aesthetic and social norm | Nguyễn Thị Phương Trâm

Sydney winter 2025, it snowed in Queensland, and the last time it snowed in Queensland was in 1975, 50 years ago. Nguyễn Thị Phương Trâm

aesthetic and social norm
you must conform

slim down
– you’re too fat!

dye your hair
– you’re too grey!

shut up
– you’re a woman!

you like sex?
– you’re a whore!

CONFORM TO SOCIAL NORM

I am fat
I am grey
I speak up
I love sex

THE ART OF LIVING

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

MY LIFE | Lê Vĩnh Tài [484]

Sông Hương, Huế, Việt Nam Winter 2025. Photography Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Since the day she had left for the sea, I have lived on a mountain, all roads lead to one gate, it is always locked with a sign at the top: “My life.”

Each morning, I find myself in front a mirror that no longer has a reflection of me. In the mirror I see her flying away into the horizon. I would lift my finger to touch the thick film of dust on the mirror. People say: it’s not her at all, it was my memory trapped inside the shards of glass.

I did try to find “My life” else where, not in the mirror. Say the identification papers, citizenship, electric or water bill… but “My life” no matter where it might be have been separated into a series of numbers, a mindless data. I met the man who separates these series of numbers as a profession, he has a scanty black beard, he said:

– You told her your life was more important right? I nodded.

– Then you should live up to your word, forget the small stuff. From this day on, you should live up to the shadow of that life.

I asked:

– And her?

The man with the scanty beard smiled:

– She is your life. You were the one who had given it away.

I understood then that I didn’t have a choice. Convicted, I had no choice but to live my life without her. In the dark room, I heard her small voice:

– You are right, but the truth can not save you. I opened my eyes. There was no one there. When she left, I understood that my life had left with her, left behind was a body that breathes.

She left.
I stayed.
Both had taken with them “my life.”

CUỘC ĐỜI TÔI

Từ ngày nàng về biển, tôi sống trên một ngọn núi, mọi con đường đều dẫn về một cánh cổng khép kín, phía trên treo tấm bảng: “Cuộc đời tôi.”

Mỗi buổi sáng, tôi ngồi trước gương nhưng tấm gương không còn phản chiếu hình ảnh của tôi. Trong gương tôi thấy em đang bay về phía chân trời. Tôi đưa tay ra chỉ chạm được vào lớp bụi dày trên gương. Người ta bảo: đấy không phải hình ảnh của em, mà là ký ức của tôi bị chính tôi giam giữ trong những mảnh thủy tinh.

Tôi cũng thử đi tìm “Cuộc đời tôi” ở nơi khác, không phải ở trong gương. Ví như trong giấy chứng minh nhân dân, trong hóa đơn điện nước… nhưng “Cuộc đời tôi” dù ở bất kỳ đâu cũng đã bị người ta tách riêng ra thành một dãy các con số, một dữ liệu vô tri. Tôi gặp người đàn ông chuyên tách các dãy số, ông ta có hàm râu thưa màu đen, ông ta nói:

– Anh bảo với người con gái ấy rằng cuộc đời anh quan trọng hơn, đúng không? Tôi gật đầu.

– Vậy thì anh hãy sống đúng như lời mình nói đi, cứ quanh quẩn tìm kiếm cái không quan trọng làm gì. Từ nay trở đi, mỗi ngày anh sống là cái bóng của chính cuộc đời ấy.

Tôi hỏi:

– Thế còn cô ấy?

Người đàn ông râu thưa màu đen mỉm cười:

– Cô ấy chính là cuộc đời anh. Và anh đã tự tay giao nó đi mất rồi.

Tôi hiểu mình không còn quyền lựa chọn. Tôi bị kết án, bị buộc phải đi qua vô tận những ngày không còn em. Trong căn phòng tối, tôi nghe giọng em thì thầm:

– Anh nói đúng, nhưng đúng là sự thật không cứu được anh đâu. Tôi mở mắt. Không còn ai ở đó. Khi em rời đi, tôi nhận ra cuộc đời tôi đã đi cùng em, còn lại chỉ là xác thân biết thở.

Em bước đi.
Tôi ở lại.
Cả hai đều mang theo “cuộc đời tôi.”


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Mít Ta | Hoàng Xuân Sơn

Hoàng Xuân Sơn

A poem in Vietnamese by Hoàng Xuân Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

The Jackfruit
One can argue
To one’s heart content
It is the iconic symbol
Of our nation

But at the heart of it
Is a sulfureous centre
The undoing of
Its people

M Í T



[ an nam ]

Cạp
Khới
Nạy
Tới hết xơ
Lòi ra hột mít
Bên tờ giấy xanh
Thôi ta đi mua điềm lành
Cãi cọ nhau chi đành hanh
Sự đời

À
Trong hột mít đầy hơi
Hãy vén cho khéo kẻo
Đời bung hương

)(
s ử m ặ c
Phọt Ru Lai
[ tôi độc lập ăn theo ]


Hoàng Xuân Sơn 

A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh… 

Hometown: Vỹ Dạ, Huế.

Lý Thường Kiệt Primary  

Bán Công High School and Quốc Học Huế High School

Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn. 

Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.

After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.

The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn  Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề,  Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn,  Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ. 

Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.

