Sydney winter 2025, it snowed in Queensland, and the last time it snowed in Queensland was in 1975, 50 years ago. Nguyễn Thị Phương Trâm
aesthetic and social norm you must conform
slim down – you’re too fat!
dye your hair – you’re too grey!
shut up – you’re a woman!
you like sex? – you’re a whore!
CONFORM TO SOCIAL NORM
I am fat I am grey I speak up I love sex
THE ART OF LIVING
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
Sông Hương, Huế, Việt Nam Winter 2025. Photography Nguyễn Thị Phương Trâm
A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Since the day she had left for the sea, I have lived on a mountain, all roads lead to one gate, it is always locked with a sign at the top: “My life.”
Each morning, I find myself in front a mirror that no longer has a reflection of me. In the mirror I see her flying away into the horizon. I would lift my finger to touch the thick film of dust on the mirror. People say: it’s not her at all, it was my memory trapped inside the shards of glass.
I did try to find “My life” else where, not in the mirror. Say the identification papers, citizenship, electric or water bill… but “My life” no matter where it might be have been separated into a series of numbers, a mindless data. I met the man who separates these series of numbers as a profession, he has a scanty black beard, he said:
– You told her your life was more important right? I nodded.
– Then you should live up to your word, forget the small stuff. From this day on, you should live up to the shadow of that life.
I asked:
– And her?
The man with the scanty beard smiled:
– She is your life. You were the one who had given it away.
I understood then that I didn’t have a choice. Convicted, I had no choice but to live my life without her. In the dark room, I heard her small voice:
– You are right, but the truth can not save you. I opened my eyes. There was no one there. When she left, I understood that my life had left with her, left behind was a body that breathes.
She left. I stayed. Both had taken with them “my life.”
CUỘC ĐỜI TÔI
Từ ngày nàng về biển, tôi sống trên một ngọn núi, mọi con đường đều dẫn về một cánh cổng khép kín, phía trên treo tấm bảng: “Cuộc đời tôi.”
Mỗi buổi sáng, tôi ngồi trước gương nhưng tấm gương không còn phản chiếu hình ảnh của tôi. Trong gương tôi thấy em đang bay về phía chân trời. Tôi đưa tay ra chỉ chạm được vào lớp bụi dày trên gương. Người ta bảo: đấy không phải hình ảnh của em, mà là ký ức của tôi bị chính tôi giam giữ trong những mảnh thủy tinh.
Tôi cũng thử đi tìm “Cuộc đời tôi” ở nơi khác, không phải ở trong gương. Ví như trong giấy chứng minh nhân dân, trong hóa đơn điện nước… nhưng “Cuộc đời tôi” dù ở bất kỳ đâu cũng đã bị người ta tách riêng ra thành một dãy các con số, một dữ liệu vô tri. Tôi gặp người đàn ông chuyên tách các dãy số, ông ta có hàm râu thưa màu đen, ông ta nói:
– Anh bảo với người con gái ấy rằng cuộc đời anh quan trọng hơn, đúng không? Tôi gật đầu.
– Vậy thì anh hãy sống đúng như lời mình nói đi, cứ quanh quẩn tìm kiếm cái không quan trọng làm gì. Từ nay trở đi, mỗi ngày anh sống là cái bóng của chính cuộc đời ấy.
Tôi hỏi:
– Thế còn cô ấy?
Người đàn ông râu thưa màu đen mỉm cười:
– Cô ấy chính là cuộc đời anh. Và anh đã tự tay giao nó đi mất rồi.
Tôi hiểu mình không còn quyền lựa chọn. Tôi bị kết án, bị buộc phải đi qua vô tận những ngày không còn em. Trong căn phòng tối, tôi nghe giọng em thì thầm:
– Anh nói đúng, nhưng đúng là sự thật không cứu được anh đâu. Tôi mở mắt. Không còn ai ở đó. Khi em rời đi, tôi nhận ra cuộc đời tôi đã đi cùng em, còn lại chỉ là xác thân biết thở.
Em bước đi. Tôi ở lại. Cả hai đều mang theo “cuộc đời tôi.”
Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
A poem in Vietnamese by Hoàng Xuân Sơn Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
The Jackfruit One can argue To one’s heart content It is the iconic symbol Of our nation
But at the heart of it Is a sulfureous centre The undoing of Its people
M Í T
[ an nam ]
Cạp Khới Nạy Tới hết xơ Lòi ra hột mít Bên tờ giấy xanh Thôi ta đi mua điềm lành Cãi cọ nhau chi đành hanh Sự đời
À Trong hột mít đầy hơi Hãy vén cho khéo kẻo Đời bung hương
)( s ử m ặ c Phọt Ru Lai [ tôi độc lập ăn theo ]
Hoàng Xuân Sơn
A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh…
Hometown: Vỹ Dạ, Huế.
Lý Thường Kiệt Primary
Bán Công High School and Quốc Học Huế High School
Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn.
Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.
After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.
The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề, Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn, Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ.
Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.
