The women in dreams | Nguyễn Văn Thiện

A short thriller in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
 

“Nguyễn Văn Thiện’s haunting short story is brought to life in English by Nguyễn Thị Phương Trâm with suspense and terror. To be possessed and tortured in one’s dreams can only play havoc with the mind, and the real and unreal begin to merge into one. Ghosts from the past or concoctions of a troubled mind? The ending leaves one wide-eyed and horrified. The perfect reaction to horror.” Terveen Gill


There was a time when he took too many sleeping pills, and he would have these vivid dreams. As soon as he fell asleep, he turned into a woman. Talking about it makes little sense, confusing, and often rather crude, but it was exactly what happened. To say, “He turned into a woman”, is not exactly correct, more accurately “a woman actually possesses him in his dreams” – she takes over his body. His body was an appropriation of legal ownership each time he fell asleep. The alien woman had full control of his body, and this included his dreams…

Barely dark and he was drowsy, in the middle of watching some live broadcast of some commemoration. At the time, there were lots of celebrations, commemorating what was already to us forgotten memories. As soon as the drugs take effect, he sleeps, even when there are twenty broadcasts of memorials on at once or not! The woman immediately takes over, directing every movement. It was a woman with a yoke on her shoulder carrying a child in each basket, she was walking. She wore a blue top, at the front of her top was a white piece of paper in black ink. The words depicted some kind of injustice he thought; he was not a hundred percent sure. What he does know was that she was crying as she walked with a load of her children in the baskets on her shoulders, then she was there in front of a big white building and she was screaming. The two snotty nose children in the baskets at each end he wasn’t sure whether they were crying or singing, but their lips were quivering, bent out of shape…

The laughter or possibly crying woke him. The TV was still on, some commentary about a grave decline in history, and the need for rectification. His shoulders ached, he did carry a heavy load down a very long walkway. His head was spinning; he couldn’t make out what the time was or whether he was still holding his breath. It seems the woman with the heavy load was still huffing and puffing away. He reassured himself that he was still alive with the TV still on, as though the heartbreaking incident had never happened! He curled up, and placed his head between his knees, like a worm digging into a pile of rotten leaves. He wanted to sleep, but he was afraid. 

He cried: “Who are you, what do you want?”. There was no answer. He took a deep breath and tried to calm down. Like an autistic child he rocked, repeating over and over again the same game, he wanted to change the game. He curled up like a six-month-old fetus or like a cooked prawn in a hot pot, his knees almost touched his chin, and slept like a child, he wanted to return to his childhood, more carefree days. His thighs were warm and soothing on his stomach, reassuring him of his control over his body. But at that very moment, his thighs became soft, subtle, smooth! Not his thighs, a stranger was there instead of him, a bright, quick wit, youthful companion!

The feminine thighs, void of a single drop of sweat, had never experienced heat, taking a stroll mid-winter, or was she just quietly sitting in a corner cafe during a quiet time of the day. Then suddenly he felt warm hands on his thighs. A hand was digging deeper, it was terrifying, he was being exploited. The young woman screamed. The seven-month fetus tried to fight it, but gave up in the end allowing the pain to permeate his entire body, then came the aching, painful screams. He woke up then, the young woman still shaking refusing to leave his body. His mind was numb. He tried to collect his thoughts, work out where in the house he was, which room, which part of the bed, slowly, gradually grabbed onto the side of the bed, and sat up. The sounds of screams continued to echo through the house from room to room through the odd thick patches of darkness in the night… 

Some nights, before closing his eyes, he safely tucks a knife under his pillow. According to his mother, it’s one way to ward off harmful spirits. But he thought differently: if you’re already a ghost how could a knife cut you? It’s merely for reassurance for the long lonely nights. Calmly, he fell asleep then, like the woodcutter at the foot of a tree, arms and legs splattered wide open, relaxed, he fell asleep. A woman again came and took over his body. Today, a woman with blonde hair, not sure what she was saying, was laughing, revealing her cute crooked canines. But strangely, whenever a woman possessed him, a man was there. She’s sunbaking on a beach; the sunlight poured over her like honey, and the unevaporated water droplets shimmered gloriously on her soft skin. The men came and went, the kisses came and went, as were the goodbyes, the footprints in passing. The woman was in the end alone on the beach, in the middle of the glaring summer day. He woke up with a bitter taste in his mouth, the bitterness of someone abandoned on some horizon, a sea foreign to him in the end. He searched for the knife beneath his pillow; it was still exactly where he’s put it.

Recalling a complicated dream in bits and pieces is always a difficult task. Only people who have been through it would ever understand what it’s like to be invaded and to lose one’s mental and physical liberty in such a way. How did these women from all over the world manage to take over his body so easily, as soon as he fell asleep? What had been happening was hard to explain, he didn’t know how to stop these women from taking over his body as soon as he fell asleep.

Tonight, before he fell asleep, he carefully placed a sharp blade on his neck. Not sure what will happen next! But the slightest movement he makes the sharp blade would cut his throat! The thought of it put a smile of satisfaction on his face as he closed his eyes.

Những người đàn bà trong mơ

Có một dạo sau khi dùng thuốc quá nhiều, hắn thường xuyên gặp ác mộng. Hễ mỗi khi ngủ, hắn lại thấy mình trở thành một người đàn bà. Chuyện kể ra, thật không ra làm sao, khó hiểu, kệch cỡm, đôi khi thô tục nữa, nhưng đó là chuyện thực. Nói rằng, “Hắn trở thành một người đàn bà”, e là chưa chính xác, đúng ra là “Có một người đàn bà nhập vào hắn” – vào thân xác một gã đàn ông. Kể từ đó, trong giấc ngủ mê man, cơ thể hắn bị chiếm đoạt quyền sở hữu hợp pháp. Người đàn bà xa lạ nắm toàn quyền điều hành hắn, điều hành cả những giấc mơ…

Mới chập tối, đã buồn ngủ rồi, hắn nằm, trước mặt là cái tivi đang truyền hình trực tiếp lễ kỷ niệm gì đó. Dạo ấy, nhiều lễ kỷ niệm lắm, kỷ niệm, tưởng nhớ cái đã qua để quên cái trước mắt, hình như là thế. Mặc, khi thuốc đã ngấm là hắn ngủ, mặc cho 20 cái tivi với 20 lễ kỷ niệm cùng một lúc! Người đàn bà lập tức giành quyền sở hữu, quyền điều khiển. Đó là một phụ nữ, gánh hai đứa con hai đầu, đi miệt mài. Bà mặc áo xanh, trước ngực dán tờ giấy trắng viết hàng chữ màu đen. Hình như là dòng chữ kêu oan thì phải, hắn không dám chắc. Chỉ biết rằng, bà vừa gánh con đi, vừa đi vừa khóc, thỉnh thoảng dừng lại chỉ tay vào tòa nhà màu trắng và chửi rất to. Còn hai đứa con mũi thò lò ngồi hai cái thúng hai đầu gánh không biết là đang khóc hay đang hát mà miệng méo xệch…

Tiếng cười hay tiếng khóc đã đánh thức hắn dậy. Tivi vẫn huyên thuyên về một con đường lịch sử nào đó đang xuống cấp nghiêm trọng, cần phải tu bổ. Cảm giác vai rất mỏi, như thế mình vừa gánh một gánh nặng qua quãng đường xa lắm. Đầu óc chao đảo, không thể xác định được cả thời gian và nhịp thở. Hình như người đàn bà gánh nặng ấy vẫn thở thay hắn, dồn dập, hổn hển. Hắn vẫn yên tâm rằng mình còn sống, bằng chứng là trước mắt, tivi vẫn đang hoạt động, như chưa hề có chuyện gồng gánh chia phôi vừa diễn ra! Hắn co mình lại, giấu đầu xuống gối, như một con giun vùi đầu xuống thảm lá mục. Hắn muốn ngủ, nhưng lại sợ.

Hắn hét to: “Là ai đang trú ngụ trong tôi thế?”. Không có tiếng trả lời. Hắn cố gắng điều hòa nhịp thở, lấy lại bình tĩnh. Như một đứa trẻ tự kỷ loay hoay với trò chơi của mình, hắn thử đổi tư thế. Hắn cong lại như bào thai bảy tháng, như con tôm đã nhúng vào nồi lẩu, đầu gối gần chạm cằm, ngủ kiểu trẻ con đấy, có khi lại mơ về thời trẻ trâu hồn nhiên, đỡ mệt. Hai đùi hắn ủ nóng bụng của mình, hắn cảm nhận rõ điều đó và yên tâm vì mình vẫn còn làm chủ được bản thân, chưa bị kẻ khác nhảy vào điều khiển. Nhưng đúng lúc đó thì cặp đùi trở nên nõn nà, mơn mởn! Không phải đùi hắn, người xa lạ đã xuất hiện, như là một đối tác thông minh, nhanh nhạy!

Cặp đùi phụ nữ, không hề có mồ hôi, không hề nóng rực, có vẻ như đang thong thả bước đi giữa mùa đông giá lạnh, hoặc có khi đang ngồi trầm tư trong một góc quán cà phê nào đó khi vãn khách. Và hắn cảm thấy có một bàn tay ấm áp đặt lên đùi. Bàn tay thọc sâu, điên cuồng chiếm đoạt. Người phụ nữ hét lên. Bào thai bảy tháng vật vã chống đỡ, rồi cuối cùng buông xuôi trong tiếng kêu đau đớn. Hắn tỉnh dậy, người đàn bà có cặp đùi nõn nà vẫn còn dùng dằng chưa chịu ra đi. Đầu óc hoàn toàn tê liệt. Hắn cố gắng định vị lại góc nhà, góc phòng, góc giường, rồi từ từ, chậm rãi đưa tay vịn lấy thành giường, ngồi hẳn dậy. Tiếng la hét vật vã vẫn còn lẩn khuất trong bóng đêm dày đặc…

Nhiều đêm, trước khi nhắm mắt, hắn đã cẩn thận bỏ dưới gối một cái dao. Theo lời mẹ hắn, đó là cách xua đuổi tà ma. Hắn thì nghĩ hơi khác, đã là ma thì dao làm sao mà chém được nó? Chỉ là để đấy cho yên tâm, trong những đêm dài hoang vắng. Yên tâm, hắn nằm ngủ, như một gã tiều phu ngủ dưới gốc cây, dạng chân dạng tay hết cỡ. Người phụ nữ lại đến chiếm lĩnh thân thể và giấc mơ. Hôm nay, là một cô gái tóc vàng, nàng đang nói gì đấy, vừa nói vừa cười, lộ hết răng khểnh cả hai bên. Mà thật lạ, hễ ở đâu có đàn bà, ở đó xuất hiện đàn ông. Nàng nằm trên bãi biển, nắng tưới mật ong lên thân thể, nước tưới lung linh lên da thịt. Rồi những người đàn ông đi qua, những cái hôn nồng nàn đi qua, những lời từ biệt cùng đi qua, những dấu chân cũng đi qua nốt. Cuối cùng, một mình người phụ nữ đứng giữa bãi biển trưa hè chang chang nắng. Hắn tỉnh dậy, miệng đắng ngắt, rõ ràng là cảm giác đắng chát của một người vừa bị bỏ rơi nơi góc bể chân trời, không phải của hắn. Hắn thò tay xuống gối, con dao vẫn nằm nguyên.

Kể lại giấc mơ phức tạp và đứt quãng là một việc khó khăn. Chỉ có người trong cuộc mới cảm nhận rõ ràng tình trạng bị khống chế và xâm hại quyền tự do bản thể. Vì sao người phụ nữ xa lạ tận đẩu tận đâu lại ngẫu nhiên và dễ dàng xâm chiếm hắn mỗi khi hắn chìm vào giấc ngủ? Điều này, khó trả lời và không thể nào lý giải, càng không có cách nào để thoát ra được, vẫn thường xuyên có một người đàn bà nào đó nhập vào hắn mỗi lúc đêm về.

Đêm nay, hắn cẩn thận đặt lưỡi dao thật sắc ngang cổ mình trước khi ngủ. Không biết có còn tiếp diễn nữa hay không! Cựa quậy một phát là mày bị dao cứa chết! Hắn nghĩ thế và mỉm cười mãn nguyện trước khi ngủ. 



Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

There’s a star lighting a fire | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Time was detached from absent smiles. Even faded were footprints on their familiar paths. Everything was gone except for the tired laugh, laughing at the world. Gathering all the innards, gut, for a journey inward, to look for a flame that was lost long ago. Ends up with a long adventure up a mountain, scampering for bits of wood for a fire, hot enough to warm the afternoon. The mountain’s strained laughter, pointing at the ageless forest: There’s plenty of wood, but there’s no source for the fire, even if there’s a source, it’s not something you can borrow! Hence, one can only ignite oneself, so be it; it’s late.

How could I relay a good story when absent was a happy melody in my heart? How could I tell a sad story when absent were the tears in my eyes? All words have an impression of the writer’s hand; a poet had said that. The word of the writer is tender and passionate, the word of a journalist is investigative, the words of the fishmonger are fishy and jumpy full of scales, the words of the salesman are full of sweet deceit, word of the monastery is pot luck.

When one lights a fire, our words are the billows of the smoke of ancient crockery, the scent of charred crisp rice and salted fish. I was confident in my flame. The mead was as bright as day, clear through and through. I spoke like a child for the first time: Hey, night sky, will you let me borrow the North to light a fire, so I could continue the rest of this epic journey! Generously the night nodded. Lighting my fire, I chose a star named after a heroine from long ago in folklore. From here, one would step off, barefoot, hands warm, and for sure, the story will be cheerful and lovely.