Published work:

Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)

Huế Buồn Chi (thơ,93)

Lục Bát (thơ, 2005)

Ref: vanchuongviet.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Annabel Lee | Edgar Allan Poe

A poem by Edgar Allan Poe
Translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

nhiều năm đã trôi qua
trong một vương quốc ven biển
có một nàng mà không chừng bạn cũng biết
tên nàng là anna

nàng không muốn nghĩ gì
ngoài việc yêu tôi và chờ được tôi yêu
tôi là đứa trẻ và nàng là em bé

trong vương quốc ven biển này
chúng tôi yêu nhau
bằng một tình yêu còn hơn cả tình yêu

tôi và anna của tôi
yêu đến mức các thiên thần
thèm muốn được yêu

và đó là lý do tại sao, từ lâu lắm rồi
trong vương quốc này
có một cơn gió cứ thổi ra từ đám mây, làm lạnh
anna của tôi

vì thế bạn bè người thân của nàng
mang nàng cách xa tôi
nhốt nàng vào một ngôi mộ
trong vương quốc

các thiên thần không thể hạnh phúc
như lúc ở Thiên đường
nên ghen tị với tôi
đó là lý do (mà ai cũng biết,
trong vương quốc bên bờ biển này)
vì sao cơn gió cứ thổi ra từ đám mây
lạnh giá đã làm chết anna của tôi

tình yêu của chúng tôi
còn ấm áp hơn tình yêu của những tay già
cả những thiên thần trên cao
hay những con quỷ dưới biển
không bao giờ có thể tách rời linh hồn tôi
khỏi linh hồn anna

vì mặt trăng không bao giờ tỏa sáng
mà không mang đến cho tôi những giấc mơ
những vì sao không bao giờ mọc
vì tôi đã cảm thấy đôi mắt
lấp lánh của nàng

cả đêm, tôi nằm bên
người yêu dấu của tôi – cô dâu mới của tôi
trong ngôi mộ của nàng
bên bờ biển nàng và tôi trong ngôi mộ rì rào.


Edgar Allan Poe [1809-1849] là một nhà văn, nhà thơ, biên tập viên và nhà phê bình văn học người Mỹ, nổi tiếng nhất với thơ và truyện ngắn, đặc biệt là những câu chuyện bí ẩn và rùng rợn.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Thành phố nằm trên biển | Edgar Allan Poe

A poem by Edgar Allan Poe
Translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

Kìa! Cái chết đã ngóc đầu dậy, dựng lên ngai vàng
Trong một thành phố xa lạ đơn độc
Trong miền Tây u ám,
Nơi những người tốt nhất và xấu nhất
Đã đến nơi an nghỉ vĩnh hằng.

Có những đền thờ, cung điện
(Và những tòa tháp bị thời gian ăn mòn
Đừng run sợ!)
Chúng không thuộc về chúng ta.

Xung quanh, chúng ta nâng gió lên cao và quên lãng,
Nằm im dưới bầu trời
Những dòng nước u sầu.

Không có tia sáng nào từ Thiên đường chiếu xuống
Vào đêm dài của thị trấn;
Nhưng ánh sáng từ biển cả u ám
Tràn lên những tháp pháo lặng lẽ—
Tỏa sáng lên những đỉnh cao và tự do—
Lên mái vòm—lên những ngọn tháp—lên những cung điện của ông vua—
Lên những bức tường giống như thành Babylon—
Lên những khu vườn tối tăm đã bị lãng quên
Từ lâu dây thường xuân đã hoá thành phù điêu và những bông hoa đã hoá đá—
Lên rất nhiều ngôi đền
Kỳ diệu những bức phù điêu có vòng hoa
Đan xen đàn vĩ cầm, hoa violet và dàn nho.
Cam chịu dưới bầu trời
Những dòng nước u sầu nằm đó.

Hãy hòa trộn những tháp pháo và bóng tối
Ở đó tất cả dường như lơ lửng
Trong không khí, một tòa tháp kiêu hãnh
Cái chết nhìn thật khổng lồ.

Những cánh quạt mở ra và những ngôi mộ
Há hốc miệng ngáp như những con sóng;
Nhưng sự giàu có không nằm ở đó
Trong đôi mắt = kim cương của mỗi tượng thần—
Không phải những người chết đeo đầy đồ trang sức
Cám dỗ những dòng suối chảy ra khỏi giường;
Vì không có gợn sóng nào cuộn tròn, than ôi!
Dọc theo vùng hoang vu của thủy tinh đó—
Trên một vùng biển xa xôi—
Không có sự nhấp nhô nào cho thấy gió đã từng
Dập dồn trên những vùng biển ít thanh bình.

Nhưng kìa, một sự khuấy động đang diễn ra
Trong không khí! Sóng—có một chuyển động ở đó!
Như thể các tòa tháp đã bị đẩy sang một bên,
Trong sự chìm xuống nhẹ nhàng, thủy triều buồn tẻ—
Như thể đỉnh của chúng yếu ớt tạo ra
Một khoảng trống trong bầu trời mỏng manh.

Sóng giờ đây có ánh sáng đỏ hơn—
Những giờ phút đang thở yếu ớt—
Và khi, giữa không trung có tiếng rên rỉ,
Xuống trần gian, xuống thị trấn đó sẽ lắng xuống
Từ đây, địa ngục, trỗi dậy từ hàng ngàn ngai vàng,
Sẽ đời đời tôn kính nó.

The City in the Sea

Edgar Allan Poe
[1809 – 1849]

Lo! Death has reared himself a throne
In a strange city lying alone
Far down within the dim West,
Where the good and the bad and the worst and the best
Have gone to their eternal rest.
There shrines and palaces and towers
(Time-eaten towers and tremble not!)
Resemble nothing that is ours.
Around, by lifting winds forgot,
Resignedly beneath the sky
The melancholy waters lie.

