HAIR & HORN | Nguyễn Viện [chapter ONE]

Ngọc, Trâm và Viện. Ảnh Hân Lê chụp.

A novel in Vietnamese by Nguyễn Viện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Lời giới thiệu: Sự tò mò của tôi thường đưa tôi đến những nơi tôi chưa bao giờ có ý định đến. Những cảm giác hỗn loạn sợ hãi rất vui rồi lại nhàm chán.

Đi chơi hay chơi với chữ đối với tôi không khác gì. Nhưng chữ đưa tôi đi nhiều nơi không cần phải check-in check-out mệt mỏi nhọc nhành chào đón.

– Em mai mốt đi uống cà phê với anh.

– Em không thích nhiều người.

– Ừ thì, thì đi uống cà phê với một mình anh.

– Okê anh.

Dễ ẹc ha.

Anh không uống một giọt cồn, cả buổi tối anh sai các em hầu bia cho tôi uống thay cơm. Khi tôi bắt đầu héo như hoa anh nói mình về đi em. Ừ, để em đưa anh về.

Dễ ẹc ha.

Không một lần hỏi tại sao vì ai làm gì đi đâu với ai.

Dễ ẹc vậy mà ít người làm được ngoài những câu hỏi quan tâm lạc lõng không liên quan gì đến một người lạ lạc trên quê hương.

Tôi say nhưng tôi vẫn bình tĩnh. Tôi nhớ từng cặp mắt.

Cuối năm con rắn với những bài thơ của cậu Lý Đợi. Đọc xong vài tác phẩm của cậu tôi thấy cậu ấy cũng “hơi” du côn như tôi. Tôi thấy vui. Văn Chương vui. Viết tiếng việt rất vui. Càng ngày càng viết bớt sai chính tả dù là anh hay việt. Nên quyết định học tiếp thành một quyết định dễ ẹc.

Sang năm của con ngựa tôi muốn dịch một cuốn tiểu thuyết thứ hai. Một cách tập chung hay hơn là dịch thơ rải rác mỗi ngày. Và có thể vài năm nữa tôi sẽ trở lại dịch hết truyện kiều của anh Nguyễn Du. Nhưng năm binh ngọ mỗi ngày tôi sẽ dịch một khúc tiểu thuyết của anh Nguyễn Viện cho vui nha.

Cheers,

Nguyễn Thị Phương Trâm

#vanhocngoaibien#literaturebeyond#nguyenthiphuongtram#nguyenvien


Khi ấy, một cọng lông nách của gã nông dân mù chữ thuộc làng Mơ, xứ Mận… đã bị bứt ra khỏi nơi u tối bởi một số phận đã được tiền định. Giờ Ngọ, ngày Dậu, tháng Thân, năm Tuất… theo lịch phương Đông, gã nông dân săm soi cọng lông loăn xoăn đột nhiên ngứa ngáy và nổi đỏ ấy, đưa lên miệng thổi… Cọng lông bay vào bầu trời. Gã nói: “Hãy mang cơn ngứa của tao đi khắp thế gian.”

Theo cơn gió, cọng lông phất phơ giạt vào khe cửa nhà một ông thày đồ. Ở đó, sớm tối được nghe lời thánh hiền, thấm đẫm tứ thư ngũ kinh và truyền thống dân tộc, lông biến thành sừng. Cái sừng trâu lừng lững trên vách mà ông thày đồ cũng không nhớ có từ khi nào. Cũng trong năm ấy, thiếp của ông thày đồ hạ sinh một bé trai. Ngay khi sinh ra, thằng bé đã phô trương một con cu to khác thường. Cứng và đỏ chói lọi.

Thấu cảm được sự bí ẩn trong giấc mơ thành sừng của một cọng lông, ông thày đồ đặt tên cho con là Mao Thành Giác. Mặc dù, gia phả nhà ông vốn họ Nguyễn.

Tuy là con trong gia đình thày đồ, Mao Thành Giác vẫn phải đi chăn trâu như những đứa trẻ khác trong thôn làng. Giấc mơ thành sừng của nó càng ngày càng mãnh liệt. Bọn trẻ con thích Mao Thành Giác vì nó hiện thân cho niềm vui, sự nghịch ngợm và những ước mơ bay bổng. Nó bày đủ thứ trò tinh quái từ đánh nhau đến nhìn trộm phụ nữ tắm sông, thay quần áo. Khi mới mười hai tuổi, nó đã biết mùi háng phụ nữ và làm thủ lĩnh của đám trẻ con trong làng.

Mao Thành Giác hỏi bọn nhóc: “Tụi mày biết háng con gái có mùi gì không?” Bọn trẻ con đần cái mặt ngu ngơ, chúng chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy. “Mày ngửi rồi hả?” Nó khệnh khạng: “Tao biết những điều chúng mày không thể biết.” “Làm sao mày biết được?” “Thằng nào muốn nghe thì hãy ngồi xuống.” Vài đứa vẫn đứng. Nó ra uy: “Đứa nào không muốn nghe thì đi chỗ khác.” Tất cả bọn nhóc đều ngồi xuống. “Nghe này, tao chỉ cần làm bộ vấp ngã… rồi ôm mông cô gái mà tao muốn ngửi là xong thôi.”

Mao Thành Giác lại hỏi: “Tụi mày muốn trưa nay no nê không?” Bọn nhóc khoái chí: “Muốn… muốn…”

“Theo tao.”

Nó nhìn thấy một con trâu từ phía xa. Cả bọn kéo tới, dắt con trâu về vũng nước làng mình rồi vu vạ cho thằng chăn trâu khốn khổ kia: “Mày cho trâu tắm vũng nước nhà tao, muốn chuộc thì để phần ăn của mày lại đây.”

Bắt người khác phải khuất phục là bản lĩnh và bản chất của Mao Thành Giác.

Đôi khi hứng chí, nó bộc lộ khí phách lãnh tụ nhân dân bằng cách bắt bọn nhóc công kênh như rước vua. Nó cũng thích sai một đứa nào đó bò xuống đất làm bệ đỡ để nó đạp lưng leo lên cưỡi trâu. Không đứa nào dám trái ý nó.

Có một thằng nhóc lúc nào cũng lẽo đẽo theo Mao Thành Giác chỉ để muốn biết về cái mãi mãi bí ẩn: “Háng con gái có mùi gì?” Nó bảo: “Không tả được. Nếu mày muốn biết thì tìm cách mà ngửi.” Thằng nhóc tò mò ấy sau nhiều lần bị tát sưng mặt cũng biết được háng con gái mùi gì, nó bảo: “Khai bỏ mẹ.” Đó là háng của con bé chăn vịt ngoài rìa làng. Nhưng cũng không mất nhiều thời gian, thằng nhóc được mở mang kiến thức, rằng háng phụ nữ không chỉ có mùi khai mà còn “hấp dẫn vô cùng tận”, khi nó theo đuổi con bé đẹp nhất làng mà Mao Thành Giác đã ngửi mùi trước. Khi về già, thằng nhóc này trở thành bạn tâm phúc chuyên dẫn gái cho Mao Thành Giác giải sầu.

Không có điều gì muốn mà Mao Thành Giác không làm được. Vào năm mười lăm tuổi, nó đã biết giá trị thực sự của cái sừng trong háng nó. Tất cả các bà goá trong làng đều có thể chứng thực điều này. Họ bảo: “Chưa từng có một gã đàn ông con trai nào lẫm liệt đến thế.” Một bà táo bạo kể: “Nó giống như ống sắt nung.” Một bà khác nói: “Của ngựa chứ không phải người.” Nhưng chinh phục phụ nữ không phải là niềm vui duy nhất của Mao Thành Giác, trong tận cùng nỗi khao khát thành sừng, nó muốn cả đàn ông cũng phải quì dưới chân nó. Ông thày đồ nhìn thấy ngọn lửa nhảy múa trong tâm can cậu con, vì thế, ông càng ra sức kìm kẹp Mao Thành Giác theo khuôn phép đạo nghĩa thánh hiền và truyền thống. Nhưng ngọn lửa cuồng vọng bất trị ấy đã đốt cháy tất cả các đấng thánh và chính bản thân nó.

Khi gia đình và ngôi làng trở nên quá bé nhỏ, chật hẹp với giấc mơ hùng dũng sang trọng của nó, Mao Thành Giác quyết định bỏ nhà đi. Năm ấy, nó mười bảy tuổi.

Vào thành phố, Mao Thành Giác xin được chân phụ bếp một quán nhậu để sống qua ngày. Thành phố dạy hắn hút thuốc, uống rượu, chơi gái. Song thành phố cũng dập vùi hắn trong thân phận người làm thuê. Hắn đi từ nhà hàng này đến quán ăn nọ với mọi nỗi đắng cay của bất công. Nhưng không bao giờ hắn cho phép mình tủi nhục. Cũng chính ở nơi bị bóc lột và dập vùi ấy, một Mao Thành Giác khác đã hình thành như ma đưa lối, quỉ đưa đường. Hắn muốn vươn lên làm người nấu ăn cho cả thế giới như một người yêu nghề, chân chính. Nhưng trước khi có thể trở thành người phục vụ vĩ đại, hắn đã trải qua một cuộc trường chinh vô tiền khoáng hậu từ xó bếp các con tàu lênh đênh trên đại dương đến các loại bếp của mọi kiểu nhà hàng trên khắp các lục địa.

Năm hai mươi tuổi, Mao Thành Giác đã nắm được các yếu tính âm dương của từng loại thực phẩm cũng như làm chủ được mọi gia vị. Ông khách ở nhà hàng Mộng Xanh mà hắn được biết vốn là nhà văn, nhưng lại nổi tiếng bằng những bài báo hoa mỹ về các món ăn, từ dân dã đến sang trọng. Một người biết tuốt của giới văn chương chữ nghĩa An Nam.

Ông ta khen hắn về món giò heo giả cầy: “Cậu thật công bằng.”

Hắn ngạc nhiên, lễ phép: “Thế là sao ạ?”

Ông nhà văn tợp một ngụm rượu trắng, thong thả nói: “Vì cậu vẫn giữ được phẩm giá cho heo trong khi tôn vinh mùi vị của con cầy.”

Hắn hỏi lại: “Ông quan tâm đến sự công bằng?”

Ông nhà văn không kém ngạc nhiên như hắn. Ông không giấu tò mò nhìn hắn từ chân lên đầu: “Ờ… mà cậu cũng quan tâm đến sự công bằng sao?”

Hắn nhũn nhặn: “Tôi là người nấu ăn, tôi không muốn để bất cứ một thực phẩm hay gia vị nào mất chỗ đứng của nó trên lưỡi người ăn.”

Ông nhà văn đứng lên: “Tôi mời cậu một ly được chứ?”

Hắn chần chừ rồi thưa: “Dạ… nhưng chỉ một ly thôi ạ.”

Hắn nói “xin phép” rồi bước vào trong cầm ra một cái ly nhỏ tương tự như ly của ông nhà văn đang uống.

Ông nhà văn: “Xin mời.”

Hắn cúi đầu cảm tạ rồi ngửa mặt uống cạn một hơi.

“Cám ơn.” Hắn nói. “Tôi xin phép được về chỗ của mình.”

Ông nhà văn lại nhìn hắn từ đầu xuống chân như một loại động vật quí hiếm: “Cậu có lúc nào rảnh không?”

“Dạ không.” Quả thực, không rảnh. Từ sáng sớm hắn đã phải đích thân theo bà chủ đi chợ để chọn mua thực phẩm. Và tới khi đêm tàn, quán hết khách, hắn mới được nghỉ.

Ông nhà văn tần ngần, tiếc rẻ: “Tôi muốn có dịp được mời cậu một bữa riêng tư.”

Dè dặt im lặng… rồi xin phép lui, hắn cảm thấy ông nhà văn cũng không bình thường.

“Công bằng” là một từ nhạy cảm.

Lần thứ hai Mao Thành Giác gặp ông nhà văn ở sạp báo. Khi ấy, hắn bị đuổi việc vì bà chủ đã học lỏm được nghề của hắn.

Ông nhà văn mừng rỡ: “Hôm nay cậu rảnh à?”

“Dạ… chắc là còn rảnh nhiều ngày nữa.”

“Vậy thì đi với tôi.” Ông nhà văn nói.

Hắn lẳng lặng theo ông vào một quán cà-phê.

Ông nhà văn hỏi: “Có chuyện gì nói cho tôi nghe.”

Hắn nói: “Chỉ là tôi bị mất việc, thế thôi.”

“Bây giờ cậu sẽ đi đâu?”

“Tôi cũng chưa biết. Nhưng có lẽ tôi sẽ đi học. Tôi muốn nói được tiếng Pháp.”

Ông nhà văn gật gù: “Hay đấy. Nhưng cậu học tiếng Pháp để làm gì?”

Trong thâm tâm, hắn muốn đi đây, đi đó… và nấu được mọi món ăn của các dân tộc. Nhưng hắn lại tỏ bày một điều mà chưa bao giờ hắn nghĩ đến: “Tôi muốn học để đi làm cho nhà nước.”

Ông nhà văn cười cười: “Nếu vậy, cậu nên tìm cách xin vào trường Thuộc Địa.”

Hắn cũng cười cười: “Vâng, nhưng tôi cần phải giỏi tiếng Pháp cái đã. Ông biết đấy, tôi không có tiền. Ông dạy tôi được không?”

Ông nhà văn nói: “Tiếng Pháp của tôi không đủ để dạy cho bất cứ ai. Tốt nhất là cậu nên xin việc ở một nhà hàng Pháp hay một con tàu Pháp. Việc tiếp xúc trực tiếp sẽ giúp cậu học hỏi nhanh hơn. Vả lại còn có cái để sống.”

Mặt Mao Thành Giác sáng rỡ. Chân trời đã mở ra.

Ngay hôm sau, Mao Thành Giác ra bến tàu tìm gặp những thuỷ thủ mà hắn biết mặt đã từng đến ăn tại các nhà hàng nơi hắn làm việc. Hắn nhờ họ giới thiệu một chân phụ bếp. Một tuần sau, hắn đã có mặt trên con tàu ATF của Pháp đi Marseille.

Trên tàu, Mao Thành Giác học được cách chế biến các món ăn đơn giản của Pháp. Đôi khi để thay đổi khẩu vị, hắn cũng trổ tài nấu món mì An Nam. Các thuỷ thủ thích hắn vì hắn rất An Nam. Hắn tự hào: “Mình phải thế nào người ta mới quí mình chứ”. Cái thế nào của hắn là luôn luôn giả lả để làm vui lòng mọi người, như thể người khác không vui là do lỗi của hắn. Mấy gã người gốc Châu Phi thường nói với hắn về thân phận của người dân thuộc địa và nghèo đói. Họ cũng thì thầm với nhau về cuộc cách mạng vô sản ở Nga. Mao Thành Giác chưa có khái niệm gì về các vấn đề chính trị, nhưng hắn thích những câu chuyện về cuộc đời Vladimir Ilyich Lenin và cách ông ta cướp chính quyền từ Nga hoàng. Mao Thành Giác nhìn thấy thời cuộc.

Hơn một tháng sau, tàu ATF cập cảng Le Havre. Nước Pháp làm Mao Thành Giác mờ mắt. Hắn xuống tàu và không bao giờ trở lại. Lần mò đến Paris, hắn tìm được vài người đồng hương. Họ giúp hắn kiếm tiền bằng cách đi giao báo. Họ cũng dạy hắn tiếng Pháp hoàn chỉnh và dạy cách hắn viết báo để kiếm thêm tiền. Đấy là lúc Mao Thành Giác khát khao nhất được nhận vào trường Thuộc Địa, nhưng đơn xin đặc cách của Mao Thành Giác gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa không được chấp nhận, mặc dù hắn đã thành khẩn “Tôi nguyện làm tôi tớ trung thành của mẫu quốc vĩ đại.”

Một trong những người sáng lập tờ báo Những Kẻ Khốn Cùng, cơ quan ngôn luận tranh đấu cho độc lập của các nước thuộc địa, chia sẻ với Mao Thành Giác: “Việc trước tiên và cũng khó khăn nhất là khai dân trí. Sự hiểu biết là chìa khoá cho sự giải phóng bản thân và là nền tảng cho sự tiến bộ. Do đó, chính cậu cần phải học, học, học mãi…” Mao Thành Giác chẳng những biết thế, mà hắn còn biết hơn, chính sự ngu muội của đám đông mới là tiền đề cho mọi lực lượng cách mạng.

Không vì oán giận nước Pháp không cho hắn cơ hội phục vụ, Mao Thành Giác tìm cách đến với xứ sở của Lenin huyền thoại để biết sự ngu muội được dẫn dắt như thế nào. Vào Nga bằng cách đi qua nước Đức, hắn đến Matxcơva và xin được vào trường Đại học Cộng sản Phương Đông qua sự giới thiệu của Đảng Cộng sản Pháp. Nhưng chỉ hơn một năm sau, Giác bỏ học vì ngộ ra nước Nga và cuộc cách mạng vô sản không phải là chỗ của hắn. Mao Thành Giác muốn sướng. Hắn truy tìm cái sướng, nhưng ở nước Nga Xô Viết, một mặt cái sướng bị kết án như một thứ đáng khinh bỉ của chủ nghĩa cá nhân, mặt khác cái sướng toàn thể lại chỉ là bánh vẽ của những giáo điều. Hắn nhìn ra chủ nghĩa xã hội là một nghịch lý không lối thoát. Chế độ Cộng sản đồng nghĩa với đói khổ, sợ hãi và chuồng trại. Tuy nhiên, chủ nghĩa Cộng sản đã cho Mao Thành Giác một bài học lớn, vật chất quyết định cuộc sống con người cũng như xã hội, và cụ thể hơn, cái bao tử quyết định phẩm cách con người. Điều ấy làm thay đổi cuộc đời hắn.

Các nô lệ ở thế gian đã vùng lên, nhưng bao nhiêu lợi quyền không qua tay mình như lời bài hát Quốc Tế Ca, mà các nô lệ tiếp tục là nô lệ một cách triệt để hơn, toàn diện hơn cho một ý hệ và thế lực mới. Mao Thành Giác ớn lạnh sống lưng đào thoát khỏi giấc mơ đại đồng, làm cuộc cách mạng bản thân. Quay lại Paris, hắn tiếp tục con đường định mệnh, trở thành một đầu bếp chuyên nghiệp.

Nhắm mắt hay mở mắt, Mao Thành Giác lúc nào cũng lao đi như mũi tên. Hắn tìm được chỗ trú chân trong một nhà hàng thuộc loại khá ở khu trung tâm Paris, âm mưu lật đổ mọi thứ giáo điều.

Giờ của con người đã đến, Mao Thành Giác phô trương thanh thế cái sừng đỏ chói lọi trong háng. Không thể so sánh vóc dáng với đàn ông Pháp, nhưng bù lại, hắn sở hữu một cái sừng đẳng cấp thế giới, đặc biệt có khả năng co giãn không giới hạn đáp ứng được cho tất cả thể loại hang hốc phụ nữ. Con gái Pháp mê hắn. Đàn bà mọi châu lục đến Paris du lịch cũng mê hắn. Mao Thành Giác được trả tiền để phục vụ một nửa thế giới. Hắn sống trên đỉnh vinh quang của cái sừng. Nhờ thế, lịch sử của một cu-ly thuộc địa đã được viết lại cho xứng đáng với cái sừng ngoại hạng ấy. Mao Thành Giác được tô vẽ như một thành hoàng của làng Mơ, xứ Mận huyền bí… Không một phụ nữ nào ngủ với hắn mà không ra hết nước.

Mao Thành Giác, kẻ trả thù dân tộc vĩ đại nhất mọi thời đại của An Nam nhược tiểu và thuộc địa, niềm an ủi cho mọi nỗi lưu vong và khốn cùng.

Mao Thành Giác, kẻ đáng kính trong số những người đáng kính nhất bởi những món ăn của ông ta mang đến sự viên mãn cho khát vọng hạnh phúc con người.

Những món ăn được chế biến theo công thức riêng của Mao Thành Giác bao giờ cũng lạ miệng và ngon không thể so sánh. Ăn uống với thực đơn của Mao Thành Giác không chỉ là văn hoá nghệ thuật hay sành điệu, mà còn chứng thực một giá trị cốt lõi trong dinh dưỡng, tăng cường sinh lực giới tính cho tất cả nam phụ lão ấu một cách hoàn hảo.

Việt Nam vô địch muôn năm. Tiếng vọng hoan hô ấy còn âm vang đến mấy thế hệ sau.

Mao Thành Giác lừng danh Paris. Người ta truyền tụng: “Chưa ăn món ăn của Giác nấu, chưa phải là người biết sống.” Với phụ nữ, họ bảo: “Chưa biết sừng của Giác, chưa thể gọi là biết đàn ông đích thực.” Mao Thành Giác là kỳ tích văn hoá ẩm thực và tình dục của Paris trong vài thập niên trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Paris tiêu biểu cho nền văn minh phương Tây, nhưng thủ đô ánh sáng ấy không đủ cho cái cuồng hoan bất tận vô thuỷ vô chung của Mao Thành Giác. Ở đấy, nó thiếu một bóng tối của những nỗi niềm hoang sơ cội nguồn sinh thành của cái dục. Vì thế, khi một bạn cũ người Algeria trên con tàu ATF xưa kia rủ hắn về quê hương lập nghiệp, không phải suy nghĩ nhiều, Mao Thành Giác đồng ý ôm hết vốn liếng tích luỹ được bỏ Paris qua Phi Châu huyền bí, mặc dù hắn biết người Hồi giáo không bao giờ là đối tượng của cái nghề nấu ăn như hắn, nhưng sự khắt khe của luật lệ cũng như tấm mạng che mặt của phụ nữ Hồi giáo lại kích thích hắn tột độ. Hắn muốn phá vỡ mọi giới hạn. Hắn tin rằng cái gì càng bị cấm càng dễ bị cám dỗ. Mao Thành Giác mở nhà hàng riêng và đặt tên là Pieds Noirs, trước hết phục vụ kiều dân Pháp và những hậu duệ người Châu Âu trên xứ sở ăn kiêng này.

Khi chưa kịp lật tấm khăn che mặt của bất cứ cô gái Algeria trinh trắng nào, Mao Thành Giác đã bị Malika thông minh, biết và dám phô bày vẻ đẹp của mình, từng bóc tem hơn một ngàn gã trai tơ đủ quốc tịch, tụt quần.

Ma nữ thành Paris hồi hương cố xứ nhập vai cô bé quàng khăn đỏ, hỏi: “Sao cu anh to thế?”

Con sói An Nam bảo: “Nó to vì em.”

Cô gái quàng khăn đỏ Phi Châu lại hỏi: “Sao cu anh cứng thế?”

Con sói An Nam hãnh diện: “À… Nó cứng để em biết thế nào là thần thoại phương Đông.”

Cô gái giả dạng ngây thơ hỏi tiếp: “Sao cu anh chói lọi thế?”

Con sói An Nam tự hào: “Nó chói lọi cho người đời biết bướm em đã có ngày rạng rỡ.”

Ma nữ thành Paris về hưu non cười híp mắt. Hai con mắt như hai con sâu róm. Mao Thành Giác mang đến cho cô một ấn tượng kinh dị.

Thay vì bị ăn thịt, cô bé quàng khăn đỏ Malika háo hức chiêm ngắm cái kỳ quan văn hoá phương Đông, cô mơn trớn hân thưởng nó điệu nghệ bằng đôi môi dày và cái lưỡi mềm của mình. Con sói Mao Thành Giác được dẫn dắt về rừng. Và hắn qui hồi bản nguyên hoang dã.

Linh hồn hắn bị giam giữ vĩnh viễn trong âm hộ rừng rú của thần nữ ma mị này. Cái sừng bò đỏ hung hãn điên loạn đâm vào bóng tối mù mịt và ướt át của một viễn cảnh tối thượng cho sự tồn sinh, mà bốn ngàn năm văn hiến của hắn nhập nhoà vọng tưởng. Mao Thành Giác nhìn thấy Đức Brahma sáng loà trên đỉnh ngọn cương dương sấm sét. Trí huệ mở ra. Từ đấy, ý tưởng đi Ấn Độ luôn thôi thúc trong lòng hắn.

Malika sành sỏi tình dục là em gái của người bạn thuỷ thủ. Cô đủ khôn ngoan để cùng quản lý nhà hàng Pieds Noirs với Mao Thành Giác. Cô cũng có cả một dòng họ phía sau sắp hàng nhờ vả. Vì thế, hầu hết nhân viên của Pieds Noirs là anh chị em nhà Malika. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy sụp của nhà hàng này trước khi nó bén rễ được vào lòng đất khô cằn của Phi châu.

Khi chế độ thuộc địa cáo chung, hầu hết người Pháp trở về quê hương. Đám “chân đen” lai lịch Châu Âu và “bè lũ tay sai” ôm chân đế quốc thực dân cũng chạy theo Pháp, hắn không nghĩ có thể làm ăn được với người Hồi giáo ngoan đạo nên bán tống bán táng nhà hàng tiêu điều của mình di cư qua Ấn Độ.

Nhưng con tàu lênh đênh và góc bếp thân tình với những thuỷ thủ đủ loại màu da lại một lần nữa lôi cuốn hắn. Con tàu chở hàng của Phần Lan đem Mao Thành Giác đến những bến cảng và ngôn ngữ xa lạ. Nhờ thế, Mao Thành Giác học và nói được 52 thứ tiếng. Hắn cũng trải nghiệm được mọi khẩu vị của con người khắp mặt đất.

Nghiệp chướng chồng chất khi tinh trùng của hắn rơi vãi trên những nẻo đường hoang dâm vô độ, để lại nỗi tiếc hận cho phụ nữ được hắn khai mở cùng lúc đóng lại mọi mầm mống phồn thực phiêu bồng. Nhưng cũng chính oan gia nhà hắn lại cứu hắn thoát khỏi những hệ luỵ truyền giống bừa bãi. Tinh trùng hắn loãng như nước gạo.