Let me tell you a story about a guardian angel. In truth, it’s only a wish, a dream on a very long, endless path. I was born in an open meadow, without a peaceful place to rest my spirit. I was constantly searching, constantly begging and borrowing this and that, to light fires that could invite laughter to warm the night, with a blanket of dew for extra warmth, to shorten the road, to ease the heart, so my hands were less cold, feet less restless. When there was a star lighting the way, scattered were the verses to entertain the words. Intertwined were the vowels and consonants, as they danced and laughed.

Tonight, at the end of the meadow, the lonely mountain welcomed me with a brilliant light. But then, so what, I told you about the person who had walked in the rain, who ended up with a scar on his heart, have you forgotten already? That scar is now the past, it has sunk to the bottom of the eye of time. She messaged: “Don’t tell sad stories anymore, my love!”. I’m happy, why would I want to tell a sad story? That star and that sky, those clouds and those storms, in the middle of them was the summer moon shaped like the spine of a leaf, and at the other end was a shiny corona of stars. I stroll easily into the cold night, I try to forget the bitter tears of living, listening to the crickets play their song through the reeds. That pure, bright, familiar sound could brighten an owl’s dull eyes, making the stars forever change their place, and light up the boundless sky.

It’s late, the crickets were now fast asleep their chirping fell lower, amongst the reeds. The amber rays of dusk at the end of the horizon also fell into the cool clouds. Left behind were the stars, playfully calling upon each other, overwhelming the summer sky. Those round brown eyes must now also be fast asleep, mid-giggles, there and then not. A star was startled before it fell to the centre of the mead, its bright tail was like a radiant, youthful smile. The star of that fateful heroine was now lost somewhere at the end of the Milky Way, burning with love but forever far away. I heard the wind, talk of a storm coming from a distant land. But all shall be fine; I will light a fire, I will prepare and be ready for the long road ahead, as long as there was no small angelic star, shimmering in the night.

I called for the night hauling with its verses. When the last flock of birds sank into the serene darkness, I’ll continue on my way, with the help of an imagination brimming with the taste of enchantment. Tiptoeing like a night owl peering at the end of the horizon, I saw the West spine of Mount Chư Mang in flames. One step away was another measure of yearning, let alone the idea of our land and rivers turning fresh a few degrees. I rubbed my eyes and chose a higher place to look. A surge of pure white clouds engulfed the sky like a blank page of a journal, never once with a written word of love or promise. Outside the edge of the grass plain, a thunderstorm was playing a game of chase, racing after each other with their hands soaking wet, freezing. The thought of hands, made one’s hands squeeze harder like those small warm, beautiful hands that had once warmed my heart not so long ago. Within the unconsciousness, one hand-held another, I call out: Hey, are you not a part of me!

Often we were tricked by our senses, and a flame burns across the spine of the mountain, the flame we just saw, in reality, was the sorcerous light of a waxy moon piercing the clouds, trying to wrap a blanket of gold and silver fire around the world. In my life, I’ve often come across deceit, but never by the changeable mood of the moon, out of boredom! Did I ask, why…? But the moon was far now, suddenly or deliberately hidden behind a plumb cloud heavy with water. There were the long anxious days when I initiated a troop of gibbons from the mountain to empty Kroa spring, looking for the moon. A soul lost, sleepwalking, without any cause nor reason busy trying to live. Oh well, already delusional you may as well be delusional to the end, to have loved you may as well love to the very end. Tonight, the guardian angel star was absent in the night sky?

Where I sat, a thunderstorm with the image of the night pulled across the horizon. The parliament of owls was hoarse from calling after each other and hid in the hollows of trees. I poke my hand out the door, asking about the coming rain, as it poured a thousand lakes in passing. The rain immediately ceased in the dark without a scent — the chaotic banging of leaves and branches kept at it right into the night. The thunder rolled around over the reeds, and the clouds chased after the rumble. Hey, was there anyone waiting at the end of the mead, why were you all in such haste? It’s late; I will light a fire now — the part of me on this one path; an epic chase of boundless words, as boundless as destiny. I shall tell you what will happen on the road ahead, the vast meadows, mountains, and rivers I will pass through, with a guardian angel star over my head, and a warm flame dancing in my heart.

[Edited July 2022]

Có một vì sao thắp lửa

Những tháng ngày xa nụ cười đi vắng, dấu chân cũng đã phai mờ trên nẻo đường thân thuộc. Nhiều lúc chỉ còn lại tiếng cười mệt mỏi chế nhạo nhân gian. Vén hết ruột gan không còn thấy ngọn lửa năm nào. Đành tìm đường lên núi xa xăm, mượn một ít củi lửa đem về đốt cho chiều ấm lại. Núi cười ngặt nghẽo, chỉ tay về phía mênh mông nguồn cội: Củi thì nhiều đấy thôi, nhưng lửa thì không có, có cũng không cho mượn được! Vậy thì đành tự đốt cháy mình lên, đến đâu hay đó, chiều rồi.

Làm sao để kể một câu chuyện reo vui nếu trong tim bạn không có những nốt nhạc long lanh? Làm sao để kể một câu chuyện buồn nếu ở khóe mắt mình không có một phần tư giọt nước mắt? Chữ của ai đều có dấu vân tay của người đó, một nhà thơ từng nói thế. Chữ của nhà văn yếu mềm thao thức, chữ của nhà báo xông xáo kiếm tìm, chữ của bà bán cá tanh lừng nhớt vảy, chữ của nhà buôn xiên xẹo lọc lừa, chữ của nhà chùa hên xui ráng chịu…

Khi ta đốt lửa lên rồi, chữ của ta có mùi khói bếp cố hương xa ngái, có mùi thơm của cơm cháy cá kho. Ta tự tin với ngọn lửa của mình. Thảo nguyên sáng như ban ngày trong suốt. Ta nói bằng giọng trẻ thơ nói lần thứ nhất: Này nhé, trời đêm, cho ta mượn vì sao phương bắc, để ta thắp lửa lên, rồi đi nốt cuộc hành trình! Bầu trời rộng rãi gật đầu. Ta chọn vì sao có tên của một thánh nữ trong truyền thuyết xa xôi rồi vung tay đốt lửa. Từ đây, ta bước đi, chân trần, tay nóng, và câu chuyện chắc chắn sẽ reo vui…

Ta đang kể cho bạn nghe về ngôi sao thiên thần hộ mệnh. Thực ra, đó cũng chỉ là ao ước, là giấc mơ giữa con đường thênh thang hun hút. Ta sinh ra giữa trần trụi thảo nguyên, không có một chốn an nhiên cho linh hồn nương tựa. Ta cuống quýt tìm cái nọ mượn cái kia, rồi đốt lửa lên rủ tiếng cười giòn giã bay về sưởi ấm trong đêm, để sương rơi đỡ lạnh, để đoạn đường bớt dài, để tim bớt mỏi, tay bớt lạnh, chân bớt hoang vu. Khi có một vì sao thắp lửa, gieo vần nào thì con chữ cũng reo vui. Những nguyên âm phụ âm quấn quýt lấy nhau, nhảy múa reo cười…

Đêm nay, ở một nơi nào đó phía cuối thảo nguyên, núi lạ đón ta bằng chớp nguồn lóe sáng trong đêm. Nhưng có hề gì, ta từng kể cho bạn nghe về một người đi trong mưa nguồn chớp bể, cuối cùng chỉ để giữ một vết sẹo trong tim, bạn còn nhớ nữa không? Vết sẹo ấy giờ đã là quá khứ, đã chìm sâu đáy mắt thời gian. Bé yêu nhắn gửi: “Đừng kể chuyện buồn nữa!”. Chắc chắn rồi, ta đang vui sao lại kể chuyện buồn? Ngôi sao ấy và bầu trời ấy, đám mây ấy và cơn mưa ấy, đã đủ để cho núi bớt hoang vu. Thảo nguyên mùa này lạ lắm, phía đầu là cơn mưa, ở giữa là trăng hạ huyền như chiếc lá, đầu kia là vùng sáng thiên di của những vì sao. Ta dạo bước giữa đêm đen mát rượi, quên đi những được mất đắng đót hay ngọt ngào của kiếp làm người, để lắng tai nghe lũ dế chơi đàn trong đám cỏ. Những âm thanh trong trẻo quen thuộc ấy cũng có thể làm cho mắt cú sáng lên, làm cho những vì sao liên tục đổi ngôi, cháy sáng ngang trời.

Khuya lắm, bầy dế ngủ quên đánh rơi tiếng đàn véo von vào trong cỏ. Những tia chớp rơi thẳng xuống phía chân trời rồi chìm vào mây lạnh. Còn lại những vì sao sáng quây quần gọi nhau về đứng chật kín trên đỉnh trời mùa hạ. Mắt biếc giờ này chắc đã ngủ say cùng tiếng cười tinh nghịch có có không không. Thỉnh thoảng có một ngôi sao giật mình rơi vút giữa thảo nguyên, vệt sáng kéo theo như dấu vết nụ cười thanh xuân rạng rỡ. Ngôi sao hộ mệnh mang tên một vị thánh xa xôi giờ này chắc cũng đã lạc bước đâu đó cuối sông Ngân, cháy lên ngọn lửa yêu thương nhưng muôn trùng xa cách. Ta nghe từ trong gió ở xa về những bão giông sắp sửa. Nhưng rồi cũng không sao, ta đốt lửa lên rồi, sẵn sàng cho con đường xa ngái, miễn là có một ngôi sao nhỏ thiên thần, lấp lánh trong đêm.

Ta đợi bóng đêm về mang câu chữ về theo. Khi đàn chim cuối cùng chìm vào bóng đêm trên bình nguyên sẫm tối, ta lại tiếp tục hành trình, với sự trợ giúp đắc lực của trí tưởng tượng chứa chan mùi vị liêu trai. Ta kiễng chân cú đêm ngó sang phía cuối trời, thấy sườn tây của núi Chư Mang đang bạt ngàn lửa cháy. Ta xa một bước là nhớ thương một bước, huống chi núi và sông đã hóa thịt xương mấy độ. Ta dụi mắt, chọn một chỗ đứng cao hơn để nhìn về cố quận. Chòm mây trắng vắt ngang trời lặng lẽ như một trang nhật ký bỏ trống, chưa hề viết một yêu thương hay một hứa hẹn nào. Bên ngoài rìa đồng cỏ, những cơn giông đang chơi trò cút bắt, đuổi nhau chạy vòng quanh với bàn tay ướt nhẹp, lạnh buốt. Nhắc đến bàn tay, tự dưng bàn tay bóp mạnh, như cảm giác ngày chưa xa mượn bàn tay ấm áp nhỏ xinh sưởi ấm trái tim mình. Rồi trong vô thức, tay nọ nắm chặt tay kia, ta gọi: Mình ơi!

Có nhiều khi ta bị thị giác đánh lừa, vệt lửa cháy ngang sườn núi ta vừa thấy thực ra là ánh trăng ma quái xiên qua đám mây rải lửa vàng lửa bạc xuống nhân gian. Đời ta, gian dối lọc lừa đã gặp nhiều, nhưng chưa bao giờ bị một vầng trăng tráo hình đổi dạng, chỉ để vui thôi! Ta nói, tại sao lại… Nhưng trăng đã ở xa rồi, lại tình cờ hay cố ý trốn vào đám mây mọng nước. Có những ngày dài nông nổi, ta từng xúi bầy vượn trên núi xuống tát cạn suối Kroa để tìm cho được vầng trăng. Một kẻ mộng du vô tích sự lạc loài giữa nhân gian xớn xác áo cơm. Đành vậy, đã ảo tưởng thì cho đến tận cùng ảo tưởng, đã yêu thương thì đi cho tận cuối yêu thương. Đêm nay, ngôi sao thiên thần hộ mệnh không thấy thắp sáng bên trời?

Có một cơn giông mang gương mặt bóng đêm đang kéo nhau đi qua nơi trọ của mình. Bầy cú đêm khản giọng gọi nhau trốn kỹ vào hốc cây. Ta chìa bàn tay ra ngoài ô cửa, hỏi hạt mưa về muôn dặm hải hồ bạn vừa đi qua. Hạt mưa tan ngay trong bóng đêm không mùi không vị. Tiếng lá cây đập hoảng loạn vào đêm. Sấm cuộn tròn lăn trên cỏ, mây đuổi theo tiếng sấm. Này, có ai đợi ở cuối thảo nguyên không, mà sao đi nhanh thế? Khuya lắm rồi mà… Ta lại đốt lửa lên đây. Một mình một cõi, theo đuổi một cuộc chơi chữ nghĩa vô bờ, như là định mệnh. Rồi ta sẽ còn kể cho bạn nghe đoạn đường phía trước mặt, nơi thảo nguyên núi sông trùng điệp ta sẽ đi qua, với một vì sao hộ mệnh trên đầu, và một ngọn lửa ấm nhảy nhót trong tim.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Waiting for them | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Entirely obedient, we searched for a grove to hide. They will turn up, today, it was what we believed. I shoved the whole piece of bread into my mouth, swallowed it quickly as I ran after my father. Leading us was my father, like a scuttering old hen. I asked my father: “Who’s coming?”. He replied: “Them!”. I don’t know who they might be, but here, we’re afraid of them. The terrified look in our eyes spoke louder than words. When everyone had already found a place to hide, I, my father and my brothers were just leaving. We were anxious, they shouted nervously: “Quick, hurry up, no one’s that slow!”.

