!”. The hoard together screeched in agreement, shouting as though it was the wind shrieking, whipping at a cliffside: “Without possessions!”. Straight after, the snake symbolically slithered up the freshwater mangrove(1) its head hanging, swaying as though it was drunk. A beetle in the iron clad armour crawled out screeching: “We live only for others, not just for ourselves!”. The entire hoard screeched hissing in succour: “Not just for ourselves!”. Ah, so they’re just playing some childish game, this whole time!

They were lying. I finally grasp the idea of the situation.

Sharp little toad cheeks bloating croaked: “I hate liars!”. The hoard in an echo: “Down with the liars!”.

I had an uncle, dead for a long time now. Pappa used to tell us: “Your uncle before his last breath, asked his wife for a bowl of sticky rice, but there weren’t any!”.

I thought, the dead, if they did leave a message behind for posteriority, it wouldn’t be something so ordinary. For example, my uncle, if he had left a message, would say, try to build a good life, a life that you will be proud of and it will make you happy. Not, give me a bowl of sticky rice! The snakes and critters were absorbed in their games in the middle of the yard. The moon continued to shine. The air was ceaselessly hot. Sleeplessness was a painful disposition. I let out a scream as though someone was sticking a finger down my throat: “Give me a bowl of sticky rice!”. The snake beetles frogs toads startle, froze. Dazed for a second before they burst out in fits of laughter. “Dead people do not ask for food, stupid, the dead speak of much more wonderful stuff, just shut up, leave it to us!”.

I’ve only recently discovered I have a superpower: Whenever I think of something, immediately it appears! I just thought of Buddha, Buddha would appear, and of course with a white beard, and a benevolent face. As Buddha sat down, the snakes and critters would slither surrounding him. On Buddha’s palm was a bowl of sticky rice. So it turns out my desire was heard by Buddha, no, my uncle’s desire. Now that to me was the real Buddha…

The Buddha laughed, and asked the snakes and critters: “All that talking, doesn’t it make you hungry and tired?”. “Yes”. Barely acknowledging Buddha, the snakes, bugs frogs toads without much crowded around the bowl of sticky rice and ate it.

Through his smiling squinty eyes, Buddha teased me, Buddha’s voice was like the wind: “You’re so stupid, what era do you think this is that you continue to pester for equality and the truth!”.

I get it, Buddha came from the same domain as the snakes and critters…

Close to morning, the air was cooler, I fell into a deep sleep, as the snakes, bugs toads frogs continued to play and compete to talk for the dead. In my dreams, I saw the dead lining up quietly, their peering eyes were on fire. They had no beautiful words, no plain words. Nor do they beg for bowls of sticky rice or fight for food.

The dead said nothing. The hoard of snakes bugs frogs toads continued to fight for food for a chance to speak.

They spoke until they were bored then fell asleep in the moonlight. Buddha, after all the talk and laughter of pure benevolence, was left to stand there alone. Resentfully I said in my sleep: “Buddha, you should just go!”. Buddha turned around and left, his tail swaying like that of a fox. Oh god, I’m a fool, it was actually a fox from Mount Chư Mang, it came down the mountain looking for someone to play with on this blistering hot night. Not Buddha, it was now clear!

The dead also quietly left, their eyes ablazed and always on fire.

(1)Barringtonia acutangula: or freshwater mangrove is a symbol of prosperity.

[August 2019]

NÓI THAY CHO NGƯỜI ĐÃ CHẾT

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Có những đêm dài, bị truy sát bởi ác mộng, tôi không dám ngủ, chỉ nằm thôi. Tôi nằm sấp, há mồm ra để thở. Từ trong mồm rắn rết bò ra, cóc nhái bò ra, bọ rệp cũng bò ra, cả bầy, cả lũ, như chạy giặc, như di cư, như vượt biên, như tang lễ…

Tôi hỏi: “Tụi bây đi đâu mà đông vui như thể biểu tình bãi khóa?”.

