Present | Bùi Chát

chưa có tên, sơn dầu trên canvas, 150x195cm . Bùi Chát.

poem inspired art by Bùi Chát
translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

we alone have so many faces
mine have all taken a hold of me

my natural compulsion is to run
run again and again
run away as far as I can

to forever escape from all those faces
I have found a place to hide within you

forever within you
to embracing a new day

Hiện hữu


Có quá nhiều mặt trong một khuôn mặt
Cố bám riết lấy tôi

Theo phản xạ thông thường
Tôi bỏ chạy
Rồi lại bỏ chạy

Và để vĩnh viễn thoát khỏi những khuôn mặt
Tôi đã trốn vào em

Mãi mãi ở trong em
Ôm trọn ngày đang tới


Bùi Chát is the poet, writer, publisher and artist’s pen name. Bùi Quang Viễn was born on October 22, 1979, at Hố Nai, Biên Hòa, Đồng Nai Province, Việt Nam. Born to family of patriotic Catholic refugees from the North in 1954.

Graduated in 2001 from the Faculty of Literature, Linguistics, and Journalism of Hồ Chí Minh City University of Social Sciences and Humanities. Bùi Chát named and cofounded Nhóm Mở Miệng (Open Mouth Group) with the poet and writer Lý Đợi, promoting Graveyard & Garbage Poetry.

Nhà Xuất bản Giấy Vụn (Scrap Paper Publishing House), also founded by Bùi Chát, distributions of xerographically structured sensitive works by “pavement poets”. In 2004, Bùi Chát and cofounder Lý Đợi were detained for two days for distributing flyers at a poetry reading raided by the authority. In 2005, the culture department blocked their performance at the Goethe Institute in Hà Nội.

In 2011, Bùi Chát was awarded the IPA Freedom to Publish Prize “for his exemplary courage in upholding the freedom to publish.” He was arrested on his return to Việt Nam after receiving the award in Buenos Aires and detained for several days.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

pointless | Bùi Chát

poem by Bùi Chát
translation by Nguyễn Thị Phương Trâm

“Whoever uses the spirit that is in him creatively is an artist.
To make living itself an art, that is the goal.”

― Henry Miller, Big Sur and the Oranges of Hieronymus Bosch

the end is inevitable
don’t you want to go out with a bang?
try not to bored people to death

the same drama over and over again
a bunch of amateurs
inept actors always in the wrong role
saying the wrong lines

why the same sad tragedy?
do you think your audience are fools?
or no one has enough courage to write something new?

the end is inevitable
so choose the best way to go
dragging it out is pointless
to the sacrifice of so many patron!

Vô ích


Sau trước gì cũng xong
Phải chăng chọn một cái kết phù hợp?
Đừng để người xem nhìn nhau ngán ngẩm

Một vở kịch diễn đi diễn lại
Mà diễn viên toàn người nghiệp dư
Lần nào cũng không đúng vai
Lúc nào cũng sai lời thoại

Sao để mọi người xem mãi vở kịch tồi tệ?
Tụi bay nghĩ chẳng người nào hiểu kịch?
Hoặc không còn ai dám dựng vở mới?

Sau trước gì cũng xong
Hãy chọn một kết thúc hợp lý
Kéo dài chi vô ích
Mất hết khách bi chừ!


Bùi Chát is the poet, writer, publisher and artist’s pen name. Bùi Quang Viễn was born on October 22, 1979, at Hố Nai, Biên Hòa, Đồng Nai Province, Việt Nam. Born to family of patriotic Catholic refugees from the North in 1954.

Graduated in 2001 from the Faculty of Literature, Linguistics, and Journalism of Hồ Chí Minh City University of Social Sciences and Humanities. Bùi Chát named and cofounded Nhóm Mở Miệng (Open Mouth Group) with the poet and writer Lý Đợi, promoting Graveyard & Garbage Poetry.

Nhà Xuất bản Giấy Vụn (Scrap Paper Publishing House), also founded by Bùi Chát, distributions of xerographically structured sensitive works by “pavement poets”. In 2004, Bùi Chát and cofounder Lý Đợi were detained for two days for distributing flyers at a poetry reading raided by the authority. In 2005, the culture department blocked their performance at the Goethe Institute in Hà Nội.

In 2011, Bùi Chát was awarded the IPA Freedom to Publish Prize “for his exemplary courage in upholding the freedom to publish.” He was arrested on his return to Việt Nam after receiving the award in Buenos Aires and detained for several days.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

luxury, elegance & charm | Cư Sĩ Minh Đạt

Books. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

thơ Cư Sĩ Minh Đạt
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

luxury
elegance
& charm

three amongst
the guises of this world

echoes of heels on a marble floor
gold buttoned coats
and the third has nothing on
but a breeze through a bamboo grove

luxury is those with money
lots of money
they use money to build a fortress around them
shine from precious stone
gleam from a polished glass of wine
blaring music from loud speakers
can not liven the soul
just enough light to reflect the illusion of power

luxury is a pretty shell
expensive
empty
skin deep

elegance is not an extravagance
but the crystallization of a good life
boundless wisdom
refine emotions
sublime beauty of those who can rise beyond pain
forgiving not vengeance
quiet not boastful
have a smile still for those who pushed them down an abyss

they don’t need a scepter
to make the crown yield
the way Achilles kneels by Hector’s body
in the tears of those who kill their children
forgiving eyes of Priam a father who has lost so much

glint of gold in a tragic painting
warmth in the middle of all the cold steel
courage

elegance stands tall
but understands when to submit
when to talk
when talk means an olive branch
in place of a sword

elegance is a temperament
it doesn’t show off
it does not ask for anything
but like a deep river it is always present
such quality
sometimes have been preserved and cultivated for many generations

charm goes without saying
those who are charming do not know they are charming
needs no one to look at them
the smile like a lotus in the middle of a misty pond
not for anyone
not for themselves
only because the lotus is blooming

care not for luxury
or is bothered by elegance

charm is like a falling leaf
adding yellow to autumn
is a smile
no one sees
and greatful is the a far away star

charm comes not from tragedy or victory
it does not need applaud or an explanation
it does not need to be remembered

charm is
light footsteps on dry red cray
the discerned scent of tea poured unseen
innocent smile of a child surrounded by rot
a lotus flower leaning towards no one at all

those who live in luxury believe they are elegant
those who are elegant see clearly these boundaries
those who are charming are unaware of their charm
precisely because of such obliviousness
they are beyond reputation

luxury strives for gratification
elegance is the quintessense that has been refined
for generations
charm is as innate as poetry

a nobility untainted by darkness
unaffected by their own beauty
their beauty is more the air of them

elegance is like the light at dusk at the end of a fight
charm is like the sunlight at dawn through a dewdrop

brighter amidst neon lights
brilliant in a dynasty nor matter strong or weak
fragrance in a small kitchen

these three levels
three tides of beauty
one discerned by the eyes
one discerned by the heart
and one that can only be discerned by what is intangible

you can clasp your hand
or simply smile
since what is most beautiful
is just a breath of fresh air

xa xỉ
sang trọng
và duyên dáng

trong nhiều dáng vẻ
có ba dáng vẻ bước đi trong thế gian

một kẻ đi với tiếng giày vang trên sàn đá cẩm thạch
kẻ khác đi với bộ áo khoác đen cài khuy vàng
và người cuối cùng
không mang gì cả
chỉ đi như gió nhẹ qua rặng trúc

xa xỉ là kẻ có nhiều tiền
và rất nhiều tiền
dùng tiền để gây dựng vẻ ngoài
ánh sáng chói từ đá quý
lóng lánh qua ánh rượu vang
và âm nhạc xập xình qua dàn loa hiện đại
không làm sáng được tâm hồn
chỉ đủ để phản chiếu một ảo ảnh về quyền uy

xa xỉ là vỏ đẹp
đắt
rỗng
nó dừng lại ở ngoài da

sang trọng không phải là sự xa hoa
mà kết tinh từ đời sống tử tế
với hàm lượng trí tuệ mênh mông
và phong phú cảm xúc
là vẻ đẹp của một người biết đứng dậy sau thương tổn
biết thứ tha khi có thể ra tay
biết giữ im lặng thay vì khoe khoang
và biết mỉm cười với người từng đẩy mình xuống vực

và người đó không cần quyền trượng
vẫn khiến vương miện cúi đầu
có trong dáng quỳ của Achilles bên xác Hector
trong nước mắt của kẻ giết con
và ánh mắt tha thứ của Priam người cha mất mát

là ánh vàng dịu trong bức tranh bi tráng
là hơi ấm giữa thép lạnh
và lòng can đảm

sang trọng đứng thẳng
nhưng biết cúi đầu đúng lúc
nói ít
nhưng mỗi lời là một nhành ô liu
trong tay người cầm kiếm

sang trọng là khí chất
không phô
không cầu
nhưng luôn hiện diện như một dòng sông sâu
cốt cách đó
có khi được lưu tồn và vun đắp từ nhiều đời kiếp

duyên dáng lại là một chiều không lời
người duyên dáng không biết mình duyên dáng
không cần đo xem ánh mắt ai đang dõi theo
họ cười như một đóa sen giữa hồ sương
không vì ai
không vì mình
chỉ vì đó là điều sen nở

không biết tới xa xỉ là gì
cũng chẳng màng sang trọng

duyên dáng như chiếc lá rơi
góp thêm thêm sắc vàng cho mùa thu
là nụ cười
không ai thấy
mà một vì sao xa biết ơn

duyên dáng thì không đến từ bi kịch hay chiến thắng
không cần tung hô hay diễn giải
không cần được nhớ

duyên dáng là
một bước chân nhẹ qua bụi đỏ
một chén trà rót không nhìn mà ngát hương
một nụ cười bé thơ giữa bãi rác
một cành sen nghiêng về phía không người

kẻ xa xỉ tưởng mình sang trọng
người sang trọng biết rõ ranh giới ấy
người duyên dáng không biết gì cả
nhưng chính vì không biết
mà vượt ngoài mọi phân biệt

xa xỉ hớn hở hướng tới thoả mãn
sang trọng là tinh hoa đã luyện
đến từ nhiều đời
duyên dáng chỉ thảnh thơi cũng hóa thơ

một người cao thượng vì đã đi qua bóng tối mà không để nó nhuộm màu
một người không biết mình đẹp
nên cái đẹp thành khí trời

sang trọng như ánh hoàng hôn cuối trận chiến
duyên dáng như giọt sương dưới ánh mai

một kẻ sáng chói giữa ánh đèn neon chưa vụt tắt
một người lấp lánh giữa vương triều khi mạnh khi suy
một người tỏa hương trong căn bếp nhỏ

ba tầng ấy
như ba lớp sóng của cái đẹp
một lớp chạm mắt
một lớp chạm tim
và một lớp chạm… vô hình

bạn có thể chắp tay
hoặc chỉ mỉm cười
bởi những gì đẹp nhất
chỉ cần được thở nhẹ ra

@nêu bật


 Cư Sĩ Minh Đạt is one of Hoàng Anh Dũng’s pseudonym. The poet and artist currently lives in Hồ Chí Minh City, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

collective unconsciousness or the embodying of Noah’s work | Cư Sĩ Minh Đạt

Tác phẩm của Artist Noah - Hoàn Bùi

thơ Cư Sĩ Minh Đạt về tranh của Noah – Hoàn Bùi
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

eyes on branches
on the otherside of a dream
a river of gold twisting and turning through memory
here in one place
Noah in front of his canvas

bodies taking root
one with the soil
breathing in the dark

cattle dreaming by the gate
discerning the wiggle of a fish tail in the air

a dangling orb in the sky
not the moon
not the sun
but the eye of unconsciousness
infinitely open

the point of the ball pen shaking
beyond any physical force
but an intangible wind
Noah is there on his stool
but what comes pouring out him is no longer his
the curves found each other
browns and yellows warmer

in the layers of paint the Jungian archetype clearer
or appearance of an Eastern spirit
guiding the ink through a hundred lifetimes

each piece of work is a door
open to the depths
where time find each other
where the eyes are all knowing
precedes birth.

vô thức tập thể hay nhập thần trong tranh của Noah

mắt mọc trên thân cây
nhìn từ bên kia giấc mơ
dòng sông vàng uốn quanh ký ức
hội tụ về nơi đây
cùng Noah trước toan vẽ

những thân thể hòa vào rễ
thở cùng đất và bóng tối

bò mộng gác cổng
lặng nghe tiếng cá vẫy trong không trung

vầng tròn treo giữa trời
không phải mặt trăng
cũng chẳng phải mặt trời
mà là con ngươi của vô thức
mở ra vĩnh viễn

ngòi bút run lên
không bởi bàn tay
mà bởi cơn gió vô hình
Noah ngồi đó
nhưng dòng chảy không còn thuộc về anh ấy
những đường cong tự tìm nhau
những mảng nâu vàng tự ấm lên

nguyên mẫu Jung lặng lẽ hiện hình trong lớp màu
hay linh khí phương Đông nhập vào
dẫn dắt nét mực đi qua trăm kiếp

mỗi bức là một cánh cửa
mở ra miền sâu
nơi mọi thời gian gặp nhau
và mọi ánh mắt
đều biết từ trước khi được sinh ra.


 Cư Sĩ Minh Đạt is one of Hoàng Anh Dũng’s pseudonym. The poet and artist currently lives in Hồ Chí Minh City, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Asger Jorn and rebels like him | Cư Sĩ Minh Đạt

Asger Jorn 1944 Danmark [Asger Oluf Jørgensen]

thơ Cư Sĩ Minh Đạt
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

I. Jorn & Pollock
a ​​rhythmic sea a sea of fire

Pollock’s whispers to the universe
waves his hands like the wind that rides the surface of moon
paint dripping like an echo from the unconsciousness
and the painting is a hymn without words

Jorn breaks down the door as he enters
his hands are red with the blood of the midday sun
you are meditating while I sing
you are silent while I am laughing aloud

Pollock paint in faith
Jorn paint in doubt
both flowing
a two parallel rivers that will never meet
parallel rivers heading for the same boundless sea

II. Jorn & Dubuffet
A game one play in the basement

Dubuffet digging a well in the Dark
embracing the artwork from the Asylum
Art Brut is what he calls it
an untamed art

Jorn throws a block of mud on the Wall
laughing
I don’t want to be cured
I want to burn
I am not seeking the truth
I am searching for the screams

Dubuffet is quietly
severe
Jorn is noisy
Wet like hard liquor

both hate museums
while one of them is destructive
the other just want to hide in a cave and draw

III. Jorn & Klee
an ink stain on an old music sheet

Klee breathes like a cloud drifting through the universe
he draws maps for dreams
dancing symbols some where between
mathematics and music

Jorn turns the map over
draws a monster eating the sun
and says
I don’t need to understand
the only thing I need is my ability to feel
his beauty are the whispers
while mine is a push through the door

Klee bows
smiles
place a full stop in Jorn’s hand
Jorn takes it
tosses it into the wind
and walks away

IV. Jorn – no one
all
faces behind the paint

no one can hold Jorn
no theory
no academy
no saint can stand behind him without getting splashed with paint

he comes
like a wild child
in the middle of a ceremony full of serious people

he paints with not the unconsciousness
he thinks with living ink
he laughs prior to the moment I realise I’m alive

Jorn will never die
he hides in a painting that has been painted over
and over again ten times
each layer is a new level of freedom that has not been explored

ps. an afternoon nap & notes on what I think I feel.

@highlight

Asger Jorn và những kẻ đồng loạn

I. Jorn & Pollock
biển lửa và biển nhịp

Pollock thì thầm với vũ trụ
vung tay như gió lướt mặt trăng
sơn nhỏ xuống như tiếng vọng từ vô thức
và tranh là khúc tụng ca không lời

Jorn phá cửa bước vào
tay đầy màu đỏ như máu buổi trưa
cậu thiền tôi hát
cậu im lặng tôi cười vang

Pollock vẽ bằng niềm tin
Jorn vẽ bằng sự nghi ngờ
cả hai đều chảy
như hai dòng sông không hẹn nhau
vẫn cùng đổ về biển không bờ

II. Jorn & Dubuffet
trò chơi dưới tầng hầm

Dubuffet đào giếng vào bóng tối
hứng lấy những bức vẽ từ trại tâm thần
ông gọi đó là Art Brut
nghệ thuật chưa được thuần hoá

Jorn ném một khối bùn lên tường
cười
tôi không cần chữa lành
tôi muốn cháy
tôi không tìm sự thật
tôi tìm tiếng thét

Dubuffet yên lặng
khắc nghiệt
Jorn ồn ào
ướt át như rượu mạnh

cả hai đều ghét bảo tàng
nhưng một người muốn phá
kẻ kia muốn biến nó thành một cái hang nguệch ngoạc vẽ

III. Jorn & Klee
một vết mực trên bản nhạc cổ

Klee thở như một đám mây trôi ngang vũ trụ
ông vẽ những bản đồ cho giấc mơ
những ký hiệu nhảy múa
giữa toán học và âm nhạc

Jorn lật ngược tấm bản đồ
vẽ một con quái thú đang ăn mặt trời
và nói
tôi không cần hiểu
tôi chỉ cần chạm
cái đẹp của anh là thì thầm
của tôi là xô cửa

Klee cúi đầu
mỉm cười
đặt vào tay Jorn một nốt lặng
Jorn cầm lấy
hất văng nó vào gió
và đi

IV. Jorn – không ai cả
tất cả
gương mặt sau vệt sơn

không ai giữ nổi Jorn
không lý thuyết
không học viện
không vị thánh nào đứng kịp sau ông mà không bị sơn văng trúng mặt

ông đến
như một đứa trẻ hoang
giữa buổi lễ của những người nghiêm trọng

ông vẽ bằng phần không phải vô thức
ông nghĩ bằng mực sống
ông cười trước khi tôi biết mình đang sống

Jorn không chết
ông trốn trong một bức tranh đã bị vẽ đè
mười lần
mỗi lớp là một tự do chưa kịp phát nổ

ps. nghỉ trưa chút & viết những điều mình cảm

@nêu bật


 Cư Sĩ Minh Đạt is one of Hoàng Anh Dũng’s pseudonym. The poet and artist currently lives in Hồ Chí Minh City, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

a symphony of root body and bough | Cư Sĩ Minh Đạt

Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

more editorial than poetry Cư Sĩ Minh Đạt
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

derived from a debate
between artist & collector
in regards to the sapling of art
a symphony of root body and bough

heated debates
cold and sharp critiques
retorts from the heart
shaking with excitement
facing liberty
artist and collector though
on opposite banks of a river both
find their reflection
in the body of art

but this river of creativity will not only
reflect their faces
it reflects the sky and root
the world around them
as art in itself is a bough search for light

the world of art to me consist of
three parts: bough, body, root
equally deserving of praise

1. root – where darkness disappear into light

at the heart of the earth is darkness
but only there can the roots find its way

taking root is the path to surpassing ignorance
a personal journey to find a point of view
blindness to brilliance

root is where the artist return to altruism
where the soul is as free and as empty as
the inside of harden old bamboo
only then can
Nature and The Creator
flow through them form the sumpreme creation

if the root is weak the tree will break in a storm
if the root is strong the tree can welcome the strongest wind without fear

root is the quiet foundation
no one can see it but it has the deciding vote

it is the rest in meditation
the moment the artist no longer question “who am I”
living in itself is the answer
each stroke of the paint brush sound block

root will not show off
it will pass on the responsibility of presence to everything else

2. body – where the flow take shape

if root is unseen then body is the reveal

body is both knowledge and technology
philosophy and history of art that the artist
build and imbue

body is the architectural discipline that supports the streams of inspiration

without body or root there is nothing but silence and darkness
without the body to inspire no matter how ernest
it will be nothing but a figment of the imagination
wind blowing over the surface of a lake

body is a hard and old bamboo tube
where flowing through it is a stream of inspiration
without spilage or spatter
each layer of colour on the canvas
each note in a musical composition
each movement on the stage

equally the impression of practice
not ascetic but a practice that gives form
to what is formless

body is the bridge
between root and sky
between self and others
between rest and presence

3. bough – where art meet life

bough is where art connects with the world
of advertising, arbiters, mass, media, market

where art can be mislead
manipulated
put on a pedestal
rate

the more welcome is the wind
the more light hence as a result
more prone to the change in the weather

then again for such fear
as random wind avoids having a bough
without a bough it’s nothing but a lonely stick

art is no different
without the exposure
it can not interact with the mass
can not act as a bridge for the community

appraisal
marketing
media
notability
they are as a whole not the enemy
if the artist maintains a balanced moral compass
and inner beauty

when the heart is steady
criticism, marketing
they are mere leaves waving in the wind
no storm or wild wind that can uproot a tree

an outreaching bough provides shade
not an effort to show off

the nature of art is to welcome life
without losing the soul

4. please make sure the three levels lives in harmony – like a song as a whole

a healthy sapling have deep roots
steady body
outreaching bough

art is the same
altruism and knowledge being
a source of inner strength
is root

body is a physical manifestation
of knowledge philosophy technology

and bough
marketing the mass
sharing and proliferation

if root is idolised
art will be isolated
locked up hidden away
somewhere on a mountain top

and when only the body is praised
art will dry up
hollowed
left without a soul

to chase only after the bough
art is nothing but a show
shiny but brittle and empty inside

glorifying all three is an art that is faultless
root so the tree could rest
body so the tree could be whole
bough so the tree could breathe

5. when art is the way

the artist will become a collector of opinions
they interact with all three levels of the same tree

a collector view
the enviroment
institution
the mass
from the outside

the artist speaks from the heart
practice
being
liberty

and both of them are partially right

what I want to strive for is not to choose a side
but to discern how the tree thrive
when root body and bough in a beat lives in harmony

art is a bridge between heaven and earth

the artist not only nurture the root in a restful state
not only discipline and fine tune the body
not only encourage the bough to welcome the breeze

but also accept every thing as a whole
root, body, bough

all together sing the same song
a song of freedom of expression.

từ cuộc tranh luận giữa họa sỹ & nhà sưu tầm, nói về
cây nghệ thuật
bản giao hưởng của gốc thân và cành

có những cuộc tranh luận rực lửa
có những lời phê bình sắc lạnh
và có những tiếng nói cất lên từ trái tim đang run rẩy
trước tự do
họa sỹ và nhà sưu tầm
dù đứng ở hai bờ sông
đều cúi xuống dòng nước nghệ thuật và soi bóng mình nơi đó

nhưng nước không chỉ phản chiếu khuôn mặt
nước còn phản chiếu cả bầu trời
cả gốc rễ ẩn sâu bên dưới
và cả nhánh cành vươn cao tìm ánh sáng

với tôi
thế giới nghệ thuật có cả ba: có gốc, có thân và có cành
tất cả đều xứng đáng được ca ngợi

1. gốc – nơi bóng tối tan thành ánh sáng

dưới lòng đất là bóng tối
nhưng cũng chính nơi đó
rễ cắm sâu tìm nguồn mạch

gốc là vô minh được vượt qua
là hành trình một cá nhân đi từ mù mờ đến trí huệ

gốc là nơi người nghệ sĩ trở về với vô ngã
để thân tâm rỗng rang như ống trúc già cứng cáp
và chỉ khi đã rỗng rang như thế
Thiên nhiên và Thượng Đế
mới có thể chảy qua trở thành sáng tạo tối thượng

nếu gốc yếu cây sẽ gãy trong cơn bão
nếu gốc mạnh cành có thể đón gió mà không sợ cuồng phong

gốc là cái nền thầm lặng
không ai nhìn thấy nhưng lại quyết định tất cả

nó là sự tĩnh lặng của thiền
là khoảnh khắc nghệ sĩ không còn hỏi “ta là ai”
mà để chính sự sống trả lời
qua từng nhát cọ từng âm thanh từng hình khối

gốc không phô trương
gốc chỉ trao quyền hiện diện cho mọi điều khác

2. thân – nơi dòng chảy hóa hình

nếu gốc là cái vô hình thân là cái hiển lộ

thân là kỹ thuật là tri thức
là triết học là lịch sử nghệ thuật
mà nghệ sĩ gây dựng và hấp thụ

thân là kỷ luật là cấu trúc nâng đỡ cho dòng cảm hứng

không có thân gốc chỉ là bóng tối im lìm
không có thân cảm hứng dù mãnh liệt đến đâu
cũng tan biến như gió thổi qua mặt hồ

thân chính là chiếc ống trúc già cứng và đanh
qua chiếc ống ấy
dòng suối thần hứng tuôn chảy
không rơi vãi
không tản mát
mỗi lớp màu trên toan
mỗi âm thanh trên bản nhạc
mỗi chuyển động trên sân khấu

đều là dấu ấn của sự tu luyện
không phải tu luyện khổ hạnh
mà là tu luyện để có hình hài cho vô hình

thân là cầu nối
giữa cội rễ và bầu trời
giữa nội tâm và công chúng
giữa tĩnh lặng và biểu hiện

3. cành – nơi nghệ thuật gặp đời sống

cành là nơi nghệ thuật đụng chạm vào thế gian
đó là không gian của marketing,
của phê bình
của công chúng
của truyền thông
và của thị trường

đó là nơi nghệ thuật có thể bị hiểu sai
bị bóp méo
hoặc được tôn vinh
và cả định giá

cành đón gió và ánh sáng
nên cũng dễ bị gió bão quật ngã

nhưng không thể vì sợ gió mà không mọc cành
không có cành
cây chỉ là một khúc gỗ cô độc

nghệ thuật cũng vậy
nếu không dám bước ra ngoài
nó sẽ không thể giao tiếp với con người
không thể trở thành cầu nối cộng đồng

phê bình
Marketing
truyền thông
danh tiếng
tất cả những điều ấy không phải kẻ thù
nếu người nghệ sĩ giữ được trục đạo đức và thẩm mỹ bên trong

khi tâm đã vững
phê bình
marketing chỉ là chiếc lá vẫy chào gió
không phải cơn bão cuốn phăng cội nguồn

cành vươn xa không để khoe mình
mà để tỏa bóng mát

đó là phẩm chất của nghệ thuật
biết đón nhận đời sống
mà không đánh mất linh hồn

4. xin hãy giao hòa ba tầng – bài ca toàn thể

một cây khỏe mạnh là gốc sâu
thân vững
cành rộng

nghệ thuật cũng vậy
gốc là
vô ngã và trí huệ
là nguồn mạch nội tâm

thân là
tri thức triết học kỹ thuật…
là hình hài biểu hiện

và cành là
marketing và công chúng
sự lan tỏa và chia sẻ

nếu chỉ tôn thờ gốc
nghệ thuật sẽ thành ẩn tu
khép kín trong núi rừng

nếu chỉ ngợi ca thân
nghệ thuật sẽ thành sản phẩm khô cứng
rỗng
thiếu linh hồn

nếu chỉ đuổi theo cành
nghệ thuật sẽ thành showbiz
rực rỡ
nhưng dễ mục ruỗng

ngợi ca cả ba
đó là nghệ thuật viên mãn
gốc cho cây sức mạnh tĩnh lặng
thân cho cây dáng hình trọn vẹn
cành cho cây hơi thở của đời sống

5. khi nghệ thuật thành đạo

họa sỹ và nhà sưu tầm tranh luận
họ đang chạm vào những tầng khác nhau của cùng một cây

nhà sưu tầm nhìn từ ngoài vào
môi trường
thể chế
khung lý thuyết
công chúng

họa sỹ nói từ bên trong ra
thực hành
bản thể
và tự do

cả hai đều đúng với từng phần

điều mà tôi hướng đến không phải là chọn phe
mà là lắng nghe tiếng cây vươn lên
nơi gốc thân và cành giao hòa trong một nhịp thở

nghệ thuật là cây cầu nối trời và đất

người nghệ sĩ không chỉ chăm gốc trong tĩnh lặng
không chỉ mài thân trong kỷ luật
không chỉ mở cành trong gió đời

mà còn nhận ra tất cả là một
gốc, thân, cành

đều đang cùng nhau hát một bài ca
bài ca tự do của sáng tạo.


 Cư Sĩ Minh Đạt is one of Hoàng Anh Dũng’s pseudonym. The poet and artist currently lives in Hồ Chí Minh City, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

TEARS OF THE DEEPEST GREEN | NƯỚC MẮT MÀU XANH THẪM | Nguyễn Văn Thiện [chapter ONE]

Budapest by Đinh Trường Chinh

A novel in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm 

My love, you’ve told me, on faraway Mount Chu Mang there’s a spring haunted by demons. The streams were green, a slimy suspicious green. What are demons? You said you didn’t know. Since forever no one knows where these demons lived exactly. There was a lot of talk about them but no one knows for sure their history. You said my love, only the white pebbles at the heart of Kroa spring knows the true evil of these demons. Some say this and that, for instance on bright moonlit nights, from the bottom of the streams echoes a crunching grinding sound, if you would take a closer look you’ll see demons chewing on pebbles. Why do the demons chew pebbles and not souls, or at least try to tempt the souls? The locals say it’s possible that in a past life, these pebbles were human, in a place they had existed together with the demon’s, and perhaps, between them, there’s some kind of debt. You shake your head, exasperated, who knows how they were “perhaps” wronged in their last life, plus, in this dark deep enormous mountain, with so many strange events, how could one possibly know everything.

You chided that my expertise on the demons was limited, and I did not see the full picture. Or did I take the demon’s side, pretending not to know not to understand? I swear I hated the demons as much as you. I’m not in agreement nor am I pretending to be oblivious. You mumbled, they’re there, they’re moving around, their faces as flat as anything, no nose, no mouths, but they’re very good at finding things, they know where the pebbles lay, they’re greedy, they fought each other for each bite, cursing at the bottom of the springs.

Black streaks curdled in the spring-like blood, as the masks of the demons floated to the surface of the water. The masks continued to curse and fought with the utmost gravity. How many times have you eaten? Often, they couldn’t remember how often. No, it’s mine. No, no, it’s for all of us! They continued to incoherently argue with each other. Their mouths giving off a stench, possibly soil, possibly tree sap, possibly the smell of blood… holding a bunch of flags they ran through the night, flags, blood red, flags half red half black, rectangular flags. They used the flags to cover their faces, and used them to disguise themselves. During the day, they played a game of hiding and seeking in the forest, at night, to fill their stomachs, they descended into the streams searching for pebbles to consume.

The pebbles left behind at the bottom of the stream huddled together looking for ways to escape. But where could they go, since where on the mead were void of the footprints of demons? The journeys are well documented in the history of Mount Chu Mang, many years later elders relay these painful stories to their children and grandchildren, the aching sad injustice told over and over again.

At the end of the dry period that year, rumours spread across the region turned Kroa village upside down. On everyone’s mind, not sure who started the rumour, said, soon, Kroa village has to vacate their land for the government’s new farming and development project. Everyone was on edge. Moving to where? The whole village or just a few families? The discussion hasn’t ended before there were more rumours of moving to other places, still living on the land but no longer working in the fields, everyone shall have a job allocated by the government. More disruption. If not working in the fields, then what shall we do for food? What kind of work is other work? Will the Ede people year-round on the fields tending to their rice paddies be able to survive?… Gosh, there were so many stories.

The days at the end of the dry periods, sweeping, constant windy days. The evenings, sitting by the fire chilled to the bone, behind the village the wind gave the boundary of the forest a whipping. To the Kroa people, the longest days are at the end of the dry period. Stores of food are almost gone, more work yet to be done. Stepping away from the ladder means constant unforgiving wind. Everyone would always end up huddled around the stove fire. The fire had come to live with the Kroa people for a long time now. The exchange of smiles and glances, the long and short stories all began by the stove fire.

Then the worries of the Kroa people arrived. Some dozens of homes had to be relocated to the other side of the spring leaving the flat side for the building of a dam. Again piling on top more work on a pile already as high as a mountain. The fields have already been cleared, will planting be possible after the move? Relocate the houses first or plant the corn and rice first? As though they stepped on an ant nest, every household was in a mess. H’Nhi rushing about almost in a run, the gùi on her back bouncing to the rhythm of her brisk steps. Bumping into ami huffing and puffing running from home just after wading through the shallow part of the spring. From the look on mí’s face, H’Nhi knew something was wrong.

“What’s wrong, why all the rush mí?”.

“So much to do child, we have to go home now, your poor elder sister!”.

“Which sister? Mí Kuk or Mí Bích?”.

“H’Lum, something is wrong with her, she’s in a lot of pain!”

H’Nhi quickly threw the gùi at the foot of the ladder, raced after mí. Mí Kuk, that is H’Lum is H’Nhi’s oldest sister. After taking a husband, H’Lum was supposed to bring her husband home to live, but the house was crowded with younger siblings, and Y Doan lives alone with his elderly mother so the family agreed to allow the pair to live at the groom’s home. Their brother in law is an alcoholic, and a habit of cigarettes, his mother elderly and weak, a million things fell on H’Lum’s shoulders. Always stinking of alcohol, their brother in law is almost ten years older than their sister. His eyes unfocused protruding like a gecko in some corner of their home. Sometimes so drunk he’s draped across the ladder drooling singing some lewd song in Kinh dialect. The three kids beginning to shoot up, could shoulder the gùi and helped their mother carry water up the ladder because H’Lum’s back had begun to stoop. Their brother in law out of mind, like a rotting wooden statue, staying put wherever you throw it.

By the time H’Nhi arrived they’d already taken her sister H’Lum to the medicine man, foundering ami followed, sighing as she stumbled along. H’Nhi stood quietly in front of her oldest sister’s home, tears rolling the length of her face. Three days later her sister passed away, the medicine man said her death was due to end-stage hepatitis. The three small docile children sat huddled together crying, long green snotty noses. Something like smouldering ash inside H’Nhi began to burn. A part of her sorry for her sister, but her heart tightened looking at her sister’s three children shrivelled in a huddle whimpering. Her alcoholic brother-in-law alone with three small children, what shall be ahead for the coming days and months? H’Nhi shuddered suddenly with a chilling thought. Sister, why return to the shores of our forefathers so early!

Then, of course, the rain came. The corn, beans, and seedlings began to sprout. Dozens of Kroa village families have abandoned their familiar thousand years old home, a  lifetime in Kroa spring, for the other side of Mount Chu Mang. Gut-wrenching leaves the water, the spring for the (electrical) dam. The night before the village departed. Old Ang stood for a long time in the spring, tears running. The youths tried to console the old man:

“Let’s go, old man, a dam is a good thing, plus, they’ve compensated us with lots of money, we can survive on the other side of the mountain don’t worry”.

Hearing them talk like that, old Ang heaving harder wept. They don’t understand the heart of the old. Regretful is the regret of ever hearing the familiar trickling sound of Kroa spring like the voice of a loved one, missing is to miss the foot of the ancient Pơlang blooming ruby red blooms like someone igniting a fire every seasonal festival, endear is the endearing generous forest providing the village with abundant bamboo shoots and mushrooms. Not because the old man didn’t realise leaving means money, leaving means compensation.

The young men stopped waiting and left, watching old Ang continue to stand and cry. The crowded footsteps trampling noisy, children crying unsettled mixed in with the adults singing. The Ede are like that, happy they sing, sad they sing. “I’m like a wild animal, wandering in the dark forest…” not sure if they sang in joy or sadness. The old man witnessed their silent shudder before turning around and walked away. Suddenly he felt something wrapped around the foot of one of his legs. The old man looked down, it was just Kra the ape. The ape held onto old Ang’s leg. The old man picked him up, said, ah, so you also know regret and longing? You don’t want to leave either? The ape screech kéc kéc. The old man held him for a while whispering something soothing in his ear before lifting each heavy foot, left. A parrot perched precariously on the old man’s shoulder continuously mumbling incoherently. The old senile parrot is also a friend of old Âng. The bird continued parroting: “Forever, forever, run, run…”.

In that sad afternoon, there is someone also very sad. That is me. With Kroa village, I’m a temporary resident, but never unfamiliar. Mother gave birth to me here, against the law of nature, and left me here with old Ang. Old Ang told me many times that:

“I felt sorry for your mother, told her I will raise you till you’re old enough then return you to the wilderness. But now I can’t let you go, I’ll keep you with me, okay child. If you leave I’ll be lonely, who could I possibly live with!”

I’m actually Kra, the ape who’s been living with old Ang for more than ten rainy seasons in Kroa village. So I won’t starve to death from nourishment and thirst, old Ang had carried me from house to house begging new mothers to nurse me with their breast milk. The milk was amazing! Till now, each time I pass a young woman with plump round breasts I’d literally smell the light fragrance of milk and immediately be dazed with cravings. Wishing I could just covet that breast, latching on firmly to slowly let the milk drizzle out into my mouth, overwhelming my taste buds warm, refreshing, sweet!

I followed old Ang up the fields everyday. When everyone was busy sowing corn or rice I would busy myself in the forest. There are many tranquil parts of the forest behind Kroa village. I’ve never seen a forest more beautiful. But then again I’ve never been anywhere else. Sick of picking fruits and swinging, I would then chase the crickets around in the middle of the fields. Old Ang had to call me a few times before I’d return home. The old man’s eyes wide with threats, I’m going to return you to your mother! I’m used to the same threat, but each time I hear it I would still pretend to be afraid, cringing, energetically scratching my forehead. I must have looked at a picture of ridiculousness, because old Ang would look up, his eyes squinting trying not to laugh before looking down and continue to wave his stick. I chased after a squirmy little snake, ran all the way to the spring.

In the last few days before the move. I was in a state of undefined sadness. I climbed all the way to the very top of the ancient Pơlang in front of the village, lay there in a fit of stubbornness ignoring old Ang’s calls till he almost lost his voice. Looking at each of the four directions. Kroa village falls right in the middle of the valley. Kroa spring runs from Mount Chư all the way to the head of the village then swells up like a giant banana frond. From mount Chu Mang looking west is the Basin by the Srepok river. Before running to the other side of the mountain emptying into the bigger river, Kroa spring curls and dances in soft waves. Next to each side of the spring were flat land where people cultivated rice, further up, higher every year corn was sown. I love eating corn the most, nutty, plump and juicy! From old Ang’s house in the middle of the village, a couple dozen hops and I’m by bay at the river. I bathe in it umpteenth times, impossible not to remember. The water is clear, refreshing and cool. And right there, I was able to admire countless pairs of thighs from all the women in Kroa village. The Kroa women are known for their beauty far and wide. In the afternoons, on the path from the fields, the women relax at ease dropping their gùi on the bay to bathe. H’Yang, H’Nhi, H’Mai, H’Linh… the women are all beautiful, with their fair smooth thighs untouched by sunlight, and the lingering fragrance of milk.

Because of this repeated baiting of the women at the bay, old Ang punishment was to make me fast for two days straight. One time, as usual, I descended to the water in the late afternoon, the time the women were on their way home from working in the fields. I hid in the bushes near the water, when H’Yang and H’Mai took off their skirts I immediately jumped out from the bushes, pulling a face laughing noisily kéc kéc. The two women, scared to death, furious chased after me with chunks of wood. I retreated backwards as I taunted them, pulling faces before running all the way home climbing straight up the tree. After that time, old Ang put a silver collar with a bell around my neck, each time I jumped up and down the bell would ring, when I’m happy, or sad. The old man said, now you can’t go scaring any kid, you haven’t set foot near them and they know you’re coming, forget about sneaking up on anybody!

Yet tomorrow was already the day we’re leaving. I was sad, verging on tears. Will there be a bay, will the corn crop be any good, will there be an ancient shady Polang like this here each noon in the dry period to dangle in the branches and sleep. I was thoughtful for ages till I fell into a long sleep, by the time I was awake the village was deserted, not a sound of any human movement, not a flare of fire light. The children’s chatter sounded further and further away. Each grain of familiar sound falling apart drowned in the late afternoon light. I ran towards the water and caught old Ang standing alone crying. The parrot on his shoulder oblivious: “Forever, we run run run…”. In the old man’s gùi is a sickle, a pickaxe blade and hands full of rice. The old gong strapped across his back. The old man hugging me said:

“Everyone’s gone, we must go now child. From tomorrow you can no longer come down to the bay to wash, I’m the same, long ago, I met a girl and loved her right here, we boys have laughed and hung out here, slaughtering cows, pigs, right here…”.

The old man lifted his skinny arm pointing at the bay by the river. In the shade of the late afternoon, a mist pulled across the water in Kroa village, like an illusion. I looked back for the last time, everything in haste withdrew into the sombre darkness. Old Ang and I in laden steps advanced toward the new land. On old Ang’s skinny sharp shoulders, the ancient parrot with its tattered tail perched, hanging on for its dear life, now and then screeched something incoherent, run, run…

The next night, the chief called for a village meeting in the new place. Chief Ma Noi is middle age but a quick thinker and decision maker, dark shadows were drawn across his tired face, stood up to said:

“I know in your heart none of you wanted to leave, I’m no different. But here is an objective of the government: we must accept it, have it our way we can’t, not having our way we can’t either. So, no matter how tough, we must pull our resources together and rebuild in this new place. Each person tries a little harder. Each family has been compensated with money from the government, the job of re-erecting our homes will be easier. Our youth can lend a hand to the smaller family who needs it, one person working, ten people working together, it all shall be done, don’t worry…”.

Someone’s voice cuts through, possibly Mí Vắt:

“How soon can we go back to Kroa to harvest the rice?”.

Everyone roared with laughter. Old Ang censured:

“Look now woman, you’ve already accepted the compensation money that land now belongs to the dam, the rice now also belongs to the dam, how can you return to harvest it!”.

“But rice is now in bloom, not harvesting it, is a waste!”.

Everyone quietened down. No one uttered a word. It’s true each field in Kroa was swelling with milk and honey, just another week of the moon then they’ll be ripe. The excited air of the gathering died down completely. The torch fire sizzled away. The light of the fire flickering dims then flared up, lighting clearly each sombre, despondent face. Far far away, came the echo of an owl. The late hour of the night. Ma Noi had to cut through the heavy silence like a gùi full of rocks laden atop all of our shoulders.

“Tomorrow they’ll bring the bulldozers… forget about such talks, another important thing is what to name our village. Before, Kroa village was bound to Kroa spring, now there’s no more spring, should we change our name?”.