Published work:
Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)
Huế Buồn Chi (thơ,93)
Lục Bát (thơ, 2005)
Ref: vanchuongviet.org
–
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
A poem by Edgar Allan Poe Translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
nhiều năm đã trôi qua trong một vương quốc ven biển có một nàng mà không chừng bạn cũng biết tên nàng là anna
nàng không muốn nghĩ gì ngoài việc yêu tôi và chờ được tôi yêu tôi là đứa trẻ và nàng là em bé
trong vương quốc ven biển này chúng tôi yêu nhau bằng một tình yêu còn hơn cả tình yêu
tôi và anna của tôi yêu đến mức các thiên thần thèm muốn được yêu
và đó là lý do tại sao, từ lâu lắm rồi trong vương quốc này có một cơn gió cứ thổi ra từ đám mây, làm lạnh anna của tôi
vì thế bạn bè người thân của nàng mang nàng cách xa tôi nhốt nàng vào một ngôi mộ trong vương quốc
các thiên thần không thể hạnh phúc như lúc ở Thiên đường nên ghen tị với tôi đó là lý do (mà ai cũng biết, trong vương quốc bên bờ biển này) vì sao cơn gió cứ thổi ra từ đám mây lạnh giá đã làm chết anna của tôi
tình yêu của chúng tôi còn ấm áp hơn tình yêu của những tay già cả những thiên thần trên cao hay những con quỷ dưới biển không bao giờ có thể tách rời linh hồn tôi khỏi linh hồn anna
vì mặt trăng không bao giờ tỏa sáng mà không mang đến cho tôi những giấc mơ những vì sao không bao giờ mọc vì tôi đã cảm thấy đôi mắt lấp lánh của nàng
cả đêm, tôi nằm bên người yêu dấu của tôi – cô dâu mới của tôi trong ngôi mộ của nàng bên bờ biển nàng và tôi trong ngôi mộ rì rào.
Edgar Allan Poe [1809-1849] là một nhà văn, nhà thơ, biên tập viên và nhà phê bình văn học người Mỹ, nổi tiếng nhất với thơ và truyện ngắn, đặc biệt là những câu chuyện bí ẩn và rùng rợn.
Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.
A poem by Edgar Allan Poe Translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Kìa! Cái chết đã ngóc đầu dậy, dựng lên ngai vàng Trong một thành phố xa lạ đơn độc Trong miền Tây u ám, Nơi những người tốt nhất và xấu nhất Đã đến nơi an nghỉ vĩnh hằng.
Có những đền thờ, cung điện (Và những tòa tháp bị thời gian ăn mòn Đừng run sợ!) Chúng không thuộc về chúng ta.
Xung quanh, chúng ta nâng gió lên cao và quên lãng, Nằm im dưới bầu trời Những dòng nước u sầu.
Không có tia sáng nào từ Thiên đường chiếu xuống Vào đêm dài của thị trấn; Nhưng ánh sáng từ biển cả u ám Tràn lên những tháp pháo lặng lẽ— Tỏa sáng lên những đỉnh cao và tự do— Lên mái vòm—lên những ngọn tháp—lên những cung điện của ông vua— Lên những bức tường giống như thành Babylon— Lên những khu vườn tối tăm đã bị lãng quên Từ lâu dây thường xuân đã hoá thành phù điêu và những bông hoa đã hoá đá— Lên rất nhiều ngôi đền Kỳ diệu những bức phù điêu có vòng hoa Đan xen đàn vĩ cầm, hoa violet và dàn nho. Cam chịu dưới bầu trời Những dòng nước u sầu nằm đó.
Hãy hòa trộn những tháp pháo và bóng tối Ở đó tất cả dường như lơ lửng Trong không khí, một tòa tháp kiêu hãnh Cái chết nhìn thật khổng lồ.
Những cánh quạt mở ra và những ngôi mộ Há hốc miệng ngáp như những con sóng; Nhưng sự giàu có không nằm ở đó Trong đôi mắt = kim cương của mỗi tượng thần— Không phải những người chết đeo đầy đồ trang sức Cám dỗ những dòng suối chảy ra khỏi giường; Vì không có gợn sóng nào cuộn tròn, than ôi! Dọc theo vùng hoang vu của thủy tinh đó— Trên một vùng biển xa xôi— Không có sự nhấp nhô nào cho thấy gió đã từng Dập dồn trên những vùng biển ít thanh bình.
Nhưng kìa, một sự khuấy động đang diễn ra Trong không khí! Sóng—có một chuyển động ở đó! Như thể các tòa tháp đã bị đẩy sang một bên, Trong sự chìm xuống nhẹ nhàng, thủy triều buồn tẻ— Như thể đỉnh của chúng yếu ớt tạo ra Một khoảng trống trong bầu trời mỏng manh.
Sóng giờ đây có ánh sáng đỏ hơn— Những giờ phút đang thở yếu ớt— Và khi, giữa không trung có tiếng rên rỉ, Xuống trần gian, xuống thị trấn đó sẽ lắng xuống Từ đây, địa ngục, trỗi dậy từ hàng ngàn ngai vàng, Sẽ đời đời tôn kính nó.