Rắn rết cóc nhái trả lời: “Chúng tôi nói thay cho những người đã chết!”. Bực chưa? Hỏi một đường chúng trả lời một nẻo. Không lẽ đuổi theo mà giết từng con? Thôi thì kệ bọn nó. Để xem chúng kéo đi đâu giữa những đêm dài nóng nực…

Tôi nói: “Tao không gọi mày là mày, tất cả chúng ta là anh em đồng chí…”. Bọn chúng nghe thế, cười khành khạch. Con rết bận áo giáp đi sau cùng quay đầu lại nói: “Liệu hồn! Nằm im đấy, đừng lải nhải!”. Ghê, chúng dám dọa tôi ư! Còn lâu tôi mới sợ, nhưng vẫn nằm im. Có thật là chúng nó nói thay cho những người đã chết không nhỉ? Phải chờ thôi.

Trăng khuya đã lên rồi, vằng vặc như trong thơ và trong nhạc. Bầy rắn rết cóc nhái từ miệng tôi bò ra, xếp hàng rồng rắn giữa sân. Trời vẫn nóng hầm hập. Tôi vẫn không dám ngủ. Nằm sấp, im lặng xem chúng chơi đùa…

Đêm dài lắm, nhất là những đêm trời nóng nực. Nếu không ngủ được, đêm càng dài. Tôi nghĩ, những người đã chết, họ còn gì để nói nữa không nhỉ? Tại sao bầy động vật này lại sinh ra để nói thay người đã chết? Mà người đã chết thì nhiều vô kể, chết trên đường đi, chết bên sông, chết trên biển, chết trên máy bay, chết trong đêm , chết giữa trưa, chết sáng sớm, chết vì xe cán, chết vì treo cổ, chết vì súng bắn lê đâm, chết vì sặc nước, chết vì bị hiếp dâm… làm sao chúng nói thay cho xuể?

Con rắn màu xanh da trời rít lên: “Chúng ta là những kẻ không cần tài sản!”. Cả bọn rít lên theo, như tiếng gió thổi bên vách núi: “Không cần tài sản!”. Nói rồi, rắn điềm nhiên bò lên cây lộc vừng nằm, thò đầu xuống, lắc lư như đầu thằng say rượu. Con rết mặc áo giáp sắt bò ra, hét toáng: “Ta sống đây là vì người khác, không phải cho riêng mình ta!”. Cả bọn lại hét lên phụ họa: “Không phải riêng mình!”. À, hóa ra chúng chơi trò con nít, tưởng gì!

Chúng nói phét thế thôi. Chuyện này, tôi biết rồi.

Chú nhái bén phùng mang trợn má hét: “Tao ghét những đứa gian lận!”. Cả bọn hét theo: “Đả đảo gian lận!”.

Tôi có một ông bác, chết từ thời tám hoảnh. Cha thường kể: “Bác mày trước khi chết đòi vợ một bát cơm nếp, nhưng không có!”.

Tôi nghĩ, những người chết, nếu có thể gửi tiếng nói lại cho hậu thế, chắc họ không nói những chuyện tầm thường đâu. Ví dụ, như bác tôi, nếu có gửi lời lại, thì cũng sẽ nói rằng, cố mà xây dựng cuộc sống làm sao cho yên vui. Chứ không lẽ lại nói, cho tao bát cơm nếp!

Bọn rắn rết vẫn mải mê chơi giữa sân. Trăng vẫn sáng. Trời vẫn nóng. Không ngủ được, cảm giác cực kỳ khó chịu. Tôi hét lên như có ai móc họng: “Cho tao bát cơm nếp!”. Bọn rắn rết cóc nhái giật mình dừng cả lại. Chúng ngớ ra một lúc rồi cười sằng sặc. “Người chết không xin cơm, đồ ngu, người chết nói điều đẹp đẽ hơn nhiều, mày im mồm lại, để chúng tao nói thay cho!”.

Tôi vừa phát hiện ra mình có một khả năng siêu phàm: Hễ tôi nghĩ đến cái gì, lập tức cái đó xuất hiện! Tôi vừa nghĩ đến Phật, lập tức Phật hiện ra, đương nhiên là râu cước bạc phơ, đương nhiên là vẻ mặt nhân hậu. Phật ngồi xuống, bọn rắn rết bò lượn quanh. Trên tay Phật cầm một tô cơm nếp. Hoá ra Phật nghe được ước mơ của tôi, không phải, ước mơ của bác tôi. Thế mới gọi là Phật chứ…

Phật cười, hỏi bọn rắn rết: “Ai bảo tụi bay nói thay người đã chết?”. Lũ nó trả lời: “Chúng tôi tự nguyện”. Phật lại hỏi: “Nói mãi thế, có đói, có mệt không?”. “Có”. Rồi không đợi Phật nói gì thêm, rắn rết cóc nhái bu vào bát cơm nếp bốc ăn ngon lành.

