Ngưu Lang | Nguyễn Thị Minh Ngọc

Nguyễn Thị Minh Ngọc. foto by Tino Cao.

truyện ngắn Nguyễn Thị Minh Ngọc
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

[a body of work in progress – unedited]

Ngưu Lang

Thế là, như mơ, tôi đứng giữa những người đàn bà và cả đàn ông khác màu da, tiếng nói. Ðêm đầu ở một nước lạ, dường như để dễ nhận ra, ai cũng kiếm những bộ cánh đặc biệt của mình. Những diễn viên của một nhà hát thổ dân Úc chúi vào nhau cười rúc rích, da mốc trắng lên vì trời lạnh, hệt như những người dân tộc tôi vẫn gặp hồi nhỏ ở Pleiku. Một phụ nữ có gương mặt như Phật, trang phục Trung Quốc của bà khiến ai cũng muốn gợi chuyện nhưng rồi lại thất vọng vì bà không biết tiếng Anh mà người thông dịch của bà thì lại chưa đến được. Những người Nam Hàn và Bắc Hàn lạnh lẽo nhìn nhau. Cô gái Nhật, sau một hồi nói chuyện về Kobo Abé, đưa danh thiếp cho tôi, mới hay cô ta là đại biểu đến từ Mỹ.

Ấn tượng đầu tiên của tôi ở Úc là thành phố Adelaide đẹp, nhiều người tốt. Nhưng có lẽ vì thời tiết quá lạnh và thức ăn lạ miệng nên cơn nhớ nhà cồn cào nổi lên khi về đến phòng riêng. Việc đầu tiên là gọi cho Liên đang ở cách đó hàng ngàn cây số, nhưng Liên sẽ nhắn cho những bạn khác. Và sau đó là điện thoại tới tấp của Quang, của Vũ, của Khiêm, của Philip, của Phượng và Bằng, của Dung và Lân. Ðứa nào cũng rủ tôi sau hội nghị ở lại chơi thêm vài tuần vì biết rồi có dịp nào sang đây nữa không. Nghe tôi kêu phải về để chuẩn bị cưới chồng, Quang cười dòn, hỏi phải vẫn cái ông “Mười năm luôn gặp mà tình không cũ?” Tôi đính chính mười một năm ba tháng hai ngày rồi. Giọng ngậm ngùi của những bà vợ, phê bình tôi cái gì cũng được, chỉ dở tệ đường chồng con. Mãi đến lúc không giờ, hẹn mai trò chuyện tiếp.

Khoảng ba giờ, chuông điện thoại reng. Tôi nhấc lên, bên kia đầu dây là tiếng khóc. Tiếng khóc của một người con trai trong đêm khuya nghe như đến từ một cõi khác. Tôi bật đèn, những bức hình đang cười toe quanh tôi như một tương phản lạ. Chúng tôi được phân về ở những ký túc xá sinh viên. Họ đang nghỉ hè. Chủ phòng tôi đang ở để nguyên cả mọi thứ tranh ảnh, sách báo, đàn, giày. Có đến cả phút, tiếng khóc ngưng. Rồi một giọng nói lạ vọng lên:

“Tôi là Phiêu!”

Hiểu rồi! Trước khi tôi sang Úc, Châu có nhờ tôi tìm xem Phiêu giờ sống ra sao, nhờ vậy mà không có số điện thoại lẫn địa chỉ. Châu dặn cứ cho biết Phiêu hồi xưa ở Việt Nam thường đóng những vai như Hamlet, Othello, Khuất Nguyên, Từ Hải v…v… Hồi nãy tôi có nhờ Quang, Quang nói biết tên này, sẽ nhờ người phăng ra. Trái đất nhỏ thật. Trước khi tôi lên máy bay, Châu còn dặn, nếu Phiêu hỏi Châu sống ra sao cứ nói rằng sống được. Rồi thôi! Ðừng cung cấp thêm một chi tiết nào nữa hết.

May quá, sau đó Phiêu vẫn chưa hỏi thăm gì về Châu mà dường như là một người đàn ông khác hẳn với người vừa khóc trước đó. Phiêu hỏi tôi cần gì? Thông dịch viên? Phương tiện di chuyển? Ðồ lạnh? Những địa chỉ nên đến để viết bài? Tôi kêu chỉ thèm cơm Việt Nam, nếu có rau muống dằm cà thì quá tuyệt.

Nói cho vui vậy thôi, không ngờ sau buổi họp chiều ra, nghe nhắn có hai vợ chồng ngồi đợi tôi một tiếng đồng hồ để đưa về nhà ăn cơm rau muống. Họ xưng là Ðức và Hiền, bạn của Phiêu. Tôi kéo theo Julie. Julie là tác giả vài vở kịch viết về Việt Nam, đã sang Việt Nam mấy lần, rất mê những người phụ nữ Việt Nam. Trời vài độ, chưa âm, có lẽ chưa bao giờ những cọng rau muống lúc đó với tôi lại ngon như vậy. Và mắm nữa chứ. Các thứ rau lạ quen có mặt đầy đủ, kinh giới, tía tô, rắp cá, thì là, lá to hơn nhưng hình như vị không nồng nàn bằng ở nhà. Nhất là ớt.

Julie kêu không bao giờ hiểu nổi những người Việt Nam này. Chưa gặp, chưa quen nhau bao giờ, chỉ qua vài lời giới thiệu bâng quơ trên điện thoại, lại có thể ngồi đợi cả tiếng đồng hồ, rồi kéo về nhà ăn uống chuyện trò như đã thân từ một kiếp khác. Ðức nói đơn giản vì Phiêu sống quá tốt với bạn bè nên anh cần bất cứ điều gì, chúng tôi mừng rỡ làm ngay vì rất ít có cơ hội trả ân anh. Thấy tôi có vẻ không rành lắm về Phiêu, Hiền cung cấp cho tôi một đoạn.

Vào những tháng ngày nghiệt ngã của năm 1979, cả gia đình Châu đi hết nhưng Châu ở lại vì mê nghề. Phiêu và Châu lúc ấy đang là hai diễn viên chính của một đoàn kịch mới lập. Sau một số vở thành công, đoàn lại có nguy cơ tan rã vì cả một tập thể đụng với người trưởng đoàn. Dầu được Thành Ðoàn ủng hộ, những diễn viên trụ cột vẫn bị buộc thôi việc gần hết, trong đó có Phiêu, Châu. Vác đơn đi kiện tiếp, họ dốc cả ruột gan cho người trưởng phòng tổ chức của cấp cao hơn. Sau đó, họ nhận thêm lệnh cấm biểu diễn trên địa bàn thành phố. Hóa ra, bà trưởng phòng nọ là chị họ của ông trưởng đoàn kia. Vậy là Châu giận dỗi kiếm đường sang Pháp với gia đình. Phiêu chỉ định đi tiễn bạn nhưng giờ chót Châu không đến, Người tài công tiếc một chuẩn bỏ nên kéo Phiêu đi thay. Sau một thời gian ở đảo khá dài, Phiêu tấp vào nước Úc.

Ðêm đó, khoảng hai, ba giờ, Phiêu gọi lại, lần này bắt tôi kể chuyện Sài Gòn. Tôi cứ hồi hộp sợ Phiêu hỏi tới Châu. Biết nói về Châu thế nào bây giờ khi cô đã dặn chỉ nói hai chữ thôi: sống được! Mà cũng chẳng biết lúc này Châu buồn hay vui. Chỉ thấy nó có một điểm giống tôi, lúc nào cũng ở tư thế hùng hục làm việc như một con điên. Ðời riêng cũng chẳng vui gì. Anh bồ hiện tại khá tốt, chỉ phải tội mê đánh bạc hơn mê Châu. Tôi đã từng chứng kiến những đêm dài, những dịp cuối tuần, cô diễn viên ngôi sao này phải ngồi dài cổ đợi.

Những ngày sau tôi bớt nhớ nhà, bớt thấy lạnh có lẽ nhờ công việc túi bụi và một phần nhờ những người bạn tốt của tôi và của Phiêu. Có một đêm:

“Xin lỗi vì chỉ gọi được cho chị vào giờ này. Chị vừa đi xem Hamlet về phải không? Xưa ở Việt Nam đã có lúc tôi đóng vai Hamlet. To be or not to be? Giờ này Hamlet đang lột sò ở Melbourne. Lột hay không lột, đó là vấn đề!”

Tiếp theo là một tràng cười, nghe buồn hơn tiếng khóc hôm nọ.

“Nói chuyện khác đi Phiêu, những chuyện khác nơi Phiêu đang sống”.

“Ðám bạn của chị giao cho tôi nhiệm vụ thuyết phục chị ở lại chơi vài tháng. Tôi đang kiếm xe chạy qua đó đưa chị đi chơi”.

“Không được, tôi đã quá lớn tuổi rồi. Mãi mới được một người chịu làm đám cưới với mình sau khi ở đây về, không thể bỏ qua dịp may hiếm có đó”.

“Trễ mươi ngày có sao đâu, nếu người ta thương chị thật”.

“Tôi đã trễ hơn mười năm rồi. Nhưng mà nè, sao cậu không về?”

“Tôi sợ!”

“Bao nhiêu người đã về chơi không làm cậu an tâm sao?”

“Tôi chỉ sợ một điều: Châu không được hạnh phúc”.

“Giả sử như vậy, thì cũng có phải lỗi của cậu đâu?”

“Ráng ở lại đi, dù chỉ một tuần. Ít ra, được gặp chị, tôi cũng thấy đỡ nhớ Việt Nam”.

Ngày chuyển từ Adelaide sang Canberra, máy bay ngưng vài tiếng ở Melbourne, tôi không định bước ra ngoài nhưng cô tiếp viên đến cho biết có người cần gặp tôi bên ngoài. Tôi chạy thật nhanh ra, cứ nghĩ không biết Vũ, Hằng hay Nghiêm, Toản thì đã thấy thấp thoáng cuối đường tấm bảng ghi tên tôi kề một khuôn mặt lạ. Tôi hỏi phải Phiêu không? Hắn gật đầu, nắm chặt tay tôi kéo đi. Tay tôi và tay hắn đều nằm trong găng êm nhưng nghe đau lắm. Tôi đùa:

“Cậu không định bắt cóc tôi chứ?”

“Nếu chị là Châu, có thể tôi sẽ. Nhưng nghe chị nói tội quá. Ðợi mãi mười năm mới kiếm ra người chịu cưới mình”.

“Bây giờ đi đâu?”

“Ði sắm vài món đồ lạnh cho chị”.

Tôi đứng khựng lại:

“Thôi Phiêu, tôi đang bị những cái áo như cái mền của bạn cậu đưa ám ảnh. Vừa mới gởi trả lại xong”.

“Vậy thì đi uống nước!”

Căn phòng toàn kính. Hoa khô và những cỏ thơm chất đầy ở góc phòng. Những chiếc máy bay xòe cánh ngoài kia lấp lánh sáng tối. Những người dị chủng tới lui lao xao, thầm thì, xa lạ. Miệng tôi cảm giác đắng khi nghe Phiêu hỏi:

“Sao mãi đến hôm nay chị vẫn chưa chịu nói rõ cho tôi biết đời sống hiện tại của Châu? Tôi có biết cô ấy đang là một diễn viên nổi tiếng, nhưng còn mơ hồ lắm về đời riêng. Hẳn là cô ấy đã lấy chồng? Hẳn là cô ấy đang hạnh phúc?”

Tôi giữ đúng lời hứa với Châu là không nói gì ngoài hai chữ “sống được”. Rồi mở to mắt nhìn Phiêu. Ðọc đi, hãy đọc trong mắt tôi những lời không nói được. Châu những đêm một bóng ngồi đợi người đàn ông chưa được gọi là chồng. Châu ngồi co ra dưới mưa dầm bán vé số. Châu diễn kịch hài, kịch bi, lúc khóc, lúc cười. Châu tươi cười nhận hoa tươi ngập tay từ những người hâm mộ. Châu những đêm diễn xong lang thang không biết về đâu. Châu kể chuyện tiếu lâm gây cười suốt chuyến xe lưu diễn. Châu mệt nhoài thiếp ngủ, mặt trong veo thanh thản như đang được ngủ giấc cuối cùng. Và cạnh đó, song song tồn tại với Châu, người trưởng đoàn năm nào cũng thăng tiến trên con đường quan chức. Ông ta vẫn tiếp tục thay thủy thủ đoàn không thương tiếc để còn được nắm chắc tay lái của chiếc thuyền bị tấp vào một dòng sông kiệt nước từ lâu…

Soi lại bóng mình trong đôi mắt nhỏ, thanh, dài sắt của Phiêu, bỗng nhiên tôi nhớ lại bạn xưa Trâu Nước. Ðó là một trong những người bạn mà khi mất đi bạn mới thấy thiệt thòi biết bao khi không còn anh ta bên cạnh, mặc dầu lúc anh ta còn lẽo đẽo bên cạnh để chìu chuộng những điều trái tính trái nết của bạn thì bạn chỉ thấy vướng víu làm sao.

Melbourne đang là đêm và cái cảm giác bềnh bồng trên mây vẫn còn vây bọc lấy tôi. Ở Việt Nam bây giờ đang là chiều. Và còn chỗ ở của Trâu Nước lúc này, chẳng biết có thấy được trăng không? Hay mặt trời đang lặn, mọc? Chúng tôi ngồi yên lặng, đối diện nhau như vậy với những lời không nói được ứa tràn ngập mắt. Cho đến khi tiếng loa báo chiếc máy bay của tôi chuẩn bị bay tiếp, Phiêu mới rút hai tay ra khỏi găng, đặt trên bàn:

“Ở Việt Nam, đôi tay này thường để khảy đàn, tuốt gươm khi đóng Roméo, Hamlet… Sang đến đây thì chai dầy đi vì nhiều thứ khác: làm farm, lột sò, lái xe, phục vụ nhà hàng, may vá, bấm computer…”

Tôi cũng rút một tay ra khỏi găng để bắt tay Phiêu, nghe nhịp thổn thức trên đường đi của máu trong bàn tay nháp, nóng. Thời tiết bên ngoài nghe nói đã sụt vài độ, dưới không.