The City in the Sea
Edgar Allan Poe [1809 – 1849]
Lo! Death has reared himself a throne In a strange city lying alone Far down within the dim West, Where the good and the bad and the worst and the best Have gone to their eternal rest. There shrines and palaces and towers (Time-eaten towers and tremble not!) Resemble nothing that is ours. Around, by lifting winds forgot, Resignedly beneath the sky The melancholy waters lie.
No rays from the holy Heaven come down On the long night-time of that town; But light from out the lurid sea Streams up the turrets silently— Gleams up the pinnacles far and free— Up domes—up spires—up kingly halls— Up fanes—up Babylon-like walls— Up shadowy long-forgotten bowers Of sculptured ivy and stone flowers— Up many and many a marvellous shrine Whose wreathed friezes intertwine The viol, the violet, and the vine. Resignedly beneath the sky The melancholy waters lie. So blend the turrets and shadows there That all seem pendulous in air, While from a proud tower in the town Death looks gigantically down.
There open fanes and gaping graves Yawn level with the luminous waves; But not the riches there that lie In each idol’s diamond eye— Not the gaily-jewelled dead Tempt the waters from their bed; For no ripples curl, alas! Along that wilderness of glass— No swellings tell that winds may be Upon some far-off happier sea— No heavings hint that winds have been On seas less hideously serene.
But lo, a stir is in the air! The wave—there is a movement there! As if the towers had thrust aside, In slightly sinking, the dull tide— As if their tops had feebly given A void within the filmy Heaven. The waves have now a redder glow— The hours are breathing faint and low— And when, amid no earthly moans, Down, down that town shall settle hence, Hell, rising from a thousand thrones, Shall do it reverence.
Edgar Allan Poe [1809-1849] là một nhà văn, nhà thơ, biên tập viên và nhà phê bình văn học người Mỹ, nổi tiếng nhất với thơ và truyện ngắn, đặc biệt là những câu chuyện bí ẩn và rùng rợn.
Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.
Not mine, but my husband, my brother in law and our children’s story.
Today marks Tàu Trường Xuân 50 years settlement in Australia.
Boat people.
There is no such thing as reconciliation between those who are boat people and those who are not.
Pain is not something you can reconcile like dollar and scent in your tax return. As though history could ever be remedied! WTF!
Reconciliation? Remedy? Toàn là chuyện tào lao!
It is what it is. Accept each other’s pain. Reconcile nothing. Feel it, feel the bloody blood stained battle fields. Acknowledge the fallen, inhale the smell of their rotting flesh, count their bones!
There is no remedy for war and its aftermath. We look ahead, we keep walking, we take our war to our grave.
The ignorance of reconciliation is not only condescending but an insult to the pain my parents, my siblings, my children had to shoulder for the last 50 years.
I am not asking for your pity, nor do I ask you to help me. I am perfectly capable of rebuilding my life – I am rising from the ashes each morning I open my eyes.
Doctors, lawyers, engineers, bricklayers, factory workers, we pave the roads for our children’s future.
Boat people.
Fuck your reconciliation!
June 20, 2025
[50 năm – thuyền nhân] [50 years – the boat people]
Allen Nguyễn Trần
Lâm Nguyễn Trần
[NHẬT KÝ ĐỜI TỴ NẠN] – ba tôi, ông Nguyễn Xuân Thiêm viết
Hành Trình Tìm Tự Do
Sài Gòn sụp đổ ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Sau lệnh đầu hàng của Đại tướng Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh Sài Gòn Người dân miền nam bắt đầu sống trong lo sợ…vì đã hoàn toàn rơi vào tay cộng sản Bắc việt!
1. Ngày 26/06/1975: theo lệnh của ủy ban quân quản Sài Gòn tôi đi trình diện cải tạo 10 ngày vì là sĩ quan cấp úy của chế độ VietNam Cộng Hoà kèm lời khuyên là mang lương thực cho đủ 10 ngày! Nhưng đã bị cộng sản đánh lừa!
2. Từ ngày 26/06/1975 tới 21/03/1979: tôi phải đi vào trại tập trung cải tạo nhưng thực chất là nhà tù khổ sai! bị đe dọa tinh thần luôn sống trong khủng bố bất chấp đúng sai phải tự khai là mình đã có tội với nhân dân và quân đội cộng sản Bắc việt để tẩy não …về thể xác phải đi lao
động; khổ hình; vất vả hàng ngày, ăn uống kham khổ, nhịn đói, đau bịnh phải khắc phục không có thuốc điều trị…nhiều người đã chết trong trại cải tạo nếu còn sống thì về với thân tàn ma dại!
Trong thời gian tôi bị ở tù thì người vợ trẻ ở nhà can đảm nuôi dạy 4 đứa con nhỏ, dưới áp lực của công an phường phải học tập chính sách cộng sản mỗi tối, đối phó với cưỡng bức lao động trong tổ hợp, bị đánh tư sản mại bản và áp lực đi vùng kinh tế mới….
3. Từ ngày 21/03/1979: được tạm tha về với gia đình, tôi vẫn phải sống dưới sự quản thúc của công an phường, không có quyền công dân và phải trình diện khai báo chi tiết mỗi ngày là đi đâu và làm gì? Hình thức một nhà tù kiểm soát mọi hoạt động của người dân.