We found a small grove to hide in in the end. It was a beautiful autumn morning. Through the canopy, the sky looked as though it was painted with vivid blue ink. A spotty green grasshopper perched between the leaves in front of my face, on its head were these tiny quivering antennas. My little brothers, one on each side of me, both were too scared to even breathe. Only the spotty grasshopper had no fear, it looked as though it was singing. I asked my father quietly: “Father, where are they?”. 

They didn’t show up, for the entire day no one came. The air was as silent as death. The leaves began to quiver with the renewed chatter. A few heads could be seen popping in and out from between the dense shrubs. Someone said: “Maybe they’re not coming!”. I could hear someone chewing so loudly it caused my stomach to rumble, but I was too scared to complain to my father. A bird mid-flight plopped a pile of its excrement on the canopy. The white shit incidentally painted a human face on a leaf. The face had toothless grinning, a ridiculously pale face plastered on a fresh green leaf that shimmered in the afternoon light. In a passing breeze, the image shifted visibly, an expression of complete seriousness replaced the jovial face.

Night fell on the feral unknowing tree groves, a cover for a bunch of people. The night was gradually cooler, but we were all too afraid to light a fire, we were afraid the fire would attract them. In pitch-black darkness, with my hands feeling the ground around me, I tried searching for my father and brothers, but they were gone. Where did they go and when, I didn’t know, but I was still too scared to crawl out from the shrubs even though I was starving. Suddenly, my nose was so itchy as though some insect had managed to crawl up my nostrils, I sneezed continuously. Next thing I knew someone grabbed my arm and shoved something in my hand. My father whispered: “Eat this, for that grumbling tummy of yours!”. Not even knowing what it was I shoved it straight into my mouth, chewing audibly. It could have been a raw piece of potato, guava or fig. A bit sweet, sappy, and I chewed and swallowed it eagerly. Chewing, breathlessly I asked my father: “Where are my little brothers?”. My father replied softly, his words choking in his throat: “They’ve moved to a nearby shrub”.  

I’m asleep amongst the shrubs, woke up amongst the shrubs, just like that, day after day. Now and then my father would manage to salvage something edible, with a gulp of water, that was how I survived to this day. They were yet to arrive. In the surrounding shrubs, it was much the same, people ate, slept and got on with their lives amongst the shrubs. One day, then two days, we all got used to it. I came up with the idea of digging a deep hole so we can all pee and relieve ourselves as needed, then fill it up, cover it with leaves.

A couple of times I would wake up in the middle of the night, but this time I found a stranger next to me. “Can I stay with you” – the stranger quietly pleaded – “there’s no other shrub left!”. I asked: “Where are you from?”. “From the village” – the stranger replied, a little less shy. It was a girl, her voice clear, kind and sweet. Naturally, as a reflex action I would have stood up straight away, but after so many days either laying down or on my knees, my feet were like jelly, all wobbly. I could not rise further than my knees, my arms raised in front of me, not sure why. The young woman grabbed my hands, her hands were soft, gently she pulled me down. “Sit” – she said quietly – “they’re nearly here!”. The scent of the young woman overwhelmed my tiny familiar grove of trees. My fears were somewhat suddenly lighter. Perhaps they will come. The four hands held onto each other, locked tighter onto each other. We stared into each other’s eyes for a moment, as though it was something preordained, two pairs of teardrops rolled slowly down the two pairs of cheeks, two pairs of tears shattered on two pairs of youthful knees. We grabbed hold of each other, groaning through the deep darkness beneath the canopy.  

I don’t know what my father gets up to, but after a few days he would turn up. Father announced, I still need to feed your little brothers. I asked my father, how are my brothers? My father answered as a matter of fact, they’re okay! Then he would again crawl his way through the shrubs and left. Out of nowhere, my companion announced: “Let’s get married!”. Gosh, why would anyone want to be married in the trees? Why would anyone want a union in such a cramped dark gloomy place? What if they turned up all of a sudden, what would happen to our children? So what if they did, we’ll take it as it comes, my girlfriend had already made up her mind. Then there we were suddenly, husband and wife, with no ceremony, no gifts or offerings, nor were there any outwardly spoken vows. To us, in each other’s arms in this particular tree grove, we were less afraid, sharing what bit of warmth we had was a gift, it was enough for both of us. We slept with each other like a pair of beggars in a hovel, with no blanket, no mats. The soil embedded in our backs, the shrub shifting next to us. Sometimes I would part the leafy shrubs, to take a look beyond our patch of earth, they were yet in sight!

Then came our first child. His brilliant cries broke the silence beneath the dense canopies of the grove, even the leaves were excited. My wife wiped off the sweat on her brow and looked at the both of us, like sunshine was the smile on her face. I gather the child in my arms, as precious as any newfound treasure. There, all of a sudden, I had a perfect family, inside the tree grove, while they were yet to appear. 

The first words our child learned and uttered were to ask: “Where are they?”. I didn’t know how to answer him, so I looked at my wife pleadingly for an answer. My wife would busy herself by quietly combing her hair. Her eyes now and then would swell up. Above our head, the wind played with the clouds, a bird flew by, the leaves rustled, a dotty grasshopper sang, buzzing away as though nothing was amiss. I would lie on my back to watch the sky through the gaps in the trees. Being in fear for so long I’d never taken note of it, but now I could see that the trees looked a lot like them! Hang on, why is that? Or are they using the trees as their disguise? It’s very possible, many have used leaves and trees as their camouflage, not just the one person but entire battalion of soldiers. They use leaves to cover their heads, chests, and their back. Once the enemy was deceived, they win. If this is true, then we’re in a bad situation indeed: We have been completely surrounded! We’re so full of ourselves, that we decided we would stay, comfortable enough to get married, have children, we’re recklessly fearless!

I was suddenly as confused as the very first moment my family ahd stepped into the trees. A gust of wind arrived in due course, twisting the branches, as though it was the arrival of a battalion of soldiers. They have turned up to torture us until we are at the brink of death. But what have we done to deserve such punishment! My father is a hard-working farmer, our lives revolved around potatoes and yam. I said to my wife: “What if we can’t escape!”. My wife was so frightened, she didn’t answer. While our child, learning to talk, was chattering on and on about something nonsensical. He grabbed the spotty grasshopper laughing, excitedly sang: “The sky is l..l.lue there too a grasshopper…”. Gosh, child, there was plenty of time for singing. Why are you singing when we’re threatened, in danger. stop talking, stop singing! My wife took our child into her arms, shoved a dummy into his mouth, so he could stay quiet. Out there, the trees and shrubs intimidatingly shifted.

And amongst the battalion of people in camouflage, my father came home. He could no longer walk, he crawled around close to the ground like a crocodile. He mumbled: “I’ve seen them, for real, I’m not kidding!”. I asked: “What were they doing father?”. My father did not answer, he continued: “Get me some water, I’m thirsty, and starving!”. I didn’t have water, I didn’t have any food, I didn’t know what to do. For a long time now, whatever we could get our hands on we ate, sometimes it’s an insect of some sort, grass, or tree root, we ate to just survive the day. We do nothing all day, so why would we need to eat or drink! My wife whispered firmly into my ears, bring me a leaf and fold it into a funnel! What for? My wife, annoyed, snapped – give it to me, and ask if my father could turn the other way! Shocked, when it dawned on me what she was about to do. But I stayed quiet, didn’t say a word. My father licked every drop of the murky white liquid collected in the leafy funnel that my wife had just extracted, then he fell asleep. It was my son’s breast milk!

My father woke at the very end of the afternoon. Still on his stomach, like a reptile, he said: “Try and make something of your life, your little brothers are now gone, I’ve lost track of them, I don’t know if they are dead or alive. I’ve crawled through every tree, shrub and bush around here and I can not find them. I’m tired!”. His words were defeating, they dissipated in silence. My father’s shrivelled up form quickly deflated in mere moments. We buried him when it was finally dark. I dare not light a single incense for my father, just in case they may catch sight of it. My son was fast asleep. The tears poured out of me but I did not cry. Husband, you’re a coward! Your father just died, and you refused to light not even an incense, is this how a son repays his father, how could there be anything sadder than that! In the pitch-black darkness, the wind continued to belt out its arrogant fearless, intimidating anthem. Through my locked jaw, through my grinding teeth I said: “Yes, what are you going to do…”. I got up, flicked a match, lit the single incense, pinned it on my father’s grave, still overwhelmed with the scent of freshly turned soil. 

The flame ignited brightly, red like the eyes of a drunk, rolled across the moonless wintry field.

And they have not turned up … 

[January 2021]

ĐỢI CHÚNG NÓ

Truyện ngắn  Nguyễn Văn Thiện

Hoàn toàn bị động, mỗi người tìm cho mình một bụi cây để trú ngụ. Chúng nó sẽ đến, ngay trong ngày hôm nay, ai cũng tin như thế. Tôi nhét luôn miếng bánh vào miệng, nuốt đánh ực và chạy theo cha đi trốn. Cha tôi, như một mụ gà mái lục tục dắt chúng tôi đi. Tôi hỏi cha: “Ai đến?”. Cha nói: “Chúng nó!”. Chúng nó là ai, tôi không biết, nhưng tất cả chúng tôi ở đây đều sợ chúng nó. Những ánh nhìn khiếp đảm nói lên điều đó. Trong khi ai nấy đã chọn được chỗ ẩn nấp thì cha con tôi vẫn dùng dằng dắt díu nhau trên đường. Mọi người sốt ruột, có người đã không chịu nổi, rít lên: “Nhanh nhanh nấp đi, sao chậm thế!”.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng nấp được vào một bụi cây. Ấy là vào một buổi sáng mùa thu trời rất đẹp. Tôi nhìn qua kẽ lá thấy trời xanh như đổ mực. Con châu chấu màu xanh chấm bi nằm trên kẽ lá rung rung đôi râu nhỏ xíu trên đầu. Bên cạnh, hai thằng em tôi không dám thở, chúng sợ. Chỉ có con châu chấu chấm bi là không biết sợ, hình như nó đang hát. Tôi hỏi nhỏ trong hơi thở: “Chúng nó đâu, cha?”. 

Suốt cả ngày hôm đó, chúng nó không đến, không có ai đến. Không gian yên tĩnh như đã chết. Trong một vài bụi cây, đã có tiếng người thì thầm nói chuyện, những bụi cây rung lên. Vài cái đầu thò ra rồi lại thụt vào. Có tiếng ai nói: “Có lẽ chúng nó không đến!”. Có tiếng ai nhai rau ráu, tôi thấy đói bụng, nhưng không dám nói với cha. Con chim bay ngang qua trên bầu trời, thả xuống một bãi phân trên lùm cây. Bãi phân trắng hếu tình cờ vẽ trên chiếc lá xanh hình một khuôn mặt người. Khuôn mặt trắng loang lổ với cái miệng cười không răng xanh mướt trong bóng chiều chập choạng. Làn gió thổi qua, chiếc lá chao nghiêng, gương mặt trở nên nghiêm nghị khác thường.

Rồi bóng đêm đổ xuống, trên những vạt cây hoang dại chứa đầy người bên trong. Đêm lạnh dần, nhưng không ai dám đốt lửa, họ sợ, thấy lửa chúng nó sẽ đến. Tôi quờ tay tìm cha và hai thằng em nhưng không thấy. Họ biến đi đâu từ lúc nào? Tôi không dám bò ra khỏi bụi cây dù bụng đã đói cồn cào. Tự dưng, mũi bị ngứa như có con gì đó bò vào, tôi hắt hơi liên tục. Bỗng có một bàn tay nắm lấy tay tôi, rồi có một cái gì đó nhét vào tay. Tiếng cha thì thầm: “Ăn tạm đi đỡ đói!”. Tôi bỏ ngay vào miệng nhai rau ráu, không rõ đó là thứ gì. Có thể là củ khoai sống hay quả ổi quả sung cũng nên. Ngòn ngọt, chát chát, tôi nuốt ngấu nghiến. Tôi vừa nhai vừa hỏi cha, giọng phều phào: “Các em con đâu?”. Cha nói nhỏ: “Chúng nó tản qua các bụi cây khác rồi”. Trong tiếng nói của cha, có cái gì đó nghèn nghẹn.

Tôi ngủ trong bụi cây, thức dậy cũng trong bụi cây nốt, ngày nọ qua ngày kia nối tiếp nhau. Thỉnh thoảng cha đem về một thứ gì đó ăn được, với một ngụm nước, tôi sống hết ngày. Chúng nó vẫn chưa đến. Trong những bụi cây xung quanh mọi chuyện hình như cũng tương tự, người ta ăn ngủ sinh hoạt trong đó, một ngày, hai ngày, rồi cũng thành quen. Tôi nảy ra sáng kiến đào một cái lỗ sâu rồi đi tè vào đó, bí quá, vệ sinh cũng vào đó, rồi đậy lại, hái lá lấp lên trên.