Sau đó, ở những thành phố khác của Úc, vẫn có những người bạn của Phiêu chăm sóc tôi mọi mặt nhưng Phiêu không gọi điện thoại cho tôi sau lúc không giờ nữa. Một chiều ở Canberra, một người bạn gái của Phiêu, Noel, đưa tôi lên một đỉnh núi trông xuống thành phố là đà trong mù sương. Noel kêu thích Phiêu lắm nhưng không hiểu nổi những nóng, lạnh bất chợt của bạn mình. Cô đọc cho tôi nghe những bài thơ của Phiêu mà tôi đều thấy thấp thoáng dáng của Châu.

Xa tít xa, ở một đỉnh núi khác, là chiếc tháp truyền hình nổi tiếng của Canberra. Bỗng tưởng như có tiếng quạ đen ríu rít xoãi cánh làm cầu. Và từ chiếc lồng thủy tinh trên tháp ấy bước ra một ả Chức, lướt trên Ô kiều, băng băng chạy đến với chàng Ngưu. Họ sẽ làm gì, đầu tiên, khi lại được chạm vào nhau, trên đầu những con quạ đen tốt bụng đó? Tôi nhắm mắt. Dường như không đương nổi sức nặng của hai người, chiếc cầu quạ gãy. Dường như không thắng nổi sức hút của lòng đất, họ rơi, theo chiều thẳng… Nhưng hãy cố xoay ngang, để thấy họ đang trôi…

*

Khi tôi rời Úc, người ta đưa cho tôi một tờ giấy của Phiêu vừa fax tới:

“Dầu muốn dầu không, Châu cũng là Miss Sài-gòn đối với tôi từ những ngày trước đến nay. Qua chị, tôi thấy một Sài gòn năng nổ, sống động nhưng vẫn còn nhiều phức tạp và vẫn chưa xóa được đâu những gì đó hoài nhớ trong mình. Qua mắt chị, tôi thấy Châu xưa đã bớt là hiện tại.

Cám ơn chiếc áo dài, cám ơn cái bắt tay… để tôi an tâm lên núi làm farm.

Hãy gởi thiệp cưới cho tôi khi có dịp. Ðể tôi còn một duyên cớ, trở về…”

*

Hơn nửa năm, sau khi từ Úc trở về, tôi vẫn chưa gởi được thiệp cưới cho Phiêu. Người chuẩn bị làm bạn đời của tôi khá thân với người đang sống chung với Châu. Hằng đêm, họ vẫn gặp nhau ở một câu lạc bộ vui chơi, nơi có những khuôn mặt đam mê hốc hác. Ðiểu này xảy ra có lẽ phần lớn do những người phụ nữ như Châu và tôi. Chúng tôi đã không giúp được cho bạn mình xóa hẳn cảm giác cô đơn. Chúng tôi không thích hợp trong vai những người vợ bình thường. Và càng không được như Chức Nữ, mỗi năm, được nắm lấy hạnh phúc thật của mình, dù chỉ một lần, trên nền quạ đen muồi bên dưới, và trong những cơn tầm tả mưa ngâu.

1994

Just like that, like a dream, I was standing amongst men and women of different colour skin, language. The first night in a strange country, as though to recognise how easy it was, for anyone to find their special wings. In the Indigenous Australian theatre the performers were huddled together laughing, skin pale and blue due to the cold, no different to the people I met in Pleiku when I was small. A woman with a face like Buddha, her Chinese attire encouraged conversation followed by disappointment because she couldn’t speak English and her interpreter was late. People from North and South Korea coldly stared at each other. A young Japanese woman, after sometime on the topic of Kobo Abé, gave me her card, and it turned out that she was a delegate from the United States.

My first impression of Australia was Adelaide, a beautiful city and its kind inhabitant. I missed home as soon as I got back to my hotel room perhaps because of the extreme cold and unfamiliar cuisines. First thing was to call Liên, who was a thousand miles away, but Liên will message our other friends. And the first call was followed immediately by a call from Quang, Vũ, Khiêm, Philip, Phượng and Bằng, then Dung and Lân. They all asked me to stay a few weeks after the conference since there might never be another opportunity for us to see each other again. Hearing that I had to go home to straight away to prepare for my imminent wedding, Quang burst out laughing, asked if it was the same guy “Fifteen years side by side and all that loving is just as new?” Eleven years three months and two days I corrected him. In the wistful tone of a wife like any other wife, I can accept all criticism, except for when it comes to children and marriage. The watch clocked zero hours, talk more tomorrow.

The phone rang at three. I picked up, on the other end of the line were sobs. The surreal sound of a man crying in the middle of the night felt as though it came from another world. I turned the light on and surround me was the odd contrast of smiling photographs. We were assigned to rooms in the student dormitories. They were on their summer holiday. The owner of my room had all kinds of art photographs, magazines books, musical instruments, shoes, personal affects on display. The crying did not stop for a whole minute. An unfamiliar voice spoke up:

“I’m Phiêu!”

It was suddenly clear! Before my trip to Australia, Châu asked me to check on Phiêu, without giving me an address or phone number. Châu impressed that Phiêu when he was in Vietnam he had roles like Hamlet, Othello, Khuất Nguyên, Từ Hải v…v… I did also just now asked Quang about him, Quang said the name was familiar and said he’ll pass it down the grape vine. It’s a small world. Before taking my flight, Châu reiterated, if Phiêu ask tell Phiêu that I’m fine. That’s it! Don’t add a modicum of anything else.

Lucky, so far Phiêu had not asked about Châu and he seemed as though he was a completely different man to the one who had been crying. Phiêu asked if I need anything? A translator? How are you getting around? Do you need someone to drive you? Warm clothes? Places you should go to get inspiration to write? I said I just miss Vietnamese food, “rau muống dằm cà” would be perfect.

I was joking, but after a meeting, I was told a couple have been waiting for me for almost an hour, they wanted to take me home for “rau muống dằm cà”. Đức and Hiền, the couple were friends of Phiêu. I dragged Julie along. Julie is the author of a couple of plays about Vietnam, Julie have been to Vietnam a couple of times, she adored Vietnamese women. A couple degrees not quite minus, the morning glory had never tasted better. Fish sauce included. An abundant assortment of unfamiliar to familiar vegetables, kinh giới, tía tô, rắp cá, dill, the leaves were bigger but the flavours were just as amazing as those back home. Especially the chilies.


Director Nguyễn Thị Minh Ngọc, born 5 August 1953 in Bà Rịa, Vietnam. She graduated from stage directing in 1980, trained as an actor at the Ho Chi Minh City School of Theater and Cinema and Tran Huu Trang Theater. She was a student of director Nguyen Tuong Tran (second generation disciple of Konstantin Stanislavski), trained as a cải lương performer with People’s Artist Phung Ha, and she trained many renowned native and international drama and cải lương artists like: Meritorious Artist Huu Chau, Huu Nghia, Hong Dao, Quang Minh, Meritorious Artist Huu Quoc, Meritorious Artist My Hang, Luong My, Mai Lan, Hoa Hiep, Xuan Trang, Thanh Phuong.

She taught the subjects of Screenwriting, Drama Theory and History of Vietnamese Theatre at several colleges and universities, co-founded the Experimental Directing Club (1985), staged about 30 traditional and contemporary plays, wrote about 70 traditional and contemporary plays for the stage and about 30 scripts for cinema, hundreds of episodes for television, several research works on theatre and reformed opera, attended many festivals, seminars, composed and researched on theatre and education in the country and in Australia, England, France, Germany, Tanzania, Norway, Sweden, Philippines, USA, Indonesia, and was the stage personality of the year 2004 voted by Vietnam Television.

She was an actress for the stages: 5B Vo Van Tan, Idecaf… The roles that the audience remembers: Otilia, The Chicken Raising Girl & The Old Girl (Du Luan Quan Chung), Aunt Ba Kim Duyen (Ngoi Nha Khong Dan Men), Grandma (Cau Dong), Grandma Ca & Grandma To Gia (Long Dang Do Cao), Grandma (Tam Nguoi Dan Ba), Crazy Audience (Thuong Hoai Ngan Nam), Grandma Hanh Ngo (Mot va cua toi?). The most recent role was Grandma Vu in the MV Tan Vo with Dam Vinh Hung and Nhan Phuc Vinh.[1] The performance “The Last Romantic” is a 60-minute solo performance made up of ten tragicomic monologues that Nguyen Thi Minh Ngoc used to illustrate her talks about theater at universities in and outside the country.

In addition, she is also a member of the Writers, Theater, and Cinema Associations, and is one of the 20 outstanding writers of Ho Chi Minh City selected by the Ho Chi Minh City Writers Association.

She is the first Vietnamese woman to bring Vietnamese works to the off-off Broadway stage in New York as an author, director and actress, including: Lost Woman (2008) and We Are… (2011). She was selected as the highlight of the Vietnamese International Film Festival (VIFF) in the US (2007).

In addition to documentaries about Nguyen Thi Minh Ngoc produced by VTV, HTV, Binh Duong, and Long An television stations, in 2015, director Hung Phuong made the documentary “Nguyen Thi Minh Ngoc – The Treasure Keeper of Gold and Jade” 19’36” long and won first prize in the “I Preserve Beauty” contest.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Lunatics | Nguyễn Văn Thiện

Art by Đinh Trường Chinh

A short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
 

Certain sickness like madness can be contagious. It can start with the smallest tiff. He might stand up suddenly from his seat, pull his pants down to scratch his balls say. An irritation that can not be unseen by a neighbour. This irritation step by step turns into ridicule, where eventually they would openly laugh at him. The contagious laughter unstoppable gain momentum, gets louder and louder, hehe, haha, people will choke with laughter. One after the other they would chase after him. The streaming piss zig zagging across the footpath. The entire neighbourhood follow each other, snaking through the streets and the alleyways. Out of their mind with laughter…

Such an episode would, of course, be noted and reported to the authorities, and of course, whoever is involved will be admitted into a mental institute for treatment. But, nearly most of these patients have no desire to follow these orders in a peaceful, docile, obedient manner. They prefer a more cheerful place other than a hospital. They would find ways to climb the fence or break the locks of their room. The whole process of chasing and capturing these patients is a tedious and time consuming. So after a few days, there is usually hardly anyone left at the mental facility besides a few orderlies. The patients would run freely in the street. They skip and they clap, singing one happy tune after the other. The craziest of the lot, after he is sick of singing, comes up with a most brilliant of ideas. He shouts: “Come, come on! Quick! Line up! Turn around!”. “What! Why?”. “Go home, get your knives, your machetes, your saw, or whatever, we must get ready to welcome our statesmen, our leaders, the politicians!” …

And it would not be long before the whole city is turned into an arena, the festivity would spread across the city in a full drive to “clean up the city”. A noisy clamouring of chainsaws, and broken branches. The craziest of them shouting orders like: “Quick, faster, the police are coming!”. These lunatics would chop down the trees along the boulevard like madmen. It will be a mess, it will be crazy!

After a couple of days, the city will be a warzone. Lunatics they may be, they’re human, they tire, so you would find them resting and sleeping on piles of leaves, some might be sitting around reciting poetry and or belting out folk songs. Not one of them would have a piece of clothing on.

At home, these mad women would serve dinner to their husband, children, neighbours, naked, letting all their bits hang out loosely and freely for everyone to see, without shame or embarrassment. There will be no such thing as order or social etiquette. They would cover themselves up with leaves the way we used to in our prehistoric era. Some turn large fronds into funnels to use as loudspeakers, howling like monkeys through them, in the middle of the street, in full hot daylight.

The doctors would be ordered to capture all the patients and return them to the hospital. But it will be no use. The patients oblivious to the situation ends up pulling the doctors along with them, the doctors holding hands with their patients singing and dancing in a circle in the middle of the street. Not long after that they would also take off their clothes, pick up pickaxes, chop down the trees like any proper woodcutter.

After chopping down all the trees the leaders will still be nowhere in sight. But by then no one will be bothered about leaders anymore. They would have already forgotten the reason why they are doing anything, why they start what they did. When one of them stumble on a nest in the rubble with a few dead birds. They would panick, scream at each other, stop, stop everything, there’s been an accident! A solemn memorial would be arranged right on top of the crumbling rubble. The most imposing of the crazy lot will stand tall, with eloquence and due affirmation, recite a verse of remembrance: The red-whiskered bulbuls have given their lives for the sake of the nation. Lips would quiver long before the end of the speech. Tears, pour. The entire city would be in complete silence, respectfully bowing…

The funeral is like fresh fuel for all the lunacy. The leader of the madmen would shout louder into the loudspeaker: “Look here my brothers and sisters, because of the heroic acts of these feathered warriors, we must continue to work harder than ever before. For our country, for humanity’s enduring peace and prosperity!”. The resounding cheers travels over the excited crowd. The gathered nudists all follow each other, they head for the river.

Dear God, they want to fill the river with soil!

Two madmen running alongside each other, expressing their joy. The first guy said: “I bet you don’t know why we’re trying to fill the river?”. The second guy replied: “Eh, easy man, we’re filling up the river so we can plant trees!”. “Then why did we chop down the other trees then?”. “Man, you’re stupid, we chop down the trees to commemorate the red-whiskered bulbul birds!”. Then they both chanted: red-whiskered bulbul, red-whiskered bulbul, red-whiskered bulbul. The bloke in front with his pointer and thumb flicked a painful blow at a red-whiskered bulbul perched on the guy behind him, before they both proceed to head for the river as though they are soldiers prepared to sacrifice their life in battle.