There were lots of oohs and ahhs, and yeah, Ede people named their village after rivers and springs, after mountains and meadows, Kroa village belongs to Kroa spring. The water spring is also a member of the village. Many ideas were thrown around, everyone rushing to speak. Old Ma Lưi said:  

“We’ve left to build a new village but our hearts are still back at Kroa spring, I know this. With ideas of changing our names, for example Mí Hoa like the name of Mount Chu Mang, or Ama Kim wants to name us after the Srepok river. But in the hearts of the elders here it’s not sound. It’s true that Mount Chu Mang is very big, but it belongs to everyone in the region. The Srepok river is the same. So, the best thing to do is to keep our old name: Kroa village, so our children and their children can recall the peaceful time in our village, of their forefathers, the time by the spring, a bay of sweet clean clear water, the rich and abundant fresh fields… The old man’s voice slowly quiet, quieter, mixed in with the scattering sounds of sniffling. Mosquitos from the dark dived straight into the fire, sizzled ssspt ssspt, char burnt odour permeated the air. The gathering pulled along the length of a dying fire before ceasing completely. Everyone settled for the moment. No longer by Kroa spring but the village shall remain Kroa village. Ahead is erecting new homes, worrying about a proper place to live and settle first, like everything else all shall follow just like that we should keep at it”.

H’Nhi sat still the entire time of the meeting in her heart something was burning, eager for the meeting to be done so she could run home. In a temporary shack, Ami and the three grandchildren, sister H’Lum’s kids, were building a fire to roast yam. Her brother in law, nowhere insight, probably missing his drink out looking for it. H’Nhi looked around for wood to feed the fire, and cooked instant noodles for the whole family. Watching the children hungrily gobbled up the soup, something in H’Nhi broke. Birds in the dense shrubs earnestly call each other. H’Nhi thought of Y Wen. The last few days have been busy, we may have crossed paths, glance at each other but that’s all. Y Wen has a small family, Ama Ami are old, everything falls on the young man’s shoulders. H’Nhi thought of her older sister H’Lum. Before, when her sister took a husband, his family was also a small family. If eventually she takes Y Wen for a husband, what then? The whole idea was suddenly ridiculous, it embarrassed her. She doesn’t know if he even loves her let alone going that far. At the moment the mess is huge, piling up into a mountain. Casting the thought aside for now, and worrying about it later, H’Nhi consoled herself as she tidied up throwing everything temporarily into the shack to sleep.

That night, H’Nhi dreamed of her sister H’Lum, her eyes puffy from crying, and spoke to her from the other side, the Atâu bay is so sad, she misses the children but doesn’t know what to do. Then she asked how the children were? Does Y Kuk know how to take care of his sister? Y Siên, is he eating? H’Mary the baby, does she still ask for milk? The whole time crying. The sisters hugged each other together weeping. H’Nhi asked if last night her sister spirit appeared as the bird Tlang hêă in such tormenting calls by the water? Sister H’Lum nodded her head. “I had thought for sure it was you, on the bird’s leg was a red thread I had tied on your leg. So when will you change into a dew drop to be reborn on earth?”. She shook her head, I don’t know, that’s up to Yang Aê Diê. H’Nhi plead, try to be reborn in our village okay sis! Sure, no matter how many lifetimes I shall always be an Ede Adham of our Kroa village. Her sister also said, on this side of the land of Atâu is very cold, very very cold, the meat and bone on me just want to fall apart…

A scream from H’Mary woke H’Nhi. The child was probably dreaming of her mother. H’Nhi got up, picked up the child and carried it with her back into the shack. The two boys full after the instant noodles hugged each other in deep sleep. Their drunken father plopped by the fire in laboured sleep. H’Nhi hummed a lullaby, the child tucked her tiny head with a couple of yellow strands of hair into H’Nhi’s chest peacefully slept.

Like that we ended up on the other side of Mount Chu Mang, half a day on the road from the old village. The village on the spine of a hill of red earth, back further into the mountain. Without a spring, the villagers chose a small hill, digging trenches for tubes of Bambusa bamboo to channel fresh water from inside the hill. The cool stream of water poured day and night, not as much as the spring but the sweet water was very refreshing. I thought this stream is probably somewhat related to the Kroa spring, and Srepok river of the Basin. Old Ang cleared a flat area beneath the Kơnia to erect our home. Old Ang shuffled around doing everything himself. The young men offered their help but he said no, no need, go help other families, I’m fine doing it myself. I couldn’t help him much, but now and then I hand him a rope to tie or other things like that. I sat in the fork of Kơnia branches peaking through the canopy, there were scatterings of hills, and possibly a very thick forest, but very far away, I’ve never dared to venture there. Looking beyond that the mead fans out endless, a misty green.

“Kra, run down to the water with the gourd and get me some water, I’m parched!” – Old Ang told me.

I took the small gourd hopped along to collect water. Arriving, there were a few people already waiting. One teased me:

“Kra, make a funny face for me kid!”

I remained quiet, and didn’t answer. That was Y Ní, Ma Hin’s son. He reached out to pull my ear. But I bared my full set of teeth screeching kéc kéc to scare him. The whole bunch of them burst out laughing. Then I also collected a full gourd of water. The kids were harmless, they liked to muck around. They’re afraid of old Ang. Old Ang warned: “You kids can play with Kra, but no hurting him, do you hear!”.

Old Ang was sitting against the tree as I brought him his water. “Ah kid, I’m tired Kra, where did you go for so long, you’re busy teasing those girls again!”. Sad by the unjustified remark I screeched kéc kéc, after handing the gourd to the old man I climbed straight up the tree to rest. Truthfully what I love most is a chance to admire those beautiful white thighs, but usually I dare only a glimpse from the shrubs and not for too long either. Old Ang is very stern. Old Ang called: “Kra, come down I want to give you something”. I jumped down, the old man pulled out a roasted yam from the gùi and broke a piece for me. Try it kid, it’s very good. Spoke as he devoured the yam. In the old man’s eyes there’s a sadness hard to describe. I asked myself, I wonder if there was a time when old Ang enjoyed looking at women’s thighs? When the old man looked at those thighs was he happy or sad? The old man worked alone, never ever needing any young men’s help. After two days we had a new home, though it was small, it was erected. There’s a place for a mat to rest, a place for a cooking stove. Where I sleep is a flat wooden chair made from the base of a tree near the stove. The parrot perched on a beam, mumbling something, dead asleep!

Old Ang has been living alone for a long time. The old man was alone when I first arrived in Kroa village. Some lonely nights after a few drinks, the old man hugged me as he retold stories. The old man said, those were happy days, when I was younger, building dirt paths, free I would go hunting, lots of fun! The old man continued, now it’s different, everything is different now… Up to here, the old man stopped talking, pouring more wine. I would sit waiting for the old man to hand me a banana or a corn. Each time he talked of the past, he would feed me more and more food. Hence every time the old man mentions the past I’m really happy! In a spurt of the moment, I would climb all the way onto the roof beam, hooked my legs swinging upside down. Swinging and munching on corn is the most wonderful thing in the world for me! Old Ang’s eyes widened: “Yep enjoy it for now, there’ll be a day when you have to bear it all! Joy, sadness, lots of joy, lots of sadness!”.

In the new village I worked out, the old man is even sadder than before. The pair of bright eyes now full of shadows, the darkness hidden beneath the thick grey lashes of time. The old man’s new home is at the beginning of the path leading to the water bay. Late at noon, the young men descend to the water to bathe and carry gùi of water back, usually they would stop by the old man’s place, sit to chat for a while before they leave. The young men are always in good spirits, old Ang said to me: “These kids do not know sadness!”. They, in passing, asked the old man: “Old man, do you need more water, we can gùi it up for you?”. Old Ang waving his hand would say, yes yes, I have enough, enough. And they would continue on their way, their laughter spread all the way down to the water bay. The kid Y Pre singing: “wandering across the meadows mountains…” The young men went, the old man sat watching them leave, mumbling, yes yes, this meadow, this mountain, this water…

Everything was eventually in its proper place. Homes erected. The roads cleared. The children clean running around playing. H’Nhi took the three children all the way down to the water bay, scrubbing and bathing each child at a time. Only a few days were busy tidying up the place but every single one of them were so grubby, feet full of dirt, nose running snotty green. The oldest brother is barely taller than the adult gùi. All clean, they’re again beautiful little angels. Admittedly they’ve inherited all their beautiful features from the blood of Ayun. Y Kuk, his little brother Y Sieng both have lovely big brown eyes, H’Mary ruby red lips, long lashes and adorable round bright eyes. Looking at her, H’Nhi missed her oldest sister even more. She’s the spitting image of sister H’Lum. Each time she lowers her head, her lashes frame her entire rosy cheeks. From the day Ami passed away, she’s her aunt’s little tail, coming dusk she would sit at the top of the ladder waiting, eyes staring at the path leading up the fields.

On the scale of one, she’s sad for her sister H’Lum, but ten times that for the children. The day of the burial ceremony, everyone searched the entire place, the cooking corner, nothing of value. Everyone was uncomfortable, looked at each other. Old Ang announced: “We must divide everything evenly, she must have her entire share to reside in Atau. A thousand lifetimes of law and tradition today should be the same, understand!”. In the end, they buried her with a sickle, a pickaxe blade and an old pot, with a fist full of rice. That was how she returned to Atau’s bay the life of a poor woman in the mead, simply, alive or dead. Ami wiping the tears pouring on her cheeks as she spoke: ”Your sister has gone to the next life, leaving all that struggle of living behind for us!”. “What’s that mi?” – H’Nhi asked. It’s this “cue nue” business what else. Suddenly H’Nhi heart was racing. Since that day sis H’Lum passed, H’Nhi has quietly worried. Gosh Yang, “cue nue” gosh? Passing down? No…

Ami spoke as though she’s talking to herself: In our family meeting after my daughter H’Lum pass, both the husband and wife families were supposed to unite on the decision of “cue nue” so the dead can be comforted in order to rest in peace and move on to the land of Atau but Y Doan he’s a drunken mess, asked anything and he nods, and his mother is too old, senile remembering some and then not, so still till now nothing has been discussed… Stuck with also having to move the village, everyone is busy. Up to now much is still needed to be done. So, wait till Y Doan is a little sober then we can have this meeting again. H’Nhi annoyed: “How could he possibly sober up, he’s a drunken spectre!”. As she spoke, H’Nhi reached up to unhook the gùi from the bottom step of the ladder. Ami’s gaze followed her daughter, through the tears.

After all the homes were erected, the solution of where to live in the new place was resolved, Kroa village organised a mass of thanksgiving for the water bay. Usually, thanksgiving for the water bay is celebrated after the harvest. But this year, the fields have been left behind for the electrical dam, no harvest, the mass was performed earlier. The young people were left in charge of the cleaning and clearing, decorating turning the water trough into a spectacle. The water trough from now on shall be Kroa village’s new water bay. Without water, people can’t live, the ox, the chickens won’t survive, and the trees and grass would wilter. Most important is water, most important is the water bay! Old Ang nodded quietly to himself, admiring the only gong left in the village.

 The young men carried huge flat blue rock boulders to line the water bay. Y Wen most adept was allocated the job of erecting poles to decorate according to tradition. Seven old Bambusa were chopped and wedged together with carved joints to form the water trough. Happiest were the children, they played all day by the bay, checking out the erected poles and splashing water to wash their face. By the time H’nhi arrived everything was nearly done. The Sun tipping towards the other side drawing a shadow across the mountain range passed Mount Chu Mang poured across the water bay. The sunlight piercing a layer of misty dust strewn water vapour in the dusk light, forming a thin curtain blanketing the entire mead. Seeing H’Nhi, Y Ní elbowed Y Wen, chuckling:

“Someone’s looking for you!”.

Guessing they were talking about her, H’Nhi bright red blushing, smiled. Y Ní continued to talk in a lowered voice:

“Definitely a blossoming beautiful Edap flower!”.

H’Nhi fumbling fiddled with her skirt, unloading a couple of gùi on the ground before collecting water with the gourd. Y Wen tried his best to act normal, in the calmest voice, asked:

“Collecting water so early H’Nhi?”.

“Yes, so tonight we can steam sticky rice for the water bay’s thanksgiving tomorrow Y Wen”. 

As a thought just came to him, Y Wen blurted:

“Ah, tonight is the youth meeting, don’t forget to come H’Nhi!”.

The very last words Y Wen spoke very quietly, mixed in with the sound of water hitting the lips of the gourd, gentle, warm.

Exactly every single step of the tradition of the Ede people was followed, the thanksgiving mass was done to completion. A large pig was slaughtered at the head of the water trough to demonstrate the loyalty of the villagers to the Water Yang. Naturally old Ang stepped in the role of the master of the new water bay, the designated master of the ceremony. The old ancient shaman came from the other side of Mount Chu Mang, all the way from Mtha village and couldn’t arrive in time. Old Ang stepped in for the entire role. After old Ang displayed the offerings around the water trough, in readiness for the ceremony three young men sat in attention, while five young women in solemnity stood behind them. Old Ang wrapped himself in a long tassel skirt, and traditional shirt. A suit the old man rarely puts on, tucked neatly away at the bottom of the gùi. This morning, when the old man went rummaging for it in the  gùi found in the middle of the back, the shirt was a hole munched through by mice. With no other shirt, no time to mend it, the old man left the hole, and wore it just like that. The old man extended his lanky arms smoothing out the length of his shirt, slowly kneel down: “Oh Yang, today, Kroa village would like to give thanks for our water bay, we would like to also invite the Mountain Yang, the River Yang, the East Yang, the West Yang to come and celebrate with the people of Kroa village to watch over us and bless us with good wind and rain, the water sweet pure and fresh, prosperous harvest, and bles the young and old of our village with good health… Oh Yang…”. Old Ang’s voice, shaky, resounded through the falling water, curled up in the wind, permeating Mount Chu Mang. Behind the old man, solemn faces. Behind him, I saw the hole on the shirt on the old man’s back shifting, like the mark of a bullet just fired straight through his back. As soon as the old man stopped speaking the crowd was giddy with happiness full of cheerful chatter. The crowd snaking in a line followed old Ang to collect water from the trough for their own family, prayed for the Water Yang to bless them, and to watch over them. H’Nhi had the job of carrying the water with the other young people and didn’t have the time to watch over her niece and nephews. Hence the three of them and Ama H’Lum’s kids circled old Ang, following him from one house to the next. Little H’Mary couldn’t keep up, kept tripping, whinging, shouting protests. By the time every home has been visited the sun was casting prominent shadows. No has not been enough time to erect the traditional long house for official meetings and celebrations. The spirited celebration was taken to old Ang’s house. Beneath the shade of the Kơnia, on the wooden platform covered with fresh banana leaves was a spread of meat and wine, roasted bamboo rice. No chance yet to brew the sticky rice wine, they in the meantime drank spirit. After a few short words from old Ang, everyone happily drank the spirit, forgetting for a moment their worries and the hardship ahead.

Old Ang didn’t drink much, but sat there watching everyone eat and drink, eyes squinting and smiling. The old man said to the young men: “Drink kids. Drink your fill. The mead is waiting!” What he said sounds familiar. The village chief Ma Noi in a loud voice, over the top of even the children: “Drink, drink to the new water bay, new place. All shall be good again!”.

In the middle of merriment everyone saw Ama Kuk bent over. After some scuffling: Y Doan out of sight since this morning now? Already drunk! Ama Kuk said nothing, as he grabbed a bottle of spirit and poured himself a full cup before collapsing on the ground, downing the whole thing in one gulp.

He drank another cup before letting out an awkward laugh, said, his speech slurring:

“I gotta be drunk! Yeah, so what if I’m drunk! I’m going to continue the line with H’Nhi. Ha ha, I’m gonna soon get a young pretty wife…”

Everyone looked at each other, shook their heads. Oh dear Yang! That Y Doan, it’s his family’s business and he’s telling everyone! H’Nhi rushed over and grabbed her brother inlaw’s arms dragging him into the house, shoved another cup in his hand as he plopped himself in the kpan. Mumbling still incoherently. “H’Nhi girl, I’m gonna continue the line with you kid, yeah sweetie, ha ha!”.

H’Nhi’s bright red face turned as white as a ghost. I suddenly saw something familiar in her features. How could that be, did we know each other in the last life? I didn’t want to mention it but the more I looked the more I felt an odd familiarity of having met her a long time ago. Yes, the more I looked at her the more I felt I knew her, I liked looking at her, I’m never bored of looking at her. Old Ang said: “Hey Kra, you nosy ape, you like listening to other people’s business huh, go play”. Caught by surprise, I scratched the top of my head bashfully then from my squat hopped straight out from the ladder, climbed to the top of the tree.

The thought of a last life felt confusing and odd, but the feeling of familiarity had a hold on me each time I saw H’Nhi. Hence when old Ang isn’t in view I would swing through the trees in each step followed H’Nhi all over Kroa village, all over Chu Mang. After that day, H’Nhi was like a person without a soul. Weeding in the field, she peered down the valley. Into her sadness I was pulled along. Those eyes though sad were still beautiful. The scene beneath those eyes became even more beautiful. I saw a swarm of butterflies unsure from where ascended from the valley, shimmered in the cool fresh wind. The wind was so fragrant, it’s true, opening my mouth directly into my stomach swallowed it. Two rolls of tears ran down her rosy cheeks. I knew H’Nhi was upset about something. Y Doan wants to make H’Nhi his wife to continue the line. This has been a tradition for thousands of years for the Ede Dham people in Chu Mang. If the older sister passes away then the younger sister must take her place, if not sister then the niece continues the line with the brother in law. H’Nhi is like a flower just bloomed by a fresh spring, while Y Doan is scruffy like an old rooster losing its feathers and the use of its wings. H’Nhi has also been quietly in love with Y Wen. I plucked a bunch of leaves and stuffed it in my mouth, don’t know what it was but it was bitterly acrid. I spat it out in a fit of spasms. Why on earth does H’Nhi need to continue the line, so what if it’s traditional law, if H’Nhi does not want it then no one could force her, the traditional law couldn’t either. H’Nhi hearing movement looked up into the canopy. Knowing I was caught, I quickly pulled a toothy smile. She said, Kra, I’m in a lot of trouble, do you know that, how can I not continue the line with Y Doan? I love Y Wen, but I love the kids even more! If I don’t agree to continue the line who will raise them? I squeaked kẹc,  kẹc… There was more I wanted to say to H’Nhi but she’ll never understand, hence everything I wanted to say, I kept it in my heart. A Phí from nowhere perched on a branch began to chirp as though it wanted to say something, I poked a broken branch at it, it flew away into someone else’s field, screeching and dare not to go near H’Nhi again.

H’Nhi after tidying up the field the Sun had already descended from Mount Chu Mang, but she continued to push on. I ended up with indigestion, screeched kéc kéc… H’Nhi, let’s go home, it’s getting dark. By the time H’Nhi was home all the stove in the village was already burning with glowing embers. The three motherless children were sprawled on the floor. Y Siên sucking away at his thumb, green snot dangling, long like jade green earthworms. Y Kuk trying to lull his crying little sister to sleep. H’Nhi dropped the gùi in one corner of the house, rushed to light the fire, chucking some rice from the gùi in the kitchen in a pot. I hesitated in front of the ladder for a bit before I thought of old Ang waiting at home for me alone, I headed straight for home. Not sure which house was roasting corn, the amazing smell of roasted corn made me run even faster. Arriving home to find old Ang fast asleep next to the burning stove, by his side, a wine gourd emptied rolling around completely dry. The wrinkles on his old face rolled on top of each other. I thought, if I was the same age as old Ang, my face would probably be more squishy than that. A wrinkly face full of hairy fur! Both hands dipping into the gùi, I picked out a steamed corn and lifted it to my mouth. Today, I didn’t feel hungry. The corn was young and nutty yet my mouth was completely bitter.

I knew then why I had such a bitter taste in my mouth.

I stepped outside, staring at the direction of H’Nhi’s house. Perhaps, now, she’s feeding the kids and bathing them. Her long hair wrapped around little H’Mary, her singing quietly a lullaby, her voice more soothing than the flute, ascended and flew forever. I heard it in a whiff of the wind. The last few days, lots of wind. The wind spilling from the otherside of Mount Chư , brought with it a gravitating cool air within a constantly shifting mist. I shuddered all of a sudden. Someone’s voice like Y Wen’s, definitely Y Wen’s voice, also H’Nhi as well. I had walked almost to H’Nhi’s house and had not noticed it, “Do you really want to continue the line H’Nhi?”. “No, not because I want to, but Y Wen what about the children! My sister H’Lum returned to my dreams, asking me to take care of them, I can’t let them suffer…”. There were sobs, gasping short breaths. My whole body boiled over. I wanted to walk away but there was an invisible hand that had a hold on me, not allowing me even a single step. Y Wen whispered, H’Nhi dear, we can be together when… There were sudden cries from small children. H’Nhi’s whispered, forget it for now, we can meet each other at the fields tomorrow! After that it was silent. The cries of the children in their dreams also dispersed completely into the night leaving not a mark.

The long expansive months and years in Kroa, I was always lonely, not including the time by old Ang, most of the time I roamed around all alone. The phí full of chatter, I don’t like them, the old ancient senile parrot should be left to the pity of other people, I don’t want to disturb it. Watching it nod to sleep on the top rung of the ladder, I pity it, I gave it my half eaten corn, it looked at me nodding in appreciation then continued to incoherently mumbles. I left it alone, ran after Ama Kuk’s kids on their way to school.

A new village, a new school were also erected. A row of freshly whitewashed buildings was on the way into Mount Chu Mang. The teacher, Miss, was a very clean and fresh Juăn native all the way from town. Miss was in a green top and pants, looking like a grasshopper hopping from one side of the classroom to the next. She blinks rapidly each time she is about to speak. I looked into her pair of eyes, and saw all sorts of strange images. She has this smell about her, also a very strange smell, I was sure of it. The smell permeated the entire classroom. The only thing I don’t like about her is that she’s very strict and very serious. In her eyes now and then blaring thoughts of frustration and anger that shouldn’t be there. Perhaps the kids possibly muck around too much. She often startles the children with the sharp sound of her ruler slapping the top of her desk like a gunshot. Some days, the sound of the ruler was so vicious it frightened H’Mary, so much so that she peed in her skirt. The line of liquid rolled down quietly from the chair, disappearing quickly through the boarded floor dusted with red earth. Miss oblivious, went on with her teaching, before she would stop suddenly, her nostrils flared up. Detected the familiar stench in her classroom! In a stern voice miss demanded:

“Which one of you peed in class?”.

Round pairs of eyes stare back at Miss. Her pair of round eyes stared back at them. Quiet. Poor tiny H’Mary hunch over looking down at the ground. Beneath her feet the row of liquid has dried up but left behind a dark brown mud like spatter. All the eyes gravitated towards her. I watched her shudder violently before bursting into tears. Miss stepped towards her, said nothing, grabbed a hold of her hand and left the classroom. Out in the middle of the playground, Miss said: “Today I’m going to give you a day off, go home and change, do you hear!”. As Miss was talking to H’Mary, the kids in the classroom were already mucking around laughing and chatting. Forgetting their fear for a moment. Y Siên shouted: “It stinks, it stinks, smells of pee!”. Miss immediately returned with the ruler. H’Mary the poor thing continued to walk towards home for a short while before dropping at the foot of a shady tree, like a lonesome little mushroom, in a heap cried alone. I knew, by the time she got home, there was no other skirt to change into.

All the children in the village must attend school, big kids in big class, little kids follow the other little kids. Miss teaches them to sing : The school for babies/ Lay quietly amidst the trees/ Miss is young/ Taught us how to sing… Y Kuk with the bigger kids learn to write on a small chalkboard. In the beginning I climbed to the top of the doorway to watch them learn, nose inhaling the wave of fragrance that came from the blackboard. The fragrance definitely came from Miss. Today, she wears a very pretty green suit. I sometimes quietly compare Miss with the women in Kroa village, her skin is fairer but her breasts are not as full, with such a foreign smell, sometimes it’s light and delightful, but if you keep smelling it, it causes your nose to itch. The ridiculous comparison made me laugh out loud. The children in class sometimes would quietly sneak a quick glance outside, some recognised me, made faces to tease me, before you know it the whole class was giggling, a couple of kids tried to cover their mouth to stop themselves from laughing. Miss looked up and saw me hanging onto the door’s rafter and let out an immediate scream, covering her face. Abruptly stood up, jumped through the window. The hem of her shirt caught on the lock of the window, pulled her backward, she couldn’t run further, hence stood in the one spot, faced the wall crying like a child. Perhaps the look of me was very frightening! I didn’t wait for people to chase me away, so I hopped up the top of the crepe myrtle in the yard and looked down watching. After the excitement, the children all returned to their school work, forgetting about me completely, except for one pair of eyes now and then looking out, signalling for me, and that was Y Siên. He took his pen and drew a circle around his mouth and pulled a toothy grin missing a couple of teeth. I wrinkle my nose at him. Miss looked outside as she worked fully alert. One hand holding the ruler, the other hand holding firm onto the hem of her shirt.

In the Ama Kuk family, Y Siên is probably the laziest. Their mother is gone, father an alcoholic, Y Kuk is alone taking care of his little sister, he’s free to roam, he only comes home when auntie H’Nhi calls for dinner. He’s also lazy at school. Hence it wasn’t hard to figure out that he’s naughty. Miss bangs the ruler on the blackboard screaming: “Y Siên, concentrate!”. Shrivelling up, abash looks down and starts to practise his writing. I sat watching alone till I was bored and left. Words didn’t excite me. Then I remembered the quiet conversation between Y Wen and H’Nhi last night, I headed off for the fields.

 Seasons in the fields usually come with rain. The Ede people living in Chu Mang would usually build a simple grass shelter in the middle of the field, some beneath an evergreen kơnia. When I was near enough to H’Nhi’s shelter the Sun was at its highest point, glaring sunlight like hot flames on the soil. Humidity thick with a never ending supply of misty water vapours. Not a soul on the field, everyone was having a midday nap. Rising from the roofs layered with cogon grass, were streams of aqua green smoke escaped from a log stove. I stopped to take in everything, there was a hint of roasted dried fish mixed in with fresh hot chillies. 

There was no rising smoke from H’Nhi’s shelter, she must have packed rice, no need to cook anything. Cautiously I advanced towards it, very close. The sound of light breathing came from within the tent. I sneaked a quick peek. The odd scene slapped me across the face, it continued to affect me for the rest of my life on Mount Chu Mang. On the deck in the middle of the shelter, Y Wen lay, his head resting on H’Nhi’s subtle thighs, sleeping soundly, his lips slightly apart sucking on the tips of H’nhi’s rosy pink nipples. H’Nhi sat with her back leaning onto the reeded wall, breast full round and perky proud nipples curving up like a new moon. She was an angel in a sound sleep, on her face an unwavering smile of fulfilled happiness. My heart was pounding, slowly I backed away from the shelter, quietly jealous of Y Wen. I was suddenly thirsty, and hungry, my bloated stomach, crippled over with pain. What’s going on! I wiped the tears from my eyes, not a reason for why they’ve spilled. In a scramble I headed home to my dear old Ang. 

Old Ang was munching on green chillies and washing it down with wine, seeing my dejected demeanour, his eyes narrowed: “Hey, you motherless fatherless kid, what’s the matter? Why are you home?” I screeched kéc kéc, kéc kéc, I’m sad, very very sad… Old Ang looked into my eyes, asked, hey ape, you actually know sadness? I didn’t know how to answer that, just picked up a green chilly grinding it between my teeth before spitting it out over the ladder. At that very  moment, village chief Ma Noi was climbing up the ladder. The chillies seeds all over his face, Ma Noi startled: ”What’s all the spitting?”. Old Ang tried to cover for me: ”Ma Noi is that you, come join me for chilly and wine”. Ma Noi is still annoyed: “The way things are, we may as well drink wine with chillies to fill our stomachs!”. Old Ang: “What do you mean? What happened?”. Ma noi picked up a chilli and took half a bite of it: “Bugger them, we’ve moved all the way into the mountain, leaving our land for the government to build the dam, it’s still weren’t enough”. He took the cup of wine from old Ang’s hand, took a gulp and continued. “The government again wants more, they take from the outside in, us going in clashing with rubber plantation guys trying to invade us from the inside out. All the pieces of fertile earth have fallen into their hands”. Old Ang nodded his head: “Ah, so it’s like that…”.

This problem, later I heard from a lot of people debating over it with each other. At the meeting in town with the rubber plantation representative present to mark the border of each field, Ma Noi had stood up in protest. The chairman of the community soothe:

“Comrade Ma Noi has a valid point, very good, but the dam belongs to the government, a facility for the whole community, hence, Kroa village leaving the land for the dam is the right thing to do. As for rubber farming, needs for expansion should be towards the West. The entire Kroa village now, more than a hundred households, would still have about a couple dozens of hectares…”.

The representative of the district committee interrupted the chairman of the community:

“But growing rubber is also a directive of the government, the people must cooperate, in front already we have to divide the land on the other side of Mount Chu Mang and a section of the Basin, after that we can re-evaluate, any other difficulties the district can work it out later.”

Ma Noi was still determined:

“On this side of Kroa spring and the hills on this side of Mount Chu Mang is where it’s most fertile, why would we want to leave it, give it up. In the meantime the government has farming equipment to excavate the West, back on the other side of the mountain? Why can’t they do that?”.

The representative of the Farmer association continued to explain, the more he talked the lengthier it got like forest vines, all twisted. Ma Noi refused to accept it, got up and left, outside right at the committee gate, he lifted up the hem of his pants, peed. A patch of red earth bubbling away from it, a cloud of rosy vapour bloomed in front of Ma Noi. Mumbling staring at the bloom: “Thieves!”. The bloom listened, said nothing, then quietly disappeared.

Old Ang thoughtfully: “The mead now no longer belongs to us!”

I looked into Ma Noi’s eyes, and saw flames dancing threateningly burning. I was suddenly a little afraid.

Eventually H’Nhi came to live with Y Doan and the three motherless children. The day H’Nhi perform continue the line ceremony ended up being the saddest day for me. Clouds from nowhere rolled in surrounding crowding Mount Chu Mang. Then the sky split opened in an outpouring of deluge. Patches of grass knew ahead of time bent right over accepted the onslaught. The old parrot perched on a dead branch stared aimlessly at an exceedingly white curtain of water and chatter continuously about something, not very sure what. I was swinging on the roof beam, chasing a gecko. Old Ang asked:

“Are you going to Y Doan’s house to congratulate them kid?”

I heard everything but pretended not to hear, continued to run after the gecko trying to go for its tail. The gecko ran around all over the place before turning around to threateningly glared at me. It’s eyes lined with red veins, pretty scary. I thought to myself, what am I going to do at Y Doan’s house? Why would I turn up to witness a forest flower like H’Nhi wither in agony? These things, without being there, I can still picture it. A small frugal display of gifts. An old village elder would then accept the gifts… and talk… In the meantime, Y Doan, reeks with the smell of alcohol, spitting out incomplete sentences, shall say… then H’Nhi’s voice at the end, drowning beneath the rows of tears… Thinking about it to this point, my entire body became mush, my fingers lost its grip of the ceiling beam, free falling I fell to the ground, numb with pain, but still my pain would be no way near H’Nhi’s pain, definitely not. I let out a loud shout. The gecko believed I was frightened of it and ran away, after throwing me a gloating glare.

It was pouring rain outside, no one heard my wretched cries. What am I anyway for Kroa village? Who is H’Nhi to me that I have to be burdened by it all? No one gave me an answer. I grabbed Old Ang’s gourd of wine and poured it down my throat. A stream of hot liquid was like fire burning as it ran down towards the gut. My entire body was on fire. My entire body was a flaming torch. I headed for the rain like a deranged being, screaming as I ran. The wind assaulting my ears, the rain dancing in front of me. I didn’t know where I ran to nor for how long. The next day I woke up inside the shelter on H’Nhi’s field.

The morning sunlight broke through the grass wall and peeled my eyes wide open. A beautiful day. The sky’s the freshest blue, without an ounce of evidence nor clouds from the day before. In Chu Mang the rain is always spontaneous and would depart as quickly as when it came. Early but it was already noisy with activity from the people in the field. Misty water vapours ascended from the valley. Carried in the mist the sound of a happy trickling spring far away. A flock of phí, neck emblazoned red, jumped from one branch to the next in the canopy of the kơnia, its leaves shimmered in an array of green. 

A new day, but I was lost on what to do! My beloved H’Nhi, the one I have loved from the last life, is now Y Doan’s wife. There’s no reason left for me to stay in Chu Mang. The thought of her was making me thirsty. So thirsty my throat burns. I dove into the spring, dipped my whole face in the water, ingesting big ulps of it, till my stomach was blown up like a round ball. This small spring, I wonder if it has a name? Though it’s not big like the Kroa spring, the water here is also fresh and sweet. I turned towards the hills, contemplating the idea of looking for corn to eat. The Sun was already high above the mountain far away, blanketing the sunlight evenly across the mead. Now, all are busy in their fields. Some trimming their crop, some weeding, digging up their roots. The smoke began to lazily rise from the piles of burning grass and weed. A peaceful day!

Late at noon, I climbed the kơnia on old Ang’s field and slept. The old man’s fields were in the middle of the spine of a hill, small, but very good. The old man sowed the fields straight after the first rain of the season yet already the corn was beyond a man’s head. His shelter is tiny, insulated with golden cogon grass. One on the side is chief Ma Noi’s field, further across are fields belonging to Ama H’Jêh’s family, Ama Hoa, patches of wheat, rows of corn followed one after the other, fresh, green and fragrant. A few more moons the rice and corn would ripen, the stalks laden. At the foot of the wheat crop were runs of pumpkin, and melon full of fruit. Yang definitely still cares for the Kroa people. In my sleep was the nutty smell of corn, rustling sound of the wind through the cogon reeds, an endearing magical blue sky of Chu Mang. I dreamed of those long dreams long ago in my past life, when I was not yet an ape, agonisingly free as a human. Loud noises from far away woke me. Like an argument, my chest tightened, I heard a raised voice becoming more coherent. There’s a problem! Lately there’s been lots of strange occurrences in Mount Chu Mang. The dam came from nowhere, cutting off the spring, keeping all the water and the fish, now the Agricultural Association wants to take more land for rubber trees. I had once thought this Basin area, this vast mead, the footprints of people couldn’t possibly cover, it turns out it wasn’t like that, it has never been like that.

It sounded like someone was agitated. It sounded like Ma Noi: “No no, you can’t do that, stop, stop there!”. I rubbed my eyes, dropped to the ground, headed for the disturbance. A giant angry red creature I’ve never seen before was thumping, blowing smoke and was advancing towards Ama Hoa’s field, standing in front of it was Ma Noi, Ami Hoa, young man Y Săc and a few other men. Ma Noi shouting:

“Stop, no bulldozing, this land belongs to Kroa village, we can’t allow…”.

A person’s head pops out, from behind the mouth of the strange creature, shouting just as loud:

“I’m just following orders from the authorities, if you have a problem take it up with the authorities”.

The head withdrew inside the creature and disappeared. The strange creature continued to slowly move forward, trees and crops fell away in front of its nose.

Suddenly, old Ang appeared, not sure from where, stood firmly in front of the odd creature. The old man raised his hands high, he was about to say something but abruptly a tree was uprooted, pulling with it red dust like blood blanketed the people facing it. The old man toppled over. The dozen people about at once shouted:

“Stop!”.

The strange creature shook a bit before coming to a complete halt. I saw a line of fire racing across my head down to my chest. My heart tightened, ablazed in flames. I head for the odd creature, jumping onto its body shouting and screaming. The fire in my stomach continued to burn. At that moment the person in the creature poked his head out, I immediately jumped on it using all my strength to tear it apart. I scratched, rolling all over the ground, his head was also rolling about, dirt flying all over the place, blinding red, I wept and wept in the red dust and burning fire. The others were also on the ground crying, I was no longer cognizant of what was around me anymore.

Only when I realised I was sitting inside old Ang’s shelter in the field that I was able to think a little clearer. Mí Hoa went to fetch water from the spring so Ma Noi could clean the old man. The old man lay on a flat deck half the length of a tree, hair still plastered with dusty soil. I edged closer, the old man lifted his hand to stroke my cheeks, he said my name:

“Kra, kid you have a very bad temper!”.

I screeched kéc kéc sighing, how dare it try to harm you old man! Ma Noi pointed at the direction where all the conflict took place, said:

“That thing, the Agricultural Association’s bulldozer”.

I followed his gaze, the odd creature was tipped over by the crowd, lay abandoned at the bottom of a pit, butt in the air. It must be dead!

Certainly, the days after that were a mess. One night to the next the district police, the local police, including a representative from the Agricultural Association came to negotiate. I wasn’t allowed to attend, from outside the door I eavesdropped.

The police stating firmly:

“We have told you, planting rubber is an important initiative of the government, the community must support it, instead you got together to destroy the government’s property, threatening workers, I think everyone needs to re-evaluate their actions. I’m allocating officials to investigate who was behind using a vicious animal to turn against the government, there must be proper justice in place”.

All were completely silent. All but the sound of wood spitting crackling fire in the stove. Outside at the water trough, were the spasmodic desperate calls of a tlang. Me a vicious animal? I don’t know, but for sure, with the Kroa people, no one thought of me as a vicious animal. The Farmer Association representative explained:

“We’ve already put in a request for advice from the top before going ahead with the bulldozing, it’s a shame your community has been too rash hence now everything is a huge mess”.

I waited for Ma Noi to reply, but no, old Ang was agitated:

“Who? Who was rash?”.

Another long silence, no one spoke. There was fortitude in old Ang’s words, it made them stop and think. The old man continued:

“Is there a future for Kroa village? The outside left for the electrical dam, Kroa spring is no more, the inside left for rubber, what land is there to live on, where are the fields going to be?”.

Everyone all at once spoke up, the words meshing together, yes, live where? Where are the fields going to be? In all that anxious chatter, an undercurrent of anger had nowhere to go. Ami Hoa couldn’t express a lot in Vietnamese, starting with “I have an idea” before changing to the indigenous Ede. She blurted out in a single breath, clear, crisp, full of anger. Like a violent gale permeating the thin cracks of a wall. In general if the government wants to do anything in the vicinity of the Basin area in Mount Chu Mang they should at least ask the opinion of the people first. Don’t just come and take people’s cows before discussing the prices. If you want to talk about the law, then that’s called stealing. All land has an owner, even though the government is the biggest owner and with that reason gets to do whatever it wants. The most fertile land should be left to the people. The district police unfamiliar with Ede’s dialect jaw agape had to consult with a person next to him:

“What did she say?”.

Though he spoke in a very hushed voice I could still ascertain what he said. There was a sudden sound of crying children, and Ami Hoa’s speech came to a silent conclusion. Chief Ma Noi announced, that’s enough, it’s late, everyone needs their sleep. Tomorrow is a working day, we’ll meet up again tomorrow night. The cock crew as people were leaving. The police crawled into their waiting car left in a huff in town. Sounds of their car engines startled the neighbouring dogs into a frenzy of barking, an onslaught of clatter. Within the stream of car lights in passing, I saw H’Nhi holding H’Mary to her chest, heart heavy.

Like everything in passing. The Agricultural Association dare not take more land, stopping at the edge of a hill a dozen yards from old Ang’s field. What I worry about most was old Ang. After that fall, the old man was a lot weaker. The young men in the village did everything for him. He ate barely anything. Night after night, he lay by the burning stove, coughing spasmodically. The silly old bird parroted his cough in as much pain. Bored, I roamed from here to there. I grabbed a bunch of bitter figs and stuffed the entire bunch in my mouth, chewed, the tears came more bitter than the figs.

Perhaps I should return to the forest, yes, definitely return to the forest! After appearing in my head, the strange thought continued to haunt me. What has caused such sadness and boredom for me to think of leaving the village? I wasn’t very sure, but it was obvious that I was sad, and disappointed. Everyday the strange red creature was there causing havoc, consuming one patch of the forest after the other, I couldn’t handle it anymore. Patches of trees screeching fell, oh the heartache. The children in the village thought it was very odd so they  followed it everywhere watching it dig and flatten everything. The adults were powerless. The electrical dam compensation money is dwindling.

“At this rate we’re going to starve!” – Ma Noi resigned.

The rain and dry seasons followed each other on Mount Chu Mang. Then came the hunger, real hunger. At the beginning no one could say it out loud. Each family tried to hide it, but couldn’t do it forever. Mí Doan’s daughter H’Mai fainted in class. The school teacher of the Yuăn people held the child in her arms as she wilted away and could do nothing. Using hot balm to rub all over the child, H’Mai slowly came to, mouth gaping, in a yawn. Y Sao next to her: “She’s hungry!”Miss with a fist full of steamed sticky rice, with each small morsel feeding her slowly. Y Sao sat watching, audibly swallowing his saliva, tears dripping from his nostrils. After the fist full of rice, H’Mai sat up to continue her studies. Miss glanced at the entire classroom, every kid was wilting away. The hunger had truly arrived. Many families  had started to consume their seeding stores above the stove.

The hunger came at the same time as the cold. The old said to each other: Ever since we had the mead till now, it has never been this cold. At night, standing in front of the ladder, the wind cuts like bamboo threads. A foot on the ground in the grass at the front, the icy water seeps through as though someone is at it with a knife. Old Ang all shrivelled up by the burning stove. These days, the old man hardly ever leaves the house. I’m depressed, and bored would then return to lay by the stove. Listened to the sound of the wind outside in the mead. The old man confided: “Strange, it has never been this cold, pray Yang won’t bring upon us any more miss fortune!”.

Chief Ma Noi brought a whole gùi of dry corn still with its husk on, said: “old man, try and eat the corn and get your strength back!” Old Ang looked at the corn, said nothing, tears overwhelmed the hollows of his eyes, glistened. It was the corn seedlings!