Sau một lần ngủ dậy, tôi quờ tay qua bên cạnh và chạm phải một người lạ. “Cho tui trú với” – người lạ thì thầm – “thực ra là không còn bụi cây nào nữa!”. Tôi hỏi: “Bạn từ đâu tới?”. “Trong làng ra” – người lạ trả lời, giọng đã rõ ràng hơn. Đúng là giọng con gái, trong, ngọt dịu dàng. Một phản xạ tự nhiên, tôi định đứng dậy, nhưng suốt mấy ngày nằm và quỳ, chân tôi mềm nhũn. Tôi dừng lại ở tư thế quỳ, hai tay đưa ra trước mặt, cũng không biết là để làm gì. Cô gái đưa tay ra đỡ lấy tay tôi, mềm mại, nhẹ nhàng. “Ngồi xuống đi” – cô gái nói – “chúng nó sắp đến đấy!”. Tôi nghe mùi hương thiếu nữ tỏa ra trong lùm cây quen thuộc. Tự dưng thấy bớt đi phần nào sợ hãi. Có thể rồi chúng nó sẽ đến. Bốn bàn tay tìm nhau, bóp chặt. Chúng tôi nhìn thật lâu vào mắt nhau, và như có hẹn trước, bốn giọt nước mắt từ bốn khóe mắt từ từ lăn xuống, vỡ tan tành trên bốn đầu gối thanh tân. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau, rên xiết trong bụi cây tăm tối. 

Rồi cha đi đâu có khi vài ngày mới trở lại. Cha nói, còn phải kiếm thêm cái ăn cho hai thằng em mày nữa. Tôi hỏi cha, chúng nó thế nào? Cha bảo, cũng tàm tạm! Rồi cha lại bò đi giữa các bụi cây. Đột nhiên, cô bạn đưa ra đề nghị: “Có khi chúng mình nên kết hôn!”. Trời, ai lại đi kết hôn trong một bụi cây? Ai lại lấy nhau trong một không gian chật hẹp tối tăm thế này? Lỡ chúng nó lại đến, bất ngờ, những đứa con chúng ta sẽ ra sao? Kệ, đến đâu hay đến đó, bạn gái tôi cả quyết. Thế là chúng tôi thành vợ thành chồng, không lễ lạt cưới xin hay thề thốt hương hoa. Với chúng tôi, ôm nhau trong bụi cây này, truyền cho nhau một chút hơi ấm để bớt đi nỗi sợ, thế là đủ. Chúng tôi ngủ với nhau như cặp cu li ngủ đông, không chăn nệm, không giường chiếu. Đất lún sâu xuống dưới lưng chúng tôi, bụi cây nghiêng ngả bên cạnh chúng tôi. Lâu lâu tôi vạch lá nhìn ra ngoài, chúng nó vẫn chưa đến!

Và rồi, đứa con đầu lòng ra đời. Tiếng khóc của nó vỡ òa rạng rỡ dưới vòm lá xôn xao. Vợ tôi vuốt mồ hôi, nhìn hai chúng tôi, cười như nắng. Tôi ôm lấy hình hài bé nhỏ vào lòng, nâng niu báu vật. Thế là tôi đã có một gia đình hoàn hảo, trong bụi cây này, trong khi, chúng nó vẫn chưa đến. 

Cho đến khi con tập nói, câu đầu tiên, con hỏi: “Chúng nó đâu?”. Tôi không biết trả lời con như thế nào, nhìn sang vợ cầu khẩn. Vợ tôi đang bận chải đầu, lặng im. Mắt nàng mọng lên. Trên đầu chúng tôi, gió đuổi mây bay, con chim bay qua, lá xanh cựa quậy, con châu chấu chấm bi vẫn hát ri ri như không có chuyện gì sắp sửa xảy ra. Tôi nằm ngửa nhìn trời qua kẽ lá. Bấy lâu, do hoảng sợ nên không để ý, giờ tôi mới thấy, những bụi cây có hình hài rất giống chúng nó! Ơ hay, tại sao? Hay chúng nó biết lấy lá cây để ngụy trang? Có thể lắm, nhiều người đã từng dùng lá cây ngụy trang, không phải một người mà là cả một đoàn quân. Họ lấy lá che đầu, che ngực, che mông. Cuối cùng, khi kẻ thù bị đánh lừa, họ xông lên và trở thành người thắng cuộc. Nếu đúng thế thì tình trạng của chúng tôi đang rất xấu: Đã hoàn toàn bị bao vây! Vậy mà chúng tôi dám ở đây, ung dung lấy vợ lấy chồng sinh con đẻ cái, quá liều mạng!

Tôi bắt đầu hoang mang lại từ đầu. Gió từ đâu thổi bạt qua, vặn vẹo những lùm cây. Tôi tưởng cả đoàn quân đang nhất tề đứng dậy bắt chúng tôi mà ngấu nghiến hành hạ cho đến chết. Mà nào chúng tôi đã gây nên tội tình gì! Cha tôi bần nông, đời chúng tôi bần cùng khoai với sắn. Tôi nói với vợ: “Có khi, chúng mình không còn lối thoát!”. Vợ không trả lời, có lẽ là vì quá sợ. Trong khi đó, đứa con tập nói vẫn bi bô. Nó thò tay bắt con châu chấu chấm bi và ngọng líu chuyện trò, cao hứng, nó hát nhặng xị: “Trời màu hanh có con trâu trấu…”. Thôi con ơi, thiếu gì lúc, tại sao con lại chọn lúc hiểm nguy này để tập nói với tập hát! Vợ ôm con vào lòng, nhét vú vào miệng nó, nó mới im. Ngoài kia, những bụi cây vẫn rung rinh, chập chờn dọa dẫm. 

Và giữa đoàn người ngụy trang bằng màu xanh đầy nguy hiểm đó, cha tôi trở về. Ông không bước đi được nữa, mà bò sát trên mặt đất như một con cá sấu. Cha thầm thì: “Tao đã thấy chúng nó rồi, rõ lắm, không phải đùa đâu!”. Tôi hỏi: “Chúng đã làm gì cha?”. Cha không trả lời, nói: “Cho tao hớp nước, khát lắm, đói nữa!”. Tôi không có nước, không có cơm, biết lấy gì cho cha đây? Lâu nay, được chăng hay chớ, lúc vớ được con côn trùng, lá cỏ hay rễ cây gì chúng tôi ăn tạm qua ngày. Chúng tôi có làm gì đâu mà phải ăn uống nhiều! Vợ bảo, anh lấy cái lá gấp lại đưa đây cho em! Để làm gì? Vợ gắt, đưa đây, rồi bảo cha quay mặt đi nha! Tôi giật nảy mình, hiểu ra vấn đề. Nhưng tôi im, không nói gì. Cha liếm những giọt nước màu trắng đục trên lá cây vợ tôi vừa vắt ra, xong rồi chìm luôn vào giấc ngủ.  Đó là sữa của con tôi!

Cuối buổi chiều, cha tỉnh lại. Vẫn nằm úp xuống với tư thế của loài bò sát, cha nói: “Con cố mà sống, các em của con lưu lạc hết, không biết là còn sống hay chết rồi. Cha bò khắp các bụi cây trong vùng đi tìm nhưng không thấy chúng nữa. Cha mệt quá rồi!”. Tiếng cha tắt lịm. Cái thân thể còm cõi của cha xẹp xuống rất nhanh. Chúng tôi chôn cất cha vào lúc trời tối. Tôi không dám thắp nhang cho cha, vì lỡ chúng nó nhìn thấy. Con đang ngủ rất say. Nước mắt tôi chảy dài nhưng tôi không khóc. Mình hèn quá! Thằng con trai không dám thắp nhang cho cha đẻ của mình khi ông lìa đời, còn gì tệ bằng? Trong đêm đen, gió vẫn say sưa bài ca kiêu hùng, dọa dẫm. Tôi nghiến răng: “Ừ, thì chúng mày muốn làm gì tao…”. Và tôi đứng thẳng dậy, bật lửa lên, thắp một que hương, cắm lên ngôi mộ vừa mới đắp xong còn thơm mùi đất mới. 

Ngọn lửa bùng lên như mắt người say rượu, lăn tròn trên đồng cỏ mùa không trăng.

Chúng nó vẫn chưa đến …


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

we consume words | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh
Published first on litviet.net

We were very hungry, starving from the year of the wood rooster to the year of the wood rabbit followed by the hungry year of the wood goat. We were thin, and our hunger was for fame, we craved words. We consumed words by Du words by Trãi words by Giáng and swallowed whole words by Viên.

We gnawed on each page before rolling over on our back and exposing our bulging bellies as we waited for the words to digest, we waited, and we waited.

Indeed, in consuming the words, chewing on the vowels, swallowing whole the consonants and peeing out the signs and bars, shitting out the words, and phrases, sometimes we were so full, we end up vomiting out, a passage at a time. We were creative! We had within us a constant flow of inspiration; it would have been a struggle otherwise. Our beds were made from grass and pebbles, while our homes were put together with silt, hay and mud. We were clothed in layers of dust, rather pitiful don’t you think?

I had a friend who was always drunk, always with a twinkle in his eyes. He made an announcement once: Last night I had a dream, and I met Du. Du laughed and gave me two words. Another guy butted in with – last night I was in dreamland, entertaining the old guy Tản and that woman Hương.

Yes, this was our general banter.

Sometimes, we tried to copy those before us. One might pretend to be a gangster like Giáng, rolling around in the street mumbling poetry as though he’s mourning someone. One tried to be Du, his brows furrowed as he pondered his terrible dreadful life. Some wanted to be like Hương, hiking up their skirts and cutting down anyone in their way. I didn’t know where I stood in the middle of all that, without much thought, I got myself a pipe, aping a wistful Western poet.

Life is a long game; we get to play as much as we like. Nights, we’re under the light in our room chewing on letters, tirelessly, determined, excited, enamoured. 

Like this morning, a friend of mine vomited a puddle of characters on the pavement. The puddle shone brilliantly like a mirror as it reflected the passing sunlight, surreal enough to be passed as a piece of art. A crowd gathered around it buzzing with excitement, discussing the detailing and all its facets. Its appraisal was a mixed bag, some were optimistic while others were very critical, some shook their heads not sure if they got it entirely while one guy sneered – it’s chewed, but indigestible— the whole situation exploded with heated arguments. We looked more like ruffians than literary experts, we insulted not only each other but took upon insulting each other’s families all the way to their ancestors. After the conflict was eventually exhausted, we realised that we had barely crawled out from some random bamboo bush, hungry from the year of the wood rooster hungry to the year of the wood rabbit to even the year of the wood goat we were still hungry. That was that no more fighting, criticising anyone else was no different from criticising oneself. We felt sorry for ourselves, sorry for our sad fate, sad even for the guy who vomited the puddle of characters. I grabbed him and I hugged him; he cried audibly, wet tears drenched his entire face. And that was that we hugged each other and noisily we wept, nutters!

One random afternoon, we had two new members; it was a good crowd. Though at a glance, we were rather pathetic! One guy always had a gourd of wine dangling from around his neck, and if I’m not mistaken was trying to copy Quát or Trứ. Unpleasantly arrogant. His steps were deliberate, arms relaxed by his sides, frowning down of course at fame and fortune. The guy next to him was different, entirely different, his demeanour was completely tailored, perfect! He had deep-set eyes that were constantly blinking, no matter where he looked there was warmth and love, universal kindness. They wanted to be a part of our club, the more the merrier, there were more words for us to consume, more material for us to argue about, messy but a lot of fun, and we were never bored. We breathed of alcohol as we spat out the compliments and criticism, beyond that came the insults, hugging, and crying, like torrential rain we wept.

Seemingly we’re invincible but all we truly want was the blessings of those who came before us, our predecessors. Pathetically, we pray for fame, fortune and talent. Even after exhausting all aspects of our internal strength aping those who had succeeded, we couldn’t hide our hungry starving roots, how we had originally come from bamboo bushes. While the world was busy being vegetarians and carnivores, we were enthusiastically chewing on our letters. Someone in our group had a word caught in his throat, and it choked him to death, some swallowed too many, died from the bloating, and their doctors didn’t know how to treat them.

We discussed during the day how we may achieve our highest goal, and at night lay about intoxicated with the idea of the procreation of words. In the middle of the night, the phone would ring, and it became part of our routine. A friend of mine rang, he was very excited: “I wrote a masterpiece, you guys should come over, come now, don’t worry about the grog, I have more than enough!”. We would all rush over, like moths to a fire. My friend stood in the middle of his house, surrounded by the corpses of words scattered across the floor, on the kitchen bench, all over the place, the words all sticky with blood, spit, and mucus mixed in with the other contents from his stomach. We huddled in groups around the words, we made sure all the lights were on, we examined each word carefully, and we pondered this incredible masterpiece of a lifetime. Our thoughts veered in various directions; no one had the same idea as the other. The lights however lit up more of the work, and drew up segments of strange refractive light at the edge of our imagination, delusions of madness. “Truthfully transcending”, the guy with the tragic, thoughtful face like Du shouted suddenly. Quát threw up his arms, laughing as though he had lost his mind. While bright eye Tố, poked at the work with a cane smiling mysteriously. The cane tip was sharp like a spearhead.

Life is a long game; people have lots of time to wine and dine, while we consume words. So, let us be!

[June 2020]

Chúng tôi ăn chữ

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Chúng tôi là một lũ đói khát, đói từ năm Ất Dậu đói sang năm Ất Mão đói đến năm Ất Mùi sang năm vẫn đói. Chúng tôi gầy gò nhưng rất háo danh, chúng tôi thèm ăn chữ. Chúng tôi ăn chữ của Du ăn chữ của Trãi ăn chữ của Giáng ăn nốt chữ của Viên…

Chúng tôi bò ra gặm từng trang rồi nằm ưỡn bụng phơi nắng chờ chữ tiêu hóa, chờ mãi chờ mãi…

Đương nhiên rồi, chúng tôi ăn chữ, nhai nguyên âm nuốt phụ âm và tiểu tiện ra các dấu các thanh, đại tiện ra từ, cụm từ, thỉnh thoảng, bụng chướng lên, chúng tôi nôn ra các đoạn văn. Chúng tôi đang sáng tạo! Cảm xúc của chúng tôi thì luôn luôn dào dạt, nếu không có cảm xúc thì khó khăn biết nhường nào. Lũ chúng tôi lấy bãi cỏ làm giường, lấy đá sỏi làm đường, lấy sình lầy làm nơi trú ngụ. Thân thể chúng tôi đầm đìa bụi bặm, thương không?