While I am trying to quickly write every I see down, the lunatics would have already finished filling up the river. Returning from the river passing the alley where I live, swearing, shouting out slogans, the echo of their scream overflows, covers the whole horizon. I will rush to the front gate to watch. One guy will point at me and shout: “We haven’t chopped down the tree on your head!” I would shout back: “There’s nothing there you crazy dumb ass!”. He pulls a couple of guys aside, laughs. One of them said: “He’s crazy, he’s got all this clothes on, with a tree on his head like that, what a fool! Take his clothes off, rip the tree off that fool’s head!”. They would drag me into the street, one guy will pulls my hair, twist my neck as he pulls out the tree on my head. The other two rips my clothes off. When they are done, they pull faces, make fun of me as they run off. I would chase after them, but they are faster, they are way ahead of me, slapping their pant less butt swinging their lewd bits, jeering, cackling.

I find myself also running, singing and laughing.

Thinking as I laugh and sing, no one knows who I am anyway!

So that is how it will all come to be, we will all run, we will all sing, and laugh together, slapping out butts now and then, naked, fools.

Lunatics.

Lũ người điên

Truyện ngắn của Nguyễn Văn Thiện

Có những căn bệnh rất dễ lây lan, như bệnh điên chẳng hạn. Lúc đầu, chỉ là cảm giác bứt rứt khó chịu từ một người. Hắn đang ngồi, tự dưng đứng phắt dậy, tuột quần ra gãi. Miệng cười méo mó, đái một vòng tròn quanh sân, rồi bắt đầu bước ra đường. Hàng xóm nhìn theo, tò mò, e ngại, lo lắng. Sau đó thì họ cười. Tiếng cười lây lan và mạnh dần, hi hi, hô hố, rồi sằng sặc. Cuối cùng, một số người đứng dậy, chạy theo hắn. Những vệt nước đái vẽ ngoằn ngoèo trên mặt đường. Cả xóm rồng rắn kéo nhau đi. Điên hết rồi…

Sự việc, đương nhiên sẽ đến tai chính quyền, và cũng đương nhiên, các đối tượng sẽ được đưa vào bệnh viện tâm thần chữa trị. Nhưng, hầu hết những người điên đều không thích được điều trị theo một phương pháp nhẹ nhàng đến nhàm chán. Họ thích chỗ ồn ã tươi vui hơn là bệnh viện. Họ tìm cách trèo bờ rào hoặc bẻ khóa ra ngoài. Việc đuổi bắt rất phức tạp. Vậy nên, sau mấy ngày, bệnh viện lại vắng hoe. Bệnh nhân lại chạy đầy đường. Họ vừa đi vừa vỗ tay hát bài gì đó vui đáo để. Gã điên nhất sau khi hát mỏi mồm bèn nảy ra sáng kiến mới toanh. Gã hét to: “Sắp hàng nhanh! Đằng sau quay!”. “Làm gì?”. “Về nhà lấy dao, ai có dao dùng dao, ai có rựa dùng rựa, ai có cưa dùng cưa, dọn dẹp thành phố để đón lãnh đạo về thăm!”…

Cả thành phố bỗng dưng trở thành công trường, nháo nhác vì chiến dịch “dọn dẹp thành phố”. Tiếng cưa rầm rầm, tiếng cành gãy răng rắc. Gã điên nhất vẫn luôn mồm quát: “Nhanh lên, lãnh đạo sắp về thăm!”. Những gã điên chặt cây như điên. Ghê thật!

Chỉ sau mấy ngày, thành phố không khác gì một bãi chiến trường. Lũ điên cũng có khi mệt, vậy nên, chúng nằm dài ra trên đám cành lá lộn xộn làm thơ và hát quan họ. Không đứa nào còn một manh quần manh áo..

Từ trong những ngôi nhà, những mụ điên cởi truồng mang cơm nước ra cho chồng, cho con, cho hàng xóm, tồng ngồng, thỗn thện. Chả còn ra thể thống gì nữa. Họ còn bày đặt bẻ lá cây che quanh mình làm như đang ở thời kỳ nguyên thủy. Có đứa lấy lá cây bàng cuốn thành loa đưa lên mồm hú như vượn hú giữa trưa nắng chang chang.

Các bác sĩ được lệnh xông ra bắt bệnh nhân quay về. Nhưng không ăn thua. Họ bị bệnh nhân quây lấy ngay giữa phố rồi nắm tay lại dắt chạy vòng quanh rồi hát hò. Một lúc sau thì các bác sĩ vui tính cũng cởi hết quần áo nhảy múa và vồ lấy rìu chặt cây như những gã tiều phu thứ thiệt. 

Chặt xong cây rồi mà lãnh đạo vẫn chưa thấy đến thăm. Nhưng không ai thắc mắc về điều này cả. Hình như họ quên mất lý do chính đáng ban đầu rồi. Một gã tìm thấy trong đống đổ nát một tổ chim có mấy con chim chết. Thế là chúng hò hét nhau, dừng tay, dừng tay, có tai nạn nghiêm trọng! Một lễ truy điệu nghiêm trang được tổ chức ngay trên mặt bằng bề bộn đổ nát. Gã điên vạm vỡ nhất đứng lên đọc diễn văn truy điệu, hùng hồn khẳng định rằng: Những chú chim chào mào đã hy sinh tính mạng vì lợi ích quốc gia. Bao nhiêu cái miệng cùng méo xệch sau khi bài diễn văn kết thúc. Bao nhiêu dòng nước mắt cùng nhỏ xuống một lúc. Cả thành phố lặng đi, kính cẩn nghiêng mình…

Sau lễ tang bất ngờ ấy, lũ người điên càng bị kích động tợn. Gã điên nhất hét vào loa: “Hỡi quần chúng anh minh, vì những chiến sĩ chim vừa hi sinh oanh liệt ban nãy, chúng ta phải tiếp tục hành động. Vì đất nước, vì hòa bình của toàn nhân loại!”. Tiếng hò reo vang dội hưởng ứng. Cả đoàn người trần truồng kéo ra phía bờ sông. 

Trời ơi, chúng nó đi lấp sông!

Hai gã điên vừa chạy cạnh nhau vừa vui vẻ trò chuyện. Một gã nói: “Tao đố mày, ta lấp sông để làm gì?”. Gã kia đáp: “Trời ơi, hỏi dễ quá, lấp sông để trồng cây!”. “Thế ta vừa chặt cây để làm gì?”. “Mày hỏi ngu thế, chặt cây để truy điệu chim chào mào!”. Rồi cả hai cùng cười và hát vang: chim chào mào, chim chào mào, chim chào mào. Thằng chạy trước thò tay ra búng một phát vào chim chào mào thằng chạy sau rồi cả hai lao xuống sông như những cảm tử quân xông trận.

Khi tôi đang viết những dòng này thì bọn người điên đã lấp xong sông. Chúng kéo về qua ngõ nhà tôi, hò hét, văng tục và hô khẩu hiệu vang trời. Tôi chạy ra trước cổng dòm. Một gã chỉ tay vào tôi nói: “Trên đầu mày có cái cây chưa chặt kìa!”. Tôi nói: “Không có đâu, đồ điên!”. Gã kéo thêm mấy thằng khác đứng lại, nhìn tôi cười ngặt nghẽo. Một đứa nói: “Cái lão điên này, mặc quần áo như thật, trồng cây trên đầu như thật, ghét thế! Lột quần, nhổ cây của nó đi chúng mày!”. Thế là bọn chúng vật tôi ra đường, vò tóc, bẻ cổ tôi để nhổ cái cây trên đầu. Hai thằng khác lột hết quần áo tôi. Xong xuôi, chúng nó chạy, vừa chạy vừa lêu lêu. Tôi đuổi theo, nhưng chúng chạy nhanh hơn, chúng chạy trước, tuột quần ra vỗ vỗ ra chiều trêu ngươi thích thú.

Chúng vừa chạy vừa hát vừa cười.

Tôi nghĩ, có khi mình cũng phải cười và hát, có ai biết mình là ai đâu!

Thế là chúng tôi vừa chạy vừa cười vừa hát, thỉnh thoảng lại vỗ vỗ vào mông, trần truồng, ngớ ngẩn.

Như một lũ người điên.


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

Nguyễn Thị Minh Ngọc. foto by Lân Trần

Tác Phẩm Nguyễn Thị Minh Ngọc
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch


Director Nguyễn Thị Minh Ngọc, born 5 August 1953 in Bà Rịa, Vietnam. She graduated from stage directing in 1980, trained as an actor at the Ho Chi Minh City School of Theater and Cinema and Tran Huu Trang Theater. She was a student of director Nguyen Tuong Tran (second generation disciple of Konstantin Stanislavski), trained as a cải lương performer with People’s Artist Phung Ha, and she trained many renowned native and international drama and cải lương artists like: Meritorious Artist Huu Chau, Huu Nghia, Hong Dao, Quang Minh, Meritorious Artist Huu Quoc, Meritorious Artist My Hang, Luong My, Mai Lan, Hoa Hiep, Xuan Trang, Thanh Phuong.

She taught the subjects of Screenwriting, Drama Theory and History of Vietnamese Theatre at several colleges and universities, co-founded the Experimental Directing Club (1985), staged about 30 traditional and contemporary plays, wrote about 70 traditional and contemporary plays for the stage and about 30 scripts for cinema, hundreds of episodes for television, several research works on theatre and reformed opera, attended many festivals, seminars, composed and researched on theatre and education in the country and in Australia, England, France, Germany, Tanzania, Norway, Sweden, Philippines, USA, Indonesia, and was the stage personality of the year 2004 voted by Vietnam Television.

She was an actress for the stages: 5B Vo Van Tan, Idecaf… The roles that the audience remembers: Otilia, The Chicken Raising Girl & The Old Girl (Du Luan Quan Chung), Aunt Ba Kim Duyen (Ngoi Nha Khong Dan Men), Grandma (Cau Dong), Grandma Ca & Grandma To Gia (Long Dang Do Cao), Grandma (Tam Nguoi Dan Ba), Crazy Audience (Thuong Hoai Ngan Nam), Grandma Hanh Ngo (Mot va cua toi?). The most recent role was Grandma Vu in the MV Tan Vo with Dam Vinh Hung and Nhan Phuc Vinh.[1] The performance “The Last Romantic” is a 60-minute solo performance made up of ten tragicomic monologues that Nguyen Thi Minh Ngoc used to illustrate her talks about theater at universities in and outside the country.

In addition, she is also a member of the Writers, Theater, and Cinema Associations, and is one of the 20 outstanding writers of Ho Chi Minh City selected by the Ho Chi Minh City Writers Association.

She is the first Vietnamese woman to bring Vietnamese works to the off-off Broadway stage in New York as an author, director and actress, including: Lost Woman (2008) and We Are… (2011). She was selected as the highlight of the Vietnamese International Film Festival (VIFF) in the US (2007).

In addition to documentaries about Nguyen Thi Minh Ngoc produced by VTV, HTV, Binh Duong, and Long An television stations, in 2015, director Hung Phuong made the documentary “Nguyen Thi Minh Ngoc – The Treasure Keeper of Gold and Jade” 19’36” long and won first prize in the “I Preserve Beauty” contest.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

I didn’t know what I did can you explain it to me? | Lê Vĩnh Tài [351]

Lake Kawaguchi-ku 2010. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A short story in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

I’m trying to deal with the cracks all over my body, so please try not to break me.

I once had a bottle on a wall. It was a brilliant green. I’m fairly sure it was the loneliest bottle I’ve ever seen. It’s all alone on the wall, day and night. As I look out the window, it’s always within my point of view. Then one day, there was this cat, it appeared out of nowhere, bumped into the bottle on the wall and the bottle fell. When the bottle hit the ground, the noise was unbelievable, it was very loud.

Bits of green shattered shards of glass were scattered everywhere, all over the ground. Soon after, I could hear the cat crying, I knew then, it was injured. I saw with my own eyes its paws were sticky with dirt and blood. The bottle to begin with was harmless on the wall, only a bump and it was dangerous.

I watched you smile at me in the huge chair, as your fingers played with the soft strands of hair on your head. You reminded me of the green glass bottle on the wall. It was harmless to start with, but now you’re the cause of my pain.

Now, each time I look at the wall, I’m full of regret, I’m breathless as the gap between heaven and earth closes up. Hence, when I turned my head to look at you, I was confused, I didn’t know what was happening I didn’t know how all this had come to be, I began to fall the moment I saw how the heavens were moving further and further away.

Thus, for a long time, I couldn’t write, I could not compose a single poem, because I had so much time and none at all, all at the same time. In truth, I had nothing to say, what I wanted to say, brought me no joy. My fingers continued to noisily tap on the keyboard but I had no idea what I was typing. The constant tapping on the keyboard sounded like the reverberating shattering sound of a glass bottle hitting the ground. You said: it sounded like life.

_____

September 2022

BẠN CÓ THỂ CHO TÔI BIẾT TẠI SAO, VÌ TÔI KHÔNG BIẾT MÌNH ĐÃ LÀM GÌ KHÔNG? 

cơ thể tôi đang đối phó với những vết nứt, nhưng bạn đừng làm tôi vỡ vụn.

vì đã từng có một cái chai trên tường. Nó rất xanh. Tôi dám chắc đó là cái chai xanh cô đơn nhất mà tôi từng thấy. Nó lẻ loi trên tường, cả ngày lẫn đêm. Khi tôi nhìn ra cửa sổ, nó luôn ở trong tầm mắt của tôi. Rồi một hôm con mèo xuất hiện, vô tình đã chạm vào làm nó rơi khỏi bức tường. Khi cái chai rơi xuống, nó tạo ra một tiếng kêu rất lớn.

những mảnh vỡ của cái chai màu xanh lá cây rải trên khắp mặt đất. Sau đó, con mèo kêu lên và tôi biết nó đã bị thương. Rõ ràng tôi thấy bàn chân của nó dính đầy máu và bụi bẩn. Cái chai lúc đầu không nguy hiểm chút nào nhưng sau một cú va chạm và rơi, nó trở nên rất nguy hiểm.

tôi nhìn bạn mỉm cười với tôi trên chiếc ghế bành lớn, những ngón tay của bạn lướt qua những lọn tóc mềm mại của bạn. Bạn làm tôi nhớ về cái chai màu xanh lá cây. Ban đầu, bạn vô hại, nhưng bây giờ bạn làm tổn thương tôi.

nếu tôi nhìn lên bức tường, tôi sẽ hối tiếc vì khi mặt đất đến gần bầu trời hơn sẽ làm tôi ngạt thở. Vì vậy, tôi quay nhìn lại bạn và nhớ tại sao mọi thứ lại thành ra như vậy, tôi đã rơi xuống ngay từ đầu khi tôi nhìn bầu trời xa dần.

do đó tôi đã không viết một bài thơ nào trong một thời gian dài, vì tôi có thời gian và tôi không có thời gian cũng trong cùng một lúc. Thật ra tôi không có lời nào để nói, những lời tôi cần nói, không phải là câu chuyện vui. Bàn tay tôi đã di chuyển các ngón tay lên bàn phím nhưng tôi vẫn không biết mình đang gõ gì. Tiếng gõ phím của tôi nghe như tiếng của các mảnh chai vỡ. Bạn nói: nghe giống như cuộc sống.