Hành trình tới Ấn Độ của hắn bị kéo dài đến gần mười năm.

Trước khi tìm một chỗ để kiếm ăn, hắn muốn biết Ấn Độ thực sự là gì? Mao Thành Giác đã nhìn thấy tứ khổ tràn lan trên mặt đất như Phật chiêm nghiệm. Hắn cũng nhìn thấy bát chánh đạo đâu đó qua các hành giả trầm mặc dưới bóng cây như Phật giác ngộ. Hắn cũng tự tâm soi chiếu cõi tịnh tu bất chợt của mình và chỉ thấy sự lừa mị.

Làm thế nào có thể hành động vô cầu khi lòng dục chất ngất mà không bị kẹt giữa thực tại hỗn mang hoặc chết chìm trong ảo vọng? Bài học của Xô Viết Nga trở thành chân lý. Bao tử khoẻ mạnh, tứ chi phát triển và tinh anh phát tiết. Từ xứ sở kiêng thịt heo đến xứ sở kiêng thịt bò… hắn vận dụng tư duy hoá thân của món heo giả cầy An Nam vượt qua ngã chấp. Giao cấu phi giao cấu. Nghiệp phi nghiệp.

Mút mùa mê hoặc với nghệ thuật làm tình phương Đông, Mao Thành Giác chỉ muốn tu tình. Hắn tự hỏi, làm tình có giải thoát được không? Hắn đã từng kiệt sức với châu Phi nồng nàn hoang dã. Giờ đây, hắn muốn thanh thoát với cả vũ trụ nhiệm màu. Kamasutra, chiêu thức của lạc thú trần gian hay phương cách hoá giải tâm thức và đường đi đến cực lạc giải thoát? Liệu có thể ứng dụng Bhakti Yoga với tâm tình thờ phụng và hiến dâng vào Kamasutra để đạt đến hợp nhất trong một bản thể?

Nhưng đã đến lúc bao tử lên tiếng. Một ngôn ngữ thực dụng. Một thực thể thường tại. Phẩm cách và phong thái.

Ấn Độ nghèo đói và viễn tưởng. Khí trời và phương pháp hít thở phải chăng là tiếng gọi của một bao tử trống rỗng? Bể khổ trầm luân đang ở giữa chúng sinh, cũng như ở trong hắn. Không thể trải nghiệm như một tì kheo khất thực tuỳ tâm của bá tánh, bởi khẩu vị của hắn là một thứ thần linh khác, hắn nghiêm ngặt và đòi hỏi sự hoàn hảo. Lần đầu tiên trong đời, Mao Thành Giác lan man nghĩ đến cái gọi là văn hoá ẩm thực, triết lý ăn uống hay Yoga dinh dưỡng. Các tôn giáo đều hướng đến việc ăn chay như một liệu pháp tiết chế lòng dục. Hắn cần phải đi ngược lại và tìm một nền tảng triết học cho sự thực nghiệm tâm linh kết hợp giữa chất lượng dinh dưỡng, Bhakti Yoga và Kamasutra như một lạc thú tuyệt đối của cuộc sống con người.

Mao Thành Giác đi qua các thánh tích Phật giáo và các đền đài lăng tẩm vua chúa từ Ấn Độ đến Nepal để tìm cảm hứng kinh doanh. Hắn nhận ra nền tảng của tâm linh cũng chỉ là tham vọng vật chất. Không có vật chất thì không có Thượng đế.

Cuộc tuần hoàn ăn, ngủ, đụ, ỉa của cuộc sống con người là khởi nguồn và kết thúc một sinh mệnh. Tâm linh chỉ là sự biến thái và kết quả của cuộc tuần hoàn ấy. Vì thế, ăn không chỉ là biện pháp mà còn là cứu cánh cho hạnh phúc.

Mao Thành Giác về bên sông Hằng linh thiêng lập một lữ quán, phục vụ ăn-ngủ-đụ-ỉa cho chúng sinh.

Có kẻ cầm búa đến và nói: “Tôi có một cái búa.”

Hắn từng nghe nói về người này. Cái búa để đóng đinh và nhổ đinh. Hoặc đập vỡ mặt một ai đó như người này vẫn thường làm.

Mao Thành Giác nói: “Tôi cũng có một cái búa. Ngoài ra, tôi còn có cái liềm. Ông biết công dụng của cái liềm chứ?” Vừa nói hắn vừa đưa tay lên ngang cổ cứa như cắt lúa.

Người cầm búa bỏ đi. Rồi trở lại vào hôm sau với nhiều cái búa hơn, ông ta nói: “Mi phải nộp phạt.”

Mao Thành Giác tỏ vẻ ngạc nhiên: “Sao lại phải nộp phạt cho ông?”

Ông ta nói: “Đây là lãnh địa của bọn tao. Mày chưa xin phép…”

Mao Thành Giác cười xởi lởi: “Ồ… vậy thì tốt quá. Người anh em, hãy cho người của ông đến đây. Hãy làm việc cho tôi. Các ông và cả vợ con các ông nữa. Tôi có rất nhiều thứ cho họ. Sữa, mật ong, cà-ri, vải vóc và than củi…”

Người cầm búa và thuộc hạ của ông ta qui phục Mao Thành Giác, kẻ hào phóng ban phát miếng ăn và áo ấm.

Mao Thành Giác dạy cho đàn ông cách phụ bếp nấu ăn và sự trung thành. Hắn cũng dạy cho đàn bà cách phục vụ và làm hài lòng khách hàng. Riêng món đặc sản bò giả nai nổi tiếng của lữ quán Sông Hằng, hắn chỉ truyền nghề cho những kẻ được tuyển chọn đặc biệt sau một nghi thức bí mật.

Không bao lâu, hệ thống lữ quán Sông Hằng của Mao Thành Giác đã có mặt khắp Ấn Độ và các nước Nam Á khác. Với slogan “Thụ hưởng & Giải thoát”, thương hiệu Sông Hằng mang đến cho khách hàng của mình một trải nghiệm trái nghịch nhưng hấp dẫn, vừa tràn đầy hương vị trần gian vừa thoát tục siêu phàm với những món ăn cực ngon mà không đầy bụng. Không thể tìm thấy ở đâu khác.

Thật ra, sự phát triển của hệ thống lữ quán Sông Hằng không phải lúc nào cũng êm xuôi. Mao Thành Giác từng đối diện với muôn vàn khó khăn tưởng như không thể vượt qua nổi, nếu hắn không mang theo bùa hộ mạng luôn đeo trên cổ. Đó là một miếng vải vàng to đúng ba phân vuông, trên đó thêu hình búa liềm màu đỏ và những hoa văn nhỏ máu. Bất cứ ai nhìn thấy tấm bùa này cũng tự nhiên đái ra quần. Nỗi sợ không kiểm soát được. Một bóng ma của nhân loại xuất hiện từ giữa thế kỷ 19 ở Âu Châu. Theo nó hay không theo nó, người ta đều có thể chết vì búa đập vào mặt hoặc lưỡi liềm cắt cổ. Mỗi khi đối diện với nguy cơ thất bại trước một đối thủ sừng sỏ hay một kẻ sách nhiễu khó chịu trong chính quyền, Mao Thành Giác đều sử dụng đến quyền năng của lá bùa này.

Mỗi tháng, Mao Thành Giác đều có các vị khách quý đến thăm:

Cảnh sát khu vực.

Công an kinh tế cấp quận và thành phố.

Công an hình sự cấp quận và thành phố.

Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy.

Nhân viên Phòng tài nguyên môi trường.

Nhân viên thuế vụ.

Nhân viên kiểm soát an toàn thực phẩm.

Nhà báo các loại.

Các ban ngành đoàn thể từ trung ương đến địa phương.

Càng nhiều người đến thăm, càng chứng tỏ mình như thế nào, anh cựu nông dân Mao Thành Giác tự đắc. Hắn sử dụng mặt trái của cuộc sống như thế mạnh của mình và không làm ai phải thất vọng khi ra về. Một ông chủ đích thực, hắn ban phát và gia ân. Những kẻ sách nhiễu, hắn coi như bọn ăn cắp vặt và chấp nhận như một lẽ thường tình ở đời. Nhưng ngay cả với các đối thủ cạnh tranh, trong mọi trường hợp, hắn vẫn là con người hoà bình. Thần chết còn thương lượng được huống chi con người ta, hắn vẫn nói đùa thế. Triết lý hoà bình và phương châm hành động của hắn: “Cuộc sống chỉ là một cuộc thương lượng.” Tuy nhiên, hắn không cho phép ai chiếm thế thượng phong.

Có một nguyên tắc mà Mao Thành Giác buộc mình tuân thủ, không lạm dụng hay quấy nhiễu tình dục nhân viên dưới quyền. Nhưng với cô gái lựu đạn em út của gã cầm búa, hắn đành phá lệ.

Amanat múa hát huyền hoặc. Giọng cô như tiếng vang của núi rừng. Mỗi khi cô nhảy múa, mọi loại dương vật các kiểu đều ngỏng đầu cách mạng. Bọn đàn ông phát điên. Vú cô không lủng lẳng nhưng Mao Thành Giác cảm nhận nó như hai quả lựu đạn đã rút kíp. Mông cô tròn được treo trên cặp giò suông thẳng, khiêu khích như hai quả bom. Amanat thách thức cái chết. May thay, cô vẫn còn trinh trắng. Bên cạnh cô, cái búa của ông anh luôn nhắc nhở những kẻ liều lĩnh. Mao Thành Giác biết lợi hại của cái búa ấy trước khi biết sự nguy hiểm của cô. Nhưng chẳng có điều gì mà hắn không thương lượng được. Vượt qua mọi lề luật cổ hủ Ấn Độ, Amanat trở thành của riêng Mao Thành Giác, đơn giản như nó phải thế. Khi ấy Amanat mười bảy tuổi.

Dưới tác động của chất lượng dinh dưỡng theo công thức cường dương thoát tục, Mao Thành Giác đã thực hành Bhakti Yoga trong toàn bộ các tư thế của Kamasutra với báu vật Ấn Độ. Và nàng, giống như một nữ thần uyên nguyên, đón nhận sự tận hiến của Giác suốt bốn mươi chín ngày đêm không ngừng nghỉ trong niềm hoan lạc chất ngất vô sở trú. Tất cả mọi thần linh đã chứng giám cho sự viên thành của Giác và Amanat về diệu pháp giả tướng chân như này. Món thịt heo giả cầy An Nam hay bò giả nai trên đất Ấn của Mao Thành Giác đã hoá giải mọi chấp trước của lý sự.

Amanat nói: “Tất cả mọi tế bào, tất cả máu me trong người em đều nhảy múa.”

Mao Thành Giác cũng thú nhận: “Còn hơn cả chìm xuống đáy sông Hằng, hay mất hồn trên đỉnh Himalaya, anh biến tan vào tánh không của bản thể và cái huy hoàng của vũ trụ.”

Amanat trở thành bà chúa của Mao Thành Giác. Huỷ diệt và độ lượng.

Nhưng sự giàu có do Mao Thành Giác mang lại đã nhanh chóng làm hỏng Amanat. Cô thích phô trương sự sang trọng của mình và điều ấy đã làm mất đi phần nào niềm đam mê nhục dục thần thánh vốn là bản chất và sự thu hút của cô.

Amanat biến đổi từ một con bồ câu cần mẫn ái ân thành một con công khoe mẽ.

Mao Thành Giác bỏ quên cô trong lâu đài ven sông và chú tâm vào kinh doanh.

Khách hàng muốn đến ăn ngủ trong các lữ quán Sông Hằng phải đặt chỗ trước. Người ta đồn rằng, ăn ở Sông Hằng sẽ hưng phấn như mãnh thú mùa động tình, ngủ ở Sông Hằng sẽ không mộng mị, yêu nhau ở Sông Hằng sẽ được giải thoát. Bản thân ông chủ Mao Thành Giác cũng nổi tiếng không kém khi tất cả đàn bà con gái đều kháo nhau về cái sừng đỏ không bao giờ oặt xuống của hắn.

Vào đêm rằm mỗi tháng, Mao Thành Giác mở cửa miễn phí nhà hàng của mình cho chị em không phân biệt tuổi tác, mỗi người một lần, được ăn uống thỏa thuê và uống rượu không giới hạn. Không một ai đã ăn và uống ở Sông Hằng lại không lên cơn dâm dật. Đêm ấy, Mao Thành Giác cúng dường cái sừng đỏ của mình cho mọi khát vọng phụ nữ. Và phụ nữ, không một ai không tuột hết ruột gan ra ngoài và kiệt sức trong vòng dăm ba phút. Họ đã làm chứng cho thực đơn của Sông Hằng cũng như nếm trải một kinh nghiệm không có lần thứ hai về tuyệt đỉnh khoái lạc.

Mụ vợ mông bành của người cầm búa, cũng như những bà vợ khác từng được nếm mùi chiếc sừng đỏ của Mao Thành Giác trong háng, không thể không hoài niệm niềm cực lạc siêu thoát ấy, mỗi đêm. Điều ấy làm người cầm búa nổi giận. Những ông chồng quyền lực khác ghen tức. Họ đồng lòng tố cáo Mao Thành Giác làm băng hoại luân lý và hỗn loạn trật tự xã hội. Hắn bị đưa ra trước toà án nhân dân. Những người đàn bà yêu hắn phản đối bằng cách tuyệt thực tập thể. Nhưng toà án vẫn tuyên án, Mao Thành Giác bị xử ba năm tù và đóng cửa vĩnh viễn hệ thống lữ quán Sông Hằng.

Dẫu sao, tiếng tăm của Mao Thành Giác cũng giúp hắn được biệt đãi trong tù. Hắn được đặc cách cho đi chợ nấu ăn phục vụ đám cai ngục. Bọn này vốn rảnh, giờ đây được tăng lực bởi thực đơn của Mao Thành Giác, chúng trở nên hung hãn vô độ. Tất cả đàn bà con gái trong nhà giam đều bị chúng hãm hiếp mỗi ngày.

Ngoài ba bữa nấu ăn, Mao Thành Giác không phải làm gì. Hắn có đủ thinh lặng và riêng tư để trầm tưởng về cuộc đời và ý nghĩa của nó.

Nhà tù không khắc nghiệt, nhưng cũng mất tự do, Mao Thành Giác nghĩ về cách làm lại cuộc đời. Hắn cần đổi chiêu, đổi cả thương hiệu của mình để biến thành một người khác, được kính trọng theo lẽ thường. Và biết đâu… hắn có thể làm chủ cả thế giới này. Cu-ly và vĩ nhân chỉ là một khoảng cách may rủi. Cơn mơ mộng mới ngọt ngào làm sao.

Mao Thành Giác nôn nóng ra khỏi tù. Hắn sẵn sàng đút lót bọn cai ngục để được khoan hồng giảm án. Nhưng bọn cai ngục ưa thích món ăn hắn nấu hơn tiền. Vì tiền không mua được những cơn động dục nóng bỏng và tràn trề năng lượng. Hắn ở tù đúng ba năm. Cay đắng vì uổng phí thời gian và tinh hoa của mình cho bọn súc vật.

Chán ngấy Ấn Độ, Mao Thành Giác cuốn gói sang Mỹ.

Cập cảng Boston cổ kính, hắn tìm được việc tại một nhà hàng trên đường School. Ngoài chuyện độ nhật qua ngày, hắn muốn nghiên cứu phong cách và sở thích ăn uống kiểu Mỹ. Khác với Paris, khác với Alger và khác với các thành phố nhếch nhác của Ấn Độ, Boston gợi ý cho hắn về một cuộc cách mạng ẩm thực mà hắn tin rằng chỉ có thể thành công trên đất Mỹ, nơi chấp nhận sự thay đổi.

Khi ấy, đại cách mạng văn hoá của Mao Trạch Đông bùng nổ ở Trung Quốc. Tin tức về các vụ đấu tố giết người hàng loạt cũng như cao trào huỷ diệt văn hoá truyền thống một cách điên cuồng của đám Hồng Vệ Binh làm máu trong người Mao Thành Giác sôi sục hứng khởi. Đêm tối từ phương Đông đã bao phủ địa cầu. Ngu dốt đạt đỉnh. Bầy đàn phô trương sức mạnh. Chưa bao giờ Mao Thành Giác lại cảm thấy gần gũi máu thịt với Mao Trạch Đông đến vậy. Người cầm lái vĩ đại đã ở trong hắn. Mao Thành Giác phất cờ. Hắn quyết định bỏ Boston lên New York, trung tâm của thế giới. Tại đây, hắn đọc thơ Charles Bukowski và la cà với bọn giang hồ ở khu Harlem. Nước Mỹ được nhìn từ đáy.

Mao Thành Giác, kẻ nứng cặc khôn nguôi, thích mùi của các phụ nữ đậm màu. Đêm nào không ngửi mùi cơm cháy trong háng Jane, hắn không ngủ được. Cũng như Malika, mùi bò rừng ở Algeria. Amanat, mùi dê non ở Ấn Độ. Mùi mắm của các bà goá ở quê nhà. Giờ đây Jane, đêm của đế quốc Mỹ làm hắn ngây ngất. Các em trắng ngần ở Paris không để lại một dư vị nào.

Mao Thành Giác nói với Jane: “Anh có cảm giác như cả không gian này chỉ có mùi em. Mùi hành tây, mùi thịt nướng và cả mùi bơ sữa nữa. Anh cũng ngửi thấy cả mùi mía ngọt…”

Và mùi của Jane như một khải thị từ sâu thẳm. Mùi con đực và mùi con cái bao giờ cũng mang đến một cảm thức hồi hướng cội nguồn. Mao Thành Giác đã biết cuộc cách mạng của mình bắt đầu từ đâu.

Các nhà viết sử, các nhà báo, các nhà văn và cả các nhà tư tưởng hẳn sẽ ghi nhớ sự kiện trọng đại này, cuộc cách mạng ẩm thực làm thay đổi thế giới và cảm xúc con người bắt đầu từ những đêm Mao Thành Giác úp mặt trong háng đen đủi của Jane.

New York rộng lớn, nhưng không ở đâu thích hợp hơn khu Chinatown để Mao Thành Giác mở nhà hàng ăn uống và nhà nghỉ Ánh Sáng Phương Đông của mình. Cùng với slogan “Thụ hưởng & Giải thoát” như hồi ở Ấn Độ, bảng hiệu Ánh Sáng Phương Đông còn có một ghi chú “Ăn chay nhưng không kiêng thịt”.

Trong khi các món chay ở Châu Á thường giả thịt cá bằng rau củ, đậu hũ và nấm… thì ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông, công thức chế biến hoàn toàn ngược lại, thịt cá biến thành rau củ… Vì thế, các món ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông luôn mang đến cho thực khách một cảm giác thanh tao thực vật, cũng như thấm đẫm ý vị chay tịnh đầy màu sắc tôn giáo.

Để làm được điều này, Mao Thành Giác ngâm tẩm tẩy mùi cho thịt cá rồi tạo hương vị mới bằng cách kết hợp các loại rau thơm theo các tỉ lệ khác nhau, tạo nên mùi người đủ các sắc tộc. Đặc trưng và gây nghiện. Đồng thời tẩy não người tiêu dùng thông qua các mật chú Tây Tạng và những kiến giải tâm linh. Tu tại tâm.

Mỗi món ăn mang một tên gọi như kinh cầu, mật chú hướng đến khát vọng an bình, chân tính và giải thoát, nhưng tác dụng cụ thể vào cơ chế vận hành thân xác lại trái ngược. Món “Lễ hiến tế Chúa Trời” bò nướng than có thể mang lại cảm giác muốn giết người. Hay món “Cánh chim hoà bình” bồ câu chiên nước mắm có thể tạo ra sự kích thích dâm dục. Hoặc món “Om Ah Bira Khe Chara Hum” heo tiềm thuốc bắc, tụng niệm 7 lần trước khi ăn có thể chuyển hoá thịt thành cam lồ và giải nghiệp xấu của việc ăn thịt, nhưng lại mang đến sự hưng phấn toàn diện cho người ăn. Món “Om Kuru Kulle Hri Svaha” gỏi gà xé phay, vừa ăn vừa tụng niệm sẽ giúp may mắn trong kinh doanh, đồng thời tạo ra sự thu hút, quyến rũ… cả về tinh thần lẫn thể xác.

Hiểu biết luật pháp Mỹ, Mao Thành Giác cho đăng ký bản quyền toàn bộ tên gọi cũng như công thức chế biến thực phẩm của mình.

Như thế, cuộc cách mạng ẩm thực của Mao Thành Giác đã bắt đầu bằng các tên gọi mang tính giả danh và món ăn thực chất là giả tướng.

Mỗi món ăn đều có bản hướng dẫn nghi thức tiếp nhận cũng như ý nghĩa và tác dụng của nó. Cái ăn là gốc của mọi sự. Vì thế khi ăn, không được văng tục, chửi thề. Ăn món nào, hướng tâm vào tên gọi của món ấy. Thụ hưởng và giải thoát.

Trong lúc ca tụng J. Krishnamurti, người ta cũng không quên Mao Thành Giác như một người giải phóng truyền thống và bạo lực tinh thần. Suy tôn một đức tin mới, nhưng Mao Thành Giác không tìm kiếm sự minh triết, hắn tin vào sự linh thiêng nội tại của các phẩm vật thiên nhiên mà trời đất đã ban tặng cho con người. Ăn là đạo của sự sống. Người Mỹ hoan hô hắn và họ đã đến với Mao Thành Giác như kẻ tiên tri cho một thời đại mới. Dưỡng sinh là dưỡng dục.

Cũng như mọi nhà hàng khác của Mao Thành Giác xưa nay, tất cả mọi thực khách đến với Ánh Sáng Phương Đông đều phải đặt chỗ trước và đăng ký thời gian ngồi tại nhà hàng. Đã xảy ra nhiều trường hợp như của gia đình nhà Williams gồm vợ chồng và hai con, khi tới lượt họ được mời vào nhà hàng thì ông chồng đã không thể có mặt vì đã ly dị vợ trước đó hơn một năm. Không thiếu những cặp tình nhân đặt chỗ từ lúc họ mới yêu nhau, nhưng khi có thể ung dung ngồi thưởng thức sự lãng mạn của mình trong nhà hàng thì đã phát sinh người thứ ba, đứa con mới ra đời. Những trường hợp bất khả kháng như thế, Mao Thành Giác luôn chấp nhận thiệt thòi để làm vui lòng khách đến.

Rồi Mao Thành Giác mở nhà hàng thứ hai ở Washington DC. Và trong mười năm kế tiếp, hắn đã có chi nhánh ở 52 tiểu bang nước Mỹ. Mỗi tiểu bang chỉ có một thánh đường ăn uống duy nhất mang tên Ánh Sáng Phương Đông, bởi Mao Thành Giác muốn người ta phải đến nhà hàng của hắn như một cuộc hành hương.

Có tin đồn rằng, các cựu tổng thống Mỹ đều đã từng đến ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông. Qua đấy, họ nhận thức được giá trị của cuộc sống không là vinh quang hay quyền lực mà ở sự đơn giản và chân thực. Có một cựu tổng thống đã đăng ký ăn liên tiếp một tháng mỗi năm cho đến khi ông ta qua đời. Ông coi đây là thời gian để bảo dưỡng tinh thần và điều chỉnh sức khoẻ.

Người ta cũng truyền tụng, các cặp vợ chồng hiếm muộn có thể tìm thấy hạnh phúc về đường con cái nếu được ăn uống theo thực đơn của Mao Thành Giác.

Nước Mỹ không chỉ là nơi người ta đến kiếm tiền làm giàu và thụ hưởng tự do. Nước Mỹ cũng không chỉ là nơi có thể truyền bá mọi tư tưởng, mọi lối sống. Không phải Israel mà chính nước Mỹ mới là đất hứa của Chúa. Mao Thành Giác xây cho mình một biệt phủ mô phỏng kiến trúc Tử Cấm Thành của Trung Quốc trong khu Chinatown thành phố San Francisco. Tại đây, hắn tìm hiểu cuộc đời Mao Trạch Đông và đọc các trước tác của ông này. Hắn vẫn tin rằng, hắn có máu huyết với người cầm lái vĩ đại, mặc dù hắn được sinh ra ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước tác của Mao Trạch Đông không ảnh hưởng gì đến hắn. Thậm chí, hắn còn cho rằng có thuộc lòng “Mao Chủ tịch ngữ lục” cũng không bổ ích bằng ăn một bữa tại nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông. Mao Thành Giác chỉ ngưỡng mộ con người này về cách ông ta chiếm đoạt quyền lực và vận hành quyền lực trong đời sống xã hội. Tính cách đế vương, độc tài và tàn nhẫn, sử dụng sinh mạng con người như công cụ, Mao Trạch Đông là đỉnh cao, hội tụ và điển hình cho các loại vua chúa phong kiến và vô sản. Các thông tin mang tính ngoại sử về sinh hoạt tình dục của Mao Chủ tịch càng làm cho Mao Thành Giác cảm thấy mình gần gũi hơn với ông ta.

Tại Biệt phủ Mao Thành Giác, mỗi năm cứ vào dịp tết nguyên tiêu, hắn lại tổ chức tuyển chọn một trăm gái đẹp mới cho mình, chia ra ở trong năm cung, và đặt tên theo ngũ hành. Cung Kim dành cho gái da trắng, Cung Thổ dành cho gái da vàng và nâu, Cung Thuỷ dành cho gái da đen, Cung Hỏa dành cho gái da đỏ. Hắn ở cung Mộc là màu của bầu trời và cây cỏ trên mặt đất. Mỗi đêm, hắn ngủ với bốn cô, bốn màu da khác nhau như cách giao hoà với trời đất. Hắn cho rằng, khi ngũ hành tương sinh mọi điều tốt đẹp, vì thế, không những hắn thường làm tình với bốn cô một lúc, đồng thời hắn còn cho các cô làm tình với nhau. Ngoài ra, khi ngẫu hứng vào ban ngày, hắn chơi trò “bịt mắt bắt dê”, dành riêng cho các cô thích bạo dâm.

