Bỏ rơi và cứu rỗi, nghệ thuật và chính trị | Nguyễn Hoàng Văn

Sydney Opera House, Australia. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Sydney, Australia, April 28, 2025

Vẫn tha thiết với cuộc sống nhưng làm sao mà một người có thể tự bắn vào mình và, thậm chí, còn xem đó là cách để níu kéo cuộc sống?

Nhưng đó là “câu chuyện thật” về Vincen Van Gogh mà Giáo sư Jean-Pierre Isbouts – một nhà sử học, đạo diễn kiêm nhà sản xuất phim thuộc Fielding Graduate University ở California – trình bày trong Van Gogh: The Real Story. [1] Theo Isbouts thì hành động bạo liệt của Van Gogh – bậc thiên tài bị trầm cảm nặng với chứng “rối loạn lưỡng cực” (bipolar disorder) – đã diễn ra khi bị hụt hẫng thêm với cảm giác bị bỏ rơi.

Isbouts nói đến tâm trạng bơ vơ của Van Gogh khi Paul Gaugin rời bỏ mình giữa thế giới văn minh đã chán ngấy này để đến Tahiti tìm kiếm một không gian văn hóa nguyên sơ, một mình. Isbouts nói đến sự hụt hẫng của Van Gogh khi hay tin người em trai thân yêu Theodorus (Theo) Van Gogh – không chỉ là người nuôi sống mà hầu như là người duy nhất ngưỡng mộ tài năng của mình – gặp khó với công việc ở Paris và, có lẽ, sẽ phải đưa vợ con về Hà Lan. Isbouts lưu ý rằng, nếu muốn tự kết liễu mình, sao Van Gogh không bắn vào đầu hay ngực mà chỉ nhắm vào bụng? Và Isbouts cho rằng người bị bipolar disorder có xu hướng tự đả thương mình như là cách để gây chú ý và, ở đây, bậc thiên tài đang cảm thấy bị bỏ rơi của chúng ta cũng vậy. Không có ý định tự sát nên, sáu tiếng đồng hồ kể từ lúc tiếng súng vang lên, Van Gogh vẫn có thể lê bước về quán trọ và, mãi hai ngày sau, mới trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của Theo. [2]

Chúng ta cũng phần nào nhận ra điều đó qua chính “tự sự’ của Van Gogh, trong tác phẩm. Với nguồn năng lượng cuồn cuộn qua cách dùng màu có khi rất dữ dội, với những cảm xúc qua các diễn đạt sâu thẵm, tác phẩm của Van Gogh vẫn luôn mang lại cho chúng ta cảm giác yên bình và tĩnh lặng của thế giới này và, hơn thế nữa, của cả một vũ trụ. Từ “The Bedroom in Arles” đến “Wheatfield with Cypress Trees”, “Café Terrace at Night” hay “Olive Grove” v.v. và cả một “The Starry Night” với bầu trời sao cuộn sóng, tất cả đều mang lại cảm giác ấy. Đây là gì nếu không phải là hành trình tự cứu rỗi của một khát vọng sống đang vùng vẫy trong hố thẵm tuyệt vọng?

Đau đớn vì thất bại, lạc lõng vì mất phương hướng, vì bị bỏ rơi thì người nghệ sĩ chỉ có thể cứu rỗi lấy mình bằng chính nghệ thuật của mình. Nói theo Jiddu Krishnamurti thì cảm giác bị bỏ rơi đã chắp cánh cho cội nguồn sáng tạo khi người nghệ sĩ không còn cảm thấy bị bó buộc bởi cái gì, không phải lo sợ về sự hiện hữu của mình, không phải lo toan phải đạt đến cái gì đó. [3] Họ tìm tòi hay xây dựng các mối quan hệ, bằng nghệ thuật. Họ khám phá đến mức tận cùng của niềm đau, những ý nghĩa sâu thẵm và tinh tế nhất của kiếp nhân sinh, cũng bằng nghệ thuật. Và họ để lại những tác phẩm bất hủ. Từ Van Gogh đến Edvard Munch, Pablo Picasso và bao nhiêu thiên tài khác, của hội họa, của văn chương, và của âm nhạc như Wolfgang Amadeus Mozart, như Ludwig van Beethoven v.v. chúng ta đều ghi nhận những câu chuyên tương tự. Những thiên tài với những dấu hiệu của bipolar disorder ở những mức độ khác nhau, vật vã với cảm giác bị bỏ rơi nhưng hừng hực một sức sáng tạo phi thường như là hành trình cứu rỗi cho mình.

Nếu đó là những cá nhân thì, trong tầm mức cộng đồng, con đường “cứu rỗi” ấy có thể chữa lành cho thế giới đang quằn quại với sự chia rẽ, khiến sự dị biệt có thể xóa nhòa và con người có xích lại và hòa hợp với nhau như là một global village, một cái “làng toàn cầu”. Có thể nhận ra điều này từ mười lăm năm trước, giữa lúc đất nước chúng ta đang rộn ràng với “Đại lễ ngàn năm” và tang tóc với một trận lụt thì, hầu như cả thế giới, lại chăm chú vào cuộc “đại giải cứu” ở một hầm mỏ ở Chile, sự “trùng khớp” mà tôi từng nhắc đến trong cuộc phỏng vấn trên trang talawas:

[…] Trận lụt nói trên xảy ra trong thời gian tổ chức “Đại lễ Ngàn Năm Thăng Long”, kỷ niệm sự kiện vua Lý Thái Tổ dời kinh từ vùng núi Hoa Lư chật hẹp ra Thăng Long của đồng bằng rộng lớn. Thăng Long nằm sát sông Hồng và hàng năm phải oằn mình ra đối phó với lũ lụt và khi dời đô như thế thì vua Lý Thái Tổ đã thách thức lại thiên nhiên để từ đó mở ra “ngàn năm văn hiến”.

Trong trận lụt vừa qua qua báo chí đã nói nhiều đến trường hợp hy sinh của cô giáo Trần Thị Hoa, giáo viên Trường mầm non Hương Thủy (Hương Khê, Hà Tỉnh). Anh Lê Trọng Thống đã kể với các phóng viên câu chuyện của cô Hoa (Dân Trí 7/10/2010): “7h sáng ngày 3/10, khi biết nước lũ dâng cao, trường Mần non Hương Thuỷ sắp bị ngập trong lũ, cô Hoa đã nhờ tôi và chồng là anh Trung ra để cứu trường. Ra đến đường sắt thấy nước lũ quá cao, tôi và anh Trung bảo cô Hoa đưa chìa khoá phòng đây để bọn anh ra cứu trường còn em về lo dọn dẹp nhà cửa mà chạy lũ. Cô Hoa không chịu cứ một hai để em đi cùng các anh chứ việc nhà để sau giờ lo việc tập thể đã. Trường có hai người giữ chìa khóa tầng một, em cầm một cái còn cô kia thì ở xa không thể đến được, trường lại sắp ngập, nên đây là trách nhiệm của em. Em phải ra dọn trường đưa toàn bộ sách vở, dụng cụ học tập lên tầng hai chứ giao cho các anh em không yên tâm chút nào.[…] Vừa vượt qua được chỗ sâu nhất sắp lên phía bờ bên kia thì bất ngờ nước lũ đổ về quá mạnh cuốn trôi cả ba người. Tôi tìm cách vẫy vùng bám vào bụi cây rồi gắng sức bơi lên bờ. Sau khi quan sát thấy anh Trung đang hấp hối cố bơi vào bờ tôi đã lao ra cứu. Còn cô Hoa mất tăm mất tích. Anh Trung gào thét định lao ra tìm vợ nhưng tôi đã ngăn cản lại. Nếu giờ anh ra đó sẽ chết, biết tìm vợ đâu giữa biển nước thế này, hai người phải có một người sống để nuôi con”.