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Here’s some brutal honesty. | Nguyến Thị Phương Trâm

No different to elitists, those who are good translators do not need accolades, their work is their reward, they live it. Those who believe they are gods succumbs to mere popularity(the comrade’s way), they are slaves to fame “Do you know who I am!”..

So many people who have sold their soul for so little. They do not understand the word integrity.

But, each to their own. Just fuck off and leave me alone. I don’t need that kind of shit around me. If you want to intimidate me. Grow a pair of balls first or at least have talent. Otherwise piss off and do not waste my time.

Who ever wants to tell me to “calm down” can just as well FUCK OFF! I’m not 5 and neither are you. GROW THE FUCK UP! MY CHILDREN DID. TAKE ALL THE FUCKEN SCREEN SHOTS YOU WANT.

Honesty is not a sin. But what is sinful is a man who has no talent and loves paying for sex. 🙂

Animal Sacrifice | Trần Băng Khuê

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Trần Băng Khuê

Published on GOBBLERS & MASTICADORES

Truyện ngắn

Vật tế

1.

Mù sương.

Không lửa. 

Khói.

Có khói. Khói bỏng mắt. Cay môi. Xồng xộc chạy theo cuống phổi vấp ngã trong thanh quản. Những âm thanh đùng đục thoát ra từ cuống lưỡi rồi bục thẳng vào khói. Như một khối ung nhọt, bị dồn nén lâu ngày được bung vỡ sung sướng. Trời vẫn mù sương khi ánh sáng đã lọt xuống, thủng cả một khoảng trắng trong không gian kì quặc này. 

Một lũ người quỷ ám hình dạng mờ ảo thoắt ẩn thoắt hiện trong sương mù. Hẳn sẽ nắng gắt lắm đây. Xuân thứ ba mươi mấy, năm của những con giáp bị người ta vặt lông làm vật cúng tế chào đón thời gian không chút thương xót. 

2.

Đợi đám đông di tản, nới rộng vòng tròn vây phủ, những người lạ mặt (tôi gọi đó là những người lạ mặt, vì họ có những khuôn mặt rất lạ, không giống mặt người) mới tiến gần lại giàn lửa thiêu. (trên giàn không có củi, không có chất dẫn cháy, không đuốc lửa cầm tay). Đám đông vừa mới nới rộng vòng tròn, lại tiếp tục dồn vào địa điểm ấy, tò mò hướng những ánh nhìn về phía vị trí chứa vật tế. Tôi, đứng giữa đám đông, tôi di dời theo đám đông. Và, chính tôi, cảm thấy mệt mỏi chán chường cuộc di dời lặp đi lặp lại của đám đông. Vây bủa, tản ra, rồi lại vây bủa, tản ra. Hò hét. Câm lặng. Rồi lại hò hét. Đám đông luôn luôn kì quặc đến mức không thể nào chịu nổi, theo như tôi nghĩ. Ấy vậy, tôi vẫn bị lôi kéo vào những cuộc chơi của đám đông, chỉ vì sự tò mò hồn nhiên của mình. 

Dẫu thế, ngay khi tôi hồn nhiên hùa theo cuộc chơi của đám đông trong buổi mù sương tờ mờ này, thì chính nó, những hiện cảnh kì quặc trên giàn tế ấy đã gợi một thứ cảm giác nào đó chơi vơi, buồn rơi nước mắt. Tôi có thể thấy những giọt nước mắt không nhỉ? Nó giống sương không nhỉ? Làm sao để tôi nhận ra đâu là nước mắt, đâu là sương là khói?

Tôi quyết định rời bỏ đám đông. (Tôi không thuộc về họ). 

Tôi là tôi. Ngay chính khi này, tôi vẫn muốn khẳng định rằng tôi phải là tôi. Một cá thể riêng biệt, buồn bã, đầy rẫy nỗi niềm sầu muộn ư? 

Tôi là tôi. Kẻ bị ruồng bỏ trong một ngày mù sương, đầy khói mà tôi biết, tôi nhớ. Thứ mù sương lạnh lẽo. Thứ mù sương hãi hùng cơn mê ẩn nấp những nguy cơ chết chóc, mất mát nào đó đã được dự báo trước. Ở giữa đám đông, tôi vẫn là tôi. Đám đông không chạm được vào tôi. Nhưng, tôi thì chạm được vào họ. Bằng tiếng thét, bằng những không gian ảm đạm, bằng chính cuộc chơi kì quặc của họ, và bằng chính sự vô hình của tôi. Dù rằng, lúc này, tôi cũng đang rất tò mò về sự biến kì quặc trước mặt mình trong sương khói vây phủ của sáng hôm nay. 

Một quang cảnh trống rỗng, cùng với một đám đông diễn trò bao vây, rồi sau đó tản ra, và lại ùa vào hét lên những tiếng bùng bục trong cổ họng. Tất cả chỉ có thế. Tôi chẳng hề thấy thứ gì hiển hiện hữu hình và ắt phải cầm nắm tóm bắt được. Ấy vậy, buổi tế vật dường như vẫn sẵn sàng ngay trước mắt tôi một cách đầy hứng khởi. Vài người khoác bộ cánh chỉnh tề tay cầm những tệp giấy có chữ (chắc chắn phải có chữ, nếu không họ sẽ phải làm gì cho việc bắt đầu buổi tế?). Một gã trẻ măng khệnh khạng từng bước chân đi chính giữa các vị ấy, đưa cao tệp giấy lên soi dưới mặt trời. Tệp giấy nghiêng nghiêng rồi phụt khói. 

Sương đã tan. Nắng đã bắt đầu gắt và bốc lửa. Nắng xuyên qua chữ. Những cái bóng in lên mặt đất. Bóng người chập choạng va đập vào nhau. Bóng chữ oằn xuống cong vẹo các kí tự viết tắt mà tôi kịp thấy chúng rơi tuột ra khỏi một trang giấy. Tôi nhìn theo bọn kí tự dưới đất. Chúng nhảy độp độp, như gõ lên nền đất thịt những thanh âm kì lạ. “có phải chúng đã vượt thoát”, (như tôi). Tôi nghi ngờ, rồi tự khẳng định lạc quan, rằng: “chúng sẽ vượt thoát sớm thôi, nhanh chóng thôi, chúng sẽ rời khỏi những trang giấy vô nghĩa làm nên các loại chuẩn tắc không kiềm giữ nổi căn tính của giống loài”.

Những kí tự vẫn tiếp tục rơi xuống, một vài chữ trong số chúng nằm lặng yên trên mặt cỏ đẫm sương như nước mắt và không hề có ý định nhúc nhích, rời đi. “Cỏ khóc đêm thâu. Mộ phần nằm sâu không chôn chặt được cái chết nổi trôi lên mặt đất”. Tôi lẩm bẩm, trong cơn mê mộng, đưa mắt nhìn về phía giàn tế trống rỗng một lần nữa. Đám đông vẫn tiếp tục vây bủa nhau, rồi tản ra, rồi hò hét, rồi câm lặng. Khói vẫn cuộn tròn phả lên đến tận mây xanh. 

3.

Tôi đăm chiêu quan sát những kí tự rơi vãi. Chúng vẫn nằm yên, tuyệt nhiên không hề động đậy. Tôi rời xa đám đông, đứng về một phía không có nắng. (Tôi sợ nắng. Tôi sợ mặt trời. Tôi sợ lửa. Tôi sợ cả khói). Một loạt những nỗi sợ hãi trào dâng lên trong lòng tôi cuồn cuộn như cơn sóng đập rộn rã ngoài khơi. Tôi nhớ sóng. Nhớ rằng tôi có lần đã được nằm nghe tiếng sóng rất thật qua nhịp tim của mẹ. Vậy mà, trong lúc này, khi tôi đang tò mò dấn thân vào một cuộc tế lễ kì quặc thì tôi lại thấy tiếng sóng bất giác trở thành một nỗi sợ hãi bám riết dưới ánh mặt trời. 

Tôi trở về với không gian trải ra trước đôi mắt trong như giọt sương sớm, ngắm nghía những kí tự rơi vãi. Chúng bắt đầu có động thái nhúc nhích. (Hẳn chúng cũng hào hứng với cuộc tế lễ kì quặc này). Tôi vừa dõi theo chúng, vừa nghĩ ngợi tiếp về mẹ, về sóng. Mẹ ở đâu nhỉ? Sao mẹ lại xuất hiện ngay chính khi tôi đang bận bịu rong chơi giữa mùa xuân, với những cuộc phiêu lưu kì thú trong vài hiện cảnh nhập nhoạng sáng tối của thế gian nhỉ? Tôi nghĩ về chữ Mẹ. Kí tự M. (Có thể là mẹ. Hoặc không). Dù gì tôi cũng chưa thấy mẹ bao giờ. Tôi chỉ biết mẹ qua tiếng sóng. Nhịp tim của tôi. Máu của tôi. Máu của mẹ. Máu của đại dương ngờm ngợp đêm sâu. Rồi, tôi lại nghĩ về một ý nghĩa khác của chữ M. (có thể là máu. Hoặc không). Máu tràn lênh láng sau cuộc sinh nở của một người đàn bà chẳng hạn. Tôi nghĩ về tôi. Là tôi trong một đêm sương lạnh chưa đủ hình hài. 

Bất giác những tiếng hét bùng lên, vỡ ra rồi câm bặt. Tôi giật mình, rời bỏ dòng ý nghĩ miên man không ai hay biết, tiếp tục hướng về cuộc chơi của những con người đủ hình hài kì quặc. 

Đám đông, cùng với những kẻ có khuôn mặt quái dị và giàn tế (không củi, không lửa, không thấy vật tế) vẫn đang tiếp tục trò chơi. (thôi, tôi gọi là trò chơi, chẳng ai dạy tôi gọi nó là một buổi tế lễ). Có thể nó chỉ là sự hình thành từ thứ nhận thức bất chợt. “Cuộc chơi của họ là gì thế nhỉ?”, nghĩ mãi, tôi cũng không hiểu, tại sao chỉ có một đám đông, một giàn tế không củi, không lửa, không cả vật tế. Ấy thế mà buổi tế vật vẫn kiên quyết diễn ra đầy sôi nổi, hắc khí đen nghịt quấn riết những đám mây một ngày nắng đẹp. Bỗng dưng, tôi thấy chán. Cơn chán chường này thường xuyên đến với tôi, mỗi lần tôi không còn hào hứng với trò chơi mà tôi chỉ vừa mới nhập cuộc. Chúng ngờm ngợp trong hơi thở vô hình của tôi. 

4.

Một ngày nắng đẹp. 

Tôi nghĩ, tôi phải rời đi, tôi phải rời khỏi nơi này ngay khi còn có thể chịu đựng cơn chán chường đầy nghịch lí này. Tôi rời bỏ giàn tế, tôi rời bỏ đám đông, tôi rời bỏ những tiếp diễn của một buổi lễ kì quặc mỗi mùa xuân ở phía trước. Tôi muốn tách biệt hẳn khỏi đám đông để được lặng yên ngồi trên những mộ cỏ suy tư về những điều tôi thấy. Mộ cỏ trầm uất từ đêm tối đến giờ khi tôi rời đi để rong chơi một mình. Mộ cỏ đẫm sương đã bị nắng gắt làm héo khô mất vẻ tươi xanh ẩm ướt. 

Dù đã rời bỏ giàn tế, nhưng tôi, dường như tâm trí tôi vẫn không rời bỏ khỏi những thứ tôi đang tưởng tượng. Cuộc chơi ấy sẽ diễn ra như thế nào nhỉ? Họ sẽ làm gì tiếp theo với một giàn tế không củi, không lửa, không vật tế, chỉ có một đám đông, một nhóm người hành lễ mang khuôn mặt kì quặc mà tôi lần đầu tiên được thấy trên đời. Tôi lại nghĩ về mẹ, về tiếng sóng. Tôi không biết khuôn mặt của mẹ. Tôi chỉ nghe và nhớ tiếng sóng. Hẳn là hình dạng khuôn mặt của mẹ giống như sóng. Là sóng. Có khi nào mẹ là sóng. 

Trên mộ cỏ khô héo, tôi ngồi trên mộ cỏ khô héo cách xa không gian buổi tế lễ một khoảng ngắn, tôi nhận ra những kí tự, chúng đã rớt khỏi từ tệp giấy của những người hành lễ và đang tiến về phía tôi. Chúng vừa nhảy độp độp, vừa thở hổn hển trên mặt đất. Chúng lết đến bờ cỏ khô héo dưới ánh nắng mặt trời bỏng rát. Hiện thực rõ ràng nhất. Ấy thế, mắt tôi vẫn mong tưởng về những mảng cỏ tươi xanh đẫm nước (đó là tôi mường tượng, chẳng có bờ cỏ xanh mượt nào còn ướt mềm sương dưới mặt trời nửa buổi). Những mong tưởng của riêng tôi luôn luôn mâu thuẫn, đối nghịch với hoài nghi. Tôi hoài nghi chính tôi. Tôi hoài nghi mặt trời. Tôi hoài nghi ánh sáng. Tôi hoài nghi những cuộc chơi kì quặc của đám đông nọ. Vậy mà, tôi vẫn muốn được tham gia, muốn biết điều gì xảy ra trong cuộc chơi đó. Lạ kì thật. Bất giác, tôi cảm thấy một nỗi buồn vô hạn xâm chiếm lấy linh hồn bé bỏng ngây thơ và thèm khát khám phá thế giới này. 

