Still game | Tản Đà

Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Tản Đà
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

I’m sick of life who knew
If life’s interested in me, I’m game.
Till I’m bored to death, till sick is life,
When life is sick of each other, I’ll stop.

I.e. I’ll end it before you can even stop me,
If life still has me, then I’ll play.
People have been in the game a whole life,
I’ve but lived half a life.

At Half a lifetime, the peak of my game,
The most I will get out of life.
Is there anyone like me,
Playing with words endlessly.

Play with words to the height of ecstasy
Illuminating life via a fresh piece of the moon.
A new contemporary literary national movement,
Like a new moon, I am game.

A literary village lack lustre in competition,
Clandestine, like me and life.
Me and life forever clandestine,
The idea of ending it, life won’t let it slide.

This clandestine life refuses to let go,
Dare I travel far to betray life.
Absent for so long, life will miss me,
Missing life, I’m eager, I’ll play.

I’ll play on past this half life,
Life’s yet halved, why would I let it go.
If I let it go, sad it will be for me,
Sad for life, less a friend.

Who’s out there is life’s friend?
Why be absent, at least participate?
No one will wait forever, who’s out there?
Or be that bored that life won’t be interested?

Like everyone else: I’m also bored with life,
Life’s losing another friend, who’s left to play?
Life shouldn’t be so boring yet,
As for being bored of the old days, I’m done.

I can still recall the time I was half bored,
After some thought I was still game.
Obsessed with the game to the point of secrecy,
Life continues to give, how could I deny life.

How old am I to be pondering about life,
Life’s like that, how dare I end it.
Still life, still I, still the endless play,
Game until there’s more money to play.

I want to play until the very end of life,
If life never truly ends; I won’t stop.
It doesn’t matter if my life is fast or long!
Long or fast, I will play.

In a hundred years, I’ll play just as hard,
Begrudge, a million, a thousand years of never ending life.
There was a time life had cried for me.
If life did not cry, I would still play.

A hundred years just like that,
Beyond a hundred years, I assured life.
Begrudge, a million, a thousand years of life missing me.
I would let it go, I would play with life.

The pen had enough, but on is the game,
Write another line for fun, ask life:
Where will this “glorious end” come from?
Can it be drawn or not? I challenged life.

Còn Chơi

Ai đã hay đâu tớ chán đời,
Ðời chưa chán tớ, tớ còn chơi.
Chơi cho thật chán, cho đời chán,
Ðời chán nhau rồi, tớ sẽ thôi.

Nói thế, can gì tớ đã thôi,
Ðời đương có tớ, tớ còn chơi.
Người ta chơi đã già đời cả,
Như tớ năm nay mới nửa đời.

Nửa đời chính độ tớ đương chơi,
Chơi muốn như sao thật sướng đời.
Người đời ai có chơi như tớ,
Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi.

Chơi văn sướng đến thế thì thôi,
Một mảnh trăng non chiếu cõi đời.
Văn vận nước nhà đương buổi mới,
Như trăng mới mọc, tớ còn chơi.

Làng văn chỉ thiếu khách đua chơi,
Dan díu, ai như tớ với đời.
Tớ đã với đời dan díu mãi,
Muốn thôi, đời cũng chửa cho thôi.

Ðời đương dang díu, chửa cho thôi,
Tớ dám xa xôi để phụ đời.
Vắng tớ bấy lâu, đời nhớ tớ,
Nhớ đời, nên tớ vội ra chơi.

Tớ hãy chơi cho quá nửa đời,
Ðời chưa quá nửa, tớ chưa thôi.
Tớ thôi, tớ nghĩ buồn cho tớ,
Buồn cả cho đời vắng bạn chơi.

Nào những ai đâu, bạn của đời?
Sao mà bỏ vắng, ít ra chơi?
Chớ ai chờ mãi, ai đâu tá?
Hay ngán cho đời chẳng muốn chơi?

Nếu tớ như ai: cũng ngán đời,
Ðời thêm vắng bạn, lấy ai chơi?
Cuộc đời tớ nghĩ chưa nên ngán,
Nếu ngán thời xưa tớ đã thôi.