Mao Thành Giác, cũng như mọi vua chúa ở phương Đông, tin rằng tinh anh và hơi hướng của gái trẻ có thể là một phương thuốc trường sinh bất lão.

Sảnh Thiên Đường nằm trong Cung Mộc rộng mỗi chiều bốn mươi thước, trống trơn, chỉ có hoa treo trên các vách tường. Nơi đây dành cho đêm cuối tuần. Tất cả một trăm cô đều có mặt. Họ tổ chức các cuộc thi xem ai dâm đãng nhất, làm tình kiểu cọ đẹp nhất.

Khi ấy, “Hiệp hội các Đầu bếp Thế giới” được vận động thành lập. Mao Thành Giác tham gia với tư cách sáng lập viên và ngay nhiệm kỳ đầu tiên, Mao Thành Giác dễ dàng nhận được sự tín nhiệm của toàn thể các thành viên trong chức vụ chủ tịch. Không chỉ bằng danh tiếng của mình, Mao Thành Giác còn khuất phục các đại biểu bằng một tiệc chiêu đãi trọng thể trước cuộc bầu cử tại nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông và một đêm đế vương trong biệt phủ. Không một ai, cho dù là chủ nhân của các nhà hàng danh tiếng hay những kẻ lịch lãm nhất, thoát khỏi bị rơi tõm vào cơn thảng thốt mê cuồng khi nhấm nháp thực đơn của nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông và tận hưởng sự phục vụ vô tiền khoáng hậu của một trăm cô gái được tuyển chọn trong biệt phủ.

Mao Thành Giác được gọi là Chủ tịch Mao, nhưng để phân biệt với Mao Chủ tịch của Trung Quốc, Mao Thành Giác được gọi ngắn gọn là “Mao Chủ”.

Mao Chủ tịch của Trung Quốc thích giết người, Mao Chủ cũng muốn giết người. Dưới các chính sách của người cầm lái vĩ đại Mao Trạch Đông, khoảng 45 đến 75 triệu người đã chết theo các thống kê khác nhau. Tuy nhiên, Mao Chủ không muốn hơn thua với Mao Chủ tịch về sự hung ác, hắn có cách khác. Cho dù các cuộc điều tra sau này của FBI xác nhận tất cả các cô từng ngủ với Mao Thành Giác, sau khi bị rũ bỏ đều tìm cách tự sát, nhưng FBI không thể kết tội hắn. Có một sự thật không được khám phá, ngay cả với các nhà tâm lý trị liệu, tất cả các cuộc tự sát ấy đều có cùng một nguyên nhân, thiếu cái sừng đỏ của Mao Thành Giác trong háng hoặc không còn được ăn các món ăn do Mao Thành Giác nấu. Một cảm thức tuyệt vọng và bơ vơ cùng tận. Cái chết giải phóng họ khỏi niềm hoài cảm và nỗi ám ảnh khôn khuây.

Mao Thành Giác là sự sống và cái chết.

Nếu Mao Trạch Đông với chỉ riêng phong trào toàn dân diệt chim sẻ đã khiến cho khoảng 36 triệu nông dân Trung Hoa chết đói vì mùa màng thất bát, thì Mao Thành Giác cần cho thế giới biết sự vĩ đại chân chính của mình như thế nào. Nhưng dù sao, Mao Thành Giác vẫn phải học tập Mao Trạch Đông, hắn cho phát động phong trào quốc tế “Diệt ruồi cứu nhân loại” thông qua Tổ chức Y tế thế giới WHO và sự hỗ trợ thông tin của báo chí, dưới ngọn cờ bảo vệ môi trường trong sạch, bảo vệ sức khoẻ con người. Không có ruồi, ăn ngon hơn, không bị lây nhiễm các loại bệnh bởi ruồi. Mao Thành Giác đóng góp thực tế cho phong trào bằng cách tặng mỗi hộ gia đình tham gia hai vỉ đập ruồi. Tổng số lượng vỉ đập ruồi mà Mao Thành Giác đã cung cấp lên đến hàng trăm triệu cái. Chiến tích diệt ruồi của mỗi hộ gia đình, tuỳ theo số lượng ruồi chết tích luỹ được, sẽ được tưởng thưởng bằng một huy chương “Chiến sĩ diệt ruồi” do WHO trao tặng và những xuất ăn đặc biệt cho cả gia đình do nhà hàng Áng Sáng Phương Đông đóng hộp gửi đến tận nhà.

Kết quả của chiến dịch này đã cứu được hàng tỉ người trên hành tinh thoát chết vì tiêu chảy. Mao Thành Giác trở thành “Doanh nhân Văn hoá Thế giới”, một huy hiệu cao quý do UNESCO tuyên dương. Nhưng bọn phản cách mạng hậu hiện đại vốn coi các đại tự sự chỉ là giẻ rách, nhân sự kiện này đã đặt cho Mao Thành Giác, tức Mao Chủ một hỗn danh mới, Mao Ruồi.

Lịch sử ghi nhận sự góp phần của Mao Trạch Đông cũng như Mao Ruồi trong những tác động làm thay đổi cuộc sống con người. Nhưng hậu thế sẽ không bao giờ được chứng kiến cái khí thế toàn dân Trung Quốc dưới ánh sáng soi đường của Mao Chủ Tịch quang vinh hồ hởi phấn khởi đi bẫy chim, săn chim, đuổi bắt chim như thế nào… Cũng như cảnh tượng ba phần tư nhân loại, theo sáng kiến vĩ đại của Mao Ruồi, tay cầm vỉ đập ruồi, tay cầm cái lọ hoặc bịch nylon, thi đua bắt ruồi… nó hùng dũng ra sao.

Đã từng sống ở Ấn Độ và biết đến Mahatma Gandhi, nhưng Mao Ruồi không học được gì từ triết lý bất bạo động của Gandhi. Hắn vẫn luôn ngưỡng vọng Mao Trạch Đông, kẻ bạo loạn hoang tưởng và tận kỳ lực đến dã man, theo cách của một tên hề. Trên đỉnh vinh quang hay trên ngọn cương dương sấm sét, Mao Ruồi tự coi mình là kẻ dẫn dắt. Hắn muốn thế giới thuộc về mình. Và hắn đã làm. Thành công với phong trào diệt ruồi, Mao Thành Giác tiếp tục giương cao ngọn cờ cách mạng ba sẵn sàng “Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch” vì một nhân loại văn minh hơn, chất lượng cuộc sống tốt hơn. Cũng với sự hỗ trợ của WHO, chiến dịch này được cổ vũ trên toàn thể các nước Á Phi và Nam Mỹ. Cũng từ đó, chuỗi nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông đã mọc lên khắp thế giới. Ánh Sáng Phương Đông, một thương hiệu toàn cầu và thêm một lần nữa, ai không một lần trong đời đến ăn ở nhà hàng Ánh Sáng Phương Đông chưa phải là người biết sống.

Việc ỉa sạch là một kinh nghiệm có từ miền Bắc Việt Nam với các hố xí tập thể, được doanh nhân văn hoá Mao Ruồi nâng tầm quốc sách cho các quốc gia chậm phát triển. Ăn rồi ỉa, ỉa lấy cứt làm phân bón cho ruộng đồng. Cuộc xoá đói giảm nghèo luân hồi của cứt huy hoàng tráng lệ và đầy tính nhân văn. Lại một lần nữa, ai không từng đi ỉa ở các hố xí xã hội chủ nghĩa thì chưa thể biết đủ tứ khoái và thống khổ của con người.

Mùi cứt nồng nặc. Mùi văn hoá cách mạng. Mùi thời đại. Giá trị của cứt là giải thoát và đắp bồi. Cho dù hố xí hai ngăn là môi trường tốt nhất cho ruồi sinh sôi, nhưng vì cứt, nhân dân lại càng phải ra sức diệt ruồi. Cuộc tuần hoàn Ruồi – Ăn – Ỉa trở thành một hành trình bất tận của phong trào thi đua yêu nước được các chính quyền khắp châu lục phát động theo từng quý.

Mùa xuân, chiến dịch có khẩu hiệu:

“Mừng xuân toàn dân nô nức

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa hè:

“Học sinh, sinh viên hăng hái

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa thu:

“Vì cuộc sống thân yêu, phụ nữ

Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch”

Mùa đông:

“Diệt ruồi – Ăn sạch – Ỉa sạch

Thể hiện sức mạnh toàn quân”

Phong trào được tổng kết sau ba năm. Liên Hiệp Quốc ghi nhận, châu Phi đạt thành tích cao nhất, chỉ số hạnh phúc của người dân đứng đầu thế giới và tuổi thọ trung bình tăng lên 5 tuổi. Cuộc cách mạng ngoạn mục nhất trong lịch sử của lục địa này.

Đây cũng là thành tựu được công luận ghi nhận và mang đến cho người dẫn đường Mao Ruồi sự vẻ vang tột đỉnh. Tự điển danh nhân thế giới xuất hiện mục từ “Mao Thành Giác”. Trong đó, Mao Ruồi được mô tả như một chiến sĩ văn hoá, người phát động các phong trào xã hội mang tầm thế kỷ và đem lại lợi ích thiết thực cho hàng trăm triệu người. Tuy nhiên, các chiến tích về cuộc cách mạng ẩm thực và tính dục chỉ được nói ngắn gọn: “Người khởi xướng phong trào Eat to Fuck.”

Nhưng Mao Ruồi đột ngột trở về Việt Nam, giữa lúc vinh quang và giàu có. Cả FBI và CIA của Mỹ đều không lý giải được.

Tất cả tài sản sau bao năm tích cóp hắn bán hết và gửi tiền vào ngân hàng Thuỵ Sĩ. Mao Ruồi nặn ra một lý lịch mới, đóng vai kẻ thức ngộ và tự viết tiểu sử.

Just like that, an arm pit hair from an illiterate farmer from Mơ village, in the land of Mận... as predestined was pulled out from a dark damp hole. The hour of the horse, the day of the rooster, the month of the monkey, the year of the dog... according to the Lunar calendar, the farmer trying to ease an itchy inflamed lump pulled out the curly hair without much thought, brought it up to his lips and brew... The arm pit hair flew into the sky. He said: "Take my itch and pass it around the world."
In the wind, the suspended arm pit hair drifted through a gap in the door of a teacher, thầy đồ. Thầy đồ is an educated man who had failed too many exams to pass as a Mandarin scholar. Here in the gap, day and night were the sound of genteel saints, reciting the Four Books and the Five Classics, a collection of authoritative texts fundamental to Confucianism together with what were essential to the prosperity of tradition, the hair turned into a horn. Before long on the teacher's wall the imposing ox horn was proudly displayed. In that same year, his wife gave birth to a baby boy. The boy from birth was endowed with a large penis. Bright red and hard.

Fully grasping the significance of the hair aspiration of becoming a horn, the failed Mandarin named his son Mao Thành Giác. Even though, he was born into the house of Nguyễn.

Even though his father is thầy đồ, Mao Thành Giác still had to tend to their ox like all the other children in the village. His dreams of becoming a horn as the days passes by became more and more earnest. The children in the village loves Mao Thành Giác because of his likable disposition, curious nature and dreams that made them felt as though they too could fly. His mind never stopped thinking about their next mischievous adventure from fighting to peeking at girls bathing in the river, or getting change. By the time he was twelve, he could sniff out the smell of a woman's crotch and the boss of all the children in the village.

Mao Thành Giác asked the children in the village: “Do any of you know the smell of a girl’s crotch?” The children looked both stunned and stupid by the question, nothing like that have ever entered their mind. “Have you smelt it?” Prancing he announced: “I know things, none of you know about.” “How?” “If you want to know, sitting down.” Some of them did not sit down. He then said: “Get lost if you don’t want to listen.” All the children sat. “Listen, all I had to do was pretend to trip… grab onto the hip of the girl I want to smell and it’s done.”

Mao Thành Giác again asked: “Lunch today, do you guys want a feast?” The children now really excited: “Yeah… Yeah…”

“Follow me.”

He spotted an ox far away. The gang of them gathered around the ox, pulled it back to the water hole in their village to harass the poor kid who was herding the ox: “You let your ox wash in our water hole, leave your lunch here if you want it back.”

The nature and character of Mao Thành Giác amounts to his ability to force others into submission.

Sometimes, enthusiastically he would reveal the vigour of the leader of a nation by making the children carry him on their shoulders in a procession as though he was a king. He was also keen on having one of the kids on all fours on the ground so he can use them as a stool to get onto the back of his ox for a ride. The children, none of them dare go against him.

One of the smaller boys followed him every where only because he wanted to know about what was infinitely a mystery: “What does a girl’s crotch smells like?” He replied: “You can’t describe it. Find a way if you want to know what it smells like.” The poor kid after being slapped black and blue so many times eventually found out for himself the smell of a girl’s crotch, he said: “Smells like pee.” And that was the crotch of the little girl who herds ducks on the outskirts of the village. It didn’t take much time before the small boy’s mind blossomed, not only does the female crotch smells like pee but that it was “infinitely attractive”, even though Mao Thành Giác have already had the first sniff he still chased after the prettiest girl in the village. When this small boy grew up, he became the confidant, he was the one who brought girls over to console Mao Thành Giác.

There was nothing Mao Thành Giác could not do. When he turned fifteen, he was fully aware of the value of the horn in his crotch. All the widows in the village can attest to it. They said: “Never before has there been a man with such a magnificent instrument.” One daring woman recounted: “It’s hot like an iron pipe.” Another woman claimed: “It’s more horse than human.” But conquering the female disposition was not Mao Thành Giác greatest joy, within his deepest desire of becoming a horn, he also wanted the men to at his feet kneel. His father, the esteemed teacher of the village seeing the flame danced within his son’s heart, hence forth, he put more energy into taming Mao Thành Giác’s behaviour with moral principles, sage practices and tradition. But there were no cure for a fanatical flame of desire that had burned everything that were sage within him, himself included.

When his family and the village became too small, too narrow too tight compared to his heroic elegant dreams, Mao Thành Giác left his family, his home and village. The year he turned seventeen.

In town, Mao Thành Giác first job was a kitchen hand at a place where generally men go to drink, quán nhậu, he earned enough money for food and board. Town taught him how to smoke, drink, sleep with women. The condition aligned with life in town was his crushing work load as a hired help. He worked from one eatery to the next accumulating all the possible pain and injustice. But not once did he allowed himself the humiliation of pity. The actual places where he were both used and crushed, standing was the form of a different Mao Thành Giác led as though by some nefarious entity, evil force, down a dark path. He wanted to be the best chef, an inpiration to the world, as someone who genuinely loves his work. But before he could be this magnificent person of service to society, he had to surpass a payless epic journey never to be repeated by a stove in a hole on a boat across the ocean docking at all kinds of kitchens restaurants possible places serving food all over the continent.

By the time Mao Thành Giác was twenty, he had managed to grasp the delicate yin and yang nature of each ingredient in his kitchen, a master of spices. A patron of Nhà Hàng Mộng Xanh was a writer that he later discovered was a florid food critic, from street food to fine dining. A person of know-how in the world of literature in An Nam.

The writer complimented Mao Thành Giác on his special “Giò heo giả cày”, a dog stew that used pork in place of dog meat: “You are a very fair man.”

Surprised, he politely asked: “I don’t understand?”

The writer swallowed a mouth full of white wine, took his time before replying: “Because you have manage to retain the value of pork and at the same time appraised the flavour of dog meat.”

He asked again: “You care about fairness?”

Like him, the writer was no less surprised. He made no attempt to hide his curiosity, the writer eyes surveyed Mao Thành Giác from head to toe: “Sure… and is fairness something you also care about?”

With the utmost humility Mao Thành Giác replied: “I am a cook, I will not allow a single ingredient to lose its spot on the tongue of those who comsume my food.”

The writer stood up: “If it’s okay, may I invite you to join me for a drink?”

He hesitated before replying: “Yes but, just one.”

“Please, excuse me for a moment” he apolgised before turning back towards the kitchen to fetch a small glass similar to the same glass that was in the writer’s hand.

The writer: “Please.”

Respectful Mao Thành Giác bow his head before lifting his chin to swallow the alcohol in one gulp.

“Thank you.” He said. “I have to get back to my station.”

The writer eyed him from head to toe again as though he was a rare exotic creature: “When will you be free again?”

“I’m sorry, but that was it.” And it was true, there was no spare time. He accompanied his boss to the market in the morning to buy the ingredients. He can only leave after all their patrons leave, and that was pretty late into night.

The writer was quiet for a moment, somewhat disappointed: “I want to invite you for a private meal.”

Astute and quiet… was his apology before retreating, he thought the writer was not quite all there.

“Fairness” was a sensitive terminology.

The second time he saw the writer again was at a newstand. It was when, his boss had learned all his tricks in the kitchen so he was suddenly out of a job.

The writer was openly glad: “Are you free today?”

“Yes… and I will be free for many days to come.”

“Then come, come with me” the writer said.

Quietly he followed the writer into a cafe.

The writer asked: “What’s wrong, tell me.”

He replied: “I just lost my job, just that.”

“Where are you heading to now?”

“I don’t know. But I thought about going back to school. I want to learn French.”

The writter nodded encouragingly: “That’s good. But why are you learning French?”

Deep within his heart, was the desire to go places, travel… and master the cuisines of the world. But instead he revealed something that had never entered his mind: “I want to learn it so I can get a job in government.”

The writer chuckled: “In that case you should try and apply to get into École Coloniale.”

He also chuckled: “Yes, but I have to be fluent in French before I can apply. As you can see, I don’t have money. Can you teach me?”

The writer said: “My french is not enough to teach anyone. You probably get a better chance learning French if you apply for a job at a French restaurant or a French cruise ship. The one on one contact would also be the fastest way for you to learn. And a way to earn a living.”

Mao Thành Giác face lit up. The sky suddenly opened up.

The next day, at the ship dock, Mao Thành Giác searched for the sailors who were regular patrons where he used to work. He asked them if they can help him find a work as a kichen hand on their ship. A week later, he was on the AFT, a French carrier heading for Marseille.

On the carrier, Mao Thành Giác learned how to prepare simple french dishes. Sometime for a change he would reveal his talent in the kitchen by making An Nam ramen. The sailors loved him because he was very An Nam. He was very proud: “There must be something about me people like so much”. That something of his were the lies he told so people can feel good about themselves, as though if they did not feel good it was his problem. African descendants on the carrier would often tell him stories about the plight of those who have been colonized and impoverished conditions. There were whispers of a proletarian revolution in Russia. Mao Thành Giác then had no concept of any kind when it came to politic, but he loved the stories about the life of Vladimir Ilyich Lenin and how he seized power from the Tsar. Mao Thành Giác saw the times.

More than a month later, the AFT was wharfed in Havre. Blinding was France in the eyes of Mao Thành Giác. He descended the ship and never looked back. When he found himself in Paris, he stumbled upon a couple of his countryman. They helped him survive by delivering newspaper. They also taught him proper French and how to write for the paper to earn extra cash. It was then that Mao Thành Giác’s desire to get into École Coloniale most, but the application he sent to the minister of École Coloniale was denied, even though he sincerely pleaded, “I pledge to be a loyal servant of the great motherland.”

One of the founder of of The Wretched publication, media outlet fighting for independence of colonized nations, shared with Mao Thành Giác: "The first and foremost hardest task is the enlightenment of the people. Knowledge is the key to the liberation of one's identity and the foundation for progress. Hence, you must get an education, and this education is a lifetime goal..." It was something Mao Thành Giác already understood, in fact his understanding were beyond that, the ignorance of the crowd was actual premise behind all the forces of a revolution.

His resentment for France denying him a chance to serve, was the not the reason Mao Thành Giác found himself in the land of Lenin in folklore to attain the knowledge of how ignorance could be a tool used to lead people by the nose. Entered Russia through Germany, he arrived in Moscow and was accepted into The Communist University of the Toilers of the East via the recommendation of The French Communist Party. But only after a year, Giác left, realising that Russia and the proletarian revolution had no place for him. Mao Thành Giác wanted to feel good. He never stops searching for what makes him feels good, but in Soviet Russia, one hand of what makes him feel good was condemned as the contempt of individualism, on the other hand what makes him feels good were the empty promises of all those dogmata. He saw how there was no escape in socialism. How the communist regime is synonymous with starvation, fear, cages and livestock. However though Communism, Mao Thành Giác had learned a big lesson, the material gives rise to living no different to society, precisely more so, the stomach defines the attributes of the human condition. And that fact alone, changed his life.

All the slaves around the world stood up, to never hold any gains or power in their hands as promised in the National Anthem, the slaves continued to be slaves striving for efficiency, wholly bettter slaves to a new ideology and power. The spine chilling thought helped Mao Thành Giác dug his way out of this great dream of unity, a revolution of his own. Returned to Paris, he continued on his destined path, he became a chef.

Eyes opened or closed, Mao Thành Giác was like an arrow always head first moving forward. He found a place to rest his feet at a fairly decent restaurant at the heart of Paris, conspired to overthrow all dogmata.

It was his time, Mao Thành Giác flaunted the power of the bright red horn between his legs. Though could not be compared to a Fremchman, but to compensate, what he had was a world class horn, with the unique ability to rise on command fitting all kinds of holes shape and size between the thighs of a woman. It did not matter which continent these women came from they were all obsessed with him. Mao Thành Giác was paid to serviced half the population of the world. He lived at the tip of glory of his horn. And that was how, the history of a coolie from the colony was rewritten to reflect rightly such an exceptional horn. Mao Thành Giác was drawn and coloured in like Mơ village guardian deity, in the land of Mận in folklore… Not single woman who slept with him was left wet.

Mao Thành Giác, the greatest avenger of all time of a feeble and colonial nation like An Nam, a consolation for all exiles and wretched souls.

Mao Thành Giác, more respected amongst those who were most respected because his food was able to satisfied the human thirst for happiness.

The way food was prepared from Mao Thành Giác's unique recipes were always innovative and in comparatively delicious. Dining with a menu designed by Mao Thành Giác were not just art and culture or sophistication, it was an affirmation of the core of nutrition and nourishment, for both men and women of all ages faultlessly enhanced their sexual vitality.

Việt Nam vô địch muôn năm, Vietnam undefeated, long live Vietnam. The echoes of those cheers resounding still many generations after.

Mao Thành Giác was famous in Paris. The praise by word of mouth: “If one have not consume one of Giác’s creation one have not lived.” And the women, they claimed: “If one have not been consummated by Giác’s horn one will never be able to appreciate the veracity of what is means to be truly consummated by a real man.” Mao Thành Giác was a cultural phenomenon when it comes to fine dining and the art of love making for the couple of decade before and after the second world war.

Paris representative of Western civilization, but that capital city of light was not enough for Mao Thành Giác's extreme appetite for endless revelry without beginning or end. In Paris, he was missing a dark shadow, the pure root of his desire for sex. Hence, when an old friend from Algeria, they met on the AFT sometime ago asked him to go home with him and open a restaurant, without much thought it was an obvious choice, Mao Thành Giác agreed to packed up everything he had and left Paris, followed his friend to mysterious Africa, even though he was fully aware of how muslims were not the kind of patron for the cuisine served in his kitchen, but the strick laws like the burqa Muslim women must wear was an intense turn on. He wanted to break down all the barriers. He believed that temptations easily follows always what is forbidden. Mao Thành Giác opened a private restaurant, Pieds Noirs serviced expats from France and decendants from Europe in a land of fastings.

Before there was even a chance to tear off a veil of any Algerian virgin, Mao Thành Giác had already caught the eye of the clever Malika, who knew exactly how to reveal and display her beauty, more than a thousand fresh face young men new to the game from all race colour and nationality have fallen into her hands, pulled down their pants.

The demon of Paris returned to her homeland impersonating the little red riding hood, asked: “How come your penis big?”

The An Wolf said: “It’s big because of you.”

The African red riding hood again asked: “How come you penis is so hard?”

The An Nam wolf proudly announced: “Ah… It’s hard you can experience the joy of Eastern folklore.”

The girl pretending to be innocent continued: “How come you penis is so shiny?”

Swelling with pride the wolf of An Nam said: “It’s shiny to let people of this world know today is the day your vagina will shine.”

The demon of Paris on the early retirement smiled was so wide no one could see her eyes. Her eyes were like caterpillas. She was impressed by how Mao Thành Giác could make her feel absolutely petrified.

Instead of being swallowed alive, the red riding hood Malika excitely admired the wonder of Eastern culture, she caressed and savoured it skillfully with her volumptous lips and soft tongue. The wolf Mao Thành Giác was led into the forest. And he was turned back to his wild untamed ways.

His soul was trapped forever inside the wild vigina of the goddess of demons. The ferocious, frenzied red bull’s horn pierced the murky, damp darkness of an ultimate prospect for existence, for four thousand years of civilization to hime was like a blurr. Mao Thành Giác saw the radiant Brahma atop the thunderous peak of his penis. His wisdom was awakened. From then on, the idea of ​​going to India in his heart became a mission.

Malika was an expert in bed and she was his sailor friend younger sister. She was clever enough to manage Pieds Noirs with Mao Thành Giác. She also had a long list of relatives lining up behind her asking for help. Hence, nearly all of the staff working for Pieds Noirs were in way or another related to Malika. That was also the reason for the down fall of the restaurant even before it took root became apart of the barren soil of Africa.