Thằng bạn, mắt sáng như sao, miệng nồng nặc mùi rượu, nói với cả bọn: Đêm qua tao mơ gặp Du, Du cười, chìa tay đưa cho tao hai chữ… Thằng khác nói, đêm qua tao lại thấy được lên tiên giới, hầu chuyện cụ Tản bà Hương…

Đó, lũ chúng tôi thường nói năng với nhau những chuyện lẩn thẩn mơ hồ vậy đó.

Nhiều khi, chúng tôi còn bày trò bắt chước tiền nhân. Đứa giả dạng du côn như Giáng, lăn lê điên dại bên hè đường rồi móm mém đọc thơ như khóc. Đứa thì làm bộ như Du, mặt nhăn nhó đau đời. Có đứa học đòi như Hương, dạng chân tốc váy nhạo đời và chửi không sót một ai. Tôi bí quá, cũng đánh liều mua một cái tẩu ngậm chênh vênh bên mồm y như các thì sĩ Tây phương, cho có vẻ suy tư. 

Đời là một cuộc chơi dài, chúng tôi tha hồ phá phách. Đêm về, chúng tôi lại chong đèn nhai chữ, miệt mài, quyết liệt, hăm hở, bi ai…

Sáng nay, bạn tôi lại nôn ra một đống ký tự bên vệ đường. Khi nắng soi vào lấp lánh như gương, không khác gì một bức tranh siêu thực. Chúng tôi xúm lại trầm trồ bàn tán. Kẻ khen người chê, đứa lắc đầu bảo không thể hiểu nổi trong khi một đứa khác chửi um lên rằng đó chẳng qua là một đống nhai lại chưa tiêu. Thế là nổ ra cãi vã. Chúng tôi lại hiện nguyên hình là những gã du côn thứ thiệt, vả vào mồm nhau rõ kêu và lôi mấy đời cha mẹ nhau ra sỉ nhục. Chửi nhau chán chê thì cả bọn mới nhận ra rằng, tất cả bọn tôi đều xuất thân từ bờ tre gốc rạ, đói từ năm Ất Dậu đói sang năm Ất Mão đói đến năm Ất Mùi sang năm vẫn đói. Thế là thôi, không chửi nữa, chửi nó thì có khác gì tự chửi mình. Chúng tôi nghĩ tủi thân tủi phận, thấy thương mình, thương luôn thằng vừa nôn đang ngồi đần mặt ra bên cạnh. Tôi choàng tay ôm chầm lấy nó, nó khóc tu tu, nước mắt bắn ra tung tóe. Thế là chúng tôi ôm nhau khóc rống lên, như một bọn khùng!

Chiều nay, mới có hai đứa đến nhập bọn, vui đáo để. Nhìn qua là thấy thương rồi! Một đứa đeo bên mình lủng lẳng bầu rượu, không nhầm là bắt chước Quát hoặc Trứ. Mặt ngạo đời dễ sợ. Đi đứng khoan thai, hai tay buông thõng coi bộ khinh thường danh lợi. Kẻ bước bên cạnh lại mang một dáng dấp khác, phong cách khác, rất Tố! Đôi mắt sâu hun hút nhấp nháy liên hồi, nhìn vào đâu cũng thấy ấm áp nhân tình thế thái, thế giới đại đồng. Họ đến nhập bọn, càng vui, chúng tôi tha hồ mà ăn chữ, tha hồ mà phá phách! Chúng tôi vây quanh đống chữ mà Trứ và Tố vừa vác đến, bề bộn, lôi thôi què cụt nhưng lại tràn trề sinh khí. Miệng đứa nào đứa nấy nồng ran mùi rượu, nhọn mỏ lên khen chê bình phẩm, tiếp đó là chửi nhau và cuối cùng là ôm nhau khóc, nước mắt như mưa.

Chúng tôi, tuy mang vẻ mặt vô thần, nhưng thâm tâm luôn cầu mong ở các đấng siêu nhiên ban phát ơn huệ. Hầu hết đều đã đi cầu tài cầu lộc cầu danh khắp các nẻo đền đài miếu mạo chùa chiền. Tuy đã dùng hết nội công để bắt chước các đấng tiền nhân siêu phàm, song vẫn không che nổi gốc gác bờ tre gốc rạ đói khát thèm thuồng. Trong khi thế nhân ăn cơm ăn thịt ăn rau thì chúng tôi ngồi ăn chữ, cặm cụi và say mê. Đã nhiều đứa trong bọn tôi hóc chữ ngang cổ mà chết, hoặc nuốt chửng nhiều chữ quá, trướng bụng lên mà chết, bác sĩ bó tay.

Ban ngày, lũ tôi tụm bạ với nhau bàn về các sản phẩm đỉnh cao của mình, ban đêm thì nằm mê sảng trong cơn cuồng dâm sáng tạo. Nửa đêm chuông điện thoại reo là chuyện bình thường. Bạn tôi gọi, giọng nghẹn ngào: “Tao vừa cho ra một tuyệt tác, tụi mày đến đây, đến ngay đây, có sẵn rượu đây rồi!”. Thế là đứa nào đứa nấy vùng dậy lao đi, như những con thiêu thân nhìn thấy ánh đèn. Bạn tôi đứng giữa nhà, xung quanh xác chữ trắng hếu vương vãi, lẫn vào những máu me đờm dãi vừa thổ ra. Cả bọn xúm vào, bật đèn sáng lên, chăm chú ngắm nghía, chăm chú suy tư trước một tác phẩm để đời. Mỗi người chạy theo một hướng suy tư riêng, không ai giống ai. Ánh đèn chiếu vào tác phẩm, vẽ thêm những khúc xạ ánh sáng kỳ quái ngoài sức tưởng tượng, ảo ảnh điên cuồng. “Thật là trác tuyệt!”, đứa mang gương mặt phiền não của Du đột ngột thốt lên. Quát thì vung tay cười ha hả như vừa đột ngột phát cơn điên. Trong khi đó, Tố vẫn mắt sáng như sao, lấy gậy chọt chọt vào tác phẩm rồi mỉm cười đầy bí ẩn. Cây gậy ấy đầu nhọn như lưỡi lê.

 Đời là một cuộc chơi dài, thế nhân cứ tha hồ cơm rượu đi, còn chúng tôi ăn chữ. Kệ chúng tôi!


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

mesmerizing muddle | Nguyễn Văn Thiện | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

On Mount Chư Mang, when the white clouds no longer look back, the snakes as blue as the sky come to build their nests in the trees. Their poison made us forget our way home. Mumbling nonsensically and worst yet, words spoken were immediately ignored. Tugging at my shirt sleeve, the person next to me asked solemnly: “We’re all a bit lost now, aren’t we?”.

When in a stupor, you like to talk, debate, but the more you explain, everything gets more mixed up. I’m a quiet person, but as soon as the snake poison enters my blood stream, I’m festered with useless talk. I’m worried that if I do not speak, language will gradually fade away and disappear from my lips. Daily, we talk of nothing consequential, there is no beginning or end, often entirely meaningless.

Mostly, we go on and on about some convoluted tale. A friend of mine, older, an alcoholic, never sleeps, his hair was thinning and receding, yelled one day: “Tang Seng way of life is to eat with chipped bowls, we do not eat with chipped bowls; we eat only with what is whole, whatever chipped and crack we bury, what’s more, grand and satisfying than that?”

What a nutter, right?

I stopped by a stream, splashed water on my face, hoping, with some luck, it’s magical water, would fix all the craziness. But the water had no effect; everything was worse. Often, I find myself down the wrong path, going home to the wrong house. In my hand, I’m holding something from yesterday, something that didn’t belong to me.

Luckily, I was not as bad as some. My next door neighbour left the house to pick up his wife one afternoon, and he was gone for three days. He came home with an old lady he didn’t know. She just  sat her down where he told her to sit. People would go to pick up their children, but three months later, they were nowhere to be found. The old lady just sat there, hugging the tree crying: “Why did you tie my husband up!”. I went to check on her. I brought the old lady a bread roll, but in my hand  was not bread but a honeycomb sandal.

What made it hard was the fact that none of us, none of us wanted to admit we had lost it. Everyone thought: Why was this man, woman, elder, this guy is not so right in the head!

The blue snakes said nothing, quietly, it slept in the trees.

This person said the other person’s nuts; no one admitted they were crazy, though, in the end, who was more insane? The elders on mount Chư Mang after many ridiculous debates, finally came to a unified decision: We should have a tournament!

We wanted a tournament, but we didn’t know where to start, because simply: We, as a community, were very forgetful, hence always confused! Still, in a bright moment of dementia, a person yelled: “Let’s invite the blue snakes in the trees to be judges!”. At that moment, we were full of  oohs and ahhs, showing our approval. So it came to be, the blue snakes were the organisers and judges for the tournament.

The cunning snakes left a ceramic cauldron of wine at the foot of the tree, the prize for the winner! The one who is most awake, wisest, shall become the leader of the village, they will get the cauldron of good wine as their prize, there’s nothing more rewarding than that. Everyone was excited and eager to put their name down to compete, including the most muddled of us, since the beginning of time has never attempted any kind of test or competition.

If I was wrong, it was because I lost my mind a long time ago. If we were not talking about this then it must be that? Which means, by whatever dialectical theory, anyone who was in the competition, all they had to do was find the cauldron of wine with a bow on it, the t we mistaken as the prize. The snakes announced: “Close your eyes!” Immediately everyone shut their eyes, anyone peeking, the snakes would blind them without hesitation. Hence, there were no cheaters. As soon as we closed our eyes, the snakes quietly hid the cauldron. “Open your eyes! Now go, find it!” We opened our eyes all at once, we rushed, we were excited, we stepped on each other’s feet, pulled at each other’s clothes, dragged, punched, kicked, searched.

All of us, lost minds, but able-bodied. We fought and competed, trampling on each other. No different from the crusades in search of stolen religious text. Resulting in the loss of life, so what, dying means nothing! You know Mount Chư Mang is a wilderness, endless trees and vines clinging to everything for thousands of miles. A cauldron of wine hidden somewhere, in the middle of it, but that didn’t stop us, we rushed trampling on top of each other. How could we not see how dumb we were?

Like water in a waterfall, we rushed around without thinking. Some spoke, some laughed, some cried, some ran around in a circle, no one giving way to anyone else. The mountain curled up in pain from the onslaught of noise and chaos. By sundown, we were exhausted, someone shouted: “That wine smells amazing!”. All the noses lifted skyward, sniffing. There was a smell of good wine! Like a herd of starving cows getting a whiff of the scent of water in the wind. We were suddenly alert, stepped on top of each other, and ran off in all directions.

Midnight that day, the competition ended, and a person had found the wine. It turns out, the expensive wine cauldron was dangling from a branch in the trees, and everyone looked for it on the ground, in the bushes or caves. The snakes coolly laughed, and straight away gave the bottle of wine to the winner—a man with peppered hair, wearing reading glasses. The truth was, he was not very smart, he was just lucky. When everyone was busy looking, he climbed up a tree to pee and nearly tripped over the cauldron of wine!

The winner was the most confused and muddled of us all, and of course, he became our boss. The blue snakes quietly sniggered in the trees. Unworried, content, as they slumbered forever in the trees. Mount Chư Mang is very wide, very high! After climbing the tree to pee, accidentally discovering the wine, he climbed down, with the wine, he sat straight down on the grass, drinking it alone. Satiated and drunk, he went on and on about nothing the whole day. When we all took turns carrying him in a palanquin on our shoulders, he continuously complained about the heat and how much he needed to pee. We shouted in unison: “Pee up there, esteemed leader!”. But the leader refused, saying: “! More! ” We again shouted in unison:”! up there too!”. 

Now and then there was no more whining, because our leader was too tired, and fell asleep in the palanquin. A few found the cauldron abandoned, took a few sips, walked away, they were lost, never to be found again, though apparently they were on their way home. The leader lay sleeping, now and then wakes up with an indiscriminate surprise speech, about some ideology only he could understand. We couldn’t be bothered with what he said, we stopped listening to him, we all did our own thing, there was no order or discipline. 

Tăng’s way is to eat with a chipped bowl; we eat with a chipped bowl, what’s more satisfying than that.

What was whole now buried, talking about today but remembering what will happen tomorrow.

Why would anyone want to stay, why should I stay, why make me.

I held the honeycomb sandal like a loaf of bread, I had no idea.

March 1019

       Trên núi Chư Mang, khi mây trắng bỏ đi không còn quay lại, lũ rắn màu xanh da trời về làm tổ trên cây. Nọc độc của chúng làm cho bạn và tôi quên mất lối về. Chúng tôi nói năng lảm nhảm và tệ hại hơn, nói trước quên sau. Người đi bên cạnh lắc lắc tay tôi nói, với vẻ mặt đầy nghiêm trọng: “Chúng mình lú lẫn hết rồi, phải không?”.