Theo tôi thì không có thí dụ sống nào hay và đúng với ý nghĩa của “đại lễ” hơn thế. Cô giáo đã thách thức lại sự cuồng nộ của thiên nhiên để cứu trường, để bảo toàn việc học hành của các em. Đây chính là hành động mang ý nghĩa “mở mang văn hiến” và trong một “đại lễ” như thế thì một nhà lãnh đạo sáng suốt, có tầm nhìn sẽ lập tức sử dụng tấm gương cô giáo Trần Thị Hoa để gây sinh khí, để tạo một niềm “cảm hứng” cho đất nước.

Tôi nghĩ đến những hình ảnh chiếu trên truyền hình ngày 14/10/2010 khi ông Luis Alberto Urzua, trưởng kíp của 33 thợ mỏ, được cứu lên mặt đất. Lúc đó Tổng thống Chile Sebastian Pinera bước đến bắt tay chào đón trong tiếng nhạc của bản quốc ca Chile, nói: “You are not the same, and the country is not the same after this. You were an inspiration. Go hug your wife and your daughter.” (Anh sẽ không còn là anh của trước đây nữa và đất nước của chúng ta không còn là Chile trước đây nữa. Chính anh là nguồn cảm hứng. Hãy tới ôm vợ và cháu gái đi anh).

Ông Urzua, trong vai trò trưởng kíp thợ, đã ở lại đến giây phút cuối cùng, chờ khi toàn bộ công nhân của mình được đưa lên mặt đất an toàn. Và ông Pinera, trong vai trò người đứng đầu đất nước, đã ở lại cho đến giây phút cuối khi người thợ cuối cùng được đưa lên mặt đất an toàn. Không chỉ là người thợ trưởng kíp mà tự thân hành động của Tổng thống Pinera cũng là một niềm “cảm hứng”.

So sánh với ông Chủ tịch của Việt Nam chúng ta thấy gì? Ông Chủ tịch không có lời nào về các nạn nhân của trận lụt. Ông không đá động gì đến sự hy sinh đầy ý nghĩa của cô giáo, cho dù trong các ngày 6, 7 và 8 báo chí liên tiếp đưa tin về cô, diễn tả đám tang thương tâm của cô. Tại lễ bế mạc đại lễ ông ta chỉ máy móc đọc bài diễn văn soạn sẵn nhưng cũng lập cập, cà lăm. “Lý Thái Tổ” là cái tên lẽ ra học trò tiểu học phải thuộc làu nhưng ông cũng lập bập “Lấy… Lý Thái Tổ”. [4]

Trong tai nạn ở Chile, ba mươi ba thợ mỏ đã bị mắc kẹt ở độ sâu gần 700 mét khi mỏ vàng San Jose sập đổ vào ngày 5/8/2010, 69 ngày sau mới được giải cứu với sự trợ giúp của nhiều quốc gia, đặc biệt là NASA, Cơ quan không gian của Mỹ. Hàng trăm triệu người trên khắp thế giới đã hồi hộp theo dõi sát sao từng diễn biến của cuộc giải cứu trong hai ngày cuối cùng, từ những hình ảnh phát trực tiếp trên Internet, các bản tin trực tiếp trên các đài truyền hình lớn. Tại thủ đô Washington ở Mỹ, một đám đông đã hô vang “Chi! Chi! Chi! Le! Le! Le!” mỗi khi màn hình lớn giữa quảng trường thủ đô cập nhật hình ảnh một người thợ được đưa lên mặt đất. Ông Connie Preti, một người Mỹ sống tại New York, đã nhận xét trên Twitter:

“Cách đây 41 năm người ta đã hồi hộp theo dõi bước chân con người trên mặt trăng. Giờ đây thế giới hồi hộp theo dõi người ta đi lên từ lòng đất. Hai sự kiện đều gây ấn tượng sâu sắc như nhau”. [5]

Trái với lệ thường khi tin xấu mới thu hút đám đông như là tin nóng, đây lại là sự thống trị của “tin lành”. Mà đó không chỉ là duy nhất. Trước đó là vụ giải cứu ở mỏ vàng Beconsfield của Úc vào tháng Năm năm 2006. Sau đó là vụ giải cứu đội bóng thiếu niên Lợn Lòi ở Thái Lan vào tháng Sáu năm 2018. Tất cả đều cho thấy rằng nỗ lực “không bỏ rơi đồng loại” đã là mẫu số chung để kết nối con người lại với nhau bất kể màu da, bất kể tín ngưỡng và, do đó, một cách không chính thức, đã khiến thế giới này trở thành một “làng toàn cầu”, suốt mấy tuần lễ.

Sau thời sự nóng sốt thì đến điện ảnh mang tính hậu nghiệm. Những câu chuyện như thế đều được kỹ nghệ này khai thác như “33” của điện ảnh Tây Ban Nha trong đó, một trong những tài tử chính, lại là Antonio Banderas, một khuôn mặt gạo cội của Hollywood. Mà, thượng vàng hạ cám, “bản hùng ca giải cứu” này lại là đề tài bất tận của Hollywood trong đó, nổi lên như một trong những tác phẩm điện ảnh vĩ đại nhất là Saving Private Ryan (1998), của đạo diễn Steven Spielberg và nhà biên kịch Robert Rodat.

Câu chuyện bắt đầu từ một ý tưởng rất … người rồi tiếp diễn với những cảnh tượng bạo liệt của Đệ nhị thế chiến, giữa tình thế nóng bỏng và cấp bách nhất của chiến trường. Nó bắt đầu khi những nhà lãnh đạo cao nhất của bộ máy quân sự Mỹ quyết tâm rằng, bằng mọi giá, phải “cứu” cho bằng người mẹ đã mất ba người con trai trên chiến trường, và, do đó, phải cứu cho bằng được người con trai thứ tư vừa được ghi nhận là mất tích. Họ không nỡ lòng khoanh tay mặc cho bà mẹ này mất thêm đứa con thứ tư thế nhưng, người con này — binh nhất James Francis Ryan của Sư đoàn Dù 101 – khi được tìm thấy giữa trận địa, lại không đành lòng bỏ rơi đồng đội ở trận địa mà theo toán giải cứu rút về nơi an toàn.

Đạt đến tầm vóc sử thi và thành công về thương mại, phim đạt rất nhiều giải thưởng điện ảnh uy tín, từ Golden Globe đến Oscar, BAFTA , Saturn v.v. Được giới quân nhân ca ngợi là chân thực trong cách tái hiện chiến tranh, được giới phê bình tán thưởng về nghệ thuật, mười sáu năm khi ra mắt, phim được Viện lưu trữ điện ảnh quốc gia và Thư viện Quốc hội chọn vào danh mục tác phẩm phải giữ gìn cho thế hệ mai sau vì những ý nghĩa “văn hóa, lịch sử và mỹ học”.

Cũng là một thứ “hùng ca giải cứu” thì Rambo không được như thế. Hình thành từ mặc cảm thua trận và sự nung nấu của ý chí trả thù trong ý nghĩa “ái quốc” kiểu dân túy, Rambo bị xem như là một thứ “orgy of violence”, một bữa tiệc buông thả của bạo lực khi người lính biệt kích vạm vỡ tung hoành trong đất thù giải cứu đồng đội. Rambo, theo giới phê bình, là sự kết hợp khập khiễng giữa bạo lực tột cùng và sự hời hợt của nhân vật chính. Cái tên Rambo, thậm chí, còn được ví von với dụng ý xấu, như năm 2006, ông Kevin Rudd – trong vai trò Phát ngôn viên ngoại giao của đảng đối lập và sau trở thành Thủ tướng Úc – đã gọi nguyên Thủ tướng John Howard là “một thứ Rambo chính trị” (political Rambo). Và đâu hai năm sau đó, nhân cuộc phiêu lưu thứ tư tại Miến Điện, Rambo còn bị một nhà phê bình ví von như là một thứ “violence / murder porn” bởi, tương tự việc khêu gợi bản năng sinh lý của những sản phẩm khiêu dâm thì Rambo, bên cạnh chủ nghĩa ái quốc kiểu dân túy, lại “khêu gợi” khán giả bằng bạo lực, bản năng nguyên thủy của con người như một thứ động vật săn mồi. [6]

Nhưng nói đến điều này là bước sang khía cạnh chính trị nên càng phải chú ý đến phản ứng cộng đồng, như một khối duy nhất. Một cá nhân đơn độc chỉ biết có nghệ thuật như Van Gogh mà khi cảm thấy bị bỏ rơi có thể bộc phát với một hành vi bạo liệt như thế thì, trong tâm thức tương tự, một cộng đồng sẽ phản ứng như thế nào?