Tôi thất vọng, bác tôi cũng thất vọng, chính tôi nói dùm bác tôi, xin một bát cơm nếp, sao bọn kia lại được ăn?

Phật nheo nheo mắt giễu tôi, nói như gió thoảng: “Mày ngốc quá, thời này là thời nào mà cứ đòi công bằng, trung thực!”.

Tôi hiểu rồi, Phật cũng là kẻ cùng phường với rắn rết…

Gần về sáng, trời mát, tôi ngủ thiếp đi, trong khi lũ rắn rết cóc nhái vẫn múa hát vòng quanh và tranh nhau nói thay người đã chết. Trong mơ, tôi thấy những người chết sắp hàng đứng nhìn lặng lẽ bằng đôi mắt ngùn ngụt lửa cháy. Họ không nói gì đẹp đẽ, không nói gì tầm thường. Họ cũng không xin cơm nếp và họ không tranh nhau ăn cơm nếp.

Những người đã chết, họ không nói gì. Bọn rắn rết cóc nhái tranh nhau ăn và tranh nhau nói.

Chúng nói chán và ăn no rồi nằm ngủ dưới trăng. Phật, sau một hồi nói nói cười cười bạc phơ nhân hậu, chỉ còn đứng trơ lại một mình. Tôi nói trong giấc ngủ ấm ức: “Thôi, Phật đi đi!”. Phật quay lưng đi, phe phẩy cái đuôi dài y như đuôi cáo. Trời ạ, hóa ra là tôi nhầm, đó là một con cáo trên núi Chư Mang xuống chơi giữa đêm nắng nóng. Không phải Phật, hèn gì!

Những người đã chết cũng lặng lẽ bỏ đi, những đôi mắt vẫn ngùn ngụt như lửa cháy.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Resident zombie | Nguyễn Văn Thiện

bóp tim by Đinh Trường Chinh

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 

Inside me is a resident zombie, it’s true, I’m not making this up. It also wants to eat, sleep, and make love, and it’s obsessed with slogans, and it is a continuous pain in the neck. I tried to reason with it, you have to let me get on with my life, I have to work, make money to support you! It said nothing, shifted ever so lightly before I fell asleep, it seems like I was able to reason with it, not the kind of zombie completely out of its mind. Sometimes for reasons unexplained, my soul would leave its body, all I know is that it would leave Mount Chư Mang, and the zombie would take over. You find him shouting things like: “Oh bells of hell, ring louder, come on, louder, louder than that!”.

There, it just screamed again…

My lips puckered up, as I tried to sound like the echoes of the bells from hell: U…u…ri…ri… It would then shut up. It seems like it was quite afraid of the sound of the bells from hell, things like that, for reasons unbeknownst to me. No matter how many times I’ve asked, it remained silent.

Have you ever felt anxious for no reason at all? It is very possible that inside you is a resident ghost. They also want to eat, sleep, and make love, and they are obsessed with slogans.

Hence, it’s an intense battle for me one day after the other. In my bed each morning, I would wake up with a plan on how to subdue this annoying resident zombie. I would try to find ways to trick it, reason, or threaten it, so it may remain still and disciplined. After that, it’s a different kind of battle beyond my bed, I’m exposed to the bare essentials of trying to make a living.

I’ve yet to mention the bloody battlefield outside. Born in an era when power is worshipped, it’s more than often we must make use of our muscles. We’re always ready for a fight anywhere, any time for any reason at all, may it be big or small. If you’re still questioning these facts, all you need to do is open any page of the newspaper and you can see the evidence for yourself, so I don’t have to repeat myself. There were days when I would return home with bloodied lips because of a fight at the council. Now, there’s something rather interesting which has never been in the papers: My eyes are rather confronting, more white than black, tiny irises, they’re egging for a fight! Hence, I’m always ready for a fight, any kind of thrashing. The days would run into each other, I was lucky if I had made it home without a bruise, with my life. To then start my battle with my resident zombie!