Tớ nhớ năm xưa nửa ngán đời,
Nghĩ đi, nghĩ lại, lại ra chơi.
Mê chơi cho tới thành dan díu,
Ðời dẫu cho thôi, tớ chẳng thôi.

Nghĩ tớ bao nhiêu, lại nghĩ đời,
Nghĩ đời như thế, dám nào thôi.
Còn đời, còn tớ, còn chơi mãi,
Chơi mãi cho đời có bạc chơi.

Tớ muốn chơi cho thật mãn đời,
Ðời chưa thật mãn; tớ chưa thôi.
Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng!
Dù chóng hay lâu, tớ hãy chơi.

Trăm năm, tớ độ thế mà thôi,
Ức, triệu, nghìn năm chửa hết đời.
Chắc có một phen đời khóc tớ.
Ðời chưa khóc tớ, tớ còn chơi.

Trăm năm còn độ bấy nhiêu thôi,
Ngoài cuộc trăm năm, tớ dặn đời.
Ức, triệu, nghìn năm đời nhớ tớ.
Tớ thôi, tớ cũng hãy cùng chơi.

Bút đã thôi rồi, lại chửa thôi,
Viết thêm câu nữa, hỏi đời chơi:
“Lộng hoàn”này điệu từ đâu tới?
Họa được hay không? Tớ đố đời.


Tản Đà, the poet was born Nguyễn Khắc Hiếu on 19 May 1889 in Ba Vi, died on 7 June 1939 in Hanoi, Vietnam. He used both traditional Sino-Vietnamese forms and European influences and was a transitional figure between the turn of the 1890s such as Tú Xương and Nguyễn Khuyến and the “New Poetry” movement of the 1930s.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

me, recollecting the Sun | Đinh Trường Chinh

Ác tà by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Đinh Trường Chinh
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

tôi nhặt lại mặt trời

tôi bỏ lại đêm
những điều chưa nói hết
những điều chưa kể xong
những điều
đêm đã nghe
trong im lặng bóng tối .
.
tôi bỏ lại trong bóng tối
những ý nghĩ
sót vụn
những tưởng tượng
rỗng rạo
những thứ nên quên đi
khi trời tảng sáng .
.
tôi bỏ lại cả đôi mắt mình
hai con cá bơi tự do trên trần nhà
một bãi biển đen không hải phận
bỏ lại
xác mình dạt vào bờ
ươn vữa
lúc ban mai .
.
tôi bỏ lại
những giấc mơ
vừa bị đánh lưới
cả trí nhớ đóng băng
những nỗi nhớ
trống và buốt 
bỏ lại cái đầu mình
lăn lóc
nơi góc tối nào đó .
.
tôi bỏ lại
tiếng đàn của em
vang âm từ một nơi chốn thật xa
như khi chúng ta chia tay
mà không bao giờ nói chia tay
chỉ hẹn lại
một đêm nào đó
khi không còn ai nói được với ai điều gì
vì chỉ có sự im lặng mới nói hết được
điều chúng ta muốn
dưới bầu trời đầy sao.
.
tôi bỏ lại
bầu trời sao ấy
một trời sao
hay chỉ là những hạt tuyết rơi
tiếng tuyết rơi
nghe thật rõ
như bàn chân em đang bước đến
rất gần
gõ vào cánh cửa sau
lúc 3 giờ sáng .

me, recollecting the Sun

.

i left to-night
words yet entirely uttered
words yet wholly explained
words
heard the night
in the quiet darkness .

i left in the darkness
thoughts
crumps
imagined
hollow
things ought forgotten
in the first light .

i left behind my eyes
a pair of fish swimming upon the ceiling free
a borderless dark shoreline
left behind
my corpse awash the shore
a decay
upon dawn .

i left to
dreams
caught in a net
frozen memories
longings
aching hollowness
left behind my head
rolling
in the dark somewhere .

i left to
your music
hidden resounding ever far
in our goodbyes
not a spoken word
be seeing you
one-night
when words are no longer necessary
that only the silence knows
what we want to say
beneath a sky filled with stars .

i left to
a sky with stars
a starry sky
or falling snowflakes
the sounds of falling snow
so clear
like your approaching footsteps 
so close
knocking on the back door
at 3 am .