No rays from the holy Heaven come down
On the long night-time of that town;
But light from out the lurid sea
Streams up the turrets silently—
Gleams up the pinnacles far and free—
Up domes—up spires—up kingly halls—
Up fanes—up Babylon-like walls—
Up shadowy long-forgotten bowers
Of sculptured ivy and stone flowers—
Up many and many a marvellous shrine
Whose wreathed friezes intertwine
The viol, the violet, and the vine.
Resignedly beneath the sky
The melancholy waters lie.
So blend the turrets and shadows there
That all seem pendulous in air,
While from a proud tower in the town
Death looks gigantically down.

There open fanes and gaping graves
Yawn level with the luminous waves;
But not the riches there that lie
In each idol’s diamond eye—
Not the gaily-jewelled dead
Tempt the waters from their bed;
For no ripples curl, alas!
Along that wilderness of glass—
No swellings tell that winds may be
Upon some far-off happier sea—
No heavings hint that winds have been
On seas less hideously serene.

But lo, a stir is in the air!
The wave—there is a movement there!
As if the towers had thrust aside,
In slightly sinking, the dull tide—
As if their tops had feebly given
A void within the filmy Heaven.
The waves have now a redder glow—
The hours are breathing faint and low—
And when, amid no earthly moans,
Down, down that town shall settle hence,
Hell, rising from a thousand thrones,
Shall do it reverence.


Edgar Allan Poe [1809-1849] là một nhà văn, nhà thơ, biên tập viên và nhà phê bình văn học người Mỹ, nổi tiếng nhất với thơ và truyện ngắn, đặc biệt là những câu chuyện bí ẩn và rùng rợn.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

[50 năm – thuyền nhân] | Nguyễn Thị Phương Trâm

THE TRAN

Not mine, but my husband, my brother in law and our children’s story.

Today marks Tàu Trường Xuân 50 years settlement in Australia.

Boat people.

There is no such thing as reconciliation between those who are boat people and those who are not.

Pain is not something you can reconcile like dollar and scent in your tax return. As though history could ever be remedied! WTF!

Reconciliation? Remedy? Toàn là chuyện tào lao!

It is what it is. Accept each other’s pain. Reconcile nothing. Feel it, feel the bloody blood stained battle fields. Acknowledge the fallen, inhale the smell of their rotting flesh, count their bones!

There is no remedy for war and its aftermath. We look ahead, we keep walking, we take our war to our grave.

The ignorance of reconciliation is not only condescending but an insult to the pain my parents, my siblings, my children had to shoulder for the last 50 years.

I am not asking for your pity, nor do I ask you to help me. I am perfectly capable of rebuilding my life – I am rising from the ashes each morning I open my eyes.

Doctors, lawyers, engineers, bricklayers, factory workers, we pave the roads for our children’s future.

Boat people.

Fuck your reconciliation!

June 20, 2025

[50 năm – thuyền nhân] [50 years – the boat people]

Allen Nguyễn Trần
Lâm Nguyễn Trần

[NHẬT KÝ ĐỜI TỴ NẠN]
– ba tôi, ông Nguyễn Xuân Thiêm viết

Hành Trình Tìm Tự Do  

Sài Gòn sụp đổ ngày 30 Tháng 4 Năm 1975  

Sau lệnh đầu hàng của Đại tướng Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh Sài Gòn  Người dân miền nam bắt đầu sống trong lo sợ…vì đã hoàn toàn rơi vào tay cộng sản Bắc việt! 

1. Ngày 26/06/1975: theo lệnh của ủy ban quân quản Sài Gòn tôi đi trình diện cải tạo 10 ngày vì  là sĩ quan cấp úy của chế độ VietNam Cộng Hoà kèm lời khuyên là mang lương thực cho đủ 10 ngày! Nhưng đã bị cộng sản đánh lừa! 

2. Từ ngày 26/06/1975 tới 21/03/1979: tôi phải đi vào trại tập trung cải tạo nhưng thực chất là  nhà tù khổ sai! bị đe dọa tinh thần luôn sống trong khủng bố bất chấp đúng sai phải tự khai là  mình đã có tội với nhân dân và quân đội cộng sản Bắc việt để tẩy não …về thể xác phải đi lao  

động; khổ hình; vất vả hàng ngày, ăn uống kham khổ, nhịn đói, đau bịnh phải khắc phục không có  thuốc điều trị…nhiều người đã chết trong trại cải tạo nếu còn sống thì về với thân tàn ma dại! 

Trong thời gian tôi bị ở tù thì người vợ trẻ ở nhà can đảm nuôi dạy 4 đứa con nhỏ, dưới áp lực  của công an phường phải học tập chính sách cộng sản mỗi tối, đối phó với cưỡng bức lao động  trong tổ hợp, bị đánh tư sản mại bản và áp lực đi vùng kinh tế mới…. 

3. Từ ngày 21/03/1979: được tạm tha về với gia đình, tôi vẫn phải sống dưới sự quản thúc của  công an phường, không có quyền công dân và phải trình diện khai báo chi tiết mỗi ngày là đi đâu  và làm gì? Hình thức một nhà tù kiểm soát mọi hoạt động của người dân. 