4. Ngày 20/11/1980: tôi đã quyết định đưa gia đình gồm vợ tôi với 4 đứa con nhỏ (Phương Anh 12 Tuổi; Phương Trâm 10 tuổi; Xuân Tùng 8 tuổi và Phương Thảo 7 tuổi) đi vượt biên tìm tự do. Tôi thiết nghĩ thà cả gia đình cùng chết trên biển còn hơn sống dưới chế độ cộng sản Vietnam,
một chế độ độc tài Đảng trị, tham nhũng; bạo lực; xào trá và dã man; không tôn trọng nhân quyền và luôn khủng bố người dân bằng công an trị…các con tôi sẽ không được tới trường học theo nguyện vọng; chúng tôi sẽ không có chỗ để sinh sống trong xã hội cộng sản Việt Nam vì họ sếp gia đình chúng tôi là công dân hạng hai! trên chiếc thuyền gỗ nhỏ bé với kích thước thật khiêm tốn: chiều ngang chỉ 2.5 mét; chiều dài 10.0 mét; không động cơ vì bị hư ngay từ đầu ngang qua đảo Phú quốc mà chỉ nhờ gió thổi vào vịnh Thải Lan!!! trên thuyền với 40 người cùng cảnh ngộ. Lênh đênh trên vịnh Thái Lan 3 ngày 4 đêm không thực phẩm, hạn chế nước uống trong biển động, sóng bão và nỗi lo sợ hải tặc; tưởng như chết trên biển cả ….đến ngày 24/11/1980 thuyền chúng tôi may mắn được một thuyền đánh cá Thái Lan cứu vớt, tôi vẫn còn ghi nhớ ơn tên người chú thuyền là Chusan. Vì vào thời điểm này cứ 10 thuyền tỵ vượt biển thì đã tới 8 thuyền bị hải tặc cướp của và hãm hiếp phụ nữ.
5. Ngày 24/11/1980-19/12/1980: chúng tôi ở trại tạm cư chuyển tiếp chonburi/Thailand.
6. Ngày 19/12/1980-20/01/1981: chúng tôi nhập trại tỵ nạn Songkhla/Thailand
7. Ngày 20/01/1980-05/03/1981: chúng tôi ở trại chuyển tiếp Panatnikhom/Bangkok/Thailand.
8. Ngày 06/03/1981: gia đình tôi được chính phủ Úc chấp nhận cho định cư vĩnh viễn với tư cách là những người tỵ nạn chính trị.
9. Ngày 06/03/1981-15/10/1981: gia đình tôi được tạm trú tại East Hill Hostel.
10. Ngày 15/03/1981-15/10/1981: tôi làm thợ mộc cho công ty Everest Worthington.
11. Ngày 02/04/1984: gia đình tôi được tuyên thệ vào quốc tịch Úc Đại Lợi.
12. 1981-1985: gia đình tôi cư ngụ tại vùng Baulkham Hills/Sydney
13. 1982-1998: vợ tôi là nhân viên của bưu điện Úc.
14. Ngày 19/10/1981-03/11/2017: trong suốt hơn 36 năm làm việc tại Úc tôi đã phục vụ qua nhiều công ty khác nhau tên là: FFE(Fire Fighting Enterprises); Quell Fire Safety; James Hardie; Chubb Fire&Security; William; UTC(Unites Technologies Cooperations) vời nhiều nhiệm vụ từ factory process worker; supervisor; production manager; NSW. Workshop and Sydney Portable Services Manager.
15. 1985-tới nay (2025)…định cư tại Vùng Lidcombe NSW. Sydney
Journey to Freedom
Saigon fell on April 30, 1975
After General Duong Van Minh’s surrender order was read on Saigon radio
The people of the South began to live in fear…because they had completely fallen into the hands of the North Vietnamese communists!
1. June 26, 1975: Following the order of the Saigon military committee, I went to a 10-day reeducation camp because I was a lieutenant of the Republic of Vietnam regime, with the advice to bring enough food for 10 days! But I was deceived by the communists!
2. From June 26, 1975 to March 21, 1979: I had to go to a reeducation camp but in reality it was a forced labor prison! I was mentally threatened and always lived in terror regardless of right or wrong, had to confess that I had committed crimes against the people and the North Vietnamese communist army to brainwash… physically forced to do labor; torture; hard work every day, poor food, hunger, illness that had to be overcome without medicine… Many people died in the re-education camp. If they survived, they returned with a crippled body and a crazy spirit!
During my time in prison, my young wife courageously raised 4 children at home, under pressure from the ward police to study communist policies every night, to deal with forced labor in the complex, to be beaten as a comprador bourgeois and pressured to go to the new economic zone…
3. From March 21, 1979: I was temporarily released to return to my family, I still had to live under the supervision of the ward police, had no civil rights and had to report in detail every day where I went and what I did? The form of a prison controlled all activities of the people.