Câu trả lời cũng chẳng có gì khó bởi vì đó chính là… lịch sử. Những cuộc cách mạng rực rỡ như những kiệt tác chính trị bất hủ. Những chiêu bài cách mạng và những xáo trộn thời cuộc với sự thay ngôi cho cán cân bất công, đen tối, đẫm máu, như một thảm họa nhân sinh dài dài. Những cuộc nổi loạn mang màu sắc vô chính phủ, những đám đông ô hợp, những thành phần đá cá lăn dưa chầu chực cơ hội trộm cướp, hôi của. Những cuộc biểu tình ôn hòa nhưng cương quyết. Những cuộc chuyển giao chính quyền êm thắm dân chủ hay đầy xáo trộn, đầy máu, của những nền dân chủ tập sự. Vấn đề là trình độ, là nhận thức của cộng đồng, của nhà cải cách. Vấn đề còn là mức độ láu cá và trâng tráo của giới đầu cơ chính trị, chăm chăm khai thác mặc cảm bị bỏ rơi của cộng đồng. Cũng giống như là xuất phát điểm của Saving Private Ryan hay Rambo, hai phim ở hai tầng bậc rất khác nhau, là sự cứu rỗi rất người hay chỉ là ý đồ phục hận, trả thủ như là bản năng nguyên thủy của loài thú săn mồi.

Và đó chính là những gì đang diễn ra trên quê hương của Ryan và Rambo khi những công dân “bị bỏ rơi” vùng lên theo hiệu triệu của nhà đầu cơ xây dựng sự nghiệp chính trị bằng sự chia rẽ và hận thù. Bị bỏ rơi vì chính sách di dân, đa văn hóa hay toàn cầu hóa. Bị bỏ rơi bởi những chính sách nhắm đến việc “cứu rỗi” môi trường. Và khi hung hăng tấn công vào Quốc hội Mỹ, họ đã hành động có khác nào loài thú săn mồi? Nước Mỹ đang chia rẽ một cách sâu sắc, mà nếu diễn tả “Cộng đồng Mỹ” như một khối duy nhất thì, phải chăng, suốt một thập niên qua, cộng đồng này đã bộc lộ những triệu chứng bipolar disorder?

Cả chúng ta, như một “Cộng đồng Việt”, trong chừng đó thời gian, cũng theo chân nhà đầu cơ chính trị Mỹ mà thể hiện dấu hiệu rối loạn này? Nhưng nếu người Mỹ bị cảm thấy bị bỏ rơi vì đường lối của những chính phủ mà họ cho là thiên tả thì chúng ta, như một nước nhỏ, lại cảm thấy bị bỏ rơi trước sự đe dọa của nước lớn Trung Quốc. Nước lớn này chiếm đoạt lãnh thổ của chúng ta, đất, biển, và cả bản đồ. Trên mặt biển, nó ức hiếp và cướp bóc chúng ta, như quân cướp biển. Trên đất, nó lường gạt và chèn ép chúng ta, như bọn gian thương. Nhưng ngoài mấy khẩu hiệu sáo mòn, ngoài một câu phản đối máy móc như một cái băng ghi âm nhạt phèo, mở đi mở lại, hầu như chẳng có ai bảo vệ chúng ta. Tuyệt vọng, rất đông trong chúng ta lại phung phí niềm tin vào nhà chính trị dân túy mà, thực chất, cũng chỉ là một nhà thực dân, hăm hè nhìn lãnh thổ nước khác như là loài thú săn mồi, và ra mặt bảo vệ quyền xâm lược của một nước lớn với một nước nhỏ, cũng là nạn nhân tương tự chúng ta. [7]

Đó, sự phung phí niềm tin vào chủ nghĩa dân túy, là cội nguồn sâu xa của những tai họa lịch sử. Chúng ta có liên tiếp phung phí niềm tin như thế thì hôm nay mới có một đất nước như thế này. Việc cứu rỗi, do đó, phải là nhận diện những trò dân túy, cái trò khêu gợi tình cảm ái quốc bình dân bằng cách khai thác sự chia rẽ, sự thù hận cộng với sự ve vuốt bằng sự phô trương bên ngoài và những lợi ích trước mắt, hoàn toàn kém bền vững.

Ở trên, tôi đã nhắc đến “Đại lễ ngàn năm” và, hiện tại, đất nước đang rầm rộ với “Đại lễ 50 năm”, thứ “lễ” mà càng rầm rộ bao nhiêu, càng khơi sâu cách biết bấy nhiêu, càng làm mục tiêu cứu rỗi như là sự hòa giải trở nên xa vời bấy nhiêu mà, trước mắt, đã “nhãn tiền” với tổn thất ngoại giao và, thậm chí, cả tổn thất về lãnh thổ. [8]

Trong hố sâu cách biệt đó có cả những tranh cãi ầm ĩ quanh Địa Đạo và, chợt, tôi nghiệm ra với hiểu biết hạn chế của mình, dường mảng chiến tranh của Điện ảnh Việt Nam chẳng có chỗ đứng nào cho đề tài cứu rỗi. Các nhà làm phim chiến tranh của chúng ta hình như chẳng hề chú ý gì đến người bị bỏ lại phía sau, giữa chiến trường, cũng chẳng chú ý đến người thất trận như ở Hoàng Sa, ở Gạc Ma. Họ chỉ chăm chăm với cảnh “câm gươm, ôm súng, xông tới…” mà, mới nhất với Địa đạo, là chui xuống rồi xông lên, từ lòng đất… [9]

Đã nửa thế kỷ rồi mà vẫn thế, xem ra con đường cứu rỗi hay chữa lành vẫn còn xa xôi, trắc trở…

Tham khảo:

  1. Có thể xem documentary này tại:

https://www.sbs.com.au/ondemand/tv-series/van-gogh-the-real-story

  1. Một số tài liệu cho rằng thời gian này kéo dài suốt 11 tiếng đồng hồ: tiếng súng phát ra lúc 10 giờ trưa và đến 9 giờ tối mới lê bước về đến khách sạn. Cũng có giả thuyết cho rằng Van Gogh bị giết, thí dụ: “Van Gogh did not kill himself, authors claim”

https://www.bbc.com/news/entertainment-arts-15328583BBC 3.“You can be creative only when there is abandonment-which means, really, there is no sense of compulsion, no fear of not being, of not gaining, of not arriving.”

  1. https://www.talawas.org/26492/
  1. “I mentioned on Twitter how 41 years ago the world watched men walk on the moon,” said Connie Preti of New York. “Today we are seeing men come out from the earth. It’s equally striking.”

https://edition.cnn.com/2015/10/12/world/everyone-out-of-the-mine-in-chile/index.html

  1. Internet không còn lưu giữ những thông tin này, tôi ghi lại theo trí nhớ.
  2. https://www.independent.co.uk/news/world/europe/trump-ukraine-peace-deal-crimea-putin-zelensky-b2738474.html
  3. https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cvgn3n0pyxeo

https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c4g284dge72o

  1. https://tuoitre.vn/tranh-cai-khi-xem-dia-dao-canh-nong-co-can-thiet-ai-cuong-hiep-ut-kho-hai-thung-gian-the-2025041412122617.htm

https://vietbao.com/a242891/su-that-ve-dia-dao-cu-chi

https://www.vietnamplus.vn/dao-dien-bui-thac-chuyen-cau-chuyen-trong-dia-dao-khien-toi-phat-dien-post1025244.vnp


Nguyễn Hoàng Văn, born in 1965, Vietnam. The writer, journalist and essayist currently resides in Western Sydney, Australia.