       Khi bị mê lú, bạn rất thích nói, thích biện luận, nhưng bạn càng giải thích thì mọi điều càng lộn xộn tù mù và rối rắm. Tôi thuộc kiểu người ít nói, nhưng kể từ khi ngấm nọc độc của lũ rắn, cũng sinh ra lắm lời giòi bọ. Tôi sợ, nếu không nói, ngôn ngữ sẽ mờ dần, nhạt đi, biến mất. Hàng ngày, chúng tôi nói những điều ấm a ấm ớ không rõ đầu đuôi, có khi hoàn toàn vô nghĩa.

       Đặc biệt, chúng tôi thích dẫn những chuyện xa xôi rờ rẫm, ưa lối quanh co bóng gió. Một người bạn của tôi, già rồi, nghiện rượu, lại thường xuyên mất ngủ, tóc lơ phơ mấy cọng, nói: “Đường Tăng đi thỉnh kinh ăn bát sứt, chúng ta không ăn bát mẻ, vậy là chúng ta ăn toàn là những thứ nguyên vẹn, những thứ sứt mẻ đều đem chôn hết cả, có gì là không thỏa đáng nào?”.

       Lú chưa?

       Tôi xuống suối gì đó vốc nước rửa mặt, nghĩ, may ra, gặp được nước suối thần kỳ, sẽ hết lú. Nhưng rồi, kết cục không ăn thua, thậm chí bệnh còn ra chiều trầm trọng. Tôi thường xuyên đi nhầm đường và về lộn nhà, trong tay cầm thứ gì đó ngày hôm qua không phải của mình.

       Thế mà, tôi vẫn chưa phải là người lú nhất. Ông bạn sát nhà, buổi chiều đi đón vợ, đi mãi ba ngày sau mới về, lại đón nhầm một bà cụ lạ huơ lạ hoắc, rồi đặt bà cụ ngồi đấy, tất tả đi đón con, ba tháng sau chưa thấy quay về. Bà cụ ngồi một mình buồn quá ra ngồi ôm gốc cây khóc lóc: “Sao lại trói chồng tôi ở đây!”. Tôi sang xem sự thể thế nào, cầm theo một ổ bánh mì định đưa cho bà cụ, sang đến nơi nhìn lại thì hóa ra cầm nhầm một chiếc dép tổ ong…

       Rắc rối hơn, chúng tôi, không ai chịu nhận mình bị lú. Ai cũng nghĩ: Sao mà cái ông, bà, lão, thằng ấy lú đến thế!

       Lũ rắn màu xanh thì không nói gì, lặng lẽ ngủ trên cây.

       Người nọ nói người kia lú, không ai chịu nhận mình lú, vậy, cuối cùng ai lú, ai lú nhất? Những người già lú lẫn trên núi Chư Mang sau nhiều lần tranh cãi cù nhầy, cuối cùng đi đến thống nhất: Phải tổ chức một cuộc thi!

       Chúng tôi tổ chức thi, nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu và tổ chức thi như thế nào, vì một điều đơn giản: Ai cũng ít hoặc nhiều bị lú! Vậy mà, trong một phút giây lóe sáng nào đó của trí não suy tàn, một người thốt lên: “Hãy mời lũ rắn màu xanh trên cây xuống làm trọng tài!”. Lúc đó, mọi người mới ồ à hố hả nhặng lên để biểu thị đồng ý. Thế là bọn rắn màu xanh đứng ra tổ chức và làm trọng tài để chúng tôi thi.

       Bọn rắn tinh quái để một hũ rượu sành có buộc nơ đỏ ngay dưới gốc cây, phần thưởng cho người thắng cuộc đó! Ai tỉnh táo nhất, minh mẫn nhất, sẽ trở thành người dẫn dắt dân làng, được thưởng một hũ rượu ngon, còn gì bằng nữa. Mọi người nô nức ghi tên tham dự, kể cả những kẻ lú nhất, xưa nay chưa hề biết thi cử là gì.

       Chỗ này, tôi nhầm lẫn, vì thực ra, tôi cũng đã lú lẫn từ lâu. Không phải thế nọ mà là thế kia. Tức là, theo một phép biện chứng nào đó của học thuyết gì đó, những người dự thi phải tìm cho được cái hũ rượu có buộc nơ, thế mà tôi lại nhầm ra là phần thưởng. Bọn rắn hô: “Nhắm mắt!”, lập tức mọi người nhắm tịt mắt, ai còn mở ti hí, rắn sẽ mổ mù mắt ngay, vì thế, không ai dám ăn gian. Lúc đó, lũ rắn mới nhẹ nhàng khiêng hũ rượu đi cất. “Mở mắt! Đi tìm!”. Thế là tất cả mở mắt ra, hối hả, tất tả, nhốn nháo, dẫm chân nhau, níu áo nhau, đấm đá lôi kéo nhau, đi tìm…

       Lũ chúng tôi, tuy trí não suy tàn nhưng chân tay vẫn hoạt động tốt. Chúng tôi cật lực tranh giành dẫm đạp và thụi nhau ra trò. Chả khác gì tín đồ của một giáo phái cực đoan nào đó trên hành trình đi tìm chân kinh bị đánh cắp. Hậu quả là đã có người chết, kệ, chết có nghĩa lý gì đâu! Núi Chư Mang thì bạn biết rồi đấy, hoang vu thăm thẳm, cây cỏ dây leo ngút ngàn. Một bình rượu nhỏ lại bị cất thật kỹ, tìm sao được mà tìm, vậy mà vẫn dẫm đạp nhau đi. Lú chưa?

       Lũ người lú đi như thác đổ. Người nói, người cười, người khóc, kẻ văng tục, không ai thua ai, không ai nhường ai. Núi oằn mình rên xiết. Vào một buổi chiều, mọi người đều đã mệt nhoài, bỗng có tiếng ai nói: “Mùi rượu đâu mà thơm thế nhỉ!”. Bao nhiêu cái mũi vươn cao lên đồng loạt, đánh hơi. Rõ ràng có mùi rượu thơm! Như một lũ trâu bò sắp chết khát ngửi thấy mùi hơi nước trong gió. Chúng tôi bật dậy, giẫm đạp nhau chạy đi băng băng…

       Nửa đêm hôm đó, cuộc thi kết thúc, khi có một người đã tìm ra hũ rượu. Hóa ra, hũ rượu quý treo trên cành cây, trong khi, mọi người đều tìm kiếm dưới đất, trong bụi rậm hoặc hang đá. Lũ rắn cười lạnh lẽo, trao ngay bình rượu cho người chiến thắng. Đó là một người đàn ông tóc hoa râm, đeo kính lão. Thực ra ông ta may mắn nhiều hơn là thông minh. Trong khi mọi người giành nhau đi tìm, ông ta lặng lẽ trèo lên cành cây để đi tiểu, vô tình nhìn thấy hũ rượu mà thôi!

       Vậy nên, người lú nặng nhất ngẫu nhiên trở thành người chiến thắng, và đương nhiên trở thành kẻ cầm đầu trong bọn chúng tôi. Lũ rắn màu xanh vẫn cười lặng lẽ trên cây. Chúng sẽ yên tâm ngủ dài dài. Núi Chư Mang rộng lắm, cao lắm!

Người đàn ông trèo lên cây đi tiểu bắt gặp hũ rượu, ông ta xuống, ôm theo hũ rượu và ngồi ngay xuống bãi cỏ, uống một mình. Uống xong thì say, nói năng lảm nhảm suốt ngày. Khi mọi người công kênh ông ta trên một chiếc kiệu, ông ta luôn mồm kêu nóng và đòi đi tè. Tất cả đồng thanh: “Tè trên đó luôn, thủ lĩnh ơi!”. Nhưng thủ lĩnh không chịu, nói: “Ị nữa!”. Tất cả đồng thanh: “Ị cũng trên đó luôn!”.

Đôi co một lúc, không nghe tiếng la hét nữa, thì ra, thủ lĩnh mệt quá, đã ngủ ngay trên kiệu. Nhiều người thấy hũ rượu còn lăn lóc, vương vãi, đến uống sái, rồi đi đâu không nhớ đường về. Thủ lĩnh nằm ngủ, lâu lâu tỉnh dậy lại phát ngôn bừa bãi, loạn xạ, theo một phép biện chứng gì đó mà chỉ có ông ta hiểu. Chúng tôi, cũng không thèm nghe, không thèm vâng lời, mạnh ai nấy nói, mạnh ai nấy làm, không theo một trật tự nào.

Đường Tăng ăn bát mẻ, chúng ta ăn bát sứt, có gì là không thỏa đáng…

Những gì nguyên vẹn đều chôn hết cả, nói chuyện hôm nay phải nhớ chuyện ngày mai…

Sao lại buộc chồng tôi ở đây…

Tôi cầm chiếc dép tổ ong ngồi gặm như gặm bánh mì, hoàn toàn mê lú…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Mixed up | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

I still believe, at the end of an ocean, a horizon someone is waiting for me. I’ve been to many places quietly wishing never knowing when we may meet again. Though in the end, I would return, return to this familiar seat of mine. The day you left, I was despondent. I admit it to myself many times like that, as in dreams. Where you sat next to me, another person now sits. A different face, a different smile, a different voice, a different hand, a great love, yet still I’m in a state of confusion, this is just another person, just another friend?

I have been confused for a length of time in my youth. Confused that this is red and that is yellow, this will be for many years and that forever. In the end, I finally admit, painfully through a pathetic smile, that I accepted it before I left.

Still, I continue to be in this state of confusion. See here, next to me is where you sat, where you usually sit.

You have appeared next to me, as a sweet young student, you sat down timidly, eyes wide peering into the distance in search of an autumn song. I was confident, so I ignored you. Here I’ve sat; first, anyone could be witnessed. I also knew, ever since you came, where we sat became warmer, palms warmer, slowly warmer the conversations.

Still, as sudden, as when you came, you left on a day I no longer remember. The person replacing you has a different smile to you, different colour hair, but still, I couldn’t accept it. I continued to ramble on about myself, about the wild time on that desolate far off place on mount Chư Mang!

The readers are tired and sick of this common repeating confusion in all the dramas, in all the literature. I’m the same. Only those without talent would repeat such old and worn out times. But, now and then, heaven and earth are inspired by a display of awkward confusion, in amusement.

Until that stupefied moment when I discovered the person just arrived is not you. I was confronted with the painful choices: to stand up and step away from the stranger, or to continue to see here, this person, is a friend of mine, a friend of mine?

The light now low, late in the afternoon, to stand, to leave when the reeds are falling asleep, the mountains and rivers tinge in the colour of the meadow. But to see the person sitting next to me as a friend is too painful! Unheard of the eyes, the lips, the voice, not right, not sound.

The eyes just arrived are coloured with strings of clouds laden with moisture, trilling laughter like a mermaid in Năng river!

What could we do?

The new person drew a heart on the blackboard and said, “there, there’s the heart!” I said, “no, that’s not it!”

The new person drew a smile rolling on the grass then said, there, there’s the smile! I shook my head vigorously.

The new person painted a rolling teardrop, sobbing, “there; there’s a tear!”

I stood up to walk away. The new person broke down in tears. I turned to her, firmly said, “that’s enough, stop crying; it’s too late!”

Liken to a high school infatuation; you think that it’s okay?

I’m unsure. Confusion now and then often leads to conflicting views him saying this, and she said that. What I imagine as everyday happenings have long been absent, the images next to me are not of those that I yearn for and love!

There are long days when burdened with the feeling that upon me are the eyes of the whole human race, it’s true! All those close in my family, friends, those beneath, those above, all the levels of management levelly consistently at once eyes wide open followed me. I continue to sit here; back bent like a branch counting each of its leaves, counting every character to draw an ever ending tale. But no one knows, a long time has passed since I left. The person sitting here is no longer me! Is there anyone like me, absent from the very place I sit, exiled right inside the tale I’m conveying? 

I’m not alone, an overcrowded generation out there, unbeknown, also for a long time now exiled, lost their heritage, left their homes forever. Even, an entire nation exiled, and nothing is strange about this? Though I don’t want to say for sure. Every day, I continue to sit here, sure of my position, drafting, writing. You’re far gone long ago, left as well as the laughter. The new person arriving is not you, and I’m not me, but that’s not a problem, everything will eventually depart, always.

In the end, left are the remnants of pale human shadows. Where I sit, the place is mine, the seat next to me is yours, no not so, it belongs to the person who just arrived. You’ve left, I’m also gone, so the person just came, the person just arrived too.

None of this matters any more, let’s be on our way.

[November 2018]

Nhầm lẫn

Tôi vẫn tin rằng có ai đó đang đợi tôi ở cuối chân trời góc bể. Tôi đã đi rất nhiều nơi với mong ước âm thầm biết đâu rồi sẽ gặp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi trở về đây, về với chỗ ngồi quen thuộc của mình. Từ ngày bạn bỏ ra đi, tôi đã rất buồn. Tôi tự thú nhận với mình nhiều lần như thế, cả trong mơ. Chỗ ngồi của bạn, ở bên cạnh tôi, có một người khác đến ngồi. Một gương mặt khác, một nụ cười khác, một giọng nói khác, một bàn tay khác, một tình yêu khác, nhưng sao tôi cứ nhầm lẫn hoài, đó vẫn chỉ là một người, vẫn là bạn mà thôi?

Tôi đã nhầm lẫn trong một thời gian dài tuổi trẻ. Nhầm lẫn cái nọ màu đỏ cái kia màu vàng, thứ nọ muôn năm thứ kia mãi mãi. Cuối cùng, tôi đã dứt khoát nhận ra, đau đớn nhận ra và mỉm cười ngạo nghễ bỏ đi.