Exhausting? Yes.

A trial? Yes.

Depressing? Yes.

Then, what is the point of living? 

To fight with zombies!

If you had to live with a ghost, what would it be like? Wouldn’t it drive you nuts? I’m no different. I tried all sorts of ways to get rid of it. I reasoned: Why don’t you take a break, go on a trip for a few days? It said nothing before hiding itself away in a dark hole somewhere, a parasite like malaria hiding from drug treatment. As soon as I relaxed it would show itself, cause as much trouble as it could possibly make, asking to do this and that. Luckily where I live, there’s a consistent ringing echo of the bells from hell. Hell is apparently not very far from the foot of Mount Chư Mang. The alluring sad sound beckoning, inviting, threatening, dampened the ghostly spirit somewhat. 

There were the surreal days when it was endlessly windy and I was undisturbed.

There were the vivid moonlit nights when I was left in peace.

Alone, I was able to soak up the moonlight bouncing back from the bottom of the lake.

The mornings when the sunlight was as pure as it was in folklore. Void of a single echo from hell. I would loosen up, allowing myself to bathe in the rare sweet desolation. The resident zombie was probably wandering lost somewhere or asleep in some dark corner within the heart of humanity. There was no screaming, shouting, or sign of a struggle. I would go for a stroll on a familiar path, ears tentative to the wild daisies chatter about a honey-sweet spring over a mountain somewhere. Eyes piercing the distance, searching for whatever it was far as the eye could see beyond the reeds. Looks like there won’t be a battle today!

I am terrified of the afternoons alone. 

The mosquitoes buzzing in the dark shrubs as though they’re crying, mourning something or another.

The teenagers go home with their laughter. Mount Chư Mang is like some lonely drunk barely able to stand up staring at his ageing reflection in Năng river. The zombie in me would then begin to itch, blurting long-live slogans. I read a poem out loud like a mantra: Don’t throw me into the chasm, dear comrade, don’t filter this life out with the stroke of a pencil…

Promptly came would be the echo of bells from hell, surely and clearly, like the miracle of shimmering fractured moonlight through the thick mist rolling down the spine of the mountain. The zombie would shut up and not make a sound like a child afraid of the Boogeyman. And at the same time, came the sound of punching and kicking at the head of the alleyway, my neighbours fighting for my entertainment, it was nothing new. I would then head straight for the scuffle, and find myself in the middle of the punching, kicking, and sticks flying. My life is one way or another a constant battle. It would always end with a bleeding nose, and or bloody spit and split lips.

At the moment, I’m sitting here as the curtain of night descends. Momentarily oblivious to the presence of the zombie, the impending intense battles to come, so I may bathe for a minute in the thousand-year-old peaceful civilization of my homeland. You never know, the moon might rise, and the moonlight may cover up all this chaos and exhausting commotion about survival right at the precipice of a bottomless hell. 

I will wait.

I will patiently wait.

And I might fall asleep on the sidewalk, like a hungry little boy begging for food, falling asleep through the chill and cold wind. And in my dreams, resounding will be the echoes of bells rising from beneath the sidewalk. 

Thây ma trú ngụ

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Trong người tôi có một thây ma trú ngụ, thật đấy, không bịa đâu. Nó đòi ăn đòi ngủ đòi yêu và đòi hô khẩu hiệu nữa, phiền toái quá chừng. Tôi dỗ nó, mày phải để yên cho tao sống, tao làm việc, tao nuôi mày! Nó không nói gì, chỉ khe khẽ cựa quậy rồi ngủ, hình như nó cũng biết nghe lời, không phải loại thây ma chết tiệt.

Có những buổi hồn tôi đi vắng, vì lí do gì thì chưa rõ, chỉ biết hồn đi vắng khỏi núi Chư Mang, thây mà tha hồ quậy phá. Hắn hét lớn: “Hỡi tiếng chuông địa ngục, mày ngân lên xem nào, ngân nga to nữa đi nào!”.