.

December 2018

_____



Đinh Trường Chinh, the poet, and artist was born in 1970 in South Vietnam. The poet currently works in IT in Virginia, U. S. A.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Ships That Pass in the Night | Paul Laurence Dunbar

Photography by Tien Bac Dang

A poem by Paul Laurence Dunbar
Translator: Lê Vĩnh Tài,
Photography: Tien Bac Dang

Anh chỉ gặp em một lần, như những con tàu đêm đi lướt qua nhau
trên trời, những đám mây đen khổng lồ như muốn mưa
đêm như đang mang thai
nơi anh có thể nghe một tiếng súng nổ như pháo cưới
lóe lên ánh sáng lấp lánh
cho anh biết con tàu chúng ta đã đi qua
đi qua không ai còn tìm kiếm

đôi mắt đang khóc của anh, vì hồn anh bị vết thương sâu quá
anh sẽ ngợi ca và réo gọi con tàu
dang tay nguyện cầu
giọng nói của anh đã chết
nhưng hồn ma của môi anh chạm tới con tàu
như chúng ta đi qua, đi qua
như đêm qua

hỡi Trái Đất, hỡi Bầu Trời, hỡi Biển
cả hai ta đều tưởng đã vượt qua
ôi trái tim, và hỡi linh hồn cứ khiếp sợ bóng tối
không có hy vọng cho tôi? không còn cách nào
để anh có thể nghe thấy tiếng kêu đang tăng tốc độ của em
che khuất ánh nhìn của anh
và em đang trôi qua, trôi qua như tiếng vang
của đêm lướt qua
như những con tàu đêm làm chúng ta xa nhau
đường ray mãi mãi

June 2023

Ships That Pass in the Night



Out in the sky the great dark clouds are massing;
I look far out into the pregnant night,
Where I can hear a solemn booming gun
And catch the gleaming of a random light,
That tells me that the ship I seek is passing, passing.

My tearful eyes my soul’s deep hurt are glassing;
For I would hail and
check that ship of ships.
I stretch my hands imploring, cry aloud,
My voice falls dead a foot from mine own lips,
And but its ghost doth reach that vessel, passing, passing.

O Earth, O Sky, O Ocean,
both surpassing,
O heart of mine, O soul that dreads the dark!
Is there no hope for me? Is there no way
That I may sight and check that speeding bark
Which out of sight and sound is passing, passing?


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Paul Laurence Dunbar [1872 – 1906] was an American poet, novelist, and short story writer of the late 19th and early 20th centuries. Born in Dayton, Ohio, to parents who had been enslaved in Kentucky before the American Civil War, Dunbar began writing stories and verse when he was a child.

The pretty muse | Bùi Giáng

Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Bùi Giáng
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

When poetry’s beauty is the epitome of cloud nine
The Muse is suddenly cold, not so divine
Hell-raising envy
The desperate solicitation crazy
Dear god, hazy
Since the beginning of time, just as mad

Nàng thơ đẹp

Khi thơ đẹp tới chín tầng
Thì Nàng Thơ bỗng sượng sần cả ra
Tha hồ thằng quỷ con ma
Đến gùn ghè gạ gẫm mà hoá điên
Thưa rằng đại thánh tề thiên
Nghìn xưa âu cũng chỉ điên chừng này

Nguồn: Bùi Giáng, Mưa nguồn và Lá hoa cồn, NXB An Tiêm tái bản, Sài Gòn, 1973


Bùi Giáng (1926-1998) was born in Thanh Châu, Duy Xuyên, the province of Quảng Nam, Vietnam. He passed away at Chợ Rẫy Hospital in Saigon, Vietnam. Self-taught at a late age in life. The prolific poet and translator were fluent in French, English, and Kanji. With many published translations like Hamlet by Shakespeare, The Little Prince by Saint Exupéry, Campus…

Source: thivien.net

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A conversation with age | Bùi Kim Anh