4. November 20, 1980: I decided to take my family, including my wife and 4 small children (Phuong Anh, 12 years old; Phuong Tram, 10 years old; Xuan Tung, 8 years old and Phuong Thao, 7 years old) to cross the border to seek freedom. I thought it would be better for the whole family to die at sea than to live under the Vietnamese communist regime, a dictatorial regime ruled by the Party, corrupt, violent, deceitful and barbaric; not respecting human rights and always terrorizing people with police state… my children would not be able to go to school as they wished; we would not have a place to live in the Vietnamese communist society because they considered our family as second class citizens! on a small wooden boat with very modest dimensions: width only 2.5 meters; length 10.0 meters; no engine because it was broken from the beginning, passing Phu Quoc island, only relying on the wind to blow into Thai Lan bay!!! on a boat with 40 people in the same situation. Drifting on the Gulf of Thailand for 3 days and 4 nights without food, limited drinking water in rough seas, stormy waves and fear of pirates; thought we would die at sea… until November 24, 1975, our boat was fortunately rescued by a Thai fishing boat, I still remember the boat owner ‘s name Chusan. Because at that time, out of 10 refugee boats crossing the sea, 8 were robbed by pirates and women ere raped.
5. November 24, 1980 – December 19, 1980: We were at the Chonburi/Thailand transit camp.
6. 19/12/1980-20/01/1981: We entered the Songkhla refugee camp/Thailand
7. 20/01/1980-05/03/1981: We stayed at the Panatnikom transit camp/Bangkok/Thailand.
8. 06/03/1981: My family was accepted by the Australian government for permanent settlement as political refugees.
9. 06/03/1981-15/10/1981: My family was temporarily housed at the East Hill Hostel.
10. 15/03/1981-15/10/1981: I worked as a carpenter for the Everest Worthington company.
11. 02/04/1984: My family was sworn into Australian citizenship.
12. 1981-1985: My family lived in Baulkham Hills/ Sydney
13. 1982-1998: My wife was an employee of the Australian Post Office as a mail officer.
14. 19/10/1981-03/11/2017: During more than 36 years working in Australia, I have served through many different companies named: FFE(Fire Fighting Enterprises); Quell Fire Safety; James Hardie; Chubb Fire & Security; William; UTC(United Technologies Corporations) with many tasks from factory process worker; supervisor; production manager; NSW. Workshop and Sydney Portable Services Manager.
15. 1985-present (2025)… settled in Lidcombe NSW. Sydney
Tôi kiểu, như bị thất tình, cái tuổi xồn xồn hay sồn sồn bồn xồn người đàn bà tiền mãn kinh.
Tôi chần chừ muốn nghỉ rồi chơi lại mạng xã hội. Nhưng chính nó đã là một giảng trường đời.
Học không hết chữ. Thời 4.0, bạn không cần phải vào giáo trường, bạn có thể ngồi ở nhà xem những thuyết trình của những giảng đường đại học như Cambridge và Harvard.
Bằng cấp chỉ là những tờ giấy trắng dành riêng cho những người có điều kiện.
Bây giờ tôi sẽ sống hàng ngày với hai cụm từ mỗi ngày dưới đây sẽ là quá đủ:
1) It is what it is – từ tác phẩm thơ con cóc của anh Nguyễn Hưng Quốc
2) tới đó tính tiếp – từ những buổi sáng của anh Vũ Hồ Như
Chúc vui.
ultra-minor aiming to be major – Mai Ver Dang (H’Mong-American poet) – surrealness cuts through to the truth
poets function as conscience – viet thanh nguyen
On the Joy of Otherness
death and realism – ken chen
can realism help migrants and border crossers refugee exiled displaced comes to term with home sickness reluctant time travelers an infinite homecoming timeline
[50 năm – thuyền nhân]
If I am inclined to see the journeys of my parents as heroic, the writer Amitava Kumar pushes back against the praise for those who cross borders: the immigrants, the refugees, the undocumented, the expatriates, the tourists, the settlers, the conquerors. He writes that “It is not the immigrant but the ones who stay behind who are the true unvanquished.” Viet Thanh Nguyen
“Being asian-american is not the only dimension of myself, just one aspect, born from defending myself or others like me or who are seen as being like me, but my asianamericaness matters less than my ethics politics and art, together they constitute a stubborn otherness that resists the lure of a domesticated otherness siated by belonging” Viet Thanh Nguyen
Crossing many borders. The refugee is exiled. Death away from home. “The continent of death has no borders”.
asian expansive solidarity (japanese-chinese-vietnamese-filipino) – self-defense – victims of our own success – a moment of clarity against exclusion and move on from inclusion.
identity build on violence and white invasion colonialism
beyond labels – boat people being only one label of global inclusion
the utopian society of the earth being a global village where we solve our dispute in a football game(olympic games?)
Đang xem vidiô nghe tiếng còi bom báo động, tôi nhớ đến cái cảnh bò xuống dưới gầm giường đầy mùi khai khai để núp. Ký ức tuổi thơ dồn dập bất ngờ làm tôi bật ra khóc nức nở không ngưng.
Tôi cứ nghĩ bao nhiêu năm tôi đã tự chữa bệnh PTSD bằng thơ ca, là mình đã khỏi bệnh. Mình đã thả nó hẳn vào quá khứ.