Tôi không tiến gần đến đám đông, đến giàn tế nữa. Tôi muốn ngồi đây để quan sát đám kí tự vượt thoát khỏi tệp giấy kia xem cuộc chơi của chúng. Kí tự C chổng ngược vành chữ thành hình cánh cung, trên mây có một con chim lạc bầy liệng chấp chới hoang mang rồi rớt phịch xuống mặt đất, ngay cạnh tôi. Tôi nâng cánh chim non bị thương lên, vài giọt máu rỏ xuống, mộ cỏ héo khô bỗng dưng tươi xanh trở lại như vừa đẫm sương. Chim non đã chết. 

Tôi cúi mặt tìm các kí tự khác. Hẳn là sẽ còn những kí tự khác thoát ra từ tệp giấy. Kia rồi, L chậm chạp không thể nhảy lộp độp như C, đang tiếp tục tiến về phía tôi. L dừng lại, nằm xuống vệ cỏ và khóc. Tiếng khóc như giun như dế, như ong như ve, như muỗi vằn giữa đêm khuya lên cơn khát máu. Tôi biết đó là một tiếng khóc, tiếng khóc câm. Chúng nén chặt trong cổ họng tôi, khiến tôi đau đớn. (Tôi chưa được khóc thành tiếng bao giờ). Dù vậy, lúc này, tôi lại nghĩ về tiếng sóng. Có khi đó là tiếng khóc của tôi. Rồi, tôi lại bận lòng đuổi theo những suy nghĩ, những ám ảnh về các vòm cổng vào nhà hình chữ L. Chúng chỉ mang lại sự chết chóc. 

Mải mê với những kí tự đang hiển hiện xung quanh mình, tôi quên mất đám đông và giàn tế hồ như vô hình trước mắt. Hiện tại của tôi là những kí tự kia, những chữ cái đã rơi ra khỏi các trang giấy trắng ngờ nghệch. Tôi muốn biết sẽ còn kí tự nào khác tiếp tục cuộc chơi vượt thoát đặc biệt này. Dưới lòng bàn chân tôi, nhồn nhột, (ấy là tôi tưởng tượng, những ngón chân tôi không đủ hình hài tròn trịa của tôi), chúng cựa quậy, rồi một thứ gì đó hơi cộm lên. Tôi nhích bàn chân khỏi mộ cỏ, tháo rời xác thể mây khói ra khỏi mọi ràng buộc để cảm nhận rõ hơn sự tồn tại của một thứ kì lạ mà lần đầu tiên tôi biết rằng nó có thực trên đời. Tôi cúi xuống thấp hơn, một chữ V góc cạnh, chỉa thẳng lên, chạm vào hình dáng ngón chân lớn nhất của tôi. (ngón chân lớn nhất của tôi). Chữ V không biết bằng cách nào đã tiếp cận được tôi. Chữ V khiến tôi buồn. Nỗi buồn dưới lớp da không hiển thị. Lớp da chưa kịp thành hình thành dạng như bao kẻ khác. Nỗi buồn luồn sâu vào phía trong, thấm nhanh vào máu thịt ảo ảnh. Rõ ràng, tôi đã cố tình bỏ quên những vấn đề liên quan đến sự tồn tại khả hữu của bản thân mình. Vậy mà tôi vẫn chẳng thể nào ngừng đặt một dấu chấm hỏi về tôi, về mẹ, về những tiếng sóng chập chờn thoắt ẩn thoắt hiện trong từng lớp ký ức ảo diệu.

Tôi nhặt chữ V lên, tôi ngắm nghía nó dưới ánh nắng vừa lẻn xuống từ những đọt mây xám trên đầu. Bất chợt từ trong đám đông ở phía giàn tế những tiếng thét thất thanh đau đớn như có kẻ bị đốt chết. Không, giàn tế vẫn lặng im chưa thắp lửa. (không có củi, không vật tế, không chất dẫn cháy), làm sao cơn đau vang vọng tới tấp đến như thế được. Tôi tò mò, (rồi, có khi tôi cũng phải tò mò về sự hiện diện của vô khối thứ kì quặc tồn tại xung quanh mình). 

5. 

– Lửa. (đã bắt đầu có lửa)
Ngọn lửa từ trên núi vừa ào xuống. Chúng tuôn ra. Chúng chảy tràn ra như suối. Lửa biến thành biết các hình khối đặc quánh, lửa hóa gió, nhanh như gió nung đốt mọi thứ trên đường tuôn chảy của chúng. Lửa trồi lên, sụt xuống. Rồi hất tung những bó hoa lửa về phía đám đông, tạt vào giàn tế không củi, không chất dẫn cháy. Và cháy. Lửa bủa vây tạo hình thành một vòng tròn. Đám đông dạt hẳn ra khỏi vành lửa. Đám đông bắt đầu hát. Những kẻ lạ mặt tề chỉnh xiêm y bắt đầu gọi tên vật tế.
– nước.
Nước. [đám đông đáp lời]
– đất.
Đất. [lầm lũi đáp]
– cây [đám đông cướp lời]
Trăm năm bật gốc.
– biển
Cá khóc lên bờ [đám đông đáp lời]
– lúa
Lúa đương thì con gái. [đám đông lại đáp lời]
– ớt
Cay. [đám đông dụi mắt đáp lời]

Đốt.
Đốt.
Đốt.

Đám đông vốc rồi lại ném. Vốc rồi lại ném. Ném vào trong lửa. Ném vào giàn tế. Đám đông hào hứng ném. Lửa hừng hực cháy. Những con người kì quặc căng giọng ra quát và hét. Lửa càng cháy mạnh. Đám đông càng vốc vội các vật tế được gọi tên và ném cật lực cho đến khi kiệt sức. 

Gã trẻ măng cầm tệp giấy mà tôi nhớ có dáng đi khệnh khạng ấy vừa tiếp tục cất giọng gọi tên một vật tế khác. Lòng bàn tay tôi nắm chặt mẫu tự V. Tôi căng tai lắng nghe, dõi theo buổi tế kì quái ấy. Tiếng của đám đông gào lên mạnh hơn. Họ vừa gọi tên vật tế nào thế nhỉ? Hình như là nó, chữ V, (tôi câm lặng nhìn ngắm chữ V đã làm cho những ngón chân tôi biết đến cảm giác đau đớn sung sướng ấy)

Chữ V cựa quậy bật khỏi lòng bàn tay vô hình của tôi và rơi xuống đất. Chữ V nhảy độp độp thật nhanh về phía giàn tế, về phía đám đông và lũ người quỷ ám. Tôi đuổi theo chữ V, hòa vào đám đông, nhìn thật gần giàn tế. (vẫn không củi, không lửa, không thấy vật tế nào hiện hữu). Tôi ngơ ngác nhìn những cái bóng vây quanh mình đang hò hét, gào thét tên vật tế cuối cùng, “máu”.
Không một thanh âm nào bật lên đáp lại. Tôi nghe những tiếng máu rần rật chảy đâu đó, như thác, như lũ, như mưa. 

Ở phía giàn tế, máu xối xả được tạt vào trong lửa.
Máu chảy tràn xuống nằm dưới chân tôi. Chữ V bật nảy lên và nhanh chóng lao về phía đám đông, nhảy xổ thẳng vào giàn tế. Máu đang sôi. Mặt đất lênh láng máu và lửa như những dòng nham thạch từ trên núi đổ xuống. 

Chân tôi bết máu. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)
Chân tôi bết đất. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)
Chân tôi dính chặt vào nhau không tài nào tách rời ra được. (những ngón chân chưa thành hình của tôi)

Tôi muốn đi. Tôi bất giác muốn đi. Chập chững tập đi. 

(đi về đâu?)

Đi về nơi có tiếng sóng. Đi về nơi có mẹ. Mẹ tôi là sóng. 

Tôi muốn ê a đọc chữ. Từ chữ đầu tiên cho đến chữ V. (Chữ V tan biến) 

Tôi tan biến. (như chưa bao giờ xuất hiện). 

Tôi là một hình hài chỉ được nghe tiếng sóng qua nhịp tim của mẹ chưa đủ chín tháng mười ngày. Tôi không phải là tôi. Tôi là vật tế cho cuộc chơi của những người lớn. 

Giàn tế thực ở đó, ngay vạt đất đỏ đó vẫn còn sót lại vài dấu vết nhỏ. Máu khô. Đen. Và bám đều lên từng cành cây nhánh cỏ khô và héo dưới ánh nắng mặt trời gắt gỏng bỏng lửa xung quanh ngọn núi hoang buồn bã, cô độc. Đám đông cũng dần tan biến mất. Linh hồn tội lỗi di trú trong không gian cũ kỹ, lạnh lẽo. Linh hồn đáng thương nấp sau mộ cỏ đẫm sương như nước mắt lặng câm không được phép cất tiếng chào đời. 

Chiều tà, bóng phủ. Một màu đen kịt hào phóng buông thả thứ hắc ám quen thuộc lên bất kì vật tế nào mà nó thích. Đám gà trống cẩu thả gáy như điên loạn trong bóng tối. 

Giá mà ngày mai trời sẽ sáng. 

Animal Sacrifice

1.

Foggy.

Fire, no.

Smoky, yes.

The smoke. Burning the eyes. On lips, bitterness. The chase was on and the bronchioles were tripping over the larynx. The deep dense sound escaped from the foot of the tongue pointedly penetrated the smoke. Like an oozing ulcer, bubbling away for a long time to suddenly explode in a release of joy and glory. The sky hid behind the fog as the light filtered through, holes through the ghostly whiteness.

A group of devilish looking people emerged from the eerie fog. It’s going to be a very sunny and hot day. The thirtieth something spring, the year for those destined to have their feathers plucked and offered up as a sacrifice to time, without an ounce of sympathy.

2.

Waiting for the crowd to dissipate, the circle of onlookers widened, the strangers (I call them strangers, because they were very strange, their faces devoid of humanity) drawn to the sacrificial fire. (on the pyre there was no firewood, no fire starter, no torch). The same circling crowd edged their way towards the same spot, their curious eyes focused on the sacrificial altar. I was amongst the crowd, moving with the crowd. And, I was tired, and the repeated movement amongst the crowd was exhausting. Crowding together, to then dissipating, to again crowding, dissipating. Screaming. Silence. The crowd was persistently confounding to a point that it was unbearable, I thought. Yet here I was again, pulled back into the crowd due to the nature of my curiosity. 

Despite it being a matter of fact for me to run with the crowd, inside this undecipherable fog, the whole thing in itself, the strange things that took place on the sacrificial altar brought to the surface a state of emptiness, a sadness like crying. I wonder if I could see the teardrops? Do they look anything like dew drops? How will I be able to tell the difference between a drop of dew and a tear, smoke or the fog?

I made a conscious decision to leave the crowd. (I didn’t feel like I belonged).

I am me. Right at this very moment, I want to make sure I am myself. An individual, sad, full of sadness?

I am me. Someone who was abandoned in a fog one day, fully aware of the smoke, the memories. A chilling fog. A mesmerising frightful fog filled with hidden death traps, predestined loss. Amidst the crowd, I was still me. The crowd can not touch me. But, to me they were not intangible. Through the shrieks, the bleakness, through their strangeness, my shapeless existence. Even though, momentarily, I’m distracted by an odd curiosity wrapped up in a blanket of fog which took place in front of me this morning.

An empty space, with a bunch of people hovering, spreading out, to then again be in a hovel pushing and shoving, howling grunts from the back of their throats. It is just that. I have never witnessed anything so simple right in front of me. Yet in front of me, was an elaborate sacrifice. A couple of the official celebrants wore wings and held scrolls of written letters (there definitely has to be letters in them, otherwise how would they start the ceremony?). An awkward young man walked at the centre of the group of celebrants, lifting the scrolls high towards the sky awashed in sunlight. The scrolls shifted a little before it began to emit smoke.

The mist dissipated. The sunlight was now harsh and burning. The sunlight pierced the letters. Their shadows were imprinted on the ground. The flickering human shadows momentarily joined together. The shadows of each word stretched out intertwined with one another, the abbreviated characters on the page fell to the ground before I could even catch a glimpse of them actually falling. I watched the letters on the ground. They were jumpy, bouncing on the earth’s flesh giving off an unusual sound. “have they escaped”, (as I did). I was at first wary, then decided on being more positive, that: “sooner or later, they would have to, escape, they would have left those useless pages the making of some sophisticated language that could never hold up the identity of the species”.

The letters continued to fall, a few words amongst them lay silently on the grass damp with dew like tears with no intention of ever moving again, remained. “The grass wept through the night. The deep tombs couldn’t bury the death floating above ground”. I mumbled, dazed, and for the last time lifted my eyes toward the empty altar. The crowd continued to rub against each other, to then leave, to then shout, to then be silenced. Reaching the blue sky, the smoke continued to curl and rise in a spire merged with the clouds.

3.

I was mesmerised by the scattered letters. They lay there unmoving, not a single twitch. I’ve gone far away from the crowd, standing on the side, away from the sunlight. (I’m fearful of the sunlight. I’m fearful of the Sun. I’m fearful of fire. I’m also fearful of smoke). Sometimes the fear overwhelms me like the endless pounding ocean waves. I missed the waves. I remembered once how I was able to listen to the pounding waves, the same rhythm as my mother’s heartbeat. But, right now, my focus was caught up in this odd sacrifice and the sound of waves suddenly turned into a fear I couldn’t escape from under the glaring sunlight.