I couldn’t bear watching old Ang cry. I pulled myself away, stood in front of the ladder pondering. The village is sinking to darkness. Somewhere were the cries of children, familiar. May be from the house of Ama Kuk, H’Nhi’s niece and nephews. It’s been a few days now since I’ve seen H’Nhi. I wonder what she’s been up to? The question is icy cold. I arrived at H’Nhi’s house. It was definitely H’Mary crying. I dare to peek through only from the outside. H’Nhi sitting by the stove, chewing on something as she fed the child. By her side, Y Kuk already asleep. On the deck below, Y Doan curled up in the foetal position like a sick dog, mumbling about something. I watched them for a while, I thought of old Ang, and went home. It was very late. In the quiet night night, there were shadows of people, or where they ghosts? Felt like something serious was about to happen in the village, my sixth sense was firing. I asked old Ang, but he said nothing, quietly watched the fire dance burned away in the stove. 

Ma Noi was like the head hunter, standing up always to take care of everything in the village. Trying hard to hide his exhaustion, as he spoke up in the village meeting:

“Look everyone, today, I called upon you to deal with what’s immediately in front of us – he audibly swallowed his saliva before continuing – most urgent is hunger. Someone said if everyone is as hungry as the other then what could possibly be done? But I said, there are still ways.”

Everyone spoke at once:

“There are? What ways?”.

“First, the young men should push harder to go to the forest and forage for food. Me and old Ang shall make a trip to town to demand more support”.

Speaking of hunting, the young men were more encouraged and excited, forgetting their hunger. In the last few years the government has banned hunting. All the hunting rifles have been confiscated by the township. Y Wen enthruse:

“Rifles aren’t necessary for hunting, if we have permission from the elders and the chief then we’ll find a way”.

In the end, everyone agreed, since we’re hunting illegally we shouldn’t go for larger beasts, hunt for let say wild pigs or echidnas. As for me, the idea of hunting is nothing fun. I’m scared enough to lose control of my bladder when I see a gun, I’m petrified!

Early in the morning, the young men together went to the forest. The village chief Ma Noi came to take old Ang to town with him. Old Ang chewing corn said: We have to beg? I honestly don’t know what he’s thinking. Ma Noi didn’t answer either. Till after climbing down the ladder, both of them said not a word to each other.

I don’t know who old Ang and Ma Noi saw in town nor what they spoke about but they returned with a bag of prawn flavoured instant noodles. Old ang told me as soon as he set foot on the deck: “Kra, for the time being we have rice!”. I looked at him questioningly, the old man laughed as though he’s hiding something, grinning. Ma Noi said his goodbye, turned around after stepping off the ladder to throw me a broken piece of instant noodles he just unwrapped. In a reflex reaction, I caught it and popped it straight into my mouth. It has a pungent flavour, odd. I thought as I chewed, why is old Ang so secretive? I didn’t go to the school to watch people receive their rice from the township but instead head for the water trough, a way into Mount Chu Mang, where the young men were hunting. It has been a long time since I’ve ventured deep into the mountains. The path into the mountain all thinned out, not thick like it used to be. Standing in the middle of old Ang’s yard, Mount Chu Mang is of the deepest green, many mountain tops arranged right next to each other running forever into the Basin area. Deeper into the forest further apart were the peaks,  endless. I thought I could swing from one branch to the other, but it wasn’t possible. The forest now thinned out, the branches aren’t piled atop each other like before. Now and then I had to slide down to the ground. I decided to walk slowly. apes never walk slowly in the forest. I thought, maybe I’m not an ape? Or because I’ve lived too long in Kroa village, I’ve become a Kroa? Then again apes and people aren’t that different. The only thing I’m most certain of is that I can’t be with the person I love like Y Wen, even though people meet each other in secret like Y Wen and H’Nhi.

Deeper, the vegetation thicker. I changed my tactics to swinging through the trees, since it’s faster. I listened as I swung from one branch to the other. Far away the sound of rustling in the bushes, the sad cries of a beast somewhere caught in a trap. I stopped to listen. Definitely the sound of a female baboon. In unbearable cries of last goodbyes to its child. I was frozen on top of a tall tree, a witness. The mother baboon watching helplessly on a tree. It’s a baby just hit by an arrow, laying flat on the ground. Next to it the young men sat smoking. Heart breaking! I turned and headed straight home.

It was dusk when I arrived home. Everyone rushed home from school. Everyone carries a full gùi of rice and instant noodles. Flickering faces in the misty dusk floating eerily like those statues on the tombstones. Why are they so sad? Where is the old man? The thought of old Ang made me run all the way to where they were distributing the rice. Old Ang and the village chief Ma Noi were the two people still there, not yet home. The strangers were tidying up the bags scattered on the dirt ground. A very fat person stood with hands on his hip in the middle of the yard, continuously giving orders. Old Ang bending over picked up every grain of rice fallen on the ground. The fat dude turned to look at him jeering:

“old man, are you still here? Not enough rice still?” 

Old Ang slowly lift his head, answered:

“Enough for today, enough for tomorrow, but one day there won’t be enough.”

The fat guy laughed:

“Why worry old man, when you run out, the government will provide!”.

Old Ang smiling as though he’s frowning:

“Ah, the government of the people…” 

The chief standing nearby asked:

“Hey, can I ask you comrade in charge honestly, Kroa village has never had to beg for rice from the government and now we’re starving like this, do you know why?”.

The fat guy still jokingly said:

“Now, I know what you’re thinking chief, because of the dam, because of the rubber farming stealing all the land, correct?”.

I Thought, absolutely correct, there’s nothing left to figure out! Yet Ma Noi heard it as: You people are good at eating but too lazy to work, no wonder you’re starving! He was fuming:

“I’m asking you sincerely, and you’re laughing at me?”.

   “What I said was not correct?” – The fat guy continued calmly

“Dear comrade in charge, I’m speaking truth here – Ma Noi lowered his voice – Kroa village is now battling with starvation with the loss of our water bay, the loss of Kroa spring. The water Yang has left us, the earth Yang has left us. The forest Yang also went. How could we not be poor, not starving?”.

Old Ang in the middle of picking up grains of rice, hearing as though Ma Noi were about to cry, looked up, urged, enough, we should go home now Ma Noi. The two bent over figures soberly walked away dissolving into the shadow of the afternoon barely visible like a net blanketing the entire area of mount Chu Mang. I dejectedly followed from behind. In the sky, birds were late returning to their nest, wings flapping rushing each other to go home.

I was late coming home that day when all the stoves in the village were already burning red embers. The young men from the hunt came back from the mountains. Y Kheo lugging a bag full of squirrel wild turkey and echidna. Chatterings in the light of orange flaming torches. The village in sudden merriment as though there has never been a sad hungry day. Everyone turned up at old Ang’s place to prepare the meat and hang it while drinking wine. Each person had a different task, the women tended to the fire, boiled water, pounded chilli salt, the men butchered the meat. Watching all the blood and gore, I was mortified. I left to roam instead. I couldn’t understand why they had to eat that much meat, what for. Meat is blood, disgusting. Everyone was at old Ang’s house. Every house was abandoned. The red clay road leading towards the school without a single human shadow. The tree groves silent in the thick dark night. An odd croaky moaning came from the tree grove. Was it the old parrot lost, unable to find its way home? I stood still to listen, no, it sounded like a person! But whom? Isn’t everyone over at old Ang’s house feasting on wild meat? I edged slowly towards the moaning. A person lay in the middle of a patch of daisies by the side of the road, breathing heavily. Too dark, I couldn’t work out who it was. I leaned down really close. Gosh, it reeks of alcohol! Immediately I worked it out, Y Doan, continuing the line husband of H’Nhi. I grabbed a bunch of his hair, pulled his head up. He continued to moan, mumbling, oh H’Nhi, I’m dying, dying… Hearing the mention of H’Nhi’s name, I was infuriated again. I left him, yeah just die. Thinking through, I also knew that those who are always moaning about dying never do. I headed straight for the forest. I must return to the forest. The path into Mount Chu Mang was loud with the sound of the wind. The falling water screaming from the electrical dam now and then would follow the wind returned in crisp and clear echoes. Because of that dam I’ve lost the Kroa spring. What is there more to lose? But then do I have much to lose? One old man, old Ang is so sad and so old, one gentle beloved H’Nhi in someone else’s arms.

I stopped on top of a mound, looked back at Kroa village slowly out of sight behind the deep green canopies. Upon the huge horizon of the mead, an icy grey eagle spread its wings forever. The mead is endless. The statues in the graveyards stood sombre behind patches of drooping branches. Rustling reeds leaned towards each other in the breeze. All these picturesque melancholy made me feel so small, so lost in front of this life. In my mind, I returned to the years and months-long past life. Ancient wings of a forest and a river steeped in blood. Someone’s earnest cries, as though a sword has pierced their heart, mind-numbing. Uncertain events of long ago.

Images, sounds, clear echoes returned from a previous life.

Mình kể cho ta nghe rằng, trong vùng núi Chư Mang xa xôi có một dòng suối bị quỷ ám. Nước suối xanh một màu xanh đầy nghi ngại. Quỷ là gì? Mình bảo rằng mình không biết. Xưa nay có ai dám chắc rằng mình biết rõ quỷ đâu. Người ta luôn đồn thổi quá mức về nó nhưng không ai biết rõ tung tích. Mình nói, chỉ có những viên sỏi màu trắng nằm giữa lòng suối Kroa mới biết rõ tâm địa độc ác của quỷ. Có người thấy hai năm rõ mười rằng, vào những đêm trăng sáng, từ dưới lòng suối vang lên tiếng sào sạo, nhìn kĩ xuống thì thấy quỷ đang nhai sỏi. Vì sao quỷ nhai sỏi mà không nhai các linh hồn, hoặc ít ra là phải dụ dỗ những linh hồn lầm lạc xuống địa ngục với chúng? Người bản địa nói rằng, hình như ở kiếp trước, những viên sỏi ấy cũng là người, cũng là chỗ quen biết với quỷ, và hình như, giữa chúng còn mắc nợ nhau về chuyện gì đó. Mình lắc đầu, than vãn, ai mà biết được đúng sai những chuyện “hình như” ở trên đời, với lại, trong vùng núi thẳm non thiêng đó, còn bao nhiêu chuyện kì quái nữa, ta làm sao hiểu hết.

Mình trách móc ta rằng, kiến thức về quỷ của ta ít quá nên không thể nhìn thấu mọi việc được. Hay là ta đồng lõa với quỷ, ta giả vờ không biết không hiểu? Ta thề rằng ta cũng ghét quỷ như mình. Ta không đồng lõa, ta không giả vờ ngây thơ. Mình thì thầm, đó đó, chúng nó đang đi đó, gương mặt chúng phẳng lì, không có mũi, không có mồm, nhưng chúng đánh hơi rất giỏi, chúng biết sỏi nằm ở đâu, chúng rất tham ăn, chúng giành nhau ăn rồi đánh nhau, chửi nhau dưới lòng suối. 

Suối nổi váng đen như máu, trên mặt nước nổi lềnh bềnh những chiếc mặt nạ của quỷ. Những chiếc mặt nạ ấy lại tiếp tục đánh chửi tranh giành nhau với vẻ mặt hết sức nghiêm trang. Ông ăn mấy lần rồi? Nhiều, không nhớ lần. Ông nên tránh ra, các hòn sỏi ấy là của tôi. Của tôi. Của tôi. Không phải, của tôi. Đúng ra là của chúng ta! Chúng lại thầm thì với nhau những điều không ai hiểu. Miệng chúng lại phảng phất tanh, hình như là mùi đất, hình như là mùi nhựa cây, hình như là mùi máu… Chúng cầm cờ chạy trong đêm, những lá cờ màu máu, những lá cờ nửa đỏ nửa đen, những lá cờ hình chữ thập. Chúng lấy cờ che mặt, lấy cờ ngụy trang. Ban ngày, chúng chơi trò ú tim trong rừng, đêm đến, chúng xuống suối tìm sỏi ăn.    

Những viên sỏi còn sót lại dưới lòng suối Kroa dắt díu nhau đi trốn. Nhưng biết trốn vào đâu khi trên thảo nguyên không còn chỗ nào không có dấu chân của quỷ? Cuộc hành trình chạy trốn ấy đã được kể lại trong các sử thi của vùng đất Chư Mang, sau này được các già làng truyền lại cho con cháu bằng giọng kể buồn đau, ai oán.

Cuối mùa khô năm đó, buôn Kroa bỗng xôn xao vì những tin đồn. Thoạt đầu, không biết từ miệng ai, nói rằng, sắp tới, buôn Kroa sẽ phải dời đi nơi khác nhường chỗ đất này cho nhà nước làm nông trường hay khai thác gì đó. Mọi người nhốn nháo. Sẽ dời tới đâu? Đi cả buôn hay chỉ một số nhà thôi? Chưa hết bàn tán thì lại có tin đồn rằng không phải là đi chỗ khác, vẫn ở nguyên đấy nhưng mà không làm rẫy nữa, mọi người sẽ làm việc khác do nhà nước xếp đặt. Lại xôn xao. Không làm rẫy thì lấy gì làm cái ăn? Làm việc khác là việc gì? Liệu người Êđê quanh năm quen phát rẫy trỉa lúa mình có làm được không?… Chao ôi là chuyện. 

Những ngày cuối mùa khô, gió quét ràn rạt. Buổi tối, ngồi bên bếp lửa nghe gió lồng lộn trên vạt rừng le sau buôn mà ớn lạnh. Với người Kroa, dài nhất là những ngày cuối mùa khô. Cái ăn để dành đã cạn, công việc vụ mới thì chưa tới. Bước ra khỏi cầu thang là hun hút gió. Thế là mọi người lại ngồi quây bên bếp lửa. Tự lâu lắm rồi, lửa đã đến ở chung nhà với người Kroa. Những ánh mắt nụ cười trao nhau, những chuyện ngắn chuyện dài cũng bắt đầu từ bên bếp lửa. 

Rồi nỗi lo của người Kroa cũng đến. Mấy chục nóc nhà phải dời vào bên kia suối để lấy mặt bằng xây dựng thuỷ điện. Lại bắt đầu trồng trỉa vụ mới nên công việc dồn đống dồn cục cao như núi. Rẫy đã dọn sạch rồi, chuyển đi thì có trồng trỉa nữa không? Chuyển nhà trước hay trỉa bắp trỉa lúa trước? Nhà nào cũng rối như dẫm chân và ổ kiến. H’Nhi tất bật đi như chạy, cái gùi trên lưng nhảy nhót theo nhịp chân bước vội. Vừa lội qua khúc suối cạn đầu buôn thì vừa gặp amí hớt hải chạy từ nhà ra. Nhìn nét mặt của mí, H’Nhi đoán ngay là có chuyện. 

“Có việc gì mà vội vã thế mí?”.

“Nhiều việc lắm con à, về mau thôi, khổ thân chị mày quá!”.

“Chị nào? Mí Kuk hay mí Bích?”.

“Con H’Lum chớ ai, nó đau cái gì trong người, đau lắm!”.

H’Nhi vứt vội cái gùi dưới chân cầu thang, chạy theo mí. Mí Kuk, tức H’Lum là chị gái đầu của H’Nhi. Lẽ ra sau khi bắt chồng, chị H’Lum phải đưa chồng về nhà mình ở, nhưng nhà chật em đông, Y Đoan lại chỉ có một mình với bà mẹ già nên gia đình đồng ý cho vợ chồng trẻ được về ở nhà chồng. Anh rể nghiện rượu, nghiện thuốc lá, lại thêm bà mẹ chồng ốm yếu bệnh tật, trăm việc rơi vào tay chị H’Lum cả trăm. Anh rể nhiều hơn chị đến gần mười tuổi, nồng nặc mùi rượu. Cặp mắt hum húp lúc nào cũng để nơi xó nhà như mắt tắc kè. Nhiều bữa say quá anh nằm vắt vẻo ngay cầu thang hát những câu hát tầm bậy bằng tiếng Kinh. Ba đứa con bắt đầu lớn, biết gùi giúp mẹ ống nước lên cầu thang thì lưng chị gái đã bắt đầu còng xuống. Anh rể thì thôi không nói đến làm gì, như cái tượng gỗ đã mục, vứt đâu nằm đó. 

Khi H’Nhi chạy sang đến nhà thì người ta đã đưa chị H’Lum đến nhà thầy lang chữa bệnh, amí đang lọ mọ chạy theo, vừa chạy vừa than thở. H’Nhi đứng lặng trước nhà chị gái, giọt nước mắt tự dưng lăn dài. Ba ngày sau thì chị gái mất, thầy lang nói chị chết vì bệnh gan nặng. Ba đứa con nhỏ ngơ ngác ngồi khóc sụt sịt, mũi xanh lòng thòng. Có cái gì đang thiêu đốt trong lòng H’Nhi. Thương chị gái một phần, lại thấy thắt lòng khi nhìn ba đứa cháu ê a khóc. Một mình anh rể nghiện rượu với ba đứa con nhỏ, không biết những ngày tháng tới rồi sẽ ra sao? H’Nhi vừa chợt nghĩ đến một điều và rùng mình ớn lạnh. Chị ơi, sao chị về bến nước ông bà sớm thế!

Thế rồi mưa cũng đến. Hạt bắp hạt đậu đã bắt đầu cựa quậy chực nảy mầm. Mấy chục nóc nhà buôn Kroa đã bỏ con suối Kroa ngàn đời thân thuộc mà dời vào bên kia núi Chư Mang. Nhường cái nước, cái suối cho thuỷ điện, đau thắt ruột. Đêm trước dọn buôn làng ra đi. Già Âng đứng mãi đầu con suối, nước mắt ròng ròng. Lũ thanh niên nói với già: 

“Đi thôi già ơi, làm thuỷ điện là tốt rồi, với lại, có nhiều tiền đền bù, qua bên kia núi lo gì không sống được”.

Nghe chúng nói thế, già Âng lại càng khóc nức nở. Chúng nó không hiểu được bụng của người già rồi. Tiếc là tiếc tiếng suối Kroa chảy róc rách đến quen tai như là giọng nói của người thân, nhớ là nhớ gốc cây Pơlang cổ thụ nở hoa đỏ rực như ai đốt lửa mỗi mùa lễ hội, thương là thương khoảng rừng hào phóng cho người bao nhiêu là măng là nấm trước buôn. Chứ đâu phải già không biết đi là có tiền đền bù, đi là được hỗ trợ. 

Thấy già Âng đứng khóc mãi, mọi người chờ không được bỏ đi trước hết. Tiếng bước chân rậm rịch, tiếng trẻ con khóc quấy và tiếng hát nữa. Người Êđê là thế, vui hát, buồn cũng hát. Tôi như con thú hoang, lang thang trong rừng sâu… không biết người hát vui hay buồn. Già thấy mọi người đi hết cũng run run quay người bước đi. Chợt thấy cái gì quấn vào cổ chân. Già cúi xuống, thì ra là con khỉ Kra. Con khỉ một mực ôm lấy chân già Âng. Già ôm nó lên, nói, à, hoá ra mày cũng biết thương biết nhớ đấy à? Mày cũng không muốn đi phải không? Con khỉ kêu kéc kéc. Già ôm nó lên, nói rầm rì điều gì đó vào tai nó một hồi lâu nữa mới nặng nề cất bước. Con vẹt già đậu ngất ngưởng trên vai già liên hồi lảm nhảm điều gì đó không ai hiểu. Con vẹt già lẩm cẩm ấy cũng là bạn của già Âng. Nó cứ liến thoắng: “Muôn năm, muôn năm, chạy, chạy…”. 

Trong buổi chiều buồn bã ấy, có một kẻ nữa cũng rất buồn. Đó là tôi. Với buôn Kroa, tôi là kẻ ngụ cư, nhưng không hề xa lạ. Mẹ sinh tôi ra ở đây, rồi tất tả ngược rừng, gửi tôi lại cho già Âng. Bao nhiêu lần già Âng kể với tôi rằng:

 “Tau thương mẹ mày, nói với nó là sẽ nuôi mày đến khi nào khôn lớn thì trả mày về với đại ngàn. Nhưng bây giờ thì tau sẽ không cho mày đi nữa, ta giữ mày ở lại, nghe con. Mày đi rồi tau buồn biết ở với ai!”.

 Tôi chính là Kra, con khỉ đã sống cùng già Âng hơn mười mùa mưa ở buôn Kroa. Để tôi khỏi chết đói chết khát, già Âng đã ẵm tôi đi từng nhà xin bú nhờ các bà mẹ nuôi con nhỏ. Sữa thật tuyệt! Đến bây giờ, mỗi khi đi ngang qua những cô gái ngực tròn tôi lại thấy thoang thoảng mùi sữa và ngẩn ngơ thèm. Ước gì tôi được ôm lấy bầu vú ấy, ngậm thật chặt rồi cho sữa chảy từ từ trong miệng, rồi tan ra mát lịm!

 Tôi theo già Âng lên rẫy mỗi ngày. Khi mọi người bận phát rẫy trồng lúa trồng bắp thì tôi tranh thủ vào rừng đi chơi. Những vạt rừng phía sau buôn Kroa thật yên bình. Tôi chưa thấy rừng ở đâu đẹp như thế. Cũng phải thôi bởi tôi chưa đi đâu xa cả. Vào rừng hái quả đu cây chán, tôi chạy ra giữa đám rẫy lúa đuổi bắt cào cào châu chấu chơi. Già Âng phải gọi mấy lần tôi mới thôi. Già trừng mắt doạ, tau trả cho mẹ mày thôi! Tôi đã nghe câu đó quen rồi nên mỗi lần nghe tôi lại giả vờ sợ hãi, nhăn mặt, vò đầu. Có lẽ bộ dạng tôi lúc đó trông buồn cười lắm nên già Âng ngẩng đầu lên nheo mắt cười móm mém rồi lại cúi xuống phát cây tiếp. Tôi đuổi theo một thằng rắn mối, rồi chạy tuốt xuống dưới suối. 

Những ngày mọi người tất bật dọn đồ đạc để chuyển đi. Tôi buồn thiu. Tôi trèo lên tận ngọn Pơlang trước buôn rồi nằm lì trên đó mặc cho già Âng gọi đến khản cả giọng. Tôi nhìn ra bốn phía. Buôn Kroa nằm lọt giữa thung lũng. Con suối Kroa chảy từ trong núi Chư Mang ra đến đầu buôn thì phình ra như một tàu lá chuối khổng lồ. Từ núi Chư Mang nhìn về phía tây là vùng Lòng chảo cạnh sông Sêrêpốk. Trước khi chảy qua bên kia núi để hoà vào sông lớn, suối Kroa hiền hoà uốn lượn. Cạnh suối là hai vạt đất bằng phẳng được người ta trồng lúa, bên trên, đất cao hơn thì năm nào cũng gieo bắp. Tôi thích ăn bắp nhất, bùi, béo ngậy! Từ nhà già Âng ở chính giữa buôn, dăm chục bước nhảy là tôi có thể xuống bến nước. Tôi đã tắm ở đây đến lần thứ bao nhiêu, không nhớ được. Nước trong, mát rượi. Cũng ở đó, tôi đã được ngắm bao nhiêu là cặp đùi của các cô gái buôn Kroa. Con gái buôn Kroa đẹp nổi tiếng khắp vùng. Buổi chiều, từ con đường từ rẫy về, các cô gái thong thả đặt gùi xuống tắm. H’Yang, H’Nhi, H’Mai, H’Linh… cô nào cũng xinh, đùi trắng muốt, thoang thoảng thơm mùi sữa. 

Cũng vì tội hay chọc phá các cô gái ở bến nước mà tôi bị già Âng phạt bắt nhịn ăn hai ngày. Bữa ấy, như thường lệ, tôi xuống bến nước khi xế chiều, đó là lúc các cô gái đi rẫy về. Tôi nấp trong bụi cây sát mặt nước, khi H’Yang và H’Mai vừa cởi váy ra lập tức tôi xông ra, nhe răng cười khé khé ầm ĩ. Hai cô giật mình, sau đó thì tức giận đuổi theo tôi với một khúc củi cầm tay. Tôi vừa chạy lùi vừa làm điệu bộ chọc tức, đưa tay lêu lêu rồi chạy thẳng về nhà leo tót lên cây. Sau lần đó, già Âng treo vào cổ tôi một chiếc vòng bằng bạc có đính thêm quả chuông, mỗi lần tôi chạy nhảy là tiếng chuông lại vang lên, lúc vui, lúc buồn. Già nói, mày hết đường đi chọc người ta nghe con, chân mày chưa kịp đến thì tiếng chuông đã đi trước rồi, khỏi rình mò gì nữa!

Thế mà ngày mai đã chuyển đi nơi khác. Tôi buồn sắp khóc. Không biết đến đất mới có bến nước không, rồi cây bắp có nhiều hạt không, ở đó có cây Pơlang cổ thụ mát rượi như thế này để mỗi buổi trưa mùa khô tôi trèo lên ngủ hay không. Tôi nghĩ miên man rồi ngủ một giấc rất lâu, tỉnh dậy thì buôn làng đã vắng hoe, không còn tiếng người, không còn ánh lửa. Tiếng trẻ con í ới gọi nhau xa dần. Những hạt âm thanh quen thuộc vỡ vụn lao xao rồi chìm mất giữa buổi chiều muộn. Tôi vội chạy xuống bến nước thì vừa thấy già Âng đã đứng khóc ở đó. Con vẹt già đậu trên vai ngơ ngác: “Muôn năm, chạy thôi…”. Trong cái gùi cũ của già chỉ có mấy cái rựa, cái lưỡi cuốc và một ít gạo. Cái chiêng cũ được buộc dây quàng qua lưng. Già ôm tôi vào lòng, nói:

“Mọi người đi hết rồi, ta đi thôi con ơi. Từ ngày mai mày không được xuống bến nước này tắm nữa rồi, tau cũng thế, ngày xưa, tau đã gặp và yêu người thương của mình ở đấy, sau này đám cưới cũng ở đây, trai làng hò reo mổ bò mổ heo ở chỗ này này…”.

Già đưa cánh tay gầy guộc chỉ xuống bến nước. Trong bóng chiều muộn, bến nước buôn Kroa loang một vệt khói dài, mờ ảo. Tôi nhìn lại lần cuối, tất cả đã vội chìm vào bóng tối âm u. Già Âng và tôi nặng nhọc đi về đất mới. Trên vai gầy nhọn hoắt của già Âng, con vẹt già đuôi rụng trụi lông vẫn đậu ngất ngưởng, thỉnh thoảng lại nói mê lung tung, chạy, chạy…           

Đêm hôm sau, buôn trưởng tổ chức họp buôn tại nơi ở mới. Buôn trưởng Ma Noi mới ở tuổi trung niên nhưng là người nhanh nhẹn quyết đoán, mặt thâm quầng vì mệt, đứng lên nói:

“Tui biết cái bụng bà con mình chưa ưng đi, tui cũng vậy. Nhưng đây là chủ trương của Nhà nước, mình phải chấp hành, muốn không được, không muốn không được. Cho nên, dù có khó khăn nữa, ta cũng phải bắt tay vào xây dựng nơi ở mới. Mỗi người đều cố sức lên một tí. Mỗi nhà đều có tiền hỗ trợ đền bù của Nhà nước rồi, việc dựng nhà sẽ dễ hơn. Nhà nào neo người thì tụi thanh niên sẽ đến giúp, một người làm, mười người cùng làm, rồi sẽ xong, đừng lo…” .

Tiếng một người nào, có lẽ là Mí Vắt cắt ngang:

“Thế hôm sau có được về Kroa cắt lúa nữa không?”. 

Mọi người cười ồ. Già Âng nói:

“Ơ hay cái con mẹ này, nhận tiền đền bù rồi thì đất ấy là của thuỷ điện, lúa ấy cũng là của thuỷ điện, về cắt thế nào được!”.

“Nhưng mà lúa có bông rồi, không cắt được, tiếc lắm!”.

Mọi người lặng đi. Không ai lên tiếng. Đúng là những vạt lúa bên Kroa đã ngậm sữa, chỉ tuần trăng nữa là cho hạt được. Không khí buổi họp lắng xuống. Tiếng đuốc cháy xèo xèo. Ánh lửa khi mờ khi tỏ soi rõ những khuôn mặt trầm tư, thất vọng. Xa xa, vọng về tiếng cú rúc. Đêm đã khuya. Ma Noi phải cất lời cắt ngang sự im lặng nặng nề như gùi đá đang đè nặng lên mọi người. 

“Ngày mai là người ta đưa máy ủi về rồi… thôi không bàn chuyện đó, việc quan trọng nữa là đặt tên cho buôn làng mình. Trước đây, buôn Kroa gắn với tên con suối Kroa, bây giờ không còn suối nữa, vậy tên buôn có nên đổi không?”.

Nhiều tiếng ồ à nổi lên, ừ nhỉ, người Êđê mình đặt tên buôn làng theo tên sông tên suối, tên núi tên đồi, buôn Kroa là của con suối Kroa. Suối cũng là một thành viên của buôn làng. Nhiều ý kiến nhao nhao, mọi người tranh nhau nói. Già Ma Lưi nói:

“Bà con mình ra đi dựng buôn mới nhưng cái bụng thì đang ở lại với con suối Kroa, tui biết lắm. Có ý kiến muốn đổi tên khác, ví dụ như Mí Hoa muốn lấy tên núi Chư Mang, ama Kim muốn lấy tên sông Sêrêpốk đặt cho buôn mình. Nhưng theo như bụng người già đây thì không được. Đành rằng núi Chư Mang to thật, nhưng nó là tài sản chung của cả vùng, sông Sêrêpốk cũng thế. Cho nên, tốt hơn cả là cứ giữ lấy cái tên cũ: Buôn Kroa, để mai mốt con cháu mình còn nhớ về một thời yên bình của buôn làng, của cha ông, cái thời có suối, có bến nước ngọt lành, có những mảnh rẫy tốt tươi… Giọng già nhỏ dần, nhỏ dần, hình như có tiếng sụt sịt đâu đó. Những con mối từ ngoài bóng đêm lao thẳng vào đống lửa, cháy xèo xèo, tỏa mùi khét lẹt. Cuộc họp kéo dài đến tàn một đống củi to mới xong. Mọi việc tạm ổn. Không còn ở bên suối Kroa thì buôn làng vẫn mang tên Kroa. Trước mắt là dựng nhà, lo chỗ ở đàng hoàng chắc chắn trước đã, rồi mọi việc sau đó cứ thế mà làm”.

H’Nhi ngồi họp mà ruột như có lửa cháy, chỉ mong buổi họp xong thật mau để chạy về. Trong cái lán tạm, amí và ba đứa cháu con chị H’Lum đang đốt lửa nướng củ mì ăn. Không thấy anh rể đâu, chắc là nhớ rượu nên đi tìm rồi. H’Nhi tất tả bỏ thêm củi vào bếp, lấy mì gói pha tạm cho cả nhà cùng ăn. Nhìn mấy đứa cháu xì xụp húp mì ngon lành, H’Nhi thấy thương đứt ruột. Có con chim gì đó kêu đều đều ngoài bụi cây. H’Nhi chợt nhớ đến Y Wen. Mấy ngày nay bận quá, gặp nhau giữa đường chỉ kịp nhìn nhau một thoáng rồi lại đi. Nhà Y Wen cũng neo người, ama amí già rồi, mọi việc dồn lên một vai chàng thanh niên mới lớn. H’Nhi lại nhớ chị gái H’Lum. Ngày trước, khi chị bắt chồng thì nhà anh rể cũng neo người như thế. Mai mốt nếu mình cưới Y Wen làm chồng thì thế nào nhỉ? Nghĩ đến đó H’Nhi thấy hơi buồn cười, xấu hổ nữa. Biết người ta có thương mình thật không mà nghĩ chuyện xa xôi. Chuyện trước mắt lại còn rối bời, chất đống như núi. Thôi, cứ để vậy đã, tính sau, H’Nhi tự nhủ vậy rồi dọn dẹp đồ đạc vứt lung tung trên cái phản tạm để ngủ. 

Đêm, H’Nhi mơ thấy chị H’Lum về, chị khóc sưng cả mắt, nói rằng ở bên ấy, bến nước atâu buồn lắm, nhớ mấy đứa nhỏ mà không biết làm sao. Rồi chị hỏi thăm mấy đứa thế nào? Thằng Y Kuk có dỗ em được không? Thằng Y Siên có chịu ăn không? Con em út H’Mary có đòi sữa không? Hỏi mãi và khóc mãi. Hai chị em ôm nhau khóc. H’Nhi hỏi có phải ngày hôm qua linh hồn chị hoá thành con chim tlang hêă về kêu buồn thảm đầu ngòi nước đó không? Chị H’Lum gật gật đầu. “Em đoán chắc mà, ở cổ chân con chim vẫn còn nguyên sợi chỉ đỏ mà em buộc vào chân chị mà. Thế khi nào chị mới biến thành giọt sương để đầu thai trở lại với trần gian?”. Chị lắc đầu, không biết, cái đó tuỳ vào Yang Aê Diê thôi. H’Nhi dặn chị, nhớ đầu thai vào buôn mình chị nha! Ừ, có phải đầu thai mấy kiếp luân hồi thì chị sẽ vẫn là người Êđê Adham của buôn Kroa mình thôi. Chị còn nói, ở bến nước atâu lạnh lắm, lạnh lắm lắm, xương thịt cứ muốn rữa ra…

 Tiếng khóc thét của con H’Mary đánh thức H’Nhi dậy. Chắc con bé cũng mơ thấy mẹ nó. H’Nhi trở mình dậy, ra ngoài ôm con bé vào phản ngủ với mình. Hai thằng anh ăn mì gói xong ôm nhau ngủ say. Bố chúng nó say rượu ngủ lăn lóc ngay bên bếp lửa. H’Nhi hát ru con bé, nó rúc cái đầu nhỏ lơ thơ mấy sợi tóc vàng hoe vào ngực H’Nhi  ngủ ngon lành.  

Thế là chúng tôi chuyển đến nơi ở mới bên kia núi Chư Mang, cách xa buôn cũ gần nửa ngày đường. Buôn mới đặt dọc sườn đồi đất đỏ, lùi sâu vào bên trong núi. Không có suối, bà con chọn một hõm đồi, đào thành rãnh và đặt cái máng lồ ô vào đấy để hứng nước giọt chảy từ lòng đồi ra. Dòng nước mát chảy suốt ngày đêm, ít hơn nước suối nhưng mát lạnh và ngọt lịm. Tôi nghĩ, dòng nước này cũng có họ hàng gần xa với suối Kroa, với sông Sêrêpốk vùng Lòng chảo chứ có đâu xa. Già Âng dọn một vạt đất dưới gốc cây Kơnia để dựng nhà. Già lụi cụi làm một mình. Thanh niên đến giúp già nói không cần, không cần, đi làm dùm nhà khác đi, già tự làm được. Tôi không giúp được gì nhiều, chỉ thỉnh thoảng lấy dùm sợi dây buộc hay cái gì đó lặt vặt. Tôi ngồi trên chạc cây Kơnia nhìn xuống, thấy những vạt đồi trọc lúp xúp toàn cây le, hình như cũng có rừng rậm, nhưng cách rất xa, tôi chưa bao giờ dám đặt chân tới đó. Nhìn xa nữa là thảo nguyên bát ngát, xanh mờ.

“Kra, mày cầm cái bầu này chạy xuống giọt nước kia hứng cho tao ít nước đi nào, khát quá!” – Già Âng bảo tôi.

Tôi cầm quả bầu nhỏ chạy đi hứng nước. Đến nơi thì thấy mấy người nữa cũng đang đứng chờ. Một người chọc tôi:

“Kra, mày nhăn mặt tao xem tí nào!”.

Tôi im lặng, không trả lời. Đó là thằng Y Ní con nhà Ma Hin. Nó thò tay ra định túm lấy tai tôi. Tôi nhe bộ răng của mình ra kêu kéc kéc doạ. Cả bọn cười ồ lên. Rồi tôi cũng hứng được một bầu nước. Mấy đứa chúng nó chỉ chọc cho vui chứ không dám làm gì tôi đâu. Chúng sợ già Âng. Già Âng dặn: “Chúng mày chọc chơi thì được, làm đau thằng Kra là không được đâu nghe!”. 

Tôi mang được nước về thì đã thấy già Âng ngồi nghỉ dưới gốc cây. “Ai da, mệt quá rồi Kra ơi, mày đi đâu mà lâu thế, hay lại mải chọc ghẹo bọn con gái phải không!”. Oan cho tôi quá, tôi kêu kéc kéc buồn bã và đưa nước cho già rồi trèo tót lên ngọn cây nằm. Thực tình thì cái mà tôi thích nhìn nhất là những cặp đùi trắng nõn, nhưng thường thì tôi chỉ nhìn trộm và không dám nhìn lâu. Già Âng nghiêm lắm. Già Âng gọi: “Kra, xuống đây tao cho cái này”. Tôi nhảy xuống, già móc một củ mì nướng trong gùi ra bẻ cho tôi một miếng. Mày ăn thử xem, ngon lắm đấy. Già vừa nói vừa ăn ngon lành. Trong mắt già có một nỗi buồn khó nói thành lời. Tôi tự hỏi, không biết đã có khi nào già Âng thích nhìn những cặp đùi con gái chưa nhỉ? Khi già nhìn vào những cặp đùi ấy thì già sẽ buồn hay vui nhỉ? Già làm một mình, không cần nhờ đến lũ thanh niên. Sau hai ngày thì cái nhà mới, tuy nhỏ nhưng cũng đã xong. Có chỗ đặt phản nằm, có chỗ đặt bếp lửa. Chỗ ngủ của tôi là chiếc ghế gỗ làm bằng gốc cây bằng lăng đặt gần bên bếp. Con vẹt đậu trên vách, miệng lảm nhảm, nó đang ngủ mê! 

Già Âng sống một mình đã lâu, từ khi tôi về buôn Kroa thì thấy già đã sống một mình rồi. Nhiều bữa buồn buồn sau vài li rượu, già thường ôm tôi vào lòng vuốt ve chuyện trò. Già nói, ngày trước vui lắm, ngày tau đang còn trai tráng mà, đi làm nương, rảnh rỗi thì vào rừng đi săn, vui! Già lại nói tiếp, bây giờ khác rồi, cái gì cũng khác trước rồi… Nói đến đấy, già lại rót rượu uống. Tôi ngồi chờ già bẻ cho một quả chuối hay quả bắp ngồi ăn. Mỗi lần kể chuyện ngày xưa như thế, già lại cho tôi ăn nhiều nhiều. Vì thế mỗi lần nghe già nhắc đến chuyện ngày xưa là tôi lại thấy vui vui! Trong cơn hứng chí, tôi lao tót lên xà nhà rồi đu người móc chân lên mái là, thả cho mình đu đưa. Vừa đu đưa vừa nhai bắp là sướng nhất với tôi! Già Âng trừng mắt: “Cứ sung sướng đi, có ngày mày chết! Có sướng, có khổ, sướng nhiều, khổ nhiều!”.

Bây giờ đến nơi ở mới, già lại càng buồn hơn, tôi biết thế. Đôi mắt tinh anh ngày xưa bây giờ đã tối sầm lại, giấu ánh nhìn u ám dưới đôi lông mày rậm bạc phếch tháng năm. Nhà mới của già nằm ngay đầu con đường dẫn xuống ngòi nước. Chiều chiều, lũ thanh niên xuống ngòi tắm rửa và gùi nước, thường tạt vào nhà già, ngồi chuyện trò một lúc rồi mới đi. Mấy amí chu đáo thỉnh thoảng lại cho già một ít rau rừng hoặc mấy quả trứng gà. Bọn thanh niên thì lúc nào cũng vui, già Âng nói với tôi là “Bọn này nó chưa biết buồn!”. Chúng đi qua, hỏi già: “Già ơi, có cần thêm nước không để tụi cháu gùi giúp?”. Già Âng xua xua tay nói, ờ ờ, có rồi, có rồi. Thế là chúng đi tiếp, tiếng cười lan mãi xuống tận ngòi nước. Thằng Y Pre hát: lang thang qua núi đồi… Lũ thanh niên đi rồi, già ngồi nhìn theo, lẩm bẩm, ờ ờ, cái núi đồi này, cái ngòi nước này… 

Mọi việc rồi cũng đâu vào đấy. Nhà đã dựng xong. Con đường đã được dọn sạch. Lũ trẻ được tắm rửa sạch sẽ lại chạy nhảy nô đùa. H’Nhi dẫn ba đứa cháu xuống tận bến nước, tắm rửa kỳ cọ cho từng đứa một. Mới có mấy ngày bận dọn nhà mà chúng nó đứa nào cũng bẩn, chân bám toàn đất đỏ, mũi chảy lòng thòng. Thằng anh lớn nhất cũng mới chỉ cao hơn cái gùi người lớn một tẹo. Tắm rửa sạch sẽ xong, chúng lại đẹp như những thiên thần nhỏ. Phải công nhận chúng được thừa hưởng tất cả vẻ đẹp hoang dã của dòng họ Ayŭn. Thằng Y Kuk, thằng Y Siêng đều có đôi mắt nâu mở to rất đẹp, con H’Mary đôi môi đỏ chót, hàng lông mi dài trên đôi mắt sáng tròn xoe rất dễ thương. Nhìn nó, H’Nhi càng nhớ chị gái. Nó giống chị H’Lum như tạc. Mỗi khi nó cúi xuống, hai hàng lông mi rợp cả đôi má hồng hồng. Từ ngày amí mất, nó cứ quấn quýt lấy dì, buổi chiều nó thường ngồi đầu cầu thang ngóng theo con đường từ rẫy về. 

