Trong album cũ của gia đình | Georg Trakl

Quê Hương in Hải Phòng, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

By Georg Trakl
Translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

bao giờ bạn trở lại, u sầu
lẻ bóng, hỡi linh hồn lẻ loi
một ngày vàng rực rỡ và đã kết thúc
người bệnh yếu ớt đầu hàng cơn đau
âm vang giai điệu du dương và êm ái điên cuồng
hãy nhìn kia, hoàng hôn
đêm trở lại lần nữa và một người than khóc
một người khác đau khổ chịu đựng
trong sự cảm thông cứ rùng mình dưới những ngôi sao mùa thu
năm tháng cúi đầu sâu hơn nữa…

Always you return, melancholy,
Oh meekness of the lonely soul.
To the end a golden day glows
With humility the patient one bows before pain
Resounding with melodies and tender madness.
See! It is already dusk.
Again night comes in and a mortal lament
And with it another suffers.
Trembling beneath autumn stars
Yearly the head bows deeper.


Georg Trakl [1887 – 1914] was an Austrian poet and the brother of the pianist Grete Trakl. He is considered one of the most important Austrian Expressionists. He is perhaps best known for his poem “Grodek”, which he wrote shortly before he died of a cocaine overdose.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

LÝ ĐỢI

Nhà thơ Lý Đợi (Ảnh: Họa sĩ Phạm An Hải)

in Vietnamese by Lý Đợi
translation by Nguyễn Thị Phương Trâm


Lý Đợi (1979), Born in 1978 in Khuc Luy village, Dien Minh commune, Dien Ban district, Quang Nam province. Bachelor of Literature, 2001. As of 2008, after five years of writing, he had published three solo works and approximately twenty-five collaborative works in Vietnam and abroad. His poetry and translated poems have also appeared in several literary magazines and websites in Vietnamese and English. He has also participated in poetry performances, presentations, documentary films, workshops, and exhibitions at the Goethe Institute in Korea, China, Germany, and Vietnam. A key member of the Open Mouth group, which includes Bùi Chát, Khúc Duy, Nguyễn Quán, Lý Đợi and others. He co-initiated and promoted the photocopied work printing movement in Vietnam. He co-founded the Paper Scraps Publishing House. He currently lives in Saigon and works as a journalist.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Mít Ta | Hoàng Xuân Sơn

Hoàng Xuân Sơn

A poem in Vietnamese by Hoàng Xuân Sơn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

The Jackfruit
One can argue
To one’s heart content
It is the iconic symbol
Of our nation

But at the heart of it
Is a sulfureous centre
The undoing of
Its people

M Í T



[ an nam ]

Cạp
Khới
Nạy
Tới hết xơ
Lòi ra hột mít
Bên tờ giấy xanh
Thôi ta đi mua điềm lành
Cãi cọ nhau chi đành hanh
Sự đời

À
Trong hột mít đầy hơi
Hãy vén cho khéo kẻo
Đời bung hương

)(
s ử m ặ c
Phọt Ru Lai
[ tôi độc lập ăn theo ]


Hoàng Xuân Sơn 

A renowned poet, born 1942, writes under various pseudonyms: Hoàng Xuân Sơn, Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Ðịnh… 

Hometown: Vỹ Dạ, Huế.

Lý Thường Kiệt Primary  

Bán Công High School and Quốc Học Huế High School

Bachelor of philosophy, and postgraduate of political science and commerce at The university of Văn Khoa Sài Gòn. 

Worked at the Ministry of Transport and Communication, a branch of the General Department of Postal Service of the Republic of Vietnam.

After 1975 worked in the Postal Office for 7 years. December 1981 settled in Montreal, Canada.

The poet’s career span from 1970 to the present day his work has been published in many literary publications. In vietnam: Văn, Chính Văn, Diễn  Ðàn, Khởi Hành, Nghiên Cứu Văn Học, Ðối Diện, Thân Hữu, Xây Dựng Nông Thôn, Ngưỡng Cửa, Nhà Văn. Outside of Vietnam: Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Chủ Ðề,  Sóng, Sóng Văn, Nắng Mới, Saigon Times, Hợp Lưu, Phố Văn,  Gío Văn , Canh Tân, Ði Tới, tạp chí Thơ. 

Collaborating platforms: Litviet (U.S.A), Tienve (Australia), Vanchuongviet… and the translations of his poetry into English by Nguyễn Thị Phương Trâm on SONGNGUTAITRAM.

Published work:

Viễn Phố (thơ, Việt Chiến xb 1988)

Huế Buồn Chi (thơ,93)

Lục Bát (thơ, 2005)

Ref: vanchuongviet.org

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Quietude | Trương Đình Phượng

Sông Bạch Đằng, Vietnam. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm.