Vậy sao bây giờ tôi lại tiếp tục nhầm lần được. Này nhé, chỗ bên cạnh tôi là chỗ ngồi của bạn, bạn vẫn thường ngồi…

 Bạn đã xuất hiện bên cạnh tôi, như một cô bé học trò xinh xắn, rụt rè ngồi xuống, mở to mắt ngước nhìn xa xăm tìm câu hát mùa thu. Tôi tự tin không thèm để ý. Chỗ này tôi ngồi trước, ai cũng xác nhận thế rồi. Vậy nên tôi mải mê với câu chuyện của mình. Tôi cũng biết rằng, từ khi bạn đến, chỗ ngồi của chúng ta ấm lên, bàn tay ấm lên, câu chuyện cũng ấm dần lên…

Thế nhưng, cũng bất ngờ như khi đến, bạn ra đi vào ngày nào đó tôi không còn nhớ. Người thay thế bạn có một nụ cười khác, một màu tóc khác, nhưng tôi không nhận ra. Tôi cứ mãi huyên thuyên câu chuyện của chính mình, về những trò nghịch dại trên núi Chư Mang xa xăm hoang vắng!

Bạn đọc hẳn đã quá nhàm chán với những tình huống nhầm lẫn quen thuộc đến phát ớn trong các vở kịch, trong các tác phẩm văn chương. Tôi cũng thế. Chỉ có những tay viết bất tài mới lặp lại tình huống cũ rích này. Nhưng, đôi khi, đất trời cũng nổi hứng đặt bày oái oăm nhầm lẫn, cho vui…

Đến khi tôi bàng hoàng phát hiện ra người mới đến không phải là bạn thì mọi sự đã rồi. Tôi đứng trước lựa chọn đau đớn: Hoặc đứng dậy bước đi trước một người xa lạ, hoặc tiếp tục coi đây, người này, là bạn của tôi, là bạn của tôi!

Nếu đứng dậy ra về thì nắng đã xế chiều, thì lau lách đã đìu hiu, thì núi sông đã nhuốm màu quan tái. Nếu coi người vừa ngồi cạnh mình đây vẫn là bạn thì, khó khăn lắm! Mắt ấy, môi ấy, tiếng hát ấy, không phải, không đúng, không quen…

Màu mắt mới đến vừa có một đám mây giăng ngang mọng nước, tiếng cười lảnh lót như nàng tiên cá dưới sông Năng!

Biết làm sao được?

Người mới đến vẽ một trái tim lên bảng đen rồi nói, đó, trái tim đó! Tôi nói, không phải đâu!

Người mới đến vẽ một nụ cười lăn trên cỏ rồi nói, đó, nụ cười đó! Tôi lắc đầu quầy quậy. 

Người mới đến quẹt một giọt nước mắt vừa lăn, nức nở nói, đó, nước mắt đó!

Tôi đứng dậy định bước đi. Người mới đến khóc òa lên. Tôi ngoảnh lại, cả quyết nói, thôi được rồi, đừng khóc nữa, chiều rồi!

Như một tình yêu tuổi học trò, bạn nghĩ thế, phải không?

Tôi không dám chắc đâu. Sự nhầm lẫn đôi khi dẫn đến tình trạng ông nói gà bà nói vịt xảy ra thường xuyên. Cái mà tôi tưởng chừng vẫn thường xuyên hiện hữu thì hóa ra lại vắng mặt lâu rồi, hình ảnh tôi đang thấy bên cạnh mình thì lại không phải là điều tôi vẫn yêu thương và tưởng nhớ!

Có những ngày dài, tôi mang cảm giác rằng cả nhân loại đang dõi mắt nhìn tôi, thật đấy! Những người thân trong gia đình, bạn bè, cấp dưới cấp trên, các tầng bậc quản lý trùng trùng lớp lớp đều mở to mắt nhìn theo. Tôi thì vẫn ngồi đây, khom lưng như một cành cây đếm từng chiếc lá, đếm từng ký tự để vẽ ra câu chuyện muôn trùng. Nhưng tất cả đều không biết rằng, từ lâu tôi đã ra đi. Người ngồi đó không còn là tôi nữa! Có ai như tôi không, tha nhân ngay chính chỗ mình ngồi, vong thân ngay trong câu chuyện mình đang kể?

Không chỉ riêng mình tôi đâu, cả một thế hệ đông đúc chen lấn ngoài kia, biết đâu, từ lâu cũng đã vong thân, mất gốc, bỏ xứ ra đi biền biệt.Thậm chí, cả một dân tộc đã vong thân, điều đó có gì lạ không? Tôi không dám chắc đâu. Hàng ngày, tôi vẫn ngồi đây, yên tâm với vị trí cũ, và vẽ, và viết. Bạn đã bỏ đi biền biệt lâu rồi, đến cả tiếng cười cũng bỏ xứ ra đi. Người mới đến không phải là bạn, còn tôi thì đích thực không phải là tôi, nhưng có sao đâu, mọi thứ rồi sẽ cứ ra đi, trùng trùng lớp lớp.

Cuối cùng, chỉ còn lại những bóng dáng nhạt nhòa của hình nhân ở lại. Chỗ tôi ngồi đây, là chỗ của tôi, chỗ bên cạnh là của bạn, không phải, của người mới đến. Bạn đã bỏ đi rồi, tôi cũng đã ra đi, rồi người mới đến, người mới đến cũng đã…

Nào, tiếp tục lên đường…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

necropolis | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh
Published on Gobblers & Masticadores

Separated by a small path, a park suddenly popped up next to a Necropolis of zombies. The best architects were hired to take care of the new development. Innumerable exotic flora and fruit trees were bought. Including ancient trees from various forests and jungles, and precious rock boulders from exotic places. The flowers bloomed with rippling streams and birds singing. The playground was glorious, it was a beautiful poem!

On the other side of the path, a few steps away were the quivering writhing zombies living in decay. The existing dead followed each other in ankle-deep mud. Fully covered, they exchange words through shemaghs. Their bony arms flapped in the eerie cold wind. A stark contrast to the playground full of joy. An orchestra complete with all kinds of instruments played unending symphonies. The smell of incense danced with the fragrance of jasmine and ripe fruits, effusing sweetly throughout the day and night.

A playground was for the dead, and Necropolis was for zombies.

All along the dividing path were guards patrolling year-round — guns aimed at the dead zone. From the cemetery, now and then a few zombies might catch smells of incense, and the seeping fragrance would overwhelm them with madness, the zombies ram themselves into the line of guards. Of course, no zombie could ever escape the scum! Gleaming knives welcomed them; they only needed to advance a bit for the blade to cut through barely any flesh, before they hit bone. Their bodies were immediately cleared, and thrown back into the cemetery as though it was nothing. It was just another day to the guard.

There were daily funeral processions at the park of the dead. Just yesterday, a burial went ahead. The deceased was a butcher, he was slaughtered by another butcher. So people say, the body was no longer whole, severed in pieces due to profoundly ingrained resentment. Along the whole funeral procession, they were throwing flowers and white confetti like a snowstorm. The burial of the butcher was a result of another butcher’s slaughter, indeed beside his friends and family, both sides were in attendance. They lowered their eyes or turned away; they didn’t meet each other’s gaze. Hands on their belts were carving knives ready for a fight. Incense infused the length of the road. The hoard of zombies over in the graveyard relished excitedly, the renewed inhalations of the smoke and perfume, filling their starved lungs. Their deep hollow dark eyes were dazed with fresh dreams of a paper-thin cover of spring.

All at once, a total of four burials took place that particular day — four people in the same family, from an unknown cause. Despite how good we are to each other, death is inevitable. Four graves amalgamate into one, four times the opulence. Flags were flying like butterflies in the middle of spring, and people lend their voices to anthems as they sent the dead to their final resting place. The zombies came out to ogle, drooled, sniff, soaked up the smoke and incense: famine and the cold desiccated their bodies, they were the definition of savagery. Day after day the road widened; the guards also grew in power, their artillery cold, their shiny blades glaring.  There was no way to pass the divide, the zombies wallowed and wept taking turns spitting.

As you already know, spit is the last weapon of defense when there was nothing left. When the sky was overwhelmed with more doom and darkness, the zombies viciously rose; hence, the volume of the split overflowed, like a river! No matter how much brutality was shown by the guards; slaughter didn’t stop the spitting. A million pools of spit propelled skyward, no different from any torrential downpour. The spitting storms continued to overwhelm the park.

So much money was vested in erecting opulence, now facing risks of bankruptcy. The shimmering coffins covered in blooms were now drenched in excrement. So they built a tall brick wall to separate the playground from the graveyard. They also commissioned a vast army of professional cleaners to clean the tombs and gardens. The workers were covered from head to toe in protective gear, vigilantly working into the night. They were scrubbing in the sun, in the rain, in the prolonged cold nights. The Park of the dead was the epitome of a graveyard. Its original poetic beauty was now in a layer of noxious zombie saliva was devastating. The saliva formed dripping trails, oozed, the tombstones rotted, and the green grass and the white flowers fell into decay. The rats from the necropolis drawn to the smell scrambled over the top of each other, scratched, and gnawed at the freshly buried flesh, and bones, and the stench had spread to tens of thousands of miles outside the boundary of the once opulent cemetery.

[January 2019]

_____

Trong thành phố vừa mọc lên một Công viên người chết bên cạnh Nghĩa trang xác sống. Nghĩa trang và công viên ngăn cách nhau bằng một con đường nhỏ. Những kiến trúc sư giỏi nhất trong thiên hạ được triệu về xây dựng công viên. Vô vàn cây xanh hoa lạ trái quý trong thiên hạ được đem về trồng tỉa, đắp điếm. Cả những cổ thụ rừng sâu, cả những tảng đá quý nơi núi xa đều được chuyển tới. Hoa nở và chim hót và nước chảy róc rách. Công viên đẹp như một bài thơ!

Bên kia con đường là nghĩa trang. Nơi những xác sống vật vờ tựa bóng ma hời xuôi ngược. Chỉ vài bước chân mà cảnh vật trái ngược, điêu tàn, bụi bặm. Lũ xác sống dắt díu nhau đi trên những con đường bùn ngập ống chân. Họ chào hỏi nhau bằng lời nói phát ra sau tầm màn khẩu trang che kín hết mặt. Bàn tay gầy vẫy nhau trong gió rét điêu linh…

Phía bên nghĩa trang thê lương bao nhiêu thì ngược lại, phía bên công viên lại nhộn nhịp trù phú bấy nhiêu. Những dàn nhạc với đủ các loại nhạc cụ và nhạc công diêm dúa ngày đêm hòa tấu không ngừng nghỉ. Mùi hương trầm lẫn với mùi hoa ngọc lan và mùi trái chín, lan tỏa ngọt ngào suốt ngày đêm…

Xin được nhắc lại lần nữa: Công viên dành cho người chết, còn Nghĩa trang dành cho xác sống!

Suốt dọc con đường ngăn cách hai bên, đội canh gác túc trực bốn mùa không nghỉ. Họ đứng quay lưng về phía Công viên và chĩa súng tuốt lưỡi lê về phía bãi tha ma. Từ bên nghĩa địa, thỉnh thoảng có những xác sống bị tà ma hiển nhập, ngửi thấy mùi nhang trầm và hương hoa thơm ngát phía bên kia đường, bèn nổi cơn khùng điên lao qua giới tuyến hòng thoát thân khỏi bầu khí quyển bụi bặm, đến với thế giới minh hồ lồng lộng. Dĩ nhiên là không bóng ma nào thoát được! Lưỡi lê sáng quắc đang chờ, chỉ cần họ lao tới là cắm phập vào xương cốt, xuyên thấu tận lưng, giãy đành đạch bên đường. Xác sau đó được dọn sạch, đổ về bên phía nghĩa địa, như chưa hề có cuộc tẩu thoát nào vừa mới xảy ra.