Bùi Kim Anh

A poem in Vietnamese by Bùi Kim-Anh
Translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

sleepless nights sleepless mornings
that’s age
age and its irregular memories
a constant grapple with far and gone

age can’t be covered with a layer of makeup
age can’t be hidden behind a pair of sunglasses
the beauty of age I’ve experienced
are smiles on familiar lines and creases

why sigh with regret
when surrounded are growing grandchildren
why must self be consoled
live content with each natural day

night of little sleep replace the days to come
only small meals then more meals in the day
for yourself live since how much left is time
rain sunlight in abundant why the constant fret

March 2019
_____

CHUYỆN VỚI CÁI GIÀ



đêm khó ngủ và sáng cần ngủ lại
đấy là tuổi già
cái tuổi già thất thường với nhớ quên
cứ vận vào những điều xa xôi lắm

không thể phủ lên cái già bằng lớp phấn son
không thể che lấp cái già bằng cặp kính đen
vẻ đẹp già nua từng trải
phơi nụ cười trên nhăn nhúm đã quen

sao phải thở dài tiếc nuối
khi bên ta con cháu lớn lên
sao phải tự mình an ủi
bình thản mỗi ngày tự nhiên

đêm ít ngủ thì sáng mai bù lại
bữa ít cơm thì nhiều bữa trong ngày
sống cho mình thời gian bao nhiêu nữa
mưa nắng nhiều cần chi mãi lo toan


Bùi Kim Anh, the poet born in 1948 in Thái Bình, graduated from Hanoi Teacher College, a teacher at a few high schools in Hanoi(Cổ Loa, Bạch Mai, Trần Phú). She is a member of the Vietnam Writers Association. Bùi Kim Anh together with her journalist husband Trần Mai Hạnh currently lives in Nguyễn Đình Chiểu, Hanoi with their eldest daughter and grandchildren, including Thiện Nhân, from Mount Thành, Quảng Nam, abandoned by his mother and adopted by Trần Mai Anh, the poet’s daughter.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

November yellows flying | Lê Vĩnh Tài

Autumn in Sydney, Australia by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

November yellows flying
across the city
autumn
hair and sunlight
and her eyes

you could barely breathe
the bronchitis 

autumn
she will turn red when you kiss her hair
and she’ll say because it’s cold

don’t bother looking for the excuse
she will curl up with the chill across the horizon
as fragile as
a caterpillar

don’t listen to the screaming cicadas
because at her arrival summer is lost

time will ring like wind chimes 
as she tugs at each falling leaf
echoes of her name

her name is all you remember
upon the departure of autumn…\



November 2022

tháng mười một
bay vàng góc phố
mùa thu
tóc và nắng
và mắt nàng

bạn gần như ngưng thở
phổi bị sưng

mùa thu
nàng sẽ chuyển sang màu hồng khi bạn hôn lên tóc
nàng nói chỉ vì trời lạnh

bạn cũng đừng tìm lý do
nàng cũng cong lên theo cách trời đã lạnh
như một con sâu bướm
mong manh

bạn đừng nghe con ve kêu vang
vì khi nàng đến mùa hè đã mất

thời gian reo như chuông trong gió
nàng với tay kéo những chiếc lá rơi xuống
âm vang tên nàng

tên nàng là tất cả những gì bạn nhớ
khi mùa thu bỏ đi…


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

IF A VERSE IS TRAPPED, WILL SILENCE BE ITS REPLY? | Lê Vĩnh Tài

1.
languages
in the thousands
in fact in the millions
as abundant as a ripe harvest ready for the picking

and the soft and gentle sound shall fall
one drop at a time from your tongue
free falling will be
the verses of poetry

2.
like a stomachache
happiness shall never come pouring
or drifting

it’s the pungent ejaculation in the middle of the night
something you burped up and forgotten
only she will remember

the verse breathing in reply to the best silent reply
to ease the pain

3.
each smile
each tear, there
to hide the sadness

pain being
fortitude
I am alive
I survived

my past
my story
proof of my endurance, even
through the pain of the next life
through the humiliation
through the attacks and bombardment
through the friendship earned and lost