Tôi hơi bực vì sự thất bại của mình.
Tôi nhìn cái mặt điện thoại thông minh của mình, nước mắt nó cứ trào ra thì qua những dòng nước tôi bắt gặp mấy câu thơ của Y Thiện làm tôi bật ra cười.
Rồi tôi lại nghĩ – ồ ồ, tiếng việt của mình giỏi hơn hồi xưa nhỉ?
Tôi thấy mình đáng yêu ghê. Hồi xưa tôi đọc những gì Y đã chia sẻ đã không hiểu gì luôn. Vừa không hiểu vừa xấu hổ là mình đã bị mất gốc.
The sound of bomb sirens from a documentary broke me, it triggered a break down I thought I had fixed. The bombings of the Port of Hai Phong, where my eleven year old English student now lives. The lives of villagers who died during the carpet bombing. The people who were massacred in their homes in Hue during the Tet Offensive the year my sister was born. It broke me. I don’t know the words to console such pain.
Good morning, sáng nay có hẹn với chồng nha.
30/4 là 30/4.
It is the two faces of the same coin.
Những cái label ngoài những con số đó chỉ là thừa.
Tôi không cười thì tôi khóc. Có anh chồng lau nước mắt hay cùng cười với cũng vui.
It is what it is.
Thank you to mother and father to whom I would not be here today.
To my community of boat people, thank you for just being. We may never completely heal, completely let go. But at least we will have each other.
Sự bỏ rơi bắt đầu từ ngày tôi đã bỏ rơi đất nước tôi, hay đất nước tôi đã bỏ rơi tôi? Một đời người đã trôi qua, nhưng vết thương vẫn còn mới?
– Anh đã bỏ rơi em hay em đã bỏ rơi anh?
– Em cứ lo an ủi những người khác nhưng người em cần an ủi là em.
Nếu chúng ta là người dưng. Chuyện của chúng ta không còn là một cuộc chia ly nữa.
Nó chỉ là một chặng đường. Những cuộc đối thoại, những va chạm. Để chúng ta thấy da thịt của chúng ta vẫn còn đau vẫn còn biết sướng.
Một chặng đường hoang vu dã man “thiên nhiên hoàn toàn lãnh cảm”[1]
Tôi ác tôi nhẫn tâm là một sự chấp nhận sống trong bóng tối mong ngày ánh sáng.
Tôi không hiểu tại sao quê hương của tôi cứ phải là một người đàn bà đẹp, cứ phải mãi là một con điếm?
Nếu quê hương của tôi là một người đàn ông, một người đàn ông thật xinh, có nhiều vợ. Thì lịch sử của đất nước mẹ đẻ của tôi sẽ được đẹp hơn không?
[50 năm – thuyền nhân]
Sáng sớm trước khi hành trình đi tìm cánh đồng bồng bềnh giữa biển khơi, tôi đi qua thăm ông bà ngoại của hai người lớn của họ nhà Trần.
Ông bà nôn nao lo tình trạng tinh thần của cô con gái thi dịch sĩ của họ. Tôi qua thăm và để kể cho hai ngài nghe về bệnh mất trí đến những người bạn của tôi.
Những người bạn của tôi không chỉ cho tôi nơi trú chân mà đã dành riêng thời gian cho tôi hồi phục lại sức khỏe và tinh thần.
Những bữa cơm và những ly rượu hữu tình mà tôi sẽ không bao giờ quên và muốn ghi lại ở đây cùng với những lời tri ân của mình. Thật ra họ cũng đã biết họ là ai, tôi không muốn điểm danh họ hết ở đây.
Dù rằng tôi bạc cả đầu, tính tôi vẫn vô tư. Hôm nay tự nhiên trong một hơi thở ba má tôi nhắc đến Lý Đợi và Bùi Chát. Ồ ba má biết hai cậu đó à? Thì ba má hồi xưa hay đọc thơ văn của hai người đó.
Nhắc đến hai người bạn của anh Tài làm tôi hơi xấu hổ. Tôi xưng tội luôn: khổ ghê, con không hiểu anh Lê Vĩnh Tài lại uống yếu hơn con như vậy, anh say quá Chi phải đưa anh về trước để con lại với Lý Đợi và Bùi Chát. Con thấy hơi tội nghiệp hai ông em, con say, con không chịu đi taxi về, con nhất định phải đi bộ cho bằng được hết 2 cây số về khách sạn. Trên đường về khách sạn thì chắc chắn là con đã lải nhải cái gì á con không nhớ, nhưng con chỉ nhớ là con lải nhải rất nhiều.
Khổ ghê. Tính nói nhiều của tôi khi trúng đài.
Nên nè hai anh bạn nhỏ Ly Doi và Bui Quang Vien , dù say không phải ai tôi cũng nói, hôm nay tôi xin hai bạn bỏ qua cho tôi. Hôm đó tôi đã quá làm phiền hai bạn – đi gì cả một chặng đường dài. Vừa đưa tôi đi lại còn phải nghe tôi đổ rác chảy cả máu tai, tôi thấy mình thật là có lỗi. Hôm nay tôi mới có đủ can đảm để nhớ lại và thật tình xin lỗi, và cám ơn thật nhiều hai người đã cứu tôi.