Công viên người chết hầu như ngày nào cũng diễn ra tang lễ rình rang. Mới hôm qua, một đám ma to vừa được cử hành. Người chết là một gã đồ tể bị một gã đồ tể khác làm thịt. Nghe người đời kể lại, xác không còn nguyên vẹn, thậm chí bị băm ra nhiều khúc vì ân oán quá thâm sâu. Suốt con đường di quan, hoa và giấy bạc vứt trắng trời như mưa tuyết. Đám tang của một gã đồ tể bị một gã đồ tể phanh thây, dĩ nhiên là ngoài người thân thích họ hàng, sẽ còn rất nhiều tay chân của cả hai phe tham dự. Họ cúi mặt hoặc ngẩng mặt đi trong đoàn người đưa đám, tay vẫn lăm lăm giữ lấy thắt lưng, nơi có con dao mổ cất sẵn. Hương trầm thơm ngát suốt quãng đường dài. Lũ xác sống bên phía bãi tha ma hít hà khói hương đầy những lồng ngực lép. Những hố mắt sâu đen thăm thẳm ngẩn ngơ trông vời mơ áo giấy mùa xuân…

Ngày hôm nay cùng một lúc đưa đám bốn người. Bốn người trong một gia đình, chết chưa rõ nguyên nhân. Dù sao, nghĩa tử là nghĩa tận. Bốn đám tang nhập lại thành một đám tang to gấp bốn lần. Cờ phướn rợp trời như bướm lượn sang xuân, nhạc véo von tiễn các vong về nơi an nghỉ. Bọn xác sống ở phía bên kia đường lại ra đứng hóng, hít hà khói nhang, thổn thức thèm thuồng. Đói và rét làm cho những bộ hài cốt gầy xọm đi, trông thảm hại vô cùng. Con đường ngăn cách ngày càng được mở rộng ra, đội canh gác cũng được tăng cường nhiều hơn, súng ống lạnh lùng, lưỡi lê sáng quắc. Không còn cách nào để bước qua ranh giới ấy, lũ xác sống đứng bên này than khóc và thi nhau nhổ nước bọt qua phía bên kia. Bạn biết rồi đấy, nước bọt là vũ khí cuối cùng của những ai không còn vũ khí. Khi bị bầu khí quyển u ám tối đen vây bủa, lũ xác sống trở nên hung dữ, vậy nên, lượng nước bọt nhỏ về phía bên kia ngày càng nhiều, tương đương một dòng sông! Bọn lính canh dù hung hãn và tàn ác đến đâu cũng không thể giết hết bầy xác sống đông đúc bầy đàn ô hợp, càng không thể ngăn hàng triệu bãi nước bọt bắn lên trời, không khác những trận mưa. Dòng sông nước bọt vẫn mỗi đêm mỗi ngày chảy qua phía công viên…

Bao nhiêu tiền của được bỏ ra để xây đắp nên Công viên lộng lẫy, bây giờ, đang đứng trước nguy cơ phá sản. Những cỗ quan tài bằng pha lê nằm giữa những khóm hoa khoe sắc bây giờ được tẩm ướp thêm một lớp nước bọt nhầy nhụa. Người ta dựng thêm một bức tường cao dày dọc con đường để ngăn cách Công iên với bãi tha ma. Nhưng làm sao mà ngăn được nước bọt nhổ ra từ mồm của những bóng ma? Người ta cử nguyên một đội quân đông đảo đến hàng vạn người, chuyên làm công việc dọn dẹp lau chùi mộ địa. Họ mặc đồ bảo hộ bịt kín, cặm cụi làm việc bất kể ngày đêm. Và rồi, nhìn từ xa, Công viên bây giờ lại tràn ngập những hình nhân cắm cúi đi lại lau chùi trong nắng, trong mưa, trong cả những đêm dài giá lạnh. Bây giờ thì, Công Viên Người Chết ấy lại nhìn hao hao giống bãi tha ma, thậm chí, tệ hơn, vì những bài trí đẹp đẽ nên thơ ấy lại bị phủ một lớp dày nước bọt tanh tưởi. Nước bọt chảy thành dòng, phá lở những nấm mồ cỏ xanh hoa trắng, làm lở loét những cỗ quan tài, để rồi bầy chuột từ bên phía bãi tha ma tràn qua đục khoét, moi thịt, gặm xương, mùi hôi tanh lan rộng ra hàng vạn dặm…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Not my words, but | Nguyễn Văn Thiện

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 
Art: Đinh Trường Chinh

Often I would use someone else’s words, as though through my lips, they speak. “Hey old man, they’re going to find you, that grey head of yours, you get me? Do you understand me at all, you’re only seventy-something, still young, very young actually!”. Certainly, if I was myself, I would apply a more appropriate tone, seventy years old are entitled to more respect, but… I was watching TV one day, and I found myself shouting at the screen: “You bastard, this prison cell is tiny, not even enough water to flush the toilet”. Such occurrences became more and more frequent, so often that people thought I was mad, they thought I had lost my mind. I was fully aware of my actions, evident by the fact that I did not miss a day at work, my productivity and wage matched those of my peers. I’m adamant that those around me also use my lips to voice what they want to say before moving on. Like early today, I blurted angrily: “If you guys weren’t so greedy in the first place, you wouldn’t have ended up in such a hell hole. Hey, you and your mangy beard, get off my feet, get out!”.

Often someone would use my lips to speak. They were always very sure of themselves. My friends after a while distanced themselves from me, after a while I was completely cut off. At the heat of the moment one tends to be oblivious of one’s surroundings, not bothered about the consequences may it be good or bad. I would do this often, blurt out something totally irrelevant, pluck out of the air, it was mind boggling and incomprehensible. “Why would you bother chopping off their head, just shoot them, but in my humble opinion, best poison them, it leaves no mark, less problems when the family comes to collect the body”. After the random remark I swallowed a good gulp of beer, and without much thought wiped off the foam at the corner of my mouth, staring at the plate of condiments, tentatively listening to a colleague go on and on about some recent commotion, someone was convicted, some national default. He turned his head towards me and asked: “Who, what did you just say? What lethal injection? For whom?”. I dismissed his query with: “They all deserve the lethal injection, I’m totally in favour of the death penalty”. My colleague encouraged me. Yes, they all should get a death sentence… Cheers to that!

Just when I feel rather pleased with myself having to save myself from a possible altercation, someone would turn up. My lips began to itch, boldly from my mouth: “If anyone asks, just tell them I’m over at Mr. Chanh’s place! Don’t forget to give the cat water”. Mid a sip of beer, my colleague slowly put his mug down, looked at me sadly, shook his head. He was the last friend who stood by me. All good, I don’t have to worry about what I say anymore, including what was incomprehensible to me.

No longer participating in any kind of social gathering, I am often alone looking out at the mead. Completely speechless, wordless, unless another person was nearby, and it is their words that would come out of my mouth. I had in submission surrendered my lips to the people around me, while I sat and waited, to see who would be the next person. Who will pass by with talk of nothing void of a beginning nor an end? I was on full alert, as though I was waiting to catch a burglar red handed. And of course without warning, a stranger said: “Demons meet up there on the third floor, right next to the writer’s headquarters”.

As time went by, I slipped further and further into a state of incomprehensible confusion, but I was more and more curious about what the next person was going to say, and what would soon slip from my lips. Clearly, those who have been hiding in some dark void now and then would speak up, their words louder, more eloquent. There were words, phrases, I had never come across, nor had ever voiced. So as it turns out, the words of this world have invariably changed much and are totally unpredictable. 

Active listening allowed me to work out the fact that there were about three or four people who had borrowed my voice more than the rest of them. Amongst them, there was this very old guy, a person from an era at the beginning of the last century. A voice of authority, giving his orders in a sharp and direct manner: “Drag him out, whip him ten times, throw him out of our enclave!”. Just like that, he stopped talking, my mouth was agape, remained open, I would sit there totally dumbfounded and confused. The afternoon sun lit up the very pit of my throat, burning the back of my tonsils. I closed my mouth, and, as though something that had just happened while I was fast asleep, my lips puckered up, meowed like a tom cat: Meow, meow.

Now my mouth is like a deep abandoned well covered with green moss. From within this pit, the rippling echoing voices of strangers or the odd cat or maybe a frog. The bottom of the well may be directly connected to an underworld at the centre of the earth, to the past, to some eerie ghostly sombre place. And of course, I got on with my life, I ate, slept and worked hard, a model citizen. I am intelligent, brave and industrious. I’m healthy, I’m never sick, except for my god forsaken mouth.

Often someone would use my lips to say…

January 2021

Chơi trò mượn miệng

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thiện

Thỉnh thoảng, tôi vẫn nói bằng giọng nói của người khác, như là tha nhân đang nói, bằng miệng của tôi. “Này gã đầu bạc, chúng nó sẽ tìm đến nhà cậu và giết cậu, hiểu không? Cậu không hiểu chứ gì, vì cậu mới ngoài bảy mươi, trẻ lắm, trẻ lắm!”. Đương nhiên, nếu thật là tôi đang nói tiếng nói của tôi, thì cách xưng hô với một người ngoài bảy mươi là phải thưa gửi lễ phép, đằng này… Có hôm, đang nằm xem tivi, miệng tôi nói: “Chó ghẻ, cái phòng giam này chật chội quá đi, lại không đủ nước để dội bồn cầu”. Tình trạng ấy ngày càng xuất hiện liên tục, mọi lúc mọi nơi khiến những người xung quanh nghĩ tôi lẩn thẩn, đãng trí, tâm thần. Tôi biết rằng mình vẫn hoàn toàn tỉnh táo, bằng chứng là vẫn làm việc không sót ngày nào, năng suất không thua kém ai và nhận lương ngang bằng các đồng nghiệp. Tôi chắc chắn có ai đó thỉnh thoảng đi lướt qua, mượn cái miệng của tôi nói vài câu rồi lại đi tiếp. Sáng nay, miệng tôi nói: “Nếu tụi mày đừng tham thì bây giờ lại không phải quây quần nơi địa ngục tối tăm này. Thằng râu dài kia, đừng ngồi lên chân tao, đau bỏ mẹ đi được!”.

Thỉnh thoảng, có ai đó mượn miệng tôi để phát ngôn. Chắc chắn thế. Bạn bè đã hoàn toàn xa lánh, vì nhiều khi trong lúc họ đang cao hứng chuyện trò giãi bày tâm sự, họ đang chờ đợi sự đồng tình hưởng ứng hay phản đối của người nghe, thì tôi lại buột miệng nói một câu không hề liên quan, xa xăm tận đẩu tận đâu, khó hiểu đến não nề. “Tại sao phải chém, bắn cũng được, nhưng theo ý kiến của tại hạ, thì nên cho uống thuốc độc, khâm liệm tử thi sẽ dễ hơn, mà gia đình cũng đỡ đau xót khi nhập quan”. Nói xong, điềm nhiên nâng ly bia lên uống, rồi đưa tay quệt bọt bia dính trên mép, mắt nhìn vào đĩa mồi, lắng tai nghe anh bạn đang huyên thuyên về các đại án gần đây và khả năng quốc gia vỡ nợ. Anh bạn quay sang hỏi tôi: “Mày vừa nói cái gì? Ai? Tiêm thuốc độc ai?”. Tôi nói chữa: “Ai cũng nên tiêm thuốc độc, tôi ủng hộ thay đổi hình thức tử hình”. Bạn tôi tiếp lời, đúng ra là phải tử hình tất cả bọn chúng…Cụng ly cái nào!

Đúng lúc tôi cảm thấy vui vui vì chữa cháy được một tình huống tế nhị thì kẻ nào đó lại vừa ngang qua miệng. Tôi mấp máy môi, nói dõng dạc: “Nếu có ai hỏi thăm thì cứ nói ta đang qua chơi bên nhà cụ chánh, nghe chưa! Tí nữa nhớ cho con mèo uống nước”. Anh bạn từ từ hạ ly bia uống dở xuống, nhìn tôi, lắc đầu buồn bã. Đó là người bạn cuối cùng rời bỏ tôi. Thôi được rồi, như vậy cũng tốt, đỡ phải lo lắng hoang mang khi miệng mình nói những điều chính mình không hiểu nổi.

Không còn sa đà vào những cuộc gặp gỡ đãi bôi, tôi thường ngồi một mình nhìn ra thảo nguyên trước mặt. Tôi hoàn toàn tịnh khẩu, nghĩa là tôi không phát ngôn gì nữa, nếu miệng tôi có nói gì thì hoàn toàn là lời của người khác đi qua kẽ răng, qua môi trên môi dưới mà thôi. Tôi nhường hẳn miệng mình cho người khác nói, còn mình thì ngồi rình, xem thử, người đó là ai. Ai mà thỉnh thoảng đi qua nói những chuyện đâu đâu, những lời không đầu không cuối? Tôi rình, như chủ nhà rình kẻ trộm. Và rồi, đột ngột không báo trước, người lạ nói: “Trên tầng ba có một lũ ma quỷ thường xuyên tụ tập, bên cạnh đó là trụ sở nơi các nhà văn ẩn náu”.

Tôi càng ngày càng chìm vào trạng thái mơ hồ khó hiểu, càng ngày càng thích thú rõ rệt khi được nghe người khác phát ngôn bằng miệng của mình. Rõ ràng, với những kẻ ẩn danh ẩn nấp trong sâu thẳm và thỉnh thoảng cất lên tiếng nói, thì vốn chữ nghĩa được tăng lên rõ rệt. Có những chữ, những câu, tôi chưa bao giờ dùng đến, chưa bao giờ biết nói. Hóa ra, chữ nghĩa trong nhân gian biến ảo khôn lường…

Tôi lắng nghe và ước lượng có chừng ba hay bốn người gì đó thường xuyên đi qua, thường xuyên mượn mồm tôi để nhả chữ. Trong số đó, có một kẻ già thật già, hoặc là người của phần đầu thế kỷ trước. Đó là một giọng nói uy quyền, thường xuyên ra lệnh cho người khác bằng chất giọng rất đanh: “Lôi nó ra, đánh mười roi, rồi đuổi ra khỏi phủ!”. Nói xong chừng đó, cũng vừa nghe xong chừng đó, tôi há hốc mồm, ngồi đờ đẫn. Nắng chiều xiên khoai chiếu vào tận trong cùng vòm họng, rát buốt. Tôi bèn ngậm miệng lại, và, như một hành vi diễn ra trong vô thức, tôi nhọn môi lại kêu bằng tiếng của một chú mèo đực: Meo, meo…

Miệng tôi bây giờ như cái giếng hoang hun hút cỏ phủ rêu phong. Từ dưới đó thỉnh thoảng vọng lên tiếng người xa lạ hoặc tiếng mèo kêu hoặc ếch nhái râm ran. Không chừng đáy giếng hoang ấy lại nối liền cõi âm trong lòng đất, trong quá khứ, trong thế giới ma quái âm u nào đó. Dĩ nhiên, tôi vẫn phải ăn ngủ và làm việc cật lực như một công dân mẫu mực của xứ sở cần cù thông minh và gan dạ này. Tôi không hề bị bệnh gì hết, ngoại trừ cái miệng bỏ hoang, vậy thôi.

Thỉnh thoảng, lại có ai đó mượn miệng tôi để giãi bày…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.