I survived
and within what’s left of this journey
those who had been in my life
shall see

no matter how dark
there’s always light
shimmering within its beauty

I ran
but they’re still after me
the kind of light
light gun powder
constantly exploding in their mind

the kind of light
that has disappeared
from my life

and this mild spasm
reminds me of the fact that
I have
survived…
4.
delay
I waited all day
for a canceled flight

time is a few steps away
and yet in the end I couldn’t escape it
from a place no one wants to stay

I’m here all day
on my butt, time had caught up to me
I can’t deny

I
can’t escape

I can never be free?
5.
a god wants everyone to write
a book about him

everyone wants to write a book
about a god

but how could everyone write it
when the god lived barely enough to finish
chapter one?


6.
I know
But I would never lie
I do not reply “yes” just to anyone
yes yes yes
when I see him

I do as I’m told for my children
(my children now are no different)
they go to school, they do their homework
sometimes they’re late
they get in trouble with their teachers

they do as they’re told

making a living
unlike books
it is honest work

ideas
unlike vegetables
in a pig’s trough
thanks is unnecessary

words is a problem of mine
I have written more than a couple of dozen of books
anthologies and complete works
more weight than a single boulder
in your backyard

my tongue might be paralyzed right now but
it can articulate each vow and syllable clearly without fuss
You think I can’t see you?
You think I can’t hear you?

an anthem of the truth
a birdsong delivered in a cage
spitting blood in a poem I stole

I understand my children have a Laotian curriculum, graduate with an Italian degree
sit for exams in Vietnamese but study in the States
with my money

a fist full of sticky rice
“thằng bờm” dancing
bouncing like the grains during the harvest
like long ago in my mother’s arms
when all my mother had left was the scraps from the rice mill
brewed in a stew for me

oh mother
your son is like a rock in one hand
the words are as light and as fluffy as clouds
there’s a fortune in it

the ideas flying
like flies hovering over a swamp
crowds and flies
different from pigs, sheep, dogs or monkeys
doesn’t matter what they might be
it’s but a sore
in the throat of a poet

to make money
I pretend to be a bit crazy
but the truth is that my conscience is as clear as the day
I love you, love…

Christmas Eve 2023

NẾU BÀI THƠ BỊ MẮC BẪY, IM LẶNG CÓ PHẢI LÀ CÁCH NÓ TRẢ LỜI?



1.
ngôn ngữ
có hàng ngàn
thậm chí hàng triệu
nhiều như lúa chín cho bài thơ tha hồ gặt hái

và những thanh âm mềm mại
nhỏ giọt từ lưỡi của bạn
bài thơ cũng tha hồ ném
ra

2.
như căn bệnh đau dạ dày
hạnh phúc sẽ không bao giờ chảy
hay trôi

nó là dịch vị trong đêm
bạn ợ và quên
chỉ nàng còn nhớ

bài thơ chỉ có thể thở
vì im lặng là câu trả lời
tốt nhất
để giảm đau

3.
mỗi nụ cười
mỗi giọt nước mắt
chỉ để che giấu nỗi buồn

tất cả nỗi đau
là sức mạnh
tôi đang sống
tôi còn sống sót

quá khứ của tôi
câu chuyện của tôi
nó cho thấy tôi có thể sống
ngay cả có kiếp sau đau khổ
ngay cả sau khi bị hãm hiếp
ngay cả sau khi bị tra tấn
ngay cả sau khi có được bạn bè
ngay cả sau khi mất hết bạn bè

tôi đã sống sót
trong phần còn lại của cuộc hành trình
những ai đã đi qua đời tôi
sẽ thấy

dù khoảng thời gian đen tối
vẫn luôn có ánh sáng
lấp lánh với vẻ đẹp của nó

tôi bỏ chạy
nhưng họ vẫn tiếp tục tìm kiếm
thứ ánh sáng
như thuốc súng
luôn phát nổ trong tâm trí họ

thứ ánh sáng
đã biến mất
khỏi đời tôi

và các cơn co giật nhẹ nhàng
nhắc nhở rằng
tôi còn sống
sót…

4.
delay
tôi chờ cả ngày
cho chuyến bay bị hoãn

tôi chỉ cách thời gian vài bước chân
cuối cùng tôi không thể trốn thoát
khỏi cái nơi đã không ai đến

tôi ngồi cả ngày
và quá khứ đã bắt kịp tôi
tôi không thể chối

tôi
không thể thoát

tôi
bao giờ thực sự được tự do?