“Bệnh chứng MAGA”, từ góc nhìn Đông y | Nguyễn Hoàng Văn

Sydney Opera House. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Sydney, Australia February 26, 2025

Để tìm lối ra cho cái tình thế tuyệt vọng này, khi cơn say của lực lượng MAGA vẫn lờ lững nối dài, chúng ta cần quay sang Đông y, từ y lý kinh điển đến những giai thoại, những hư cấu trong tiểu thuyết chương hồi.

Nên làm như thế bởi Tây y, dẫu đã có bảy năm với The Dangerous Case of Donald Trump: 27 Psychiatrists and Mental Health Experts Assess a President, mà vẫn thất bại, để y hồi sinh với quyền lực còn dữ dội hơn. [1] Nên làm như thế bởi, không thành công thì cũng được… thảnh thơi. Có làm như thế thì mới có cơ may thư giãn đôi chút giữa cái thời mà, hễ bật ti vi lên là lại bực bội tắt ngay để khỏi chửi thề trước mặt con cái, để khỏi phẫn nộ hay buồn nôn khi chứng kiến sức phá hoại của y. Y tung ra một “chiến lược” là kẻ thù của nền dân chủ xoa tay cười thầm. Y đi một nước cờ chính trị là thế giới tự do lún vào một vị thế chông chênh hơn, nguy hiểm. Và mỗi lần y mở mồm dạy khôn hay vạch lối, là mỗi lần trí tuệ loài người bị sỉ nhục.

Nếu sự hồi sinh của y thuộc về độ ăn khách của chủ nghĩa dân túy thì điểm mấu chốt nằm ở chữ “túy” và, do đó, tôi lại nghĩ ngay đến một bài thuốc của Hải Thượng Lãn Ông. Nhưng để sáng tỏ vấn đề thì tôi phải nhắc lại một câu chuyện cũ vào cuối năm 2016, khi về thăm quê, giữa lúc hầu như cả nước xôn xao vì y. Một người quen ở Đà Nẵng, vừa chào hỏi xong, đã dí tôi vào dòng thời sự: “Nghe nói chủ nghĩa dân túy xuất phát ở nước Nga phải không chú?”.

Thì không chỉ tại Nga mà cả tại Mỹ vào cuối thế kỷ 19 và, đến nửa đầu thế kỷ 20, loan ra khắp nơi, như dịch, mà, trong đó, “thành công” nhất là ở Đức vào năm 1933 với tên đại đồ tể Adolf Hitler. Giải thích qua loa, tôi còn nói thêm: Hà tất phải nói chuyện xa xôi, bác nhìn lại Đà Nẵng của mình mấy năm trước thôi, trào Nguyễn Bá Thanh, đó cũng là chính trị dân túy. Y bán đất cho nước ngoài, bán cả những vị trí chiến lược cho Trung Quốc. Y xây dựng những công trình sướng mắt nhưng khiêm tốn trong ý nghĩa phát triển kinh tế. Y trích tiền lẻ lì xì dân nghèo, thưởng lớn cho học sinh giỏi. Y nhắm những chỗ dân “ngứa” mà “gãi”, thật mạnh, chữi như tát nước vào mặt những giám đốc các sở ngành làm dân chán nhất, giận nhất. Y không tạo nên một nền tảng phát triển bền vững mà chỉ làm xiếc với sự hào nhoáng bên ngoài bằng tiền bán chác tài nguyên trong khi đẩy đất nước vào vị thế nguy hiểm hơn về mặt an ninh. Nhưng y biết làm người bình dân của thành phố sướng cái con mắt, đã cái lỗ tai, và nở cái lá gan. Và họ “say” y như say rượu,

Đó chính là thứ chính trị mà Tây phương gọi là “populism” — “chủ nghĩa bình dân” — mà chúng ta nhại theo Tàu là “chủ nghĩa dân túy” (民醉主义). “Túy” (醉) có nghĩa là say với những “biến tấu” mà Đào Duy Anh đã liệt kê trong Hán Việt Từ Điển như “túy cuồng”, là “say rượu đến phát cuồng”; “túy hương” là “cảnh giới trong khi say rượu”’; “túy khách” là “người hay uống rượu” v.v. Và đám MAGA quân hăng máu kia, trông có khác nào những “túy khách” say cuồng trong cái “túy hương” về một nước Mỹ “vĩ đại” mà y vẽ vời?

Nhưng đó cũng là điều mà nhà thơ Trần Vàng Sao, trong “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình”, thổ lộ:

nói thật lúc này tôi muốn được say rượu

họa may thấy một đồng thành ba bốn đồng

Thường, người ta say là để thoát ly khỏi cái thực tế mình ngán tới tận cổ. Nhưng càng lún sâu vào cái “túy hương” đó thì càng nghiện, càng khó dứt ra mà, theo Hải Thượng Lãn Ông, chỉ có thể thực hiện bằng cách làm cho sợ cả cái sự say. Thích thì cứ cho say nhưng phải say sao cho tởn tới già, phải biến cái cơn phê “một đồng thành ba bốn đồng” thành cơn ác mộng. Mà muốn có một trận say ác liệt như thế thì phải có một thứ rượu thật ác ôn và, do đó, phải có một thứ men cực kỳ ác nghiệt. Nghe thì máu me nhưng, thực ra, lại rất đơn giản, chỉ có điều là hơi tởm: trộn vào đó mớ… phân heo nái già. [2]

Bây giờ thì thứ “túy hương” mang tên Make American Great Again bắt đầu váng vất mùi… nái già. Xưa, họ say là để thấy “một đồng thành ba bốn đồng” nhưng “túy hương” này chỉ trở thành hiện thực với giới tinh hoa với chính sách giảm thuế. Còn họ, bình dân hay trung lưu, bất quá chỉ là con tốt đen bị phỉnh phờ và trước mắt là một hiện thực phũ phàng với một tương lai đói rách hơn, bệnh tật và dốt nát hơn khi các chương trình xã hội, y tế và giáo dục bị cắt giảm không thương tiếc để bù vào tiền giảm thuế cho giới siêu giàu. “Ba bốn đồng” trong mơ, rồi ra, sẽ chỉ trơ lại có mấy mươi xu, thậm chí chỉ vài xu hay không còn, mất sạch!

Còn hắn? Để chẩn bệnh thì yếu tố đầu tiên mà những thầy thuốc Đông y chú ý phải là “bì mao”, như Nội kinh, bộ sách kinh điển của họ, đã nhấn mạnh:

“Thiện trị giả, trị bì mao, kỳ thứ trị cơ phu, kỳ thứ trị cân mạch, kỳ thứ trị lục phủ, kỳ thứ trị ngũ tạng.”

Nghĩa là thầy thuốc giỏi chữa trị khi bệnh mới thấm vào da lông. Thứ hạng kém hơn thì đợi khi bệnh thấm vào cơ bắp, lục phủ, ngũ tạng. Như thế thì, nến chẩn bệnh cho hắn, cái mà giới thầy thuốc Đông y phải chú ý đầu tiên là “bì mao”, tức cái chòm lông vàng trên chỏm da đầu.