When the colonial regime came to an end, most French people returned to France. A bunch of “black-footed” Europeans and their “henchmen” who clung to the colonial empire also followed the French. He didn’t think he could do business with devout Muslims, so he sold off what he could of his dilapidated restaurant and emigrated to India.

But the familiar tiny stove on the carrier and sailors in various colour skin once again called him. The Finnish cargo carrier exposed Mao Thành Giác to wharfs and languages all foreign to him. Hence forth in the end, Mao Thành Giác could converse in 52 languages. He was also able to experience the taste and flavours the world could offer.

The mounting karmic consequence of his sperm scattered along the paths of his unrestrained debauchery, the regret of the women he had deflowered as his body simultaneously shuts down all seeds of procreative pleasure. He was his own worst enemy , his body saved him from the consequences of indiscriminate procreation. His sperm was as watery as rice water.

His journey toward India took nearly ten years.

Before trying to find a way to make a living, he wanted to know what India was truly about? Mao Thành Giác had seen for himself how the Four Sufferings had spread around the world as Buddha contemplated. He had also seen the quiet practice of the Noble Eightfold Path in the shades of the trees here and there like they were enlightened Buddhas. All he could see from his sudden interest in meditation was deception.

How could a selfless act not feel trapped between the chaotic reality and suffocating delusions amongst all that unrestrained lust? A lesson in Russia turned gospel. A healthy gut indicates a strong constitution of both body and mind. From a land where they do not eat pork to where they do not eat beef… he employed the concept of the embodiment of “heo giả cầy”, where pork was used instead of dog meat to make the same tradition dog stew in An Nam to overcome his ego. Copulation absent of copulation. Karma absent of karma.

Endlessly obsessed with the Eastern art of love making, the only thing Mao Thành Giác wanted to do was cultivate love. He asked himself, can making love help you let go? All his energy was once spent after a wild and passionate session with Africa. Now, all he wants is to one with the wonder of the universe. Kamasutra, an animalistic act of this world or a way to reconcile the mind or a path toward the epitome of ecstasy and release? Could applying Bhakti Yoga with spiritual adoration and devotion to the Kamasutra achieve unification within one entity?

But when the stomach growls. A practical slip of the tongue. Common reality. Character and demeanor.

The poverty and utopia of India. Where the atmosphere and technique of taking a breath were possibly dependent on a completely empty stomach? Dukkha and the inherent suffering amidst all living things, and that includes him. Receiving alms and being dependent on the generosity of other people as a mendicant monk was not how he wanted to experience life, because his taste was something else entirely, he needed a different kind of divine intervention, he harvested and demanded perfection. Mao Thành Giác thought about culinary culture for the first time in his whole life, the philosophy of nutrition and Yoga diet. Denomination of all kinds veered toward fasting as both treatment and therapy for the taming of lustful desires. He wanted to go back to the basic to find the philosophical foundation for experimental spirituality between nutritional quality, Bhakti Yoga and the Kamasutra during the day to day life were the absolute pleasure for any woman or man.

Mao Thành Giác looked for what might inspired his business acumen in places like Buddhist holy sites and imperial temples from India to Nepal. He realised that the foundation of spirituality was nothing more than materialistic ambition. Without materialistic desire there is no God.

The daily cycle of eat, sleep, fuck, shit of any human was the beginning and the end of a life. Spirituality was just a peversion and result of this cycle. Therefore, eating was not just a means to an end, but also a lifeline for happiness.


Nguyễn Viện, born Nguyễn Văn Viện, on February 1, 1949 in Dong Xa, Hai Duong, is a journalist and writer, self-published author, on noteworthy subjects like sex and politics, listed by RFA as Resistance Literature. Currently living and writing in Saigon, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The madman at the bottom of the slope on Tam Đảo | Mai Thảo

Thanh Hoá, Việt Nam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

[a body of work in progress – unedited]

Người điên dưới chân sườn Tam Đảo

Thế là, giữa một buổi sáng Sài Gòn rực rỡ, tin dữ mà gia đình tôi chờ đợi thấp thỏm suốt mười năm ở bên này vĩ tuyến, đã từ bên kia vĩ tuyến mười bảy bay sang. Bà ngoại tôi, người cuối cùng của dòng họ Nguyễn còn ở lại miền Bắc đã tạ thế.

Hung tin thu gom trong mấy dòng bưu thiếp lời lẽ mơ hồ, ngày giờ và chi tiết cái chết nghìn trùng cách trở không được nói đến tường tận, nhưng tôi, tôi biết bà ngoại đã nằm xuống ở đâu, cặp mắt nhân hậu một đời nhỏ lệ xót thương kẻ khác ấy đã khép lại dưới vòm trời nào, thước đất nào đã được bà lựa chọn gửi nắm xương tàn của một tuổi già cô độc.

Thửa ruộng nhỏ nằm dưới chân một sườn đồi trọc. Đất đỏ rờ rỡ màu máu. Thửa ruộng có một thân cây lớn nghiêng bóng, kế liền với một con đường sỏi đá và cỏ bồng hoang vu, trên đầu là những đám mây trung du và đám mây của một vòm trời trung du trắng xốp như bông nõn ấy nổi chìm ở bên này và bên kia một vùng rậm rì xanh đặc là hai sườn Tam Đảo.

Từ đỉnh núi, đổ xuống một ngọn thác trắng phau nhìn xa như một sợi chỉ bạc. Từ cuối con đường hoang, vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc về chiều. Từ những xóm xa lọt vọng vào thị xã tiếng chầy giã gạo ba trăng. Tự miền cao phả về cái hơi thở âm u của núi rừng Việt Bắc. Tự miền dưới thổi lên cái hương thơm đầm ấm của lúa mạ đồng bằng. Người ta khiêng quan tài bà từ căn nhà rêu phong cổ cũ đi ra, cách hàng nghìn cây số tôi cũng hình dung thấy rõ ràng như vậy, đám táng kéo dài trên con đường lả lay cỏ bồng, chiếc quan tài in lên nền trời Tam Đảo, và nó được hạ huyệt trong thửa ruộng đó, không thể trên một thức đất nghĩa địa nào khác. Bởi vì bà tôi, nếu đã ở lại, nếu đã chối từ vượt tuyến cũng chỉ để được nằm xuống bên cạnh đứa con xấu số của bà là bác Cả Đoàn. Bác Cả được chôn ở thửa ruộng ấy, mấy giờ sau khi bác chết, cái thân thể trần truồng lỗ chỗ vừa đúng 17 vết đạn liên thanh.

*

Câu chuyện xảy ra cách đây đã mười lăm năm. Nhưng thảm kịch của người bác điên loạn, còn xảy ra lâu hơn nữa về trước, từ khi tôi còn nhỏ dại. Tôi kể lại dưới đây. Vì cái chết của người bác điên rồ là một trong những hiện tượng lạ lùng không bao giờ tôi giải thích được.

Mãi mãi tôi còn nhớ tới những chuyến về thăm quê ngoại đó, chuyến xe hàng cũ kỹ nổ máy từ tối đất nơi chân sóng rì rào của một xóm đạo vùng biển ỳ ạch chuyển mình trên những con đường liên tỉnh trải đá xanh hun hút. Những dốc đò rồi những bến phà. Dưới vành trời hắt hiu của mùa đông miền Bắc, chiếc xe cũ kiên nhẫn nuốt dần từng cây số trắng, thả lùi những xóm làng chài lưới về sau, tiến dần vào một vùng rừng núi cằn cỗi. Ngọn Tam Đảo hiện ra trong sương chiều, đỉnh núi chìm nhòe trong lớp mây xám loãng như một chiếc khăn choàng đánh đai lấy nó. Rồi là niềm vui náo nức tràn trề trong gió rừng đổ xuống khi chiếc xe trườn vào thị xã Vĩnh Yên le lói ánh đèn. Chiếc xe kéo thả mẹ con tôi xuống một căn nhà cuối tỉnh lỵ.

Cha tôi đánh điện tín từ hôm trước. Và bà tôi ngồi đó, trước thềm cửa, chờ đón chúng tôi. Bà chít khăn mỏ quạ, mặc áo bông ngắn. Mỗi năm bà mỗi già, nhưng ánh vui mừng cảm động của đôi mắt vẫn ngời lên, lấp lánh, khi tôi tự xe nhảy cẫng xuống, và mặc mẹ tôi quát mắng không được lôi bà như thế, tôi kéo bà sềnh sệch vào nhà. Bữa cơm, tôi ngồi chồm chỗm trên lòng bà, vòi quấy đủ thứ. Bà nấu chè và làm mứt dừa ngon vô cùng. Chè bà cốt, màu mật đặc quánh, mùi gừng thơm cay phảng phất trong mùi hương gạo nếp bùi ngậy. Dừa mật Vĩnh Yên nổi tiếng miền Bắc, bà nấu thành một thứ mứt dẻo quyện, trong suốt, đỏ thắm, đựng đầy trong một vò thủy tinh lớn. Những ngày về thăm bà ngoại, dạ dày tôi căng phình, đuôi mép lúc nào cũng nhuếch nhoáng màu đường màu mật. Vui thú không bút nào tả xiết. Thức dậy sau một đêm ngủ vùi vì chuyến đi mệt nhọc, buổi sáng tôi chạy ra đầu nhà, và cặp mắt của đứa nhỏ chỉ quen nhìn bãi cát và sóng biển trong tôi đã ngó nhìn đến độ bàng hoàng ngây ngất ngọn Tam Đảo hiện hình chất ngất trong buổi sáng trung du yên tĩnh, ngọn núi đứng đó, sừng sững trước mắt như một hình ảnh thần linh hoang đường, với cả một thế giới kỳ lạ, bí mật của nó ẩn kín ở sườn núi bên kia.

*

Chính là một trong những chuyến về Vĩnh Yên thăm ông bà ngoại mà tôi biết đến sự hiện hữu của bác Cả Đoàn. Lần thứ nhất ngó thấy bác, tôi đứng đờ người, mặt tái nhợt vì khiếp hãi. Đang nhảy nhót chung quanh cái bể non bộ ở khoảng sân sau, tiếng gõ loong coong làm nhịp cho một giọng hát ê a lạ tai ở căn buồng sát hông nhà bếp làm tôi ngừng nhảy, tò mò tiến lại.

Qua khung cửa khép hờ, tôi nhìn thấy một người đàn ông. Râu ria và đầu tóc người ấy xồm xoàm như một con thú. Người ấy khoác một tấm bao bố trên vai, đóng khố ngồi khoanh chân trên nền đất nhớp nhúa của căn buồng không có đồ đạc gì ngoài một tấm phản mộc. Hai chân người ấy bị xích chặt. Cái xích quấn nhiều vòng chung quanh mắt cá, đầu xích cột chặt vào một cái cọc gỗ chôn nghiêng.

Cảnh tượng người đàn ông gần như lõa thể bị cùm xích đột ngột hiện ra làm tôi rợn người, nín thở, trái tim đậm thình thình trong lồng ngực. Người đàn ông chưa nhìn thấy tôi. Hắn vẫn ngồi nguyên trong dáng điệu cũ, mắt nhắm nghiền, hai tay cầm hai mảnh que nhỏ loong coong lên đít một cái ống bơ sữa bò lật úp, miệng ê a như một thầy bùa đang tụng niệm.

Hắn cứ ê a và cứ nhắm nghiền mắt mà gõ loong coong không ngừng trên nắp ống bơ như thế một hồi lâu, thần trí như đắm chìm hoàn toàn vào một thế giới mơ hồ nào đó. Tôi tròn xoe mắt, nhìn ngắm không chớp. Tôi không biết người đàn ông cởi trần bị xích chân và đang ê a hát nhảm ấy là ai. Tại sao hắn ở trong nhà bà ngoại tôi? Tại sao hắn bị cùm xích như thế? Ông tôi, bà tôi, mẹ tôi, không một ai nói chuyện cho tôi về hắn, về sự hiện hữu của hắn trong căn nhà này, dù chỉ một lần.

Bỗng dưng, một tiếng động làm người đàn ông bừng tỉnh. Hắn mở choàng mắt, ngừng hát ngừng gõ. Thấy tôi đứng đó, hắn trợn mắt nhìn rồi thình lình hắn chỉ thẳng chiếc que vào mặt tôi, và cười nhe hàm răng trắng ởn. Tôi chỉ kịp rú lên khiếp hãi rồi quay đầu, cắm cổ chạy bay lên nhà trên.

Tôi còn nhớ khi tôi vừa thở vừa kể chuyện cho bà tôi về người đàn ông nhìn thấy dưới căn buồng hông bếp, bà tôi và mẹ tôi đã đưa mắt nhìn nhau, cái nhìn trao đổi ấy cực kỳ buồn rầu và chua xót.

Tôi níu áo bà, hỏi dồn:

“Ai thế, bà ngoại?”

Mẹ tôi trừng mắt mắng át:

“Trẻ con biết gì mà hỏi. Cấm mày không được xuống đó nữa, nghe không?”

Thấy tôi phụng phịu sắp khóc, bà ngoại kéo tôi vào lòng, vuốt tóc. Bà nói, giọng nghẹn ngào nước mắt lưng tròng:

“Cháu nó biết gì mà mắng nó! Bác Cả Đoàn đấy cháu ạ! Mẹ bảo cháu phải nghe, cháu đừng lảng vảng xuống gần chỗ bác Cả nữa nhé!”

“Tại sao thế bà ngoại?”

Bà tôi ngập ngừng nói:

“Vì bác ấy điên”.

Mãi mấy năm về sau, khi lớn khôn hơn, tôi mới được mẹ tôi nói chuyện về bác Cả Đoàn. Bác là con trưởng và là người con trai độc nhất của ông bà tôi. Theo lời mẹ tôi thuật lại, bác thông minh và hiền từ vô cùng. Ông bà tôi cho bác ra Hà Nội học, đến khi đỗ bằng cao đẳng tiểu học, bác Cả ở luôn ngoài Hà Nội, làm thư ký cho một hãng buôn lớn, thỉnh thoảng mới về Vĩnh Yên thăm ông bà tôi, thường thường là vào cuối mùa gặt để làm giúp ông tôi sổ sách về thóc lúa thu hoạch được. Gia sản của ông tôi ước chừng vài ba chục mẫu ruộng ở các miền kế cận thị xã, những thửa ruộng nằm rải rác trong những thung lũng, những chân đồi trước mặt ngọn Tam Đảo. Đường sá miền trung du gập ghềnh núi đồi cheo leo, đó chỉ là một hệ thống thiên nhiên của những lối mòn đổ xuống thung này vắt qua lũng khác, xe cộ không thể đi tới, nên mỗi lần đi thăm ruộng ông tôi vẫn phải dùng ngựa. Ông tôi có một con ngựa hồng, khi nào không cưỡi vẫn thả rông cho ăn cỏ ở khoảng đồi thấp sau nhà.

Năm đó – năm xảy ra bất hạnh – bác Cả từ Hà Nội về giữa lúc ông tôi bị đau nặng. Thế là bác Cả sáng sáng cưỡi ngựa đi thăm ruộng thay cha. Buổi sáng hôm đó, bác cũng cưỡi ngựa phóng nước kiệu ra khỏi nhà đi thăm mấy thửa ruộng gặt dở trong thung như thường lệ.

Đến nơi, bác thả ngựa cho ăn cỏ ở một bóng cây, chạy xuống chuyện trò vui vẻ với đám thợ gặt. Sự tình cờ tai hại là thửa ruộng ấy sát liền với thửa ruộng của một điền chủ khác, người này hôm ấy cũng cưỡi ngựa đến thăm ruộng mình và cũng thả ngựa cho ăn cỏ dưới cùng một bóng cây. Một lát sau, những tiếng hí vang lên. Tiếng móng đập loạn xạ. Hai con ngựa đá nhau dữ dội. Hoặc là bác Cả không biết khi hai con ngựa đá nhau như thế là cực kỳ nguy hiểm, hoặc là bác sợ con ngựa của ông bị thương – không biết – chỉ biết bác chạy lao tới, kéo con ngựa của ông tôi ra, và liền bị nó đá hậu một đá trúng giữa khoảng bụng dưới. Bác thét lên một tiếng đau đớn rồi ngã vật xuống, ngất đi.

Khi đám thợ gặt khiêng bác về nhà, ai cũng tưởng bác bị ngựa đá chết. Rờ tim, còn đập thoi thóp, nhưng bác vẫn mê man không hồi tỉnh lại được. Bà ngoại tôi cuống cuồng, kêu thóc thảm thiết. Phương kế nào cũng không làm bác tỉnh lại. Cho đến khi một người hàng xóm mách bà tôi cho bác uống mật gấu. Chất mật gấu có một tác dụng kích thích cực kỳ mãnh liệt. Chỉ mười lăm phút sau, bác Cả cựa mình và mở mắt.

Có điều là thương con quá độ, muốn cứu con mau chóng, bà tôi đã đổ vào miệng bác quá nhiều mật gấu. Sau tai nạn, bác khỏe mạnh như người thường. Nhưng một năm sau, chất mật gấu bắt đầu phá phách cơ thể và thần trí: bác Cả Đoàn phát điên. Bà tôi đau đớn ra tận Hà Nội đón đứa con điên loại về Vĩnh Yên, nhất định không chịu để người ta đưa bác vào nhà thương Vôi, là nhà thương người điên ở miền Bắc thời bấy giờ.

Sự buồn thảm như một đám mây đen tối đổ dồn vào mái nhà êm ấm, biến nó thành địa ngục và nhà mồ. Ông tôi giết con ngựa phản chủ, suốt ngày ngồi lặng lẽ trên góc phản, khuôn mặt u uất rắn lạnh như chưa thôi đau đớn trước một thất đức tiền kiếp nào đó, bây giờ hiện thân thành trừng phạt mà người phải gánh chịu qua chứng điên loạn của người con. Bà tôi thì cả ngày vật vã khóc lóc. Nhà có người điên nên bạn bè thân thuộc cũng xa lánh dần dần. Sự thật là ông tôi đóng kín cửa không chịu tiếp ai, trong nỗi đau âm thầm có pha lẫn một niềm tủi hổ mà sống người để bụng, chết người mang theo, vĩnh viễn không bao giờ xóa bỏ được.

Căn nhà chứa lúa dưới hông bếp không dùng làm gì nữa – ông tôi đã bán rẻ hết ruộng đất sau tai họa – biến thành cái thế giới lưu đầy bé nhỏ cho bác Cả sống với những hình ảnh quái dị nhảy múa trước mắt, nơi sự tỉnh táo sáng suốt chỉ còn là những vùng thư thái thu hẹp như những giọt nắng thoi thóp cuối cùng của một vòm trời bão giông. Căn bệnh không thuyên giảm, ngày một trầm trọng thêm mãi cho đến khi mọi phương sách cứu chữa tuyệt vọng đều uổng công.

Mấy tháng đầu, cơn điên chập chờn trong một trạng thái mất trí hiền lành. Bác Cả cười khóc rồi lăn ra ngủ. Bác ngủ suốt ngày suốt đêm, đầu ghếch lên một góc tường, tay chân co quắp, như một con chó ốm. Sau, chứng bệnh nặng dần. Cái thế giới bệnh hoạn ngột ngạt nung nấu biến con vật hiền lành thiêm thiếp thành một con thú dữ tợn, mỗi lần nổi cơn là một lần đập phá gào thét khủng khiếp. Tóc bạc mọc dài ra, râu ria xồm xoàm. Rớt rãi sùi trắng hai bên mép. Con mắt trợn trừng đỏ rực màu máu. Đêm đêm tiếng gầm rú của người điên vang động khắp khu phố, như lan xa tới vách Tam Đảo và vang trở lại, gợi trong nó cái âm thanh rùng rợn của một con hổ vằn tử thương tru rống từ một đáy rừng sương.

Một buổi chiều nóng nực, bác Cả phát cơn điên đã chạy lên nhà đập phá loạn xạ. Rồi vớ được một gióng cửa gỗ lim, bác thẳng cánh quất xuống đầu ông tôi máu chảy lênh láng. Từ đó, mặc dù bà tôi phản đối, ông tôi cho xích bác lại. Người điên khỏe lạ lùng. Cái dây xích lớn thế, cái cọc đóng sâu vào nền đất như thế mà nhiều lần bác thét rồi vươn tay nhổ phăng cọc, cứ trần truồng ôm xích mà chạy túa ra đường. Bác vừa chạy vừa hò hét, cứ nhắm hướng Tam Đảo tiến vào. Phải hàng chục người trai tráng trong phố mới chế ngự được bác sau một cuộc vật lộn dữ dội.

Người độc nhất mà bác còn nể sợ là bà tôi. Đang gào thét, chửi rủa, đập phá, chỉ cần bà tôi đến ngó bác bằng cái nhìn đẫm lệ và dịu dàng nói: “Cả, làm gì thế con?” là bác im ngay, bác từ từ ngồi xuống, cái nhìn nem nép cúi gằm như một đứa nhỏ phạm tội. Tình thương đó của bà tôi là dòng ánh sáng duy nhất còn chiếu soi được vào vùng tối đặc mê mẩn, là trận mưa duy nhất còn đổ xuống và thấm lắng được vào thần trí bác như một vùng đất đai khô cằn, làm nở lên những bông hoa. Nhưng tình thương đó chỉ là một liều thuốc an thần chốc lát. Căn buồng chứa thóc ngày trước ở hông bếp là một địa ngục vĩnh viễn giam cầm bác Cả tôi trong cái thế giới cô độc của kẻ mất trí, cái thế giới rùng rợn của người điên.

*

Từ ngày biết rõ chuyện bác Cả như thế, tôi vẫn được mẹ tôi hằng năm cho về thăm bà ngoại. Tôi sợ, nên chỉ quanh quẩn trên nhà, đôi khi lảng vảng xuống khoảng sân sau cũng chỉ dám đứng ngó bác thấp thoáng trong căn buồng mờ tối từ xa. Cho đến khi cuộc chiến tranh đột ngột bùng nổ, cắt đứt đường về thăm quê ngoại. Hai năm trôi qua như thế, rồi là một tin buồn từ ngọn Tam Đảo vượt qua nghìn trùng cách trở xuống với gia đình tôi ở dưới biển: ông ngoại tôi tạ thế. Mẹ tôi khóc ngất, thương cha chết một phần, thương người mẹ già một thân một mình lủi thủi kéo lê cái tuổi già buồn thảm dưới bóng núi xa đến mười phần.

Tôi còn nhớ năm đó là một mùa đông cực kỳ buốt lạnh. Sau một đêm bàn bạc, cha tôi bằng lòng để mẹ tôi tìm đường lên Vĩnh Yên đón bà ngoại xuống ở với gia đình tôi. Mọi đường giao thông trên bộ đã bị gián đoạn hết, phải chuyển vận bằng thuyền. Vì chuyến đi nguy hiểm gian lao, tôi phải năn nỉ vòi vĩnh mãi mới được mẹ tôi cho phép đi theo. Ngày đi đêm nghỉ, chiếc thuyền nan ngược dòng, vượt nhánh sông này tới nhánh sông khác, len lỏi qua các mặt trận, tránh xa những vùng súng đạn, ròng rã đúng vào nửa tháng mới tới được cái bến đá hẻo lánh dưới chân ngọn Tam Đảo.

Bấy giờ, từ mạn cầu Đuống tràn ngược lên qua Hương Canh, Phúc Yên, cánh quân mở đường của Pháp đã tiến dần đến thị xã. Chúng tôi đặt chân vào căn nhà rêu phong cổ cũ đúng ngày bà ngoại tôi đang sửa soạn tản cư vào núi. Đứa trẻ đã lớn, đã biết nhận xét ở tôi, chuyến cuối cùng về thăm quê ngoại đó, thu vào tầm mắt nó những hình ảnh cực kỳ buồn thảm. Bà tôi đã già, già lắm. Bà vẫn đội cái khăn mỏ quạ, mặc cái áo bông ngắn như cũ, nhưng ánh lửa nhân hậu sưởi ấm những tháng ngày thơ dại của tôi đã tắt trong cặp mắt nhòe mờ, khuôn mặt tươi cười thuở nào chỉ còn là một vùng héo hon đầy những nếp nhăn, in hằn những đường rãnh nước mắt không thôi chảy ròng từ ngày đứa con trai độc nhất bị ngựa đá thành điên. Cùng với tiếng súng của một thời loạn lạc ầm ĩ dội tới từ đầu thị xã, buổi tối mùa đông dầy đặc khí núi thổi lùa từng đợt lạnh căm căm vào căn nhà le lói ánh đèn, nơi mẹ tôi và bà tôi ngồi thao thức bên đống hành lý gói buộc sẵn sàng trong đêm dài kinh hoàng, chờ buổi sáng tới để chạy ẩn vào hang núi. Những tiếng thở dài não nuột phát ra từ hai cái bóng âm thầm. Bỗng mẹ tôi hỏi:

“Còn bác Cả”.

“Mẹ cũng chưa biết tính sao đây, bà ngoại vừa khóc vừa nói. Nó điên loạn như thế cùm xích bao nhiêu năm rồi, bây giờ tháo xích đưa nó đi theo, biết nó chịu đi không? Nó nổi cơn lên thì làm thế nào chứ! Mà để nó ở lại thì thà mẹ ở lại đây cho lính Tây nó bắn chết còn hơn”.

“Hồi này bệnh tình anh con ra sao? Mẹ tôi hỏi”.

Bà tôi gạt nước mắt nhìn xuống phía nhà bếp:

“Mỗi ngày một nặng thêm. Trước nó còn chịu nghe mẹ, bây giờ mê loạn hoàn toàn rồi, bảo gì cũng không chịu nghe nữa”.