Đó, nó vừa hét đó…

Tôi chu mỏ lên, bắt chước âm thanh tiếng chuông vọng về từ địa ngục: U… u…ri…ri… Thế là nó im. Hóa ra, nó chỉ sợ tiếng chuông địa ngục, chỉ sợ mỗi thứ đó thôi, vì sao thì tôi chưa biết được. Bao nhiêu lần rồi tôi hỏi, nó chỉ lặng im.

Bạn đã bao giờ cảm thấy cồn cào gan ruột mà không biết vì lẽ gì chưa? Rất có thể, trong bạn cũng có một hoặc nhiều hồn ma cùng trú ngụ. Chúng đòi ăn đòi ngủ đòi yêu đòi hô khẩu hiệu. 

Bởi vậy, với tôi, mỗi ngày là một cuộc chiến tranh khốc liệt. Mỗi buổi sáng choàng thức dậy trên giường, là tôi lập tức nghĩ cách trấn áp cái thây ma nhiều chuyện trong mình, hoặc lừa nó, hoặc dỗ dành hoặc dọa nạt, để nó nằm im. Sau đó là một trận chiến khác, với cuộc đời trần trụi ngoài kia.

Tôi còn chưa kịp kể về những trận chiến đẫm máu bên ngoài. Sinh ra trong một thời đại tôn thờ bạo lực, mỗi người chúng tôi đều phải thường xuyên nhờ đến sức mạnh cơ bắp. Chúng tôi sẵn sàng hỗn chiến với bất cứ đám nào với bất kỳ lý do nào dù to dù nhỏ. Nếu bạn còn hoài nghi điều này xin hãy mở trang báo ra đọc mỗi ngày, khỏi mất công kể lại. Có những ngày, tôi về đến nhà với cái mồm đỏ lòm máu vì bị đánh hội đồng. Có chuyện này chưa có báo nào đăng nên kể thêm tí nữa cho vui: Mắt tôi vốn gườm gườm, lòng trắng nhiều hơn lòng đen, nhìn vào ai cũng như đang nhìn đểu! Thế là ăn đòn, thế là hỗn chiến. Đấy, mỗi ngày như mỗi ngày, về được đến nhà là may. Để rồi, lại bắt đầu một cuộc chiến khác với thây ma!

Mệt mỏi không? Có.

Nặng nhọc không? Có.

Đau buồn không? Có.

Vậy thì sống để làm gì?

Để chiến đấu với thây ma!

Nếu bạn phải sống chung với một hồn ma, bạn sẽ thấy thế nào? Cực kỳ khó chịu, đúng không? Tôi cũng thế. Tôi tìm mọi cách xua đuổi nó ra ngoài. Tôi dỗ: Thôi, hay mày đi đâu đó ít hôm đi? Nó im lặng trốn vào đâu đó trong sâu thẳm, như con vi trùng sốt rét kháng thuốc. Hễ tôi lơ đi là nó lại vùng vằng đòi nọ đòi kia. Cũng may, nơi tôi ở, thường xuyên vọng về những hồi chuông từ địa ngục. Hình như từ chân núi Chư Mang đến địa ngục khá gần. Những âm thanh quyến rũ thê lương ấy nhiều lần rủ rê, mời mọc, đe dọa, khiến cho hồn ma bớt phá phách đôi phần.

Cũng có những ngày mênh mang gió thổi tôi không hề bị quấy rầy.

Cũng có những đêm mênh mang trăng sáng tôi không hề bị làm phiền.

Tôi một mình lên núi ngắm trăng suông dưới đáy hồ…

Những buổi sáng nắng trong veo như thuở còn cổ tích. Không có tiếng chuông nào từ địa ngục vọng về. Tôi thả lỏng trong cảm giác cô đơn ngọt ngào hiếm gặp. Thây ma trú ngụ chắc cũng dạo bước lang thang đâu đó hoặc nằm ngủ quên giữa sâu thẳm hồn người. Không nghe hò hét, không nghe quẫy đạp, không nghe kêu gào. Tôi dạo bước trên con đường quen thuộc, nghe hoa cúc dại kháo nhau về một triền núi mùa xuân mật ngọt. Đôi mắt bâng khuâng dõi mãi cuối trảng cỏ. Ngày hôm nay, có lẽ sẽ không có cuộc chiến đấu nào xảy ra!