Thương chị H’Lum một, thương cháu mười phần. Hôm làm lễ chôn cất cho chị, mọi người lục tìm khắp gian buồng, gian bếp, chẳng có gì đáng giá. Mọi người nhìn nhau, ái ngại. Già Âng nói: “Phải chia cho đều, phần của nó phải cho đủ để nó về sống với atâu. Luật tục ngàn đời nay như thế, nghe chưa!”. Cuối cùng, người ta chôn theo chị một cái rựa, một cái lưỡi cuốc và cái ché cũ, thêm một nắm cơm nữa. Thế là chị đi về bến nước atâu. Cuộc đời của người phụ nữ nghèo trên thảo nguyên, sống hay chết cũng chỉ đơn giản chừng đó thứ mà thôi. Amí vừa chùi nước mắt chảy trên hõm má nhăn nheo vừa nói: “Chị mày đi đầu thai, để lại cái khổ cho người sống mình rồi!”. “Chuyện gì hả mí?” – H’Nhi hỏi. Thì cái chuyện čuê nuê chứ còn gì nữa. Tự dưng tim H’Nhi đập loạn xạ. Từ bữa chị H’Lum chết, H’Nhi vẫn thầm lo lắng. Yàng ơi, čuê nuê ư? Nối dây? Không lẽ…

Amí vẫn nói như chỉ để mình nghe: Trong buổi họp gia đình ngay sau khi con H’Lum mất, đáng lẽ hai nhà bên trai bên gái đã phải bàn, phải thống nhất cho xong chuyện čuê nuê để người chết yên tâm về với buôn làng atâu nhưng cái thằng Y Đoan nó say rượu quá, hỏi cái gì nó cũng gật gù, mà bà mẹ chồng thì già quá mất rồi, cái nhớ cái quên, thế cho nên đến giờ vẫn chưa bàn được… Lại mắc cái chuyện dời buôn dời nhà nên ai cũng bận cả. Đến giờ mọi chuyện vẫn chưa xong. Thôi, để hôm nào thằng Y Đoan nó tỉnh tỉnh một tí rồi họp bàn lại. H’Nhi bực bội: “Làm sao mà nó tỉnh được, nó là con ma rượu rồi mà!”. Vừa nói, H’Nhi vừa với tay lấy cái gùi mắc trên cột bước xuống cầu thang. Amí nhìn theo con gái, nước mắt lã chã. 

Khi tất cả mọi nhà đều dựng lên, chỗ ở mới đã xong xuôi, buôn Kroa tổ chức lễ cúng bến nước. Thường thường, lễ cúng bến nước được tổ chức sau khi thu hoạch mùa xong. Nhưng năm nay, nương rẫy để lại cho thuỷ điện rồi, không thu hoạch nữa, lại đến nơi ở mới nên lễ được làm sớm hơn. Bọn thanh niên được giao dọn sạch, trang trí chỗ ngòi nước thật đẹp. Ngòi nước này từ đây sẽ là bến nước mới của buôn Kroa. Không có nước thì người không sống được, con trâu con gà không sống được, và cây cỏ cũng héo khô. Nước quan trọng nhất, bến nước quan trọng nhất! Già Âng vừa ngồi tần ngần mân mê cái chiêng duy nhất còn sót lại của buôn vừa khẳng định một mình như vậy. 

Lũ thanh niên khiêng những tảng đá xanh phẳng lì về lát dọc bến nước. Y Wen thạo việc nhất được giao làm cây nêu trang trí tua rua theo kiểu truyền thống. Bảy cây lồ ô già được chặt về, khoét mắt ghép lại thành máng. Vui nhất là lũ trẻ con, chúng nó chơi cả ngày ngoài bến, hết rờ tay vào cột cây nêu lại chạy lăng xăng vốc nước rửa mặt. Khi H’Nhi xuống đến nơi thì mọi việc đã sắp xong. Mặt trời đã nghiêng qua bên kia hắt bóng dãy núi Chư Mang đổ thành một vệt dài qua bến nước. Ánh nắng xuyên qua làn hơi bụi nước mờ mờ của buổi chiều tạo nên một bức màn mỏng trùm lên thảo nguyên. Thấy H’Nhi đến, Y Ní huých khuỷu tay Y Wen, cười tinh quái: 

“Có người đi tìm mày đó!”.

Hình như đoán được họ đang nói về mình, H’Nhi mỉm cười, mặt đỏ ửng.

Y Ní lại thì thầm:

“Đúng là một bông hoa Êdăp đang nở!”.

H’Nhi lúng túng nâng gấu váy, đặt mấy cái gùi xuống sửa soạn quả bầu khô hứng nước. Y Wen cố lấy giọng tự nhiên, hỏi:

“H’Nhi gùi nước sớm thế?”.

“Dạ, để tối nay nấu xôi chuẩn bị mai cúng bến nước Y Wen à”.

Làm như vừa sực nhớ ra điều gì, Y Wen nói:

“A, tối nay họp thanh niên đấy, H’Nhi nhớ đi nhé!”.

Những tiếng cuối cùng YWen nói thật nhỏ, lẫn vào tiếng giọt nước chảy vào miệng bầu, nhẹ nhàng, ấm áp.

Lễ cúng bến nước vẫn diễn ra theo đúng nghi thức truyền thống của người Êđê. Một con heo lớn được mổ bày ra đầu bến nước để bày tỏ lòng thành của mọi người với Yàng nước. Già Âng mặc nhiên được coi là chủ bến nước mới, đứng ra làm chủ lễ. Lão thầy cúng già nua bên kia núi Chư Mang, tận buôn Mtha xa xôi không về kịp. Già Âng làm luôn mọi việc. Sau khi già Âng bày biện đồ cúng gần máng nước, ba chàng trai ngồi, năm cô gái đứng sau lưng nghiêm trang chuẩn bị làm lễ. Già Âng vận cái khố có tua dài, mình khoác chiếc áo thổ cẩm. Bộ đồ này già ít khi mặc đến, cất kỹ dưới đáy gùi. Lúc sáng, khi già lục lọi chiếc gùi mây thì phát hiện chiếc áo đã bị chuột cắn thủng một lỗ giữa lưng. Không còn cái khác, không kịp vá, già để nguyên lỗ rách, mặc luôn. Già đưa cánh tay khẳng khiu vuốt dải áo, chậm rãi quỳ xuống: “Bớ Yàng, hôm nay, buôn Kroa làm lễ cúng bến nước, mời Yàng núi, Yàng sông, Yàng bên đông, Yàng bên tây về đây cùng hưởng lễ vật với dân buôn Kroa và phù hộ cho Kroa hưởng mưa thuận gió hòa, dòng nước trong mát ngọt lành, mùa màng tươi tốt, tất cả già trẻ trong buôn đều khỏe mạnh…Bớ Yàng…”. Giọng già Âng rung rung, thống thiết vang lên vọng vào tiếng nước chảy, hoà vào tiếng gió thổi, bay mãi vào tận trong núi Chư Mang. Phía sau lưng già, những gương mặt nghiêm trang. Tôi đứng sau, nhìn thấy cái lỗ áo rách trên lưng già động đậy, giống như một vết bắn của một viên đạn vừa xuyên qua lưng. Già Âng vừa dứt lời thì tiếng hò reo vui mừng vang lên. Đoàn người rồng rắn theo chân già Âng hứng nước đi phân phát đến từng nhà để cầu mong Yàng nước chở che, phù hộ. H’Nhi phải làm công việc khiêng nước với đám thanh niên không còn thời gian trông cháu nữa. Thế là ba anh em con nhà ama H’Lum lẽo đẽo chạy theo chân già Âng, chạy hết nhà này đến nhà khác. Mấy đứa trẻ trong buôn chen nhau trèo lên cầu thang theo đoàn người đi rẩy nước. Con bé H’Mary chạy không kịp, ngã sõng soài, khóc ré lên. Đi hết một vòng các nhà thì mặt trời đã đứng bóng. Chưa kịp làm cái nhà dài truyền thống để tổ chức các buổi lễ hội. Tiệc rượu được bày ra ở nhà già Âng. Dưới bóng cây Kơnia, rượu thịt, cơm lam được bày ra trên tấm phản trải lá chuối tươi. Chưa kịp làm rượu cần, uống tạm rượu trắng. Sau mấy câu nói ngắn gọn của già Âng, mọi người vui vẻ uống rượu, tạm quên đi những vất vả lo toan đang chờ đợi. 

Già Âng uống ít, ngồi nhìn mọi người ăn uống, nheo nheo mắt cười. Già nói với bọn thanh niên: “Cứ uống đi các con. Uống thật nhiều vào. Thảo nguyên đang đợi đấy!” Câu nói này nghe quen quen. Buôn trưởng Ma Noi nói to, át cả tiếng bọn trẻ con: “Uống nào, uống mừng bến nước mới, mừng nơi ở mới. Mọi việc chắc chắn sẽ tốt đẹp!”.

Mọi người đang vui vẻ thì chợt thấy Ama Kuk xiêu vẹo đi vào. Có tiếng lào xào: Y Đoan đi đâu từ sáng đến giờ mới mò về? Lại say xỉn rồi phải không! Ama Kuk không nói gì cả, vơ lấy can rượu rót đầy ca rồi ngửa cổ tu một hơi hết sạch. 

Hắn ta tu sạch ca rượu thứ hai rồi mới cười cười, nói, giọng đã méo xẹo:

“Tao làm sao mà phải say! Ừ, mà đúng là tao say đấy! Tao sẽ nối dây với H’Nhi. Ha ha, tao lại sắp có vợ trẻ đẹp rồi…”.

Mọi người nhìn nhau, lắc đầu. Yàng ơi! Cái thằng Y Đoan này, chuyện trong nhà mà đem đi nói lung tung vậy là sao! H’Nhi tất tả chạy đến cầm tay anh rể lôi vào nhà, giúi thêm một cái nữa cho anh ta ngã khoèo ra trên cái ghế kpan. Miệng hắn vẫn lảm nhảm. “H’Nhi ơi, ta sẽ nối dây với dì đấy, em của ta ơi, ha ha!”. 

Mặt H’Nhi đỏ ửng rồi chuyển sang trắng bệch như mặt tượng gỗ. Tôi thấy có nét gì đó quen quen. Không lẽ, kiếp trước chúng tôi có quen nhau? Tôi không dám chắc nhưng càng nhìn càng ngờ ngợ đã gặp nhau từ lâu lắm. Ừ, càng nhìn càng thấy quen, tôi cứ thích nhìn H’Nhi mãi thôi, nhìn không chán. Già Âng nói: “Kra à, cái thằng khỉ con láu lỉnh này, mày cũng thích hóng hớt chuyện nhà người khác đấy nhỉ, ra ngoài chơi đi”. Bị bắt quả tang, tôi vụng về gãi đầu rồi co chân nhảy vụt ra ngoài cầu thang, leo tót lên cây. 

Chuyện kiếp trước tôi chỉ ngờ ngợ chứ không dám chắc, nhưng cảm giác quen quen cứ bám chặt lấy tôi mỗi khi nhìn thấy H’Nhi. Vì thế mỗi khi già Âng quên để mắt là tôi thoăt thoắt chuyền cành theo bước chân H’Nhi đi khắp buôn Kroa, khắp cả vùng núi Chư Mang. Sau hôm ấy, H’Nhi như người không hồn. Nàng nhổ cỏ lúa trên rẫy, mắt thẫn thờ nhìn xuống thung lũng. Tôi cũng buồn lây. Đôi mắt ấy dẫu buồn vẫn đẹp. Cảnh vật dưới đôi mắt đẹp lại càng đẹp. Tôi thấy dưới thung lũng, đàn bướm vàng không biết từ đâu túa ra, chập chờn trong gió xanh biếc. Gió lại rất thơm, thật đấy, tôi há miệng ngoạm một miếng gió và nuốt ngay vào bụng. Hai hàng nước mắt trong veo lăn trên gò má hồng. Tôi biết H’Nhi buồn chuyện gì rồi. Y Đoan muốn bắt H’Nhi nối dây. Đó là phong tục ngàn đời nay của người Êđê Dham ở Chư Mang. Chị chết thì em gái thay, không có em gái thì cháu gái tiếp tục nối dây với anh rể. H’Nhi như bông hoa vừa nở bên suối, còn Y Đoan thì nhàu nhĩ như con gà trống già trụi lông trụi cánh. H’Nhi lại đã thầm yêu Y Wen. Tôi ngắt một nắm lá bỏ vào miệng, không biết là lá cây gì mà đắng ngắt. Tôi nhổ phì phì. Việc quái gì mà H’Nhi phải nối dây, luật tục là thế, nhưng H’Nhi dứt khoát không chịu thì cũng không ai ép được, luật tục cũng không ép. H’Nhi nghe tiếng động ngước mắt lên tán cây nhìn. Tôi biết mình bị lộ vội nhe răng ra cười. Nàng nói, Kra ơi, tao khổ lắm, biết không, tao làm sao không nối dây với Y Đoan được, tao thương Y Wen, nhưng thương các cháu nhiều lắm! Tao không chịu nối dây thì ai nuôi chúng nó? Tôi kêu, kẹc, kẹc… Tôi muốn nói với H’Nhi nhiều nhưng nàng sẽ không hiểu được, nên mọi điều định nói, tôi đành giữ trong lòng. Con chim phí từ đâu bay đến đậu trên ngọn cây nhìn tôi rồi chép miệng chừng như muốn chia sẻ điều gì, tôi bẻ cành cây khô dứ dứ, nó bay sang rẫy nhà khác, kêu ré lên và không dám bén mảng đến gần H’Nhi nữa. 

H’Nhi tỉa lúa mãi đến lúc mặt trời xuống khỏi núi Chư Mang, nàng vẫn cặm cụi làm. Tôi nóng ruột quá, kêu kéc kéc… H’Nhi ơi, về thôi, sắp tối rồi mà. Khi H’Nhi về đến nhà thì mọi bếp lửa trong buôn đều đã đượm than hồng. Ba đứa cháu côi cút đang lê la trên sàn. Thằng Y Siên mút tay chùn chụt, mũi xanh lòng thòng, dài như con giun đất màu xanh ngọc. Thằng Y Kuk đang dỗ con bé út đừng khóc. H’Nhi thả gùi vào góc nhà, tất bật nhóm lửa, lấy gạo đựng trong gùi trên bếp bỏ vào nồi. Tôi tần ngần trước cầu thang một lúc rồi chợt nhớ đến già Âng đang ở nhà một mình, tôi phóc thẳng một mạch về. Không biết nhà nào nướng bắp, mùi bắp nướng thơm phức, tôi càng bươn bả chạy nhanh hơn. Về đến nơi thì thấy già Âng đã ngủ say bên bếp từ lúc nào, bên cạnh, bầu rượu cạn khô vứt lăn lóc. Khuôn mặt già nua đầy những nét nhăn nheo chồng chéo. Tôi nghĩ, nếu tôi bằng tuổi già Âng, có lẽ mặt tôi phải nhăn hơn như thế nhiều. Một cái mặt nhăn nheo đầy lông lá! Với tay vào trong gùi, tôi nhặt một trái bắp luộc đưa lên miệng. Hôm nay, tôi không thấy đói. Bắp non và bùi thế nhưng miệng tôi đắng ngắt. 

Tôi biết vì sao miệng tôi đắng rồi.

Tôi ra ngoài sàn đứng, nhìn về phía nhà H’Nhi. Có lẽ, bây giờ, nàng đang cho bầy cháu ăn tối và tắm rửa. Mái tóc dài của nàng sẽ phủ lên người con bé H’Mary, nàng khe khẽ hát ru, tiếng hát nàng êm hơn tiếng sáo, bay vút lên. Tôi nghe tiếng hát ấy vẳng bay trong gió. Mấy hôm nay, gió nhiều. Gió từ bên núi Chư Mang tràn qua, mang theo hơi lạnh quấn quýt trong sương bảng lảng. Tôi chợt rùng mình ớn lạnh. Tiếng ai như tiếng Y Wen, đúng tiếng Y Wen thật rồi, lại có tiếng H’Nhi nữa. Thì ra tôi đã bước đến gần nhà H’Nhi mà không biết. “H’Nhi muốn nối dây thật à?”. “Không, không phải H’Nhi muốn, nhưng thương các cháu lắm Y Wen ơi! Chị H’Lum về dặn em chăm sóc mấy đứa nhỏ, đừng để chúng đói khổ…”. Có tiếng nức nở, tiếng hơi thở gấp gáp. Người tôi tự dưng nóng ran. Tôi muốn bước đi nhưng hình như có bàn tay vô hình nào đó níu lại, không cho bước. Y Wen thì thầm, H’Nhi à, không lấy được nhau sao… Có tiếng khóc thét của trẻ nhỏ. Tiếng H’Nhi nói, thôi, ngày mai gặp nhau trên rẫy nhé! Sau đó là im lặng. Tiếng khóc trong mơ của lũ nhỏ cũng tan biến trong đêm không hề để lại dấu vết. 

Những tháng năm dài rộng ở Kroa, tôi vẫn cô đơn, nghĩa là không kể những lúc ở cạnh già Âng, phần lớn thời gian tôi lang thang một mình. Những con chim phí lắm lời, tôi không thích, con vẹt già nua lẩm cẩm chỉ đáng để người ta thương hại, tôi không chơi. Nhìn nó ngủ gà ngủ gật trên đầu cầu thang, tội quá chừng, tôi dúi cho nó một trái bắp ăn dở, nó nhìn tôi gật gù cảm ơn rồi lảm nhảm điều gì không rõ. Tôi kệ xác nó, chạy theo anh em nhà ama Kuk đi học. 

Buôn mới, trường học cũng vừa được dựng lên. Một dãy nhà xây quét vôi trắng tinh nằm ngay trên đường vào núi Chư Mang. Cô giáo người Juăn thơm tho sạch sẽ tận ngoài huyện vào dạy. Cô mặc quần áo màu xanh, nhìn từ xa giống như con châu chấu lượn qua lượn lại trong lớp học. Mỗi lần mở miệng ra giảng bài, mắt cô chớp chớp. Tôi nhìn vào trong đôi mắt ấy, thấy toàn những hình ảnh xa lạ. Nhưng cô có mùi thơm, cũng là mùi thơm xa lạ, tôi chắc chắn thế. Mùi thơm toả ra khắp lớp học. Chỉ có điều tôi không thích lắm là cô nghiêm khắc quá. Trong đôi mắt cô thỉnh thoảng lại ánh lên những ý nghĩ bực bội dữ dằn không nên có. Hình như lũ trẻ nghịch quá thì phải. Tiếng thước kẻ của cô gõ xuống mặt bàn đanh như súng nổ làm bọn trẻ lắm lúc giật thót mình. Có hôm, tiếng thước kẻ của cô gõ mạnh quá làm con bé H’Mary hoảng, nó tè ngay trong váy. Dòng nước ngoằn ngoèo bò lặng lẽ trên ghế, chảy xuống đất và nhanh chóng biến mất dưới nền nhà đầy bụi đỏ. Cô giáo không biết, vẫn dạy tiếp, nhưng được một lúc thì cô dừng lại, hai cánh mũi hồng hồng của cô phập phồng đánh hơi. Cô ngửi thấy mùi lạ trong lớp! Cô nghiêm giọng hỏi: 

“Em nào đi vệ sinh trong lớp?”. 

Những cặp mắt tròn xoe nhìn cô. Đôi mắt tròn xoe của cô nhìn lại. Im lặng. Con bé H’Mary tội nghiệp cúi gằm xuống đất. Dưới chân nó, dòng nước đã khô nhưng vẫn để lại một mảng nâu sẫm. Mọi cặp mắt đổ dồn về phía nó. Tôi thấy nó rùng mình một cái thật mạnh rồi oà lên khóc. Cô giáo bước xuống, không nói gì, cầm tay nó đưa ra khỏi lớp. Khi ra đến giữa sân, cô mới nói: “Hôm nay cô cho nghỉ, về thay đồ, nghe chưa!”. Khi cô đang nói với con bé thì ở trong lớp, bọn nhỏ đã cười nói huyên náo. Phút chốc, chúng nó quên sợ. Thằng Y Siên hét toáng: “Hôi quá, hôi quá, mùi nước đái!”. Cô giáo lập tức mang thước quay vào. Còn H’Mary tội nghiệp đi tiếp một đoạn đến dưới gốc cây thì ngồi lại, như một cây nấm cô đơn, nó khóc tấm tức một mình. Tôi biết, giờ quay về nó cũng không lấy đâu ra váy áo mà thay. 

Lũ trẻ trong buôn đều phải đến trường, lớn vào lớp lớn, bé theo lớp bé. Cô giáo dạy chúng hát: Trường của em be bé/ Nằm lặng giữa rừng cây/ Cô giáo em tre trẻ/ Dạy em hát… Thằng Y Kuk với lũ bạn lớn thì tập viết chữ lên tấm bảng nhỏ mang theo. Lúc đầu tôi trèo lên bám vào bậu cửa xem chúng học, mũi hít hà làn gió thơm từ bục giảng toả ra. Mùi thơm ấy chắc chắn từ người cô giáo. Hôm nay, cô mặc bộ đồ màu xanh rất đẹp. Tôi thầm so sánh cô giáo với những cô gái ở buôn Kroa, da cô trắng hơn nhưng ngực không cao bằng, mùi thơm thì rất lạ, có lúc ngửi thì dễ chịu khoan khoái, nhưng ngửi mãi lại thấy ngứa ngáy trong mũi. Tôi bật cười vì sự so sánh ngộ nghĩnh không giống ai. Bọn trẻ trong lớp kín đáo liếc ra, có đứa nhận ra tôi, ngó ra ngoài nhăn mặt chọc, thế là cả lớp nhốn nháo, một vài đứa bụm miệng cười. Cô giáo nhìn ra thấy tôi đang bám vào cửa liền hét lên, ôm lấy mặt. Rồi cô vùng dậy, nhảy phóc qua cửa sổ. Tà áo của cô vướng vào móc khóa cửa, giật ngược lại, cô không chạy được nữa, bèn đứng im đó, úp mặt vào vách mà khóc như trẻ con. Có lẽ, nhìn bộ dạng tôi gớm ghiếc quá! Tôi không đợi người ta đuổi, tót ngay lên cây bằng lăng ngoài sân ngồi dòm xuống. Sau một lúc xôn xao, tất cả bọn trẻ đều quay vào bài học, quên hẳn tôi, duy chỉ có một cặp mắt vẫn thỉnh thoảng hé nhìn ra ngoài, nháy nháy với tôi, đó là thằng Y Siên. Nó lấy bút vẽ một vòng quanh miệng rồi ngoác miệng ra nhe mấy cái răng sún cười với tôi. Tôi nhăn mũi khịt khịt với nó. Cô giáo vừa dạy vừa nhìn ra ngoài với ánh mắt đầy cảnh giác. Một tay cô cầm thước gõ, một tay cầm tà áo dài giữ chặt lấy.

Hình như trong nhà ama Kuk, thằng Y Siên lười nhất. Mẹ mất, cha nghiện rượu, thằng Y Kuk một mình dỗ em, còn nó tha hồ đi rông, đợi khi nào dì H’Nhi gọi về ăn cơm thì nó mới về. Học nó cũng lười. Tất nhiên là cô giáo không khó khăn gì để phát hiện ra trò nghịch ngợm của nó. Cô gõ thước lên bảng kêu rầm và quát: “Y Siên, chú ý học bài!”. Nó co người lại, lấm lét cúi xuống tập viết. Tôi ngồi một mình nhìn chán chê rồi cũng đi chỗ khác. Những con chữ không hấp dẫn tôi. Chợt nhớ lại câu nói thầm thì của Y Wen với H’Nhi tối qua, tôi một mình lên rẫy. 

Mùa rẫy thường là có mưa. Người Êđê ở Chư Mang thường làm những chiếc lều nhỏ ngay giữa rẫy, dưới bóng mát cây kơnia sum suê lá. Khi tôi đến gần lều của H’Nhi thì mặt trời đã ở đỉnh đầu, hắt ánh nắng chói loà như lửa xuống mặt đất. Hơi nước bốc lên ngùn ngụt. Rẫy nào cũng vắng hoe, mọi người đã nghỉ trưa hết. Trên những nóc lều bằng cỏ tranh, ngọn khói bếp xanh lam ngoằn ngoèo toả lên. Tôi dừng lại nghe ngóng, hình như có mùi cá khô nướng lẫn với mùi ớt trái cay cay. 

Trên nóc rẫy H’Nhi không hề thấy ngọn khói, chắc nàng đem cơm đi, không cần nổi lửa đun nấu. Tôi rón rén lại gần, thật gần. Từ trong lều, phát ra âm thanh nhè nhẹ của hơi thở. Tôi ghé mắt nhìn vào. Một cảnh tượng kỳ lạ đập vào mắt tôi, cảnh tượng ấy ám ảnh tôi suốt cả quãng đời còn lại của tôi ở núi Chư Mang. Trên tấm phản giữa lều, Y Wen đang nằm, gác đầu lên cặp đùi nõn nà của H’Nhi, ngủ ngon lành, cặp môi hé mở ngậm hờ hững vào đầu núm vú hồng hồng của H’Nhi. H’Nhi ngồi dựa vào vách cỏ, bộ ngực nõn nà tròn đầy kiêu hãnh cong vút lên như con trăng đầu tháng. Nàng đang chìm vào giấc ngủ thiên thần, gương mặt phảng phất nụ cười mãn nguyện. Trống ngực rộn ràng, tôi rón rén bước giật lùi, lòng thầm ghen tỵ với Y Wen. Tự dưng tôi cảm thấy khát cháy họng, và đói nữa, bụng dưới lại chướng lên, đau nhức. Của nợ! Tôi gạt những giọt nước mắt vô cớ trào ra rồi dò dẫm tìm về với già Âng của tôi. 

Già Âng đang uống rượu với ớt xanh. Thấy bộ dạng thất thểu của tôi, già nheo mắt hỏi: “Ơ này cái thằng không cha không mẹ kia, mày làm sao đó? Sao giờ mới mò về?” Tôi kêu kéc kéc, kéc kéc, tôi buồn quá, buồn nhiều quá… Già Âng nhìn vào mắt tôi, hỏi, cái con khỉ này, mày cũng biết buồn hả Kra? Tôi không biết trả lời sao, bèn bốc một quả ớt xanh bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến rồi nhổ phì phì ra ngoài cầu thang. Vừa lúc ấy, buôn trưởng Ma Noi bước lên cầu thang. Bị hạt ớt bắn vào mặt, Ma Noi sừng sộ: “Có gì mà nhổ?”. Già Âng đỡ lời: “Ma Noi đó hử, vô uống rượu với ớt”. Ma Noi vẫn hậm hực: “Cơ chừng này thì may ra cũng chỉ có cách uống rượu với ớt cho qua bữa thôi!”. Già Âng hỏi: “Là làm sao? Có xảy ra chuyện gì?”. Ma Noi nhặt một trái ớt cắn ngang: “Mẹ cha chúng nó, mình đã lùi vào tận bên trong núi, nhường đất đai cho nhà nước làm thuỷ điện, thế mà rồi cũng chưa xong”. Ông ta cầm ly rượu từ tay già Âng, trút ực vào mồm rồi nói tiếp. Thằng Nhà nước lấn từ ngoài vô, mình đi vô lại gặp thằng Nông trường cao su lấn từ trong ra. Những vạt màu mỡ về tay chúng nó hết cả”. Già Âng gật gật đầu: “À, ra là thế…”.

Chuyện ấy, sau này tôi nghe nhiều người kể lại với nhau. Rằng trong buổi họp ở xã với đại diện Nông trường cao su để cắm mốc ranh giới, Ma Noi đã đứng lên phản đối quyết liệt. Chủ tịch xã nói: 

“Đồng chí Ma Noi có ý kiến rất thẳng thắn, rất tốt, nhưng thuỷ điện là của nhà nước, để đồng bào cùng có điện dùng, như thế, buôn Kroa nhường đất cho thuỷ điện là đúng rồi. Còn Nông trường cao su muốn mở mang đất trồng thì nên mở rộng về phía Tây. Cả buôn Kroa bây giờ, hơn trăm hộ, mà đất đai còn vẻn vẹn mấy chục héc ta…”.

Đại diện Ủy ban huyện cắt lời Chủ tịch xã:

“Nhưng trồng cao su cũng là chủ trương của Nhà nước, bà con ta nên chấp hành, trước mắt là cắt dải đất phía bên này núi Chư Mang và một phần vùng Lòng chảo, sau đó tính tiếp, khó khăn đâu huyện sẽ giải quyết sau”.

Ma Noi vẫn kiên quyết:

“Bên suối Kroa và những vạt đồi phía bên này núi Chư Mang là nơi màu mỡ nhất, tại sao chúng tôi phải bỏ, phải nhường. Trong khi Nông trường nhà nước có máy móc sao không chịu khai phá phía Tây, ngược về bên kia núi? Tại sao?”.

Đại diện Nông trường giải thích mãi, càng nói càng dài ra như dây rừng, rối rắm. Ma Noi không chịu, bỏ ra về, ra đến cổng uỷ ban liền ghé ngay vào bên cổng, vén quần đái một bãi. Vạt đất bazan bắt nước sôi lên, từ đó, bốc lên một đám bụi nhỏ màu hồng như một bông hoa đất nở bung trước mặt Ma Noi. Ông ta lẩm bẩm nói với bông hoa: “Đồ ăn cướp!”. Bông hoa nghe xong, không trả lời, lặng lẽ tan biến.  

Già Âng trầm ngâm: “Thảo nguyên này có còn là của mình nữa đâu!”.

Tôi nhìn vào mắt Ma Noi, thấy trong đó những ngọn lửa cháy bùng lên, nhảy múa đe doạ. Bỗng dưng, tôi thấy sờ sợ. 

Rồi H’Nhi cũng về ở hẳn với Y Đoan và ba đứa cháu côi cút. Ngày H’Nhi làm lễ nối dây là ngày buồn thảm nhất với tôi. Mây không biết từ đâu cuồn cuộn kéo về đứng chật núi Chư Mang. Rồi trời đột ngột nứt toác ra vãi mưa xuống. Những vạt cỏ biết trước sức mình cúi rạp xuống chịu trận. Con vẹt già đứng trên gốc cây khô ngó đăm đăm ra nhìn làn nước mưa trắng xoá và nói huyên thuyên điều gì đấy không còn nghe rõ. Tôi đu mình trên xà nhà, đuổi theo con tắc kè. Già Âng hỏi: 

“Kra, mày đến nhà Y Đoan uống rượu mừng không?”. 

Tôi nghe hết nhưng vờ không nghe, mải miết chạy theo tìm bắt cái đuôi con tắc kè. Con tắc kè bị đuổi chạy vòng quanh nổi khùng quay lại trợn mắt dọa tôi. Mắt nó có viền màu đỏ, trông dễ sợ. Tôi thầm nhủ, đến nhà Y Đoan để làm gì? Để nhìn thấy vẻ mặt mãn nguyện của Y Đoan ư? Hay đến để nhìn bông hoa rừng H’Nhi rũ xuống vì đau khổ? Những chuyện ấy, không cần đến đó để nhìn thì tôi cũng có thể hình dung được. Một ít lễ vật đạm bạc sẽ được bày ra. Già làng đặt vòng tay của vào… và nói… Trong khi đó, Y Đoan, người nồng nặc mùi men, nói không tròn tiếng, sẽ nói… cuối cùng là H’Nhi, nàng sẽ nói trong nước mắt… Nghĩ đến đấy, tôi bủn rủn cả người, bàn tay đang bám vào xà nhà buông xuôi, toàn thân tôi tự do rơi xuống đất, đau ê ẩm, những vẫn không đau bằng H’Nhi, chắc chắn thế. Tôi kêu ré lên từng hồi. Con tắc kè tưởng tôi sợ nó nên bỏ chạy, nhìn theo bằng ánh mắt hả hê. 

Ngoài trời vẫn mưa nên không ai nghe tiếng kêu đau khổ của tôi hết. Tôi là cái gì ở buôn Kroa này? H’Nhi là gì của tôi mà tôi bận bịu vì nàng đến thế? Không ai trả lời được. Tôi vớ lấy bầu rượu của già Âng ngửa cổ tu ừng ực. Dòng nước nóng như lửa chảy tràn vào họng, vào ruột tôi. Toàn thân tôi cháy bừng bừng. Cả người tôi là một ngọn đuốc. Tôi lao như điên như dại ra ngoài mưa và chạy, vừa chạy vừa gào thét. Gió hỗn độn bên tai. Mưa nhảy múa trước mặt. Tôi không biết mình chạy đi đâu và chạy bao lâu. Ngày hôm sau tôi thấy mình tỉnh dậy trong chòi rẫy của H’Nhi.

Ánh nắng buổi sáng rọi qua vách cỏ xuyên vào mắt tôi. Tôi choàng mở mắt. Một buổi sáng đẹp trời. Bầu trời xanh biếc, không hề còn chút dấu vết nào của những đám mây hôm qua. Ở Chư Mang, mưa đến rất bất ngờ và tạnh cũng rất nhanh. Lao xao tiếng người đi làm rẫy sớm. Từ dưới thung lũng, hơi nước mờ ảo bốc lên. Từ trong đám hơi trắng mờ ấy, tiếng nước suối róc rách reo vui từ đâu vọng về chừng xa lắm. Bầy chim phí cổ đeo yếm đỏ chuyền cành ríu ran trong vòm cây kơnia lá xanh óng ánh. 

Một ngày mới lại đến mà tôi thì không biết làm gì! H’Nhi gần gũi và thân thuộc của tôi, người tôi thương từ kiếp trước, đã làm vợ Y Đoan rồi. Tôi còn ở Chư Mang làm gì nữa. Nghĩ đến nàng, tôi lại thấy khát. Khát cháy họng. Tôi lao xuống suối, vục mặt xuống mà uống, cho đến khi căng tròn bụng. Con suối nhỏ này, không biết tên nó là gì nhỉ? Tuy không lớn bắng suối Kroa, nhưng nước ở đây cũng ngọt và mát. Tôi quay lên đồi, định bụng đi tìm một quả bắp ăn đỡ. Mặt trời đã lên khỏi rặng núi xa xa, trải ánh nắng chan hoà xuống thảo nguyên. Giờ này, mọi người đang bận bịu với công việc rẫy nương. Người tỉa lúa, người nhổ cỏ đậu, phạt gốc le. Các đống lửa đốt cỏ đã bắt đầu nhả khói thong thả. Một ngày bình yên!

Quá trưa, tôi leo lên cây kơnia trên rẫy già Âng nằm ngủ. Đám rẫy của già nằm chính giữa sườn đồi, nhỏ thôi, nhưng đất tốt. Già vừa gieo hạt sau cơn mưa đầu mùa mà nay thân bắp đã quá đầu người. Cái chòi rẫy của già nhỏ xíu, bện bằng cỏ tranh vàng ươm. Bên cạnh là mảnh rẫy của buôn trưởng Ma Noi, tiếp đó là rẫy của nhà ama H’Jêh, ama Hoa, những vạt lúa, bắp nối tiếp nhau xanh mơn mởn. Vài con trăng nữa thôi là hạt lúa hạt bắp sẽ chắc mẩy, trĩu cành. Dưới chân lúa là những thân bí, dưa đầy quả. Yàng vẫn thương người Kroa, nhất định thế. Trong giấc ngủ của tôi có mùi thơm của bắp, có tiếng gió lùa xào xạc trong cỏ tranh, màu xanh kỳ ảo của bầu trời Chư Mang thân thuộc. Tôi đang mơ những giấc mơ dài xa lắc của kiếp trước, khi tôi chưa lạc vào kiếp khỉ, hoang hoải đau thương làm người. Tiếng ồn ào đâu đó xa xa làm tôi tỉnh giấc. Hình như có tiếng cãi nhau, hình như có tiếng âm âm tức ngực, rồi tiếng người quát tháo rõ dần. Hình như có chuyện! Núi Chư Mang dạo này đến nhiều chuyện lạ! Cái thuỷ điện không biết từ đâu đến nằm ngang con suối, giành hết nước hết cá, bây giờ lại cái nông trường đến giành đất trồng cây. Tôi từng nghĩ rằng vùng Lòng chảo này, thảo nguyên này mênh mông, chân người đi không hết, hoá ra không phải thế, không hề như thế. 

Tiếng ai như tiếng Ma Noi quát tháo: “Không được, không được, đứng yên đấy!”. Tôi dụi mắt nhảy phóc xuống, lao bổ đến nơi có tiếng ồn. Một con vật to đùng màu đỏ chưa hề gặp bao giờ đang giận dữ nhả khói và lầm lũi tiến vào gần vạt rẫy nhà ama Hoa, đứng trước nó là Ma Noi, amí Hoa, thằng Y Săc và mấy người đàn ông nữa. Ma Noi hét lớn:

  “Dừng lại, không được ủi, đây là đất của buôn Kroa, chúng tôi không đồng ý…”. 

Từ trong miệng con quái vật, có một cái đầu người thò ra, hét to không kém: 

“Tôi làm theo lệnh của lãnh đạo, bà con thắc mắc thì cứ đi gặp lãnh đạo”. 

Cái đầu thụt vào, biến mất. Con quái vật vẫn lầm lũi tiến, cây cỏ đổ ràn rạt trước mũi nó. 

Bỗng không biết từ đâu, già Âng xuất hiện, đứng chắn ngay trước con vật lạ. Già đưa hai tai lên cao, đang định nói gì đó thì chợt một đoạn rễ cây bị móc vọt lên, kéo theo một đám bụi đỏ như máu trùm lấy người đối diện. Già loạng choạng ngã xuống. Tất cả mười mấy cái miệng đều hét lên: 

“Dừng lại!”. 

Con quái vật khực khực vài cái rồi đứng lại thật. Tôi thấy có một luồng lửa chạy qua trong đầu rồi chạy nhanh xuống ngực. Tim tôi thắt lại, bốc lửa ngùn ngụn. Tôi lao bổ vào con vật lạ, nhảy lên mình nó và la hét chí choé. Lửa vẫn cháy rần rật trong bụng tôi. Vừa lúc ấy cái đầu người lúc nãy lại thò ra tôi tiền chụp lấy và dừng hết sức cấu xé nó. Tôi cào, tôi lăn lộn trên mặt đất, cái đầu người kia cũng lăn lộn, đất tung bụi đỏ mù, tôi khóc mê man trong bụi đỏ và lửa cháy. Hình như những người xung quanh cũng đang lăn lộn và khóc như thế, tôi không còn tỉnh táo để nhận biết xung quanh nữa. 

Chỉ đến khi tôi thấy mình ngồi trong chòi rẫy già Ânh tôi mới bắt đầu tỉnh táo đôi chút. Mí Hoa xuống suối múc nước lên để Ma Noi rửa cho già. Già nằm trên tấm phản bằng nửa thân cây bằng lăng, tóc vẫn còn dính bụi đất. Thấy tôi lại gần, già đưa bàn tay gầy gò vuốt má tôi, già gọi tên tôi: 

“Kra, mày nóng nảy hung!”.

 Tôi kêu kéc kéc từng hồi dài, ai bảo con quái vật đó định làm hại già! Ma Noi đưa tay chỉ về phía nơi xảy ra xô xát lúc nãy, nói: 

“Nó đó, cái máy ủi của Nông trường đó”. 

Tôi nhìn theo, con quái vật máy ủi bị đám đông xô lật, nằm bẹp dí dưới hố đất sâu, chổng vó lên trời. Chắc nó chết rồi!

Tất nhiên, sau đó là những ngày ầm ĩ. Cán bộ huyện, cán bộ xã rồi cả đại diện của nông trường về họp tại buôn hết đêm này sang đêm khác. Tôi không được tham dự, chỉ ngồi chầu hẫu bên ngoài nghe chuyện. 

Cán bộ huyện nói gay gắt:

“Chúng tôi đã nói rồi, trồng cao su là chủ trường lớn của Nhà nước, đồng bào phải ủng hộ, đằng này lại kéo nhau đi đập phá máy móc, hành hung công nhân, tôi thấy ý thức của bà con ta cần phải xem xét lại. Tôi đang cho công an điều tra xem ai chủ trương đem thú dữ đến để chống lại người nhà nước để xử lí nghiêm minh”. 

Mọi người im phăng phắc. Nghe tiếng củi nổ lách tách trong bếp. Ngoài ngòi nước, tiếng con chim tlang kêu từng hồi thê thiết. Tôi mà là thú dữ ư? Tôi chẳng biết, nhưng dứt khoát, với người dân buôn Kroa, không ai coi tôi là thú dữ. Tiếng người đại diện Nông trường giãi bày:

“Chúng tôi đã xin ý kiến cấp trên trước khi tiến hành san ủi, chỉ tiếc rằng bà con mình nóng quá nên mới bể chuyện thế này”.

Tôi chờ tiếng của Ma Noi, nhưng không phải, tiếng già Âng vang lên sang sảng:

“Ai? Ai nóng?”. 

Lại im phăng phắc, không ai lên tiếng. Tiếng nói già Âng có một sức mạnh nào đó khiến cho người ta phải suy nghĩ. Già nói tiếp:

“Buôn làng Kroa rồi sẽ đi đến đâu? Phía ngoài nhường cho thuỷ điện, con suối Kroa mất rồi, phía trong nhường cho cao su, đất ở đâu để sống, cái rẫy ở đâu?”.

Tiếng ào ào, nhốn nháo, đúng rồi, ở đâu? Đất rẫy ở đâu? Tôi nghe trong mớ âm thanh nhốn nháo ấy những lo lắng, những căm giận còn nén lại chưa kịp vọt ra ngoài. Amí Hoa không nói được nhiều tiếng phổ thông, phát biểu được câu đầu “tui có ý kiến” xong liền chuyển qua nói tiếng Êđê. Bà nói một tràng dài, giọng lảnh lót đầy phẫn nộ. Những âm gió phát qua kẽ răng rin rít. Đại ý là nếu Nhà nước muốn làm gì trên mảnh đất vùng Lòng chảo núi Chư Mang này thì phải hỏi ý kiến bà con trước đã. Đừng vào chuồng dắt bò của người ta đi rồi sau đó mới đến bàn chuyện mua bán. Theo luật tục mà nói, đó là hành động ăn cắp. Đất nào cũng có chủ, đành rằng Nhà nước là ông chủ lớn nhất nhưng không phải vì thế mà muốn làm gì thì làm. Những vạt đất màu mỡ nhất phải để lại cho bà con trồng trỉa. Cán bộ huyện hình như không rành tiếng Êđê nên ngồi há mồm nghe rồi quay sang hỏi nhỏ người ngồi cạnh: 

“Nó nói cái gì thế?”. 

Dù ông ta nói rất nhỏ nhưng tôi vẫn đoán được câu hỏi ấy. Có tiếng con nít nằm ngủ trong địu khóc thét lên, bài phát biểu của amí Hoa bị gián đoạn. Buôn trưởng Ma Noi nói, thôi, được rồi, khuya rồi, ai ấy về ngủ đi. Sáng mai đi làm, đến tối về họp tiếp. Khi mọi người ra về thì gà đã gáy lác đác. Cán bộ chui tọt lên chiếc xe đợi sẵn nổ máy lao vút đi về phía trụ sở Uỷ ban xã. Tiếng máy nổ làm mấy con chó trong buôn giật mình, sủa inh ỏi. Trong làn ánh sáng đèn xe chiếu vụt qua, tôi thấy H’Nhi ôm con bé Mary trước ngực, dáng đi nặng nề. 