Tôi phải nói ngay rằng việc mang ngoại hình người khác ra diễu là điều tuyệt đối không nên nhưng đây là… y lý. Vả lại, Đi với ma mặc áo giấy, với kẻ chuyên xỉa xói sự bất hạnh hay tàn tật của người khác như y, sao chúng ta không có quyền áp dụng nguyên lý của cả Đông y lẫn Tây y là “dĩ độc trị độc”? Mặt khác, nếu Vũ Trọng Phụng từng tạo nên một nhân vật bất tử là “Xuân tóc đỏ” thì, ở đây, chúng ta cũng có thể bàn về một kẻ mà cả ngàn năm sau người Mỹ còn phải nhắc tên như một bài học không thể lập lại nên, do đó, việc lan man về một “Xuân tóc vàng” cũng chẳng có gì là quá lời.

Mà về cái mái tóc mong manh mày vàng này thì y, như đã tự thú, mỗi ngày phải mất hơn một tiếng đồng hồ để… bảo trì. Xịt keo chải tới. Lại xịt keo, chải lui. Xịt chải và chải xịt bao bận như thế và, mỗi ngày, y đều đặn “hành lễ” với mái tóc như một nghi thức tôn giáo thiêng liêng. [3] Có quý cái “cấu trúc tóc” mong manh trên đầu như vậy nên, khi cần, y có thể viện dẫn từ ông trời đến chính quyền Mỹ và, thậm chí sự yếu kém của công nghiệp Mỹ mà biện bác.

Như năm 2018, trong chuyến khi công du nước Pháp khi y, vào phút cuối, đột ngột hủy bỏ chương trình tưởng niệm tử sĩ Mỹ tại nghĩa trang Aisne-Marne American Cemetery ở ngay sát Paris viện lý trời mưa, trực thăng không bay được mà Mật Vụ không lái xe được. Nhưng, như báo chí Mỹ đã phanh phui, đó chỉ là trận mưa phùn rất nhỏ, trực thăng hay xe đều dư sức hoạt động, chỉ là mái tóc mong manh của y không đủ sức chịu đựng, có thể bẹp dúm dưới những hạt mưa bụi rây rây. [4] Xem ra, việc tri ân những người con của nước Mỹ bỏ mình trong Đệ nhất thế chiến không thể sánh với “độ phồng” của mái tóc mà y tốn bao nhiêu công sức để bảo trì.

Như thế, American First, cái khẩu hiệu y hằng kêu gào đã bị đẩy lùi, nhường bước cho My Hair First và sự thể, dưới cái nhìn Đông y, không chỉ là “bì mao” mà là một thứ tâm bệnh, đã ăn sâu vào tâm não.

Tôi nhớ lại một “khám phá khoa học” trên Nhân dân nhật báo của Trung Quốc ngày 27/6/2001, theo đó thì 5000 năm trước, người Trung Quốc đã biết giải phẫu não, “thành công tốt đẹp”. Tin cho hay đó là kết quả nghiên cứu từ hộp sọ thuộc di chỉ của văn hóa Đại Vấn Khẩu (Dawenkou), phát hiện tại Sơn Đông (Shangdong) vào năm 1995. Trên đỉnh sọ, ở phía sau, bên phải, có một cái lỗ rộng với một vòng cung hoàn hảo mà kết quả phân tích cho thấy có những vết xước do dao bén tạo thành nên, đây, có thể hiểu, là một cuộc giải phẫu não. [5]

Báo đảng nói thì chỉ có ngu dân tin và đây, phải chăng, là một tin “điển hình” giữa cái thời đề cao văn minh Trung Hoa nhằm thổi bùng tinh thần Đại Hán? Nó, phải chăng, cũng giống như những khám phái “khảo cổ học” thực hiện ở Hoàng Sa hay vài hải đảo Trường Sa đã cướp của Việt Nam nhắm chứng tỏ “chủ quyền lịch sử”? Tuy nhiên chúng ta đang bàn chuyện khác và, ở đây, tin trên lại làm thiên hạ, cả báo chí Anh ngữ, bàn tán về cuộc giải phẫu pha trộn thực hư của Hoa Đà (Hua Tuo) với Tào Tháo (Cao Cao).

Đọc Tam Quốc Chí của La Quán Trung ai cũng biết chuyện này nhưng đây là tiểu thuyết lịch sử chứ không phải lịch sử. Lịch sử ghi nhận Tào Tháo là một nhân vật thao lược, kinh bang tế thế và, cũng như bất cứ ai khác, ông ta cũng có những cái xấu xa của mình nhưng không đến độ quá xấu dưới ngòi bút của họ La, kẻ luôn tô hồng Lưu Bị. Lịch sử ghi nhận Hoa Đà qua đời từ năm 208 nhưng, mấy năm sau đó, trong tiểu thuyết trên, danh y này lại sống chỉ để vẽ vời một huyền thoại cho Quan Công: vừa nhậu vừa đánh cờ, “cười nói như không” trong lúc Hoa Đà mổ vai ra nạo chất độc do tên bắn. Lịch sử ghi nhận chuyện Hoa Đà trị bệnh đau đầu kinh niên cho Tào Tháo nhưng La Quán Trung vẽ vời việc Hoa Đà phán rằng bệnh của Tào đã “hết thuốc chữa”, cần phải cưa sọ ra rồi nạo cho hết chất độc bên trong, khiến Tào Tháo nỗi giận, ra lệnh tống giam.

Chuyện hư cấu của người xưa có thể áp dụng cho người nay, với chứng bệnh thể hiện ngay ở “bì mao” và sâu bên dưới lớp “bì”, đâu chừng nửa tất? Có thể cưa sọ ra để rửa sạch những thứ dơ, thứ độc? Và cả những con nhang của cuộc lên đồng tập thể mà, bất kể cái mùi nái già đã sộc đến tận cổ, vẫn tiếp tục lảm nhảm như chưa có gì khác diễn ra?

Họ khiến tôi nhớ lại những lời miệt thị, mắng chửi hay mỉa mai từng nghe thời đi học, thời ra đời tập tành làm người, vào nửa đầu thập niên 1980. Học kiến thức mà kém quá thì, thường, bị xem là “mất căn bản” nhưng, đó đây, vẫn còn có thứ hạng kém đến độ, theo một ông thầy ác khẩu của tôi, là “không có căn bản để mà mất”. Học làm người cũng vậy, khi bị xếp vào thành phần bị xã hội rút phép thông công, không thể tiếp tục việc học ở mức cao hơn, cũng không thể có một công việc chính thức hay, nói cách khác, là sống “lưu vong” ngay trên quê hương mình. Tuổi trẻ tràn đầy những ước mơ nhưng xao xác, hoang mang với một tương lai bất định, không ít người cùng trang lứa đã tập tành tìm quên trong hơi rượu, thở ra rặt một giọng chán đời, thất chí. Nhưng để “thất chí” thì, đầu tiên, là phải có “chí”, nghĩa là phải hình dung rõ ràng ở mình một vị trí cao đẹp hơn, trong một môi trường xã hội cũng cao đẹp hơn, và phải nỗ lực hết mình cho mục tiêu đã chọn ấy. Đó không phải là việc dễ dàng nên, đó đây, trong những giọng điệu u sầu cái sự “thất chí”, vẫn lẫn lộn thứ hạng “không có chí để mà thất”.

Và cái lực lượng MAGA hiện tại, từ tớ đến thầy. Răm rắp tin vào tên dối trá kinh niên, dối trá không biết ngượng, dối trá cực kỳ phản trí thức thì đó, về nhận thức chính trị, hoàn toàn là thứ “không có căn bản để mà mất”. Mà không một người có “chí” nào lại có thể khiến đất nước mình tệ mạt hơn, trọc phú hơn, lý tài hơn, phản dân chủ hơn. Chỉ cần nhìn vào cái cảnh vừa bán đứng Ukraine cho Nga, vừa ra giá mặc cả tài nguyên với Ukraine, vừa vu khống nhà lãnh đạo nước này thôi thì, từ thầy đến tớ, cũng cùng thứ hạng ấy, cũng là “không có chí để mà thất”.