Tôi sợ lắm những buổi chiều cô quạnh.

Tiếng muỗi vo ve trong vòm lá đen sẫm không biết than khóc điều gì hay nuối tiếc điều gì.

Lũ trẻ trâu mang tiếng cười về với mái nhà của chúng. Núi Chư Mang như một gã đàn ông cô độc nghiện rượu nghiêng mình soi tuổi tác xuống sông Năng. 

Hồn ma lại bắt đầu cựa quậy, lớn tiếng hô khẩu hiệu vĩ đại với muôn năm. Tôi đọc một câu thơ như thầy cúng niệm bùa chú: Đừng dắt ta đi vào vực thẳm, đồng chí ơi, đừng lừa lọc nhân gian bằng những nét bút chì…

Đúng lúc đó thì tiếng chuông ở địa ngục vọng về rõ ràng, thong thả, nhiệm màu như ánh trăng vỡ long lanh lăn tròn bên dốc núi đầy sương. Thây ma liền im thin thít, như trẻ con nghe tiếng ông Ba Bị. Cũng vừa lúc đó, tiếng đấm đá thụi bịch ngay trước ngõ, hàng xóm đánh nhau cữ chiều tôi, chuyện thường. Tôi lao ngay ra và tham chiến giữa bốn bề tay chân gậy gộc. Cuộc đời tôi là những trận đánh liên hoàn. Trào máu mồm máu miệng thì thôi.

Giờ thì tôi ngồi đây, khi màn đêm trùm xuống. Tạm quên thây ma, tạm quên hỗn chiến, hưởng một phút thanh bình của quê hương ngàn năm văn hiến. Biết đâu rồi trăng sẽ mọc lên, phủ lên tất cả những bi kịch ồn ào nặng nhọc của kiếp người bên miệng địa ngục hun hút. 

Tôi đợi! 

Tôi vẫn kiên trì đợi!

Và rồi ngủ quên bên hè đường, như đứa trẻ ăn mày bụng đói, lả đi khi gặp cơn gió lạnh. Và trong mơ, văng vẳng tiếng chuông mời mọc lên đường.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

straightening a curl as I walk | Nguyễn Văn Thiện

bia người by Đinh Trường Chinh

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 

On Mount Chư Mang – yes again Mount Chư Mang, where else could I go? – There are eyes sparkling innocently like stars, but there are also the devilish red eyes in the enchanted night. There’s nowhere for saints and angels to hide; they’re forced to confront the peril.

I’m straightening a curl. Not because I’ve lost my mind, it’s my way to attain perspective before facing angels and demons. Both sides find my stupidity pitiful; they tolerate me; probably I’m still alive.

No one will come to your aid if unluckily you fall into the mouths of demons. Your friends shall be oblivious to the point of viciousness, and they’ll watch and laugh as you drop from the ninth level of heaven. But entertaining for any distraught crowd. 

Hence, don’t be so straight, smile, don’t worry if it’s a little crooked, tasteless, add a bit of spit on your lips for drama, and you’ll be just fine.

I’m on the contrary, always straightening a curl as I walk!

How hard is it to straighten a curl? Hard, but not impossible. How hard is it to keep your balance on a rope between the mouths of angels and demons? Hard, but not impossible. It would be best if you didn’t look down too long at the rowdy crowd. They were born there; their heads were stuffed with hard ideologies, tough as nails, they’re everywhere like mosquitoes like water droplets in canyons, so don’t lose your temper. If you lose your temper, the curl shall break in half. Try it if you don’t believe me!

You asked me: “Why would anyone want to write something so depressing?”. I don’t have an answer for that, I didn’t have a chance to prepare an answer, so I won’t. My attention for the moment is focused on sketching a person in a storm or a dusty red sunset walking on a road. I wanted to describe my current situation; whether it’s happy or sad?

The last few days, images of a young boy floating face down in a pool of water washed up on a beach had plagued people’s minds. There has been a unified expression of love for humanity through evidential tears of compassion beyond borders. But, no one bothers to cry for the children at home, right by their side. The lives of the tiny little souls, yellow skin, they too bleed red, we watched them as they were being stepped upon, and we averted our eyes?