Tôi cứ nằm nghe tiếng đại bác ầm ì và tiếng nói chuyện rì rầm như thế rồi ngủ đi trên gối bà lúc nào không hay. Khi mẹ tôi lay vai đánh thức dậy, trời đã tảng sáng. Tiếng súng lớn vọng tới trong đêm giờ đã biến thành tiếng liên thanh tặc tặc réo réo từng hồi, thật gần, rõ mồn một, tưởng như đã nghe thấy tiếng giầy đinh, tiếng sì sồ của quân Pháp ở ngay đầu phố.

Mẹ tôi và bà đeo khăn gói lên vai hấp tấp đi xuống căn buồng bên hông nhà bếp. Phút quyết liệt đã tới. Bà tôi mở cánh cửa gỗ, mẹ tôi rón rén đi theo, cùng tiến vào chỗ bác Cả Đoàn nằm. Tôi nín thở, đứng nép sau lưng bà. Cái bao bố rách tơi tả phủ lên một thân hình gầy đét đến xương, bác Cả nằm nghiêng, quay mặt vào tường, sợi dây xích đen nhảy căng thẳng từ cổ chân bác tới đầu cọc. Mùi cứt đái xông lên nồng nặc khiến tôi nôn ọe bịt vội mũi lại. Cái ống bơ và hai thanh tre, thú tiêu khiển và cũng là bạn bè độc nhất suốt một đời của người điên – tôi nhìn thấy ở nguyên chỗ cũ, dưới chân bác. Bác nằm, nhưng không ngủ. Tiếng nôn ọe của tôi làm bác bất thần quay ra và ngồi vụt dậy. Tôi hoảng hốt không giữ được tiếng thét sợ hãi. Mọi người chờ đợi những tràng dài quát tháo nguyền rủa nổi lên. Nhưng không, bác lùi vội lại một bước như con thú dữ thu mình, tròn xoe mắt, nhìn bà tôi không chớp. Mẹ tôi gạt nước mắt đứng yên. Bà tôi ngồi xuống. Bằng một giọng nói hết sức dịu dàng, rành rọt từng tiếng một, bà tôi cắt nghĩa cho bác là quân Pháp đã tràn vào thị xã, chúng tôi phải bỏ nhà tản cư vào núi và xuống đây đem bác đi theo.

“Con bằng lòng đi theo mẹ không?”

Bác Cả nín thinh, rồi cái nhìn vụt chuyển thẳng từ bà tôi tới tôi khiến tôi thất thần lạnh toát người đi.

“Con giai em con đó, mẹ con nó lặn lội từ dưới bể lên thăm con đó”.

Bà ngoại quay lại tôi:

“Cháu chào bác Cả đi. Bác yêu cháu lắm. Cháu chào bác đi”.

Tôi nhợt người, ấp úng mãi mới nói được với người điên:

“Lạy bác ạ!”

Bác vẫn nín thinh trong dáng điệu thủ thế cũ. Bà tôi ngồi xích lại gần bác, nghẹn ngào:

“Con thế này, sống cũng như chết rồi, mẹ chẳng muốn đưa con ra khỏi chỗ này làm gì, nhưng Tây nó đến, mẹ bỏ con lại không đành, con nghe lời mẹ, con đừng giận dữ, con đi theo mẹ nhé!”

Bác vẫn nín thinh và nhìn ngó trừng trừng. Bà tôi ngọt ngào dỗ:

“Bây giờ mẹ cởi xích cho con”.

Miệng nói bà tôi thò tay vào chân bác. Bác Cả rút phắt chân lại. Dây xích căng thẳng, tiếng kêu loảng xoảng trong căn buồng tối nhờ nhờ. Nhưng tình thế nguy ngập không thể chùng chình được nữa.

“Mẹ cứ cởi xích cho con rồi con có giết chết mẹ, giết chết em, giết chết ngay lập tức, mẹ cũng đành, nhưng mẹ không thể bỏ con ở lại một mình được, mẹ phải cứu con, mẹ phải đưa con đi, mẹ con ta sống chết phải có nhau”.

Bà tôi vừa khóc sướt mướt, vừa mếu máo tra cái chìa vào ổ khóa. Rồi mẹ tôi và tôi cũng ôm mặt khóc theo. Tiếng khóc vang đầy căn buồng hòa lẫn với tiếng đạn liên thanh tặc tặc nổi dậy, mỗi phút một gần thêm mãi. Vòng xích cuối cùng đã tháo hết, bác Cả như một con thú dữ bị gông cùm bao nhiêu năm qua vừa được thả lỏng. Giây phút cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi cứng người, chờ bác chồm dậy, thét lớn, vung xích quật xuống.

Nhưng lạ lùng, nhưng kinh ngạc xiết bao! Bác Cả từ từ đứng dậy. Và trong một dáng điệu hết sức từ tốn, đĩnh đạc, bác tiến lại trước mẹ tôi, giơ cánh tay trần khẳng khiu đặt lên vai mẹ tôi, cử chỉ thân mật âu yếm của một người anh đối với người em gái lâu ngày mới gặp:

“Cô Hai đấy ư? Bây giờ cô chú xuống làm ăn dưới biển ư? Chú ấy vẫn mạnh đấy chứ?”

Sự kinh ngạc làm mẹ tôi mãi mãi mới trả lời được hai tiếng ngắn cộc:

“Vâng ạ”.

Mà không riêng gì người, bà tôi và tôi đều cùng sững sờ trong kinh ngạc tột điểm. Bao nhiêu năm điên loạn, thốt nhiên, trong giây phút thập tử nhất sinh này, bác Cả đã tỉnh dậy, như tỉnh dậy sau một giấc ngủ bằn bặt, như sống lại sau một cái chết dài.

“Ông mất rồi, tôi bệnh hoạn như thế này, bà già yếu không còn ai nương tựa, chỉ còn mình cô chú. Cô chú thay tôi chăm sóc bà nhé!”

Mẹ tôi giàn giụa nước mắt gật đầu.

Bác Cả quay lại, mỉm cười tiến đến trước mặt tôi, cái bao bố kéo lệt xệt trên nền đất.

“Tên cháu là gì?”

Phút đó tôi vẫn khiếp hãi, nhưng sự khiếp hãi không còn như trước nữa. Tôi nhìn cái khuôn mặt râu ria xồm xoàm, nhớp nhúa, tiều tụy nhưng đầy những nét đẹp cân đối, tôi nhìn cái thân hình giơ xương, cái mái tóc màu tro phủ xuống kín gáy, rồi tôi nuốt nước bọt, cố gắng chế ngự sự hồi hộp, dõng dạc trả lời bác:

“Thưa bác, tên cháu là Đăng”.

Bác Cả nhoẻn miệng cười, xoa đầu tôi, nhắc đi nhắc lại:

“Tốt lắm, tốt lắm, tốt lắm”.

Cuối cùng, bác quay sang bà ngoại mà nỗi mừng vui xúc động mãnh liệt vừa bật thành tiếng khóc nức nở.

“Con không điên nữa đâu. Bây giờ con không điên đâu. Mẹ đừng sợ, mẹ đừng khóc nữa”.

Qua khung cửa, trời bật sáng rõ. Cùng với ngày vừa lên, tiếng giầy đinh rầm rập, tiếng xì xồ quát tháo lạ tai của toán lính Pháp hung dữ nhất tề nổi lên ở đầu phố.

Bác Cả lắng tai nghe ngóng. Mắt bác sáng quắc. Bác nhảy vọt một bước ra sân, vơ lấy cái gióng cửa dựng ở bên thành bể non bộ, cái gậy mà trong một cơn điên ngày nào bác đã đánh ông tôi chết ngất. Theo tiếng gọi của bác chúng tôi líu ríu ra khỏi nhà, lếch thếch chạy ngược về phía chân núi. Ngọn Tam Đảo mờ mờ trong sương sớm. Ra đến đầu tỉnh chúng tôi đặt chân vào con đường dẫn lên đồi còn ướt đẫm sương. Chúng tôi vừa chạy vừa thở hổn hển, chân cẳng run bắn muốn ríu lại, muốn té quỵ, vì ở phía sau lưng những tiếng đạn, tiếng giầy, tiếng xì xồ vẫn đuổi theo rất gấp. Những đám người chạy cùng với chúng tôi khi nhìn thấy bác Cả, mình đeo khố tải, tay cầm gậy lớn, đều kêu lên thất thanh: “Người điên! Người điên!” và chạy tán loạn về phía khác. Tôi chạy tưởng chừng sắp muốn đứt hơi. Bà tôi mấy lần lảo đảo chỉ muốn ngã sấp xuống. Bác Cả đi tập hậu, cứ kéo lết bết cái bao tải như thế, vừa chạy vừa ngoái cổ lại. Trên con đường vắng tanh, lởm chởm, chỉ còn bốn bà cháu chúng tôi cuống cuồng, lếch thếch trước những tràng đạn đuổi theo veo véo trên đầu.

Bỗng tiếng bác Cả cất lên:

“Chúng nó! Chúng nó!”

Chúng tôi rú lên, cùng ngoái cổ nhìn lại. Thấp thoáng ở xa xa, đầu con đường đầu tỉnh, những đầu lưỡi lê nhấp nhổm, sáng loáng. Cùng lúc đó, bà tôi kiệt sức, ngã vật xuống. Bác Cả chạy đến, xốc bà ngoại dậy. Bà tôi vừa khóc vừa thở:

“Thôi đành là mẹ con ta chết ở đây. Mẹ không chạy nổi nữa, con ơi!”

Tôi thấy bác Cả đẩy bà ngoại cho mẹ tôi đỡ lấy, bác nghển cổ nhìn tứ phía, rồi bác chỉ tay cho mẹ tôi nhìn thấy một con đường nhỏ chạy tắt xuống thung lũng um tùm.

“Cô đưa bà và cháu chạy xuống dưới kia”.

Mẹ tôi còn ngơ ngác do dự bác đã giục hối hả:

“Mau lên. Chạy xuống ẩn dưới đó đi”.

“Còn bác?”

Bác Cả lần lượt nhìn cả ba chúng tôi bằng một cái nhìn lạ lùng, một cái nhìn chứa chan, nồng nàn, như gửi vào đó tất cả những thương yêu một đời, rồi bác mỉm cười nói:

“Tôi chạy theo sau mà. Mau lên, trời ơi, mau lên”.

Mẹ tôi quẳng vội khăn gói, một tay dìu bà, một tay dắt con, cắm đầu chạy xuống con đường nhỏ. Đạn nổ đinh tai nhức óc. Chạy tới một vùng cỏ dại cao ngang tầm người, mẹ tôi vấp kéo theo bà tôi và tôi cùng ngã xuống.

Nhìn lên, mẹ tôi kêu lên một tiếng sợ hãi. Thì ra bác Cả không chạy theo chúng tôi, mà từ con đường cao, bác chạy sang phía bên kia, bác chạy thẳng lên đỉnh đồi.

Suốt đời, tôi còn nhớ thân đến cái cảnh tượng lạ lùng, kinh dị đó. Thân hình bác Cả nổi lên nền núi xanh thấp thoáng nắng sớm, cái khổ tải lất phất như một cánh bướm, như không phải là bác đang chạy mà đang là là bay. Điều kỳ dị là bác chạy dềnh dàng, chuệnh choạng, chân nam đá chân xiêu, như người sau rượu. Điều kỳ dị nữa là bác vừa chạy như thế, vừa vung tít cái gậy trên đầu, vừa ngoái cổ lại, gật gù như vẫy như gọi bọn lính đuổi theo, miệng thì ca hát ê a, tiếng ca hát ê a tôi đã từng nghe thấy trong những cơn điên của bác.

Bà tôi và mẹ tôi cùng thét lên:

“Trời ơi! Lại nổi cơn điên rồi”.

Nhưng không phải thế đâu. Bác Cả không điên. Bác Cả chỉ đang cứu chúng tôi thoát khỏi ba cái chết thảm khốc. Sau này, càng nghĩ càng nhớ đến cái nhìn cuối cùng của bác, cái nhìn chan chứa yêu thương không nói, tôi càng tin là đúng, là chỉ có thể như thế, là lần duy nhất trong đời, điên đã tỉnh rồi, đã giả bộ múa hát điên điên dại dại, để dụ quân Pháp về một hướng khác, đánh lạc đường chúng đuổi theo chúng tôi.

Và bác đã thành công, toán lính đuổi tới chỗ bà tôi ngã, đứng khựng lại trước cảnh tượng kỳ quái đang diễn ra trước mắt chúng trên ngọn đồi trọc. Tới đỉnh đồi, bác Cả quay lại, hoa chân múa tay, miệng vẫn hò hát, như thách thức đám lính đuổi theo. Một tràng đạn xé tan không khí. Từ đám cỏ hồng, tôi thấy bác Cả lảo đảo, cái gậy trong tay bác hạ xuống, bác loạng choạng đi trở xuống, tay ôm ngực. Một tràng đạn thứ hai nổi lên. Bác Cả ngã vật xuống. Quân Pháp chụm đầu bàn tán, ý chừng còn thảng thốt trước sự xuất hiện quái đản của người khùng. Rồi chúng quay trở lại, kéo nhau về thị xã.

Chúng tôi thoát chết.

Khi bà tôi lên tới đỉnh đồi và nức nở quỳ xuống, bác Cả đã tắt thở từ lâu. Con mắt một nửa đời người vẩn đục màu máu điên loạn chỉ còn là một khối đồng tử bất động. Cái bao tải phủ ngang thân thể bác như một màn vải liệm. Chiếc gậy lớn vẫn cầm lăm lăm trong tay. Bác Cả nằm nghiêng nghiêng, nét mặt hiền hòa, cái nhìn ngước lên như hướng tới đỉnh núi Tam Đảo cao ngất bây giờ đã rực rỡ dưới nắng.

Bà tôi vuốt mắt cho bác. Buổi trưa hôm đó bà tôi xõa tóc, đi theo xác con đến tận bờ huyệt đào ngay trong thửa ruộng chân đồi, dưới bóng cây, nơi khi xưa, bác Cả Đoàn đã bị con ngựa hồng của ông tôi đá một phát vào bụng dưới thành điên.

***

Trở về căn nhà rêu phong cũ, bà tôi quét dọn lại căn buồng chứa lúa ngang hông nhà bếp, dọn giường chiếu xuống đó, sống những ngày già yếu cuối cùng của đời bà ngay trên thước đất nơi bác Cả bị xiềng xích ngày trước. Chỉ còn một thân một mình nhưng bà tôi nhất định ở lại nơi này, trong căn buồng của người con điên, và bỏ luôn ý định xuống miền biển, sống với gia đình chúng tôi, mẹ tôi năn nỉ thế nào, khóc xin đến mấy cũng không lay chuyển được. Ngày sắp di cư vào Nam, cả thầy mẹ tôi cùng lên Vĩnh Yên, đón bà cùng đi. Nhưng bà tôi không chịu. Và bà đã ở lại. Bà bảo mẹ tôi:

“Mẹ già rồi, không đi đâu nữa. Mẹ ở lại chờ chết trong căn buồng này là nơi thằng Cả nó đã sống, đêm đêm mẹ vẫn mơ thấy nó hiện hồn về”.

Trên cái bàn thờ nhỏ của bác Cả Đoàn được thiết lập ở một góc buồng, bà tôi dựng cái gậy bác Cả còn cầm ở trong tay cho đến lúc chết. Và trên bàn thờ, dưới ánh khói hương, là cái ống bơ sắt cũ và đôi gậy tre là những dấu tích cuối cùng của một cuộc đời điên loạn.

*

Bây giờ bà tôi đã chết. Tấm bưu thiếp ngắn ngủi từ bên kia vĩ tuyến không nói rõ bà tôi nằm xuống ở đâu, trút hơi thở cuối cùng trên thước đất nào. Nhưng tôi, tôi nhìn thấy rõ ràng cái chết nghìn trùng cách trở ấy. Người bà ngoại nhân hậu vì quá thương con, cho con uống quá nhiều mật gấu đến nỗi thành điên, đã khép mắt trong căn buồng ấy, nơi mãi mãi phảng phất tiếng ê a lạ tai và tiếng đũa gõ loong coong đêm ngày trên nắp cái ống bơ lật úp của người điên đã chết cho những người thân yêu được sống. Phải, bà ngoại tôi chỉ có thể chết trong căn buồng ấy. Không thể chỗ khác. Và người ta cũng chỉ có thể chôn cất bà ở chỗ ấy, cho người mẹ già được ngủ giấc ngủ nghìn đời với người con điên trong thửa ruộng dưới chân đồi nhìn lên một sườn Tam Đảo. Không thể ở chỗ khác.

Có một điều là: sau bao nhiêu năm, tôi vẫn ngạc nhiên và vẫn tự hỏi về cái hiện tượng lạ lùng là sự thức tỉnh sáng suốt cuối cùng và đột ngột của bác Cả Đoàn. Tiếng súng đạn đinh tai nhức óc đã làm bác chợt tỉnh cơn điên loạn triền miên? Hay là vì những giọt nước mắt hãi hùng của chúng tôi trong buổi sáng thập tử nhất sinh đó? Hay vì tôi, vì cái khuôn mặt thơ dại của đứa cháu vô tội? Không biết. Có thể là vì những nguyên nhân huyền bí, siêu hình nào đó đã cấu tạo thành linh hồn và sự thật dị thường không khám phá nổi, niềm bí mật nghìn đời ẩn giấu của thế giới người điên.

Chỉ biết rằng, buổi sáng hôm đó, trước cái chết đến gần, bác Cả Đoàn đã tỉnh dậy. Và nhờ sự sáng suốt độc nhất, chốc lát, của cuộc đời điên loạn ấy mà tôi còn được sống đến ngày nay.

Just like that, one bright morning in Saigon, the crazy news my family have been waiting for anxiously for ten years this side of the parallel, flown in from the other side of the 17th parallel. My maternal grandmother, the last member of the Nguyễn family left behind in the North just passed away.

Bad news condensed in a few surreal lines on a postcard, date time of an unreachable death thousands and thousands of miles away scarcely mentioned, but I, I knew where my maternal grandmother laid down her life, wise eyes and a lifetime of benevolent tears for others have closed up under which firmament, which patch of earth had she chose for the keepsake of her withered bone in old age alone.

The small acre field lies at the foot of a grassless hill. The clay soil was eerily red like blood. The shade of a huge tree in the field right by a path of pebble and reeds in their natural habitat, above them were cumulus clouds, a firmament of white fluffy cotton balls, clouds with flat bottoms that looked like cauliflowers floating on this side and on the other side was a dense green thicket were the two slopes of Tam Đảo.

The white water poured from the top of the mountain and from far away the water fall looked like a silver cotton thread. Rising was the echo of a horse galloping from the end of an over grown path in the afternoon light. Escaped from distant villages the odd sound of rice being pounded in a mortar and pestle three moons after the harvest. Returned from the Northern highlands of the Vietnam the sombre dark air of the trees and mountain. Carried in the wind from the low plains was the warm smell of paddy seedlings. They carried her coffin out from an old moss covered house, a thousand miles away and I can still see it clearly, the funeral procession stretched out along on a path through sea of grass swaying in the wind, the coffin was an imprint across the horizon of Tam Đảo, and it was lowered in to the ground in the middle of that acreage of land, and not just any soil or cemetery. Because my grandmother, stayed, refused to cross the demilitarized zone so she could be buried next to her unfortunate son, my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. My uncle Cả was buried in that acreage of land, a few hours after he died, his body riddled holes exactly 17 bullets form an automatic rifle.

*

It happened fifteen years ago. The tragedy of my crazy uncle, it began long before that, when I was still knew nothing and small. Me retelling the story. Because my uncle’s crazy death was a mystery I could never explained.

I will never forget the trips to mother’s family home, the rickety old truck noisy exhaust rattling from the dark rippling water edges of the small church village by the sea lazily moving along the roads through the province lined with infinite blue gravel. Climbing hills after hills before the ferry dock. In the bleak light of the Northern winter, the ancient vehical patiently swallowing one white mile at a time, leaving the withdrawing fishing villages behind, heading deeper and deeper into the ruggedness of the mountain and jungle. Tam Đảo mountain appearing slowly through the afternoon mist, the tip of the mountain a blurr sinking into a layer of grey clouds thinned out like a chiffon sash wrapped around it. Then again joy and excitement of the jungle overwhelming in the wind came falling down as the truck slips down towards the flickering lights in the streets of Vĩnh Yên. The toll truck drop my mother and I at a house at the far end of the provincial capital.

The day before my father sent a telegram. And my grandmother sat there on the steps of the front door, waiting for us. She wore a headscarf, cropped quilted jacket. Older by the year, but all the joy lit up in her eyes, the sparkle, when I jump out of the truck, and my mother’s worried face to not to drag my grandmother like that into the house. During our meal, I was on my grandmother’s lap, demanding all kinds of stuff. My grandmother made the best chè and mứt dừa. My grandmother’s chè was thick and rich the colour of honey, the ginger fragrant with the slightest hint of heat through the nutty scent of sticky rice. Honey coconut from Vĩnh Yên famous in North, my grandmother would turn it into soft chewy, translucent, deep red, fruit candy with a bite kept in a large glass jar. The days I spent with my grandmother my stomach was always stuffed. My lips, the corner of my mouth was always sticky with honey and coloured candy. The kind of happiness that could never be completely noted by a pen on paper. Waking up after a long sleep after an exhausting long journey, running to the front of the house first thing in the morning, sand and waves in the bewildering eyes of a child full of wonder inside me staring at the overwhelming peak of mount Tam Đảo in the midland morning, the mountain stood there imposing, loomed before us like some mythical, divine manifestation, with an entire strange, secret world hidden on the other side of the mountain.

*

It was actually on one of those trips to Vĩnh Yên to see my ông bà ngoại that I became aware of my mother’s older brother, uncle Cả Đoàn. The first time I saw him, I stood there stunned, the blood drained from my face, I was terrified. Dancing around a rock pool in the backyard, the rythmic clanging setting the tempo for the chanting of a song oddly out of place coming from a room right next to the kitchen stopped me midway through a jump, curiously I was drawn to the sounds.

Through the slightly ajar door, I saw a man. His unkept hair and beard made him looked akin to a wild animal. Loinclothed, and over his shoulders like a cape was a canvas bag, he sat on the filthy floor in a room without any thing except for a low raised wood deck. Both of his legs were securely chained. The chains wrapped over and over again around his ankles, the end of the chain was securely fastened to a wooden stake buried at an angle.

The images of the condition of the barely clothed man in chains gave me goose bumps, I held my breath, the surprised thumping of my heart inside my ribcage. The man was unaware of my presence. He continued to sit there with his eyes tightly shut, with a small stick in each hand clanging on a the lid of a sealed can of cow’s milk powder, his lips constantly moving as though he was shaman chanting an incantation.

He continued to chant with his eyes closed as his hands continued to tap on the lid of the empty milk can for quite a while, body and spirit completely immersed in a world somewhere in his mind. Unblinking, my eyes were round and wide opened staring at him. The chained chanting naked man was unknown to me. Why was he in my grandmother’s house? Why was he chained like that? My grandfather, my grandmother, my mother, none of them ever said a word to me about him, about his presence in this house, not even once.

Sudden clamour, snapped him out of his trance. He opened his eyes, stopped tapping on the lid of the can. Seeing me standing there, he opened his eyes wider as he pointed a stick at my face, grinned widely baring his scary white teeth. All I could manage was a yelp before I turned around and ran, head for the main house.

I can still remember the regretful sad look, my grandmother and mother had exchanged with each other, as I breathlessly told them about the man I saw in the room next to the kitchen at the back of the house.

I grabbed onto my grandmother’s sleeve, insisted:

“Grandma, who is that in the kitchen?”

My mother looked at me angry snapped:

“It’s nothing a child should worry about. You are never to go back there again, understand?”

Seeing the tears in my eyes, my grandmother pulled me into her arms, pushed aside the stray hair in my eyes. She said, the words came from the back of her throat full of tears:

“He’s a child, it’s not his fault he can’t understand! Child, that was uncle Cả Đoàn! But you should listen to your mother, you are to never wander down there where uncle Cả is again understand!”

“Why is that grandma?”

My grandmother hesitated:

“Because he is mad”.

It was years later, older and wiser, my mother finally told me about uncle Cả Đoàn. He was my grandparents oldest child and only son. According to my mother, he was smart and very kind. He was sent to Hanoi to study by my grandparents, after attaining his elementary school diploma, uncle Cả stayed in Hà Nội, he was a secretary for a large merchant there, and would now and then come home to Vĩnh Yên to see my grandparents, usually at the end of the harvest to help my grandfather with the books in regards to inventory and rice harvest. My grandfather's estate was estimated to be several dozen acres of farmland in the areas around town, scattered in the valleys and foothills in front of Tam Đảo mountain. Access to the midland was governed by the nature of mountainous slopes, the rise and fall down and up one valley to another, with no access to motorized vehicles, hence, each of my visits to my grandfather's fields was on horse back. My grandfather had a chestnut horse, when we were not riding it, it was left to roam and munch on grass on a small hill at the back of the house.

That year – that unfortunate year – uncle Cả returned home from Hà Nội and my grandfather was very ill. Every morning my uncle would ride the horse to survey the fields for his father. That morning, As usual, he rode his horse at a gallop out of the house to check on the half-harvested rice fields in the valley.

On site, my uncle would fasten the horse to a tree in the shade to munch on grass, before rushing into the field to chat and joke with the harvesters. The unplanned misfortune was that the particular acreage he visited that day was right next to another land owner, he was also on horse back there to check on the harvest on his land and he had also secured his horse on the same tree. It wasn't long before there were the sound of snorts and squeals. Stamping horse hooves. The horses kicked each other, trying to assert dominance. May be my uncle was unaware of how extremely dangerous it was when horses kicked each other like that, or that he was worried that my grandfather's horse might get hurt – no one will ever know – the only thing we do know was that he did not have a second thought except for to pull my grandfather's horse away from the other horse, and was kicked instantly by it in the lower part of his stomach, My uncle screamed in pain just before he fell over, and was unconscious.