4. Ngày 20/11/1980: tôi đã quyết định đưa gia đình gồm vợ tôi với 4 đứa con nhỏ (Phương Anh  12 Tuổi; Phương Trâm 10 tuổi; Xuân Tùng 8 tuổi và Phương Thảo 7 tuổi) đi vượt biên tìm tự do.  Tôi thiết nghĩ thà cả gia đình cùng chết trên biển còn hơn sống dưới chế độ cộng sản Vietnam,  

một chế độ độc tài Đảng trị, tham nhũng; bạo lực; xào trá và dã man; không tôn trọng nhân  quyền và luôn khủng bố người dân bằng công an trị…các con tôi sẽ không được tới trường học  theo nguyện vọng; chúng tôi sẽ không có chỗ để sinh sống trong xã hội cộng sản Việt Nam vì họ sếp gia đình chúng tôi là công dân hạng hai! trên chiếc thuyền gỗ nhỏ bé với kích thước thật  khiêm tốn: chiều ngang chỉ 2.5 mét; chiều dài 10.0 mét; không động cơ vì bị hư ngay từ đầu  ngang qua đảo Phú quốc mà chỉ nhờ gió thổi vào vịnh Thải Lan!!! trên thuyền với 40 người cùng  cảnh ngộ. Lênh đênh trên vịnh Thái Lan 3 ngày 4 đêm không thực phẩm, hạn chế nước uống  trong biển động, sóng bão và nỗi lo sợ hải tặc; tưởng như chết trên biển cả ….đến ngày  24/11/1980 thuyền chúng tôi may mắn được một thuyền đánh cá Thái Lan cứu vớt, tôi vẫn còn  ghi nhớ ơn tên người chú thuyền là Chusan. Vì vào thời điểm này cứ 10 thuyền tỵ vượt biển thì  đã tới 8 thuyền bị hải tặc cướp của và hãm hiếp phụ nữ. 

5. Ngày 24/11/1980-19/12/1980: chúng tôi ở trại tạm cư chuyển tiếp chonburi/Thailand. 

6. Ngày 19/12/1980-20/01/1981: chúng tôi nhập trại tỵ nạn Songkhla/Thailand 

7. Ngày 20/01/1980-05/03/1981: chúng tôi ở trại chuyển tiếp Panatnikhom/Bangkok/Thailand. 

8. Ngày 06/03/1981: gia đình tôi được chính phủ Úc chấp nhận cho định cư vĩnh viễn với tư cách  là những người tỵ nạn chính trị. 

9. Ngày 06/03/1981-15/10/1981: gia đình tôi được tạm trú tại East Hill Hostel. 

10. Ngày 15/03/1981-15/10/1981: tôi làm thợ mộc cho công ty Everest Worthington. 

11. Ngày 02/04/1984: gia đình tôi được tuyên thệ vào quốc tịch Úc Đại Lợi. 

12. 1981-1985: gia đình tôi cư ngụ tại vùng Baulkham Hills/Sydney  

13. 1982-1998: vợ tôi là nhân viên của bưu điện Úc.

14. Ngày 19/10/1981-03/11/2017: trong suốt hơn 36 năm làm việc tại Úc tôi đã phục vụ qua  nhiều công ty khác nhau tên là: FFE(Fire Fighting Enterprises); Quell Fire Safety; James Hardie;  Chubb Fire&Security; William; UTC(Unites Technologies Cooperations) vời nhiều nhiệm vụ từ factory process worker; supervisor; production manager; NSW. Workshop and Sydney Portable  Services Manager. 

15. 1985-tới nay (2025)…định cư tại Vùng Lidcombe NSW. Sydney 

Journey to Freedom 

Saigon fell on April 30, 1975 

After General Duong Van Minh’s surrender order was  read on Saigon radio 

The people of the South began to live in fear…because  they had completely fallen into the hands of the North  Vietnamese communists! 

1. June 26, 1975: Following the order of the Saigon  military committee, I went to a 10-day reeducation  camp because I was a lieutenant of the Republic of  Vietnam regime, with the advice to bring enough food  for 10 days! But I was deceived by the communists! 

2. From June 26, 1975 to March 21, 1979: I had to go  to a reeducation camp but in reality it was a forced  labor prison! I was mentally threatened and always  lived in terror regardless of right or wrong, had to  confess that I had committed crimes against the  people and the North Vietnamese communist army to brainwash… physically forced to do labor; torture; hard  work every day, poor food, hunger, illness that had to  be overcome without medicine… Many people died in  the re-education camp. If they survived, they returned  with a crippled body and a crazy spirit! 

During my time in prison, my young wife courageously  raised 4 children at home, under pressure from the  ward police to study communist policies every night, to  deal with forced labor in the complex, to be beaten as a comprador bourgeois and pressured to go to the new  economic zone… 

3. From March 21, 1979: I was temporarily released to  return to my family, I still had to live under the  supervision of the ward police, had no civil rights and  had to report in detail every day where I went and what  I did? The form of a prison controlled all activities of  the people. 

4. November 20, 1980: I decided to take my family,  including my wife and 4 small children (Phuong Anh,  12 years old; Phuong Tram, 10 years old; Xuan Tung,  8 years old and Phuong Thao, 7 years old) to cross the  border to seek freedom. I thought it would be better for  the whole family to die at sea than to live under the  Vietnamese communist regime, a dictatorial regime  ruled by the Party, corrupt, violent, deceitful and  barbaric; not respecting human rights and always  terrorizing people with police state… my children would  not be able to go to school as they wished; we would  not have a place to live in the Vietnamese communist  society because they considered our family as second class citizens! on a small wooden boat with very  modest dimensions: width only 2.5 meters; length 10.0  meters; no engine because it was broken from the  beginning, passing Phu Quoc island, only relying on  the wind to blow into Thai Lan bay!!! on a boat with 40  people in the same situation. Drifting on the Gulf of  Thailand for 3 days and 4 nights without food, limited  drinking water in rough seas, stormy waves and fear of  pirates; thought we would die at sea… until November  24, 1975, our boat was fortunately rescued by a Thai fishing boat, I still remember the boat owner ‘s name  Chusan. Because at that time, out of 10 refugee boats  crossing the sea, 8 were robbed by pirates and women  ere raped. 