A poem in Vietnamese by Trương Đình Phượng
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

tĩnh mịch

flowers bloom, the night floats away with the wind
a ladybug, startled by music
from afar

a wooden cart, abandoned slope
sad horse, hooves beating to smithereens
a lonely path

coachman, whip, time ceasing
a coat of dust, inkier is the night
thinning light
all around
sieving rain

hoa nở, đêm bay theo gió
con cánh cam, giật mình
nhạc xa

xe thổ mộc, dốc vắng
ngựa buồn, chân gõ nát đường
cô độc

xà ích, buông roi, thời gian ngưng
áo bụi, khuya đổ mực, đèn dần thưa
bốn hướng
mưa rây…

2019


Trương Đình Phượng, the poet and writer born in 1984, currently lives in Nghệ An, Việt Nam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Annabel Lee | Edgar Allan Poe

A poem by Edgar Allan Poe
Translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

nhiều năm đã trôi qua
trong một vương quốc ven biển
có một nàng mà không chừng bạn cũng biết
tên nàng là anna

nàng không muốn nghĩ gì
ngoài việc yêu tôi và chờ được tôi yêu
tôi là đứa trẻ và nàng là em bé

trong vương quốc ven biển này
chúng tôi yêu nhau
bằng một tình yêu còn hơn cả tình yêu

tôi và anna của tôi
yêu đến mức các thiên thần
thèm muốn được yêu

và đó là lý do tại sao, từ lâu lắm rồi
trong vương quốc này
có một cơn gió cứ thổi ra từ đám mây, làm lạnh
anna của tôi

vì thế bạn bè người thân của nàng
mang nàng cách xa tôi
nhốt nàng vào một ngôi mộ
trong vương quốc

các thiên thần không thể hạnh phúc
như lúc ở Thiên đường
nên ghen tị với tôi
đó là lý do (mà ai cũng biết,
trong vương quốc bên bờ biển này)
vì sao cơn gió cứ thổi ra từ đám mây
lạnh giá đã làm chết anna của tôi

tình yêu của chúng tôi
còn ấm áp hơn tình yêu của những tay già
cả những thiên thần trên cao
hay những con quỷ dưới biển
không bao giờ có thể tách rời linh hồn tôi
khỏi linh hồn anna

vì mặt trăng không bao giờ tỏa sáng
mà không mang đến cho tôi những giấc mơ
những vì sao không bao giờ mọc
vì tôi đã cảm thấy đôi mắt
lấp lánh của nàng

cả đêm, tôi nằm bên
người yêu dấu của tôi – cô dâu mới của tôi
trong ngôi mộ của nàng
bên bờ biển nàng và tôi trong ngôi mộ rì rào.


Edgar Allan Poe [1809-1849] là một nhà văn, nhà thơ, biên tập viên và nhà phê bình văn học người Mỹ, nổi tiếng nhất với thơ và truyện ngắn, đặc biệt là những câu chuyện bí ẩn và rùng rợn.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Thành phố nằm trên biển | Edgar Allan Poe

A poem by Edgar Allan Poe
Translation into Vietnamese by Lê Vĩnh Tài

Kìa! Cái chết đã ngóc đầu dậy, dựng lên ngai vàng
Trong một thành phố xa lạ đơn độc
Trong miền Tây u ám,
Nơi những người tốt nhất và xấu nhất
Đã đến nơi an nghỉ vĩnh hằng.

Có những đền thờ, cung điện
(Và những tòa tháp bị thời gian ăn mòn
Đừng run sợ!)
Chúng không thuộc về chúng ta.

Xung quanh, chúng ta nâng gió lên cao và quên lãng,
Nằm im dưới bầu trời
Những dòng nước u sầu.

Không có tia sáng nào từ Thiên đường chiếu xuống
Vào đêm dài của thị trấn;
Nhưng ánh sáng từ biển cả u ám
Tràn lên những tháp pháo lặng lẽ—
Tỏa sáng lên những đỉnh cao và tự do—
Lên mái vòm—lên những ngọn tháp—lên những cung điện của ông vua—
Lên những bức tường giống như thành Babylon—
Lên những khu vườn tối tăm đã bị lãng quên
Từ lâu dây thường xuân đã hoá thành phù điêu và những bông hoa đã hoá đá—
Lên rất nhiều ngôi đền
Kỳ diệu những bức phù điêu có vòng hoa
Đan xen đàn vĩ cầm, hoa violet và dàn nho.
Cam chịu dưới bầu trời
Những dòng nước u sầu nằm đó.

Hãy hòa trộn những tháp pháo và bóng tối
Ở đó tất cả dường như lơ lửng
Trong không khí, một tòa tháp kiêu hãnh
Cái chết nhìn thật khổng lồ.