When the harvesters carried my uncle home, they all thought he was kicked to death by my grandfather’s horse. Feeling his chest, there was still a murmur of a heart beat, but my uncle was still unconcious and they couldn’t wake him. My grandmother was frantic, screaming and crying. They did everything the could but he refused to wake up. Until one of the neighbour told my grandmother about bile from a bear. The bile from a bear was suppose to be a strong stimilant. It was barely fifteen minutes and there was moment, my uncle opened his eyes.

The only problem was that, because of a mother’s love for her child, my grandmother poured too much of the bear’s bile into her son’s mouth. After the accident, he was back to normal, healthy and strong. But a year later, the bile from the bear began to affect both his mind and body: uncle Cả Đoàn lost his mind. My grandmother travelled all the way to Hà Nội to collect her crazy child, take him back home in Vĩnh Yên, definitely not back to Vôi, a mental institution in the North at the time.

Sadness like a dark cloud descended upon the warm and peaceful home, turned it into hell and a tomb. My grandfather killed the horse that betrayed its master, he spends his days on a corner of the low raised wood deck, not talking, his face solemn and sad was as though he was carrying centuries of transgressions and pain, for the moment he had to bear the punishment of a crazy son. Friends and family slowly avoided any kind of visit because of the presense of someone crazy in the house. Though more true was how my grandfather’s doors were completely shut, he didn’t want to see anyone, inside the silent pain was the humiliation those who were alive hold it tightly in their heart, take it with them to their grave, something that could never be erased.

The back house where there was a kitchen and storage for the harvest was no long used – all his farming land were sold at a loss after the accident – turned into a tiny contained world for uncle Cả to live out his life with all his imaginary images played out in front of him. where lucid awareness were condensed into last breathless drops of light in the sky after a storm. The sickness did not get better, it went down hill until there were no way back and any effort was a waste of time.

The first few months, it seemed as though he had merely lost his memory. Uncle Cả would laugh before he would cry himself to sleep. My uncle slept day and night, his head propped up on one corner of the wall, curled up like a sick dog. After that, his symptoms were slowly worst. The sickly suffocating world where the man slipped away into oblivion as the animal took his place, the ferociousness of his anger destroyed everything around him. His grey hair grew out faster and longer, his beard beastly thick and wild. Saliva dried white on both corners of his lips because of the constant drooling. His blood shot eyes opened wide. At night fall through the trees the villagers could hear the howls of a wild animal, as though the sound had reached the cliffs of mount Tam Đảo before coming back, carried with it in the wind the frightful sound of a wounded tiger from the depths of the fog swamped jungle.

One hot afternoon, during one of his rage, he shoved his way into the main house banging and smashing whatever was in front him. Ripping the solid teak door from its hinges he slamped it on my grandfather’s head the blood was every where. From that point on, against my grand mother’s wishes, my grandfather chained him. The mad are exceptionally strong. The chain was thick, and the stake pinning him down was hammered excetionally deep into the earth and yet more than often my uncle had scream pulled the stake out, ran naked into the street holding onto his chains. He screamed as he ran, always heading for mount Tam Đảo. It took a dozen strong men in the street to catch and subdue him.

The only person he left alone and was scared of was my grandmother. In the middle of his screaming and tantrums, all my grandmother had to do was looked at him with her eyes full of tears as she gently said: “Cả, what are you doing son?” and he would immediately sat down slowly, looked down at his hands as though he was a naughty child in big trouble. My grandmother’s love was the only thing that was able to shine a light into the darkness of this madness, a kind of rain that could nourish and wet the barren soil that was the state of her son’s mind, where the flowers could bloom. But that love was a drug that only had a limited effect, it was short lived. The storeroom used for the harvest next to the kitchen became uncle Cả’s prison and hell for the rest of his life alone with his lost mind, a frightful world of the mad.

*

That day onward, after finding out about uncle Cả's condition, my mother continued to yearly take me back to visit my grandmother. Scared, so I would spend my time around the vincinity of the main house, now and then I would play in the backyard to take a peek of uncle Cả from afar somewhere in the dark store room. Until the war broke out, and suddenly the road to visit my mother's parents were completely severed. Two years passed by just like that, and there was sad news from mount Tam Đảo surpassing the endless miles of separation arrived at our home down by the sea: my grandfather had passed away. My mother passed out from crying, partly because of the loss of her father, but ten times more so because of how her aging mother will be left alone with all her sadness in the shadow of a looming mountain she can not reach.  

I can still vividly remember that it was a particularly cold winter. After weighing up all the possibilities, my father agreed that my grandmother should from now on live with us, the had to find a way for my mother travel to Vĩnh Yêm to collect my grandmother. The traffic disrupted by all the road blocks on land, my mother would have to go by boat. Because it was a tough and dangerous journey, I had to beg my mother again and again before she let me go with her, We travelled during the day and we rested at night, the bamboo boat struggled against the tide, crossing one branch of a river one after the other, meandered one war zone after the other, tried to avoid the stray bullets, relentlessly it took a full half month to reach the remote rocky pier at the foot of Tam Đảo Mountain.

Moving steadily and slowly around the same time from Đuống bridge up and over Hương Canh, Phúc Yên, the Frence Avant-garde had almost reached the city centre. Our feet were on the steps of the old moss covered house on the very day my grandmother was preparing to evacuate to the mountains. As the child in me stepped into his formative years, knew within him, in that last trip to his maternal grandparent’s home, through his eyes were profoundly the saddest images ever. My grandmother had aged, she was very old. She wore her usual headscarf, usual cropped quilted jacket, but the fire of wisdom and benevolent that had bathe my childhood with warmth had been quelled by blinding cataract, that face full of joy once upon a time was now the looming shadow of withered lines and wrinkles, permanet furrows of constant tears from the day her only son was driven mad after being kicked by their horse.


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The old professor | Mai Thảo

Sông Hương, Huế, Việt Nam Winter 2025. Photography Nguyễn Thị Phương Trâm

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Bài thơ hữu tả

Anh luôn đứng bên tả ngạn
em thì lì mãi bên hữu ngạn
con sông dài miên man những bài thơ
đương nhiên là lúc nào em cũng phải
không đúng sao?
——
Văn của anh Mai Thảo giàu ngôn ngữ quá đi. Cảm giác học không kịp những từ ngữ quên cả thở..
🙂

It poured the day he saw the old professor. The dike ran along the right bank of Sông Đáy between Ba Thá and Vân Đình. A turbid and muddy trail. Human traffic going with and against each other. A struggle condensed into a fleeting moment of bashfulness, shame and brimming joy along with images of a cold and unending long trek, pounding and drowning in the bleary white dusty rain the time they had bumped into each other. Far away were remnants of crumbling hamlets.

Teacher and student holding onto each others hand, and the rain continued to pour – together ran for cover under a tree. The years rolling along past us by as we dived head first in to life, now fully grown, next to his teacher he is a head taller. The shrinkage of age makes his teacher appeared even smaller. But between them nothing has changed. As always the teacher is both more firm more confident compared to his student. The exemplary attitude and protection inside the classroom that he as a student received day after day.

“Sir, where are you staying now?”

“Ba Thá”

“You still teach”.

The professor smiled kindly:

“Yes, I still teach but yesterday afternoon the school was bombed. I’m heading for Ty now to make an official report. Ty is a district down from Vân Đình. I’ve lost everything, except for what is here.”

What is here: a sack, a couple of sets of brown clothes and a bamboo stick.

He looks at the small, meaningless career, the last remaining belongings of a moral life, and thought of two images: a humble and meagre ascetic of a certain era imparting beautiful thoughts to humanity in asceticism, and the image of a rain drenching windy path, the afternoon setting upon a large inter-region, the old teacher walking alone on that road, the simplicity of a noble profession is the heavy burden on his silvery hair in the dark stormy night.

The rain continued to pour. The student and teacher gravitated towards each other. Nodding, the old professor looks at his student:

“You gentlemen have changed a lot. All grown up. But it does not matter where I am you still recognise me, and I all of you. You still have exactly the same absent-minded look when you sat in my class looking out the classroom window during those summers in the middle of the day”.

His reply:

“Yes, I remember the way I used to be in class. That has not changed”.

The professor’s low warm voice discernable through the consistent clatter of the pouring rain:

“No, nothing has changed”.

The professor’s deep set eyes follows the long path through the rain to the end, further than the end of the road:

“War changes the path we take on the road. Every thing becomes bitter, harder than before. The earthly mounds. Pits and tunnels. Broken bridges. And the storms, there seem to be more of them”.

The professor sigh:

“We are the old ways learning how to walk on a new path”.

Before he turn to look at his student:

“And you, what are you doing now?”

“Buôn sir”

“Buôn?”

“I left school after Cách Mạng Tháng Tám. The stuff I want to smuggle is going up the river around Rót Rét. I will meet up with them at Bương Cấn and tonight once the rain ease I will head for Phú Thọ”.

The professor said two words quietly “I see” and that was that. His professor is by nature a quiet man. The rain poured over head. In front of them is the angry red and murky water of Sông Đáy. Unreachable is the other side of the bank. Taking a few steps back, standing behind his teacher, his eyes focused more intently on the strands of grey hair stirred by the wind on the familiar grave focused features of a face he had seen a past long gone standing against the black background of a chalk board. The smooth and luke warm memories and images of a time in a classroom came rushing back frame by frame on the small patch of the thoroughfare at the side of the road. Bunches of summer flowers in a brilliant red perched on the window sill, and as each cluster of flowers bloomed came the rushing was a peek of new dream, the light tempo of a time when the spirit was swept away to wild unexplored places far and beyond. Over new horizons were the fragile quiver of butterfly wings. Lucid panes of glass. Low warm sound of our lessons pacing steadfast between the classroom’s chairs lined up in neat rows. Deep set hem topped with a white hat. Blocks of bricks worn out at the edges by the rain formed the steps up into each classroom. Bygone architecture of a school built on the ruble of an old citadel weaves through the rows of trees and scattered ponds. A city under the long howl of a ferry tailed by a trail of smoke that lingered in the sky. The first idea conjured, the air of an imaginary journey. Flickering images of a path lost in the sunlight of an impending summer.

He remembered the opening day the old teacher turned up after one transfer after the other. It also poured that particular morning. The sound of shoes approaching along the corridor. The professor stepped into the classroom and paused for a second, said: “Good morning gentlemen”, as he head straight for the raised lectern. The first hour was reserved for getting to know each other. The professor shared a private joy, he was happy about the transfer to a school in town after the ten years he had spent in the jungle.

He said: “The last school was right by the border of Vietnam and China, my students were half Kinh and half from a collective of small indigenous groups. Up there in the jungle, the nights are long and in the morning each time I opened the classroom door, the classroom would be filled with thick fog. The jungle surrounds it was thick with trees and more trees, the trees went on and on as though there were no end. On the school yard you can find paw prints of ferocious creatures and wild animals. And when it was cold it was extremely cold. The students’ hands and feet were cold and their faces were pale and blue because it was so cold. The doors and windows must be shut tightly so our body heat could circulate before we could even do anything”.

The images of a classroom at the border materialized through the low warm tone that was distinctively unique to the old professor. The way he tell his story, the way he phrase each sentence was also different. And immediately, amongst the forty five students listening, from a seat at the back of the classroom he looked up, found instantly the fondness and respect for his new teacher. A kind of fondness that was new to him. It was like a new discovery, a phenomenon, a change.

The life of a student, going up a class each year, there’s a new teacher, but amongst those teachers, often once after closing the door finally to that class, tucked away separately as life goes on, comes back immediately vividly in the memory of a student that particular teacher. Why? Perhaps its a certain feature of their face, voice, edged deeper in the past. Perhaps because its tided up to something, may it be abstract or pictorial, the emotional attachment surpasses the norm, denoting richer, more meaning.

He came first on his first essay in class. An odd occurance. He got his paper back three days later, when his name was called, by the compliments and smile he was asked to please read the best paragraph out loud, standing up, his hand shook as he held onto the piece of paper and those minutes were the rosiest highlight in the history of the years he spent in school where beyond that point into the past were mostly mediocrity and darkness.

He was lazy and careless. Always last no matter what subject. A complete change. For the rest of his life he will never forget the complete change in the brooding student who sat at the back of the class during that history lesson, the awkwardness of having to standing up for the first time, the anxiousness and excitement of reading and sharing his first success with the full attention and admiration of the whole class. That feeling stayed with him as he sat down.

The class could not find any reason for this sudden change. He, himself could not understand. He wrote that essay for one person to read, it specifically express the sincere and fine emotions reserved for a teacher who describe a school at the border as “paw prints of ferocious creatures and wild animals” and “in the morning each time I opened the classroom door, the classroom would be filled with thick fog”.

*

The rain continued to come down heavily.

The afternoon had turned up on the other side of the river bank. The sky is low and grey. The boat full of goods heading up the river around Rót Rét where the water was a bit rough in the cold and wet is the highlight of a small and warm memory compare to the confiding fact that the teacher had loss his school, not knowing where he will end up in this rain this wind.

They both nod their head in deep thought. The professor said:

“You just said you’re in the middle of smuggling something?”

“Yes sir”.

“You gentlemen have so many professions. Each person on their own path. The end of last month I saw a student I can’t remember which year I had taught him reclaiming land on a plantation in Nho Quan. A filthy area where the water is poisoned, very bad for your health. He was pale and weak, he did not look well. You travelling back and forth on a boat, would perhaps be a much better idea”.

“The last couple of years, since the day I left school there were not enough opportunity for me to move around, unlike now. But smuggling is not a suitable direction. Sometimes I feel like what I’m doing is all for nothing”.

The professor reply:

“I inderstand. But more than often we would find ourself doing what is in reach where we do not have a choice but accept. You generation is full of men who are not in the right position, not sure which path to take. It’s painful being your age. As for us there’s no point talking about it. Often it is so hard, I would still find myself quietly thank heaven for letting me hold that ruler and lecture. What else can I do if it’s not teaching?

The professer laughed softly:

“It’s a habit of the job: Seeing you gentleman all I want to do is ask what you want to do with your life. If you don’t like the smuggling, what do you want to do?”

“Once during a discussion, you were joking about me becoming a writer, I still have that laughable dream of becoming a writer”.

“Oh! I can’t remember, but if it was something I said than it wouldn’t have been a joke. That’s right, Vietnamese literature in those days was a subject you loved the most”.

The professor’s voice grew more earnest:

“Keep at it. You’ll never know one day I might find myself reading something written by one of my students and that student is you. The be biggest consolidation to a teacher is their student who could take a path that had taken shape in the classroom”.

The rain easing suddenly, the loud clatter of pouring rain stopped. The other side of the river, the bank materilises slowly from behind the thick curtains of rain. But the horizon remained low and laden with water vapours. The heavy down pour stopped in time to prepare for another down pour.

The two of them left the cover of the tree. The professor look up at the sky:

“It should be fine now. I better head for Ty before it’s too late”.

The professor turn around, places a frail hand on his old student’s shoulder:

“It has been a while since I’ve seen any of you gentlemen. Thank you for thinking of me. You gentlemen are now wise adults, via your experience grew up, I don’t have any advice left to give you. Stay safe”.

An emotion goodbye.

“I wish I had more time with you professor. I’ll follow the boat and in around half a month I will be back around here again. May I please have the address of your new so I can get another chance to see you”.

The professor cast the idea aside:

“I, myself do not know where I’m going. Further in there’s a new school in the mountain or I might stop teaching altogether. I will be hard for us to meet again, you still remember now an then that is enough no need to feel bad about not visiting me”.

The professor left, carrying the sack on his thin shoulders, supported by the bamboo stick deep in the muddy water, he ran after his teacher:

“Buôn, I do okay. Honestly I’m not trying to repay you in any way, but can I help you in anyway at all professor?”

The professor shook his head smiling:

“I live alone, I do not need anything. Thank you son. You should go back”.

He stood there frozen in the middle of the dike straining his neck trying to follow the figure from a bygone era disappear into the rain. The sack, bamboo stick, the strands of grey hair grew smaller and smaller like forever. Then those smallest distinguishable features too fade away into a curtain of rain.

That was the last time he saw his teacher. Selling the last boat of goods, he went straight back to Vân Đình. Found out that Ty Học was actually there, they told his professor that most of the schools have been destroyed, it will a while before there will be any new school and the professor left after that not leaving an address behind.

*

Eighteen years later.

Writing, I fulfilled that childhood dream. Amongst the hidden reasons that pushed me, I noted the professor’s advice to keep trying everyday on that muddy dike.

The decision that can change a person’s life often are the small reasons. Here perhaps because it was the advise from a person I respect.

I never saw the professor again from that day on. But the memory of that class, how moving it was to stand in the middle of the class reading the essay to the whole class – the thought of it again – takes me back still, to the time I was a student. Encompassing a capacious classroom, a private world of its own. Clusters of royal poinciana, bright translucent glass panes, the tip of a white hat, blinding summer days. The first sentence, a clumsy, baffling composition. On top of all of that was the reserved quiet face of the professor looking down like a source of calm.

Now each time my fingers hovers over the page of a draft, flustered because of a word, an idea too difficult to portray, I could then again see flashes of the scribbled rubbed out sentences of the draft of an old essay. Then appeared would be the images of the old professor. I want to see again, to say, at least once, to the professor:

“Professor, you were the biggest inspiration for the pages I now write”.

But the sentences I write now will never come to know those inky grading red lines. The last encounter. The road seem to never end in the white rain. Age is a heavy number piled on top of a life beyond dusk. My intution tells me that, that low warm voice have now faded into silence. The bamboo walking stick no longer in those fragile hands, fallen, lost somewhere, out there.

Người thầy học cũ

Y gặp lại người thầy học cũ một ngày mưa lớn. Con đê chạy dọc hữu ngạn sông Đáy chỗ đó là giữa quãng Ba Thá, Vân Đình. Đường lầy. Kẻ đi ngược, người về xuôi. Cuộc kháng chiến gian khổ thu lại trong giây phút gặp gỡ bất thình lình một nỗi tủi mừng rưng rưng và cái hình ảnh buốt lạnh của con đường dài thẳm, trùng điệp hầm hố dưới mưa bụi trắng xóa. Xa xa dấu vết những làng xóm tiêu hủy còn lại.

Hai thầy trò nắm chặt tay nhau, mưa vẫn đổ lớn – cùng chạy đến trú dưới một gốc cây. Nhiều năm tháng qua đi từ ngày bỏ trường lăn mình vào cuộc đời, bây giờ Y đã lớn, đứng cạnh thầy cao hơn thầy hẳn một cái đầu. Thầy thì tuổi già đã làm cho thân hình nhỏ lại. Nhưng giữa hai người vẫn không có sự thay đổi. Người thầy vẫn vững chãi và tự tin hơn. Thái độ gương mẫu và che chở bên trong cửa lớp ngày nào Y vẫn nhận được.

“Thầy ở đâu xuống?”

“Tôi ở Ba Thá xuống”.

“Thầy vẫn dạy học”.

Người thầy học cười hiền lành:

“Phải, tôi vẫn dạy học nhưng trường làng vừa bị bom đốt cháy chiều hôm qua. Hôm nay tôi phải về Ty báo cáo. Ty ở dưới Vân Đình. Tôi mất hết, chỉ chạy được những cái này.

Những cái này: một cái bị cói, mấy bộ quần áo nâu và một cái gậy trúc.

Y nhìn cái cơ nghiệp nhỏ nhoi vô nghĩa, những đồ tùy thân cuối cùng còn sót lại của một cuộc đời đạo đức và liên tưởng tới hai hình ảnh: vị chân tu của một thời đại nào đi truyền bá trong khổ hạnh những tư tưởng đẹp cho nhân loại và hình ảnh một con đường mưa bay, buổi chiều xuống trên liên khu rộng lớn, người thầy học cũ lại một mình bước đi trên con đường đó mang trên mớ tóc bạc cái nghề đạm bạc cao quý, mang nặng nó trong đêm tối và mưa bão.

Mưa vẫn đổ lớn. Hai thầy trò đứng sát vào nhau hơn. Thầy nhìn trò, gật đầu:

“Các anh đổi thay nhiều lắm. Trưởng thành cả rồi. Nhưng mà ở đâu và bao giờ các anh vẫn nhận ra tôi, tôi vẫn nhận ra các anh. Anh thì vẫn còn nguyên vẹn cái nhìn lơ đãng ra ngoài cửa lớp những buổi trưa mùa hạ”.

Y trả lời:

“Vâng, con vẫn thế. Con vẫn nhớ con như thế”.

Giọng thầy trầm trầm trong tiếng mưa đổ rào rào:

“Chúng ta vẫn thế”.

Đôi mắt sâu của thầy nhìn xuôi theo con đường dài, qua màn mưa về tận cuối đường, xa hơn cái xa của cuối đường:

“Chiến tranh đổi thay hình thể những ngả đường trên đó chúng ta đi. Tất cả trở nên khó khăn cực nhọc và chua xót hơn cũ. Những ụ đất. Những hầm hố. Những chiếc cầu đổ. Hình như mưa bão cũng nhiều hơn”.

Và thầy thở dài:

“Chúng ta là những con người cũ đang tập đi trên những con đường mới”.

Rồi thầy quay lại hỏi:

“Còn anh, bây giờ anh làm gì?”

“Thưa thầy con đi buôn”.

“Đi buôn?”

“Con bỏ học từ sau Cách mạng tháng Tám. Thuyền hàng của con chắc bây giờ đang ngược dòng đi lên ở giữa khoảng Rót Rét. Con sẽ đón thuyền ở vùng Bương Cấn và nếu đêm nay ngớt mưa sẽ đi thẳng tới Phú Thọ”.

Người thầy “Thế à” một tiếng nhỏ rồi không nói gì nữa. Tính thầy vẫn ít nói. Mưa ào ào trên đầu. Trước mắt họ dòng sông Đáy đục đỏ chảy đi hung dữ. Bãi xa mịt mùng bên kia. Người học trò đứng lùi lại phía sau và nhìn thấy sát tầm mắt, những sợi tóc bạc gió thổi lay tạt trên khuôn mặt mà trông nghiêng vẫn đựng đầy cái vẻ trầm lặng cũ, những ngày xưa nhìn xuống Y trên một nền bảng đen. Những kỷ niệm những hình ảnh của một lớp học vừa trở về lướt thướt và buốt lạnh trên khoảng đường này. Những chùm hoa mùa hạ đỏ chói chang trên góc cửa sổ, sự hé mở của những giấc mộng ban đầu nở từ những chùm hoa rực rỡ ấy, nhịp bồng bềnh đẩy đưa của tâm hồn chạy đến những chân trời những thế giới hoang vu. Cánh bướm mỏng của niềm rung động mới. Những tấm kính sáng trong. Tiếng giảng bài trầm trầm đi giữa hàng ghế. Tà áo thâm và cái đỉnh mũ trắng. Những bực gạch mưa làm mòn cạnh đi lên từng cửa lớp. Lối kiến trúc cổ kính của một mái trường xây cất trên nếp thành đổ nát cũ lượn vòng giữa những hàng cây và những ao đầm. Thành phố ở dưới với tiếng hú dài của một tiếng còi tàu kéo theo những vệt khói còn treo lâu trên nền trời. Ý niệm thứ nhất về không gian trong chuyến đi tưởng tượng. Vụ hè sắp tới thấp thoáng hình ảnh con đường mất hút dưới nắng.

*

Y nhớ thầy đã về sau một buổi tựu trường có nhiều thuyên chuyển. Cũng một buổi sáng mưa lớn. Có tiếng giày từ ngoài hành lang đi tới. Thầy vào, đứng lại một giây nhìn mọi người, nói: “Chào các anh”, đoạn đi thẳng lên bục cao. Giờ học thứ nhất được dành cho sự làm quen nhau. Người thầy bày tỏ nỗi vui riêng sau mười mấy năm ở rừng được đổi về một trường thành phố.

Thầy nói: “Trường cũ ở sát biên giới Hoa – Việt, học trò nửa Kinh nửa thiểu số. Trên ấy đêm rừng dài và buổi sáng nào cũng dầy đặc sương trong lớp học vừa mở cửa. Rừng thì trùng điệp ở chung quanh. Sân trường đôi khi còn in những dấu chân thú dữ. Và rét thì rét ghê rét gớm. Các học trò chân tay cũng cóng buốt và mặt mũi xám tái lại. Phải đóng kín cửa cho hơi nóng truyền đi một lúc sau mới làm việc được”.

Hình ảnh của một lớp học biên giới được gợi lên bằng giọng nói đặc biệt trầm trầm. Cái lối kể chuyện của thầy cũng khác. Và ngay lập tức, trong số bốn mươi lăm học trò chăm chú lắng nghe, từ một chỗ ngồi tận đáy lớp nhìn lên, Y cảm thấy mến yêu ngay người thầy học mới. Một nỗi mến yêu đặc biệt chưa từng có. Tưởng như một khám phá, một đổi thay lớn.

Trong một cuộc đời học trò, từng năm học đi lên, mỗi năm lại gặp một người thầy, nhưng trong tất cả những người thầy đó, thường vẫn chỉ có một người mà về sau lúc đã giã từ cửa lớp, ở mãi chỗ sâu xa cách biệt trong cuộc đời, mỗi lần nhớ lại là người học trò lại nhớ trước nhớ ngay đến người thầy ấy. Tại sao? Có thể vì một nét mặt, một giọng nói, được khắc sâu hơn vào dĩ vãng. Có thể vì một sự bắt buộc nào đó, trừu tượng và siêu hình, khiến cho tương quan tình cảm vượt khỏi mức bình thường, chứa đựng một ý nghĩa rộng lớn hơn.