You said: “We cry for them now, who will cry for us later?”. In a place where every folklore is a tragedy then whether there are tears or no tears, compassion or indifference, there’s nothing of consequence!

Me fiddling with my one hair like an autistic child, jaw clamped shut as the teacher asked for an answer—the very curly hair, mystically shiny in the sunlight. Not every tear is a precious gem, and that’s the truth! I told you a story about a fairy godfather who had a kind face, tearful, and a bloody hand in the dark. Believe it or not, but if you’re not careful, you may drown in the tears of these righteous saints. Me, with a hair the colour of sunlight in my hand, I will continue to move forward, in the light, in the rain, through the screams of fanatics trying to protect a corpse in a pool of darkness. I tried to keep my sense of perspective, like a professional circus performer on a tightrope, across a valley of knives.

Sometimes I’m anxious, confused, since down there, the crowd never once stopped screaming. The fleshy red maws could swallow the whole of humanity. They were chosen for an important job of controlling the rhythm of this noisy life. But day after day they’re becoming more and more powerless, more helpless, more dangerous. “Take whatever you can!”, their pride is like an angry wave. Then there are times when they are soft and ignorant. Watching me straightening out my tight curl as I walked, they laughed, I was an alien from another planet. I laughed, with a bit of spit on my lips, though confused, I would continue with whatever I was doing, a circus performer on a tightrope.

Dangerous, but exciting, this is something, only I know!

Straightening a tight curl as you walk. Blokes with faces as cold as blocks of ice stopped me: “Hey, what are you up to?”. “Mate, what have you got up your sleeve?”… I laughed and showed them the tight curly hair in my hand. And they would laugh till they almost choked to death, before they abandoned me again, on my tightrope!/

Vừa đi vừa vuốt thẳng một cọng lông

Trên núi Chư Mang – lại núi Chư Mang, chứ còn biết đi đâu được nữa? – có những đôi mắt trẻ thơ như sao lấp lánh, nhưng cũng có những đôi mắt quỷ đỏ lòm trong đêm đen huyễn hoặc. Không có nơi nào cho thần tiên trú ngụ, bắt buộc chúng ta phải tìm cách đối phó với những hiểm nguy.
Tôi ngồi vuốt thẳng một cọng lông. Không phải điên khùng loạn não đâu, đó là cách tôi lấy lại thăng bằng để chơi cùng một lúc với thánh thần và ác quỷ. Cả hai phía đều thấy tôi ngu đần lẩn thẩn đến tội nghiệp, nên họ bỏ qua cho, để còn sống đến ngày mai.

  Không có ai dám bênh vực bạn đâu, nếu như bạn không may ngã vào miệng quỷ. Bạn bè của bạn sẽ trở nên vô tâm đến tàn độc và hả hê cười khi thấy bạn rơi từ chín tầng trời. Thậm chí cú rơi ngoạn mục ấy trở thanh trò giải trí cho đám đông quẫn bách.
Vậy nên, tốt nhất là hãy giữ thăng bằng, trên miệng hãy luôn luôn một nụ cười, méo mó cũng được, vô vị cũng được, thậm chí chảy thêm một ít nước bọt giả ngây giả dại cũng chẳng sao.

Tôi thì khác, vừa đi vừa vuốt thẳng một cọng lông!

  Vuốt thẳng một cọng lông có khó không? Khó, nhưng không phải là điều không thể. Giữ thăng bằng trên một sợi dây giăng ngang giữa miệng thiên thần và ác quỷ có khó không? Khó, nhưng cũng không phải là điều không thể. Có một điều cần biết là bạn không nên ngó xuống quá lâu đám đông nhảy múa gào thét dưới kia. Họ sinh ra ở đó, trong đầu được nhồi nhét một mớ giáo điều cứng như đinh thép, nhiều như muỗi như vắt trong hẻm núi vậy nên bạn hãy đừng nổi giận với họ.
Nếu bạn nổi giận, cọng lông sẽ đứt làm đôi. Không tin thì cứ thử xem!