5. November 24, 1980 – December 19, 1980: We were  at the Chonburi/Thailand transit camp. 

6. 19/12/1980-20/01/1981: We entered the Songkhla  refugee camp/Thailand 

7. 20/01/1980-05/03/1981: We stayed at the  Panatnikom transit camp/Bangkok/Thailand. 

8. 06/03/1981: My family was accepted by the  Australian government for permanent settlement as  political refugees. 

9. 06/03/1981-15/10/1981: My family was temporarily  housed at the East Hill Hostel. 

10. 15/03/1981-15/10/1981: I worked as a carpenter  for the Everest Worthington company. 

11. 02/04/1984: My family was sworn into Australian  citizenship. 

12. 1981-1985: My family lived in Baulkham Hills/ Sydney 

13. 1982-1998: My wife was an employee of the  Australian Post Office as a mail officer.

14. 19/10/1981-03/11/2017: During  more than 36 years working in Australia,  I have served through many different  companies named: FFE(Fire Fighting  Enterprises); Quell Fire Safety; James  Hardie; Chubb Fire & Security; William;  UTC(United Technologies Corporations)  with many tasks from factory process  worker; supervisor; production manager;  NSW. Workshop and Sydney Portable  Services Manager. 

15. 1985-present (2025)… settled in  Lidcombe NSW. Sydney

Thông, Anh, Trâm, Tùng, Thảo, Nghĩa, Thiêm và Thiện

Tôi kiểu, như bị thất tình, cái tuổi xồn xồn hay sồn sồn bồn xồn người đàn bà tiền mãn kinh.

Tôi chần chừ muốn nghỉ rồi chơi lại mạng xã hội. Nhưng chính nó đã là một giảng trường đời.

Học không hết chữ. Thời 4.0, bạn không cần phải vào giáo trường, bạn có thể ngồi ở nhà xem những thuyết trình của những giảng đường đại học như Cambridge và Harvard.

Bằng cấp chỉ là những tờ giấy trắng dành riêng cho những người có điều kiện.

Bây giờ tôi sẽ sống hàng ngày với hai cụm từ mỗi ngày dưới đây sẽ là quá đủ:

1) It is what it is – từ tác phẩm thơ con cóc của anh Nguyễn Hưng Quốc

2) tới đó tính tiếp – từ những buổi sáng của anh Vũ Hồ Như

Chúc vui.

ultra-minor aiming to be major – Mai Ver Dang (H’Mong-American poet) – surrealness cuts through to the truth

poets function as conscience – viet thanh nguyen

On the Joy of Otherness

death and realism – ken chen

can realism help migrants and border crossers refugee exiled displaced comes to term with home sickness reluctant time travelers an infinite homecoming timeline

[50 năm – thuyền nhân]

If I am inclined to see the journeys of my parents as heroic, the writer Amitava Kumar pushes back against the praise for those who cross borders: the immigrants, the refugees, the undocumented, the expatriates, the tourists, the settlers, the conquerors. He writes that “It is not the immigrant but the ones who stay behind who are the true unvanquished.” Viet Thanh Nguyen

“Being asian-american is not the only dimension of myself, just one aspect, born from defending myself or others like me or who are seen as being like me, but my asianamericaness matters less than my ethics politics and art, together they constitute a stubborn otherness that resists the lure of a domesticated otherness siated by belonging” Viet Thanh Nguyen

Crossing many borders. The refugee is exiled. Death away from home. “The continent of death has no borders”.

asian expansive solidarity (japanese-chinese-vietnamese-filipino) – self-defense – victims of our own success – a moment of clarity against exclusion and move on from inclusion.

identity build on violence and white invasion colonialism

beyond labels – boat people being only one label of global inclusion

the utopian society of the earth being a global village where we solve our dispute in a football game(olympic games?)

Đang xem vidiô nghe tiếng còi bom báo động, tôi nhớ đến cái cảnh bò xuống dưới gầm giường đầy mùi khai khai để núp. Ký ức tuổi thơ dồn dập bất ngờ làm tôi bật ra khóc nức nở không ngưng.

Tôi cứ nghĩ bao nhiêu năm tôi đã tự chữa bệnh PTSD bằng thơ ca, là mình đã khỏi bệnh. Mình đã thả nó hẳn vào quá khứ.

Tôi hơi bực vì sự thất bại của mình.

Tôi nhìn cái mặt điện thoại thông minh của mình, nước mắt nó cứ trào ra thì qua những dòng nước tôi bắt gặp mấy câu thơ của Y Thiện làm tôi bật ra cười.

Rồi tôi lại nghĩ – ồ ồ, tiếng việt của mình giỏi hơn hồi xưa nhỉ?

Tôi thấy mình đáng yêu ghê. Hồi xưa tôi đọc những gì Y đã chia sẻ đã không hiểu gì luôn. Vừa không hiểu vừa xấu hổ là mình đã bị mất gốc.

8 năm trôi đi như bèo bọt trôi qua cuộc đời tôi.