Bài luận đầu tiên của Y được nhiều điểm nhất lớp. Một sự lạ. Ba hôm sau khi thầy trả bài, gọi đến tên, ngợi khen và mỉm cười bảo Y hãy đọc cho cả lớp nghe một đoạn văn hay, Y đứng dậy, tờ giấy trên tay run run và giây phút đó đã là cả một dấu son rực rỡ trong cái lịch sử học trò của Y từ trước đến nay vốn rất tầm thường tăm tối.

Y lười và lơ đãng. Trên tất cả các môn học, điểm số bao giờ cũng ở dưới cùng. Một sự đội sổ toàn diện. Suốt đời Y nhớ mãi cái giờ học lịch sử ấy của một tên học trò đội sổ ngồi tối tăm ở cuối lớp, lần đầu đứng lên ngượng nghịu, hồi hộp đọc cho cả một lớp im sững thán phục cái thành công thứ nhất của đời mình. Ngồi xuống còn cảm động.

Cả lớp không tìm hiểu được nguyên nhân sự đổi thay đột ngột này. Chính Y cũng không hiểu. Y đã viết bài luận ấy cho một người xem, nó là cái biểu tỏ cụ thể của một tình cảm chân thật và tốt đẹp gửi đến cho một người thầy đã tả được một cái trường học biên giới bằng “những dấu chân thú dữ” và “sương trắng dầy đặc cửa lớp buổi sớm”.

*

Mưa vẫn đổ lớn.

Buổi chiều như đã muốn đến từ bãi sông bên kia. Trời thấp và xám. Con thuyền đầy hàng ngược dòng ở giữa khoảng Rót Rét bồng bềnh trong ướt lạnh còn là điểm vui ấm bé nhỏ so với tâm sự của người thầy mất trường, không biết sẽ về một nơi nào trong mưa bay.

Hai người cùng cúi đầu suy nghĩ. Thầy nói:

“Anh vừa nói hiện anh đi buôn đấy nhỉ?”

“Dạ”.

“Các anh làm thật nhiều nghề. Mỗi người một đường. Cuối tháng trước tôi có gặp một anh không rõ đã học tôi năm nào, làm khẩn hoang ở một đồn điền Nho Quan. Vùng ấy lam chướng, nước độc, rất có hại cho sức khỏe. Trông anh ta xanh yếu đáng ngại. Cứ như anh đi đây đi đó trên một con thuyền, có lẽ lại hay hơn”.

“Kể thì mấy năm nay, từ ngày ra trường con chưa từng có dịp được đi nhiều, thấy nhiều như bây giờ. Nhưng nghề buôn không phải là một chí hướng thích hợp. Nhiều lúc con vẫn cảm thấy đang làm một việc vô ích”.

Người thầy đáp:

“Tôi biết. Nhưng chúng ta bây giờ thường vẫn phải làm ngay cái việc nhìn thấy trong tầm tay với mà không có quyền từ chối, lựa chọn. Thế hệ các anh biết bao nhiêu người hiện đang đứng lạc vị trí, băn khoăn tìm đường. Ở tuổi các anh thật đau đớn. Chúng tôi thì không nói làm gì. Nhiều lúc cực nhọc vất vả, tôi vẫn thầm cảm ơn trời còn cho mình được cầm cái thước kẻ giảng bài. Tôi làm gì khác được nếu thôi dạy học?”

Thầy cười khẽ:

“Thói quen của nghề nghiệp đấy: Thấy các anh là hỏi về dự định vào đời. Không thích đi buôn, anh muốn làm gì?”

“Có một lần trong giờ luận, thầy nói đùa con có thể trở thành nhà văn, con vẫn ao ước thực hiện được câu nói đùa ấy”.

“Thế ư! Tôi không nhớ nữa, nhưng nếu có nói thì nói thực đâu phải đùa. Phải rồi, Việt văn là môn học xưa kia anh ham thích nhất”.

Giọng thầy trở nên ân cần:

“Cố gắng đi. Biết đâu chẳng một ngày tôi được đọc văn của một người học trò cũ là anh. Niềm an ủi lớn nhất của một người thầy vẫn là được thấy người học trò cũ của mình đi vào tương lai trên lối đi đã được phác định từ trong cửa lớp”.

Mưa bỗng ngớt đi, tiếng đổ ào ạt dừng lại. Mé sông bên kia, bờ bãi mịt mùng ban nãy nổi lên dần dần. Nhưng vòm trời thì vẫn thấp nặng và nghi ngút hơi nước. Trận mưa lớn vừa ngớt chỉ để sửa soạn cho một trận mưa lớn khác sắp đổ xuống.

Hai người ra khỏi gốc cây. Người thầy nhìn lên trời:

“Đã có thể đi được rồi. Tôi phải đi xuống Ty bây giờ cho kịp”.

Thầy quay lại, cánh tay gầy yếu đặt lên vai người học trò cũ:

“Lâu lắm mới gặp nhau tôi cám ơn các anh còn nhớ đến tôi. Các anh bây giờ đã khôn lớn cả, đã tự trưởng thành trong những kinh nghiệm, tôi cũng không có điều gì phải khuyên bảo nữa. Thôi anh ở lại”.

Giây phút giã từ này thật là cảm động.

“Con ân hận không được gặp thầy lâu. Con theo thuyền độ nửa tháng bán hàng xong rồi sẽ trở lại vùng này. Xin thầy địa chỉ để con được lại thăm trường mới”.

Người thầy gạt đi:

“Chính tôi hiện giờ cũng không biết rồi sẽ được thuyên chuyển đi đâu. Liên khu trong, một trường mới mở trong núi hay là nghỉ dạy vĩnh viễn không chừng. Chắc khó gặp lại, anh còn nhớ đến tôi là đủ và đừng băn khoăn về vấn đề tìm thăm tôi”.

Người thầy bước đi, cái bị cói nằm trên bờ vai gầy, gậy trúc chống xuống đường lầy. Y chạy theo thầy:

“Con đi buôn cũng không đến nỗi túng thiếu lắm. Thật tình không dám nghĩ đến chuyện trả ơn, nhưng con có giúp thầy được điều gì không?”

Người thầy lắc đầu mỉm cười:

“Tôi một thân một mình cũng không cần gì. Cám ơn anh. Thôi anh trở lại”.

Y đứng sững giữa con đê nhìn theo bóng dáng cổ kính của người thầy. Cái bị cói, cái gậy trúc, những sợi tóc bạc cứ nhỏ dần mãi. Rồi những cái điểm bé nhỏ ấy nhòa đi sau màn mưa.

Y gặp lại người thầy học cũ của Y lần ấy là lần cuối cùng. Bán xong chuyến hàng, Y lên bộ về thẳng Vân Đình. Hỏi thăm Ty Học chính ở đó, Y được biết người ta đã nói với thầy là các trường bị phá hủy gần hết, phải đợi một thời gian để lập trường mới và người thầy đã bỏ đi không để lại địa chỉ.

*

Đến nay đã mười tám năm.

Viết văn, tôi thực hiện được cái ước vọng duy nhất của thuở nhỏ. Trong số những nguyên nhân thầm kín thúc đẩy tôi, tôi ghi nhận lời thầy khuyên nhủ cố gắng ngày nào trên quãng đường lầy.

Sự đổi thay quyết định một đời người thường vì những nguyên nhân nhỏ. Ở đây có thể vì lời khuyên của một người tôi kính yêu.

Từ đó tôi không gặp lại thầy, cũng không trở lại một cửa lớp nào nữa. Nhưng kỷ niệm còn giữ được của buổi học ấy, nỗi cảm động đứng giữa hàng ghế đọc bài luận ấy cho cả lớp nghe – nhớ lại – vẫn đưa tôi trở về được với cái thế giới học trò. Nó nằm trong chu vi một lớp học, nhưng rộng và riêng biệt đúng như một thế giới. Chùm hoa phượng, những phiến kính sáng trong, cái đỉnh mũ trắng, những ngày hè chói nắng. Câu văn đầu tay vụng dại, bỡ ngỡ. Trên tất cả, khuôn mặt trầm lặng của thầy ngó xuống như một nỗi bình yên.

Bây giờ đôi khi ngừng tay trên một trang bản thảo, lúng túng trước một danh từ, một ý tưởng diễn đạt khó khăn, tôi lại thấy những hàng chữ dập dập xóa xóa trước mắt bỗng phảng phất giống với trang giấy nháp của bài luận cũ. Hình ảnh người thầy lúc đó lại hiện lên. Tôi muốn được gặp lại, để nói, ít nhất cũng một lần, với thầy:

“Những trang giấy này có được một phần lớn nhờ thầy”.

Nhưng mà những dòng chữ tôi viết bây giờ chắc không bao giờ được biết tới những dòng mực đỏ phê điểm ấy nữa. Buổi gặp mặt cuối cùng. Con đường xa hút dưới mưa trắng. Số tuổi chất nặng lên cuộc đời đã xế chiều. Giọng nói trầm trầm ấy đã chìm lặng, tôi linh cảm như vậy. Cái gậy trúc ấy chắc đã rời khỏi cánh tay gầy yếu, rơi xuống một nơi nào đó, ở ngoài kia.


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

The moon in my childhood | Mai Thảo

A short story in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

[Published on Văn Nghệ BIỂN KHƠI]
[Tôi xin tặng bản dịch này cho anh Nguyễn Hưng Quốc , with whom I have found the courage to translate Mai Thảo. Thank you anh!]

Alone, Chu heads for the road. Tonight again their date did not work out as planned. Hiền said she was tired, sorry but Chu knew she was lying. Exhaustion is a woman’s form of evasion.

Hiền’s bedroom was on the third floor, in the middle of town. The window looks down into the main road. A multi-level house, accessed by a private balcony, with an elevator that takes you up, the whole bottom floor is divided into various stores. Glass panels lit up splendidly by neon lights during the day. At night, gloomy light filters through the iron grilled roller door at exactly after six in the afternoon when the live-in security guard would pull them down to lock up. Chu turned up in the middle of the commotion as doors came down amid the silence. The security guy at the door opened it up again to look out. His tired eyes watch Chu pay the taxi driver.

“I want to see Miss Hiền”.

“Miss Hiền is never home at this hour”.

Chu steps onto the pavement, looking up he smiles before adding:

“The light is on in her room. Just let me go up and we’ll see”.

The small room occupied by the guard and his family is a small space that sinks below the level of the main road. Strewn cups and ceramic tea pot. His wife leaning against their bed head, sitting still, in a state of rest not sure if she is asleep or not. The child fast asleep on an old grass mat across the patterned tile floor. Chu turns his head to look at the sleeping child, he smiles as he enters the dark hallway. The child and the mat reminds him of the small verandah of an ancestral home divided like in nature, three leaves, three rooms and two fruits. In his childhood, Chu remembered the night he had waited for a long time on the verandah of that house, watching Hiền sleep soundly in the moonlight. Now, parts of his life have been replaced with messy complications, so many one-ways standing in his way back to the past, Chu can only remember a few scattered memories like that. The dark corridor he is now in triggers no memory. People miss little, in the middle of a city. Limited emotions are confined by barriers like walls and rooftops, dry like bougainvillea. The short walk to the elevator had barely enough room for the return of old images. They are somewhere. Out of town. In the past. But then he can come here, to this place. Chu pressed the button to open the elevator door with the single image: Hiền sleeping soundly in the moonlight. The lonely image, passes by, floating, like a deserted island in the middle of a boundless pool of yellow. Chu finds himself unexpectedly sad. He lowers his head. Inside the narrow elevator shaft like a box, whoosh it takes him up.

Hiền’s room, Chu has to walk back and forth a few times before he can find the number. Here a couple of times already, and still the identical rooms get him mixed up. The doors are painted in a milky white colour. The room number pops up in copper. Chu’s hand gravitates towards his collar, he fiddles with the top button of his shirt as he readjust his cravat.

“Hi Chu, I didn’t know it was you. Where are you heading?”

Where else? Chu thought as he stepped into the room. The full-length tall boy mirror throws Chu’s outline right back at Chu standing there looking lost looking into a room dressed as opulent as the beauty of a young woman. The full face of the city zoomed in in full focus. Gleaming highways. Traffic slithering along, slips away like snakes. Low benches covered with large flowers. The lines of Hiền’s eyebrows are defined by the infinite sharp flick of her eyeliner. Heeding Hiền’s invitation, Chu sits down on one of the chairs. Unable to compose himself all of a sudden. He needed a minute to focus on his composure. To face a woman who is supposed to be Hiền. A childhood friend who he used to watch sleep in the village moonlight. Another memory came to Chu: that night Chu woke Hiền. The moonlight cuts a cool line through the paved yard. Two kids holding each other’s hand heading for Chu’s home. Another roomy paved yard. Huddled together were husbandry laborers threshing rice. The smells in the dark were more playful than during the day. Soon dawn will bring with it the preparations for the harvest, plots of fat and ripe ears of rice, cheerful voices rising louder and louder, one song after the other, the notes of their voices flying higher and higher, to after settle, perched upon the stalks of a golden harvest. The shuffling and fluttering sound of rice threshing went on and on. Until the moment Chu had taken Hiền home, the moonlight had remained consistently brilliant. The husbandry laborers would still be at it, threshing the rice.

Still in her shorts, though Hiền had already finished her makeup before Chu showed up. Cheeks roughed, her eyes appeared deeper under darkened lashes, Chu can already see in her eyes the twinkle of an evening of festivities. It’s life here, at nightfall. The party is for a Hong Kong movie actress, a famous singer from the Philippines, just flown in from Tokyo. Rows of seats placed in a line. The festivities are full of noise and more noise with all the possible unnecessary hollow praises and formalities. The fires would burn brightly before it would dim in the dance studio. The dance floor polished, the music chirpy. A mesmerizing dizzy air. All of it crosses his mind. The moonlight grew colder and packed away in a corner of his mind. Chu walks over and places a hand on the edge of the table, he leans in and looks down. He begins to regret the idea of looking for Hiền because the moon is shining in the street. He stands there for a while. When he turns around to look at Hiền, she has not moved from where she is standing. She sounds a little embarrassed:

“Sit down, don’t you want to sit down for a bit? It’s odd, you’re standing there like that”.

“Did I disturb you Hiền?”

“No. Is there a place you want to take me”.

“No,” Chu replied.

He feels that he has nothing. He has not a single thing. The evening moon over there means nothing and it is very far away from here, this place. He walks over to the window and looks down. To see how much more meaningless it is. The moonlight in pieces over the canopy, falling, slips through the gaps of the leaves. The weak yellow light is more imagined than real in the street. In the surrounding area in all four directions, at the same height as a wilderness of windows, the lights flicker far and not so far away, giving the city its chaotic depths and heights piles and piles piled on top of each other. Chu closes the window before he turns his back to the window:

“On the way here, I was hoping we could go for a walk. But it looks like you’re busy. Maybe another time. I’m going to go”.

Hiền could not hide the joy in her voice:

“I’m actually not busy, but I was going to have a nap and you turned up”.

Chu nod:

“Okay, I’m going to go”.

The bright light of those evenings. Noisy parties. The club’s dance floor vibrating and feet weaved together breathing down one’s neck:

“How brilliant is the moon tonight Chu?”

Chu’s hand is still on the window sill, with the window doors still slightly ajar.

“Why don’t you come and open the window and see for yourself”.

After that he nodded his goodbye to Hiền and left. Hiền did not move from where she had been standing. The elevator making a racket, the elevator drops through freely to abruptly stop in front of the hallway. It is not long before Chu finds himself in the street, like how just a moment not long ago he had entered, alone.

*

Hiền stood still for a while at the same spot after Chu left. The room feels significantly bigger. Chu’s presence though only for a short period completely changed the air of her room. His eyes were strangely sad. Hiền thought quietly as she walked toward her dressing table. She sat down quietly, she studied her features for a moment. The mirror reflects the lines of bright red lips. Ever lightly Hiền puckered her lips. The slight movement wakes up the colour on her lips, the shimmer. Hiền put another layer of rouge on the apple of her cheeks, stood up, walked over to the closet. The dress she had planned to wear tonight is a deep red with large embroidered flowers. Hiền opens her handbag and takes out the business card Đoàn gave her, she studies it again. Đoàn is a new friend, rich, who has been to France, only to frequent the nightclubs and coastlines to sunbake, where year after year it would attract tourists from large cities from all around the world. Đoàn have only been back for the last six months. The business card had a few lines quickly scribbled on it:

“Hiền, at eleven I will send a car to pick you up. Don’t forget, we’ll go to the dance at Liễu Guest House maybe? Then we can do whatever”.

Whatever. It is how Đoàn entertains life, how all of Hiền’s new friends live, the people in her life right now, a thoughtless self-destructive way of life without an objective or care in the world. Whatever. Hiền had fallen, fallen profoundly into this way of life. Whatever. Meaning whatever new interest might come next, new dance floor, new party or festivity, join other sightseers, life squashed and crunched up into a ball, thrown into an air of commotion and boisterous laughter, blinding flamboyant colours.

Following Đoàn’s advice, Hiền sold her house in the suburb to rent this apartment in the middle of the city. It has already been 4 or 5 months. Her new life has pushed away old memories together with old friends. This number of friends includes Chu. Not once did Chu say or indicate that Chu had ever loved her. But Hiền can feel it, her woman’s intuition dictates it when it comes to things like this, the way Chu feels about her is no longer finite, no longer confined in the past. Nor did Hiền question it. More so was that she did not want to ask. A luxurious lifestyle of changeable temperament, affecting a woman’s general view of life and the future. Hiền is apprehensive when it comes to love, serious commitment, solemn and upright like Chu. She avoids thinking about anything that would last, anything permanent. Things that make her look ordinary. What she likes to have is a very elegant bedroom. A cupboard full of the latest imported fashion. Opulence is a life she wants to live. And the ability to pertain all of it, what she likes. This is one of the reasons amongst lots of other reasons that had led Hiền toward her decision to distance herself from Chu even though her heart remains not far off. People like Chu can disappear for years, live a thousand miles away, and they might be on another path, but is impossible to cast aside. A frequent conflicting state of mind: compared to Hiền’s new friends, Chu lacks in many aspects but then again Chu on the other hand. Chu can not be compared to anyone. Chu stands alone, that image of solitude is not only truly cold but also truly beautiful. Pride is the reason for Hiền’s embarrassment each time she thinks of Chu. But right now. Even though Chu is no longer here. Chu’s last words remained:

“Why don’t you come and open the window and see for yourself”.

Hiền pushes the window open. Night descending for a while, layers of cold air settling one on top of each other. The moon perched far away, all the way on the other side, on top of the trees. The face of the moon is plump and round with a kind and bewildered countenance of a farmer’s first trip into town. The odd comparison makes her smile. Hiền conjurs up Chu’s voice in her mind, his solemn face just now, before he left.

The sadness comes back as she contemplates her position. The grand nights and all those glittery lights add up to barely enough light to light the soul. Dark and desolate in parts like the street corners no one ever ventures into. A few years back, a period of time when they had often met up regularly last. Chu was true to his words, Chu is someone who will always speak the truth – Hiền, you have a spirit that is as bright as the full moon on the brightest moonlit night. After more self reflection, that assessment is no longer true. It has changed. This spirit has a kind of light that is nothing but a flicker of brilliance the moment just before the street lamps were turned off. The lamp housing directs the light downward. To where there is nothing worth seeing. Hiền lifts her chin. Her eyes scanned the top of the trees and higher, higher than the canopy where the white clouds and alas they caught the sight of a moon with a round face. Still the same moon as before, the same as yesterday’s afternoon, but it feels now to Hiền completely different. The way one can be distracted walking in the street and only after a second look recognize a familiar face. Always from way up there, still always from way up there is Chu’s moon, and always Chu’s moon has the ability to find Hiền. But Hiền have never found her way up there, never found a way up.

*

Hiền did not see Đoàn enter. Hiền turned startled by Đoàn’s hand on her shoulder.

“Baby girl in red”.

Đoàn laughed, taking a couple of steps back before he lit a cigarette, inhales. Speaks in a style that is Đoàn:

“I believe Liễu did something rather silly this afternoon so I must take you there. Liễu will definitely regret it, but the boys, they will definitely agree. I don’t know if I should take you there Hiền, all those hundreds and hundreds of eyes in one place. I might have to fight hundreds of them off all at once”.

“I don’t want to go”.

Đoàn’s eyes opened wider as he laughed.

“I was joking, let’s go. It’s time. We shouldn’t make these people wait.

Hiền reiterate:

“Đoàn, I truly do not want to go”.

Đoàn is surprised only after the second reply. The cigarette is barely on his lips, surprised to the extent where him didn’t know whether he had already taken a puff of the cigarette or not.

Hiền takes her time approaching Đoàn.

“Please apologise to Liễu and the others for me. Just tell them that I will join you some other time”.

“Why”, Đoàn snapped. “You women are so strange, always changing your mind at the last minute”.

Hiền laughed:

“There’s nothing strange about women, so don’t ask me why. I myself do not know. Perhaps I am still a girl from a small country town. It is best you should not try to understand this girl from a small country town. I know that you are always good to me, you should go, it’s getting late. I’m fine at home alone. I put on this red dress because I knew that it would stand out next to the purple you have on. I had all the intention of going with you. But now suddenly I no longer want to go, that’s truly all there is to it Đoàn”.

The man shrugs his shoulders as he heads out.

“Đoàn”.

He turns around. The sound of Hiền’s voice did not sound real. Hiền is saying something that has no meaning to Đoàn, something that only she could understand:

“Don’t be upset with me, I will join you some other time. But please don’t come and get me on a night when there’s a moon. You must remember to never come and get me the nights when there’s a moon”.

*

The door slammed shut, the man had left, Hiền quietly turned to look at her reflection on the tall boy’s mirror. Slowly she unbuttons the row of buttons, slips her arms out of the sleeves of the red dress letting it fall to the ground. Her hands reach for the handles of the tall boy to open it. A colourful row of dresses and áo dài hung neatly together in a generous space opens up inside the tall boy. Hiền raises her hands higher to choose another dress from the hanger. Her eyes are misty. The light blue silk áo dài is what she wanted in the end and she puts it on. She returns to the dressing table, picks up a cloth to remove her lipstick, tucks her handbag in a draw. Hiền hands holding nothing as she heads for the door, she switches off the light, closes the door, walks towards the elevator. The elevator takes her to the bottom floor. Hiền meanders the dark hallway toward the front door. The security guard has not gone to sleep. He had just pulled down the iron shutters.

“Miss Hiền. Mr. Đoàn was just here to pick you up, you’re not going with him? He had only just left”.

“No, I’m not joining Mr. Đoàn. But can you help me open the shutters so I can leave”.

The iron shutters are again rolled up.

“Will you be back soon, I can wait”, enquired the security guard.

Hiền take a look outside. It’s very late but the moon will be bright the whole night. She shakes her head:

“You should retire for the night. I don’t know when I will be back, it might be a while. I’ll wake you when I’m back, don’t worry”.

Out in the street, Hiền stopped to look up. Her eyes look at the moon not to admire its pretty light, more so as a guide. Which direction should she take. She ponders as she walks: He’s probably there, at those places and nowhere else. There are four gardens in town. Four generous spaces with rock benches and pebble paths, with moonlight over them, wholesome and boundless. Hiền’s footsteps are brisk but unhurried. The moon is now brilliant over the city, it’s round and it’s high up there, it’s perched at the top of the sky for a long time now. Walking on the sidewalk beneath the canopies of the trees, eaves, feels as though she is walking on someone’s paved yard, towards the verandah of someone’s ancestral home. An old bed. A very white, very big yard. Sounds of the threshing of rice at the start of the harvest. Falling shadows of husbandry laborers. Generous moonlight drapes across their shoulders their backs, and undressed arms.

Dancing and flying on the late night footpath is the long flap of Hiền’s delicate áo dài spun in silk. Hiền head for the first garden. It is more than likely that Chu is lying on a rock bench, looking up. Hiền will stop at the entrance into the garden. She will take her time walking over to Chu. Approach Chu the way she used to when they were children. She will quietly tell him:

“Chu, can you sit up. Can fall asleep in your arms and when I’m sound asleep in the moonlight you can watch me sleep the way you used to”.

Vầng trăng thơ ấu

Chu đi xuống mặt đường, một mình. Một lần nữa cuộc đi chơi tay đôi đêm nay lại không thành. Hiền kêu mệt, xin lỗi, nhưng Chu biết Hiền nói dối. Mệt mỏi chỉ là một cớ để thoái thác của người đàn bà.

Buồng riêng của Hiền ở từng lầu thứ ba, giữa trung tâm thành phố. Cửa sổ trông xuống đại lộ. Căn nhà nhiều từng, vào bằng hành lang riêng, có thang máy đưa lên, cả một từng dưới ngăn chia thành những khu cửa hàng. Ban ngày màu sắc lộng lẫy trong những ô kính chạy dọc theo những hình đèn nêông. Ban đêm, bóng tối âm u lọt qua mấy tấm cửa sắt cứ đúng sáu giờ chiều là người gác cửa đã buông xuống. Chu đến giữa lúc tiếng sắt kêu trong im lặng. Người gác cửa mở cửa ngó ra. Y mệt mỏi nhìn Chu đang trả tiền xe.

“Tôi muốn lên thăm cô Hiền”.

“Giờ này cô ấy làm gì có nhà”.

Chu đi ra ngoài hè đường ngước mắt nhìn lên. Chàng mỉm cười nói với người gác già:

“Cửa sổ còn sáng đèn. Ông cứ để tôi lên”.