Bạn hỏi: “Viết cái gì mà đau đớn buồn rầu đến vậy?”. Tôi thì không biết trả lời sao nữa, tôi chưa kịp chuẩn bị câu trả lời, nên đành bỏ ngỏ. Tôi cắm cúi ngồi vẽ gương mặt người trong gió mưa vần vũ hay nắng đỏ bụi đường. Tôi chỉ muốn vẽ lại một cách trung thực nhất gương mặt của khoảnh khắc mà tôi đang sống, còn đó là gương mặt buồn rầu hay vui vẻ, tôi làm sao biết được?
Những ngày qua, khi thân thể một cậu bé ở một xứ sở xa xôi nào đó nằm úp mặt trên một bờ biển xa xôi nào đó, mọi người có dịp chứng tỏ tình yêu thương đồng loại của mình bằng những giọt nước mắt nhân từ không cần biên giới. Nhưng hầu như không ai muốn khóc cho những đứa bé sống lay lắt ngay bên cạnh, đang bị đày đọa bởi những người thân yêu của nó. Cuộc sống của những sinh linh bé nhỏ, máu đỏ da vàng, đang bị chà đạp không thương tiếc ngay bện cạnh bạn đó, sao đành ngoảnh mặt làm ngơ?
Bạn nói: “Mình khóc thương cho người ta, rồi mai kia ai khóc cho mình?”. Ở xứ sở mà mỗi huyền thoại đều nhuốm màu bi kịch thì nước mắt hay không nước mắt, xót thương hay hững hờ, nào phải là chuyện gì ghê gớm!

Tôi mân mê cọng lông trên tay như một thằng bé tự kỷ, miệng ngậm hột thị khi thầy giáo hỏi bài. Cọng lông xoăn tít, lấp lánh dưới ánh sáng kỳ diệu của mặt trời. Không phải giọt nước mắt nào cũng châu ngọc cả đâu, thật đấy! Tôi đã từng kể cho bạn nghe về một ông tiên luôn luôn vẻ mặt nhân từ và nhạt nhòa nước mắt có bàn tay đẫm máu trong đêm đen. Tin hay không thì tùy, nhưng nếu không cẩn thận, bạn có thể chết đuối trong biển nước mắt của các thánh nhân đểu cáng. Còn tôi, với cọng lông màu nắng trên tay, tôi sẽ tiếp tục bước đi, trong nắng, trong mưa, trong sự gào thét của đám đông cuồng tín đang ra sức bảo vệ một xác chết chưa chôn hoặc một vũng lầy tăm tối. Tôi cố giữ lấy thăng bằng, như một diễn viên xiếc thạo nghề đang biểu diễn màn đi trên dây, qua một rừng gươm dao dựng ngược dưới chân.

Có nhiều khi cũng lo lắng, hoang mang, vì dưới kia, đám đông không ngớt thét gào. Những cái miệng há ra đỏ lòm chực ăn tươi nuốt sống đồng loại. Họ được lịch sử lựa chọn và giao nhiệm vụ vẻ vang giữ nhịp cho cuộc sống ồn ã này. Nhưng càng ngày họ càng tỏ ra bất lực, càng bất lực họ càng manh động, nguy hiểm.  “Không giành được thì cướp!”, họ nói thế và tỏ ra hãnh diện điên cuồng như sóng dữ. Nói thế chứ họ cũng yếu mềm và có khi đần độn. Khi thấy tôi vừa đi vừa cố gắng vuốt thẳng một sợi lông xoăn tít, họ ôm bụng cười lăn cười lộn, tưởng như được tận mắt thấy người ngoài hành tinh vừa rơi xuống. Tôi cười, miệng chảy ra một ít nước dãi ngớ ngẩn và tiếp tục công việc của mình, công việc của một diễn viên xiếc đi trên dây. 

  Nguy hiểm, nhưng rất thú vị, điều này, chỉ có tôi biết thôi!

  Vừa đi vừa vuốt cho thẳng một sợi lông xoăn tít. Những gã mặt lạnh như tiền chặn đường hỏi: “Này, mày định âm mưu gì đấy?”. “Này, mày có ý đồ đen tối gì đấy?”… Tôi cười hì hì và chìa ra cọng lông trước mặt, xoăn tít. Chúng nó bật cười sằng sặc, bỏ đi!/


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.