Không có “chí” để “thất” nhưng, ít ra, như một MAGA hạng thầy, nhất định y cũng sẽ lưu lại những di sản nào đó và, từ góc nhìn của Đông y, tôi lại nghĩ đến câu chuyện khác của Hoa Đà.

Hoa Đà bị Tào Tháo tống giam và, nhờ danh tiếng, được viên cai ngục biệt đãi. Tri ân, Hoa Đà tặng viên cai ngục toàn bộ những ghi chép về y thuật nhưng, do sợ liên lụy, người vợ đầu óc hẹp hòi đã thảy hết vào bếp lửa để ông chồng, khi phát hiện ra, thì đã quá muộn, chỉ có thể vớt vát được mấy trang cuối mà, éo le thay, chỉ là những trang hướng dẫn cách thiến lợn, thiến gà.

Với kẻ xem việc nước và thế giới như một giao dịch địa ốc, cái di sản để lại chắc cũng “éo le” như thế. Y làm nhiều chuyện động trời. Y xáo trộn cân bằng địa chính trị toàn cầu. y bao che những nước mạnh và a tòng với bọn độc tài. Y chèn ép những nước yếu và vu khống, nhục mạ, o ép những nhà lãnh đạo dân chủ. Hình ảnh y để lại cho đời sau, như một con người, sẽ khơi dậy lên những câu hỏi như thế nào?

Đời sau, với những kỹ thuật thần kỳ, có lẽ, sẽ nhìn vào đây như là thứ người nên được “can thiệp sớm” để tốt hơn, cho riêng y và cho đời? Nghĩa là nếu những chuyện giả tưởng như The Terminator mà thành hiện thực thì, có lẽ, thế hệ hiện tại đã đi ngược thời gian mà can thiệp sớm với những trang viết bị cháy sém của Hoa Đà. Để thế giới ngày nay yên bình và tử tế hơn thì, ít ra, từ hơn 60 năm trước, thế hệ hiện tại đã, như phim, cử điệp viên đi ngược thời gian để đè y ra mà “can thiệp sớm” bằng con dao thiến lợn.

Một cuốn phim như thế, dẫu vũ khí chính chỉ là con dao thiến lợn nhẹ nhàng, cũng sẽ vô cùng hấp dẫn với những pha rượt đuổi vừa nghẹt thở, vừa đầy chất hoạt kê do bản năng sinh tồn với khả năng ăn vạ của con mồi. Mà cảnh hành động cũng đầy bạo lực và máu me khi con dao thiến lợn phải làm khá nhiều việc hầu như cùng một lúc, từ trên xuống dưới. Đầu tiên là thiến cái bộ não hay nghĩ bậy. Sau là thiến cái miệng và cái lưỡi hay nói bậy. Xong rồi thì mới dí dao vào phần giữa, cái chỗ hay chơi bậy, chơi bạ mà, theo cáo buộc mới nhất, chính là lý do khiến y trở thành con tin, phải làm gián điệp cho Nga… [6]

Tham khảo:

1. Bandy X. Lee (2017) The Dangerous Case of Donald Trump: 27 Psychiatrists and Mental Health Experts Assess a President, Thomas Dunne Books

2. Dùng phân heo nái già trộn với men, rượu cất ra sẽ khiến người uống sợ tới già. “Bài thuốc” này tôi đọc từ một trước tác của Lê Quý Đôn, thuật lại theo trí nhớ.


3. https://www.politicalflare.com/…/trump-says-it-takes…/

4. https://www.theatlantic.com/…/trump-americans…/615997/

5. http://www.china.org.cn/english/15319.htm

6. https://economictimes.indiatimes.com/…/118487146.cms…


Nguyễn Hoàng Văn, born in 1965, Vietnam. The writer, journalist and essayist currently resides in Western Sydney, Australia.

Thơ Con Cóc và NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC by NGUYỄN HƯNG QUỐC

Waiting for the train. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Tôi đồng điệu quá với khúc này trong tác phẩm Thơ Con Cóc và NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC của anh Nguyễn Hưng Quốc. Anh viết tiểu luận như thơ:

“The leisure aptitude of literature, like that, is not just an escape from the sadness of daily life, but like life, it is an adventure into an imaginary world where the human ego can be both themself and someone else. In this aspect, literature enhances and enrich a person’s life. And this very aspect is the proof of the unique shining allure of literature: where a person can truly be free. People can enter, leave, be a part of the journey. Here begins perhaps, is the taste of something like heroin in literature.”

Đọc đã tai. Dịch ra ngôn ngữ của tôi đã thành, đã gấp đôi. Vì vậy mà tôi như anh, mê văn chương?

Dịch thơ, tôi chỉ “thích” vào vai của ai? Sống cuộc đời của ai? Trong đó ít nhất phải có một chút đồng điệu mới ra thơ.

Tôi nhớ, trước đại dịch, tôi đã dịch một bài thơ của nhà văn Thận Nhiên, tôi có xin lưu lại, nhưng anh đã nói – không phải là thơ hay. Tôi đã tôn trọng ý của anh và không dịch nữa.

Tôi đã thích vào vai của tác giả, nhưng họ không muốn, đó là quyền lợi riêng của họ. Như ngược lại, khi tôi phải dịch thơ của ai tôi không thích?

Life imitates art, văn chương như cuộc đời. Sống không có sự tôn trọng, thật là khó sống.

Nguyễn Thị Phương Trâm

“Chức năng giải trí của văn học, như vậy, không phải chỉ có nghĩa là một sự thoát ly ra khỏi hiện thực buồn tẻ, đơn điệu của đời thường để phiêu lưu vào thế giới tưởng tượng mà còn có nghĩa là một cách nhân bản ngã để con người, trong cùng một lúc, có thể là mình, có thể là người khác. Chính ở khía cạnh này, văn học được coi là có tác dụng làm cho đời sống con người phong phú hơn, giàu có hơn. Và cũng chính ở khía cạnh này, chúng ta thấy đẹp đặc điểm nổi bật của văn học: đó là nơi cho phép con người hoàn toàn tự do. Mọi người có thể vào, ra, có thể nhập cuộc. Chất ma túy của văn chương có lẽ phần nào xuất phát từ đó.”

Nguyễn Hưng Quốc

[Chương 8: Đọc thơ và đọc cái-đọc-thơ]

Ảnh: Cuộc du hành của Bella, tôi chụp.


Là một lời nói dối với chính bản thân hay là cách tôi xem những tác giả tôi đã đọc một cách công bằng hơn, khi tôi đã nghĩ tác giả đã chết mỗi lần tôi đọc thơ của họ, vì The Death of the Author, tiểu luận của Roland Barthes?

Nhưng khi tôi đọc xong khúc ở dưới trong tác phẩm của THƠ CON CÓC và Những Vấn Đề Khác của anh Nguyễn Hưng Quốc, tôi đã có một cảm giác thật là xấu hổ, hơn một tuần, tôi thấy mình không đọc vượt nó ở chương 7, và tôi đã đọc đi đọc lại mãi với những sự bất ổn không rõ ràng:

“Coi ý định của tác giả như là một cái gì ở ngoài tác phẩm và là tiêu chuẩn để đánh giá sự diễn dịch của người khác không những là một sự phi lý mà còn là một sự phi lý dốt nát: nó phủ nhận sự tồn tại của chính tác phẩm.” 

Cuộc sống là một sự nghịch lý. Tôi xấu hổ vì một phần là sự dốt nát của mình, phần lớn hơn là sự tự cao kiêu ngạo của chính bản thân ngoài sự tự hào là mình luôn biết mình là ai. Sự tự hào cao cả nhất của tôi là cách sống thực tế. Sống thực tế thì phải luôn đối mặt với sự yếu tố và sức mạnh của bản thân, để không bị blindsided, là một sự tự lừa dối bản thân. Sống ảo không phải là một cách tôi muốn đối phó với cuộc sống. 