Gian buồng nhỏ của gia đình người gác cửa chìm thấp hơn mặt đường. Chiếc bình tích và những cái chén lăn lóc. Vợ người gác ngồi tựa lưng vào thành giường, yên lặng không biết thức hay ngủ. Dưới nền đá hoa, một đứa trẻ ngủ rất say trên chiếc chiếu cũ. Chu mỉm cười nhìn lại đứa trẻ đoạn đi vào hành lang tối. Manh chiếu và đứa trẻ nhỏ vừa gợi lại cho chàng hình ảnh một đầu mái hiên của một căn nhà cổ, ba gian hai chái. Ngày nhỏ, Chu nhớ có một đêm chàng đã đứng lại rất lâu ở cái đầu mái hiên ấy, ngắm Hiền ngủ bằn bặt dưới ánh trăng. Bây giờ, cuộc đời đổi thay với những khúc những nếp rối rắm, có rất nhiều khoảng ngõ cụt đứng chắn lối trở về dĩ vãng, Chu chỉ nhớ lại được vỏn vẹn có thế. Cái hành lang tối chàng đang đi vào không gợi nhớ. Người ta không nhớ nhung nhiều, giữa thành phố. Tình cảm chứa nén trong giới hạn nhất định của những bờ tường những mái nhà, khô lại như những bông hoa giấy. Đoạn đường ngắn dẫn đến trước thang máy không đủ không khí cần thiết cho những hình ảnh cũ được trở về. Hình như chúng ở đâu. Ngoài ngoại ô. Trong ngày xưa. Nhưng chúng đến được ở đây. Chu bấm nút điện mở cửa vào thang với một hình ảnh duy nhất: Hiền nằm ngủ êm đềm dưới ánh trăng. Hình ảnh cô đơn trải đi, lênh đênh, giống như một hòn đảo hoang giữa màu vàng rời rợi không bờ bến. Tự nhiên Chu thấy buồn lạ lùng. Chàng cúi đầu xuống. Khung thang hẹp như một cái hộp vùn vụt đưa chàng lên.

Buồng Hiền ở, Chu đi đi lại lại mấy lần mới tìm thấy số. Đến đây đã một vài lần, tuy vậy những căn buồng giống nhau vẫn làm chàng nhầm lẫn. Cửa sơn màu trắng sữa. Số buồng bằng đồng nổi. Chu đưa tay nắn lại cái nút cà vạt cũ.

Có tiếng chân bên trong, rồi Hiền mở cửa, hiện ra trên một nền ánh sáng xanh dịu. Nàng nhìn Chu ngạc nhiên:

“Kìa anh Chu, em lại tưởng ai. Anh đi đâu thế?”

Còn đi đâu nữa. Chu vừa nghĩ thầm vừa đi vào. Tấm gương lớn ở phía tủ áo hắt trả lại bóng Chu đứng ngỡ ngàng trước một căn phòng trang trí cũng lộng lẫy như sắc đẹp của người thiếu nữ. Bộ mặt thành phố chỉ thu nhỏ lại ở đây. Đại lộ chói sáng. Những đoàn xe nhiều màu trườn đi như những con rắn. Những bông hoa lớn bọc trên những thành ghế thấp. Đường lông mày của Hiền với những cái đuôi kẻ nhọn và dài vút như một lưỡi dao. Theo lời Hiền mời, Chu ngồi xuống một thành ghế. Chàng tự cảm thấy khó chịu vì chợt thấy mất hẳn bình tĩnh. Vì cần phải có một phút định thần. Vậy mà người đàn bà trước mặt chỉ là Hiền. Chỉ là người bạn thuở nhỏ đã ngủ thiếp dưới ánh trăng thôn quê. Chu nhớ được thêm: đêm ấy chàng đã đánh thức Hiền dậy. Trăng sáng xanh cắt vạch trên mặt sân gạch. Hai đứa trẻ dắt tay nhau trở về nhà Chu. Cũng lại một khoảng sân gạch thật rộng nữa. Những người tá điền đứng quây vào nhau đập lúa. Đêm mùa vui hơn ngày. Sớm mai lại là cánh đồng ướt sương với những thửa ruộng lúa chín mẩy hạt, điệu hò tiếng hát cất lên, bay đi, đậu xuống những thân lúa. Tiếng đập thóc rào rào. Đến lúc Chu đưa Hiền về, trăng vẫn sáng lắm. Những người tá điền vẫn đập lúa.

Chu nghĩ rằng giữa hai người tuy vậy vẫn chẳng có gì thay đổi và không ai cấm chàng có một câu nói một cử chỉ thân mật như ngày trước. Nhưng đến lúc chàng quay trở lại nhìn Hiền thì chàng lại biết ngay, hết sức rõ rệt, là cử chỉ ấy sẽ không được biểu tỏ, câu nói ấy sẽ không được nói ra. Gặp lại nhau, cuộc sống đã làm họ thành những người lớn. Với những vấn đề những tâm trạng của người lớn. Họ cùng ở giữa thành phố. Nhà Hiền gần đại lộ quá.

Còn mặc quần ngắn, nhưng Hiền đã trang điểm xong trước khi Chu đến. Hai gò má hồng đỏ, cặp mắt sâu hơn giữa những lông mi đã được đánh thẫm lại, Chu nhìn vào đã thấy thấp thoáng cái bóng dáng tưng bừng của những buổi dạ hội. Cuộc sống ở đây, khi đêm xuống. Bữa tiệc tiếp đón một nữ tài tử điện ảnh đến từ Hương Cảng, một nữ danh ca từ Phi Luật Tân, từ Đông Kinh vừa ghé xuống phi trường thành phố. Những dãy ghế kê thành hàng. Bữa tiệc ồn ồn ào ào với những nghi lễ phiền toái những lời chúc tụng kênh kiệu. Ánh lửa lòa sáng rồi lại mờ tối của một tiệm khiêu vũ. Sàn nhảy loang loáng, âm nhạc líu ríu. Không khí ngà ngà mê mê. Chu nghĩ đến tất cả những thứ đó. Một ánh trăng lạnh đọng lại trong óc. Chu đi lại về phía bàn phấn chống tay nhìn xuống. Chàng bắt đầu thấy hối hận về việc đã đến tìm Hiền mà nguyên nhân chỉ vì đêm nay thành phố có trăng thôi. Như thế một lúc lâu. Quay lại Hiền vẫn đứng ở chỗ cũ. Giọng nàng ngượng ngùng:

“Anh ngồi chơi chứ đứng đây ư? Lạ quá đi mất”.

“Hiền bận gì không?”

“Không anh ạ. Anh định rủ em đi đâu bây giờ”.

“Không” Chu trả lời.

Chàng thấy mình không có gì hết. Không có một tí gì hết. Đêm trăng trên kia vô nghĩa và cách biệt với nơi này. Chàng đi ra cửa sổ nhìn xuống. Càng cảm thấy tất cả sự vô nghĩa đó. Những mảnh trăng mờ mờ gãy vỡ giữa những bóng lá. Ánh sáng vàng yếu tầm thường của nó chỉ có thể đoán thấy mà không nhìn thấy trên mặt đường. Bốn phía xung quanh, ngang từng cao của rừng cửa sổ, những ánh đèn trập trùng xa xa gần gần làm cho đêm thành phố có chiều sâu và những tầm cao thấp chồng chất hỗn loạn lên nhau. Chu khép cửa quay trở vào:

“Lúc đến đây anh định rủ Hiền xuống phố đi bộ một lát. Nhưng thôi để lúc khác vậy. Chắc em bận, anh đi về”.

Giọng nói của Hiền vui mừng không giấu được:

“Bận thì không bận, nhưng em mệt đang muốn nằm nghỉ một lát thì anh đến”.

Chu gật đầu:

“Thôi anh về”.

Những buổi dạ hội sáng chói. Những bữa tiệc ồn ào. Sàn nhảy của một tiệm khiêu vũ sóng sánh âm nhạc và những bước chân người đan chen quấn quít phía sau lưng:

“Ở ngoài trăng sáng lắm phải không anh Chu?”

Bàn tay Chu nằm nguyên trên thành cửa đã mở hé.

“Em mở cửa sổ mà xem”.

Sau đó chàng tỏ dấu chào Hiền rồi đi khỏi. Hiền vẫn đứng nguyên ở chỗ cũ. Tiếng thang máy ầm ầm chuyển động, khung thang đổ xuống như lao rồi đứng sững lại trước hành lang. Một lát sau Chu đã ở ngoài đường, như lúc chàng vào, một mình.

*

Chu bỏ đi khá lâu rồi Hiền vẫn đứng nguyên không cử động. Căn buồng rộng hẳn ra. Sự có mặt của Chu dù chỉ là chốc lát đã thay đổi cái không khí của nó. Đôi mắt anh ấy buồn lạ. Hiền nghĩ thầm như vậy và đi lại phía bàn phấn. Nàng ngồi xuống im lặng, tự ngắm mình một lúc lâu. Tấm gương hắt trả một đường môi đỏ. Hiền khẽ nhếch mép. Vết son động đậy, ánh ánh. Hiền thoa phấn lại một lần nữa, đứng dậy đi về phía tủ áo. Chiếc áo nàng đã chọn cho đêm nay, màu nó đỏ sẫm với những bông hoa thật lớn. Hiền mở sắc tay lấy ra tấm danh thiếp của Đoàn gởi đến từ chiều, đọc lại. Đoàn là một người bạn mới, nhà giàu, đã sang Pháp nhưng chỉ để đến những hộp đêm và phơi nắng ở những miền duyên hải, năm này qua năm khác tụ hội những đoàn du lịch đến nghỉ mát từ khắp các ngả thành phố lớn của thế giới. Đoàn về nước được sáu tháng. Danh thiếp ghi mấy hàng chữ viết vội:

“Mười một giờ anh sẽ đưa xe đến đón Hiền. Nhớ chứ, buổi họp mặt có khiêu vũ ở khách thính của Liễu? Chúng mình sẽ đến đó rồi liệu sau”.

Rồi liệu sau. Tất cả lối sống của Đoàn, của những người bạn mới Hiền vẫn gặp, vẫn đi chơi với họ, cái lối sống tự hủy hoại không suy nghĩ và chẳng có một vấn đề nào đặt ra là thế. Rồi liệu sau. Hiền đã ngã vào, ngã thật sâu vào lối sống đó. Rồi liệu sau. Nghĩa là rồi lại đến khách thính khác, đi xuống những sàn nhảy, tới những buổi dạ hội những bữa tiệc, nhập vào những cuộc du lịch, tất cả cuộc sống vo tròn lại, ném vào cái không khí ồn ào những chuỗi cười lớn, lộng lẫy màu sắc nhức mắt.

Theo lời khuyên của Đoàn, Hiền đã bán căn nhà ở ngoại ô và thuê căn gác này ở giữa thành phố. Cũng đã được 4, 5 tháng. Cuộc sống mới đẩy nàng đi xa nếp sống cũ cùng những kỷ niệm với những người bạn cũ. Trong số những người này có Chu. Chưa một lần nào Chu nói hoặc có những cử chỉ nói Chu yêu nàng. Nhưng Hiền đã cảm thấy, nhờ linh khiếu đặc biệt của người đàn bà về vấn đề này, tình cảm Chu đối với nàng không đứng lại trong giới hạn cũ nữa. Hiền cũng không hỏi. Đúng hơn không muốn hỏi. Nếp sống xa hoa thay đổi tâm tính, đến cả những nhận xét quan niệm chung của người đàn bà về tương lai và cuộc đời. Hiền sợ tình yêu, thứ tình yêu trang nghiêm, đứng đắn của Chu. Nàng tránh nghĩ đến bất cứ những cái gì bền chặt, có tính chất quyết định. Thấy là mình đã trở nên tầm thường. Thích có một cái buồng ngủ thật đẹp chẳng hạn. Thích có một cái tủ đựng tất cả các thứ hàng áo mới nhập cảng. Thích được sống lộng lẫy. Và thực hiện bằng được tất cả những ý thích đó. Điều này chính là một trong rất nhiều nguyên nhân khiến Hiền tự ý xa Chu tuy thâm tâm vẫn không xa hẳn. Những người như Chu có thể khuất bóng hàng năm, xa cách hàng nghìn cây số, đi trên một con đường khác, nhưng Hiền vẫn không quên được. Một tâm trạng trái ngược mâu thuẫn: nhiều khi thử so sánh với những người bạn mới, Hiền thấy Chu thua kém họ nhiều thứ nhưng Chu đứng riêng một phía. Không thể so sánh được Chu với bất cứ một người nào. Chu đứng một mình, cái hình ảnh cô đơn ấy thật lạnh và thật đẹp. Sự kiêu hãnh của Hiền lại chính là nguyên nhân làm hổ thẹn mỗi khi chợt nghĩ đến Chu. Như bây giờ. Chu đi rồi. Câu nói cuối cùng của Chu vẫn còn lại:

“Hiền mở cửa mà xem”.

Hiền mở cửa. Đêm xuống lâu, những đợt lạnh dần dần dâng lên trong không khí. Trăng đậu thật xa, phía bên kia, trên một ngọn cây. Khuôn trăng thành phố tròn và phúc hậu từ khuôn mặt của người nhà quê mới ra tỉnh. Hiền mỉm cười về sự so sánh ngộ nghĩnh. Nàng nghĩ lại giọng nói khuôn mặt Chu ban nãy lúc Chu trang nghiêm bỏ đi.

Nhưng rồi nghĩ đến mình, buồn lại đến. Những đêm thật lộng lẫy vậy mà mấy mươi thứ ánh sáng cộng lại vẫn không sáng hết được tâm hồn. Hoang tối nhiều khoảng vẫn còn như những ngả phố vắng không có ai đi qua. Trước đây mấy năm, nhớ là thời kỳ cuối cùng hai người vẫn gặp nhau. Chu vẫn nói thành thật, Chu bao giờ cũng thành thật trong lời nói – tâm hồn Hiền sáng như một đêm trăng sáng. Tự soi ngắm lại, nhận xét ấy không còn đúng nữa. Nó đã đổi khác. Tâm hồn chỉ còn sáng cái ánh sáng lúc vụt tắt của một ngọn điện treo ngang cột đèn. Chao đèn hướng ánh sáng xuống những khoảng thấp ở dưới. Chẳng có gì đáng nhìn. Hiền ngước mắt. Cái nhìn đi từ những ngọn cây lên cao hơn, tới những đám mây màu trắng và sau cùng nó bắt gặp một vầng trăng thật tròn. Vẫn vầng trăng ban nãy, của chiều hôm trước, nhưng Hiền đã thấy nó khác hẳn. Giống như khuôn mặt người đi đường nhìn thờ ơ không chú ý đến lúc ngó kỹ lại mới chợt nhận ra một người thân. Ánh trăng Chu đến với nàng từ trên ấy, vẫn từ trên ấy. Nhưng Hiền đã không lên được tới đó, không lên được tới đó.

*

Đoàn vào mà Hiền vẫn không biết. Đoàn để tay lên vai làm Hiền giật mình quay lại.

“Cô bé áo đỏ”.

Đoàn cười rồi lùi lại châm thuốc lá hút. Đoàn nói kiểu cách:

“Anh nghĩ rằng Liễu đã làm một việc rất dại dột khi nhắc anh chiều nay thế nào cũng phải đưa em tới. Chắc Liễu sẽ hối hận, nhưng bọn đàn ông thì bằng lòng. Anh không biết anh có nên đưa Hiền đến cái chỗ có trăm mắt đổ dồn vào đó không. Chắc anh sẽ phải chống đỡ trên hàng trăm mặt trận một lúc.

“Em không đi đâu”.

Đoàn mở to mắt rồi cười phá lên.

“Nói đùa đấy, thôi đi. Đến giờ rồi. Chúng mình không nên làm cho thiên hạ đợi.

Tiếng Hiền nhắc lại:

“Anh Đoàn, em không đi thật mà”.

Bấy giờ Đoàn mới ngạc nhiên thật. Điếu thuốc lá đưa gần tới môi, sự ngạc nhiên làm Đoàn quên là phải hút hoặc phải hạ tay xuống.

Hiền thong thả đi lại trước mặt Đoàn.

“Anh xin lỗi chị Liễu và các anh ấy hộ em. Và nói hộ để hôm khác em sẽ đến cùng với anh”.

“Tại sao như vậy”, Đoàn hỏi bực tức. “Đến phút cuối cùng mới thay đổi ý kiến, đàn bà các em lạ thật”.

Hiền buồn cười:

“Đàn bà chẳng có gì lạ lùng cả đâu, anh cũng đừng hỏi em tại sao. Chính em cũng không hiểu. Có lẽ tại trong em vẫn còn một người con gái quê mùa. Người con gái quê mùa ấy anh không nên biết thì hơn. Anh vẫn tốt với em lắm xin anh đừng hỏi gì nữa và đi đi kẻo muộn. Em ở nhà một mình được rồi. Anh xem em đã mặc áo hoa đỏ này vì biết trước sẽ rất nổi bên cạnh màu tím của anh. Em vẫn định đi với anh đấy chứ. Tự nhiên không muốn đi nữa, có thế thôi anh Đoàn ạ”.

Người đàn ông nhún vai lắc đầu đi ra phía trước.

“Anh Đoàn”.

Y quay trở lại. Giọng Hiền mơ màng. Hiền nói một câu mà Đoàn không hiểu được riêng chỉ có nàng hiểu:

“Đừng giận em nhé, để hôm khác em sẽ lại đi chơi với anh. Nhưng anh đừng đến đón vào những đêm có trăng. Anh nhớ đừng đến đón vào những đêm có trăng”.

*

Tiếng cửa sập mạnh, người đàn ông bỏ đi rồi, Hiền quay trở lại phía trước tủ áo yên lặng ngắm bóng mình trong gương. Rồi nàng từ từ tháo hết hàng khuy áo, tháo khỏi tay chiếc áo màu đỏ chói để mặc nó rớt xuống mặt đất. Nàng với tay mở tủ. Dãy áo nhiều màu xếp sát nhau trong khoang tủ rộng hiện ra. Hiền với tay chọn một chiếc áo khác. Mắt nhìn mơ màng. Cuối cùng nàng chọn tấm áo lụa trơn màu xanh nhạt từ từ mặc vào. Trở lại bàn phấn, lấy khăn lau hết sáp môi, cất cái sắc tay vào ngăn kéo. Hiền đi tay không ra cửa, tắt đèn, đóng cửa lại, đi về phía thang máy. Thang máy đưa nàng xuống từng dưới. Hiền lần theo hành lang tối đi ra phía cửa. Người gác già còn thức. Y vừa hạ cái lưới sắt xuống.

“Kìa cô Hiền. Ông Đoàn vừa đến đón, cô không đi với ông ấy sao? Ông ấy vừa ở đây ra thôi”.

Hiền mỉm cười trước đôi mắt ngạc nhiên của người gác già. Nàng nói dịu dàng:

“Không, tôi không đi với ông Đoàn. Nhưng bây giờ nhờ ông mở hộ cửa cho tôi ra ngoài”.

Tấm lưới sắt lại kéo lên.

“Thế cô có về ngay không để tôi chờ, người gác hỏi”.

Hiền nhìn ra ngoài. Đã khuya lắm nhưng trăng đêm nay sẽ sáng trọn đêm. Nàng lắc đầu:

“Ông cứ đi ngủ. Chưa biết lúc nào tôi về, có lẽ còn lâu lắm. Tôi về tôi sẽ gọi ông dậy, không sao đâu”.

Ra đến ngoài đường, Hiền đứng lại nhìn lên. Đôi mắt nhìn trăng không phải để tìm một ánh sáng đẹp, còn như muốn dò hỏi một lối đi. Đoạn nàng tiến bước. Vừa đi Hiền vừa nghĩ: Phải rồi anh ấy chỉ có thể ở những nơi đó. Thành phố cả thảy có bốn vườn hoa. Bốn khoảng rộng với những chiếc ghế đá những con đường lát sỏi tráng, ánh trăng đang chiếu xuống đó, mênh mông và đầy. Hiền bước nhanh nhưng cũng không thấy vội vã lắm. Trăng sáng bây giờ trên thành phố, nó tròn nó cao thế kia, nó còn đậu ở đỉnh trời thật lâu. Đi trên bờ hè dưới bóng cây những mái hiên, mà Hiền có cảm tưởng như đang đi về một khoảng sân gạch nào, tới một đầu thềm một ngôi nhà cổ nào. Chỗ nằm ngủ cũ. Khoảng sân rộng, trắng xóa. Tiếng đập lúa đêm đầu mùa. Bóng những người tá điền đổ xuống. Trăng trải chan hòa trên những bờ vai bờ lưng, những cánh tay để trần.

Tấm áo lụa của Hiền mỏng nhẹ một vạt dài bay múa trên đường khuya. Hiền bắt đầu đi về lối vườn hoa thứ nhất. Chắc Chu đang nằm ngửa trên một tấm ghế đá, nhìn lên. Hiền sẽ đứng lại ở đầu lối vào vườn hoa. Nàng sẽ đi thong thả lại bên Chu. Gần chàng, như hồi nhỏ. Nàng sẽ nói với chàng dịu dàng:

“Anh Chu, anh ngồi dậy. Em sẽ nằm gối đầu lên cánh tay anh và em sẽ ngủ thiếp đi như ngày nào dưới ánh trăng kia cho anh xem”.


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

searching for the sea | Mai Thảo

sun by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

beyond the swamps is the sea
beyond the sand dunes and hot sand
beyond the reeds you will see
trapped in the endless nets of blistering high noon

tìm biển

Biển khuất bên kia những vũng lầy
Những cồn cát dãi chói chang ngày
Vượt qua lau sậy đi tìm biển
Chỉ ngút ngàn trưa lưới lửa vây


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

signal | Mai Thảo

Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

rows and rows of electrical wires, they line up side by side
allowing the sadness and joy to reach its destination
like the tinsels we hang up, when they cross
they distract us from our mediocre life

tín hiệu

Những hàng dây điện mắc song song
Cho những buồn vui tới khắp cùng
Đường dây ta mắc qua đời lạnh
Chỉ một u u tín hiệu trùng


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Doãn Quốc Sỹ’s Reed Forest | Mai Thảo

Doãn Quốc Sỹ [1923-2025, sketch by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

a whole day bus trip
through Doãn Quốc Sỹ Reed Forest
September on fire
Immortal American Autumn and June Gloom
posthumous blood stained bough and red leaves
pointy rocks meditating
defiant amid nature
the thought of you once upon a time

a whole night bus trip
amid Doãn Quốc Sỹ Reed Forest
ancient rain
a meadow lit up by fire flies
flashing lighting and exploding memories
ceasing
remain is the trickling of a small stream in the silence
and your laughter is clear as day
the year you came to see me

the bus slipping rapidly down a slope
thicker and thicker is the fog
not a sound of the trickling of the small stream
and that was the end of Doãn Quốc Sỹ Reed Forest

rừng Doãn Quốc Sỹ

Bus chạy suốt một ngày
Qua rừng Doãn Quốc Sỹ
Tháng chín cháy
Thu Hoa Kỳ bất hủ ở Sầu Mây
Lá đỏ thắm cành di cảo máu
Tảng đá nhọn ngồi thiền
Bằn bặt giữa thiên nhiên
Trầm tưởng người năm ấy

Bus chạy suốt một đêm
Giữa rừng Doãn Quốc Sỹ
Mưa bạt ngàn
Đồi sáng rỡ lân tinh
Sấp chớp nổ tung vùng trí nhớ
Ngưng
Trong yên tĩnh chỉ còn dòng suối nhỏ
Trong vắt tiếng cười người
Năm ấy đã qua đây

Bus vùn vụt đổ dốc
Sương mịt mùng khuất lấp
Tiếng suối chẳng còn nghe
Hết rừng Doãn Quốc Sỹ


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

park | Mai Thảo

Spider at Watson Bay, Sydney, Australia. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Mai Thảo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

the stream is in the middle of a forest
the forest is in the middle of a stream
the boundless forest diving into the stream
the stream over flowing
both close and familiar with my sad path
upon the afternoon

park

Suối ở giữa rừng, rừng giữa suối
Rừng mênh mông lặng suối ào tuôn
Cả hai đều rất là thân thiết
Với buổi chiều ta giữa lối buồn


Mai Thảo [1927-1998] real name is Nguyen Dang Quy, another pen name: Nguyen Dang, he was born on June 8, 1927 in Con market, Quan Phuong Ha commune, Hai Hau district, Nam Dinh province (originally from Tho Khoi village, Gia Lam district, Bac Ninh province, the same hometown and related to the painter Le Thi Luu), his father was a merchant and wealthy landowner. Mai Thao absorbed his mother’s love of literature from Bac Ninh. As a child, he studied at a village school, went to Nam Dinh high school and then Hanoi (studied at Do Huu Vi school, later Chu Van An). In 1945, he followed the school to Hung Yen. When the war broke out in 1946, the family evacuated from Hanoi to Con market, in the “House of the Salt Water Region”, from then on Mai Thao left home to Thanh Hoa to join the resistance, wrote for newspapers, participated in art troupes traveling everywhere from Lien Khu Ba, Lien Khu Tu to the Viet Bac resistance zone. This period left a deep mark on his literature. In 1951, Mai Thao abandoned the resistance and went into the city to do business. In 1954, he migrated to the South. He wrote short stories for the newspapers Dan Chu, Lua Viet, and Nguoi Viet. He was the editor-in-chief of the newspapers Sang Tao (1956), Nghe Thuat (1965), and from 1974, he oversaw the Van newspaper. He participated in the literature and art programs of radio stations in Saigon from 1960 to 1975. On December 4, 1977, Mai Thao crossed the sea. After 7 days and nights at sea, the boat arrived at Pulau Besar, Malaysia. In early 1978, he was sponsored by his brother to go to the United States. Shortly after, he collaborated with Thanh Nam’s Dat Moi newspaper and several other overseas newspapers. In July 1982, he republished the Van magazine, and was editor-in-chief until 1996, when due to health problems, he handed it over to Nguyen Xuan Hoang; Two years later he died in Santa Ana, California on January 10, 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.