Rồi mọi việc cũng qua. Nông trường không dám lấy thêm đất, chỉ dừng lại ở mé đồi cách rẫy già Âng mấy chục bước chân. Điều tôi lo nhất là già Âng. Sau lần té ngã ấy, già yếu hẳn. Bọn thanh niên làm thay già hết mọi việc. Già ăn rất ít. Đêm đêm, già nằm ngay cạnh bếp lửa, ho sù sụ. Con vẹt già vô duyên bắt chước ho theo hù hụ nghe não nùng. Tôi buồn tôi đi lang thang. Sung chát đắng, tôi vơ một nắm nhét vào đầy miệng và nhai, nước mắt ứa ra mặn đắng hơn sung. 

Có lẽ tôi phải về rừng, ừ, phải về rừng! Cái ý nghĩ lạ lùng ấy tự dưng xuất hiện trong đầu tôi và cứ ám ảnh mãi. Điều gì đã khiến tôi buồn chán đến nỗi muốn bỏ buôn làng mà đi? Tôi không rõ lắm, nhưng có một điều rất rõ là tôi đang buồn, và thất vọng. Ngày nào cũng thấy con quái vật màu đỏ rú ầm ầm, ăn hết mảng rừng này đến mảng rừng khác, tôi không chịu nổi. Những vạt cây đổ rầm rầm, tức ngực. Lũ trẻ con trong buôn thấy lạ suốt ngày chạy theo xem máy ủi máy đào. Người lớn bất lực. Những đồng tiền đền bù của thuỷ điện cạn dần.

 “Cơ chừng này rồi lại đói cho mà xem!” – Ma Noi than thở.

Những mùa nắng mùa mưa nối tiếp nhau đi qua núi Chư Mang. Và rồi đói, đói thật. Lúc đầu không ai nói ra. Nhà nào cũng cố giấu, nhưng rồi giấu mãi không được. Con H’Mai nhà mí Doan đi học ngất xỉu trên lớp. Cô giáo người Yuăn sợ xanh mắt nhìn đứa học trò xỉu dần trên tay mà không biết làm sao. Lấy dầu gió xoa khắp người, H’Mai tỉnh dần, miệng há ra, ngáp ngáp. Thằng Y Sao ngồi bên cạnh nói: “Nó đói!”. Cô giáo cầm gói xôi để dành trong túi ra bón cho nó. Thằng Y Sao ngồi bên cạnh nuốt nước bọt ừng ực, nước mắt chảy xuống mũi. Ăn hết khói xôi, H’Mai ngồi dậy học tiếp. Cô nhìn một lượt khắp cả lớp, đứa nào cũng uể oải. Cái đói đến thật rồi. Nhiều nhà đã ăn đến gùi thóc giống trên bếp. 

 Cái đói đến cùng lúc với cái lạnh. Người già nói với nhau: Từ khi có thảo nguyên đến giờ, chưa bao giờ thấy lạnh đến như thế. Đêm, ra đứng trước cầu thang, gió vút qua sắc như cật nứa. Đặt bàn chân xuống thảm cỏ trước nhà, nghe làn nước lạnh thấm vào như ai cắt. Già Âng co ro bên bếp lửa. Dạo này, già ít đi ra ngoài. Tôi buồn, dạo chán rồi cũng về nằm bên bếp. Nghe gió hun hút đi ngoài thảo nguyên. Già nói với tôi:  “Lạ thật, chưa bao giờ lạnh như thế này, xin Yàng đừng mang tai hoạ đến!”.

 Buôn trưởng Ma Noi gùi một gùi bắp khô còn nguyên vỏ đến, nói: “Già ơi, cố mà ăn cái bắp này cho khoẻ!” Già Âng nhìn gùi bắp, không nói gì, nước mắt chảy vòng quanh bên hố mắt trũng sâu, lấp lánh. Đó là gùi bắp giống! 

Nhìn già Âng khóc, tôi không thể nào chịu nổi. Tôi nhảy tót ra khỏi nhà đứng trước cầu thang ngó mông lung. Buôn làng chìm trong bóng tối. Đâu đó có tiếng trẻ con khóc, nghe quen quen. Hình như mấy đứa nhỏ con nhà ama Kuk, cháu H’Nhi. Đã mấy ngày liền tôi không gặp H’Nhi. Không biết giờ này nàng đang làm gì nhỉ? Câu hỏi đó thôi thúc tôi bước đi trong giá lạnh. Tôi đến nhà H’Nhi. Đúng là tiếng con bé H’Mary đang khóc. Tôi chỉ dám đứng ngoài vách ngó vào. H’Nhi ngồi bên bếp, vừa nhai cái gì đó trong miệng vừa đút cho con bé. Bên cạnh, thằng anh Y Kuk đã ngủ. Dưới sàn nhà, Y Đoan nằm còng queo như một con chó ốm, miệng đang lải nhải điều gì đó. Tôi đứng nhìn một lúc, sực nhớ đến già Âng, tôi quay về. Đêm đã khuya lắm. Trong bóng đêm im lặng, có những bóng người, hay là bóng ma? Hình như buôn làng đang sắp sửa xảy ra chuyện gì đó nghiêm trọng, tôi linh cảm thấy thế. Tôi hỏi già Âng, nhưng già không nói gì, im lặng nhìn lửa nhảy nhót trong bếp.   

Ma Noi như một ông chủ phường săn, đứng ra cáng đáng mọi việc của buôn làng. Cố giấu vẻ mệt mỏi, ông nói trong cuộc họp buôn: 

“Bớ bà con, bữa nay, tui gọi bà con về  họp để bàn một số chuyện trước mắt – ông nuốt nước bọt đánh ực rồi nói tiếp – việc cần kíp nhất bây giờ là cứu đói. Có người nói với tui rằng, ai cũng đói như nhau thì làm sao cứu? Nhưng tui nói, vẫn có cách”. 

Mọi người nhao nhao:

“Có cách à? Cách gì thế?”.

“Trước hết, tụi thanh niên siêng cái chân cái tay vô rừng tìm thêm cái ăn. Còn tui với già Âng sẽ ra xã rồi lên huyện đề nghị nhà nước hỗ trợ thêm”. 

Nói đến chuyện đi săn, bọn thanh niên hào hứng hẳn, quên cả đói. Mấy năm nay Nhà nước tuyên truyền cấm săn bắn trái phép. Mấy khẩu súng săn đã nộp cho xã đội hết. Y Wen nói: 

“Không nhất thiết phải có súng mới săn được thú, già làng và buôn trưởng cho phép là tụi tui sẽ có cách”.

 Cuối cùng, mọi người cũng thống nhất với nhau, vì săn trộm nên gặp thú lớn không được bắn, chỉ săn con heo con nhím thôi. Với tôi, chuyện săn bắn không hay ho gì lắm. Thấy súng là tôi sợ bắn nước đái, khiếp lắm!

Sáng sớm, bọn thanh niên kéo nhau vào rừng rồi, buôn trưởng Ma Noi đến kéo già Âng ra xã cùng với mình. Già Âng vừa nhai bắp trệu trạo vừa hỏi: Phải đi xin hả? Tôi không biết già đang nghĩ gì. Ma Noi cũng không trả lời. Từ đó cho đến lúc bước xuống cầu thang, hai người không hề nói thêm với nhau một lời nào nữa. 

Không biết già Âng và Ma Noi ra xã gặp ai và nói những gì mà khi về mang theo một túi mì tôm. Già Âng nói với tôi ngay khi vừa bước lên sàn: “Kra à, tạm thời có gạo ăn rồi đấy!”. Tôi nhìn già thăm dò, già cười cười ra vẻ bí mật, miệng móm mém. Ma Noi chào ra về, bước xuống cầu thang còn quay lại vứt cho tôi một mẩu mì vừa bóc. Theo phản xạ giống loài, tôi chộp lấy bỏ ngay vào miệng. Mùi vị hăng hắc, là lạ. Tôi vừa nhai vừa nghĩ, không biết già Âng có bí mật gì nhỉ? Tôi không ra trường học xem mọi người nhận gạo của xã mà đi qua ngòi nước, tìm vào núi Chư Mang, nơi lũ thanh niên đang đi săn. Lâu lắm rồi, tôi không vào sâu trong núi. Đường vào núi khá quang đãng, không còn rậm rạp như hồi trước. Đứng giữa sân nhà già Âng mà nhìn, núi Chư Mang xanh thẫm, nhiều ngọn xếp sát bên nhau chạy xa mãi vào phía trong vùng Lòng chảo. Càng đi vào càng thấy những ngọn cao cao ấy cách xa nhau, trùng điệp. Tôi chọn cách đu từ cây này qua cây khác, nhưng không ăn thua. Cây bây giờ thưa quá rồi, cành không chồng xếp đan nhau như trước kia. Lâu lâu lại phải tụt xuống những bụi dây thấp sát đất. Tôi bèn đi chầm chậm. Loài khỉ không bao giờ đi chầm chậm trong rừng. Tôi nghĩ, hay là mình không phải khỉ? Hay là sống lâu ở buôn Kroa, mình cũng trở thành người Kroa mất rồi? Mà khỉ hay người thì có khác gì nhau mấy. Tôi chỉ thấy khác một chỗ rõ ràng nhất là tôi không có quyền được gần gũi người mình yêu như Y Wen, dù là vụng trộm như Y Wen với H’Nhi.

Càng vào sâu, cây cối càng dày hơn. Tôi chuyển sang đu cành cho nhanh. Tôi vừa chuyền cành vừa nghe ngóng. Chợt nghe văng vẳng trong tiếng lao xao của lá rừng, tiếng hú thảm thiết của con thú nào đó bị sập bẫy. Tôi dừng lại nghe ngóng. Đúng là tiếng của một con vượn cái. Nó đang khóc than những lời trối trăng cuối cùng với con nó. Tôi dừng lại trên ngọn cây cao vút và chứng kiến tất cả. Con vượn cái đang lồng lộn bất lực trên ngọn cây. Dưới đất, đứa con của nó vừa trúng tên, đang nằm dài. Bên cạnh là mấy đứa thanh niên đang ngồi hút thuốc. Đứt ruột! Tôi quay gót dong thẳng một mạch trở về. 

Về đến nơi thì đã ngả chiều. Mọi người đang lũ lượt từ ngoài trường học trở về. Ai cũng gùi một gùi đầy vừa gạo vừa mì gói. Những gương mặt chập chờn trong sương chiều bảng lảng như những gương mặt tượng quanh nhà mồ. Sao họ buồn thế nhỉ? Già Âng của tôi đâu? Nghĩ đến già Âng, tôi chạy thẳng một mạch ra nơi chia gạo. Già Âng và buôn trưởng Ma Noi là hai người cuối cùng còn nán lại, chưa về. Mấy người lạ mặt đang thu dọn bao bì vương vãi trên mặt đất. Một người khác mập ú đứng chống nạnh giữa sân, luôn miệng giục những người kia. Già Âng lom khom nhặt nhạnh những hạt gạo còn vương vãi trên sân. Lão mập ú quay người lại hỏi: 

“Già vẫn chưa về sao? Chưa đủ gạo ăn à?”.

Già Âng chậm chạp ngẩng đầu lên, trả lời: 

“Đủ hôm nay, đủ ngày mai, nhưng có ngày lại sẽ thiếu”.

 Lão mập cười: 

“Già lo gì, hết Nhà nước lại cấp!”.

Già Âng cười móm mém, trông như đang mếu: 

“Cái Nhà nước của dân mà…”.

Buôn trưởng đang đứng tần ngần cạnh đấy nghe thế lên tiếng hỏi:

“Này, hỏi thật đồng chí chủ tịch, buôn Kroa từ xưa đến nay chưa bao giờ phải đi ăn gạo xin gạo cho của nhà nước mà bây giờ đói như thế này, đồng chí có biết vì sao không?”.

   Lão mập vui vẻ:

“Thôi thôi, tôi biết trong đầu buôn trưởng nghĩ gì rồi, tại thuỷ điện, tại nông trường cao su chiếm hết đất, đúng chưa?”.

Tôi nghĩ, đúng quá rồi còn hỏi gì nữa! Nhưng không hiểu sao, Ma Noi lại nghe ra rằng: Chúng mày siêng ăn biếng làm, đói là đúng rồi còn gì nữa! Nên ông nổi khùng:

“Tui đang hỏi thật, đồng chí lại giễu cợt tui đấy à?”.

“Tôi nói thế không đúng à?” – Lão mập vẫn bình tĩnh

“Đồng chí chủ tịch ạ, tui nói thật đấy – Ma Noi hạ giọng – Buôn Kroa bây giờ ra đói khổ thế này là vì mất bến nước, mất con suối Kroa. Yàng nước bỏ đi, Yàng đất bỏ đi. Yàng rừng cũng đi nốt. Làm sao không nghèo, không đói?”. 

Già Âng đang nhặt gạo, nghe giọng Ma Noi như sắp khóc, ngẩng lên giục, thôi, ta về thôi Ma Noi ơi. Hai cái bóng khom khom lầm lũi bước đi lẫn vào bóng chiều nhập nhoạng như tấm lưới trùm xuống vùng núi Chư Mang. Tôi lẽo đẽo bước theo sau. Trên trời, mấy con chim về tổ muộn vừa vỗ cánh vừa rối rít giục nhau. 

Tối muộn hôm ấy, khi các bếp trong buôn đã đỏ lửa thì tụi thanh niên đi săn trong núi mới về đến nơi. Thằng Y Kheo vác một bao tải đầy cheo chồn gà nhím. Tiếng ý ới gọi nhau trong ánh đuốc bập bùng. Buôn làng chợt vui hẳn lên như thể chưa hề có những buổi chiều đói khát u ám. Mọi người kéo về nhà già Âng làm thịt cheo thịt gà uống rượu. Mỗi người mỗi việc, đàn bà nhóm lửa, đun nước, giã muối ớt, đàn ông mổ thịt. Nhìn thấy cảnh máu me bê bết ấy, tôi hoảng. Tôi lại đi lang thang. Tôi vẫn không hiểu được họ phải ăn nhiều thịt thế để làm gì. Thịt và máu, kinh tởm. Mọi người đều đã kéo nhau đến nhà già Âng hết. Nhà nào cũng vắng lặng. Con đường đất đỏ dẫn ra phía trường học không một bóng người. Những bụi cây im lìm trong bóng đêm dày đặc. Chợt từ trong những lùm cây ấy phát ra tiếng gì đó khàn khàn nghe là lạ. Hay con vẹt già đi lạc không biết đường về? Tôi đứng lại lắng nghe, không phải, hình như là tiếng người! Ai nhỉ? Mọi người chẳng phải đã kéo về nhà già Âng ăn thịt rừng hết rồi sao? Tôi dò dẫm đến nơi phát ra những âm thanh nặng nhọc ấy. Một thân người nằm nghiêng trong khóm cúc dại sát bên đường, thở phều phào. Tối quá, không nhận rõ mặt người nào. Tôi cúi thật sát xuống. Trời ơi, mùi rượu nồng nặc! Tôi nhận ra ngay, Y Đoan, chồng nối dây của H’Nhi. Tôi cầm tóc hắn, kéo đầu lên. Hắn vẫn rên hừ hừ, lảm nhảm, H’Nhi ơi, anh chết mất, chết mất…Nghe nhắc đến tên H’Nhi, tôi lại thấy tưng tức. Tôi bỏ đi, cho nó chết. Nghĩ thế, nhưng tôi cũng biết, những đứa luôn mồm kêu chết thì còn lâu nó mới chết. Tôi đi thẳng vào rừng. Tôi phải về rừng. Đường đi vào núi Chư Mang hun hút gió. Tiếng thác nước reo gào từ phía nhà máy thuỷ điện thỉnh thoảng lại theo gió vọng đến rõ mồn một. Vì cái thuỷ điện ấy mà tôi mất con suối Kroa. Không biết rồi còn mất những gì nữa. Mà tôi thì có gì nhiều để mất? Một già Âng già nua buồn bã, một H’Nhi nõn nà trong tay kẻ khác. 

Tôi dừng lại trên một mô đất, ngoái đầu lại nhìn buôn Kroa đang khuất dần sau những tán cây xanh thẫm. Trên nền trời rộng rãi của thảo nguyên, một con chim đại bàng dang đôi cánh rộng màu xám lạnh vút qua. Thảo nguyên bát ngát. Những bức tượng nhà mồ đứng trầm lặng sau vạt cây ủ rũ. Tiếng xào xạc của đám cỏ ngả rạp mình trong gió. Tất cả những hình ảnh u buồn ấy khiến cho tôi càng cảm thấy mình quá bé nhỏ, quá lạc lõng trước cuộc đời này. Bất giác, trong trí não tôi vụt hiện về những năm tháng xa xăm của kiếp trước. Những cánh rừng già bất tận và dòng sông nhuộm máu. Tiếng hét thảng thốt của ai đó như một nhát kiếm đâm thẳng vào tim, buốt lên tận óc. Những chuyện không rõ ràng, xa lắc xa lơ. 

Những hình ảnh, âm thanh ấy, rõ ràng là vọng về từ kiếp trước.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

TEARS OF THE DEEPEST GREEN | NƯỚC MẮT MÀU XANH THẪM | Nguyễn Văn Thiện [chapter TWO]

dạ khúc cho tình nhân. oil.đtc. Art: Đinh Trường Chinh

I’ve told you, my love, in the Basin of Mount Chu Mang there have never been demons. You refused to believe, even after I’ve sworn with my life I’ve just returned from there, you claimed we’ve never been either. The stories I speak of I’ve seen and heard with my own eyes, not through anyone else. You’ve made up your mind and laughed bitterly that I have problems with my eyes. You said when the eyes have any kind of problem it won’t be able to see the truth and nothing but delusions.

What kind of eyes have problems? My love you claimed, it means those eyes are possessed by demons! Again, the demons. How could what I’ve seen and heard have anything to do with demons? You’re adamant, the word of demons is a double-edged sword, now means one thing later means another, with this person saying this, with someone else saying that. I still couldn’t understand what you meant. Is it possible that you’re also possessed by demons?

You wouldn’t answer but told me instead. On Ea Súp plateau there’s at the moment a terracotta tower. No one knows when it was built. Within the tower, floating around are evil demons. In the last few hundred years, they cogitated and trained, hardly ever coming out. Every time they do go out the mead has to bear devastation.

I said those kinds of stories are for children. You laughed at me with pity and said I’m too naive. When demons raise their voice in a melody glorifying life, that’s when it’s the end of life as we know it. When demons energetically narrate poetry, that’s when someone has thrown themselves into a pit of darkest despair.

One day, from within the tower, demons came out looking for people. The demons say you and I should pool our strength, what for? You’re needed, you’re important. I’ll help to turn you into a boss. Become a boss? The people finally queried. Yes, the demons answered, since up until now, you’ve only been acting like a boss, without authority. People still found it unbelievable, but seeing how tall and regal the demons were, with long distinguished greybeards, their voices warm, deep, proud, the people, in the end, began to listen. But how can you help us? The people asked. That’s easy, we have power beyond your imagination after the demons replied they again raised their melodious voices full of pride in a song, the wind too sided with the demons, carrying their melodies to all corners of the mead…

The people after a while became tired by the meetings. Some nights so agitated, like a spark, flared up in random sword fights. People died, dead bodies decaying abandoned, their eyes poked out by magpies. Exhausted from the loss, the people began to resent the demons. One night, they destroyed the tower. The lying demons all managed to escape, the only thing they left behind was a bloodied severed hand. Yellow tithonia began to grow from the patch of earth steeped in blood, bright yellow with injustice. The wind from the wilderness arrived in the lonely mead carrying with it the pungent smell of yellow tithonia.

 In the middle of the wet season, Mount Chu Mang is always wrapped in a blinding thick fog. Waiting for the light at the spine of the Mountain mother held me inside a hut amongst the trees. I’m human, in this lifetime, not yet born as an ape. As a reminder, my mother would constantly say: “Being human is something to be proud of my child!”. Which has more pride, I didn’t know enough then the difference between being human nor an ape ox cow frog toad. But I believed my mother’s words were the truth.  As a proud human, I held my head high.

I came into the world at the beginning of the last century. One morning, mother’s eyes full of love said: “Here, Y Lie, a young man of the highland, you’re old enough now, go and become something for the village!”. I obeyed, jumping off the ladder, hopping directly onto my galloping horse for one round of Mount Chu Mang before heading straight to joining the N’Trang Guh insurgent. Y Lat and I, two combatants of the Basin walking into what would be the most memorable time of our life. Time at the peak of a crippling fight between the insurgent and the French military. The lush green highland turned into a gruesome battlefield. Here in my short life as a human, I’ve “napped” away the most beautiful days of my youth. Perhaps, I should speak more of those times not long ago. The tale, after we’re gone, our souls ingrained in dewdrops wanders the mead, still could be heard from elders re-telling the story to the little ones over and over again, a part that can’t be missed in this endless journey of souls who had chosen the mead as their home. These same tales, there are those who would deliberately add, change, twisted into bits of truth.

The Basin lies outside just on the edge of the Ea Sup flat land, a valley divided by an angry Srepok river. The land glows red because of a million-year-old volcano’s constant flow of lava. At the peak of Mount Chu Mang looking down, the river is a ribbon of grey clouds draped across the valley, shifting for a moment before heading rapidly westward, onto the other side of the wilderness. The M’nong of the Ede tribes were the first to set their foot here before some continued on newer journeys. People’s feet couldn’t possibly set foot on it all, the highlands so vast, the wide expanse within four years was florid with rooftops. The original dwellers of the Basin. Coming dusk, while the young mothers were pounding grains to prepare dinner, three happy children were by the water bay haranguing each other to bathe. H’Ly carried along a tiny gourd to take water back for her mother. Y Lat running in front, Y Lie followed from behind, throwing tiny pebbles into the water as he ran, each pebble bouncing across the surface of the water. Their laughter brought warmth to the entire valley.

Noisy children from three different families but in the Basin saw each other as brothers and sisters. The two older brothers always reserve the best for their little sister. H’Ly came with her family when she had just learned to walk. It was pouring rain the day Monsieur Kadin brought his wife and child to the Basin. Rushing over to welcome them were the heads of each family, urging them to stay and stop their wandering feet. The heads of the wooden homes bunched up together by the river in the middle of the forest. Amidst a great expanse of Sun wind, bright-eyed golden sunburnt skin the children grew up. H’Ly’s mother asked her:

“When you’re old enough, who will you take for a husband? Y Lat or Y Lie?”.

“No no, I want to take both of them Ami”.

Y Lat is a little older, acquainted with shame, said nothing, stepped away elsewhere to play. Y Lie upset:

“You’re allowed to take only one husband!”

At the mead the time of harvest flew. The Basin had only three households in a clump by the quiet river. The boys grew up like two bronze boulders. Their arms lean rippling with muscles. On bright moonlit nights, Monsieur Kadin would call the boys to the clearing by the river for martial art training. I don’t have any sons. He said, I look upon you both as my sons, living amidst the wilderness, we have to be armed with martial art. Inheriting a natural talent from his forefathers, Y Lat’s swift like a Mountain lion. Sparing with his partner Y Lie, Y Lat would always win. After each sparring, Y Lat encourages his friend:

“You’ve improved a lot, doing well Y Lie!”.

H’Ly sat dangling from a tree branch hovered above the water, voice cheering echoed towards the shore:

“Y Lie, your fighting is amazing, H’Ly love it!”.

H’Ly’s affection is equal with the both boys, favouring neither. Monsieur Kadin squinting his eyes teased:

“Which do you choose from those two!”.

H’Ly laughed, watching the golden slits of the moon beneath the branches floated by. There’ll be a day I have to choose – H’Ly thought – how sad! But not now, this year H’Ly is sixteen harvest moons. The forest flower proudly watched her reflection full of the moon in the clearest stream of water.

An afternoon at the end of the dry season that year, the Basin welcomed a group of strangers. Chewing on grass the half dozing elephant by Y Lat’s home loudly blew its trunk, a long bellowing sound not sure if it was welcoming or in distress. At a glance, everyone knew the strangers came from far away. All over their travel clothes were dust and grass seedlings. Always hospitable, the owners slaughter a pig to treat the visitors. H’Ly helped her mother mix the water, placing cane straws into the wine cask ready to share. The guests after a few sips of wine nodded politely and sat and ate quietly. H’Ly thought: They probably haven’t eaten for a while. After wine and food had chased off the torturous hunger and thirst, began the stories.

“Thank you for your hospitality, the truth is we haven’t eaten for a few days, the pork is delicious!”

“Where exactly have you come from brother?”.

The visitors glanced at each other answered:

“We’ve left a place where there’s been fighting”.

Y Lat sat there listening, full of curiosity: Strange, outside the Basin, somewhere in the mead there’s a war and we’re unaware of it, no one here knows! He answered his own question: It’s true though, since the last wet season, no one has ventured past this incline of the road, no visiting strangers either, no news is correct.

Monsieur Kadin entertained a sombre thought:

“There’s a war? So that’s why.”

Y Lie’s mother worried:

“What do you mean by war?”.

A visitor answered:

“It is guns and bullets, killing each other, blood pouring into a river, into fountains!”.

A first for the people of the Basin, hence they couldn’t imagine. This imagery, they shall get to witness for themselves in a short time after that.

H’Ly innocent:

“But why does there have to be a war?.

      The visitors scratched their heads trying hard to find the simplest way to explain, the easiest to understand:

“Ah, it’s like this. There are people who come to our homes with bad intentions, seeing lots of our elephants and lots of our wine, they steal them, so we must fight to take it back, this is war”.

H’Ly nodding, expressing in the part  what she did understand, continued to queried:

“So is the war very far?”.

“Not very far, about a day’s walk from here the chieftain Guh is fighting with the enemy”.

Sombre were the worrying faces. An arriving dark cloud covered the entire Basin on this side of Mount Chu Mang. The cloud slowly grew thicker. The visitors after their rest and fill of food left early the next morning. A sombre air stayed hovering above the rooftops of the three households. Y Lat hasn’t the chance to ask the visitors who chieftain Guh is, how’s the fighting, who’s winning, turned to ask Y Lie and Y Lie also didn’t know. Both young men stood beneath the konia watching the cloud of red dust ascend the rise in the road up the hill across Mount Chu Mang. Y Lat’s father, Monsieur Ama Lat firm, said:

“The war will come here eventually. We have to also join the war, my friend Kadin, do you not agree?”.

“Absolutely!”.

“Me and Y Lie would be enough Ama – Y Lat cutting his father short, his breaking voice echoed”.

H’Ly sat weaving, alert, and listened. It’s unbelievable that such horror could now occur in our peaceful mead! Blood running into rivers, into springs… oh gosh, dear Yang! Since leaving the womb, she’s never heard of a more horrid tale. After a couple weeks of bright moonlight, she weaved the prettiest vest for Y Lat in place of a promise. She’s made up her mind to give her heart to Y Lat. On wings the declaration Y Lat’s love through the flute, it flew forever in her heart burning:

…oh rivers oh meadows listen, my dearest now a young woman / as the bamboo shoots show above the soil upon you the declaration of my love, as wheat show budding for you the declaration of my love / to the ground  ever fall my words of love / to the sky to ever fly away the words of my love / my dearest…

The sound of his flute perched atop the canopies, rippled atop the water drenched in golden moonlight. H’Ly cheeks red blushing. She thought then of Y Lie’s sad eyes. Probably right now, Y Lie strolling along by the river. Y Lie’s heart aching, but H’Ly is only allowed to choose one man. Don’t hurt too much, okay Y Lie! A beautiful girl shall come along for you!

The following days, the dark clouds continued to surround the peak of Mount Chu Mang. Low threatening sounds now and then filtered through from afar. Not the sound of thunder, not the sound of roaring tigers, nor down a slope stampEde of a memory of elephants. It sounded like the Mountain was about to split open, ready to spill lava. The team of horses inhaled the strange wind, their whining echoed across the valley, as they ran wild amidst the grass meadow. Monsieur Kadin in the middle of clearing the grass, stopped mumbling: “So it has started!”. Y Lie whipped his horse galloping up the top of the hill looking towards the East could only see the clouds crowding on top of each other at the centre of the expanse filled with thick smoke. The clear blue horizon of the mead now a sad depressing colour difficult to describe.

The next couple of days, Y Lat and Y Lie rode their horses across the mead searching for news. Each time they returned there was always news. Many strange stories! The M’nong, The Ede in Krong No region news were passed from ear to ear: The chieftain Guh had chased the Xiem invasion away, but now is fighting the French military who are armed with guns. Chieftain Guh has all the Yang helping him fight 100 battles without one single injury… The tales thrilled both eager boys, Y Lat and Y Lie. The day came, the two young men made up their minds to head for the road. So then the war had stretched its long lengthy arms all the way to the Basin hauling the two young men into battle. They had left before the war had reached the front doors of their homes.

Presently it was the first few years at the start of the twentieth century.

Through tears the two mothers implored to their sons:

“Chase the evil enemy as far away as possible son!”.

The fathers’ eyes red, not a word was uttered. H’Ly blinded by tears. She and Y Lat had stayed up all night, all the words of love exchanged, now left were exchange of glances, and impossible heartache. She held onto the foot of the ladder so she wouldn’t fall. Her full breasts by the ladder heaving with every sharp pain. The two young men jumped upon their steed, testing their reigns and went for one run around Mount Chu Mang before heading off. Their steed seemed to have understood about the long journey ahead, both giddy and anxious. The loud neighing like the slam of a hammer on the spine of Mount Chu Mang washed the meadows echoing like-sounding thunder. The flock of m’linh down by the river bewildered, startled and frightened scattered all over. In mere moments affront, the two grey shadows disappeared into the overwhelming deep green of Mount Chu Mang.

Trouble began to arrive at the Basin by the foot of Mount Chu Mang the moment after Y Lat and Y Lie were gone. The Sunlight was relentless from the twelfth month to the middle of the next year. Mount Chu Mang was a glaring yellow. Vines blooming stood at attention dead by the roadside. Coming dusk, looking from the veranda the west was a flickering cloud of smoke blaring light and fire. The herd of cattle and horses stomp their hooves on the hard earth searching for possibly any forgotten remaining moisture. In The Morning, H’Ly had to walk amongst the boulders naked in shallow water to fetch water in the middle of the river. In the middle of the river were floating dead fish. Monsieur Kadin discussed with his wife:

“If it continues to be sunny we might have to sell some of the cattle!”

“Yes, Yang has never made us bear it for this long. There isn’t enough grass we’ll have to sell”.

The mead animated as the sunlight danced, enlivening the fields and meadows.

The next morning, not yet dissolved, was the mist Monsieur Kadin and Ama Lat, cut through forest eastward, headed for Nam Nung to look for a buyer for the cattle. Twilight the next day they returned, with them two strangers. H’Ly invites the visitors to wash their feet at the head of the veranda. After a tiring stretch of the road, the visitors fell to a long sleep on the deck. At a glance you knew they’re father and son of the Juan tribe, one old one young, a model of each other. The son is a few years older than H’Ly. Watching him sleep, H’Ly missed Y Lat and  Y Lie. Full of life is the sleep of youth. Wondering at the moment, who was the vicious enemy the two young men of the Basin were fighting with far away and in which Mountain, river, places she’s never known. Y Lat’s marriage proposal bracelet was kept hidden away safely at the very bottom of the gùi. Pray that all the Yang will have mercy on us! H’Ly’s tears falling, streamed slowly down the curve of her plump round cheeks.

Just before dinner was on the way, full of sleep, the visitors woke up. The smell of dry bamboo shoots stir fried with venison floated all the way to the outside deck. The best cask of rice wine tied safely to a pole, ready with bamboo straws.They took their time eating, drinking, as they spoke of buying and selling. The elder visitor said:

“I shall buy all your cattle and horses, the delta at the moment needs a lot of meat for the battle”.

“We also want to sell all of them, can’t keep them, the dry grass all burned, even the drinking water is gone. Yang has never made us thirst as much as this year!”.

H’Ly sat listening in, thoughtful: It turns out, war is just not isolated in the mead. Do those places have a lot of property, why are there bad people wanting to rob it? She didn’t know who to ask, side glancing at the young visitor, his head was still in his food. H’Ly was even more mystified, how could people coming from a war possibly stomach so much food? When Y Lat and Y Lie… This was the first time H’Ly seen someone from the Juan tribe, also get to sit and share a meal with them, it was hard to describe the feeling. H’ly recently heard they were born from the Kinh tribe, by the sea, they don’t resemble people from the Basin and before now has never been seen before.

The next morning, by the time the valley was tinged in bright yellow, the buying and selling was done, the cattle exchanged and the money had been counted. Intuitively the horses agitated and sensed change, their squeals and nigger echoed through the valley, scattered the chaos. The cattle in a panic follow suit. The father and son visitors tried their best to force the herd through the Mount Chu Mang ravine veering away from the Basin. The herd of cattle and horses restricted by rope became more aggressive, none wanted to follow the other. Cupping his mouth with his hands Monsieur Kadin shouted:

“Round them by the river bank, the only way to leave is to follow the stone path…”.

Unacquainted with herding the son was unable to regroup the unwilling cattle. The Sun was already high above their heads but the horses, cattle still had not left the valley. The Sunlight began to bite. H’Ly standing from the verandah, lost her voice shouting: “Push them towards the water edge, hey hey…” Monsieur Ama Lat shaking his head: It’s no good, no good at all! He joined in the shouting: “No smoking, no…”. He’s discovered the smoke on the older visitor’s lips. But it was too late, the cigarette’s embers igniting rapidly the dry reeds, delivering a thin wisp of smoke. The same moment H’Ly asked herself where the source of the smoke came from the flames ignited.

“Fire, fire, watch out!”.

The shouting was displaced by the wind. In a blink the fire spread widely, the blinding smoke overwhelmed the grass field engulfing the entire river. Monsieur Kadin, quick thinking pulling the reins of his horse, jumped over the wooden fence across into the clearing by the house. In the meadow, the cows moaning, horses sputtering in a mixture of dust and smoke. Ami Lat both hands holding her head:

“So dangerous, both father and son are in the middle of it!”.

The Basin was thick with layers of smoke and dust for two days and the fire did not die out completely. The layer of dry grass completely burned, the noisy crackle of fire continued at the foot of rotting trunks. Choking, the charring stench of burning flesh permeated everything. Ama Lie and Monsieur Kadin with their machetes took to the middle of the field, as they walked mumbled quick prayers to all the Yang. The crows in a frenzy arrived with wisps of the burning flesh. H’Ly also followed her father to the grass meadow, earnestly looking for the bodies of the unlucky father and son. They’ve probably for sure been burned together with the horses and cattle. She meandered towards the river edge, where the crows were fighting for flesh. Heard moaning coming from an enclosure in the rocks by the water, there was movement right beneath a shrub. Rushing over, she couldn’t believe her eyes, startled by what she saw: a body was faced down on a boulder in the middle of the body of water, clothes smoked black, burned. Immediately she recognized it as the son of the trader. She went to get her father to help bring him up. “Gosh dear Yang, he’s still alive! Unbelievable ”- Monsieur Kadin gently carried his charred body as he continuously pleaded with all the Yang. After a good clean, setting him down on the wooden platform, the young man struggled to open his eyes crying out for water before collapsing again. H’Ly mixed some salt water to clean his wounds. Her voice soothing: Sleep, you poor unfortunate young man of the Juan, just sleep! Another sleep and all the pain shall be gone…

After the horrific fire, the relentless sunlight continued for another half week of the moon before the change of wind. Wind from the west blew across Mount Chu Mang carried with it moist vapours, then followed the rain. The dark clouds on the third day together crowded the valley, so thick it was possible to slice a piece off and put it in your mouth.

The waiting rain finally came! The rotring pungent smell of the decaying cattle was in everything. The young man of the Juan recovered, with Monsieur Kadin, Ama Lat carefully went to look for his father’s body. Nothing but bloating animal carcasses, not the unfortunate body of the guest. With some work, they managed to push all the carcasses into the river. Hovering above, the murder of a crow screeching in a frenzy ever ceasing. In the river,a school of catfish rushed to the surface to pick at the flesh. By the river the grass shoots began to show, night after night, bright eye rabbits rustling about the garden beds around the house gathered to munch on the new grass. Monsieur Kadin said to the young man of the Juan tribe: Stay for a while, completely recover then leave for home and it wouldn’t be too late. Son, the people of the Ede tribe of the Basin are very generous…

Spring, wild flowers bloomed in one enthusiastic yellow frame at the edge of the river. Glorious is the noon spring in Mount Chu Mang. The forever green hues of the Mountain, in clusters of bright flowers and fragrant grass. Sitting beneath the konia at the head of the field, H’Ly unbearably misses Y Lat. When would the war end? When? She raised her fingers to collect each huge shimmering round rolling tear. In it, Y Lat was riding across an endless mead, his sword flashing passing another deep green meadow. The tear shattered, lost in the new grass effused with the fresh fragrance of honey.

With the arrival of rain, there was never enough work. The young man of the Juan after his father passed away, no family left and so he decided to stay in the Basin. Ama Lat said: 

“Good, very good, stay and work in the fields”.

Day after day,  Juan and everyone went up to the fields, tending and planting. The scars on his body healed quickly thanks to the forest herbs. Sitting under the tree at the head of the field, Juan would often speak of the sea. A far off place where the soil is bleached white. The dry season, the sand dunes rolled up into soft peaks, slithering like a python in the wind. Then Juan would speak of the places he’s seen in his travels trading. 

“Very Strange, at the end of the road of Annamite range, the village there forces the boys and girls in their family to marry each other, no one is allowed to pick strangers! There are also villages without a single man…”

Monsieur Kadin asked: “Have you actually seen the war?”. “Yes, I’ve seen it, horrible, so many dead people!”. H’Ly shuddered, thinking of Y Lat and Y Lie in battle. Ama Lat sighing: “Tomorrow we have to go to the market, we don’t have anything left to trade”.

Barely light, at the very first rooster crow, H’Ly woke up with Ami wrapping a few essentials together so Ama could leave for the market. The years before, when there was no war, traders regularly dropped into the Basin, they hardly ever had to go to the market. Now and then the visitors who want to trade salt trade material stop by the ready elephant size deck, displaying honey, wood ear, deer horn, plenty to select from. Now, everything is harder, a full cycle of working in the fields not even a sign of an elephant’s footprint passing to trade.

The sturdy horses were ready just waiting for the road to be more visible before being on their way. A collection of gùi were labelled clearly with different wares. Juan asked Ama Lat and Monsieur Kadin to let him join them for the market. Juan ernest:

“I want to check for any news about my village.”

H’Ly teased:

“What if you find family and leave the Basin and Mount Chu Mang!”.

When the Sun fell completely in the West seemingly tinted with blood, their party arrived at the market. That night, they rested in a temporary tent, unpacked the tightly packed fists of rice with gourds of wine by the campfire. The horses were at ease chewing on blades of glass. Early in the morning at the market, faces were barely visible, the traders from far and wide began to arrive. The gùi full of wares were displayed on a grass clearing. On the other side of a walkway were other people’s stores ready to trade. H’ly never bored of admiring the endless variety of woven materials. The mesmerising greenest of bracelets, she saw for the first time in her life! Monsieur Kadin and Ama Lat sat displaying their wares to trade. Juan walked around the market looking for a familiar face. Some recognised Juan, asked:

“Where have you and your father been? When are you coming home?”.

Juan, happy and excited, asked all sorts of questions about his home village. We heard both you and your father have perished in some cave in the Mountains, your mother starved herself to death. Juan was floored, tears running. Monsieur Kadin consoled:

“Son, come home with us to the Basin by Mount Chu Mang, there’s no family left for you in your home village!”.

After that trip, Juan was spiritless. Afternoons, after all hands had stopped, Juan would stand at the head of the deck staring at the road out of Mount Chu Mang ravine hazy in the mist. Monsieur Kadin to his wife: 

“He’s only human, he misses his home!”.

The chieftain Guh’s insurgent is situated in the middle of Mount Nam Nung’s dense forest. They were at the height of a vicious fight when Y Lat and Y Lie found them. The two steeds after days of exhausting travel were allowed to rest rejuvenated by Krong No spring. The chieftain Guh asked: “Why would the young men of Ede Dham want to join our insurgence? Isn’t it more fun staying home drinking and eating grilled catfish, why look for death?”. Y Lat answered:

“Beg your pardon chieftain! Not that my brother and I want not to stay home happy and busy in the fields, but neither are we afraid of death. The enemy has reached this distant mead, anyone with a mind, should see that they should be chased away!”.

The chieftain Guh laughed loudly, his voice echoing through the Nam Nung valley:

“Good, I understand your desire, join us with your bows more for the insurgent, stronger. We may barely scratch the enemy with one arm, but ten arms, a hundred arms are enough for a fight. The enemy no matter how vicious would have to run from Nam Nung forest, run from the mead…”.

Chieftain Guh’s insurgent after the first few battles caused the French lose their sleep working out new ways to fight. Sleeping during the day, to fighting at night, the entire Nam Nung’s Mountainous area became the insurgent’s battle field. The French military during the day combed the entire area, at night they curled up inside their fort dare not a step outside, yet every night their soldiers on duty were shot by poisonous arrows.  Y Lie suggests making the crossbow longer than an arm’s length, a wider bow, shoots three to four arrows at once should alarm the enemy even more. Chieftain Guh jubilant:

“All the Yangs to us have brought two heroes! We should be able to defeat fort Jiang in half the moon’s half cycle”.

Fort Jiang was built in the middle of a large slice of land, where Jiang village used to be of the Ede Bih tribe. The Fort chief Buoc Gioa forced the young and old up Mount Nam Nung, but cunning enough kept the young men of the village, making them chop down huge trees to fence and fortify the fort. Many times chieftain Guh and the insurgent had tried to attack fort Jiang but still it stands. The French military took their huge guns and abundant ammunition for granted, didn’t care about sparing their bullets, and continued to shoot at random. An entire large area outside the cover of the trees were flattened, a fox in passing would have been noticed.