I returned to what was unravelling in front of my two eyes as clear as drops of morning dew, I admired each and every fallen scattered character. They appear to be moving ever slightly. (It was clear they were also excited by the same sacrifice). My eyes followed them, as I thought about my mother, and the waves. I wondered where my mother was right now at this very moment? Why did the thought of her appear out of nowhere in the middle of my busy schedule, in the middle of spring, when it’s time for games and frolicking, amongst these strange adventures within an undefined light and darkness of this world? I thought about the word Mother. The letter M. (It may represent the word mother. Or it may not). Since I’ve never seen my mother. I only know my mother through the sound of waves. My heartbeat. My blood. My mother’s blood. The blood of an ocean pulsating through the sound night. Then, I thought of a different meaning for the letter M. (It could be My blood. Or maybe not). The blood all over Me after My Mother gave birth to Me for instance. I thought about Myself. Me being formless on a cold foggy night.

Suddenly, there was a scream, all were silent. Startled, I abandoned the long strand of thought unbeknown to anyone, and continued to head towards the bizarre materialising human forms through the fog.

The crowd, and the demonic faces in front of the sacrificial altar (no wood pyre, no fire, no animal for sacrifice) waiting to see how everything might play out. (so sure, I called it a game, no one had told me it was ceremonial sacrifice). It could be some sort of perceived idea that had suddenly taken shape. “What is their game?” I pondered, and there was no answer, why was there only one crowd, one altar and no wood, no fire, no sacrificial animal. Yet the sacrifice went ahead with pomp and ceremony, the black gas continued to wrap itself around the clouds in the brilliant sunlight. Then just like that, I was bored. Such boredom often followed, after the exciting beginning of any of my new games. It’s always there hovering in my formless breath.

4.

One lovely sunny day.

I believed I had to leave, I must leave this place when I can still bear such spasmodic boredom. I walked away from the altar, I walked away from the crowd, I walked away from the activities of the sacrifice in preparation for the coming spring. I wanted to set myself apart so that I was able to sit on the barrow and ponder what I saw. The tumulus then became more sombre since the night I had left to be alone, to humour myself. The tumulus steeped in dew then was now arid in light of the harsh sun, devoid of its damp green freshness.

Even though I was no longer an attendant of the sacrifice, my mind was continuously drawn to it. How will the game unravel? What will they do with an altar without firewood, without fire, without animal sacrifice, nothing but a crowd, a couple devilish looking celebrants that in my entire life have never seen. I thought then of my mother, and the waves. I don’t know what my mother looks like. I could only recall hearing the sound of waves. Clearly my mother’s face was a picture of waves. Actual waves. What if the waves were actually my mother?

On the dry and withered barrow, I sat not far away from the ceremonial sacrifice, I was able to watch the letters, and saw what happened after they fell onto the ground from the scrolls in the celebrants’ hands, they were making their way towards me. The letters popping like popcorn on the ground, breathless. Under the blistering sun, they dragged themselves towards my mound of dead dry grass. What took place was as clear as day. Yet still, my eyes were dreaming of moist green grass (all of course in my imagination, there is no such thing as a patch of wet grass at noon). I was inflicted constantly with these incongruous dreams, the opposite to what was supposedly true. I was suspicious of myself. I was suspicious of the Sun. I was suspicious of the light. I was suspicious of the game those people were playing. Yet still, I wanted to participate, wanted to know how everything might turn out. The strangest thing. Then out of nowhere, an endless sadness overwhelmed me, I was a tiny pure soul thirsting for more and more of the world.

Again, I head towards the altar and the crowd. I wanted to watch the letters fall out of the scrolls and see what they might do next. The letter C stretched out like bowstrings pointing at the sky, swaying ever slightly, a startled bird flying far from its flock fell, kerplop to the ground, right next to me. I lifted the bird’s wing and a few drops of blood fell out, and the dry grass was suddenly green again, moist with dew. The tiny bird was dead.

Bending low, closer to the ground, I looked for more of these letters. More letters must have fallen from the scrolls. There was the slow and lethargic L, not energetic like C, was making its way towards me. L stopped, broke down on top of the grass, and started to cry. Its cries were much like that of tiny critters, like worms and crickets, like cicadas, like bees, like the blood-thirsting mosquitos in the dark. I was also fully aware that the cries were silent. The kind that gets choked up in my throat, the painful kind. (I have never audibly cried). Yet, there I was, thinking about the sound of those waves. Perhaps it was me who was actually crying. I would then chase these thoughts, these obsessions on the arched entrances of those L-shaped houses. They brought nothing but death.

Hypnotised by the letters around me, I forgot about the crowd and the sacrifice, indefinitely in front of me. I was momentarily distracted by the letters, by all the capital letters fallen from those baffling white pages. Wondering what other letters will fall out in this interesting game. I felt something tickling the pad of my feet, (all of this was in my head of course, my undefined toes, not fully formed roundly in my mind), they were wriggling, then I could feel there was actually something there. I shifted my feet on the tumulus, unravelling each smoky corpse at a time, confirming the possible existence of an encounter with the strange phenomenon for the first time ever in my whole life. I had a closer look, the pointy tip of the letter V, was pointing straight up, touching the bottom of what looked like my big toe. (my big toe). The letter V didn’t know what to make of me. The letter V made me sad. The sadness skin deep beneath my imaginary skin. The skin yet formed like everything else. The sadness penetrated deeper, infiltrating my imaginary bloodstream. It was clear, I had deliberately abandoned anything that has to do with my possible existence. And I did not pause for a moment to question my existence, my mother’s, or the reality of those quivering waves hidden in every layer of my awe-inspiring memory. 

I picked up the letter V, I admired it beneath the escaping light through the black clouds overhead. Suddenly from the crowd and the altar was a speechless shriek, it was as though some living thing was being burned alive. But no, the altar was in complete silence void of any kind of fire. (no firewood, no animal offering, nothing to kindle the fire), how could there be such an incredibly painful cry. I was now really curious, (like, anyone would be curious about anything which was strange around them).

5.

– Fire. (now there’s fire)
The fire descended from the mountain. An escalating flash fire. Overflowed like water in a spring. The fire taking up all forms, sometimes thick, sometimes much like the wind, a scorching wind which consumed everything in its path. The fire rose and then died out. Spitting amber rosettes at the crowd, sweeping over the pyre void of wood, void of fire starters. And it burned. The surrounding fire formed a circle. The crowd moved completely away from the circle of fire. The crowd began to chant. The strangers in ceremonial dress began to call out the names of what will be sacrificed.
– water.
Water. [the crowd replied]
– earth.
Earth. [the crowd replied all at once]
– trees [the crowd took the words out of the celebrants’ mouths]
Hundred-year-old uprooted.
– sea
Weeping fish out of water [the crowd replied]
– harvest
If not the harvest then the virgins.  [the crowd replied all at once]
– chilies
Hot. [the crowd replied as they rubbed their eyes]

Burn.  
Burn. 
Burn.

The crowd was picking and throwing. Picked and threw. Throwing whatever they could into the fire. Throwing whatever they could at the sacrificial altar. The crowd enthusiastically threw at the fire. The fire burned with passion. The strange-looking celebrants were shouting. The fire was burning even stronger than ever before. The crowd rushing picked and threw each item of sacrifice faster and faster with all the strength they could muster to the very moment they were spent.

The young guy with the awkward stride continued to call out each item of sacrifice one after the other. I tightened my grip on the letter V. Intently I listened for the next sacrifice, following every step of this strange sacrifice. The crowd was now screaming even louder. What was the last sacrifice they called out? It might be it, the letter V, (silently I admired the letter V that had brought so much pain and joy to my toes)

The letter V wriggled itself out of my shapeless hands and fell to the ground. The letter V hopped quickly towards the altar, the crowd and the devilishly possessed people. I chased after the letter V, merged with the crowd, eyes focused on the altar. (still with no firewood, no fire, no actual sacrifice). Confused, I surveyed the screaming people around me as they screamed out the last sacrifice, “blood”.

There was not a single reply. Then somewhere was the sound of blood gushing, poured like a waterfall, like flood water, like torrential deluge.

Blood was then thrown at the fire, at the altar of sacrifice.

The blood overflowing met my feet. The letter V quickly jumped, headed straight for the crowd, right onto the altar. The blood was boiling and bubbling away. The ground was glossy with sticky blood and the fire was like a flow of volcanic lava.

My feet were sticky with blood. (my unformed toes)

My feet were sticky with blood. (my unformed toes)

My feet were stuck together and there was no way of separating them. (my unformed toes)

I wanted to walk. I suddenly wanted to walk. I wanted to learn how to walk.

(walk to where?)

Walk towards the sound of waves. Walk to where my mother might be. My mother was the waves.

I want to learn how to ee a read the letters. Beginning with the first letter, which happened to be the letter V. (The disintegrating letter V)

I was disintegrating. (as though I was never there).

I was a manifestation that could hear the sound of waves through my mother’s heart yet fully nine months and ten days. I was not yet me. I was the sacrifice for a bunch of adults playing a game.

The real sacrificial altar, right at that patch of red earth, right where there were still remnants of evidence. Dried blood. Black. An even spatter on the branches and blades of withered dry grass under the scorching sunlight surrounding a sad, desolate and lonely mountain. The crowd gradually also disintegrated, disappeared. The sinful souls presiding in this ancient, chilly place. The pitiful soul hiding behind the tumulus damp with dew much like tears silent without ever being allowed to utter a word, to ever be born.

The late afternoon was a blanket of shadows. Something soundly black generously threw upon whatever sacrifice they deemed fit a familiar darkness. Within the chaos of the dark the roosters were frantically crowing.

Will there be light. Tomorrow.

July 2021

Trần Băng Khuê

Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Nets | Trần Băng Khuê

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Art by Trần Băng Khuê

I started seeing them everywhere.

In places I’ve lived or where I may have spent a few hours.

This time, I had to make sure it was not a dream or passing hallucination. I definitely saw them. Clearly, vividly, it was no surprise. They were  as tangible as though they were in 3-D. I didn’t see them with my eyes. I saw them clearly in my head. I thought, I should practice viewing my surroundings through my mind instead of conventionally through my eyes. The brain is more attentive. But then suddenly, I could no longer see them. They have left me. They were missing from a mind full of dreams. Mercilessly they have abandoned me. The sickly pale bluish nets, the connection between the sky and a parallel universe. The nets just there behind the wide opened door to the heart of a sea that was apparent in my mind.

Then again, when they were around, I would grow increasingly sick of the sight of them in my head, they seemed out of place, around these bony fingers were these twisted nets, stretched across everything, holding onto the intangible faith of their existence.

I, decided, to abandon the nets to embark on finer dreams.

Which means, I had to actively conjure up such dreams. Since, in truth, I knew, there was another world, another plane of existence. Between them were these intimate familial connections, hard to separate.

I began to dream about them.

When all my senses were fully on in these trances, they appeared, round and plump, giggling and playful, ready for action.

Then sometimes, they would irritatingly disappear, my mind was then left in a jittery mess, like Japanese ferns trying to climb up a wall without any kind of discipline or order, undefined in form and colour.

I thought of completely abandoning all my dreams.

The dreams perished the way they appeared without notice. I can no longer see them. After a couple of times gently hitting a few walls. They, the walls erected in my way and they; me and the dreams; and also I and myself. The unsung superhero, hidden behind the dreams, the apparitions, the hallucinations of sounds and voices.

I wanted it to consistently appear in my sleep. Even if it’s in a crumbling dark corner of existence. It was difficult to work out, but someone was trying to tell me something, before I was able to blink: “you need a dark corner. you need to crawl into it and hide”. The reason I continued to give in to the voices every night was probably because I needed that very dark corner. I need to find it, to ask the most oblivious question ever: “Why,  why were there such things in this world?”

A place that couldn’t be darker compared to the sky tonight. I needed it to show up so it may confine me. I wanted to hide from the nets. They come in red, they would often chase me, to then capture me. A giant net. I had to remember, remember to hide from them, from the nets that had a mind of their own, they knew how to laugh, tease, stick out their gruesome long red tongues, and made fun of me. Now and again, I would try to put my foot down, stand my ground, I refuse to be threatened by them. Still, it felt as though at times it was impossible to escape the fear, the demonic nets, it felt  as though someone or something had a hold on them, invisible hands were manipulating them, they were like marionettes. I thought, clearly “they deliberately hid their identity, but wanted to connect with me, by weaving a web that would slowly confine and trap me, eating up my time, squeeze the life out of me”.

I’m still looking for a place to hide. Especially, since, at a time like this I needed to find a way to dampen the unexplained fear that sometimes causes my legs to shake uncontrollably. The world has suddenly become more difficult to understand and more unstable compared to what I’m used to since the day I came into this world. The world is now more like these nets. All around me the overwhelming selfishness in every pair of wary suspicious eyes. They climbed on top of each other. The lingering sardonic faces, the hate. In front of me, they growl, they bicker, they threaten each other, and I’m sick of it. Sometimes carelessly I would shrug off such laden sound-sadness in blows awaken my heart, naturally once all that I may feel were stripped away painstakingly slowly in the most pathetic pitiful way possible from my very core, to then perish completely.

This afternoon, I have no need for my stylish white washed walls, nor did I need the unearthly lights I used to adore.  I wanted my vision to focus on the yard where we hung our laundry, where resides an ancient wood stove blackened in layers of smoke and ash. (still blackened and charred with layers of smoke). It made me think about the tiny storage my mother housed everything in at the very back of the house. As it turned out, all the small things are the things which truly count. They are more of a sure thing than those sharp pointy nets constantly trying to entrapped me and my world.

But because it is what it is, it was impossible for me to escape it.