Tôi hôm nay vừa cười vừa khóc thì ăn mười cục gì nhỉ?

Trong tôi vẫn là xương máu rồng tiên.

Thì sẽ okê nha.

The sound of bomb sirens from a documentary broke me, it triggered a break down I thought I had fixed. The bombings of the Port of Hai Phong, where my eleven year old English student now lives. The lives of villagers who died during the carpet bombing. The people who were massacred in their homes in Hue during the Tet Offensive the year my sister was born. It broke me. I don’t know the words to console such pain.

Good morning, sáng nay có hẹn với chồng nha.

30/4 là 30/4.

It is the two faces of the same coin.

Những cái label ngoài những con số đó chỉ là thừa.

Tôi không cười thì tôi khóc. Có anh chồng lau nước mắt hay cùng cười với cũng vui.

It is what it is.

Thank you to mother and father to whom I would not be here today.

To my community of boat people, thank you for just being. We may never completely heal, completely let go. But at least we will have each other.

Survive.

Our survival our legacy.

My kindest of regards,

Nguyễn Thị Phương Trâm

A Man of Two Faces by VIET THANH NGUYEN

Dịch thơ Mai Thảo tôi thấy mình đã trải qua trọn vẹn 7 giai đoạn tang thương buồn thảm – GRIEF:

Sốc.
Phủ nhận.
Giận dữ.
Thương lượng.
Trầm cảm.
Chấp nhận và hy vọng.
Xử lý nỗi đau.

Mai Thảo tìm sự hỗ trợ của anh Johnie Đỏ là một chuyện hiển nhiên.

Thuyền nhân là một giọt nước mắt giữa đại dương…

Sự bỏ rơi và sự chia ly, có khác nhau lắm không?

Như sự hận thù và tình yêu, có ai phân biệt những cảm xúc sâu đắm mù quáng của nó nổi không?

Màu vàng chạng vạng của sự bình minh và hoàng hôn chúng khác nhau ở điểm nào?

Sự bỏ rơi bắt đầu từ ngày tôi đã bỏ rơi đất nước tôi, hay đất nước tôi đã bỏ rơi tôi? Một đời người đã trôi qua, nhưng vết thương vẫn còn mới?

– Anh đã bỏ rơi em hay em đã bỏ rơi anh?

– Em cứ lo an ủi những người khác nhưng người em cần an ủi là em.

Nếu chúng ta là người dưng. Chuyện của chúng ta không còn là một cuộc chia ly nữa.

Nó chỉ là một chặng đường. Những cuộc đối thoại, những va chạm. Để chúng ta thấy da thịt của chúng ta vẫn còn đau vẫn còn biết sướng.

Một chặng đường hoang vu dã man “thiên nhiên hoàn toàn lãnh cảm”[1]

Tôi ác tôi nhẫn tâm là một sự chấp nhận sống trong bóng tối mong ngày ánh sáng.

[1] thơ Nguyễn Hưng Quốc: 
Đừng hiểu lầm: Thiên nhiên hoàn toàn lãnh cảm
Nó không có
Ký ức

Tôi không hiểu tại sao quê hương của tôi cứ phải là một người đàn bà đẹp, cứ phải mãi là một con điếm?

Nếu quê hương của tôi là một người đàn ông, một người đàn ông thật xinh, có nhiều vợ. Thì lịch sử của đất nước mẹ đẻ của tôi sẽ được đẹp hơn không?

[50 năm – thuyền nhân]

Sáng sớm trước khi hành trình đi tìm cánh đồng bồng bềnh giữa biển khơi, tôi đi qua thăm ông bà ngoại của hai người lớn của họ nhà Trần.

Ông bà nôn nao lo tình trạng tinh thần của cô con gái thi dịch sĩ của họ. Tôi qua thăm và để kể cho hai ngài nghe về bệnh mất trí đến những người bạn của tôi.

Những người bạn của tôi không chỉ cho tôi nơi trú chân mà đã dành riêng thời gian cho tôi hồi phục lại sức khỏe và tinh thần.

Những bữa cơm và những ly rượu hữu tình mà tôi sẽ không bao giờ quên và muốn ghi lại ở đây cùng với những lời tri ân của mình. Thật ra họ cũng đã biết họ là ai, tôi không muốn điểm danh họ hết ở đây.

Dù rằng tôi bạc cả đầu, tính tôi vẫn vô tư. Hôm nay tự nhiên trong một hơi thở ba má tôi nhắc đến Lý Đợi và Bùi Chát. Ồ ba má biết hai cậu đó à? Thì ba má hồi xưa hay đọc thơ văn của hai người đó.

Nhắc đến hai người bạn của anh Tài làm tôi hơi xấu hổ. Tôi xưng tội luôn: khổ ghê, con không hiểu anh Lê Vĩnh Tài lại uống yếu hơn con như vậy, anh say quá Chi phải đưa anh về trước để con lại với Lý Đợi và Bùi Chát. Con thấy hơi tội nghiệp hai ông em, con say, con không chịu đi taxi về, con nhất định phải đi bộ cho bằng được hết 2 cây số về khách sạn. Trên đường về khách sạn thì chắc chắn là con đã lải nhải cái gì á con không nhớ, nhưng con chỉ nhớ là con lải nhải rất nhiều.

Khổ ghê. Tính nói nhiều của tôi khi trúng đài.