Buoc Gioa said:

“There’s no way the Guh could drop us, tell them our ammunition is faster, we’ll survive them, we have plenty of salt rice provision, they can do nothing out there but die”.

The French were terrified of the poison arrows, no longer complacent, asking for more guards from other forts. By the end of the rainy season in 1913, the fort chief Buoc Gioa ordered all military personnel to retreat completely behind the fort walls, and wait for reinforcement. Daylight, fort Jiang was like a gaudy red flower to the insurgence from Mount Nam Nung. Glaring newly dugged up Mounts of dirt piled up high. Poison arrows alone weren’t enough to penetrate the enemy’s fort. The chieftain had no more moves. Already in the middle of the rainy season. The murky Krong No river cuts across Nam Nung like a rancorous dragon. The only way to win was to drag those burning tigers out from their comfortable cage – Y Lat thoughtful. There has to be a way, but what? The posed question for the couple hundred caused many sleepless nights. The afternoons when the wilderness was veiled by curtains of blinding water, Y Lat and Y Lie sat staring at the walls of the rain, again missing home, missing H’Ly, missing the Basin by Mount Chu Mang. Yes, the Basin much resembles Jiang village. The enemy’s fort in the middle of a clearing next to Krong No river. The water flows just as earnestly as the Srepok river at home. Yes, it’s true, we need water! Y Lat yelled grabbing Y Lie’s shoulders:

“There’s one way, we have one way, Y Lie, we’ll need water!”.

Chieftain Guh was again very happy hearing Y Lat explained his plan in detail.

“I had known from the beginning, Yang had sent me heroes! Now, we must drink, we will begin tomorrow”.

Closer to the end of the wet season the storms grew bigger and bigger. Pounding from high up boulders of water, a spattering mess. In the deluge, the French hid inside their fort. The insurgent didn’t try to aggravate them either, silently wearing the rain carrying rocks to block off the running water. Logs the width of the wrist were bound together as barriers to hold the rocks in place, the rocks walling off the water. A thousand feet firm on the rocks, a thousand hands passing rocks and logs, hands splintered, sharp rocks cut their feet, blood ran raw and red. The Krong No rapids suddenly met wood and rocks stopped, rose up, spattering sprays of murky water. Enough trees were chopped to build ready rafts. The memory of elephants worked continuously day and night for the big battle ahead. Hey you the enemy, this wood, these people will crawl into your fort to ask why, to teach you a lesson! By the time you’re aware of it, be too late!

One dark rainy night in the middle of the wet season. Chieftain Guh gave the order to attack. When the memory of elephants pulled away the ropes securing the logs, the rocks fell free, the caged frustrated angry mass of water suddenly free falling shrieked. Rafts built from teak followed each other’s tail sped down the river. In mere moments, the water reached Fort Jiang. The insurgent fighters poised on each raft. The French inside the fort were still cosy and fast asleep. Their guards nodded off, not a chance to call out as a blade sliced their throat. The raft carrying Y Lat, Y Lie and a couple dozen of fighters floated over the fort fence, into the middle of the enemy encampment. After subduing the soldiers at the outside circle of the encampment, Y Lat and Y Lie quickly crept into their camp like Mountain geckos. Y Lat was by the fort chief’s bed before the enemy’s gun fire was heard. The chief’s guard startled awake and went for his rifle, a blade from outside the door swiftly cut his throat. The bullets flung randomly across the top of the tent and woke the fort chief Buoc Gioa. Swift as the cut, Y Lat swung his sword across the throat of the waking chief. Y Lie shivered as the jet of blood splattered all over his face. By their feet, the river water reached their groyne. The fight scene continued in the water. The French blinded by the night, their guns going off all over the place like rice husk. Many insurgent fighters fell in the crossfire. Overwhelming were the screams and shouting. The fort Jiang was completely squashed by the time it was light. Littered bodies of the enemy were everywhere. Lifeless bodies covered in bright red mud and water. Regrouping the soldiers Chieftain Guh sounded the gong, burying the dead, and prepared a victory feast.

Awake the entire night, Y Lie’s eyes glazed over, steeped in water, his skin bluish and wrinkly. Frantically looking everywhere in every hole, bushes big and small and Y Lat was nowhere. Checking over and over again nearly twenty bodies the insurgence had neatly placed side by side, still no Y Lat. Where can Y Lat be? Fort Jiang is now a flatten pile of dirt. Y Lie with his sword dug up a pile of earth at a time looking for his friend. Y Lat, how shall Y Lie explain it to H’Ly? What do I say to the people of the Basin? Slumped over a pile of dirt he continued to weep. The red earth soaked up his tears bled like blood, thick and sticky.

Two days later, a M’nong over in Bduh village tore through the forest and came, with a body draped over his back. Said he had found the body in their village water bay, figured the body was one of chieftain Guh’s people hence wanted to return it. Everyone immediately recognized Y Lat. On his body not a single mark of injury. Eyes still wide open. No one could work out how Y Lat died. Everyone guessed, while fighting with the enemy in the middle of the night, he must have been whisked away with tides. Y Lie brimmed with tears as he threw the last few fists full of earth on his heroic best friend’s grave.

The victorious battle that turned fort Jiang upside down caused sleepless nights for those in the other forts. They tried to find at all cost a way to completely be rid of the insurgence. Not sure from where came the rumour: Chieftain Guh after conquering all of Krong No and Krong ana shall ascend as king and will get rid of all M’nong  brothers to reserve all rights for the Ede tribe. Chieftain Guh had to swear in a ceremony in front of the entire insurgent.

“My dear brothers, the tribal people of Ede Bih, Ede Dham, the tribal people of M’nong Preh, M’nong Rlam, we are all brothers. Do not listen to the poisonous voice of the devil. All the Yangs are witnesses, all those of the N’Trang Guh insurgence are straight forward people, like clear spring water, like forest trees, no matter what never sway!”.

The enemy knows as long as  the N’Trang Guh insurgence exists there won’t be a day of rest for them. They plan within a short time to stamp and dissolve the insurgency by relocating a battalion of armed soldiers numbers ten times the previous. Travelled with ammunition and rations, salt and money. Knowing it will be a long fight chieftain Guh ordered for some of the men to be dismissed to return to the fields to hold onto the land and forest, the remaining hundred retreated into Mount Nam Nung to set up a base for the long battle.

The chieftain asked Y Lie:

“Now my young hero of the Basin, stay and fight or return to Mount Chu Mang is all entirely your choice. I won’t keep you, this fight will drag out the length of the river Krong No son…”.

Y Lie has already been thinking from dawn to dusk answered:

“Chieftain sir, I want to return to the Basin for a short while then return to fight with my brothers!”. “Good, I know the word of the Ede Dham is as straight and forthcoming as the forest trees, we shall wait here, on Mount Nam Nung, remember that!”. 

Y Lie left the insurgence to return to Mount Chu Mang after being away for two wet seasons. The road home only a day ride on horseback turns out to be far. He had to take a longer way to avoid the enemy’s fort. The path into the Basin bleached white with tall reeds. Y Lie rein in his horse stopped outside the Mountain slope to enter on foot. Every night Y Lie dreamed that he was already home, from the day Y Lat passed away. The thick dense dreams took hold of him, full of tears. Ama’s tears, Ami Lat’s, the old man Kadin’s tears, and H’Ly’s tears. Every time the same, H’Ly holding onto Y Lie’s arm pulling it hard, in pain, censured:

“Why Y Lie? Why didn’t you protect him?”.

Y Lie didn’t know what to say, tears running in streams. Some nights in Mount Nam Nung were misty and cold, and waking up with both of his arms used to support his head drenched, to working out he’s been crying. Suddenly, Y Lie was afraid: What could he say to Ama, Ami Lat, how do I tell H’Ly? So many times Y Lie yearned for home, now in Mount Chu Mang his feet didn’t want to move?

Noon, everyone is resting inside the house. The calves beneath the shade of the myrtle hid from the midday light. Their round eyes followed the stranger. H’Ly was the first to discover Y Lie, she was by the water bay doing the washing. “Dear Yang, is that really you Y Lie?”, shouting as she rushed towards him, “Ama, Y Lie’s home!”. H’Ly’s voice loud, ecstatic, like the sound of a breaking branch in the wind, fell in a flutter. She realised something was amiss in Y Lie’s eyes. A piece of darkness came crashing. She held onto Y Lie’s sun blackened arm shaking it:

“Y Lat? Where’s Y Lat? Y Lat’s not come home?”.

Y Lie quietly sat at the foot of the ladder.

“Ami, may I have some water, dear Yang, I’m dying of thirst!”.

The sudden joy came with it, a vast blanket of sadness across Mount Chu Mang. An entire week of the full moon, everyone avoided each other’s eyes. Y Lie couldn’t see Ama, Ami Lat’s eyes, and worst of all H’Ly’s eyes. Day after day, Y Lie carried the sickle to work on the fields. A complete patch of the hill was cleared. Juan also joined Y Lie in the field, seeing Y Lie silent like a boulder, bloodshot eyes, dare not ask, quietly sickled. Monsieur Ama Lat broke the silence:

“Y Lie son, relax for a bit, for any reason, we do not blame you!”.

Y Lie, still silent, hiding his tears wiped it off with the side of his sleeves. From the day Y Lat died, he would cry in secret like that. Often, he himself was curious:

“Hey, Y Lie, from where have you found all these tears?”.

Within the sad loss, day after day Juan felt more and more out of place. Everyone looked at him with cold eyes, Juan didn’t know what to do, but to console H’Ly, to stop her from crying so much, it’s not good for her health. H’Ly like a bird with an injured wing, drooped over, sat still not wanting to move, didn’t say much either. Juan didn’t know what else to say, quietly disappeared into his work like the moving shadow of a tree.

The mead dried and withered in the sunlight. Heated moisture rose from the very bottom of the layer of mud as the water washed the sky. The sky without a single cloud. In the patch of grass by the river, a flock of mallard pecking away looking for a feed lift their heads dazed watching H’Ly scrubbing the clothes. A blood red Sun glaring from the river.

Home half the week of a moon cycle, partly because he couldn’t handle the grieving air, partly because of his promise to chieftain Guh, Y Lie made up his mind to return to Nam Nung. But just before he departed there was news of the chieftain Guh having been captured by the French. Lost the leader of the wolf pack, the pack disbanded and fell apart. Y Lie was like a wolf who had lost it’s pack, returned to lick his wound at the head of the water bay. As usual he would only return home after dark, either clearing the field, fetching firewood, or guarding the crop. After a bath in the bay he would then drag his feet home, ripped naked shoulders drooping forward, brooding. Many nights, Y Lie brought the gourd of wine out on the deck drinking alone.

One time, mid drink, seeing Juan sat sharpening arrows alone, Y Lie called after him:

“Hey brother, stop for a moment and have a drink!”.

Juan stopped for a second, looked up, saw that Y Lie was in the middle guzzling from the gourd and thought he misheard, turned back to his arrow. Y Lie seeing Juan all silent, didn’t bother to ask again, thought, heck what’s going on? Suddenly there’s this strange guy living in our village, his face always sad like a boulder of rock!

His  thoughts returned to the time in battle with chieftain Guh. His and Y Lat’s footprints were imprinted all over Nam Nung, his dagger always with him notched up with so many bloody battles. The nights lying amidst the wilderness in the wind and rain, he often confides in Y Lat: “Y Lat I really miss Mount Chu Mang, I really want to go home!”. Y Lat silent, lay still, never answers. Y Lat was probably thinking of H’Ly. The truth is, with H’Ly, Y Lie always still carries silent burning embers, burning coal buried at the bottom of the fire. H’Ly had chosen Y Lat not Y Lie, hence, these feelings were further buried beneath the ashes so it may never turn into a flame. Y Lat now gone… left Y Lie’s heart in a knot. He brought out his flute again. The sound of the Dinhbuor rose, without a beginning nor end, travelled across the desolate mead. The verses of an old song. An injured bird/ wings flapping in despair/ you have my love, shoot it with your arrow/ drawn flames with those arrows/ in the long nights/ the mead burned to ashes… The melancholy sound of the Dinhbuor weeping made it unbearable for H’Ly. She sat down gently by Y Lie, “don’t cry Y Lie dear, Y Lie if you keep playing the flute this way H’Ly shall also die of sadness! Y Lie held onto H’Ly’s hands, weeping:

“We have wronged Y Lat!”.

The hot tears found her lips, H’Ly closed her eyes, from nowhere felt a flame burning in her heart. The reeds continue to whisper an endless tune of the mead. Beneath their feet, the Srepok river continued to cross the wilderness. A stroke of light sparking suddenly fell lazily into the field of grass from the direction of Mount Chu Mang amidst the sowing season. No moon nights were filled with phosphorescent streaks of light. Y Lie was reminded of the flash of Y Lat’s sword that night during the battle at fort Jiang, shivering, wrapped his arms tighter around H’Ly.

After paying off the guy who helped kill chieftain Guh, the French military slowly infiltrated all the villages along the extended strip of fertile land on the highlands. They established themselves in the Basin by building guard towers by the road crossings in Mount Chu Mang. The ingratiating soldiers came in droves, buying the locals. They brought with them red wine and tinned meat for the elders, decadent clothes to charm the women. Old Ama Lat, Monsieur Kadin reluctantly took the bottles of blood red wine, waited till they left before throwing them straight away into the river vowed:

“When this bottle of bloody wine floats to the surface that’s when we and those thieves can talk!”.

Y Lie from inside watched, saw everything, heard everything. He remembered the look on Y Lat’s face before returning to the earth. The terrifying memories returned. The flash of the sword struck in the water, the blood spurting from fort chief Buoc Gioa’s neck… Y Lie grinding his teeth as he watched Juan talk and joke with the French soldiers, his blood boiling over. “No, no way can we live with these thieves!”. Y Lie met Juan at the foot of the ladder of H’Ly’s house and asked: “Hey Juan, you want to follow those wolves?”. Juan fumbling: “No, no brother Y Lie, they just gave me a box of matches for cigarettes’ ‘. Y Lie said nothing more, quietly left for home. Lately, Y Lie stopped drinking all together. Sometimes taking Y Lat’s sword out to look at it. In the days long gone, Y Lat used to carve a line on the handle for every dead enemy he killed. Y Lie counted it again, nineteen lines in total. “More of them must die Y Lat, they’re trying to take the Basin, they have to die!”.

The dry season, spilling from the other side of Mount Chu Mang the wind changed its course, bringing with it a light sweetness, the pungent fragrance of golden tithonias. Everyone was busy gathering the rice stacks for final storage. This year, the Basin has good news. Daughter of the Kadin clan, young H’Ly will pick a husband after the completion of the harvest. The heroic son in law Y Lie. Everyone was very excited, except for one person. A while now, Juan wants to leave this far away Basin to return to the flat lands of his home village. But his feet are unmoving because of a young maiden. Days ago, with news of H’Ly betrothal, Juan had lost hope, then full of hope after the news of Y Lat’s death in battle. Juan was going to wait till the sadness settled before asking but before he could even utter a word Y Lie’s cool gaze stopped him. Standing in front of those gut piercing eyes, Juan was afraid. Each morning, standing on the deck watching H’Ly fetch water with the gùi from the river, skirt damp and soft wrapped around her firm thighs Juan was again sad and lost. Something stirred in Juan’s heart. Together with the fear, aimed at Y Lie was a mixture of jealousy and anger. In Juan’s mind the unclear sombre thoughts continued to stew. The end of this year, H’Ly will pick a husband. By that time, Juan will leave the shadows of Mount Chu Mang.

Closer to the end of the year, the colder it got. The red coal continuously glows in the stoves all day long. At dawn, after breakfast, everyone unhurried would continue to hover around the stove smoking a few more puffs on the pipe, since the work on the fields were done. The mothers were more relaxed weaving by the loom. The previous wet seasons, when Y Lat and Y Lie were fighting the French with the insurgent chieftain Guh, the repeated stories by the stove were about the two young men. Everyone was competing to guess what they were up to. Now, there’s less talk, everyone staring out the entrance of the longhouse, dazed, sad. Out there, the just erected French fort was like a blood red sickle slashing the side of Mount Chu Mang, making it bleed.

Y Lie and H’Ly’s wedding was planned for the beginning of the dry season but had to be postponed. H’Ly’s mother suddenly passed away. That noon, squatting at the river Madame Kadin was scrubbing some clothes and was hit in the head by a stray bullet from the French fort. Monsieur Kadin placed his wife’s body in front of the gate. The fort chief amiably made apologies and promised to compensate them. The translator relayed:

“The fort chief asked how much salt or white silver do you need to make up for your loss?”.

Monsieur Kadin raised his voice:

“A person should be replaced by a person, we won’t replace a person with salt, remember that!”.

H’Ly withered like days old cut flowers. In two wet seasons the compounding loss of Y Lat, then her mother, she has no tears left. Y Lie helpless couldn’t say nor add anything to comfort his betroth. Y Lie by the day more subdued. Under the thick brows, hiding in the dark sad eyes flashes raw red hatred. Day after day with the long sickle on his shoulder he was by the water watching the fish swim, bored he would be amongst the grass on his back watching the eagles glide around ap at the summit of Mount Chu Mang. 

Each noon, he would head for the summit with his machete and hands full of rice in the gùi. In the past, each time going up the Mountain, Y Lie was always by his side. A couple of years since, now he’s finding his way up the Mountain, alone. Only he and Y Lat know the shortest way to the summit of Mount Chu Mang, now overgrown with trees and shrubs. Y Lie used the machete to clear the branches and look for the way up, just before the summit there was a standing shadow of an ancient chò tree. From here, he could take in the entire valley. The French fort is just at the very foot of the Mountain. Y Lie’s heart lightened and alone laughed audibly aloud: Can’t believe it took me till now to think of it! The water in Nam Nung and the rocks in Chu Mang are both the same. He screamed:

“Y Lat, I’ve worked it out…”.

By the summit, the shrieking wind, twisting and bending tree trunks, crackling and rustling eerily shuddering . In the afternoon, everyone would ask about where Y Lie’s been all day, he smiles, and says nothing. Born and raised in the village, Y Lie has nothing to hide from his family but for some inconceivable reason, he’s uneasy each time he sees Juan. In spite of everything, he’s still a stranger. He decided to keep it from everyone, quietly working on his own. 

The entire week of the moon, everyday Y Lie went up the Mountain. He took with him saws, a pick axe, and a machete. A heart full of vengeance helped him forget the pain and exhaustion. Boulders the side of an ox’s back placed on top of each other leaning into sections of half cut logs. The first boulder held in place with a rattan rope the thickness of biceps. One boulder after the other lined up from behind, waiting in a roll. Once the work is completed, all one needs is a chop of the machete to cut the rattan rope and the enemy fort will be smashed into pieces! Y Lie smiled. Seeing anyone in the village Y Lie wanted to shout at them: “Done!”, remembering Juan’s presence he stopped. But the idea of not telling anyone was tough. He went to look for H’Ly. The entire week of the moon, busy with the labour, he’s forgotten the melancholy of his betrothed. Y Lie realised he had no one else to blame, wanted to see her, wanted to make it up to her, and tell her we can now have our revenge, H’Ly dear! Distracted with his thoughts the entire time, didn’t realise he was already standing on H’Ly’s deck. There was no one on the outside deck. Monsieur Kadin was probably by the river herding the cattle, H’Ly probably collecting water to cook dinner. Y Lie turned around to leave but hearing voices coming from inside stopped. Strange, who’s talking inside her bedchamber at this hour? Then Y Lie recognized Juan’s awkward Kinh accent:

“H’Ly take care of yourself, don’t be too sad, seeing H’Ly so sad makes Juan very sad!”.

Juan spoke as he rubbed mashed wild herbs on H’Ly’s forehead. Y Lie blood was boiling, the veins in his red eyes raised, ears burning. He swung his long sickle at the timber wall, letting out a loud gruesome howl. Not of a gong. But of an animal that has been stabbed through the heart. H’Ly sat up startled by the sound, Juan confused looked up. Y Lie silently looked him in the eyes. Everyone said nothing to each other hearing the strange noise rushed toward the commotion, just in time to see Y Lie stepping off the ladder, his face burning, followed by Juan, confused, embarrassed and afraid. Skipping the entire seven steps, Y Lie turned to face Juan:

“Tomorrow, you and I will have a talk”.

Juan stood there, saying nothing. Y lie by now was already by the water bay. Juan’s feet refused to budge, held back as though by tree roots. Juan notion, what could Y Lie possibly do to me? I’ve never done wrong by him? How can caring for H’Ly be a problem? The entire month, he’s been oblivious to himself, every day going up Mount  Chu Mang, never once a glance at pitiful H’Ly, so ill. 

The next morning, Juan walked to the head of the water bay and Y Lie was there ahead of time. Catching a glimpse of the tobacco pipe clamped tight on Y Lie’s square jaw, Juan shuddered. Y Lie asked coldly:

“Kid, do you know that H’Ly is my future wife?”.

“Yes, and I have not done anything wrong”.

Y Lie raised his voice:

“You took the opportunity to take care of someone else’s wife while they’re absent!”.

Juan pleading:

“I swear in front of all the Yang, I don’t have any kind of ill intent…”.

 Y Lie screaming now:

“Do you Juan know anything about Yang to swear, the best you can do is to stay as far away from H’Ly as possible, if not, don’t blame me for being cruel!”.

Y Lie as he spoke smashed the machete straight into a boulder, sparking a flame. Juan with nothing to add, retreated silently, his face as pale as a green frond. H’Ly witnessed everything from her deck with a view of the water bay. It was unclear what words were exchanged but from their body language she could guess the gist of what’s happening. She felt a sense of guilt towards Y Lie’s jealousy. She sighed quietly. Thinking of Y Lat. In her clear brown eyes a deep dark sadness. 

After the encounter with Y Lie by the water bay, Juan became even more serious, even more quiet. Seeing anyone, he would quickly move on after a polite nod. Monsieur Kodin was fully aware of the complete story.

“I see you as a person of the Basin for a long time now and would never think badly of you son. Keep calm and I’ll have a word with Y Lie. He’s a good son of the highland, it’s the beast of jealousy that has blinded him. That foolish kid!”.

Juan sat listening, lifting a full bowl of wine to his lips, eyes bloodshot as though he had a temperature. 

“It looks like I have to go uncle. I’m in debt to you, in debt to the Basin Mount Chu Mang but I’m of the Juan tribe, I can no longer stay. Y Lie doesn’t want to see my face.”

Juan actually left, even though no one thought he meant it, figured he was just disappointed when he expressed the desire to leave. No one knows exactly when he left. Again the Basin was missing another person. Continuous unfortunate sets of events the making of sombre faces. The timber roofs also fade with time, colourless, aged. At the end of that year, the Basin had a huge feast of thanksgiving to Yang. Y Lie cutting his way through the forest invited a shaman from far away M’tha, and had also popped into the neighbouring village to invite more guests to come and share the wine. The unexpected bass of the gong sounded like the rain and wind  hovering between the rafters before soaring towards higher ground, always reverberating about the side of Mount Chu Mang before spreading steadily across the forever green mead. The call of the gong inviting all the Yangs to join in the feast of food and wine. The shaman’s prayers are in constant rhythm with the gong… Inviting the Yang of the Mountains, the Yang of the rivers, the Yang of the forest to provide strength to all, bestowing their blessings upon the people, bestowing strong arms and legs, aiding the rice and corn to be flourish with seeds, ox and cows breed, the stores beneath the deck free flowing… Wine was shared from morning till night, then from night to morning. Monsieur Kodin very drunk, lay sleeping on the outside deck, now and then would stir a little, blurts:

“Drink, be happy, finish the wine we’ll get more, finish the meat we’ll get more, don’t worry!”

Fairly dark the next day the fort chief with a few soldiers turned up at the front door of the longhouse. From the bottom of the ladder he shouted his greetings. The entire village looked up. Monsieur Ama Lat spoke first:

“Who invited you?”.

The fort chief had prepared a long speech, the interpreter repeated:

“The fort chief said even though he has not been invited by the people but knew that the village had a big celebration he wanted to join and beg for a cup of wine. The chief said, “relationships are above everything!”.

Ama Lat stared at the chief’s red nose before a quick glance at his gun, reluctantly invited him in:

“Fine, since you’re now guests come in, but by the law of tradition, in celebrations, no one is allowed to carry weapons into the long house”.

They whispered amongst themselves before unarming themselves, hanging their guns just outside the door before entering. The drinking continued but everyone now no longer at ease, were cautious and worried. The soldiers drank but their eyes were always on the back of the wall near the door. Y Lie was the most agitated. The shiny black guns with their bright shiny bullets, staring at them he was almost drooling. Those years with chieftain Guh’s  insurgency fighting the French, he understood exactly the power of a gun. It equates to hundreds and thousands of arrows. He thought to himself, you can just keep drinking. But everything didn’t work out the way he wanted. Seeing that Y Lie was not drinking and stepping out, a soldier stood up and followed him outside. He sat on the floor right at the door, mouth mumbling, humming some sort of song. Y Lie touched the hilt of his dagger but stopped himself, didn’t pull it out. The people of the village were at the moment happy. Y Lie jaw tightened left for the river, dark black tears of vengeance rolled down his cheeks.

On the shoulders of kind and gentle people by Mount Chu Mang were the grim tough days. Each afternoon, listening to the sound of gunfire coming from the enemy’s fort, Y Lie couldn’t bear the stillness. There was a time, Monsieur Kodin thought of leaving the Basin, anywhere far away. But after talking about it repeatedly, he decided to abandon the thought. Where in the vast highlands can one go when everywhere there’s an enemy fort. Where to go when the people of Ede, M’nong or Jorai are all suffering the same fate?

In the middle of the indecisions Juan returned. Almost unrecognisable. He left just at the beginning of the dry season and yet he returned as a completely different person. Juan was on a black horse, in knee high boots. He was off his horse entering the village, casually dropping into Monsieur Kodin’s house. He was very proud of his new job, looking for elephant’s husk, tiger bones for the French military. Each trip could mean a fist full of gold, he bragged, talking to Monsieur Kodin:

“Don’t worry uncle, I’m friends with the chief of Fort Hangri all the way in Don village. I will tell all those Western chiefs to leave the Basin in Mount Chu Mang alone”.

Staying only one night, Juan continued on his way. On his departure from the Basin, Juan came by H’Ly on the way home from the field. Don’t know what he said to H’Ly nor what H’Ly’s reply was but his face changed from red to blue to completely washed of colour, he looked like corpse that’s has been left for awhile. He sneered audibly before galloping away:

“You’re going to regret it!”.

 Y Lie warns as usual:

“He has the tongue of a snake. Those shifty eyes can never deceive anyone!”.

Monsieur Kodin confused: Y Lie couldn’t possibly be right? Maybe he’s not forgotten the old tiff? Juan can’t be a poisonous snake? Wait and see.

But they didn’t have to wait long. Three days later, a unit of enemy soldiers armed with rifles turned up at the Basin. The leader shouting something at length, the quick wit translator:

“The chief said here, right in the Basin, there is a dangerous criminal once with the N’Trang Guh in Nam Nung who rebelled against the state protection. Now, if you want to live, hand him over to the chief, if not the Basin will be flatten!”.  

Monsieur Kodin poise, stepped forward:

“You’re mistaken, there’s no one here who’s a criminal that has rebelled against the government!’.

The chief laughed:

“Juan told us everything, tell Y Lie show himself now!”.

 Monsieur Ama Lie stepped in front of the soldiers, ripped opened the front of his shirt:

“Here, your enemy is here, you don’t have to look far, shoot!”.

The chief’s face paled:

“No, I’m looking for a strong young tiger, an old tiger like you can go die on your own,”.

The soldiers spit up to look for Y Lie. They turned the storeroom upside down as they went digging through the crop, randomly shooting bullets into the surrounding shrubs. Luckily with his quick wit, Y Lie was already up Mountain. He stood from above watching, his face purple with anger. Juan, I knew it, the poisonous snake, is this how you repaid the Basin. After a lot of mucking about without a sign, the enemy withdrew. Before leaving, they shot two cows and took it with them. The last soldier unloaded an entire magazine of bullets into the Srepok river. The murky water bubbling away gurgling to and fro rippling into the wilderness.

That night, the whole village was around the stove at Y Lie’s home, Monsieur Kodin sorting things out, making all the arrangements. “They are at our doorstep. The young, the old must be careful”. Y Lie blowing puffs of air at the amber coal in the stove, encouraging the fire, angry:

“I did say but no one believed me. Juan had never looked me straight in the eye, he’s not a good person. The next time I see him, I’m going to kill him”.

H’Ly still in shock, such a timid and kind person like Juan could be so cunning. Once he said to her, the only reason I’m staying back in Chu Mang is because of a girl, her face was bright red with shame. Another time, in the fields, he held her wrist, and she was all flustered. The very last time by the river, he dared to tell her he wanted her for his wife. There were also times she thought badly of Y Lie. Without knowing it, she turned to look at Y Lie, there was much she wanted to say to Y Lie: “Hero and son of the Basin, don’t be too upset with me from now on!”.

The days at the end of the dry season. Patches of thirsty arid cogon grass withering, drooping sad yellows upon Mount Chu Mang. In the golden sunlight, like honey were hints of moisture in the wind all the way from the other side of the Annamite range. The scattering of rain arrived. Most precious at the beginning of the season are the very first drops of rain. The fields of red clay after a stretched out dry period began to turn beneath layers of warm rain. Y Lie yearned for the rain everyday. The boulders of rocks tied up firmly, ready, waiting for the rain on Mount Chu Mang. Everyday Y Lie went up to check the trap. Silently executed his plan, one tree trunk after the other was sawn off ready to pave the way for the boulders to roll down. The work was completed by the arrival of the rain. Y Lie carefully planned every step, the French will have no reason to suspect, investigate.

It will be nothing but a rocky avalanche due to heavy rain.

The water Yang must have understood Y Lie. The early scattering of rain was followed by a torrential downpour. The storms day after day became heavier. The water reaches the rocky banks of the Srepok river. The road into the Basin is soft all the way up the calf muscle, sticky and muddy. Y Lie surveyed the area. The last couple of days not a single shadow of the enemy was seen leaving their fort. You guys shall soon have to pay for what you’ve done! He went up the Mountain to check on the trapped boulders one more time. One hundred and thirty boulders piled behind each other up in a straight line, quietly leaning onto each other waiting to roll down together. Y Lie patting each boulder, testing and  tugging at the rattan ropes, confided in them: “Roll down as fast as you can, my brothers and sisters of Mount Chu Mang, take your revenge for the people of the Basin!”. The rocks remained quiet, silently waiting. 

One night in the middle of the wet season, when it was pouring, Y Lie chopped the rattan ropes. The black boulders held for a moment as though to say their final farewell to Y Lie, before rolling freely down the Mountain. The crackling sound of falling trees fused in with the falling rain. Mount Chu Mang had changed into a battlefield. Within the shrieking storm  and the thundering rocks, Y Lie heard echoes of screaming from the enemy camp. He stood there to witness the befallen destruction, flattened bodies, sinking into mud and rocks.

He looked up at the sky screaming:

“Oh Yang, Y Lat, I have finally avenged the Basin!”.

His voice was fused with the loud chaos of the forest. The storm, like a waterfall, completely covered Mount Chu Mang. The Basin was covered in sheaths of rain, strokes of blaring light lit up the gushing water in Srepok river in a hurry towards the other side of the mead. Y Lie scouting carefully, meandered his way down to the enemy fort to survey the result of his trap. The enemy camp was now a pile of dirt. The boulders with eyes have found their mark on a correct path! Scattered were pieces of ripped plastic, flattened metal helmets, thrown everywhere. Y Lie hidden behind a shrub listened. Not a single soul remained standing, somewhere sounds of someone moaning mixed in with the constant downpour. All settled into silence as though nothing had ever taken place. Y Lie stepped over each boulder, treading through the mud, beneath his feet piles of crumpled encampment. He searched for firearms but failed. Everything was steeped in mud.

The news of the flattened fort in the Basin of Mount Chu Mang by a rock avalanche took three or four days to reach the other fort at Don village, Ma Thuot village. The fifth day a unit of soldiers came to investigate. Scuffling around the piles of rubble. They looked up at Mount  Chu Mang, talking amongst themselves before going through the rubble to dig up the bodies. They spent the whole day searching and burying bodies. By dusk, they aimed their guns at each person’s head in the village herding the villagers into the courtyard of the longhouse, interrogating: 

“You people have caused the avalanche killing all the chiefs?”.

Asked the old, the old shook their heads. Asked the young, they said they didn’t know. Smashing the butt stock of their rifles into people’s legs, making the villagers’ shins bled forcing them onto their knees. Monsieur Kodin shouting:

“Shoot, go on, just shoot, kill, kill us. We don’t know how to kneel. The Mountain Yang are punishing you for the thievery and murder of innocent people!”.

A blue-eyed soldier swinging his baton all over the place. Everyone ground their teeth, jaws tightened. The interrogation went on without result, the animals retreated. Before leaving, they threatened:

“We’re going to come back, don’t try and hide from the French chiefs, remember that!”.

No one replied, their angry eyes followed the soldiers leaving. On Mount Chu Mang the clouds completely engulfed its peak, the rain was on its way. Y Lie thought to himself, you (animals) have lost to me! Monsieur Kodin’s face still bright red, rubbing his eyes commanding:

“Here, people of the village, the wild animals have run away, why are we crying, laugh, laugh as loud as you want”.

Y Lie concurred:

“That’s right, stop crying, laugh, hah hah…”.

Everyone looked at each other, laughing eyes brimming with tears. The laughter ran along the riverbank and rose higher and higher on the wings of birds. A murder of crows scavenging for a feed out on the enemy encampment startled and flew away towards the cliffside of the Mountain. Y Lie held H’Ly in his strong arms, whispered:

“I have avenged Y Lat, avenged Ami, avenged the village of the Basin, you can no longer resent me, my love!”.

Everyone had returned to their homes. Y Lie and H’Ly still stand in the middle of the courtyard of the longhouse with their long words of love. The Yang of misfortune appeared at the moment the two of them were the happiest. A loud gunshot echoed from behind an undergrowth. Y Lie hugging his chest swaying. A long stream of ruby red blood ran down the hardened naked chest. His eyes wide rolled back, searching for the shooter. The shadowy blanket of dusk covered the Basin. On Mount Chu Mang anxiously calling each other were the night birds feed in the dark. Hearing H’Ly’s cries, every pair of eyes turned. Smiles still upon their lips. Y Lie has died in the arms of his betrothed. H’Ly screamed:

“That Juan, Juan has..”.

Another loud shot echoed through the mead, H’Ly collapsed, arms still holding Y Lie. Alarmed eyes from inside the houses searching, who shot? Who’s shooting? Where’s Juan? The Mountain and forest are silent. The afternoon shadows descended rapidly towards the centre of the Basin. A pair of T’lang birds carried the soul of a hero and a beautiful maiden from the Basin to meet Yang Die to prepare for their next life in the ever ending journey. In that late afternoon, only Monsieur Kodin saw a pair of phí flying wrapped around each other before disappearing into the purple clouds arriving from nowhere hovered above Mount Chu Mang.

Monsieur Kodin cried for the first time:

“So they’re gone! They’ve all followed each other and left, dear Yang…”.

Y Lie’s soul, H’Ly’s soul changed into dew drops perched on the branches by the front door of the longhouse waiting for their turn to be reborn in the next life. The dew drops perched on the leaves, surrounded by an uncountable number of dewdrops waiting. Whispering to each other tales of the past, even tales of the unknown of tomorrow. Who will be lucky enough to be reborn in their own old village? Who will be unlucky having to go far across the nine meadows and ten springs? Who shall be punished to return as an ox or horse or as inanimate objects…

Y Lie waited forever, the wet season went by as the dry season came. Yang Aê Die console:

“You can’t rush it, child, you must be patient, if you rush it, you might be lost in another life, as an ape for instance”.

Y Lie hearing it agreed straight away:

“An ape sounds great, Yang, please let me return to Mount Chu Mang, as human or ape is the same to me”.

Hesitating for too long he’s afraid the dewdrops of destiny may dry up, turning into dust, to forever remain as phosphorescent lights on the desolate mead. Yang Aê Die laughed generously:

“Okay, being an ape is fun, hehe, lots of fun…”.

Ta nói với mình rằng, ở vùng Lòng chảo núi Chư Mang không hề có con quỷ nào hết. Mình vẫn không tin, còn bảo rằng thực ra ta chưa hề vào đến đó, mặc cho ta thề sống thề chết rằng ta vừa từ đó trở về. Những chuyện ta kể là tai nghe mắt thấy chứ không phải nghe kể lại. Mình cười chua chát khẳng định mắt của ta đã có vấn đề. Mình bảo, khi mắt có vấn đề thì sẽ không nhìn thấy được sự thật mà chỉ thấy những ảnh ảo của nó mà thôi. 

Thế nào là mắt có vấn đề? Mình nói, tức là đôi mắt ấy đã bị quỷ ám! Trời ạ, lại chuyện quỷ. Những chuyện ta nghe ta thấy thì có liên quan gì đến quỷ? Mình nói, lời nói của quỷ là đòn xóc hai đầu, lúc nói này lúc lại nói khác, với người này thì nói thế này, với người khác thì lại nói khác. Ta chịu không thể hiểu được lời mình nói. Hình như mình cũng bị quỷ ám phải không? 

Mình không trả lời, mà kể cho ta một chuyện. Rằng ở trên bình nguyên Ea Súp hiện còn có một ngôi tháp bằng đất nung. Không ai biết rõ ngôi tháp ấy được xây lên từ lúc nào. Trong ngôi tháp ấy, hiện vẫn đang lẩn quất những con quỷ hắc ám. Mấy trăm năm rồi, chúng đóng cửa tu luyện, ít khi ra ngoài. Hễ mỗi lần chúng ra ngoài thì thảo nguyên lại hứng chịu tai ương.

 Ta nói, chuyện ấy chỉ lừa được con nít. Mình cười thương hại, bảo rằng ta khờ quá đi mất. Khi quỷ cất tiếng hát du dương ca ngợi cuộc sống thì cũng có nghĩa là cuộc sống sẽ kết thúc đối với con người. Khi quỷ đọc những câu thơ với âm điệu hào hùng, thì cũng có nghĩa là ai đó phải vùi xác xuống vực sâu. 

Một hôm, từ trong ngôi tháp, quỷ đi ra ngoài để gặp người. Quỷ bàn, ta và mi phải chung sức lại, để làm gì ư? Có rất nhiều việc cần đến chúng ta. Ta phải giúp mi để mi trở thành ông chủ. Trở thành ông chủ ư? Người hoang mang hỏi lại. Phải, quỷ trả lời, bởi vì xưa nay, mi chỉ là một ông chủ mạo danh, không có thực quyền. Người chưa tin, nhưng nhìn thấy quỷ cao lớn, râu trắng tóc dài uyên bác, nói năng thâm trầm và có phần hào sảng, cuối cùng người tặc lưỡi nghe theo. Nhưng mi giúp ta bằng cách nào? Người hỏi. Điều đó thì không khó, ta có nhiều quyền năng, quỷ trả lời vậy rồi lại cất tiếng hát du dương và hào sảng, gió cũng đồng lõa với quỷ, thổi những âm điệu ấy đi khắp thảo nguyên…

Nhưng những hứa hẹn của quỷ đã làm cho người mệt mỏi. Đêm đêm, những ánh chớp từ đao kiếm chém nhau đâu đó lóe sáng tận trời. Đã có người chết, đã có những tử thi thối rữa nằm im cho quạ mổ vào hốc mắt. Mệt mỏi, đau khổ vì mất mát, người ta trút giận vào quỷ. Họ tìm đến ngôi tháp quỷ ở, họ đập phá, họ la hét, họ chửi bới. Sau một đêm thì ngôi tháp tan hoang. Con quỷ xảo quyệt đã trốn thoát, nhưng một bàn tay của nó bị chém đứt lìa, máu vương vãi đầy mặt đất. Từ những đám đất thấm máu ấy, dã quỳ mọc lên, vàng rực một màu oan khiên. Gió từ đại ngàn thổi tràn qua, đưa mùi hương dã quỳ hăng hắc đi lang thang ngoài thảo nguyên hoang vắng.

Giữa mùa mưa xa lắc xa lơ ấy, núi Chư Mang mờ mịt sương. Mẹ ôm tôi bên mình ngồi giữa căn lều nằm giữa chạc cây bằng lăng mọc cheo leo nên sườn núi chờ trời sáng. Bấy giờ, tôi đang làm người, chưa lạc vào kiếp khỉ. Mẹ vẫn thường dặn: “Con hãy tự hào vì mình được làm người!”. Tôi không hiểu lắm vì thực tình lúc đó chưa đủ không để có thể phân biệt được làm người với làm khỉ hoặc trâu bò cóc nhái thì bên nào đáng tự hào hơn. Nhưng tôi tin mẹ nói thật. Và tôi ngẩng cao đầu kiêu hãnh làm người.

Những năm đầu tiên của thế kỷ trước, tôi bắt đầu vào đời. Một buổi sáng, mẹ nhìn tôi âu yếm và nói: “Nào, Y Liê, chàng trai của thảo nguyên, con đã lớn rồi, hãy đi làm một công việc có ích cho buôn làng đi!”. Tôi vâng lời, nhảy xuống chân cầu thang, tót lên lưng ngựa phi nước đại một vòng quanh núi Chư Mang rồi sau đó phóng thẳng ra thảo nguyên gia nhập nghĩa quân của N’Trang Gưh. Tôi và Y Lát, hai chiến binh của vùng Lòng chảo bắt đầu bước vào một quãng đời đáng nhớ nhất. Bấy giờ, cuộc chiến đấu của nghĩa quân với quân Pháp đang hồi quyết liệt. Thảo nguyên xanh tươi trở thành bãi chiến trường rùng rợn. Đây là nơi tôi đã từng “nướng” những ngày tháng đẹp nhất của tuổi thanh xuân của một kiếp làm người ngắn ngủi. Có lẽ, phải kể dài dòng một chút về những tháng ngày chưa xa ấy. Câu chuyện này, mãi về sau này, khi chúng tôi đã chết đi, hồn đậu vào những giọt sương đi lang thang trên thảo nguyên, vẫn nghe những người già kể lại cho con cháu, như là một phần không thể thiếu trong hành trình bất tận của những linh hồn đã chọn thảo nguyên làm nơi cư ngụ. Cũng câu chuyện ấy, nhiều người đã cố tình them thắt, làm biến dạng, méo mó, thành ra nó chỉ là một phần của sự thật.  