Back against the mountain. From the veranda where I’m standing, I could see the entire city. Dusk was long gone, and night had taken over. But tonight everything was surreal in my eyes. Sadness ruled. They stretched their legs, throwing nets all over the valley, and those oblivious to the world or rather deliberately oblivious. Home, a temporary place housing life and death. What’s there at all for people to show off or be boastful and excited about. The sad, pale and sickly condition was evident on their faces. Presently, the imposing noise and chaos piling on top of each other, the noisy sound of funeral pipes in the alley by our house, the vivid dreariness against the spine of the mountain.

Time has washed away so many years, the nets continued to hold on tightly, manipulating, confining me. Now and then they would change their tactic, change the conditions. Nothing, but whitewashed walls merging over each other periodically deceiving the tenants in them. They push their way into my field of vision, into my heart, slipping and crawling on my lips like the endlessly exploding droplets of salty sea water night after night without rest returned over the choking, crashing, overwhelming waves. Waves could be as choked up as pain is choked up latching onto the lapel on your shoulders, the sticky mess latching onto every fibre, with no way of ever being completely removed. My memories, sometimes, were like the dreams where people climbed on top of each other onto these flimsy trees bending with the wind in a storm only to wrap themselves in mourning shrouds, only to sink into the chasm of night.

Someone was telling me to go to sleep.

I lowered my head. Remained silent. Whoever it was will eventually get sick of it and stop.

I couldn’t breathe if, they: these pits of darkness refuse to completely die, these phantom entities refuse to disappear, or simply pull back into a corner somewhere even for a moment. I refuse to sleep if it’s still dark outside, and the rain persists in these lullabies in light of the soul within these tumulus. I will not sleep, as long as the echoes of desperate cat cries continue to persist in the valley. 

The sounds of the funeral pipes right by the side of our house dragging on and on with the rhythmic beating of rain on the tin roof, out on the veranda. I sat with my legs crossed, listened, it was like an incantation of prayers from the forest and every sombre home caved in by city lights.

Someone was telling me to go to sleep, again.

They don’t know about the nets. They were preoccupied with installing public speakers on every electrical pole to remind people to go to sleep. I decided to stay up the entire night, and see, what those stubborn nets had instored for me, how they intend to poke and prod me. Again the man reminded me to go to sleep. It was clear, the same man had been telling me to go to sleep, no one else but him. Yet, sometimes present and sometimes hidden were these shadows of a man screaming into my ears in a familiar deep voice. The nets didn’t know how to talk. The sound of the funeral pipes continues to drag out its agonising melodies. I can not close my eyes. Dead people must close their eyes. The dead with eyes open were clearly,  rather scary.

I could hear my father mumbling alone by the stairways in the dark: “the night sky is like an overwhelming net”.  I jumped, as someone screamed into my ears telling me to go to sleep. This time, I could no longer bear the agonising pull of something that was shapeless and intangible in the dark. I was eager for the morning light. Maybe dawn might bring with it an escape from the annoying silence in the night.

Four days, five days, six days, seven days, the wailing of the funeral pipes trailed along the foot of the mountain, right by our house. Perhaps, the living can’t let go of the dead. Or maybe, the living wants to forever hold onto the nostalgia of the slowly rotting corpse inside the coffin? Perhaps, they never want to bury death.

The valley seemed to retreat deeper into the earth as the stars began to appear as though they were the makings of a giant net. I still could not close my eyes at night. Thus, I would constantly find myself earnestly waiting for the sunrise. Our house was at the centre of the valley, like an animal bait that had slipped through a magical net of the night. Like the odd breeze escaping through the gaps in the metal frames of the window sill. Sometimes, it is the heralding of change. Pulling my shoulders back, my head was heavy, the blood pumping through my temples felt like the synchronised slamming of a hammer. The ache resounded in a single ring of a bell. Outside at the gate, a gate painted in the sombre hues of an afternoon storm, I saw the flashing strips of lighting. Perhaps, they will tear to shreds the nets, as well as the clumps of clouds at the end of the path that leads to a dome over the gate of light.

I was half dreaming when I heard the familiar voice of a man calling me from the kitchen. Last night, as it turned out, I was tucked away in a dark corner of my mother’s room and had fallen into a long sleep full of lucid dreams of people going crazy, they were trapped inside the nets of their own making. The council’s speakers at the end of our street were again making an announcement. They make these announcements without fail, usually a short message early in the morning, only to remind those who have just returned from work to go to sleep.

August 2021

Truyện ngắn                       

Mắt lưới 

Tôi bắt đầu nhìn thấy nó ở khắp mọi nơi. 

Những chốn tôi đã từng dừng chân trú ngụ hoặc chỉ tạm thời thăm viếng dăm ba thời giờ nào đó rảnh rỗi. 

Lần này, tôi lại phải khẳng định thêm nữa, rằng nó không phải là giấc mơ hoặc thứ tưởng tượng chập chờn trong trí não. Tôi đã nhìn thấy nó. Rõ ràng, không một chút mờ ảo, khuất tất. Nó sống động hệt như hình ảnh ba chiều. Tôi không nhìn nó bằng mắt. Nó nằm trong não. Tôi nghĩ, nên tập nhìn mọi thứ xung quanh mình bằng não thay vì mắt thường. Não, hẳn sẽ sáng suốt hơn. Nhưng rồi, tôi không còn nhìn thấy nó nữa. Nó đã rời bỏ tôi. Nó đã biến mất khỏi trí não đầy mộng mị của tôi. Nó rời bỏ tôi không một chút thương xót. Những mắt lưới xanh xao, kết nối bầu trời và các vũ trụ song song hiện thể. Những mắt lưới hiển hiện đằng sau cánh cửa vừa mở toang ra nơi lòng biển mà tôi nhận thấy.  

Rồi, bất giác, tôi trở nên chán ghét việc phải suy tưởng về chúng, những mắt lưới lạc lõng đu bám ẩn hiện trên các đốt ngón tay xương gầy uốn lượn, vươn ra tứ phía chỉ để bíu với một niềm tin vô hình về sự hiện hữu của chính mình. 

Tôi, quyết, sẽ rời bỏ những mắt lưới, để nghĩ nhiều hơn về những giấc mơ. 

Hẳn nhiên rằng, tôi phải thường xuyên nghĩ về những giấc mơ. Bởi, một lẽ xác đáng, tôi biết, đó cũng là một thế giới. Giữa tôi và chúng luôn có sự kết nối rất đỗi gũi gần, quen thuộc khó lòng tách rời. 

Tôi bắt đầu mơ về nó. 

Khi tất cả mọi giác quan của tôi chìm dần vào những cơn mê, nó xuất hiện, chĩn chện cười cợt trêu đùa với tôi. 

Thỉnh thoảng, nó biến mất một cách lạ lùng, khiến tâm trí tôi hỗn độn như mớ bòng bong rối loạn, không rõ hình thù, màu sắc. 

Tôi nghĩ đến việc ghét bỏ mọi giấc mơ. 

Những giấc mơ thường chết đột ngột như khi nó đến không cần báo trước. Tôi chẳng còn nhìn thấy nó nữa. Sau một vài cơn va quệt nhẹ với các loại tường. Chúng, những bức tường dựng lên sừng sững ngăn cách tôi và nó; tôi và giấc mơ; tôi và cả chính tôi nữa. Kẻ siêu nhiên lẩn nấp, khuất dạng phía sau những giấc mơ đã bị ảo hóa bởi rất nhiều hình khối, thanh âm giả trá. 

Tôi cần nó xuất hiện đều đặn trong giấc ngủ của mình. Dù rằng, chỉ là một góc tối vụn vặt. Ai đó thường tìm cách thì thào những lời khó hiểu vào tai tôi, trước khi tôi chợp mắt: “mày cần một góc tối. mày cần phải chui ngay vào cái góc đó và ẩn nấp”. Khả dĩ, tôi chiều lòng và quyết định lắng nghe những lời ám thị đó bên tai mỗi đêm, cũng bởi tôi cần, rất cần đến cái góc tối ấy. Tôi phải tìm ra nó, để hỏi một vài câu ngớ ngẩn: “Vì sao, nó có mặt trên thế gian này?”

Một địa điểm không thể tối hơn được nữa so với bầu trời đêm nay. Tôi cần nó xuất hiện và nhốt tôi vào đó. Tôi muốn chạy trốn những mắt lưới. Chúng có màu đỏ, chúng thường xuyên chơi trò vờn đuổi, rồi sau, chụp xuống đầu tôi một cách bất ngờ. Chiếc lưới khổng lồ. Tôi nhớ, mình luôn phải tìm cách chạy trốn chúng, cái mắt lưới biết cười, biết nhễu nhại nhếch mép hoặc thè lưỡi dài ngoẵng đỏ lòm huênh hoang. Thi thoảng, tôi tự trấn an rằng, sẽ chẳng bao giờ sợ chúng. Ấy thế, tôi vẫn cảm thấy thật khó lòng rời bỏ nỗi sợ hãi này, bởi những mắt lưới quỷ ám, chúng, hình như vẫn đang bị cầm nắm, điều khiển bởi một vài bàn tay lấp lửng, vô hình. Tôi thử nghĩ, hẳn là “những kẻ bí ẩn giấu mặt, vẫn thường xuyên tìm cách kết nối với tôi, bằng cách chơi trò đan bện những sợi tơ nhền nhện hòng thít chặt và ràng buộc không – thời gian của riêng tôi lại với nhau, khiến tôi nghẹn thở”. 

Tôi vẫn đang tìm kiếm những nơi có thể cho tôi được quyền trốn nấp. Vì, ít ra, vào lúc này tôi sẽ bớt được những cơn hãi hùng sợ sệt mơ hồ vô lí, khiến đôi chân tôi thi thoảng run lên bần bật. Thế giới bỗng trở nên khó hiểu và bất an hơn những gì tôi biết từ khi mới mở mắt chào đời. Thế giới như những mắt lưới chằng chịt. Xung quanh tôi, sự ích kỉ ngập tràn trong từng con mắt liếc dọc liếc ngang. Họ ngấm nguýt nhau. Họ nheo mắt nhìn nhau một cách cà khịa, ghét bỏ. Họ gầm gừ, đe dọa lẫn nhau mỗi ngày trôi qua đến phát chán trước mặt tôi. Những lần tôi hờ hững lạnh lùng, với nỗi buồn ngập sâu và dậy sóng một cách hồn nhiên trong lòng mình là khi mọi cảm giác đều lặng lẽ chuồi khỏi tâm hồn tôi và lần lượt tắt ngóm, chết dần chết mòn đến thê thảm. 

Chiều nay, tôi không cần cái không gian sang trọng đủ đầy trong căn phòng quét vôi trắng, và phản chiếu bởi ánh đèn màu mờ ảo mà tôi yêu thích nữa. Tôi quyết định hướng ánh mắt mình về phía sân phơi, nơi có chiếc bếp lửa đun củi từ thời tối tăm mù mịt khói. (đến bây giờ vẫn tối tăm mù mịt khói). Tôi nghĩ về góc phòng mẹ dùng làm kho bé nhỏ chỉ để vừa vài chiếc thùng carton ở cuối dãy nhà này. Hóa ra, trong những thứ lớn lao, bấy lâu nay tôi vẫn thường ngẫm ngợi, lại có sự tồn tại của những điều nhỏ bé rất cần thiết. Chúng an toàn hơn nhiều so với cái mắt lưới sắc nhọn đang cố tình vây bủa xung quanh tôi và thế giới này.

Nhưng, chính vì vậy, lại khiến tôi không thể nào thoát khỏi cái mắt lưới ấy. 

Phía sau ngọn núi. Đứng từ lan can này, tôi có thể nhìn thấy hết thành phố. Chiều xuống tự lâu lắm rồi, và đêm đã bắt đầu làm cái công việc thay thế. Nhưng, đêm nay, tất thảy đều ảo mờ trong đáy mắt tôi. Những âm u lên ngôi. Chúng xoạc cẳng, vung tất thảy các mắt lưới khổng lồ ra thâu tóm toàn bộ thung lũng, và thân phận của rất nhiều kẻ mù lòa hoặc cố tình mù lòa. Những mái nhà chỉ là nơi neo buộc tạm thời cho sự sống và cái chết. Có gì để người ta hào hứng khoa trương khoe khoang sự ốm yếu, nhợt nhạt hiển hiện trên khuôn mặt xám ngoét kia. Ngay lúc này, giữa hàng đống thanh âm bộn bề, hỗn tạp, tiếng kèn đám ma bên hông nhà tôi, sát sườn núi càng rõ rệt, thê lương. 

Thời gian trôi đi khá nhiều năm lắm rồi, vậy mà cái mắt lưới ấy vẫn bám riết, ám ảnh và trói buộc tôi không chịu buông rời. Thỉnh thoảng chúng chơi trò xoay chuyển không gian. Nhưng, thật ra cũng chỉ là những bức tường vôi áp vào nhau hòng lừa đảo mỗi người trong căn nhà này từng khoảnh khắc. Chúng len lỏi vào mắt tôi, vào tim tôi, trườn bò lên môi tôi như những giọt mặn từ biển khơi bắn tung tóe không ngơi nghỉ mỗi đêm khuya về khi lên cơn nghẹn sóng. Sóng cũng mắc nghẹn như nỗi đau mắc vào vai áo, dính nhèm nhẹp lên từng sợi vải chẳng thể nào tẩy xóa đi được. Kí ức của tôi, có khi chúng như những giấc mơ tôi đã từng thấy người ta thay nhau leo lên các nhành cây yếu ớt ngoài cơn bão chỉ để buộc chùm khăn tang trong đêm sâu thăm thẳm. 

Ai đó vừa nhắc tôi đi ngủ. 

Tôi cúi đầu. Im lặng. Hẳn là người nhắc tôi đi ngủ sẽ chán ngay thôi. 

Tôi chẳng thể chợp mắt nếu như, chúng: cái đêm sâu thăm thẳm này không chịu chết phứt đi, cái đám hình nhân ảo ảnh này không chịu biến mất đi, hoặc là giả vờ nấp lén đâu đó trong chốc lát thôi cũng được. Tôi sẽ không ngủ, nếu ngoài kia trời vẫn tối, mưa vẫn à ơi ru hời các linh hồn nằm dưới mộ cỏ. Tôi sẽ không ngủ, nếu sau thung lũng này vẫn nhập nhoạng tiếng bọn mèo hoang khóc la thảm thiết. 