Nên nè hai anh bạn nhỏ Ly DoiBui Quang Vien , dù say không phải ai tôi cũng nói, hôm nay tôi xin hai bạn bỏ qua cho tôi. Hôm đó tôi đã quá làm phiền hai bạn – đi gì cả một chặng đường dài. Vừa đưa tôi đi lại còn phải nghe tôi đổ rác chảy cả máu tai, tôi thấy mình thật là có lỗi. Hôm nay tôi mới có đủ can đảm để nhớ lại và thật tình xin lỗi, và cám ơn thật nhiều hai người đã cứu tôi.

Again thank you, I owe both of you one. And I always pay my debt.

SS Ayrfield, Sydney Olympic Park. Nguyễn Thị Phương Trâm chụp

Nhà văn nhà thơ nhà báo nhà viết lách họ khác với người thường của mình nha. Mình đọc những tác phẩm của họ, mình nghe thấy có cả một cánh rừng trôi nổi giữa biển khơi, nên mình đi kiếm cho bằng được.

Mà cánh rừng khi mắt mình tận thấy nó làm sao nhỉ. Cánh rừng của nó lưa thưa nhỏ xíu chưa đủ lông lá để che cho chị E Và ngày nàng bị đuổi ra địa đàng vì cái tội dụ dỗ anh khờ A Đam ăn trái táo cấm.

Nhưng mình vẫn thấy sướng dù rằng chân tay mình rã rời mồ hôi ướt át đỏ cả mặt như mấy anh say rượu cuối tuần không muốn đi về nghe vợ(chồng) giảng.

– tại sao anh cần phải uống nhiều như vậy.

À, hình như mình bị lạc đề rồi. Mình không phải là nhà văn.

Mình xin lỗi nha.

SS Ayrfield, Sydney Olympic Park. Nguyễn Thị Phương Trâm chụp
Nguyễn Thị Phương Trâm & Son in Boun Ma Thuot

Con trai dỗ dành mẹ hơn mấy tuần lễ.

Mẹ bị mất trí(Transient Global Amnesia) hết 24 tiếng, mẹ nhõng nhẽo, con ngồi kiên trì lau từng dòng nước mắt cho mẹ.

Mẹ thích cà phê, con đã gọi cho mẹ hai ly cà phê hạt vừa rang vừa mới xay ra thơm phức, ngon nhất Sài Gòn.

Mẹ bị ám ảnh uống cocktail dở, con rủ mẹ đến góc phố pha cho mẹ ly cocktail ngon hơn tưởng tượng để chữa lành.

Bạn của mẹ cho mẹ leo cây, con chạy đến uống phụ mẹ hết chai rượu lạ rồi đưa mẹ về phòng.

Con trai và một người mẹ hạnh phúc.

“I don’t speak Vietnamese, I did when I was very young. Until I was 3 years old. You can’t push all the blame on, uhm, I don’t even want to use the word blame. Because it has a negative connotation if you know what I mean. My parents want the best for me in a land that is foreign to them”

Keshi

Không dịch thơ. Không làm dược sĩ nữa.

Không biết mai mốt mình sẽ làm cái gì? Thơ của mình thì chán chết. Viết thì khó.

Chó cũng không có. Sức khỏe thì như trâu, ngồi đợi chết cũng không được.

Không lẽ cứ kiếm chuyện với Trump mãi.

Đừng cãi nữa. Làm thơ là hay nhất.

Văn Chương như “một cuộc diễu hành” của Nguyễn Hưng Quốc, là the collective memory của một cộng đồng vượt biên giới. Mỏng manh như tháng tư?

Tiền như rác như vị trí của bạn trong xã hội. Bạn là hai bàn tay trắng trong nước của người ta.

Ở ngoài khơi bạn bay như con cá chim với con thuyền tỵ nạn. Chết sống là những đứa con gái mà những người ân nhân của bạn đã bắt cóc đem về làm điếm là còn may.

Thống nhất là sự hy sinh của ba má tôi.

Nên tôi xin bạn đừng có hoang phí quá với những con chữ của bạn. Đừng để tôi pity sự hời hợt của bạn.

Sự múa máy của hai ngón tay phải của bạn đang chỉ vào mặt tôi hay đang tự sướng? Cái đỉnh của sự nhục nhã tủi nhục đen như bóng tối trong hộp sọ của bạn.

Rơi hoài rơi mãi là mưa của tháng tư, khi tôi nằm xuống thành bữa cơm cho loài giòi thơm phức mùi vĩ đại một mùi thúi của một số phận vất đi.

Nguyễn Thị Phương Trâm
Nguyễn Thị Phương Trâm
Nguyễn Thị Phương Trâm

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Will you meet me at dawn to then abandon me at dusk | Nguyễn Thị Phương Trâm

Nguyễn Thị Phương Trâm @Six Sense Con Dao May 2018

a poem by Nguyễn Thị Phương Trâm

De Glorious Delight Ghanian Cuisine, Black town. Australia.

Tối hôm qua, lần đầu tiên tình cờ ta được ăn ẩm thực từ Ghani với con trai. Nhìn miếng cá thu chiên thì lại nhớ đến bữa cơm mẹ ta nấu sau 75, chỉ thiếu xốt cà xào với hành tỏi.

Nhớ tám năm dịch thơ của bạn.

Con trai nhìn mẹ – chuyện đó đã xong. Người đốt cháy con cầu đó không phải là mẹ. Mẹ hiểu. Nhưng mẹ vẫn buồn.

Đón con tàu điện về sau bữa ăn tôi ngộ ra, chữ như điện ta có nó nhờ nắng, không có nắng ta hỏi gió, không có gió ta xin mưa từ mây ta sẽ có sóng.