Anh Lê Vĩnh Tài đã có một nhận xét không sai, tôi đã là một người kiêu ngạo. Tôi đã nắp sau lưng anh Roland Barthes để xem tác giả như là một con thú trong rừng. Vì tôi luôn quý loài thú hơn con người. Vì chúng sống luôn chân thành với bản chất của mình. 

Tôi thích lang thang hơn là ngồi một chỗ hóng mây. Vì vấn đề con người là tâm đắc lớn lao nhất của cuộc đời tôi.

Tôi xem họ nhốt trong những cái lồng như chim hót cả ngày, hay đang bay từ cành này sang cành khác tương tác với bầy đàn. 

Làm thơ là đem linh hồn của mình ra rao bán, dụ người đọc. Thơ mà không có hồn, hay yếu hồn thì làm sao tác giả có thể để lại hay dành riêng sự ám ảnh đó cho người đọc? 

Sự ám ảnh sẽ thành một sự tâm đắc của người đọc. Vậy người đọc nhớ đến bài thơ hay tác giả? Vậy người đọc có cần vần để nhớ đến tác giả hay bài thơ không?


Đọc sách là một cách học ngôn ngữ hay nhất.

Những năm đầu tiên ở Úc, chị em chúng tôi xem phim John Wayne, Tom and Jerry và anh Tarzan đu cây rồi cuối cùng hiểu chị Jane. Anh Tarzan chỉ ngón tay cái vào ngực và thốt ra vài chữ:

– Me Tarzan, you.. Jane.

Chiều về sau giờ học bốn chị em chui đầu vào cái hộp có hình, canh đúng giờ trước khi ba má về rồi tắt nó đi. Đủ thời gian cho bộ máy không còn nóng nữa không thì bị ăn đòn.

Không có TV, chúng tôi chui đầu vào những cuốn sách tranh. Đói chữ chúng tôi đọc tiểu thuyết. Từ thư viện gần nhà đến thư viện ở trường. Trường nào cũng đã ghi tên của bốn chị em chúng tôi.

Quên ngôn ngữ của mẹ nhưng ít nhất hiểu ngôn ngữ của một người quốc tịch Úc.

Chị em chúng tôi nuốt chữ như hơi thở. Nuốt luôn những tác phẩm khoa học và toán học và văn học.

Sáng đọc những con chữ của anh Nguyễn Hưng Quốc , dò Gu gồ từng chữ, cuốc hay quốc, rơi như nước mắt.

Chữ đã nuôi chị em chúng tôi.


“Đọc thơ là một cách đối thoại” với tác giả, suy nghĩ này đã là kết luận của tôi khi bắt đầu dịch thơ.

Dịch nhiều tác phẩm của một tác giả đã thành một mối quan hệ bất ngờ. Nhiều mối quan hệ tôi lại rất ngại và không muốn. Nhất là những người thiếu sự trưởng thành và tính cách bao dung.

Đọc gần hết chương năm của Thơ Con Cóc và NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC, tôi không còn một chút hối tiếc nào về công việc đọc tác phẩm này của anh Nguyễn Hưng Quốc trong giờ hiện tại.

Thứ nhất, là vì những gì tôi đã khám phá qua hành trình học tiếng việt và dịch thơ đã là hành trình của riêng mình. Vừa ý nghĩa vừa sâu sắc hơn qua những sự cô đơn và thất bại.

Thứ hai là, bây giờ tôi mới hiểu tại sao anh Nguyễn Hưng Quốc không dịch thơ. Cảm giác cả vạn phiên bản của một bài thơ thật là phức tạp. Tôi hiểu những điều này trước thì có lẽ tôi sẽ không có đủ can đảm để dịch thơ học tiếng việt.

Thứ ba thì như tôi vẫn nghĩ xưa giờ tôi đã chưa đủ kiến thức để hiểu tác phẩm của anh.

Ngày ngày tôi càng tin thứ định mệnh mà người ta cứ hay phát ngôn bừa bãi.


Anh Nguyễn Hưng Quốc trong những cuộc đối thoại qua messenger, không nhiều, nhưng lại đủ. Vì chúng tôi chưa bao giờ hiểu lầm nhau.

Nhưng tôi là một người sinh ra với bản chất hoài nghi, không hiểu thì tôi hỏi thẳng để kiềm chế sự suy diễn, kiểu – keep it simple stupid. Ngoài thơ của anh, đối với tôi luôn luôn vẫn là sự bất ngờ khi tôi đọc các bài tiểu luận của anh là sự đồng điệu.

Tôi đọc y như tôi đang được lắng nghe.

Khi tôi đọc thơ, tôi chẳng bao giờ nghĩ đến nhà thơ, những cảm xúc đó là của riêng tôi. Ngoại lệ là thơ Lê Vĩnh Tài, có thể là vì tôi đã dịch quá nhiều tác phẩm của anh.

Tôi không tiếc, nhưng tôi phải thừa nhận rằng, nếu tôi đọc tác phẩm “Thơ Con Cóc và Những Vấn Đề Khác” sớm hơn thì hành trình học tiếng Việt của tôi sẽ dễ hơn chăng? Như từ “về” trong khúc kết của Chương 4 đã xác nhận sự nghi ngờ của mình.

Tôi sẽ dịch lại từ “về” = homecoming.

Ta về

thơ Tô Thuỳ Yên

Tiếng biển lời rừng nao nức giục
Ta về cho kịp độ xuân sang

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai…
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ?
Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm, mặt xạm soi khe nước
Ta hoá thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
.
Spring will be my homecoming
By the roaring sea
Earnest call of the trees

My homecoming will be a looming
Dark shadow across the highway
Shredding at the seams of my cloak will be
Poetry, the sudden panic and pain?
A decade where the rocks too, could feel the ache

Farewell to my dead gone ten years
Sacred trees and solitude of a thousand autumns
A trickling decade of regression
A primate dangling from the trees
On bent knees

My homecoming through the lagoons and deep troughs
Against the East wind my furrowed brow
Through the corrosion of time stunned by how
Nothing had changed, nothing did I gain


“một trong những nguyên nhân khiến ngành phê bình Việt Nam cứ ở mãi trong tình trạng ấu trĩ và què quặt là, do rất thiếu tự giác..”

Cả một cường quốc thơ thiếu tự giác chứ không chỉ riêng ngành phê bình, tôi đọc một lúc tôi thấy ngán. Khi nhà thơ tự lừa dối bản thân mình, bạn không nghĩ nó sẽ bị lộ ra trong thơ ư?

Nhưng vô vọng thì chưa hẳn, thế hệ của con tôi dần dà càng ngày càng giàu tự giác hơn.

Millennials are known for their self-love revolution.


“Nếu phê bình là sự tự vấn của sáng tác, lý luận sẽ là sự tự vấn của phê bình.”

Diễn dịch:

“If the critic responsibility is to nurture creativity, then what nurtures the critic would have to be logic.”

“If a mother responsibility is to nurture her children, then the stratagem of her skills relies on logic and reasoning.”

Life imitates art. Or is it the other way around.

Sketch & photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

Tôi sống hình như trên một hòn đảo một mình, nếu không lo chuyện cơm áo thì tôi ngủ. Tôi đã chấp nhận từ nhỏ là sẽ không có ai có đủ khả năng để hiểu mình ngoài bản thân.

Sự cô đơn đó dạy cho tôi cách sống với nỗi buồn.

Cả khi yêu tôi cũng đã chấp nhận sự cô đơn của nó.

Từ nhỏ tôi đã hay khóc, và khi tôi khóc phản ứng của người đối diện thường chẳng liên quan gì đến tôi. Họ đã khẳng định ra lý do tại sao tôi khóc.

Tại sao họ không nghĩ như bài thơ con cóc.

– It is what it is and it’s not what you think it is.

Tôi khóc tại vì tôi buồn, nó chỉ nhiêu đó.

– C’est la vie/such is life.