Again thank you, I owe both of you one. And I always pay my debt.
SS Ayrfield, Sydney Olympic Park. Nguyễn Thị Phương Trâm chụp
Nhà văn nhà thơ nhà báo nhà viết lách họ khác với người thường của mình nha. Mình đọc những tác phẩm của họ, mình nghe thấy có cả một cánh rừng trôi nổi giữa biển khơi, nên mình đi kiếm cho bằng được.
Mà cánh rừng khi mắt mình tận thấy nó làm sao nhỉ. Cánh rừng của nó lưa thưa nhỏ xíu chưa đủ lông lá để che cho chị E Và ngày nàng bị đuổi ra địa đàng vì cái tội dụ dỗ anh khờ A Đam ăn trái táo cấm.
Nhưng mình vẫn thấy sướng dù rằng chân tay mình rã rời mồ hôi ướt át đỏ cả mặt như mấy anh say rượu cuối tuần không muốn đi về nghe vợ(chồng) giảng.
– tại sao anh cần phải uống nhiều như vậy.
À, hình như mình bị lạc đề rồi. Mình không phải là nhà văn.
Mình xin lỗi nha.
SS Ayrfield, Sydney Olympic Park. Nguyễn Thị Phương Trâm chụp
Nguyễn Thị Phương Trâm & Son in Boun Ma Thuot
Con trai dỗ dành mẹ hơn mấy tuần lễ.
Mẹ bị mất trí(Transient Global Amnesia) hết 24 tiếng, mẹ nhõng nhẽo, con ngồi kiên trì lau từng dòng nước mắt cho mẹ.
Mẹ thích cà phê, con đã gọi cho mẹ hai ly cà phê hạt vừa rang vừa mới xay ra thơm phức, ngon nhất Sài Gòn.
Mẹ bị ám ảnh uống cocktail dở, con rủ mẹ đến góc phố pha cho mẹ ly cocktail ngon hơn tưởng tượng để chữa lành.
Bạn của mẹ cho mẹ leo cây, con chạy đến uống phụ mẹ hết chai rượu lạ rồi đưa mẹ về phòng.
Con trai và một người mẹ hạnh phúc.
“I don’t speak Vietnamese, I did when I was very young. Until I was 3 years old. You can’t push all the blame on, uhm, I don’t even want to use the word blame. Because it has a negative connotation if you know what I mean. My parents want the best for me in a land that is foreign to them”
Keshi
Không dịch thơ. Không làm dược sĩ nữa.
Không biết mai mốt mình sẽ làm cái gì? Thơ của mình thì chán chết. Viết thì khó.
Chó cũng không có. Sức khỏe thì như trâu, ngồi đợi chết cũng không được.
Không lẽ cứ kiếm chuyện với Trump mãi.
Đừng cãi nữa. Làm thơ là hay nhất.
Văn Chương như “một cuộc diễu hành” của Nguyễn Hưng Quốc, là the collective memory của một cộng đồng vượt biên giới. Mỏng manh như tháng tư?
Tiền như rác như vị trí của bạn trong xã hội. Bạn là hai bàn tay trắng trong nước của người ta.
Ở ngoài khơi bạn bay như con cá chim với con thuyền tỵ nạn. Chết sống là những đứa con gái mà những người ân nhân của bạn đã bắt cóc đem về làm điếm là còn may.
Thống nhất là sự hy sinh của ba má tôi.
Nên tôi xin bạn đừng có hoang phí quá với những con chữ của bạn. Đừng để tôi pity sự hời hợt của bạn.
Sự múa máy của hai ngón tay phải của bạn đang chỉ vào mặt tôi hay đang tự sướng? Cái đỉnh của sự nhục nhã tủi nhục đen như bóng tối trong hộp sọ của bạn.
Rơi hoài rơi mãi là mưa của tháng tư, khi tôi nằm xuống thành bữa cơm cho loài giòi thơm phức mùi vĩ đại một mùi thúi của một số phận vất đi.
Nguyễn Thị Phương Trâm
Nguyễn Thị Phương Trâm
Nguyễn Thị Phương Trâm
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
Nguyễn Thị Phương Trâm @Six Sense Con Dao May 2018
a poem by Nguyễn Thị Phương Trâm
De Glorious Delight Ghanian Cuisine, Black town. Australia.
Tối hôm qua, lần đầu tiên tình cờ ta được ăn ẩm thực từ Ghani với con trai. Nhìn miếng cá thu chiên thì lại nhớ đến bữa cơm mẹ ta nấu sau 75, chỉ thiếu xốt cà xào với hành tỏi.
Nhớ tám năm dịch thơ của bạn.
Con trai nhìn mẹ – chuyện đó đã xong. Người đốt cháy con cầu đó không phải là mẹ. Mẹ hiểu. Nhưng mẹ vẫn buồn.
Đón con tàu điện về sau bữa ăn tôi ngộ ra, chữ như điện ta có nó nhờ nắng, không có nắng ta hỏi gió, không có gió ta xin mưa từ mây ta sẽ có sóng.