Hiểu.

Nhưng ta vẫn buồn.

“will you come home so I may have something to look forward to
the excitement and joy of warm human flesh”*

will you meet me at dawn
to then abandon me at dusk

the warm rain is still fresh on my brow
grey numbness echoes still through the clouds

you promised me nothing
and I expected naught
the frivolity of the moment lost
weigh heavy
on my ring finger

no nearer
but further
the distance between us

the moment
I wanted to kiss your hands

*THƠ LÊ VĨNH TÀI

translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

“em có về không để tôi còn đón đợi
còn hân hoan còn mong ngóng hơi người…”

lúc bình minh anh có gặp em không
để rồi bỏ rơi em lúc hoàng hôn chạng vạng

cơn mưa ấm vỡ ra trên lông mày
âm vang tê buốt màu xám vọng qua đám mây


anh chẳng hứa gì với em cả
và em đã không mong đợi điều gì
sự nông nổi của khoảnh khắc đã mất
nặng nề trên ngón tay em
ngón tay đeo nhẫn của em


không gần hơn đâu
khoảng cách ngày càng xa hơn giữa hai chúng ta

khoảnh khắc
em muốn hôn tay anh

nhà thơ là cái công cụ làm thơ
thơ là cái công cụ cho tôi học tiếng việt
vậy tôi là cái công cụ dịch thơ

dịch giả là cái title sao nhỉ
đáng cười
hều

block = động từ hay

Reading to me is rather simple, it depends on my mood:

If I wanted to face my childhood trauma,
I read Phan Nhiên Hạo’s Radio mùa hè.

If I wanted to be turned on,
I read Đoàn Duy’s translations in Early Modern English.

If I wanted a quickie,
I read Nguyễn Hưng Quốc’s 909 tercets.

If I’m feeling amorous still and wanted foreplay,
I read an epic poem by Lê Vĩnh Tài.

It’s that simple
And these are mere examples of poets who are still alive.

All you need to do to survive each day is to keep everything as simple as you like it.
———-
Photo: Six Sense Con Dao May 2018

các anh ngồi xổm
chép kiều
đếm được bao nhiêu
các anh thạc sĩ biết nhiều

anh nào cũng thích
dịch – dịch –
dịch nàng

còn ta là ai, cái con mất gốc
ngày nào cũng tốc
mấy cái cốc
rượu

chúng làm ta ngốc
bốc gì bốc mãi mấy con chữ
người thiếu nữ
“hơi” dữ
đã quá

sao nhỉ?
già.

:))

Tôi luôn ngạc nhiên về điều, nhiều người muốn gặp tôi khi tôi về quê chơi, và tôi cũng đã bị họ vì lí do gì đó cho tôi leo cây đã ba lần.

Những cảm xúc bị bỏ rơi vừa dã man vừa lãng mạn, hình như, làm tôi rất thèm chúng?

Vì vậy, nếu bạn hẹn tôi, tôi vẫn đến, thậm chí, tôi sẽ đến trước cả tiếng đồng hồ để đợi bạn.

Vì về quê, tôi chỉ muốn gặp tôi.

Nguyễn Thị Phương Trâm

[50 năm – thuyền nhân]


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Bia Mộ | Merrit Malloy

Rain in the Old Quarter, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem by Merrit Malloy
Translation into Vietnamese by Nguyễn Thị Phương Trâm

khi tôi không còn nữa
những dấu vết còn lại
là tôi hãy mang nó
cho những hài nhi những
người đàn ông cuối đời
đang đợi ngày về đất.

và nếu bạn cần khóc
hãy khóc cho anh em
bạn đang đi ngay cạnh
và khi cần tôi hãy
ôm vai người kế bên
hãy trao cho họ những
gì bạn muốn gửi tôi.

tôi muốn để lại cho
bạn gì đó hơn những
âm thanh hay là chữ.

hãy tìm kiếm tôi trong
những người tôi đã biết
đã yêu và đã nhớ
và nếu bạy không có
thể buông tôi ra hay
cho tôi đi thì hãy
cho tôi xin sống lại
trong cặp mắt bạn không
trong hộp xọ bạn nhé.

bạn yêu tôi nhiều nhất
khi bạn để bàn tay
mình nghe da thịt bạn
mong muốn da thịt khác
và cho những đứa trẻ
sự tự do của chúng.

tình yêu luôn còn mãi
dù tôi không còn nữa
nên khi còn lại chỉ
là tình yêu của tôi
thì xin bạn hãy mang
tôi, hãy cho tôi đi.

When I die
Give what’s left of me away
To children
And old men that wait to die.

And if you need to cry,
Cry for your brother
Walking the street beside you.
And when you need me,
Put your arms
Around anyone
And give them
What you need to give to me.

I want to leave you something,
Something better
Than words
Or sounds.

Look for me
In the people I’ve known
Or loved,
And if you cannot give me away,
At least let me live on in your eyes
And not your mind.

You can love me most
By letting
Hands touch hands,
By letting bodies touch bodies,
And by letting go
Of children
That need to be free.

Love doesn’t die,
People do.
So, when all that’s left of me
Is love,
Give me away.


Merrit Malloy sinh ngày 18 tháng 9 năm 1950 tại Pennsylvania, Hoa Kỳ. Cô là nhà sản xuất và biên kịch, được biết đến với Carrie (1976), Valentine (1979) và Forever (1978). Trước đây cô đã kết hôn với Paul Monash.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.