Tiếng kèn đám ma bên hông nhà tôi vẫn khò khè kéo rê theo tiếng mưa rơi rả rích trên mái tôn, rớt xuống hiên. Tôi khoanh chân ngồi nghe, như nghe tiếng kinh cầu của núi rừng và của từng nóc nhà u ám dưới những bóng đèn đủ màu nhấp nháy phía thành phố. 

Ai đó lại tiếp tục nhắc tôi đi ngủ. 

Họ thì biết làm sao được về những cái mắt lưới này. Họ luôn luôn tìm cách bắc loa ở các cột điện và nhắc nhở mọi người đi ngủ. Tôi quyết định thức trắng đêm, để xem, những cái mắt lưới bướng bỉnh kia còn định giở trò gì hòng quấy nhiễu giễu cợt tôi như ý muốn của chúng. Người đàn ông ấy lại vừa nhắc tôi đi ngủ. Rõ ràng, người đã nhắc tôi đi ngủ luôn luôn là ông ấy, chẳng phải ai khác. Vậy mà, tôi lại nhìn thấy những cái bóng lúc ẩn lúc hiển hét toáng vào tai tôi át hẳn giọng trầm của người đàn ông quen thuộc. Chẳng có cái mắt lưới nào biết nói. Tiếng kèn đưa đám tiếp tục kéo rê lê thê giai điệu não nề. Tôi không thể nhắm mắt. Người chết thì phải nhắm mắt. Chết mà không nhắm mắt, hẳn đáng sợ lắm. 

Lại tiếng ba tôi lẩm bẩm một mình ngay lan can cầu thang tối: “bầu trời ban đêm như tấm lưới bủa vây”. Tôi giật mình, bên tai tôi lại vang vọng tiếng ai đó nhắc nhở tôi đi ngủ. Lúc này, tôi không thể nào chịu đựng được sự rền rỉ bám riết dai dẳng của cái thứ vô hình đằng sau bóng đêm ấy nữa. Tôi mong trời sáng. Có lẽ khi trời sáng, sẽ mang lại một chút ít cảm giác vượt thoát khỏi những bức bối lặng lẽ của đêm. 

Bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, tiếng kèn đám ma vẫn thổi ò í e dưới chân núi, ngay bên hông nhà tôi. Có thể, kẻ sống quá tiếc thương mà không chịu di dời kẻ chết rời khỏi thế giới này. Hoặc giả, kẻ sống muốn hoài niệm mãi mãi với những xác thịt đang dần dần thối rữa trong chiếc quan tài? Có lẽ, họ sẽ chẳng bao giờ chịu chôn cất cái chết. 

Thung lũng chìm sâu hơn khi những vì sao bắt đầu nhấp nháy như những mắt lưới khổng lồ. Tôi vẫn không thể nào chợp nổi mắt vào ban đêm. Vì vậy, tôi luôn mong mỏi bình minh lên. Căn nhà của tôi lọt thỏm chính giữa thung lũng, như một con mồi vừa lọt vào những mắt lưới của bầu trời ảo diệu. Khe sắt từ các khung cửa sổ len lỏi vài ngọn gió. Có khi, nó chính là dấu hiệu của một sự đổi thay. Tôi so vai lại, đầu nặng trĩu, máu chạy hai bên thái dương tưởng chừng ai đó cầm búa gõ từng nhịp. Buốt như một tiếng chuông. Bên ngoài cánh cổng sơn màu sẫm tối của buổi chiều mưa, tôi nhìn thấy những tia sét. Có thể, chúng sẽ xé toạc cái mắt lưới ấy, kể cả chân mây phía cuối con đường rẽ lối đến mái vòm của chiếc cổng ánh sáng. 

Tôi mơ màng nghe tiếng người đàn ông quen thuộc đang gọi từ phía cửa nhà bếp. Hóa ra, đêm qua, tôi đã lẻn vào góc phòng tối của mẹ và đánh một giấc dài chập chờn đầy mộng mị như kẻ mê hoang bị lạc trong mắt lưới của chính mình. Những chiếc loa phường chễm chệ ngay đầu phố nhà tôi, đến hẹn lại lên. Chúng thường xuyên chăm chỉ phát một bản thông báo ngắn mỗi sáng sớm, chỉ để nhắc nhở mọi người về việc đi ngủ. 

Trần Băng Khuê

Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

There were only two people in isolation | Lê Vĩnh Tài

ma by Đinh Trường Chinh

A short thriller in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

“Short stories are tiny windows with vast, wonderful views. This short story offers an emotional and suspenseful view of an estate and two people in isolation. The reader is immediately drawn into the mysterious setting. Who are these two characters and what are their motives? A simple narrative with intriguing dialogue. The ending is definitely unexpected.” Terveen Gill

I was at her doorstep on a Sunday morning, an estate at the end of a fading colourless dirt road leading into town. Completely dissipated was the mist, leaving the enormous courtyard frozen in an eerie icy chill.

She sat hugging her head. Lifted her head only to greet me as I entered.

“We are more than happy to have you join us in isolation,” she addressed me in her usual fractious manner.

She pulled out a piece of pork belly from the cooler. The piece she has left to rest in the cooler for the last ten hours as instructed. She can no longer recall the owner of the recipe for the marinade. It was written on a scrap piece of paper, the words now smudged and illegible.

“What do you think?” she asked.

“Looks good,” I replied, even though the piece of meat looked like human flesh, all wrinkly.

“It doesn’t smell great, right?”

“It looks fine,” I reassured her.

She grabbed a kitchen knife, and began to slice the meat.

The knife was so blunt it was impossible to make the smallest cut, “shit”, she snapped, “I can’t cut anything with this.”

I  rarely hear her swear. I can but recall her mainly singing từ công phụng, with a smile on her face as she tidied up around the house.

I asked her since I had wondered myself, how many Sundays has it been since the day she had started this meat cutting ritual? How long will she keep this up? How many Sundays have gone by, how many pieces of pork belly? Her children are now all grown up, and her husband’s ashes have been scattered on the estate around the lake.

She said: “Look, I can cut into it now, except the slices are not as fine as I’d normally like them.”

Since her husband’s death, she would regularly make the rounds to shut down the estate herself, collecting the donated cans of cold meats and vegetables by the gate. She said: “This is how I survive.”

She continued with another question: “We didn’t accidentally use the meat in the freezer, did we?”

“No”, knowing exactly what she was referring to as I replied, “someone is trying to harm us you think.”

She got up from her chair, retrieved a cigarette from the carton on the kitchen table, “Are you thinking of taking over the estate?” She asked.

I frowned: “What?”

“This place is like your second home,” she said. “Don’t worry, it’s just a silly thought in my head. I’ve not slept for a week.”

After she was done with the grilled meat, she also wanted a few slices of cucumber. 

“I’m craving bì today.” She is probably thinking of cơm tấm bì sườn(steamed broken rice served with shredded pork skin in roasted ground rice, grilled pork chop, and a slice of pork mince frittata).

I nodded: “I prefer chicken.”

She snapped, “You can still eat chicken if that’s what you want but all I can think about now is the pork mince frittata.”

That was when she sliced her wrist, the knife slipped off the pork belly cutting into her soft wrist as smoothly as it would her pork mince frittata.

The knife ended up on the kitchen tile.

“What happened?” I asked.

The blood spurted from her wrist as though it was coming out of a hose. She looked down, and stared at her numb wrist.

“I think I’ve cut my wrist,” she said quietly.

“It’s okay”, I reassured her, “Let me help you.”

She shook her head. “You just need to find me a bandage.”

Quickly, I left the kitchen to look for a bandage. Her house was scattered with carton boxes full of what only heaven knows. But in her bedroom was an object that really caught my eye. It lay across her bed. A rifle nearly as long as the mattress.

Perhaps it’s her husband. It was well known that he was a hunter. There was a single flashing of a bullet shell in the room. Why did she take the gun out of its box and leave it on her bed? By the time I returned to the kitchen, her wrist had stopped bleeding, no longer needing bandaging. I watched her as she continued to slice the pork belly. Not knowing how much pain she had endured. All these years by her side, I have never truly got to a point where I could fully grasp the extent of her pain. She dropped to the ground onto her knees, still holding onto the knife.

“Come”, she beckoned.

She hugged me as tightly as she thought it was possible.

Within the estate in isolation, there were only two people, but there were three urns of ashes, because after some time, they found the third urn that used to contain her husband’s ashes…

[August 2021]

KHU CÁCH LY CHỈ CÓ HAI NGƯỜI

Vào sáng Chủ nhật, tôi đến chỗ của nàng trong một trang trại đất bạc màu ở cuối con đường đi vào phố huyện. Sương đã tan hết, cả một khoảng sân lớn đang rùng mình.

Nàng đang ngồi với hai tay ôm đầu. Nàng ngước lên khi tôi bước vào.

“Rất vui khi bạn đến tham gia khu cách ly cùng chúng tôi,” nàng nói với vẻ mặt cau có như thường lệ.

Nàng lấy một miếng thịt heo từ ngăn đá. Nàng đã ướp lạnh nó mười giờ theo một công thức để chế biến. Nàng không nhớ người đã nghĩ ra công thức ướp. Nó được viết tay trên mẩu giấy cũ đã bị nhòe và bây giờ khó ai có thể đọc được.

“Bạn thấy nó thế nào?” nàng hỏi.

“Tốt thôi,” tôi nói, mặc dù miếng thịt lúc này giống như một miếng da người, nhăn nheo.

“Nó không thơm, phải không?”

“Không sao đâu,” tôi nói.

Nàng lấy ra một con dao, bắt đầu cắt thịt.

Con dao cùn đến mức nàng không cắt được, “chó thật”, nàng nói, “em hết muốn cắt cái gì nữa.”

Nàng ít khi chửi rủa điều gì. Tôi vẫn nhớ những lần nàng đi quanh phòng với một động tác nào đó, hát từ công phụng và sau đó mỉm cười.

Tôi tự hỏi nàng đã thực hiện nghi lễ cắt thịt này trong bao nhiêu ngày Chủ nhật? Nó sẽ được kéo dài cho đến khi nào. Trong bao nhiêu ngày Chủ nhật đã qua, nàng đã cắt bao nhiêu miếng thịt? Cho đến tận bây giờ, khi những đứa con nàng đã lớn và chồng nàng cũng đã thành một hủ tro được rải quanh bờ hồ trang trại.

Nàng nói: “bạn xem này, bây giờ em đã cắt được, chỉ có điều không được mỏng cho lắm.”

Từ khi chồng nàng chết, nàng thường xuyên đóng cửa trang trại, chấp nhận những mẩu thịt đông và các món rau củ đóng hộp. Nàng nói: “Nó giúp cho em sống sót.”

Câu hỏi tiếp theo của nàng là: “Chúng ta không vô tình sử dụng món thịt đông lạnh, phải không?”

“Không,” tôi nói ra vẻ hiểu biết, “có ai đó ám hại chúng ta.”

Nàng đứng dậy, rút một điếu thuốc, “Bạn nghĩ rằng bạn muốn sở hữu trang trại này a?” Nàng hỏi.

Tôi nhíu mày: “Cái gì?”

“Đây là ngôi nhà thứ hai của bạn rồi,” nàng nói. “Đừng bận tâm, nó chỉ là những suy nghĩ kỳ quặc của em. Cả tuần nay em không ngủ.”

Khi làm xong món thịt nướng, nàng muốn có thêm mấy lát dưa leo.

“Em nghĩ rằng hôm nay em thèm cả bì nữa.” Chắc nàng nhớ món cơm tấm bì sườn.

Tôi gật đầu: “Tôi thích thịt gà hơn.”

Nàng càu nhàu, “Bạn cứ ăn thịt gà nếu bạn muốn nhưng em đang nghĩ đến bì chả.”

Đó là khi nàng tự cắt vào cổ tay mình, con dao trượt ra khỏi miếng thịt và lướt trên cổ tay mềm mại như bì chả của nàng.

Con dao rơi xuống sàn.

“Chuyện gì xảy ra thế?” Tôi hỏi.

Máu phun từ cổ tay nàng như vòi. Nàng cúi xuống, nhìn cánh tay mình đang tê liệt.

“Em nghĩ em đã tự cắt cổ tay mình,” nàng nói nhẹ nhàng.

“Không sao đâu,” tôi nói, “Tôi có thể giúp.”

Nàng lắc đầu. “Bạn chỉ cần lấy cho em một miếng băng keo.”

Tôi lao ra khỏi bếp, đi tìm miếng băng keo. Nhà nàng đầy những chiếc hộp giấy các-tông mà chúng chứa đựng những thứ có trời mới biết. Nhưng có một thứ đập vào mắt tôi khi tôi đi vào phòng ngủ của nàng. Nó nằm trên giường nàng.

Một khẩu súng dài gần bằng tấm nệm.

Có lẽ đó là của chồng nàng. Anh ta nổi tiếng là một thợ săn. Một vỏ đạn lấp lánh trong phòng. Không biết sao nàng lại lấy súng ra khỏi hộp và để nó trên giường.

Khi tôi quay lại bếp, tay nàng đã cầm máu nên không cần băng bó nữa. Tôi nhìn nàng đang cắt thêm thịt. Cũng không biết là nàng đau đến mức nào. Bao nhiêu năm bên cạnh nàng, tôi vẫn chưa bao giờ biết nỗi đau của nàng đến mức nào.

Nàng quỳ xuống, tay vẫn cầm con dao.

“Đến đây,” nàng nói.

“Chuyện gì vậy?” Tôi hỏi.

Nàng ôm lấy tôi, siết chặt lại hết mức có thể.

Vậy là trong khu cách ly dù chỉ có hai người nhưng có ba hủ tro, vì sau này người ta lại tính luôn cả hủ tro của chồng nàng…


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.