Hiểu.
Nhưng ta vẫn buồn.
“will you come home so I may have something to look forward to the excitement and joy of warm human flesh”*
will you meet me at dawn to then abandon me at dusk
the warm rain is still fresh on my brow grey numbness echoes still through the clouds
you promised me nothing and I expected naught the frivolity of the moment lost weigh heavy on my ring finger
no nearer but further the distance between us
the moment I wanted to kiss your hands — *THƠ LÊ VĨNH TÀI
translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
“em có về không để tôi còn đón đợi còn hân hoan còn mong ngóng hơi người…”
lúc bình minh anh có gặp em không để rồi bỏ rơi em lúc hoàng hôn chạng vạng
cơn mưa ấm vỡ ra trên lông mày âm vang tê buốt màu xám vọng qua đám mây
anh chẳng hứa gì với em cả và em đã không mong đợi điều gì sự nông nổi của khoảnh khắc đã mất nặng nề trên ngón tay em ngón tay đeo nhẫn của em
không gần hơn đâu khoảng cách ngày càng xa hơn giữa hai chúng ta
khoảnh khắc em muốn hôn tay anh
nhà thơ là cái công cụ làm thơ thơ là cái công cụ cho tôi học tiếng việt vậy tôi là cái công cụ dịch thơ
dịch giả là cái title sao nhỉ đáng cười hều
block = động từ hay
Reading to me is rather simple, it depends on my mood:
If I wanted to face my childhood trauma, I read Phan Nhiên Hạo’s Radio mùa hè.
If I wanted to be turned on, I read Đoàn Duy’s translations in Early Modern English.
If I wanted a quickie, I read Nguyễn Hưng Quốc’s 909 tercets.
If I’m feeling amorous still and wanted foreplay, I read an epic poem by Lê Vĩnh Tài.
It’s that simple And these are mere examples of poets who are still alive.
All you need to do to survive each day is to keep everything as simple as you like it. ———- Photo: Six Sense Con Dao May 2018
các anh ngồi xổm chép kiều đếm được bao nhiêu các anh thạc sĩ biết nhiều
anh nào cũng thích dịch – dịch – dịch nàng
còn ta là ai, cái con mất gốc ngày nào cũng tốc mấy cái cốc rượu
chúng làm ta ngốc bốc gì bốc mãi mấy con chữ người thiếu nữ “hơi” dữ đã quá
sao nhỉ? già.
:))
Tôi luôn ngạc nhiên về điều, nhiều người muốn gặp tôi khi tôi về quê chơi, và tôi cũng đã bị họ vì lí do gì đó cho tôi leo cây đã ba lần.
Những cảm xúc bị bỏ rơi vừa dã man vừa lãng mạn, hình như, làm tôi rất thèm chúng?
Vì vậy, nếu bạn hẹn tôi, tôi vẫn đến, thậm chí, tôi sẽ đến trước cả tiếng đồng hồ để đợi bạn.
Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.
Rain in the Old Quarter, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm
A poem by Merrit Malloy Translation into Vietnamese by Nguyễn Thị Phương Trâm
khi tôi không còn nữa những dấu vết còn lại là tôi hãy mang nó cho những hài nhi những người đàn ông cuối đời đang đợi ngày về đất.
và nếu bạn cần khóc hãy khóc cho anh em bạn đang đi ngay cạnh và khi cần tôi hãy ôm vai người kế bên hãy trao cho họ những gì bạn muốn gửi tôi.
tôi muốn để lại cho bạn gì đó hơn những âm thanh hay là chữ.
hãy tìm kiếm tôi trong những người tôi đã biết đã yêu và đã nhớ và nếu bạy không có thể buông tôi ra hay cho tôi đi thì hãy cho tôi xin sống lại trong cặp mắt bạn không trong hộp xọ bạn nhé.
bạn yêu tôi nhiều nhất khi bạn để bàn tay mình nghe da thịt bạn mong muốn da thịt khác và cho những đứa trẻ sự tự do của chúng.
tình yêu luôn còn mãi dù tôi không còn nữa nên khi còn lại chỉ là tình yêu của tôi thì xin bạn hãy mang tôi, hãy cho tôi đi.
When I die Give what’s left of me away To children And old men that wait to die.
And if you need to cry, Cry for your brother Walking the street beside you. And when you need me, Put your arms Around anyone And give them What you need to give to me.
I want to leave you something, Something better Than words Or sounds.
Look for me In the people I’ve known Or loved, And if you cannot give me away, At least let me live on in your eyes And not your mind.
You can love me most By letting Hands touch hands, By letting bodies touch bodies, And by letting go Of children That need to be free.
Love doesn’t die, People do. So, when all that’s left of me Is love, Give me away.
Merrit Malloy sinh ngày 18 tháng 9 năm 1950 tại Pennsylvania, Hoa Kỳ. Cô là nhà sản xuất và biên kịch, được biết đến với Carrie (1976), Valentine (1979) và Forever (1978). Trước đây cô đã kết hôn với Paul Monash.
Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.