Những cánh quạt mở ra và những ngôi mộ
Há hốc miệng ngáp như những con sóng;
Nhưng sự giàu có không nằm ở đó
Trong đôi mắt = kim cương của mỗi tượng thần—
Không phải những người chết đeo đầy đồ trang sức
Cám dỗ những dòng suối chảy ra khỏi giường;
Vì không có gợn sóng nào cuộn tròn, than ôi!
Dọc theo vùng hoang vu của thủy tinh đó—
Trên một vùng biển xa xôi—
Không có sự nhấp nhô nào cho thấy gió đã từng
Dập dồn trên những vùng biển ít thanh bình.

Nhưng kìa, một sự khuấy động đang diễn ra
Trong không khí! Sóng—có một chuyển động ở đó!
Như thể các tòa tháp đã bị đẩy sang một bên,
Trong sự chìm xuống nhẹ nhàng, thủy triều buồn tẻ—
Như thể đỉnh của chúng yếu ớt tạo ra
Một khoảng trống trong bầu trời mỏng manh.

Sóng giờ đây có ánh sáng đỏ hơn—
Những giờ phút đang thở yếu ớt—
Và khi, giữa không trung có tiếng rên rỉ,
Xuống trần gian, xuống thị trấn đó sẽ lắng xuống
Từ đây, địa ngục, trỗi dậy từ hàng ngàn ngai vàng,
Sẽ đời đời tôn kính nó.

The City in the Sea

Edgar Allan Poe
[1809 – 1849]

Lo! Death has reared himself a throne
In a strange city lying alone
Far down within the dim West,
Where the good and the bad and the worst and the best
Have gone to their eternal rest.
There shrines and palaces and towers
(Time-eaten towers and tremble not!)
Resemble nothing that is ours.
Around, by lifting winds forgot,
Resignedly beneath the sky
The melancholy waters lie.

No rays from the holy Heaven come down
On the long night-time of that town;
But light from out the lurid sea
Streams up the turrets silently—
Gleams up the pinnacles far and free—
Up domes—up spires—up kingly halls—
Up fanes—up Babylon-like walls—
Up shadowy long-forgotten bowers
Of sculptured ivy and stone flowers—
Up many and many a marvellous shrine
Whose wreathed friezes intertwine
The viol, the violet, and the vine.
Resignedly beneath the sky
The melancholy waters lie.
So blend the turrets and shadows there
That all seem pendulous in air,
While from a proud tower in the town
Death looks gigantically down.

There open fanes and gaping graves
Yawn level with the luminous waves;
But not the riches there that lie
In each idol’s diamond eye—
Not the gaily-jewelled dead
Tempt the waters from their bed;
For no ripples curl, alas!
Along that wilderness of glass—
No swellings tell that winds may be
Upon some far-off happier sea—
No heavings hint that winds have been
On seas less hideously serene.

But lo, a stir is in the air!
The wave—there is a movement there!
As if the towers had thrust aside,
In slightly sinking, the dull tide—
As if their tops had feebly given
A void within the filmy Heaven.
The waves have now a redder glow—
The hours are breathing faint and low—
And when, amid no earthly moans,
Down, down that town shall settle hence,
Hell, rising from a thousand thrones,
Shall do it reverence.


Edgar Allan Poe [1809-1849] là một nhà văn, nhà thơ, biên tập viên và nhà phê bình văn học người Mỹ, nổi tiếng nhất với thơ và truyện ngắn, đặc biệt là những câu chuyện bí ẩn và rùng rợn.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

the words in gold | Lê Vĩnh Tài

Manly beach, Australia. Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

A short story in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

I bled listening to you talk, do you remember. You would tell us these amazing fairy tales about the words in gold.

When I left after your stories, the sea was completely placid. It was nothing but a red reflection due to the dull greyish boat’s headlights. A glare here and there from the water was just enough for me to work out the shape of a person.

I don’t remember exactly. The features of his face change constantly in my mind, including his fancy pompous getup and demeanour. Except for a cold heart that was ever unchanging. I was chilled to the bone. I don’t know why I listened to you so intently, the discourse in your words was made of gold. Or perhaps I was simply mad. I would wake up the next morning with wrists laden in gold bangles and bracelets made out of words in gold.

I know you’re not an ordinary thief. You’re someone who’s looking for gold. Or perhaps you’re the last prospector at sea? You want people to dig a tunnel with you through the aching loneliness of the sea, and of course, there will be diggings in the streets. Not a simple job. I realised after attaining the words in gold, I will always be red. Oh forgive me, victims of my beloved sea. I can but console myself, if something went wrong, and the price of gold is not so hot right now.

Like me, you will not sell the gold you just gathered. Those with hundreds of rings, necklaces, alluring bracelets often sell them without knowing the true value of their gold.

Gold is someone else’s pain, but in contrast a source of your joy. Gold is also the air I breathe, inhaling it through the nights I dance in the moonlight, unlike our ancestors who stayed up only to sharpen their swords.