Vùng Lòng chảo nằm ngoài rìa bình nguyên Ea Súp, vốn là một thung lũng bị chia cắt bởi dòng sông Sêrêpốk hung dữ. Nham thạch phun trào từ miệng núi lửa hàng triệu năm đổ xuống khiến đất đai đỏ quạch màu lửa lò nung. Đứng từ trên ngọn núi Chư Mang nhìn xuống, dòng sông như một dải mây màu sẫm vắt ngang qua thung lũng, lượn lờ một lúc rồi ngược nhanh về phía Tây, qua bên kia đại ngàn. Những bộ tộc Êđê, M’nông đầu tiên đã từng đặt dấu chân ở đây trước khi tiếp tục những chặng hành trình mới. Cao nguyên mênh mông chân người đi không hết, một vùng rộng lớn chỉ có bốn năm nóc nhà quây quần. Đó là những chủ nhân đầu tiên của vùng Lòng chảo. Chiều chiều, khi những người mẹ trẻ đang giã gạo chuẩn bị bữa cơm chiều thì ba đứa trẻ ríu ran gọi nhau xuống bến nước tắm. H’Ly mang thêm chiếc bầu nhỏ xíu đựng nước mang về cho mẹ. Y Lat chạy trước, Y Liê chạy sau, vừa chạy vừa ném thia lia những viên đá mỏng xuống mặt nước. Tiếng cười của chúng tôi làm ấm cả thung lũng. 

Tiếng là con ba nhà nhưng lũ trẻ vùng Lòng chảo coi nhau như anh em ruột. Cô em út bao giờ cũng được hai anh nhường nhịn. H’Ly theo cha mẹ đến đây khi vừa biết đi chập chững. Ông Kadin dắt vợ và con đến vùng Lòng chảo vào một ngày mưa tầm tã. Chủ nhân các nhà đến trước niềm nở mời những bước chân lưu lạc ở lại. Những căn nhà bằng gỗ chụm đầu vào nhau giữa khoảng rừng cạnh dòng sông. Những đứa trẻ lớn lên giữa bạt ngàn nắng gió, mắt sáng da nâu. Mẹ H’Ly hỏi con gái:

“Lớn lên, con bắt đứa nào làm chồng? Y Lát hay Y Liê?”.

“Không được, con phải bắt cả hai amí à”. 

Y Lát lớn hơn chút đỉnh, đã biết thẹn, không nói gì, lảng ra chỗ khác chơi. Y Liê cãi: 

“Chỉ bắt được một chồng thôi chứ!”.

Rồi những mùa rẫy trôi qua trên thảo nguyên. Vùng Lòng chảo vẫn chỉ có ba nóc nhà chụm vào nhau bên cạnh dòng sông hiền hoà. Hai chàng trai lớn lên như hai tảng đó màu đồng hun. Những cánh tay săn chắc, vạm vỡ. Những đêm trăng sáng, ông Kadin dẫn hai chàng trai ra bãi đất trống cạnh bờ sông luyện võ. Ông nói, ta không có con trai coi hai đứa như con, sống giữa đại ngàn, phải luyện võ các con ạ. Thừa hưởng tinh thần thượng võ của tổ tiên để lại, Y Lat nhanh nhẹn tựa con beo núi. Đấu tay đôi với bạn tập Y Liê, Y Lat bao giờ cũng giành phần thắng. Sau mỗi hiệp đấu như thế, Y Lat luôn phải động viên bạn: 

“Đã khá hơn nhiều rồi mà, Y Liê cố lên!”.

 H’Ly ngồi vắt vẻo trên cành cây là là mặt nước nói vọng vào khích lệ: 

“Anh Y Liê đánh hay lắm nhé, H’Ly thích lắm!”.

 Với hai chàng trai ấy, bao giờ H’Ly cũng dành tình cảm ngang nhau, không thiên vị bên nào. Ông Kadin nheo mắt hỏi:

 “Hai đứa con chọn đứa nào!”. 

H’Ly cười, nhìn những gợn trăng vàng lóng lánh trôi dưới nhành cây. Rồi đến lúc phải chọn một người – H’Ly thoáng nghĩ thế – thật tiếc! Nhưng chưa phải bây giờ, năm nay H’Ly mười sáu mùa rẫy. Bông hoa rừng kiêu hãnh soi mình dưới dòng nước trong vắt, đầy trăng. 

Cuối mùa khô năm ấy, vào một buổi chiều muộn, vùng Lòng chảo đón một nhóm khách lạ. Con voi nhà Y Lat đang lim dim mắt nhai cỏ bỗng vươn vòi lên cao rống một hồi dài không rõ là vui mừng hay giận dữ. Thoáng nhìn qua, mọi người cũng đoán được là khách đến từ rất xa. Bụi đường và hoa cỏ gai dính đầy quần áo. Sẵn lòng hiếu khách, chủ nhân ngả thịt một con heo đãi khách. H’Ly giúp mẹ pha nước, cắm cần vào ché rượu. Những người khách sau vài sừng rượu lấy lệ cắm cúi ngồi ăn. H’Ly nghĩ: Chắc họ đói từ lâu lắm. Khi cơm rượu đã duổi được cơn đói khát hành hạ, câu chuyện mới bắt đầu.

“Cảm ơn chủ nhân, quả thực chúng tôi nhịn ăn đã mấy ngày, món thịt heo ngon miệng quá!”.

“Không rõ những người anh em từ đâu đến?”.

Khách thoáng nhìn nhau rồi trả lời:

“Chúng tôi vừa đi đến từ nơi có chiến tranh”.

Y Lat ngồi nghe, thắc mắc mãi: Lạ, ở ngoài vùng Lòng chảo, đâu đó trên thảo nguyên này đang có chiến tranh mà mình lại không biết, mọi người ở đây không ai biết! Và chàng tự trả lời: Phải rồi, đã từ mùa mưa năm ngoái, chưa có ai đi qua khỏi con dốc, lại không có khách lạ đến thăm, không có tin tức là phải rồi. 

Ông Kadin trầm ngâm: 

“Đã có chiến tranh à? Ra là thế”.

Mẹ Y Liê lo lắng:

“Chiến tranh là thế nào?”.

Một người khách đáp:

“Là súng đạn, bắn giết nhau, máu chảy thành sông, thành suối!”.

Lần đầu tiên nghe nói đến, những người dân vùng Lòng chảo không thể hình dung ra được. Khung cảnh này, họ sẽ  được chứng kiến vào một thời gian không lâu sau đó. 

H’Ly ngây thơ:

“Mà sao lại phải có chiến tranh?”.

Khách bóp bóp đầu cố tìm lời giải thích dễ hiểu nhất:

“À, là tại thế này này. Có những kẻ xấu bụng đến nhà ta, thấy ta có nhiều voi nhiều rượu, chúng muốn cướp không, tất nhiên là ta sẽ đánh trả, thế là chiến tranh xảy ra”. 

H’Ly gật gật đầu, tỏ ra đã hiểu phần nào, hỏi tiếp:

“Thế chiến tranh có xa không?”.

“Cũng không xa lắm, cách đây độ một ngày đường thôi là đã đến đất của nghĩa quân tù trưởng Gưh đang giao tranh với giặc”. 

Những gương mặt trầm ngâm lo lắng. Một đám mây đen đang kéo vào che kín vùng Lòng chảo bên núi Chư Mang. Đám mây to dần, to dần. Những người khách lạ ăn uống no say nói lời cảm ơn xong đã lên đường vào sáng sớm hôm sau. Không khí u ám vẫn trùm lên ba nóc nhà. Y Lat chưa kịp hỏi khách tù trưởng Gưh là ai, giao tranh đã lâu chưa và thắng thua ra sao, quay lại hỏi Y Liê thì Y Liê cũng không biết. Hai chàng trai đứng dưới gốc kơnia nhìn theo đám bụi đỏ bốc lên sau con dốc đi qua núi Chư Mang. Cha của Y Lat, ông ama Lat nói cứng: 

“Thế nào rồi chiến tranh cũng sẽ kéo đến đây thôi. Chúng ta cũng sẽ phải tham gia chiến tranh, đúng không ông bạn Kadin?”.

“Tất nhiên rồi!”.

“Chỉ cần con và Y Liê là đủ rồi ama à – Y Lat cắt ngang, giọng vỡ oang oang”.

H’Ly ngồi dệt vải, dõi tai nghe ngóng. Không ngờ thảo nguyên yên bình bây giờ lại có những chuyện khủng khiếp xảy ra! Máu chảy thành sông, thành suối…Yàng ơi! Từ lúc lọt lòng, nàng chưa bao giờ nghe một câu chuyện nào khủng khiếp hơn thế. Mấy tuần trăng rồi, nàng đang dệt nốt tấm áo đẹp nhất tặng Y Lat thay lời hứa. Nàng đã quyết định treo trái tim mình cho Y Lat. Tiếng sáo tỏ tình của Y Lat như có cánh, bay mãi trong tim nàng thổn thức:

  …này đồng cỏ và dòng sông, em tôi thành thiếu nữ/anh muốn ngỏ lời yêu em khi mùa măng mọc, anh muốn ngỏ lời yêu em khi hạt lúa nảy mầm/lời yêu không rơi xuống đất/lời yêu không bay lên trời/anh yêu…

Tiếng sáo đậu lên ngọn cây, la đà mặt nước ướt đẫm trăng vàng. H’Ly đỏ bừng đôi má. Nàng lại nhớ đến anh mắt buồn của Y Liê. Chắc lúc này, Y Liê đang dạo bước đâu đó dọc bờ sông. Tim Y Liê sẽ đau, nhưng H’Ly chỉ có quyền chọn một trong hai chàng mà thôi. Hãy đừng đau quá nhé, Y Liê ơi! sẽ có cô gái xinh đẹp khác tìm đến với chàng! 

Những ngày tiếp theo, mây đen vẫn quẩn dày đặc trên đỉnh Chư Mang. Những âm thanh nặng nề từ xa thỉnh thoảng vọng tới giọng đầy đe doạ. Đó không phải là tiếng sấm, không phải tiếng hổ gầm, không phải tiếng bầy voi xuống dốc. Nó giống tiếng ngọn núi bắt đầu nứt toác, phun nham thạch. Bầy ngựa hít thấy luồng gió lạ, hí vang, chạy lồng lên giữa đồng cỏ. Ông Kadin đang cắt cỏ, dừng tay lẩm bẩm: “Đã bắt đầu rồi ư!”. Y Liê quất ngựa phóng lên ngọn đồi cao nhìn về phía đông chỉ thấy những đám mây chen nhau giữa một vùng khói mờ đục. Bầu trời thảo nguyên trong xanh bây giờ pha một màu buồn thảm khó gọi thành tên. 

Mấy ngày liền, Y Lat và Y Liê cưỡi ngựa băng qua thảo nguyên dò hỏi tin tức. Mỗi lần đi về lại có thêm những câu chuyện mới. Nhiều chuyện lạ lắm! Người M’nông, người Êđê vùng Krông Nô truyền tai nhau rằng: Nghĩa quân tù trưởng Gưh từng đánh đuổi quân Xiêm, nay đánh lại cả quân Pháp có súng. Tù trưởng Gưh có các Yàng giúp đỡ đánh trăm trận mà chưa hề bị một vết thương…Những câu chuyện ấy thôi thúc Y Lat và Y Liê. Một hôm, hai chàng trai quyết định lên đường. Thế là chiến tranh đã thò cánh tay dài ngoẵng của mình đến vùng Lòng chảo kéo hai chàng trai trẻ vào trận. Họ đã ra đi trước khi lửa chiến tranh bén đến vách nhà mình. 

Bây giờ là những năm đầu tiên của thế kỷ hai mươi.

Hai người mẹ dặn con trong nước mắt:  

“Đuổi bọn giặc ác đi càng xa càng tốt nghe con!”.

Những ông bố mắt đỏ hoe, không nói gì. H’Ly nước mắt nhạt nhoà. Nàng và Y Lát đã thức suốt đêm qua, bao nhiêu lời nồng nàn đã nói, chỉ còn ánh mắt nhìn nhau thay lời làm tim nhói đau. Nàng vịn vào chân cầu thang khỏi ngã. Hai bầu vú bên cầu thang căng mọng đau đớn. Hai chàng trai nhảy lên lưng ngựa, kéo thử dây cương rồi cho chúng phi một vòng quanh núi Chư Mang trước khi tung vó lên đường. Những chú ngựa hiền lành vùng Lòng chảo hình như biết trước chuyến đi xa tung bờm hí vang. Tiếng hí như những nhát búa giáng vào vách núi Chư Mang, dội lại cánh đồng rền vang như sấm. Bầy chim m’linh dưới bờ sông ngơ ngác giật mình vỗ cánh bay loạn xạ. Thoáng chốc, hai cái bóng xám mờ đã khuất lẫn vào màu xanh của rặng núi Chư Mang lô xô trước mặt.

Kể từ khi Y Lat và Y Liê ra đi, cuộc sống vùng Lòng chảo bên núi Chư Mang có nhiều xáo trộn. Nắng kéo dài từ tháng mười hai cho tới giữa năm sau. Núi Chư Mang ngả màu vàng nhức mắt. Những vạt le trổ hoa chết đứng bên đường. Chiều chiều, đứng trên sàn nhà nhìn về phía tây thấy chập chờn khói mây nắng lửa. Lũ bò ngựa gõ móng cồm cộp xuống nền đất tìm chút hơi nước còn sót lại. Buổi sáng, H’Ly phải bước qua những tảng đá nổi lên giữa lòng sông cạn gùi nước về. Dưới lòng sông, lũ cá chết trương nổi lên. Ông Kadin bàn với vợ:

“Nắng mãi thế này chắc phải bán bớt lũ bò ngựa thôi!”.

“Ừ, xưa nay Yàng chưa bao giờ bắt khát lâu thế. Không còn đủ cỏ thì phải bán thôi mà”.

Nắng chập chờn nhảy múa phụ hoạ ngoài đồng cỏ. 

Sáng hôm sau, ông Kadin và ama Lat thức dậy từ lúc sương chưa tan, cắt rừng về hướng đông, qua bên Nâm Nung tìm khách bán bò ngựa. Chạng vạng chiều hôm sau thì họ về, dẫn theo hai người khách lạ. H’Ly mời khách rửa chân đầu sàn. Sau quãng đường dài mệt mỏi, khách thong thả ngả lưng xuống sàn làm một giấc dài. Nhìn qua cũng có thể đoán họ là hai cha con người Juăn, một già một trẻ, giống nhau như tạc. Người con chừng hơn H’Ly vài tuổi. Nhìn anh ta ngủ, H’Ly lại nhớ đến Y Lat và Yliê. Những giấc ngủ thanh xuân đầy sức sống. Không biết giờ này, hai chàng trai của vùng Lòng chảo đang đánh nhau với giặc dữ tận núi nào sông nào, những nơi mà nàng chưa hề biết đến. Chiếc vòng cầu hôn của Y Lat nàng vẫn cất kỹ đáy gùi. Cầu mong các Yàng rủ lòng thương! Nước mắt H’Ly nhỏ xuống, chảy vòng quanh bầu má căng tròn.

Hai người khách no giấc trở dậy thì bữa chiều cũng đã được dọn ra. Món măng khô xào thịt nai thơm ra tận sàn ngoài. Ché rượu ngon nhất được buộc vào cột, cắm sẵn cần. Họ vừa thong thả ăn uống vừa bàn chuyện mua bán. Người khách già bảo: 

“Tôi sẽ mua hết thảy bò ngựa, mạn đồng bằng dạo này cần nhiều thịt phục vụ cho chiến trận”.

“Chúng tôi cũng muốn bán hết, không để lại được, cỏ khô cháy hết rồi, nước uống cũng đã cạn. Chưa bao giờ Yàng bắt khát như năm nay!”.

H’Ly ngồi hóng chuyện, cứ thắc mắc hoài: Thì ra, không chỉ riêng ở thảo nguyên này có chiến tranh, mà chiến tranh đang xảy ra dưới đồng bằng xa xôi nữa. Những nơi đó có nhiều của cải không, sao lại có bọn xấu đến cướp? Nàng không biết hỏi ai, liếc nhìn sang người khách trẻ, anh ta vẫn ngồi cắm cúi ăn. H’Nhi lại càng không hiểu, sao những người vừa từ nơi có chiến tranh đến đây lại có thể ăn ngon lành vậy? Trong khi Y Lat và Y Liê… Đây là lần đầu tiên H’Ly trông thấy người Juăn, lại được ngồi ăn chung với họ, cảm giác lạ lùng khó tả. H’Ly chỉ mới nghe nói rằng họ là giống người Kinh, ở vùng biển, không giống những người vùng Lòng chảo chứ trước đây chưa được thấy bao giờ.

Sáng hôm sau, khi nắng đã nhuộm vàng rực thung lũng thì người mua người bán mới giao xong ngựa và đếm xong tiền. Những chú ngựa tinh khôn nhận biết sắp có sự thay đổi lớn đến với cuộc đời chúng nên trở chứng hí vang, chạy tán loạn. Lũ bò thấy thế cũng phá đàn chạy cuống quýt. Hai cha con người khách cố gắng dồn chúng vào hẻm núi Chư Mang để từ đó rẽ vào con đường ra khỏi vùng Lòng chảo. Lũ bò ngựa bị dây thừng níu giữ càng hung hăng hơn, không con nào chịu theo con nào. Ông Kadin bắc tay làm loa hét to:

“Lùa chúng xuống sát bờ sông, men theo triền đá đi ra ngoài mới được…”.

  Người con chưa thạo việc nên đuổi mãi đàn bò ngựa vẫn không chịu gom lại. Mặt trời lên cao quá đầu người mà người ngựa, gia súc vẫn chưa thể ra khỏi thung lũng. Nắng bắt đầu gay gắt. H’Ly đứng trên sàn, hét khản cổ: “Phải xuống sát bờ sông, ơ ơ…” Ông ama Lát lắc đầu: Không được rồi, hỏng mất! Rồi ông cũng hét lớn: “Không được hút thuốc, không được…”. Ông đã phát hiện ra khói thuốc trên miệng người khách già. Nhưng đã muộn, tàn lửa thuốc bắt rất nhanh vào cỏ khô, toả lên một vệt khói mỏng. H’Ly đang lo lắng tự hỏi không biết khói từ đâu ra thì đã thấy một đốm lửa bùng lên.

“Cháy rồi, cẩn thận!”.

Gió ràn rạt thổi bạt những tiếng hét thất thanh. Ngọn lửa lan rộng trong chớp mắt, khói mù mịt khắp đồng cỏ ven sông. Ông Kadin nhanh chân thúc ngựa nhảy vọt qua bờ rào gỗ quay lại bãi đất trống cạnh nhà. Dưới cánh đồng, tiếng bò rống, tiếng ngựa hí sặc sụa trong khói bụi. Amí Lát đưa tay vò đầu:

“Nguy mất rồi, hai cha con người khách nguy rồi!”.

Vùng Lòng chảo đặc quánh khói bụi hai ngày sau vẫn chưa tan hết. Lớp cỏ khô cháy hết, lửa vẫn âm ỉ dưới những thân cây mục. Mùi thịt cháy khét lẹt xông lên sặc mũi. Ama Liê và ông Kadin cầm rựa đi vào giữa cánh đồng, vừa đi vừa lầm rầm cầu nguyện các Yàng. Lũ quạ đã ngửi thấy mùi thịt cháy, kéo về nháo nhác. H’Ly cũng theo cha đi xuống đồng cỏ. Điều nàng quan tâm nhất là không biết hiện giờ xác hai cha con người khách xấu số hiện ở đâu. Chắc là họ đã bị nướng cháy đen theo lũ bò ngựa rồi, chắc chắn thế. Nàng dò dẫm xuống sát bờ sông, nơi bầy quạ đang chao lượn giành mồi. Bỗng nàng nghe tiếng gì đó như là tiếng kêu trong hốc đá sát mặt nước. Hình như có vật gì đang cựa quậy ngay dưới bụi cây trong hốc đá. Nàng vội chạy đến và kinh ngạc không tin vào mắt mình: Một thân người nằm úp mặt xuống tảng đá giữa vũng nước, quần áo cháy sém. Nàng nhận ra ngay đó là con trai của người khách buôn. Nàng gọi cha đến tìm cách đưa hắn lên. “Yàng ơi, nó vẫn còn sống đấy! Thật không tin nổi” – ông Kadin vừa dìu cái thân hình cháy đen vừa luôn mồm gọi các Yàng. Sau khi được rửa sạch, đặt ngay ngắn trên sàn, chàng trai nặng nhọc mở mắt ra kêu khát khát rồi lại lịm đi. H’Ly pha một chậu nước muối rửa vết thương cho hắn. Nàng vỗ về: Cứ ngủ đi, chàng trai người Juăn bất hạnh, hãy ngủ đi! Ngủ một giấc nữa là hết đau đó mà…

Sau trận cháy kinh hoàng ấy, nắng còn kéo dài thêm nửa tuần trăng nữa mới bắt đầu đổi gió. Những ngọn gió từ hướng tây nam thổi qua núi Chư Mang đưa theo về một ít hơi nước, sau đó mới bắt đầu mưa. Trời chuyển đến ngày thứ ba thì mây đen kéo nhau về đứng chật thung lũng, tưởng như có thể cầm dao xẻo từng mảng cho vào nồi được. 

Mùa mưa mong đợi rồi cũng đã đến! Xác ngựa bò đến ngày phân huỷ bốc mùi nồng nặc khắp vùng. Chàng trai người Juăn đã hồi phục, cùng với ông Kadin, ama Lat dò dẫm đi tìm xác cha. Chỉ có xác súc vật trương sình không tìm thấy xác người khách xấu số. Mấy người hì hụi đẩy hết những mảng thịt xuống sông. Trên đầu, lũ quạ vẫn không ngừng hò hét. Dưới sông, lũ cá lăng được nước nổi lên thi nhau rỉa thịt. Rồi vạt cỏ bên bờ sông đã bắt đầu nhú mầm non, đêm đêm, những con thỏ mắt lân tinh rủ nhau gặm cỏ tí tách quanh nhà. Ông Kadin nói với chàng trai người Juăn: Cứ ở lại đây một thời gian nữa, bình phục hẳn rồi trở về cũng chưa muộn, bụng người Êđê vùng Lòng chảo rộng lắm con trai à…

Mùa xuân, đám hoa dại ven sông bắt đầu nở bung một màu vàng thao thiết. Những buổi trưa mùa xuân bên núi Chư Mang thật đẹp. Giữa màu xanh ngút ngàn của núi, đâu đó nổi lên những đám hoa sặc sỡ và những khóm cỏ thơm ngây ngất. Ngồi nghỉ dưới gốc ây kơnia đầu rẫy, H’Ly lại nhớ Y Lat đến thổn thức. Không biết đến bao giờ thì hết chiến tranh? Bao giờ? Nàng đưa tay hứng từng giọt nước mắt to tròn đang lăn xuống, long lanh. Nàng nhìn vào trong đó, hình ảnh Y Lat đang phi ngựa qua thảo nguyên mênh mông, ánh gươm loé sáng vút qua những ngọn đồi xanh thẫm. Giọt nước mắt vỡ tan, lẫn vào trong đám cỏ mùa xuân thơm mùi mật mới.

Mưa xuống, làm không hết việc. Chàng trai người Juăn sau khi cha chết không còn ai thân thích nên muốn được ở lại vùng Lòng chảo. Ama Lat nói: 

“Tốt mà, không sao đâu, cứ ở lại đây làm rẫy”.

 Ngày ngày, Juăn theo mọi người lên rẫy, chăm chỉ phát trỉa. Vết thương trên da thịt nhờ được đắp lá rừng nên nhanh liền sẹo. Những lúc ngồi nghỉ dưới gốc cây đầu rẫy, Juăn thường hay kể chuyện miền biển. Đấy là một nơi xa xôi đất đai màu bạc trắng. Mùa nắng, cát cuộn lên thành ngọn, lao đi như con mãng xà trong gió. Rồi Juăn kể về những nơi mình đã gặp trên đường di đổi chác, buôn bán.

 “Lạ lắm, bên cuối dãy Trường Sơn kia, có những ngôi làng bắt buộc trai gái trong dòng họ phải lấy nhau, không được ai lấy người ngoài! Lại có những làng không có một bóng đàn ông…”.

 Ông Kadin hỏi: “Đã khi nào tận mắt thấy chiến tranh chưa?”. “Có, có thấy rồi, khiếp lắm, toàn là người chết thôi!”. H’Ly rùng mình, nghĩ đến Y Lat và Y Liê đang ở ngoài chiến trận. Ama Lat nói: “Ngày mai phải ra chợ thôi, hết muối rồi”.

Tảng sáng, khi gà lác đác gáy lần đầu, H’Nhi trở dậy cùng amí gói ghém mấy thứ cần thiết để ama ra chợ. Những năm trước, khi chưa có chiến tranh, khách buôn vẫn ghé qua vùng Lòng chảo thường xuyên, vì thế ít phải ra chợ. Lâu lâu có khách buôn muốn đổi muối đổi vải ghé sẵn thớt voi ngoài sàn, chỉ cần đem mật ong, mộc nhĩ, sừng nai ra, tha hồ chọn. Bây giờ, mọi việc khó khăn hơn, tròn một mùa rẫy không có dấu chân voi khách qua buôn. 

Mấy con ngựa khoẻ đã sẵn sàng chỉ còn chờ thấy rõ đường đi là xuất phát. Mấy gùi hàng buộc sẵn thứ nào rõ ràng thứ đó. Juăn xin ama Lát và ông Kadin cho đi ra chợ cùng. Juăn nói:

 “Lần này ra chợ con dò hỏi tin tức dưới quê nhà luôn thể”.

 H’Ly nói vui:

 “Sợ tìm được người thân rồi Juăn sẽ bỏ vùng Lòng chảo mà đi thôi đấy!”.

 Juăn thúc ngựa đi sát, nói to:

 “Không có, Juăn giờ là người của vùng Lòng chảo bên núi Chư Mang rồi!”.

 Khi mặt trời ngả hẳn về phía Tây như nhuộm máu, đoàn mới ra đến chợ. Ngày mai mới là phiên chợ. Tối ấy, đoàn nghỉ trong lều tạm, mở cơm nắm rượu bầu ra uống bên đống lửa đốt tạm. Mấy con ngựa thong thả đứng nhai lá. Sáng sớm, vừa rõ mặt người thì người buôn xa buôn gần đã bắt đầu đến chợ. Những gùi sản vật bắt đầu được bày ra trên bãi cỏ. Bên kia lối đi là hàng quán của người dưới xuôi lên đổi hàng. H’Ly ngắm mãi nơi mua bán vải mà không thấy chán mắt. Những chiếc vòng bằng đá xanh suốt, đẹp mê hồn, nàng mới nhìn thấy lần đầu tiên! Ông Kadin và ama Lat ngồi bày hàng ra đổi. Juăn đi vòng quanh chợ ngó nghiêng tìm người quen. Có người nhận ra Juăn, hỏi:

 “Sao cha con mày đi lâu thế chưa về? Có về nữa không?”.

 Juăn mừng quá hỏi chuyện ở quê mãi. Không biết ai đồn đại rằng cả hai cha con mày đã chết trong hang núi, mẹ mày đau buồn nhịn ăn mà chết rồi. Juăn đứng lặng người, nước mắt ròng ròng. Ông Kadin nói:

“Thôi con à, về vùng Lòng chảo bên núi Chư Mang sống thôi, về quê còn ai thân thích nữa!”.

Sau chuyến ấy, Juăn như người mất hồn. Chiều, khi vừa nghỉ tay, Juăn lại ra đầu sàn đứng ngó về con đường dẫn qua hẻm núi Chư Mang bảng lảng sương khói. Ông Kadin nói với vợ:

 “Nó cũng là con người, nó nhớ quê mà!”.

Nghĩa quân của tù trưởng Gưh đóng giữa vùng rừng núi Nâm Nung dày đặc âm u. Khi Y Lat và Y Liê tìm đến nơi cũng là lúc cuộc chiến đang diễn ra vô cùng ác liệt. Hai con ngựa sau mấy ngày đường mệt lả được nghỉ ngơi bên dòng nước mát Krông Nô. Tù trưởng Gưh hỏi:  “Những chàng trai Êđê Dham của vùng Lòng chảo núi Chư Mang, vì lẽ nào lại muốn đến với nghĩa quân? Ở nhà uống rượu với cá lăng nướng lẽ nào không vui, vì sao lại đi tìm cái chết?”. Y Lát trả lời:

 “Hỡi tù trưởng! Anh em chúng tôi không phải không muốn ở nhà vui với rẫy nương, nhưng chúng tôi cũng không sợ chết. Tụi giặc đã đến tận thảo nguyên xa xôi này, ai là người biết nghĩ, đều thấy cần phải đánh đuổi chúng đi!”.

 Tù trưởng Gưh cười lớn, giọng âm vang dội vào thung lũng Nâm Nung:

 “Được, ta hiểu cái bụng của các bạn rồi, hãy góp cung tên vào cho nghĩa quân thêm đông, thêm mạnh. Một cánh tay giặc sẽ bẻ gãy, nhưng mười cánh tay, một trăm cánh tay sẽ đủ mạnh đánh nhau với chúng. Kẻ thù dù hung dữ đến mấy cũng sẽ phải cút khỏi rừng Nâm Nung, cút khỏi thảo nguyên thôi mà…”.

Nghĩa quân của tù trưởng Gưh sau mấy trận đầu bị động đã tìm ra cách đánh mới khiến cho quân Pháp trong đồn Jiăng mất ăn mất ngủ. Ngày ngủ, đêm thức đánh giặc, cả vùng rừng núi Nâm Nung trở thành căn cứ kháng chiến rộng lớn của nghĩa quân. Lính Pháp ngày vác súng đi càn quét, tôi về co cụm trong đồn không dám bước chân ra ngoài, thế mà đêm nào cũng có vài đứa lính gác bị trúng tên thuốc độc. Y Liê nghĩ ra cách làm nỏ lớn dài hơn sải tay, rãnh nỏ rộng, bắn một lúc ba bốn mũi tên làm cho lũ giặc kinh hoàng. Tù trưởng Gưh mừng rỡ:

 “Các Yàng đã mang đến cho ta hai anh hùng! Chúng ta sẽ hạ đồn Jiăng trong nửa con trăng nữa thôi”.

Đồn Jiăng đóng giữa một vạt đất rộng, vốn là đất buôn Jiăng cũ của người Êđê Bih. Tên đồn trưởng Buốc Gioa đuổi người già trẻ con lên núi Nâm Nung, giữ trai làng ở lại chặt cây lớn rào kín đồn tính kế lâu dài. Đã bao nhiêu lần tù trưởng Gưh và nghĩa quân tiến đánh nhưng đồn Jiăng vẫn đứng vững. Quân Pháp cậy có súng lớn đạn nhiều bắn không tiếc. Cả một vùng rộng bên ngoài đồn cây cối gục ngã, con sóc chạy qua cũng có thể phát hiện. 

Buốc Gioa nói:

  “Bọn mọi Gưh làm sao đánh nổi, hãy nói với nó là hàng ta mau thì còn có mạng sống, lại có muối có gạo ăn, còn không thì chỉ có chết thôi”.

Tên độc đã làm cho quân Pháp khiếp sợ, chúng không dám huênh hoang, phải xin thêm viện binh từ các đốn khác đến. Cuối mùa mưa năm 1913, đồn trưởng Buốc Gioa lệnh cho quân lui hẳn vào đồn cố thủ, chờ tiếp viện. Ban ngày, nghĩa quân từ trên núi Nâm Nung nhìn xuống thấy đồn Jiăng như một bông hoa đỏ lòm. Những đụn đất mới được đào lên đắp cao, nhìn nhức mắt. Chỉ có tên độc thôi cũng không đủ sức đánh tan đồn giặc. Tù trưởng cũng đã hết cách. Đã giữa mùa mưa. Sông Krông Nô đục ngầu chảy qua Nâm Nung như một con rồng nước hung hãn. Phải có cách nào để kéo những con cọp lửa hung hăng kia ra khỏi nơi ẩn nấp thì mới thắng được -Y Lat nghĩ. Phải tìm cách, nhưng cách nào? Câu hỏi ấy làm cả hàng nấy trăm người mất ngủ nhiều đêm. Những chiều mưa giăng kín đại ngàn, Y Lat và Y Liê ngồi nhìn mưa, lại nhớ nhà, nhớ H’Ly, nhớ vùng Lòng chảo bên núi Chư Mang. Ừ, vùng Lòng chảo cũng giống bãi đất buôn Jiăng lắm. Đồn giặc đóng ngay giữa bãi đất trống cạnh sông Krông Nô. Nước cũng chảy xiết như dòng Sêrêpốk quê nhà. Ừm, phải đấy, phải nhờ nước thôi! Y Lát reo lên rồi ôm lấy vai Y Liê:

 “Có cách rồi, ta có cách, Y Liê à, phải nhờ nước thôi!”.

 Tù trưởng Gưh nghe Y Lat nói rõ cách vào đồn bằng nước thì mừng lắm.

 “Ta đã biết ngay từ đầu, Yàng đã đưa đến cho ta những anh hùng! Nào, uống rượu đã, ngày mai sẽ bắt đầu”.

Càng về cuối mùa mưa, mưa càng lớn. Những tảng nước từ trên cao đổ ụp xuống, vãi tung toé. Mưa to, quân Pháp cụm lại trong đồn. Nghĩa quân cũng không khiêu chiến, âm thầm đội mưa khuân đá chặn dòng nước. Những thân cây chò vừa vòng tay ôm được buộc vào nhau làm đòn ngăn đá, đá sẽ chặn nước lại. Hàng ngàn bàn chân bám chặt trên đá, hàng ngàn bàn tay chuyền nhau gỗ đá, cây rừng cắt tay, đá sắc cắt chân, máu chảy đỏ ngầu. Dòng Krông Nô đang ào ạt chảy bỗng gặp gỗ đá ngăn lại, dựng đứng lên, tung bụi nước đục ngầu. Những thân cây to cũng đã chặt đủ, kết làm bè để sẵn. Đội voi kéo miệt mài làm việc đêm ngày cho một trận đánh lớn sắp sửa bắt đầu. Thằng giặc à, gỗ này, người này sẽ chui vào đồn của mày để hỏi tội! Đến lúc đó, chúng mày mới biết thì đã muộn rồi!

Vào một đêm mùa mưa tối mịt mùng. Tù trưởng Gưh cho gióng lệnh xuất trận. Khi bầy voi kéo những thân gỗ chắn ngang dòng nước, đá tự do rơi xuống, cả đập nước đang tức tối vì bị ngăn đường bỗng dưng không còn rào chắn đổ ập xuống, chảy ầm ầm. Những chiếc bè làm bằng gỗ tếch nối đuôi nhau xuất phát lao vun vút xuống. Thoáng chốc, nước đã dâng lên sát bờ rào đồn Jiăng. Những chiếc bè chở đầy nghĩa quân áp sát. Bọn Pháp trong đồn vẫn ngon giấc. Lính canh cũng đã ngủ vùi. Chúng thậm chí không kịp kêu tiếng nào khi mũi dao cắm phập vào cổ họng. Chiếc bè chở Y Lat, Y Liê và mấy chục nghĩa quân nữa lao thẳng qua bức thành rào, vào trung tâm doanh trại giặc. Giải quyết xong những tên lính vòng ngoài, Y Lat và Y Liê nhanh nhẹn lách vào như những con thằn lằn núi. Khi Y Lat đứng ngay sát bên giường đồn trưởng rồi mới nghe tiếng súng giặc bắt đầu nổ. Tên cận vệ bừng tỉnh vơ lấy khẩu súng, con dao từ ngoài cửa vút vào cắm ngay cổ hắn. Loạt đạn bắn vãi lên nóc lều làm đồn trưởng Buốc Gioa choàng tỉnh. Nhanh như cắt, Y Lat lia nhát gươm vào giữa chiếc cổ vừa ngóc dậy. Một dòng máu nóng phụt thẳng vào mặt Y Liê khiến chàng rùng mình. Dưới chân, nước sông tràn vào ngập bẹn. Trận đánh tiếp tục diễn ra trong nước. Bọn Pháp bị bịt mắt bởi đêm tối, bắn loạn xạ như vãi trấu. Nhiều nghĩa quân trúng đạn ngã xuống. Tiếng hét, tiếng hú vang dội. Đến lúc trời sáng thì đồn Jiăng hoàn toàn bị san phẳng. Xác giặc nằm la liệt. Những thi thể bê bết bùn nước đỏ ngòm. Tù trưởng Gưh nổi chiêng thu quân, chôn cất xác người, chuẩn bị ăn mừng chiến thắng. 

Thức suốt một đêm, mắt Y Liê trắng dã, làn da bợt đi vì ngâm nước. Chàng chạy tới chạy lui khắp nơi, tìm mọi ngõ ngách, bụi cây lớn nhỏ vẫn không thấy Y Lat đâu. Nhìn đi nhìn lại khắp lượt hơn hai chục cái xác nghĩa quân đã xếp gọn, vẫn không có Y lat. Y Lat đi đâu được? Đồn Jiăng đã thành bình địa. Y Liê cầm gươm đi bới từng đụn đất tìm bạn. Y Lat ơi, Y Liê biết nói sao với H’Ly đây? Nói sao với người vùng Lòng chảo đây? Chàng gục mặt vào mô đất khóc mãi. Nước mắt thấm vào đất bùn đỏ như ứa máu, đặc quánh.

Hai ngày sau, có một người M’nông ở bên buôn Bduh vạch rừng tìm sang, trên lưng cõng một thân người mềm nhũn. Ông ta bảo đã bắt được cái xác ở bến nước của buôn, nghĩ chắc là người của tù trưởng Gưh nên mang đến trả. Mọi người nhận ra ngay Y Lát. Trên tấm thân cường tráng tuyệt không hề thấy một vết thương. Mắt vẫn mở trừng trừng. Tất cả mọi người không ai biết vì sao Y Lat lại bị chết. Mọi người phỏng đoán, trong khi vật lộn với giặc giữa đêm tối, chàng đã bị nước cuốn trôi. Y Liê chan hoà nước mắt khi thả những nắm đất cuối cùng lên mộ người bạn thân dũng cảm.  

Trận đánh úp đồn Jiăng thắng lợi khiến cho kẻ thù ở các đồn khác ăn ngủ không yên. Chúng tìm mọi cách tiêu diệt nghĩa quân. Không biết từ đâu lan ra tin đồn: Tù trưởng Gưh sau khi chiếm được hết vùng Krông nô và Krông ana rộng lớn sẽ lên làm vua và trừ diệt luôn cả người M’nông anh em để giành hết quyền cho người Êđê. Tù trưởng Gưh phải làm lễ ăn thề trước toàn thể nghĩa quân.

 “Bớ các anh em, là người Êđê Bih, Êđê Dham, là người M’nông Preh, M’nông Rlăm, tất cả chúng ta đều là anh em. Chớ nghe miệng độc của bọn ác. Có các Yàng minh chứng, nghĩa quân N’Trang Gưh ai ai cũng ngay thẳng, như nước suối trong, như cây rừng, trước sau không đổi!”.

Kẻ thù biết rằng nghĩa quân N’Trang Gưh còn tồn tại ngày nào thì hiểm hoạ còn rình rập ngày đó. Chúng điều quân từ mạn đồng bằng lên với súng ống đạn dược nhiều gấp mười lần trước với âm mưu đập tan nghĩa quân trong thời gian ngắn. Đi cùng với súng đạn là lương thực, muối và tiền. Biết trước cuộc chiến sẽ khốc liệt và kéo dài nên tù trưởng Gưh lệnh cho giải tán bớt đội ngũ trở về làm nương rẫy bám đất bám rừng, còn lại hơn một trăm tay chân thân tín rút vào núi Nâm Nung lập căn cứ chiến đấu lâu dài. 

Tù trưởng nói với Y Liê:

 “Này chàng trai dũng cảm vùng Lòng chảo, ở lại chiến đấu tiếp hay quay về núi Chư Mang là tuỳ ở bụng ngươi. Ta không giữ, cuộc chiến sẽ kéo dài như dòng Krông nô đấy chàng trai ạ…”.

 Y Liê suy nghĩ từ sáng đến chiều rồi nói:

 “Tôi muốn về thăm lại vùng Lòng chảo vài bữa, rồi sẽ quay lại chiến đấu với anh em, thưa tù trưởng!”. “Được lắm, ta biết lời nói của người Êđê Dham thẳng như cây rừng, chúng ta sẽ chờ ở đây, trên núi Nâm Nung này, nhớ lấy!”.

Y Liê từ giã nghĩa quân quay về núi Chư Mang sau hai mùa mưa xa cách. Quãng đường đi chỉ gần một ngày ngựa mà hoá xa. Chàng phải cho ngựa chạy đường vòng để tránh đồn giặc. Đường vào vùng Lòng chảo cỏ lau mọc trắng. Y Liê ghìm cương dừng ngựa ngoài dốc núi rồi đi bộ vào. Kể từ ngày Y Lat chết, đêm nào Y Liê cùng mơ thấy mình đã về nhà. Những giấc mơ dày đặc cứ bám lấy chàng, đầy nước mắt. Nước mắt của ama, amí Lat, nước mắt của ông già Kadin, và nước mắt của H’Ly. Lần nào cũng như lần nào, H’Ly cứ ôm lấy cánh tay Y Liê mà giật mạnh, đau khổ, trách móc:

 “Sao Y Liê không cứu Y Lát? Sao không cứu?”.