5.
vĩ nhân muốn mọi người viết
cuốn sách về ông ta

mọi người cũng muốn viết một cuốn sách
về vĩ nhân

nhưng làm thế nào mọi người có thể viết
khi vĩ nhân sống chưa hết
chương một?

6.
tôi không biết
nhưng tôi không bao giờ dối trá
không phải tôi mà ai cũng phải “dạ”
dạ dạ dạ
khi gặp ông ta

tôi làm theo lệnh để cho các con tôi
(các con tôi bây giờ vẫn thế)
chúng đang đi học
có lần đi trễ
cô giáo la

miếng ăn
không như những quyển sách
không dối trá

ý tưởng
không như mớ rau
trong máng lợn
bạn đừng có mà cám ơn

chữ nghĩa là vấn đề của tôi
tôi đã viết hơn hai mươi quyển sách
tuyển tập và toàn tập
nặng hơn một hòn đá
trong sân nhà
bạn

tôi đơ lưỡi nhưng tôi không nói lắp
nà nàm xao tôi vẫn nói là làm sao
ai làm sao mà tôi biết?
ai biết sao mà tôi làm?

bài hát về sự thật
giống như con chim trong lồng vẫn hót
đến tứa máu trong bài thơ mà tôi ăn cắp

tôi biết các con tôi thi trường lào đỗ trường ý
thi việt nam học bên mỹ
bằng tiền của tôi

nắm xôi
thằng bờm vẫn múa
như hạt lúa
ngày xưa trên tay mẹ
mẹ mang về chỉ còn vỏ trấu
để nấu
cho tôi

mẹ ơi
con bây giờ như hòn đá trên tay
chữ nghĩa nhẹ như mây
tiền bạc cất trong ấy

ý tưởng bay
như ruồi trên đầm lầy
đám đông với những con ruồi
khác con lợn khác con cừu khác con tườu con khỉ
con chi chi cũng được
chỉ là vết xước
trong cổ họng nhà thơ

để có tiền
tôi giả điên
chứ tâm trí tôi vẫn thế
như ngày tôi yêu em…


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

A day in a life of an Asian poet | Nguyễn Bắc Sơn

A poem in Vietnamese by Nguyễn Bắc Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

He’s a true astrologer
Needs nothing
Treads thousands of miles
To see holy relics

He may admire one day the ripe golden rice field
And discovers the generosity of heaven and earth

One night
He might admire the wick of a lamp
And discover the boundless warmth of its flame

He admires the brilliance of a grain of salt
He admires the sheen on a black sesame seed

He finds himself admiring an approaching raindrop
In the raindrop he finds the face of a child
And the round bright eyes of a woman
In a shiver he is the cosmos.

Ở đời như một nhà thơ Đông phương



Y là một nhà chiêm bái đích thực
Có cần chi
Đi hàng nghìn dặm đường
Để nhìn các thánh tích

Một ngày kia y chiêm bái đồng lúa chín vàng
Và tìm thấy lòng hảo tâm của trời đất

Một đêm kia
Y chiêm bái ngọn bấc đèn
Và tìm thấy sự ấm áp vô cùng của lửa

Y chiêm bái hạt muối trắng tinh
Y chiêm bái hạt mè đen bóng

Có lần y chiêm bái một hạt mưa sa
Trong hạt mưa có khuôn mặt trẻ con
Cùng đôi mắt chim người nữ
Y bỗng rùng mình biến thành vũ trụ.

Nguồn: Nguyễn Bắc Sơn, Chiến tranh Việt Nam và tôi, NXB Đồng Dao, 1972


Nguyễn Bắc Sơn (1944 – 4/8/2015) the poet, born and died Nguyễn Văn Hải, in Phan Thiết, Bình Thuận.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.