Now and then I would ponder about the fate of my treasure trove full of gold. I decided, once there was enough, I will forge a bust of myself from pure gold, unadulterated, brilliant gold, take it out on a boat and drop it into the sea. It makes us happy when no one dares lay their eyes on it. In order to confirm that there will always be words of gold deep within your heart and mine.

But different is our relationship with the sea, it will be a bond of agony for us all, dragging on and on brilliantly, endlessly, forever blue…

___

June 2021

NHỮNG CHỮ VÀNG… 

Bạn nhớ không, tôi đã chảy máu khi ngồi nghe bạn phát biểu. Bạn hay kể một câu chuyện cổ tích tuyệt vời về những chữ bằng vàng.  

Khi tôi quay về sau khi nghe bạn nói chuyện đêm hôm ấy, biển vắng tanh. Nó chỉ được chiếu sáng bởi ánh sáng màu đỏ quạch của đèn pha sứt mẻ từ những con thuyền màu xám xịt. Chút ánh sáng lẻ loi hắt lên từ những vũng nước, vừa đủ cho tôi nhìn thấy, hình như có một dáng người. 

Tôi không thể nhớ chính xác được. Hắn ta luôn luôn thay đổi gương mặt trong bộ nhớ của tôi, cả thứ trang phục cầu kỳ đỏm dáng. Chỉ có trái tim băng giá của hắn thì không bao giờ thay đổi. Tôi thấy lạnh buốt. Không biết lý do tại sao tôi lắng nghe bạn, với bài phát biểu viết bằng những chữ vàng. Hay chỉ đơn giản là tôi đã phát điên. Tôi thức dậy vào sáng hôm sau với hai cổ tay đeo đầy những vòng vàng làm bằng những con chữ.

Tôi biết bạn không phải là một tên trộm thông thường. Bạn là một người tìm vàng. Hay là một thợ mỏ cuối cùng còn lại trên mặt biển? Bạn muốn mọi người cùng với bạn đào một đường hầm trong sự cô độc đớn đau của biển, và chắc chắn rồi đây sẽ phải đào trên đường phố. Không phải là dễ dàng. Có được những chữ vàng, tôi mới nhận ra mình vẫn mãi mãi màu đỏ. Tha thứ cho tôi, những nạn nhân trên biển thân yêu của tôi. Và tôi tự an ủi mình rằng, nếu có gì không tốt thì chỉ tại lúc này vàng chưa sốt giá.

Cũng như tôi, bạn không bao giờ bán những chữ vàng bạn mới thu được. Những kẻ có hàng trăm chiếc nhẫn, dây chuyền, vòng đeo tay quyến rũ thường hay bán đi vì không hiểu giá trị của chữ vàng.

Vàng là nỗi đau của ai đó, nhưng là niềm vui của bạn. Vàng cũng là không khí của tôi, tôi hít thở mỗi đêm khi phải nhảy múa dưới trăng, không như ngày xưa tiền nhân chỉ biết thức đêm mài kiếm. 

Đôi khi tôi suy nghĩ về số phận kho vàng của tôi. Cuối cùng, khi đã tích lũy đủ, tôi sẽ làm một bức tượng bán thân của mình từ vàng ròng, tinh khiết và vàng rực rỡ, và tôi sẽ chở ra bằng thuyền để ném nó xuống biển. Nó làm chúng ta vui khi không còn ai dám nhìn nó. Để biết rằng luôn luôn có những chữ vàng trong thâm tâm của bạn và tôi. 

Nhưng tình yêu với biển thì khác, nó sẽ cùng với nỗi đau, cùng với mọi người, kéo dài và xanh biếc, mãi mãi…


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

dusk | Trương đình Phượng

A poem in Vietnamese by Trương Đình Phượng
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

DUSK

CHIỀU

A woman sitting by the windowsill
busy picking up each strand of dying light
her vivid evocation like an epic movie
knotted and in disarray through her hair
a whirlwind of Northern winter chill cutting through her dreams

A woman sitting by the windowsill
a piece of a dying sun at the tail end of her eyes
idle hands
barely able to support her own shadow

A woman stirring the entire night

Trying to find the right words, to quieten her youth

Người đàn bà ngồi bên bậu cửa
mải miết gom từng sợi chiều rơi
ký ức như cuốn phim dài
xới tung tóc rối
gió bấc cứa ngang mầm giấc mơ

Người đàn bà ngồi bên bậu cửa
Mảnh mặt trời chết dần sau đuôi mắt
bàn tay ngu ngơ
không đỡ nổi bóng mình

Người đàn bà mải miết khoắng màn đêm

Tìm lời ru thiếu nữ

2014


Trương Đình Phượng, the poet and writer born in 1984, currently lives in Nghệ An, Việt Nam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.