 Y Liê không biết nói gì, nước mắt chảy dài. Có những đêm trên núi Nâm Nung sương giá, Y Liê tỉnh dậy thấy hai cánh tay gối đầu ướt đẫm mới hay là mình đã khóc. Đột nhiên, Y Liê thấy sờ sợ: Biết nói thế nào với ama, amí Lat, nói thế nào với H’Ly đây? Bao nhiêu lần Y Liê mong muốn về thăm nhà, sao đến núi Chư Mang rồi chân lại không dám bước? 

Buổi trưa, mọi người đang nghỉ ngơi trong nhà. Mấy con bò nhỏ nằm trước gốc cây bằng lăng tránh nắng. Thấy người lạ, chúng tròn mắt dõi theo. Người phát hiện ra Y Liê trước tiên là H’Ly, nàng đang ngồi giặt đồ dưới bến nước. “Yàng ơi, có thật anh Y Liê đó không?”, nàng vừa kêu to vừa chạy vội lên, “ama ơi, anh Y Liê về rồi!”. H’Ly kêu to, mừng rỡ, nhưng tiếng kêu chợt gãy nửa chừng như cành cây gãy trong gió, rơi xuống thảng thốt. Nàng vừa nhận ra điều gì đó bất thường trong mắt Y Liê. Một mảng màu tối đổ ập xuống. Nàng ôm lấy cánh tay đen sạm của Y Liê lắc mạnh:

 “Còn Y Lat? Y Lat đâu? Sao Y Lat không về?”.

 Y Liê lặng lẽ ngồi bệt ngay chân cầu thang.

 “Amí à, cho con xin miếng nước, Yàng ơi, khát quá! Khát quá!”.

Niềm vui vừa chợt đến thì nỗi buồn mênh mông đã kéo về bao phủ núi Chư Mang. Cả tuần trăng, mọi người tránh nhìn mặt nhau. Y Liê không dám nhìn thẳng vào mắt ama, amí Lát, càng không dám gặp mặt H’Ly nữa. Ngày ngày, Y Liê mang rựa lên rẫy phát. Cả một khoảng đồi được dọn sạch. Juăn cũng đi phát rẫy với Y Liê, thấy Y Liê im như đá tảng, mắt đỏ ngầu, nên không dám nói gì, chỉ im lặng phát. Ông ama Lát phá vỡ im lặng:

 “Y Liê à, nghỉ tay đã con ơi, ta có giận trách gì con đâu mà!”.

 Y Liê vẫn không nói gì, lén kéo vạt áo chùi nước mắt. Từ ngày Y Lat chết, chàng vẫn thường đổ nước mắt trộm như thế. Nhiều khi, chính chàng phải thắc mắc:

 “Này, Y Liê ơi, mày lấy đâu ra nhiều nước mắt thế?”.

Trong bầu không khí đau buồn vì mất mát ấy, Juăn ngày càng trở nên lạc lõng. Nhìn ai cũng lạnh lùng, Juăn không biết mình phải làm gì, chỉ biết khuyên nhủ H’Ly đừng khóc nhiều thế, không tốt cho sức khoẻ. H’Ly như con chim bị thương ở cánh, rũ xuống, ngồi đâu không buồn nhúc nhích, cũng không nói gì nhiều. Juăn không biết nói thêm gì nữa, lẳng lặng làm việc như cái bóng cây lay động. 

Thảo nguyên héo khô vì nắng. Hơi nóng từ dưới đám bùn lầy ven sông hắt lên trời. Bầu trời không một gợn mây. Dưới vạt cỏ ven sông, những con chim le le đi kiếm mồi ngơ ngác ngẩng đầu lên nhìn mỗi khi thấy H’Ly ra sông giặt đồ. Dưới lòng sông, có thêm một gã mặt trời đỏ ối lừ lừ nhìn lên.

Ở lại quê nhà nửa tuần trăng, phần vì không chịu nổi không khí tang tóc, phần thì nhớ lời hứa với tù trưởng Gưh, Y Liê quyết định quay lại Nâm Nung. Nhưng chưa kịp đi thì nghe tin tù trưởng Gưh đã bị Pháp bắt. Mất con sói đầu đàn, bầy sói đã tan rã. Y Liê như con sói lạc bầy, trở về ngồi liếp lám vết thương dưới bóng cây đầu bến nước. Thường thì tối mịt chàng mới từ trên rẫy về nhà, lúc thì phát cây, lúc lấy củi, lúc canh lúa. Sau khi tắm ở bến nước, chàng nặng nhọc lê bước về nhà, đôi vai trần vạm vỡ chúi về phía trước, lặng im. Nhiều đêm, Y Liê đem bầu rượu ra ngồi ngoài sàn uống một mình.

 Một bữa, đang uống, thấy Juăn ngồi vót tên lồ ô một mình, Y Liê gọi:

 “Nào, người anh em, dừng tay uống rượu thôi!”.

 Juăn ngừng tay, ngẩng đầu lên, lại thấy Y Liê đang ngửa cổ tu rượu nên tưởng mình nghe nhầm, cúi xuống vót tiếp. Y Liê thấy Juăn im lặng, không gọi nữa, nghĩ, thế là sao nhỉ? Tự dưng có một thằng lạ hoắc vào ở trong buôn, mặt lúc nào cũng lầm lì như đá tảng!

 Suy nghĩ của chàng lại trở về những năm tháng trận mạc theo nghĩa quân tù trưởng Gưh. Dấu chân của chàng và Y Lat đã in khắp vùng Nâm Nung, con dao chàng luôn mang bên mình đã khắc dấu bao nhiêu trận huyết chiến. Những đêm nằm giữa đại ngàn mưa gió, chàng thường nói với Y Lat: “Y Lat à, mình muốn về núi Chư Mang, muốn lắm!”. Y Lat nghe, nằm im, không trả lời. Chắc Y Lat đang nhớ H’Ly. Thực ra, với H’Ly, Y Liê luôn ấp ủ một thứ tình cảm âm thầm những vô cùng mãnh liệt, như lửa than hồng nằm sâu đáy bếp. H’Ly đã chọn Y Lat chứ không phải Y Liê, cho nên, tình cảm ấy càng phải vùi kỹ dưới đáy tro để không bao giờ nó trở thành ngọn lửa. Bây giờ Y Lat đã chết rồi… Lòng Y Liê lại rối bời. Chàng đem sáo ra thổi. Tiếng Đinhbuôr cất lên, không đầu không cuối bò dọc thảo nguyên hoang vắng. Đó là lời của một bài hát cũ. Con chim đã bị thương/đôi cánh vẫy vùng tuyệt vọng/ em đã vót tên, đã bắn/ những mũi tên vẽ ngọn lửa/ trong những đêm dài/ thiêu đốt thảo nguyên… con chim đã bị thương/ thảo nguyên hoang tàn…Tiếng Đinhbuôr buồn bã khóc than khiến H’Ly cũng không chịu nổi. Nàng nhẹ nhàng ngồi cạnh Y Liê, “đừng khóc nữa Y Liê ơi, Y Liê cứ thổi sáo mãi thế này H’Ly cũng buồn mà đến chết mất thôi!”. Y Liê nắm chặt tay H’Ly, nàng nức nở:

 “Chúng ta có lỗi với Y Lat nhiều lắm!”.

 Giọt nước mắt nóng hổi tìm đến môi nàng, H’Ly nhắm mắt lại, nghe ngọn lửa từ đâu thiêu đốt ngực mình. Cỏ vẫn thầm thì bài hát muôn thuở của thảo nguyên. Dưới chân họ, sông Sêrêpốk vẫn băng băng chảy ngược đại ngàn. Từ phía núi Chư Mang, một vệt sáng loé lên bất chợt rồi bùng rơi lả tả xuống đồng cỏ mùa gieo hạt. Không có trăng, đêm đầy những vệt lân tinh. Y Liê chợt nhớ đến ánh kiếm chớp sáng trên tay Y Lat trong đêm đánh đồn Jiăng, chàng rùng mình, ôm chặt lấy H’Ly. 

Sau khi mua chuộc được tên thuộc hạ chỉ điểm đánh úp giết chết tù trưởng Gưh, quân Pháp ngày càng bình định sâu vào tất cả mọi buôn làng trên dải đất cao nguyên rộng lớn màu mỡ. Chúng kéo đến vùng Lòng chảo và đặt ngay một cái bốt gác trên con đường qua núi Chư Mang. Bọn lính lân la vào làm quen, mua chuộc. Chúng mang theo rượu vang và thịt hộp để biếu người già, vải đẹp để lấy lòng phụ nữ. Già ama Lat, ông Kadin miễn cưỡng cầm lấy mấy chai rượu sẫm màu máu, chờ cho chúng đi khỏi liền vứt ngay xuống sông với lời nguyền độc địa:

 “Khi nào chai rượu máu này nổi lên mặt nước thì ta với bọn ăn cướp kia mới nói chuyện được với nhau!”.

 Y Liê nằm trong buồng nhìn ra, thấy hết, nghe hết. Chàng lại nhớ đến vẻ mặt bình thản của Y Lat trước khi về với đất. Những kỷ niệm hãi hùng lại trở về. Nhát kiếm loang loáng trong nước, vòi máu phun trào trên cổ tên trưởng đồn Buốc Gioa…Y Liê nghiến răng nhìn ra, thấy Juăn đang cười nói gì đó với bọn lính, tự dưng, máu trào sôi trong huyết quản. “Không, không bao giờ ta có thể chung sống với bọn ăn cướp!”. Tối ấy, Y Liê đón Juăn ở chân cầu thang nhà H’Ly, hỏi: “Này Juăn, mày muốn đi theo chó sói đấy a?”. Juăn lúng túng: “Không phải, không có đâu anh Y Liê, bọn chúng cho em hộp diêm hút thuốc mà”. Y Liê không nói thêm, lẳng lặng về nhà. Dạo này, Y Liê không uống rượu nhiều như trước nữa. Thỉnh thoảng chàng lại lấy thanh gươm của Y Lat ra xem. Ngày trước, mỗi lần giết được một tên giặc là Y Lat lại khắc một vạch vào cán để đánh dấu. Y Liê đếm đi đếm lại, mười chín vạch tất cả. “Chúng còn phải chết thêm nữa Y Lat à, bởi vì chúng đã tự kéo đến vùng Lòng chảo này, nhất định chúng sẽ chết tiếp!”. 

Mùa khô, gió đổi hướng tràn về từ bề kia núi Chư Mang, mang theo hương hoa dã quỳ hăng hắc, dịu ngọt. Mọi người tất bật đem những bó lúa cuối cùng về kho. Năm nay, vùng Lòng chảo có tin mừng. Cô gái H’Ly con nhà Kadin sẽ bắt chồng khi vụ mùa xong xuôi. Chàng rể là Y Liê dũng cảm. Ai cũng hân hoan, chỉ có một người buồn. Đã từ lâu, Juăn muốn rời bỏ vùng Lòng chảo xa lạ để tìm về với đồng bằng quê cũ. Nhưng cái chân bước đi chưa dứt có lẽ chỉ vì hình bóng một người con gái. Ngày vừa mới đến đây, biết H’Ly đã có người thương, Juăn đã thất vọng, rồi lại hy vọng tràn trề khi nghe tin Y Lat chết trận. Juăn đã định chờ cho chuyện buồn nguôi ngoai rồi sẽ ngỏ lời nhưng chưa kịp nói thì đã bị ánh mắt lạnh lùng của Y Liê ngăn cản. Đứng trước ánh mắt xuyên thấu tim gan ấy, Juăn sợ. Mỗi buổi sáng, đứng trên sàn nhìn H’Ly gùi nước dưới sông lên, váy ướt mềm bó chặt bắp chân nõn nà Juăn lại thấy bâng khuâng buồn. Có cái gì đó nhoi nhói trong tim Juăn. Vừa sợ, vừa ghen tức với Y Liê. Một ý nghĩ u ám không rõ ràng cứ lởn vởn trong đầu Juăn. Cuối năm nay, H’Ly bắt chồng, đến lúc đó chắc chắn Juăn sẽ ra đi khỏi núi Chư Mang mờ mịt. 

Càng gần cuối năm, trời càng lạnh. Những bếp than đỏ lửa suốt ngày. Sáng dậy, khi đã xong bữa sáng, mọi người vẫn còn nán lại bên bếp kéo thêm vài rê thuốc, chưa vội đứng dậy vì việc nương rẫy đã xong xuôi. Các bà mẹ thong thả dệt vải. Những mùa mưa trước, khi Y Lat và Y Liê đang theo nghĩa quân tù trưởng Gưh đánh Pháp, câu chuyện bên bếp lửa thường nhắc đi nhắc lại về hai chàng trai. Mọi người thay nhau đoán định xem lúc đó họ đang làm gì. Còn bây giờ, mọi người ít nói hơn, những đôi mắt nhìn qua ô cửa nhà dài, lơ đãng, buồn. Ngoài kia, đồn Pháp vừa dựng lên như một lưỡi rìu đỏ sẫm chém vào vách núi Chư Mang, ứa máu.

Đám cưới của Y Liê và H’Ly dự kiến diễn ra vào đầu mùa khô nhưng rồi phải hoãn lại. Mẹ H’Ly đột ngột qua đời. Buổi trưa ấy, khi bà Kadin đang ngồi giặt áo váy cạnh bờ sông thì một viên đạn lạc từ trên đồn Pháp bay xuống găm đúng đầu. Bà ngã gục xuống bên gùi đồ giặt dở, máu loang đỏ thắm cả dòng nước. Ông Kadin ôm xác vợ trên tay, không nói không rằng, đi thẳng vào đồn Pháp, mọi người trong buôn cùng đi theo. Lính gác ngăn lại không cho vào đồn. Ông Kadin dặt xác vợ ngay trước cổng. Tên đồn trưởng nhã nhặn nói xin lỗi và hứa sẽ đền bù. Tên thông dịch nhắc lại:

 “Quan đồn hỏi các ông cần bao nhiêu muối hay bạc trắng để quan bồi thường?”.

 Ông Kadin gầm lên:

 “Người phải đổi bằng người, chúng tao không đổi người lấy muối, nhớ đấy!”.

 H’Ly rũ rượi như cành cây bị chặt. Mới có hai mùa mưa mà mất mát liên tục đổ ập xuống, mất Y Lat, rồi mất mẹ, nàng không còn nước mắt để khóc. Y Liê vụng về cũng không biết nói gì hơn để an ủi người yêu. Càng ngày Y Liê càng lầm lì. Đôi mắt âm u giấu dưới đôi mày rậm thỉnh thoảng loé lên những vằn đỏ căm thù. Ngày ngày, chàng vác xà gạc đi dọc bờ sông xem lũ cá đớp mồi, chán lại nằm ngửa trên bãi cỏ nhìn lũ đại bàng vờn nhau trên đỉnh Chư Mang. 

Một bữa, chàng nắm thêm cơm bỏ vào gùi vác rựa trèo lên đỉnh núi. Ngày trước, mỗi lần lên núi, Y Liê bao giờ cũng có Y Lat đi bên cạnh. Đã mấy năm rồi, bây giờ chàng lại tìm đường lên núi, một mình. Con đường ngắn nhất dẫn lên đỉnh núi Chư Mang chỉ có chàng và Y Lat biết, bây giờ cỏ cây phủ lấp. Y Liê vừa dùng rựa phát cành vừa dò lối đi, đến gần đỉnh, gặp cây chò già thì vừa đứng bóng. Từ đây, chàng có thể bao quát hết cả thung lũng. Đồn Pháp nằm ngay dưới chân. Y Liê khoan khoái cười lớn một mình: Thế mà đến bây giờ mình mới nghĩ ra! Nước ở Nâm Nung và đá ở Chư Mang đều giống nhau mà. Chàng hét lớn: 

“Y Lat ơi, mình nghĩ ra rồi…”.

Trên đỉnh núi, gió gầm rít, vặn những thân cây răng rắc, nghe rợn người. Buổi chiều, khi mọi người hỏi Y Liê đã đi đâu làm gì suốt cả ngày, chàng chỉ cười, không nói. Sinh ra lớn lên ở buôn làng, Y Liê không có gì để phải che giấu người thân nhưng không hiểu sao, mỗi lần nhìn thấy Juăn là chàng lại thấy lo lắng. Dù sao hắn vẫn là người lạ. Chàng giấu mọi người, âm thầm hành động. 

Cả tuần trăng, ngày nào Y Liê cũng lên núi. Chàng mang theo cưa, cuốc, rựa. Lòng căm thù giúp chàng quên mệt. Những tảng đá bằng lưng trâu được xếp chồng lên nhau tựa vào các thân cây đã cưa dở. Tảng đá đầu tiên được núi giữ bằng dây mây to cỡ bắp tay. Đá xếp hàng phía sau, chờ đợi. Tất cả đã xong, chỉ chờ một nhát rựa chém đớt sợi mây là đồn giặc sẽ tan tành! Y Liê mỉm cười khoan khoái. Gặp mọi người trong buôn Y Liê đều muốn hét to lên: “Xong cả rồi!”, nhưng nghĩ đến Juăn lại thôi. Nhưng không nói chànglại không chịu được. Chàng đi tìm H’Ly. Cả tuần trăng, mải làm việc, chàng không còn nhớ đến nỗi buồn của người yêu. Y Liê tự nhủ, phải gặp nàng thôi, mối thù của chúng mình sắp trả được rồi, H’Ly ơi! Mải nghĩ ngợi, chàng không biết mình đã đứng trên sàn nhà H’Ly từ lúc nào. Sàn ngoài không có ai. Chắc ông Kadin đang đi lùa bò dưới bờ sông, H’Ly chắc là đang đi gùi nước cho bữa cơm chiều. Y Liê đang định quay ra thì chợt nghe tiếng người nho nhỏ trong buồng vọng ra. Lạ thế, ai mà nói chuyện với nhau trong nhà giờ này? Chưa bước qua cửa, Y Liê đã nhận ra ngay giọng người Kinh lơ lớ của Juăn:

 “H’Ly gắng lên nhé, đừng buồn nhiều quá, nhìn H’Ly buồn, Juăn cũng buồn lắm lắm!”.

 Juăn vừa nói vừa xoa nắm lá lên trán H’Ly. Tự dưng, Y Liê thấy máu sôi lên, chảy rần rật lên hai mắt, hai tai. Chàng rút con dao mang cạnh người chém một nhát vào vách gỗ, lưỡi dao trúng phải chiếc chiêng núm treo trên vách, phát ra âm thanh ghê rợn. Đó không phải là tiếng chiêng. Đó là tiếng của một con thú bị mũi lao đâm trúng tim. H’Ly giật mình ngồi dậy, Juăn nhìn ra ngơ ngác. Y Liê lặng lẽ quay ra. Mọi người nghe tiếng kêu lạ không ai bảo ai cùng nhau chạy tới, vừa đến cầu thang thì đã thấy Y Liê bước ra, mặt đỏ bừng, phía sau là Juăn, ngơ ngác, sợ sệt. Bước xuống hết bảy bậc cầu thang, Y Liê quay lại nói với Juăn: 

 “Ngày mai, tao với mày phải nói chuyện”.

 Juăn vẫn đứng nguyên đấy, không nói gì. Y Liê đã đi xuống tận bờ sông, chân Juăn vẫn như mọc rễ. Juăn nghĩ, Y Liê làm gì mình? Mình có xúc phạm gì anh ta? Không lẽ chăm sóc H’Ly là có tội? Cả tháng nay, mở mắt là lên núi Chư Mang, anh ta có ngó ngàng gì đến H’Ly đang ốm đâu.

Sáng hôm sau, Juăn đi ra đầu bến nước đã thấy Y liê đợi sẵn ngoài đấy. Liếc nhìn đôi môi kẹp tẩu thuốc mím chặt trên quai hàm bạnh ra của Y Liê, Juăn rùng mình. Y Liê hỏi:

 “Mày biết H’Ly là vợ sắp cưới của tao?”.

 “Biết, và tôi không làm gì có tội với anh”.

 Y Liê rít lên:

 “Mày nhân lúc người khác đi vắng để chăm sóc vợ người ta, mày tốt quá!”.

 Juăn phân trần:

 “Thề có các Yàng, tôi không làm gì xấu…”.

 Y Liê gầm lên: “Bọn người Juăn chúng mày làm gì biết các Yàng mà thề, tốt nhất là tránh xa H’Ly ra, nếu không đừng trách tao ác bụng!”.

 Y Liê vừa nói vừa vung cây rựa chém mạnh vào hòn đá, toé lửa. Juăn không nói gì thêm, lẳng lặng lùi bước, mặt xanh như tàu lá. Đứng trên sàn nhìn xuống bến nước, H’Ly đã nhìn thấy hết. Không nghe rõ hai người nói với nhau những gì nhưng nhìn cử chỉ nàng cũng đã đoán được một phần câu chuyện. Nàng cũng cảm thấy mình bị xúc phạm bởi lòng ghen của Y Liê. Nàng lặng lẽ thở dài. Nàng lại nhớ đến Y Lat. Đôi mắt xanh trong gợn những nét buồn thăm thẳm. 

Từ sau buổi gặp Y Liê ngoài bến nước, Juăn càng trầm lặng hơn. Gặp mọi người, Juăn chỉ gật đầu chào nhanh rồi bước đi. Ông Kơdin biết hết mọi chuyện.

 “Ta coi con là người vùng Lòng chảo từ lâu nên ta không nghĩ xấu cho con. Bình tĩnh để ta nói với thằng Y Liê một tiếng. Nó là thằng con trai tốt của thảo nguyên ta, có lẽ con thú ghen tuông đã che mắt nó. Cái thằng!”.

 Juăn ngồi nghe, bưng bát rượu đầy uống, mắt vằn lên như người bị sốt.

 “Có lẽ con phải đi thôi bác à. Con biết ơn bác, biết ơn vùng Lòng chảo núi Chư Mang nhưng cháu là người Juăn, cháu không thể ở lại lâu hơn nữa. Y Liê không muốn nhìn mặt cháu nữa mà”.

Tưởng buồn mà nói thế thôi, không ngờ Juăn đi thật. Mọi người cũng không biết hắn ra đi từ lúc nào. Thế là vùng Lòng chảo lại vắng bớt người. Chuyện buồn liên tiếp xảy ra khiến cho mặt người u ám. Những mái nhà bằng gỗ cũng nhuốm màu tháng năm, bạc phếch, cũ kỹ. Cuối năm ấy, vùng Lòng chảo tổ chức cúng Yàng thật to. Y Liê cắt rừng đi mời thầy cũng tận buôn M’tha xa xôi, nhân thể tạt qua các buôn anh em mời thêm khách đến chung cần rượu. Tiếng chiêng trầm bổng như tiếng gió tiếng mưa lẩn quất đưới mái nhà rồi vút cao, vọng mãi vào vách núi Chư Mang và thong thả lan ra mãi giữa thảo nguyên xanh biếc. Tiếng chiêng mời gọi các Yàng về dùng cơm dùng rượu. Lời khấn nguyện của thầy cúng đều đều theo nhịp chiêng…Mời Yàng núi Yàng sông Yàng rừng tiếp sức cho mọi người khoẻ cái chân cái tay, giúp cho cây lúa cây bắp nhiều hạt, con trâu con bò sinh sôi, của cải về chật dưới sàn nhà… Rượu rót tràn từ sáng đến tối, lại từ tối đến sáng. Ông Kơdin đã say mềm, nằm ngủ ngay sàn ngoài, thỉnh thoảng lại ngoái dậy nói: 

‘Uống tiếp, vui tiếp đi, hết rượu sẽ lấy thêm, hết thịt sẽ mổ thêm vài con bê nữa, đừng ngại!”

Sẫm tối hôm sau thì thấy tên quan đồn kéo theo mấy thằng lính nữa bước vào nhà dài. Nó cất giọng hỏi từ dưới chân cầu thang. Mọi người buông cần nhìn ra. Ông ama Lat cất tiếng trước:

 “Ai mời các ông vào đây?”.

 Tên đồn trưởng lại xổ một tràng dài, thằng thông dịch nói lại: 

 “Quan đồn bảo tuy không được bà con mời nhưng biết buôn ta có lễ cúng lớn nên muốn vào chơi xin ly rượu. Quan nói rằng, tình cảm con người là trên hết!”.

 Ama Lat hết nhìn cái mũi đỏ của tên đồn trưởng lại liếc khẩu súng hắn mang bên người, miễn cưỡng mời chúng:

 “Thôi được, đã là khách thì cứ vào, nhưng theo luật tục, đang trong cuộc vui, không được ai mang theo vũ khí vào nhà”.

 Lưỡng lự bàn tính với nhau một lúc, chúng cởi súng ra treo ngoài cửa trước khi vào nhà. Cuộc rượu vẫn tiếp tục nhưng mọi người đã hết vui, ai cũng dè chừng, lo lắng. Mấy tên lính miệng hút rượu nhưng mắt thì để ngoài cửa, nơi treo mấy khẩu súng. Nóng ruột nhất là Y Liê. Nhìn mấy khẩu súng đen bóng và những băng đạn váng choé, chàng thèm vô cùng. Mấy năm đi theo nghĩa quân của tù trưởng Gưh đánh Pháp, chàng đã hiểu thế nào là sức mạnh của súng. Chúng có thể so sánh với hàng trăm hàng ngàn mũi tên. Chàng tự nhủ, chúng mày cứ say đi. Nhưng mọi việc diễn ra không như chàng mong muốn. Thấy Y Liê không uống rượu mà bước ra ngoài, một thằng lính đứng dậy bước ra theo. Hắn ngồi bệt ngay dưới cửa, miệng lải nhải một bài hát gì đó. Bàn tay chàng nắm chặt chuôi dao nhưng rồi lại thôi, không rút ra. Dân làng đang vui. Y Liê cắn chặt môi bỏ đi xuống bờ sông, nước mắt căm hận trào ra lăn dài trên gò má đen sạm.

Những năm tháng nặng nề đè lên vai những con người hiền lành chân chất bên núi Chư Mang. Mỗi chiều, khi nghe tiếng súng nổ vu vơ ngoài đồn giặc, Y Liê lại đứng ngồi không yên. Có lúc, già Kơdin đã nghĩ đến việc bỏ vùng Lòng chảo mà đi, đi thật xa. Nhưng rồi bàn tính mãi lại thôi. Biết đi đâu khi cả dải đất cao nguyên rộng lớn chỗ nào cũng có đồn giặc. Đi đâu nữa khi người Êđê, người M’nông hay Jơrai đều khổ như nhau? 

Đang tính tới tính lui rối bời thì bỗng thấy Juăn quay trở lại. Thoạt nhìn không còn ai nhận ra nữa. Hắn mới ra đi đầu mùa khô mà tưởng như hắn vừa đi lột xác về. Juăn cưỡi con ngựa đen, mang đôi giày da bọc cả bắp chân. Hắn xuống ngựa đi vào buôn, thong thả bước lên sàn nhà ông Kơdin. Hắn khoe, bây giờ hắn làm công việc mới, đi tìm ngà voi, cao hổ về bán lại cho các quan binh Pháp. Mỗi chuyến đi có thể được cả nắm vàng. Hắn nói với ông Kơdin:

 “Đừng lo lắng bác à, con chơi thân với cả quan đồn Hăngri tận ngoài Buôn Đôn. Con sẽ nói với các quan Tây để họ không đụng đến vùng Lòng chảo núi Chư Mang”.

 Ở lại một buổi, Juăn lại tiếp tục lên ngựa rong ruổi. Trước khi quất ngựa ra khỏi vùng Lòng chảo, Juăn gặp H’Ly vừa trên rẫy về. Không biết hắn nói gì với H’Ly và H’Ly nói lại điều gì mà mặt hắn chuyển từ đỏ sang tái rồi cuối cùng trắng bợt như mặt người chết trôi. Hắn rít lên trước khi thúc ngựa phi nước đại:

 “Rồi nàng sẽ biết tay ta!”.

 Y Liê luôn cảnh giác:

 “Miệng nó như miệng rắn. Đôi mắt gian xảo ấy không lừa được ai đâu!”.

 Ông Kơdin phân vân: Không lẽ thằng Y Liê nói đúng? Hay nó chưa quên được chuyện cũ? Không lẽ nào thằng Juăn lại là con rắn độc? Cứ chờ xem.

Nhưng rồi không phải chờ lâu. Ba hôm sau,một toán giặc súng dài hùng hổ kéo vào vùng Lòng chảo. Tên chỉ huy hét một tràng dài, tên thông dịch nhanh nhảu:

 “Quan bảo rằng ở đây, ngay tại vùng Lòng chảo này, có một tên tội phạm nguy hiểm từng đi theo giặc N’Trang Gưh ở Nâm Nung chống lại nhà nước bảo hộ. Bây giờ, muốn sống thì hãy giao nộp ngay tên tội phạm cho quan, nếu không thung lũng sẽ bị san phẳng!”.

Ông Kơdin đĩnh đạc bước ra:

 “Các ông nhầm, ở đây không có ai tội phạm chống nhà nước cả!”. 

 Tên quan cười khẩy:

 “Thằng Juăn đã nói hết cho chúng tao biết rồi, bảo thằng Y Liê mau bước ra đây!”.

 Ông ama Liê bước lên, xé toang mảnh áo trước ngực:

 “Đây, kẻ thù của chúng mày đây, đừng tìm nữa, bắn đi!”.

 Tên quan tái mặt:

 “Không, con cọp già nó sẽ tự chết, tạo muốn tìm con cọp con dũng mãnh kia”.

 Rồi chúng toả đi các ngả lùng sục. Chúng bới tung kho lúa, bắn như vãi đạn vào các bụi cây. Y Liê đã nhanh chân lên núi. Chàng đứng trên cao nhìn xuống, mặt tím dại. Juăn ơi, tao biết cái bụng mày mà, con rắn độc, mày đã trả ơn vùng Lòng chảo như thế đấy. Sục sạo một hồi không thấy dấu vết, bọn giặc rút lui. Trước khi bỏ đi, chúng bắn chết hai con bò khiêng đi. Tên lính chạy sau cùng trút luôn cả băng đạn xuống sông Sêrêpốk. Dòng sông đục ngầu sủi bọt chảy băng băng ngược phía đại ngàn. 

Tối hôm ấy, cả buôn quây quần bên bếp lửa nhà Y Liê, già Kơdin sắp đặt mọi việc. “Chúng đã đến tận nhà để tìm người. Người già, người trẻ đều phải cẩn thận”. Y Liê thổi vào bếp than phù phù, tức tối:

 “Con đã nói nhưng có ai tin đâu. Cái mắt thằng Juăn không thể là mắt người tốt. Lần sau gặp nó, tôi sẽ giết chết”.

 H’Ly vẫn chưa thể tin nổi, một người hiền lành và nhút nhát như Juăn mà lại là đứa xấu bụng. Có lần hắn nói với nàng, tôi ở lại Chư Mang chỉ vì một người con gái, nàng đỏ mặt xấu hổ. Lại có lần, trên rẫy, hắn đã cầm lấy cổ tay nàng, khiến nàng lung túng. Lần gặp cuối cùng bên bờ sông, nó còn dám nói muốn lấy nàng làm vợ. Vậy mà đã có lúc nàng nghĩ xấu cho Y Liê. Bất giác, nàng nhìn về phía Y Liê, nàng muốn nói với Y Liê thật nhiều: “Chàng trai anh hùng của vùng Lòng chảo ơi, đừng giận em nhiều nữa nhé!”.

Những ngày cuối mùa khô. Vạt cỏ tranh khát nước héo rũ, vàng úa trên núi Chư Mang. Trong cái nắng vàng như mật ong đã nghe có vị hơi nước từ bên kia dãy Trường Sơn theo gió thổi về. Bắt đầu lác đác những cơn mưa. Giọt mưa đầu mùa bao giờ cũng quý. Những mảnh rẫy bazan sau một mùa nắng kéo dài đang trở mình dưới làn mưa ấm. Y Liê mong mưa từng ngày. Cái bẫy đá trên núi Chư Mang cũng đang chờ mưa đến. Hầu như ngày nào Y Liê cũng ghé qua xem xét. Chàng âm thầm sắp đặt, những thân cây to lần lượt bị cưa sẵn để dọn đường cho đá chạy. Chỉ cần mưa xuống nữa là mọi việc hoàn tất. Y Liê tính kỹ, bọn Pháp sẽ không có cớ gì để hoạnh hoẹ, càn quét.

Đó chỉ là một vụ lở núi do mưa to!

Yàng nước hình như cũng hiểu bụng Y Liê. Sau những trận mưa thưa thớt ban đầu là liên tiếp những ngày mưa to. Mưa càng ngày càng lớn. Nước sông Sêrêpốk mấp mé bờ đá. Con đường đất đỏ dẫn vào vùng Lòng chảo bùn nhão nhoét, ngập đến bắp chân. Y Liê căng mắt quan sát. Mấy ngày liền không thấy bóng dáng tên giặc nào ra khỏi đồn. Chúng mày sắp phải đền tội rồi đấy! Chàng đội mưa lên núi xem xét lại trận địa đá một lần nữa. Một trăm ba mươi tảng đá ngồn ngộn đang xếp thẳng hàng, im lặng tựa vào nhau chờ ngày lao xuống. Y Liê vuốt ve từng tảng đá, từng sợi mây, thủ thỉ: “Hãy lao xuống thật nhanh nhé, những người anh em núi Chư Mang, hãy trả thù cho người vùng Lòng chảo!”. Những tảng đá vẫn trầm tư, lặng lẽ đợi chờ. 

Vào một đêm giữa mùa mưa, chọn lúc mưa như hắt nước, Y Liê nhất loạt chặt đứt dây mây. Những tảng đá đen trũi lưỡng lự một lúc chừng như muốn chào tạm biệt Y Liê rồi thả mình lao nhanh xuống núi. Y Liê nín thở lắng nghe. Đoàn quân đá như một bầy voi chiến gầm rú xé cây lao đi. Tiếng cây cối ngã rạp mình răng rắc lẫn trong tiếng mưa. Núi Chư Mang đang chuyển mình vào trận đánh. Trong tiếng mưa réo và đá gầm, Y Liê nghe văng vẳng tiếng quân thù kếu thét khiếp đảm. Chàng như thấy rõ trước mắt mình đống hoang tàn đổ nát, những xác người bẹp dúm, chìm lút trong bùn đá.

Chàng ngửa mặt lên trời hét:

 “Các Yàng ơi, Y Lat ơi, tôi đã trả được mối thù cho vùng Lòng chảo rồi đấy!”.

Tiếng chàng lẫn vào những âm thanh ồn ào hỗn độn của núi rừng. Tiếng mưa như thác đổ bao trùm lên núi Chư Mang. Đâu đó trong làn mưa, những vệt chớp sáng loé lên soi rõ dòng Sêrêpốk đang gầm rú lao nhanh về bên kia thảo nguyên. Y Liê dò dẫm đến tận đồn giặc để tận mắt kiểm tra kết quả trận đánh. Chỗ đồn giặc đứng bây giờ chỉ còn là một đống đổ nát. Những tảng đá có mắt đã đi đúng đường! Những mảng ni lông rách nát, những chiếc mũ sắt bẹp gí, văng tận ngoài xa. Y Liê ngồi sau một bụi cây lắng tai nghe ngóng. Không còn một bóng người. chỉ nghe đâu đó tiếng rên rỉ mơ hồ chìm lẫn trong tiếng mưa rơi ngằn ngặt. Tất cả trở về yên lặng như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Y Liê bước qua từng hòn đá, lội trong đám bùn, dưới chân chàng là những đống nát nhũn. Chàng muốn tìm lấy một khẩu súng nhưng không sao tìm được. Tất cả đã nằm sâu dưới bùn.

Tin dữ đồn tiền tiêu ở vùng Lòng chảo núi Chư Mang bị đá vùi ba bốn ngày sau các đồn khác ở Buôn Đôn, Buôn Ma Thuột mới biết. Ngày thứ năm thì mới có một bọn kéo đến xem xét. Chúng lồng lộn chạy quanh đống đổ nát. Chúng nhìn lên núi Chư Mang, nói nhiều nhiều với nhau điều gì đấy rồi thi nhau vần đá moi đất tìm xác. Chúng hì hục tìm kiếm và chôn cất suốt ngày hôm đó. Chiều tối, chúng kéo vào buôn gí súng vào từng người lùa ra sân nhà dài tra hỏi:

 “Có phải dân làng chúng mày làm đá đổ đè chết các quan?”.

 Hỏi người già, người già lắc đầu. Hỏi thanh niên, thanh niên nói không biết. Chúng dùng báng súng đánh vào chân toé máu, bắt mọi người quỳ xuống. Già Kơdin hét lớn:

 “Chúng mày bắn, cứ bắn, giết, cứ giết. Chúng tao không biết quỳ. Chính Yàng núi đã trừng phạt chúng mày tội cướp của giết người đấy!”. 

Thằng lính mắt xanh lè dùng roi quất túi bụi. Mọi người cắn răng, quai hàm bạnh ra. Tra hỏi một hồi không có kết quả, bọn ác thú rút lui. Trước khi đi, chúng còn doạ:

 “Chúng tao sẽ trở lại, đừng dại dột mà chống quan Tây, nhớ lấy!”. 

 Không ai nói gì, những cặp mặt căm hờn nhìn theo. Trên núi Chư Mang, mây đã kéo về che kín ngọn, lại sắp có mưa. Y Liê nghĩ thầm, thế là chúng mày thua tao rồi! Già Kơdin ơi, già nói đúng lắm, Yàng núi phạt chúng mày đấy, tụi tao đâu có biết, ha ha … Chàng bật cười thành tràng dài, tiếng cười giòn tan ấm áp vang khắp thung lũng. Chàng vừa cười vừa chạy từ sau vạt rừng xuống cắt dây trói cho mọi người. Chàng ôm mọi người trong vòng tay của mình. H’Ly ngả vào vai chàng, khóc như trẻ con. Già Kơdin mắt vẫn còn đỏ hoe, vừa đưa tay lên dụi mắt liên hồi vừa quát lớn:

 “Này, bà con, bọn thú dữ đã cút hết, tại sao lại phải khóc, cười lên, phải cười thật to”.

 Y Liê tiếp lời:

 “Phải rồi, không khóc nữa, cười thôi, ha ha…”.

 Mọi người nhìn nhau, cười mà mắt vẫn còn ngấn nước. Tiếng cười chạy dọc bờ sông rồi vút cao lên theo cánh chim bay cao mãi. Bầy quạ đang kiếm ăn trên đống đất đá ngoài đồn giặc nghe động hoảng hốt bay tung lên vách núi. Y Liê ôm mãi H’Ly trong cánh tay vạm vỡ của mình, thì thầm:

 “Anh đã trả thù cho Y Lat, cho amí, cho buôn làng vùng Lòng chảo, em yêu không còn trách ta nữa chứ!”.

Mọi người đã về hết. Y Liê và H’Ly vẫn đứng giữa sân nhà dài với những lời yêu thương bất tận. Vào lúc hai người đang hạnh phúc nhất thì Yàng bất hạnh lại xuất hiện. Một tiếng súng vang lên từ sau bụi cây. Y Liê ôm ngực lảo đảo. Một dòng máu hồng chảy dài trên tấm ngực trần rắn chắc. Đôi mắt chàng trợn ngược, tìm kiếm kẻ bắn lén. Bóng chiều bảng lảng trùm lên vùng Lòng chảo. Những con chim đi ăn đêm bắt đầu kêu khắc khoải trên núi Chư Mang. Nghe tiếng kêu thất thanh của H’Ly, mọi cặp mắt đổ dồn quay lại. Nụ cười chưa kịp biến mất trên khoé miệng. Y Liê đã chết trong vòng tay của người con gái yêu thương. H’Ly hét lên:

 “Thằng Juăn, chính thằng Juăn đã…”.

Một tiếng nổ nữa vang lên, H’Ly gục xuống, tay vẫn không rời Y Liê. Những cặp mắt từ trong nhà đổ ra nháo nhác kiếm tìm, ai bắn? Ai đã bắn? Thằng Juăn đâu? Núi rừng im lặng. Bóng chiều ập xuống rất nhanh giữa vùng Lòng chảo. Một đôi chim T’lang bay vút lên trời mang linh hồn của người anh hùng và cô gái xinh đẹp vùng Lòng chảo lên gặp Yàng Diê để chuẩn bị cho một kiếp khác trong chuyến hành trình bất tận. Những người có mặt trong buổi chiều muộn hôm ấy, chỉ có già Kơdin kịp nhìn thấy đôi chim phí quấn lấy nhau trước khi mất hút sau những đám mây màu tím không biết từ đâu vừa cuồn cuộn kéo về trên núi Chư Mang.

 Lần đầu tiên, già Kơdin khóc:

 “Vậy là họ đã đi rồi! Họ rủ nhau đi hết rồi, Yàng ơi…”.

Hồn Y Liê, hồn H’Ly biến thành giọt sương đậu trên cành cây trước ô cửa nhà dài chờ đến lượt đi đầu thai kiếp khác. Giọt sương ấy nằm trên lá, xung quanh là vô vàn những giọt sương khác đang chờ đợi. Chúng thầm thì với nhau về những chuyện trong quá khứ, cả về những điều chưa biết ở ngày mai. Ai may mắn được đầu thai về đúng buôn làng cũ. Ai xui xẻo phải đi xa chín đồi mười suối. Ai bị trừng phạt làm trâu ngựa hay những vật vô tri… 

Y Liê chờ mãi, mùa mưa đi qua rồi mùa nắng tới. Yàng Aê Diê nói:

 “Không vội được con ơi, phải chờ xem đã, nếu vội, con sẽ lạc sang kiếp khác đấy, kiếp khỉ chẳng hạn”.

 Y Liê nghe nói thế liền đồng ý ngay:

 “Khỉ cũng được, Yàng hãy cho con trở về sống bên núi Chư Mang, khỉ hay người cũng thế cả”.

 Chàng sợ chần chừ mãi đến lúc giọt sương số mệnh sẽ cạn khô, thành tro bụi, lúc đó thì mãi mãi chỉ còn là những vệt lân tinh lang thang trên thảo nguyên hoang vắng. Yàng Aê Diê cười rộng lượng:

 “Ừ, làm khỉ cũng vui, hà hà, vui mà…”.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.