Congratulations to my niece, Dr. Lam. Photography by Bác sĩ Lâm Ngọc Hoàng.

Kiến thức văn học chuyên môn của tôi quá kém, xem như là một tờ giấy trắng.

Tôi ngồi ngắm những cuốn sách của anh Nguyễn Hưng Quốc với những cảm xúc vừa kích thích vừa hồi hộp lẫn lộn với những sự đe doạ là tôi không sứng đáng.

Sự thật của một tờ giấy trắng vừa dễ thương vừa đáng tội nghiệp.

Nhưng khi bạn đã cắn vào ngôn ngữ của Nguyễn Hưng Quốc rồi thì bạn có thể bỏ nó xuống được không. Bạn nhỏ nước miếng, bạn vừa muốn để dành vừa muốn nuốt cho hết những con chữ cùng một lúc vì bạn sợ người khác sẽ dành miếng ăn của bạn. Đó là cảm xúc của tôi trong những năm dịch thơ ba dòng của anh Nguyễn Hưng Quốc.

Sau gần ba mươi năm Thơ Con Cóc và Những Vấn Đề Khác đã phát hành tôi mới có đủ kiến thức để đọc và dịch?

“Học văn dư tập, nghĩa là tác phẩm được hoàn thành trong những thì giờ thừa còn lại sau khi đã làm tròn các bổn phận đối với xã hội.” Trích từ Thơ Con Cóc và NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC by NGUYỄN HƯNG QUỐC.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

EM & ME | Lê Vĩnh Tài [421]

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

THIRST

I want to share with you
what’s on my mind

the thirst
the way I miss you

but I can’t

the suggestion of me that shall be forgotten
Literally, it is my ghost

I’M BACK TO FEELING THE WAY I DID ONCE UPON A TIME



I prefer the past
so I’ll stay there
and wait for my turn

even on my dead bed
the worries will continue to plague me
she thinks it’s crazy, me watching
a dim light dangling from the ceiling of a room
big enough for one person
fall

shatter
turning her into inky darkness

me
even in the dark I could
discern life
because I have more than
enough light

then again, I’m but
a breath

she laughed: lucky for you
now, it is nothing
but the past

November 2023
____

I ALLOWED DEATH TO RUN AFTER ME

I don’t know who’s faster
but I hope we can eventually
be friends

not me
but death is still far too young
to die

I’m human still
learning to love my fill
I can’t die until
all the pain is paid
in full

because she is coursing through my vein
I must survive and live
not in vain

with the stack of old books
with the collection of her anthologies
that I will read until nothing is left
until the pages are crumbling before
she believes me

– the only way you will survive is to read all of it
bar none, the pain of love is reserved for all

December 2023
_

YOU ARE LOVE



do you want to stand here
right by my side
and watch the sunrise?

(today
tomorrow
and the day after
forever)

you(dear love)
my lover

we failed at planning
anything
for an affair
(resolute)
reaching a point of realization

December 2023

Nguyễn Thị Phương Trâm

KHÁT KHAO



tôi muốn chia sẻ
từ tâm trí mình

về nỗi khao khát
về cách tôi nhớ bạn

nhưng tôi không thể

ý tưởng mình sẽ bị lãng quên
chính là bóng ma của tôi



CUỐI CÙNG TÔI QUAY LẠI CẢM GIÁC CŨ


tôi thích quá khứ hơn
và tôi sẽ ở đó
xếp hàng chờ đến phiên mình

ngay cả khi chết
có thể tôi sẽ mắc chứng bệnh lo âu
mà nàng nói là điên rồ, tôi
nhìn một ngọn đèn mờ
treo trong phòng đủ cho một người
rơi xuống

vỡ tan
làm nàng tối đen như mực

tôi
thậm chí cả trong bóng tối
cũng nhận ra cuộc sống
vì tôi ánh sáng
quá nhiều

nhưng thôi, tôi chỉ là một hơi
thở

nàng cười: may cho chàng
thôi, mọi thứ đã qua



TÔI ĐỂ CÁI CHẾT CHẠY THEO



không biết nó có chạy nhanh hơn tôi không
và tôi hy vọng
cuối cùng chúng tôi là bạn

không phải tôi mà cái chết còn quá trẻ
để chết

tôi vẫn là một con người
tập cách yêu thương
không để mình chết
không để mình đau khổ mà không được gì

vì nàng chảy trong huyết quản
tôi, phải sống

với một giá sách cũ kỹ
với một tuyển tập của nàng
mà tôi phải đọc đến nát tan
nàng mới tin là tôi thuộc

– cách duy nhất để chàng được sống, là đọc nó
tất cả chúng ta đều đau khổ khi yêu

EM CHÍNH LÀ TÌNH YÊU



bạn có muốn
cùng tôi đứng đây
ngắm mặt trời mỗi sớm không?

em,
người yêu của anh

chúng ta thất bại trong việc lên kế hoạch
cho một cuộc tình
gần như đã hoàn thành


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Vietnamese Art and Literature Beyond Borders | Nguyễn Thị Phương Trâm

Literature is the accumulation of the human mind and spirit in the written word. Hence art invariably is no different to literature in another form other than words. It is the reason I love reading, the reason I love art. Surrounding myself with art and literature, I am myself.

I am thoroughly enjoying this book of literary science.

It surprised me.

Thank you anh #nguyenhungquoc

Nguyễn Thị Phương Trâm

October 17, 2023

#songngutaitram #literatureandpolitics #socialistrealism #NguyenNgocTuan #nguyenthiphuongtram

Vietnamese Art and Literature Beyond Borders

Chúc mừng Nguyễn An Lý .

Congratulations to An for making it on The Longlist of The 2023 Warwick Prize for Women in Translation

Cảm ơn em, vì chị được vui cùng em, và được tự hào vì em.

Thank you An, for your hard work, and thank you for giving Vietnamese women a voice. You are the quiet inspiration for a nation in my heart.

Nguyễn Thị Phương Trâm

October 21, 2023

#songngutaitram #literatureandpolitics #socialistrealism #NguyenNgocTuan #nguyenthiphuongtram

Source: 2023 Longlist warkick.ac.uk

Here’s some brutal honesty. | Nguyến Thị Phương Trâm

No different to elitists, those who are good translators do not need accolades, their work is their reward, they live it. Those who believe they are gods succumbs to mere popularity(the comrade’s way), they are slaves to fame “Do you know who I am!”..

So many people who have sold their soul for so little. They do not understand the word integrity.

But, each to their own. Just fuck off and leave me alone. I don’t need that kind of shit around me. If you want to intimidate me. Grow a pair of balls first or at least have talent. Otherwise piss off and do not waste my time.

Who ever wants to tell me to “calm down” can just as well FUCK OFF! I’m not 5 and neither are you. GROW THE FUCK UP! MY CHILDREN DID. TAKE ALL THE FUCKEN SCREEN SHOTS YOU WANT.

Honesty is not a sin. But what is sinful is a man who has no talent and loves paying for sex. 🙂

No Longer Human by Osamu Dazai | Nguyễn Thị Phương Trâm

The last time I was that excited about a novel was more than a year ago, and it was Pachinko by Min Jin Lee.

I am spoiled by another recommendation by my daughter, No Longer Human by Osamu Dazai. The sincerity and honestly of the protagonist’s voice left me with renewed hope in humanity.

“God, I ask you. Is trustfulness a sin?”

I wonder if both Pachinko and No Longer Human have been translated into Vietnamese?

I mostly feel sad for those who could never get access to such incredible writing. And to be in the end at the mercy of the translators who they mostly revered with reverence as Gods. Like so with these gods bestow windows to their imprisoned subjects to unbetold magical worlds.

English is just another language like any other, it just happened to be a useful one.

Don’t be a slave to these gods..

Ah, again, I am talking to myself. But if I can not be honest with myself then with whom?

God, I ask you. Is honesty a sin?

Because I know to most, betrayal is not.

Ozamu Dazai